1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá và ga3 đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng cam đường canh tại lục ngạn, bắc giang

130 191 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 37,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả chính và kết luận Kết quả cho thấy, sử dụng loại phân bón lá khác nhau có ảnh hưởng khác nhau đến các chỉ tiêu: chất lượng các đợt lộc, tỷ lệ đậu quả, động thái sinh trưởng quả,

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

TRƯƠNG VĂN HÂN

ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CAM ĐƯỜNG CANH TẠI LỤC NGẠN, BẮC GIANG

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Trương Văn Hân

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng, lòng biết ơn sâu sắc TS Nguyễn Mai Thơm và TS Trần Thị Thiêm đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Canh tác học, Khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Trung tâm Thực nghiệm và Đào tạo nghề đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện

đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Trương Văn Hân

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cám ơn ii

Mục lục iii

Danh mục từ viết tắt v

Danh mục bảng vi

danh mục hình viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract x

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Giả thuyết khoa học 2

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.4 Phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

1.5.1 Những đóng góp mới 3

1.5.2 Ý nghĩa khoa học 3

1.5.3 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

Phần 2 Tổng quan tài liệu 4

2.1 Giới thiệu chung về cây cam quýt 4

2.1.1 Nguồn gốc 4

2.1.2 Phân loại 4

2.1.3 Yêu cầu về dinh dưỡng 4

2.1.4 Đặc điểm ra hoa, đậu quả và rụng quả của cây cam quýt 9

2.2 Tình hình sản suất và tiêu thụ quả có múi trên thế giới và ở Việt Nam 12

2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ quả có múi trên thế giới 12

2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ quả có múi ở Việt Nam 15

2.3 Một số nghiên cứu về phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng trên cây cam quýt 19

2.3.1 Nghiên cứu về dinh dưỡng 19

2.3.2 Nghiên cứu về phân bón qua lá cho cây cam quýt 30

2.3.3 Nghiên cứu về chất điều hòa sinh trưởng 32

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 36

3.1 Địa điểm nghiên cứu 36

Trang 5

3.2 Thời gian nghiên cứu 36

3.3 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 36

3.3.1 Đối tượng nghiên cứu 36

3.3.2 Vật liệu nghiên cứu 36

3.4 Nội dung nghiên cứu 37

3.5 Phương pháp nghiên cứu 37

3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu 37

3.5.2 Phương pháp thiết kế thí nghiệm 38

3.5.3 Phương pháp theo dõi thí nghiệm 39

3.5.5 Phương pháp xử lý số liệu 41

Phần 4 Kết quả và thảo luận 42

4.1 Điều kiện tự nghiên, kinh tế - xã hội và thực trạng sản xuất cam quýt tại Lục Ngạn, Bắc Giang 42

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 42

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 45

4.1.3 Thực trạng sản xuất cam quýt của nông hộ 47

4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá và GA 3 đến khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng cam đường Canh 59

4.2.1 Ảnh hưởng của phân bón lá và GA 3 đến chất lượng các đợt lộc của cam đường Canh 59

4.2.2 Ảnh hưởng của phân bón lá và GA 3 đến sự ra hoa, khả năng đậu quả 67

4.2.3 Ảnh hưởng của phân bón lá và GA 3 đến động thái rụng quả của cam đường Canh 72

4.2.4 Ảnh hưởng của phân bón lá và GA 3 đến động thái sinh trưởng quả 76

4.2.5 Ảnh hưởng của phân bón lá và GA 3 đến một số yếu tố cấu thành năng suất và năng suất quả cam đường Canh 81

4.2.6 Ảnh hưởng của phân bón lá và GA 3 đến chất lượng quả cam đường Canh 87

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 92

5.1 Kết luận 92

5.2 Kiến nghị 94

Tài liệu tham khảo 94

Phụ lục 97

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ cam quýt tại một số quốc gia

trên thế giới 13

Bảng 2.2 Tình hình sản xuất cam ở Việt Nam giai đoạn 2008 – 2012 16

Bảng 2.3 Lượng dinh dưỡng do cây ăn quả có múi lấy đi từ 1 tấn sản phẩm 22

Bảng 2.4 Đánh giá mức độ thiếu đủ căn cứ vào hàm lượng dinh dưỡng trong lá 23

Bảng 2.5 Đánh giá mức độ thiếu đủ căn cứ vào hàm lượng dinh dưỡng trong đất 24

Bảng 2.6 Lượng phân bón cho cây ăn quả có múi ở thời kỳ KTCB 25

Bảng 2.7 Lượng phân khuyến cáo cho cam quýt thời kỳ kinh doanh 26

Bảng 2.8 Lượng phân bón hàng năm cho cây có múi 26

Bảng 2.9 Chế độ phân bón cho cây cam quýt 27

Bảng 2.10 Phương pháp áp dụng các nguyên tố vi lượng cho cam quýt 28

Bảng 4.1 Bảng chỉ tiêu sử dụng đất năm 2015 trên địa bàn huyện Lục Ngạn 43

Bảng 4.2 Số liệu khí tượng huyện Lục Ngạn trung bình từ 2004-2014 44

Bảng 4.3 Diện tích, năng suất một số loại cây ăn quả có múi của nông hộ tại Lục Ngạn 47

Bảng 4.4 Diện tích, năng suất, sản lượng cam đường Canh trên địa bàn huyện Lục Ngạn 49

Bảng 4.5 Diện tích, năng suất và sản lượng cam đường Canh tại các điểm điều tra 51

Bảng 4.6 Kết quả điều tra thực trạng bón phân cho cam đường Canh 54

Bảng 4.7 Tình hình sâu bệnh hại trên cây cam đường Canh năm 2014 56

Bảng 4.8 Định hướng phát triển cam đường Canh của huyện Lục Ngạn 59

Bảng 4.9a Ảnh hưởng của phân bón lá đến chất lượng các đợt lộc 60

Bảng 4.9b Ảnh hưởng của GA 3 đến chất lượng các đợt lộc 62

Bảng 4.9c Ảnh hưởng của phân bón lá và GA 3 đến chất lượng các đợt lộc 65

Bảng 4.10a Ảnh hưởng của phân bón lá đến sự ra hoa, khả năng đậu quả 67

Bảng 4.10b Ảnh hưởng của GA 3 đến sự ra hoa, khả năng đậu quả 68

Bảng 4.10c Ảnh hưởng tương tác của phân bón lá và GA 3 đến sự ra hoa, khả năng đậu quả cam đường Canh 70

Bảng 4.11a Ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái rụng quả 72

Bảng 4.11b: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng GA 3 đến động thái rụng quả 73

Bảng 4.11c Ảnh hưởng tương tác của phân bón lá và GA 3 đến động thái rụng quả 74

Bảng 4.12a Ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái sinh trưởng quả 76

Bảng 4.12b Ảnh hưởng của GA 3 đến động thái sinh trưởng quả 77

Bảng 4.12c Ảnh hưởng tương tác của phân bón lá và GA 3 đến động thái sinh trưởng quả 79

Trang 8

Bảng 4.13a Ảnh hưởng của phân bón lá đến một số yếu tố cấu thành năng suất

và năng suất quả cam đường Canh 81 Bảng 4.13b Ảnh hưởng của GA 3 đến đến một số yếu tố cấu thành năng suất và

năng suất quả cam đường Canh 83 Bảng 4.13c Ảnh hưởng tương tác của phân bón lá và GA 3 đến một số yếu tố cấu

thành năng suất và năng suất quả 85 Bảng 4.14a Ảnh hưởng tương tác của phân bón lá đến một số chỉ tiêu chất lượng

quả 88 Bảng 4.14b Ảnh hưởng tương tác của GA3 đến một số chỉ tiêu chất lượng quả 89 Bảng 4.14c Ảnh hưởng tương tác của phân bón lá và GA 3 đến một số chỉ tiêu

chất lượng quả cam đường Canh 90

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1 Ảnh hưởng của phân bón lá đến đến một số yếu tố cấu thành năng

suất và năng suất quả cam đường Canh 81 Hình 4.2 Ảnh hưởng của GA 3 đến đến một số yếu tố cấu thành năng suất và năng

suất quả cam đường Canh 83 Hình 4.3 Ảnh hưởng của phân bón lá và GA 3 đến một số yếu tố cấu thành

năng suất và năng suất quả cam đường Canh 86

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Trương Văn Hân

Tên Luận văn: “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá và GA 3 đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng cam đường Canh tại Lục Ngạn, Bắc Giang”

Ngành: Khoa học cây trồng Mã số: 60.62.01.10

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông Nghiệp Việt Nam

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của đề tài là xác định loại phân bón lá và nồng độ GA 3 thích hợp cho cam đường Canh 5 năm tuổi trồng tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang

Phương pháp nghiên cứu

Thí nghiệm được thực hiện tại Lục Ngạn, Bắc Giang với 3 loại phân bón lá gồm: Vinaf 19 (L2), Kaliboron (L3) và Novakelp (L4); nước lã làm đối chứng (L1) và 4 nồng

độ GA3: 0 ppm (G1), 25 ppm (G2), 50 ppm (G3) và 75 ppm (G4) Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ với 3 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại sử dụng 3 cây cho

1 công thức, tổng số cây thí nghiệm là 144 cây

Kết quả chính và kết luận

Kết quả cho thấy, sử dụng loại phân bón lá khác nhau có ảnh hưởng khác nhau đến các chỉ tiêu: chất lượng các đợt lộc, tỷ lệ đậu quả, động thái sinh trưởng quả, năng suất và chất lượng quả cam đường Canh Trong đó, phân bón lá Novakelp cho hiệu quả tốt nhất Ngoài ra, khi tăng nồng độ GA 3 từ 0 ppm đến 50 ppm đã làm tăng chiều dài cành lộc, tăng số hoa/cành, tăng tỷ lệ đậu quả, giảm tỷ lệ rụng quả, tăng kích thước quả, tăng năng suất và chất lượng quả cam đường Canh Tiếp tục tăng nồng độ GA 3 từ 50 ppm đến 75 ppm, các chỉ tiêu sinh trưởng, năng suất và chất lượng có xu hướng giảm xuống

Sự tương tác giữa phân bón lá và GA 3 có ảnh hưởng đến chất lượng lộc xuân, tỷ

lệ đậu quả, tỷ lệ rụng quả, kích thước quả, khối lượng quả, năng suất và chất lượng quả Trong các công thức, sự kết hợp giữa phân bón lá Novakelp + 50 ppm GA 3 (L4G3) có tác động tốt nhất: làm tăng tỷ lệ đậu quả (tăng 3,4%), tăng số quả/cây (tăng 54 quả), tăng khối lượng quả (tăng 48,4g) đồng thời tác động làm giảm tỷ lệ rụng quả, qua đó nâng cao năng suất cá thể cao hơn so với đối chứng 118,7% Bên cạnh đó, chất lượng quả cũng được tăng lên khá rõ ràng so với công thức đối chứng và các công thức thí nghiệm khác: tỷ lệ phần ăn được đạt 75,2%; số hạt/quả 6,4 hạt; độ Brix 9,5; hàm lượng chất khô 15,4%; đường tổng số 13,5%; axit tổng số 1,2% và Vitamin C 28,0 mg/100g

Trang 11

THESIS ABTRACT Master candidate: TRUONG VAN HAN

Thesis title: “Effect of foliar application and GA 3 on growth, yield and quality of Canh of orange variety in Luc Ngan district, Bac Giang province”.

Major: Plant sicences Code: 60.62.01.10

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

Research Objectives

The objective of this research is to determine the type of foliar application and concentration of GA 3 suitable for 5-year-old of Canh of orange variety in Luc Ngan district, Bac Giang province

Materials and Methods

The experiment was done in Luc Ngan district, Bac Giang province with 3 foliar applications including: Vinaf 19 (L2), Kaliboron (L3) and Novakelp (L4); water in controlled (L1) and 4 concentrations of GA 3 : 0 ppm (G1), 25 ppm (G2), 50 ppm (G3) and 75 ppm (G4) The experiment was arranged in complete randomized block design with 3 replications, each replicate using 3 plants to 1 formula, a total of experiments plant was 144 trees

Main findings and conclusions

The results showed that, using different kinds of foliar applications have different effects on the following criteria: quality of the buds, the fruiting rate, growth, yield and fruit quality of Canh of orange variety In it, foliar Novakelp for best performance In addition, when increasing concentration of GA 3 from 0 ppm to 50 ppm has increased the length of the branches buds, increase the number of flowers branches -

1 , increased the fruiting rate, decreased fruit drop rate, increased fruit size, increased yield and fruit quality of Canh of orange variety Continue to increased the concentration of GA3 from 50 ppm to 75 ppm, indicators of growth, yield and quality tend to decreased

The interaction between foliar applications and concentrations of GA 3 have affected the quality of spring buds, the fruiting rate, the fruit drop rate, fruit size, fruit weight, fruit yield and quality In the formula, combination of Novakelp + 50 ppm GA 3

(L4G3) had the best effects: the fruiting rate increased (up 3,4%), increased the number

of fruit tree -1 (up 54 fruit), fruit volume increased (up 48,4g) the same time has reduced

Trang 12

rate of fruit drop, thereby improving individual productivity higher than 118,7% compared to control formula Besides, the fruit quality is also quite clear increase compared to the control treatment and other experimental formulas: servings rate was 75,2% ; number of seeds fruit-1 6,4 seeds; degrees Brix 9,5; dry matter content of 15,4%; sugar total 13,5%; acid total 1,2% and Vitamin C 28,0 mg (100g)-1

Trang 13

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Khi phun phân qua lá dạng hòa tan cho cây trồng nói chung và cây có múi nói riêng, lá cây sẽ hấp thụ hết 95% lượng phân, vì vậy việc cung cấp các chất dinh dưỡng dạng vi lượng cho cây thông qua lá là việc làm đem lại hiệu quả rất cao, có thể nói cao gấp 8-10 lần so với cung cấp dinh dưỡng qua đất Ngoài ra, khi nghiên cứu tác dụng của một số loại phân bón lá Komix, Thiên nông, Pomior cũng đã cho kết quả tốt trên một số loại cây ăn quả: hạn chế rụng quả non, góp phần làm tăng năng suất đồng thời không gây ảnh hưởng đến chất lượng và mẫu mã quả Những năm gần đây, các chế phẩm sinh học, chất điều hòa sinh trưởng đang được người sản xuất sử dụng khá nhiều giúp điều khiển sinh trưởng và phát triển của cây ăn quả (Bùi Thị Nhuận và cs., 1966) Nguyễn Thị Ngân (2008), khi nghiên cứu ảnh hưởng của GA3 trên cây cam đường Canh đã chỉ ra rằng xử lý GA3 ở nồng độ 25 –

100 ppm đều làm tăng tỷ lệ đậu quả và khả năng giữ quả trên cây Trong đó, xử lý tại nồng độ 75 ppm cho hiệu quả tốt nhất

Rất nhiều các công trình nghiên cứu khác cũng đã khẳng định việc sử dụng phân bón lá và GA3 đã giúp giảm tỷ lệ rụng hoa, rụng quả đồng thời nâng cao tỷ

lệ đậu quả, tăng năng suất và chất lượng quả đối với các loại cây ăn quả trong đó

có cây cam đường Canh

Những năm gần đây nghề trồng cây ăn quả của nước ta phát triển rất mạnh đặc biệt là cây ăn quả có múi, hình thành nhiều vùng trồng cây ăn quả có múi quy mô diện tích và sản lượng lớn, cùng với đó là sự phát triển, ra đời của các chế phẩm, phân bón lá có hiệu quả cao đáp ứng nhu cầu sản xuất của người dân Tuy nhiên, các sản phẩm mới này lại chưa được nghiên cứu nhiều, các nghiên cứu vẫn chủ yếu trên các loại phân bón lá phổ biến đã có trên thị trường hàng chục năm nay: Kamix, Pomior, Antonix, Seaweed, Đặc biệt đối với Lục Ngạn, Bắc Giang là một địa phương đang phát triển cây ăn quả có múi rất mạnh trong nhưng năm gần đây (1.123 ha) vẫn chưa có công trình nghiên cứu khoa học sâu nào về vấn đề này nhất là trên cây cam đường Canh

Hiện nay, tại một số hộ sản xuất cam đường Canh tại Lục Ngạn đã áp dụng tiến bộ kỹ thuật, bón phân hợp lý với điều kiện sản xuất kết hợp việc bỏ sung phân bón qua lá, GA3 giúp cây sinh trưởng khá tốt Tuy nhiên, trong quá trình

Trang 14

canh tác do cam đường Canh là loại cây trồng đặc biệt khó tính, khó chăm sóc Bên cạnh đó, người nông dân trồng cam đường Canh lại chưa có nhiều kiến thức tốt về kỹ thuật canh tác, bón phân, phòng trừ sâu bệnh và nhân giống vô tính Vì vậy, cây cam đường Canh có tỷ lệ đậu quả thấp, năng suất và chất lượng quả chưa cao nên hiệu quả kinh tế không ổn định

Xuất phát từ yêu cầu của thực tế sản xuất, với mong muốn nâng cao sinh trưởng, khả năng đậu quả, tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của cây cam đường Canh trồng tại Lục Ngạn, Bắc Giang, chúng tôi tiến hành thực hiện

đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá và GA 3 đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng cam đường Canh tại Lục Ngạn, Bắc Giang”

1.2 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Các loại phân bón lá khác nhau có thành phần các nguyên tố dinh dưỡng khác nhau do đó khi sử dụng trên cây cam đường Canh sẽ có những tác động khác nhau đến động thái sinh trưởng: chất lượng các đợt lộc, khả năng ra hoa, đậu quả, tỷ

lệ đậu quả, tỷ lệ rụng quả, kích thước quả; một số chỉ tiêu cấu thành năng suất: số quả/cây, khối lượng quả và một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng quả: Độ Brix, Vitamin C, hàm lượng chất khô, hàm lượng đường tổng số,…

Bên cạnh đó, với đặc điểm của GA3 là một hooc môn có tác dụng điều hòa sinh trưởng cho cây đặc biệt là phát triển kích thước tế bào Với các nồng độ sử dụng khác nhau sẽ ảnh hưởng khác nhau đến chiều dài các đợt lộc lộc, đường kính lộc, tăng kích thước quả, tăng khả năng ra hoa đậu quả, tăng khả năng giữ quả trên cây qua đó nâng cao năng suất và chất lượng quả cam đường Canh

Do vậy, sử dụng kết hợp phân bón lá và GA3 sẽ có tác dụng hỗ trợ bổ sung nâng cao khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng của cam đường Canh

Để kiểm chứng hiệu quả của sử dụng phân bón lá và GA3 đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng quả cam đường Canh tại Lục Ngạn, Bắc Giang cần tiến hành nghiên cứu các vấn đề sau:

- Ảnh hưởng của phân bón lá và GA3 đến chất lượng các đợt lộc trên cam đường Canh;

- Ảnh hưởng của phân bón lá và GA3 đến khả năng ra hoa, đậu quả trên cam đường Canh;

- Ảnh hưởng của phân bón lá và GA3 đến động thái rụng quả cam đường Canh;

Trang 15

- Ảnh hưởng của phân bón lá và GA3 đến động thái tăng trưởng kích thước quả cam đường Canh;

- Ảnh hưởng của phân bón lá và GA3 đến năng suất và chất lượng quả cam đường Canh

1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Xác định loại phân bón lá và nồng độ GA3 thích hợp cho sản xuất cam đường Canh 5 năm tuổi tại Lục Ngạn, Bắc Giang

Xác định hiệu quả của một số loại phân bón lá mới đến sinh trưởng, năng

suất và chất lượng cam đường Canh tại Lục Ngạn, Bắc Giang

1.5.2 Ý nghĩa khoa học

Cung cấp các dẫn liệu khoa học về hiệu quả của bón một số loại phân bón lá kết hợp với chất điều hòa sinh trưởng GA3 đến sinh trưởng, khả năng đậu hoa, đậu quả, năng suất và chất lượng quả cam đường Canh trồng tại Lục Ngạn, Bắc Giang

1.5.3 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần xây dựng quy trình thâm canh tăng năng suất, chất lượng cũng như nâng cao giá trị kinh tế cho cây cam đường Canh trồng tại Lục Ngạn, Bắc Giang

Trang 16

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÂY CAM QUÝT

2.1.1 Nguồn gốc

Cam quýt đang được trồng hiện nay có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt Đông Nam châu Á

2.1.2 Phân loại

Cam quýt là tên gọi chung của các loài cây ăn quả thuộc họ cam Rutaseae,

họ phụ cam quýt Aurantiodeae, chi Citrus bao gồm: cam, chanh, quýt, bưởi, chanh yên, bưởi chùm Họ phụ Aurantiodeae được chia thành 2 tộc chính là Clauseneae (1) và Citreae (2) Tộc 2 được chia thành 3 tộc phụ, trong đó tộc phụ thứ 2 - Citrineae bao gồm phần lớn các loài và giống cam quýt nhà trồng hiện nay Citrineae chia thành 3 nhóm A, B, C Nhóm C được chia thành 6 chi phụ: Fortunella, Eremocitrus, Poncirus, Clymenia, Microcitrus và Citrus

2.1.3 Yêu cầu về dinh dưỡng

Trong sản xuất nông nghiệp muốn tăng năng suất cũng như chất lượng cây trồng, ngoài yếu tố về giống thì các biện pháp kỹ thuật đóng vai trò hết sức quan trọng Trong đó phải kể đến biện pháp bón phân hợp lý cho cây, muốn bón phân hợp lý ta cần phải phân tích, chuẩn đoán dinh dưỡng lá, tùy theo tính chất đất, tuổi cây, loại phân mà bón cho phù hợp Nhìn chung cần phải được cung cấp đầy

đủ và cân đối các chất dinh dưỡng đa lượng cũng như vi lượng

+ Đạm (N): Đây là nguyên tố vô cùng quan trọng và không thể thiếu được

trong quá trình sinh trưởng của cây Đặc biệt trong sự hình thành bộ lá nó có vai trò quyết định đến năng suất, phẩm chất của quả Nitơ tham gia vào quá trình hình thành và phát triển cành lá, xúc tiến hình thành các đợt lộc mới trong năm,

có tác dụng giữ cho bộ lá xanh lâu Nhiều nghiên cứu cho thấy một quả cam Washington Navel muốn phát triển bình thường cần có 45 lá, cam Chanh cần 50

lá, bưởi Chùm cần 60 lá cho một quả (Trung tâm Khuyến nông Hà Nội, 2001) Ngoài ra đạm còn có khả năng điều tiết việc hấp thụ các nguyên tố khác, lượng đạm trong lá cao thì lượng Magie trong lá cũng cao Hay nếu thiếu N thì

K, P, S tăng lên, còn hàm lượng Magie thì giảm đi đối với nghiên cứu trong lá cam Valencia (Phạm Văn Côn, 2005)

Trang 17

Nhưng nếu thiếu đạm lộc non không phát sinh đúng lúc hoặc ra ít, lá nhỏ,

lá mất diệp lục, bị ngả vàng, cành quả nhỏ và mảnh, toàn bộ triệu trứng đều xuất hiện ở lá già trước, lá rụng sớm hơn bình thường, quả nhỏ, vỏ mỏng và năng suất sẽ giảm Tuy nhiên nếu thừa đạm sẽ làm cho lá và lộc sinh trưởng quá tốt, quả lớn nhanh nhưng vỏ dày, quả bị nứt và phẩm chất quả kém, mầu sắc quả đậm hơn, hàm lượng vitamin C có chiều hướng giảm (Trung Tâm Khuyến nông Hà Nội, 2001)

Theo Trần Thế Tục và cs (1988) ở điều kiện thời tiết nước ta cam quýt hấp thu đạm quanh năm, nhưng cây hút đạm mạnh nhất vào các tháng có thời tiết ấm, đồng thời cũng là thời điểm cây cam quýt trong giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng đến khi thu hoạch Bên cạnh đó khả năng hút đạm chịu sự tác động của độ pH đất, nếu pH từ 4-4,5 cây hấp thu mạnh dạng NO3, pH từ 6-6,5 cây hấp thu mạnh dạng NH4+

+ Lân (P2O5): là nguyên tố dinh dưỡng rất cần cho cây sinh trưởng và phát triển đặc biệt là giai đoạn phân hóa mầm hoa Lân có nhiều trong lộc non, rễ tơ

và hạt Theo tài liệu của Nhật; lân không ảnh hưởng đến sản lượng cam quýt bằng đạm và kali nhưng nó có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng quả, đủ lân lượng axit trong quả giảm, tỷ lệ đường/axit cao, hàm lượng vitaminC giảm, vỏ quả mỏng, mã đẹp, lõi quả chặt, màu sắc quả hơi kém nhưng chuyển màu nhanh (Phạm Văn Côn, 2005)

Hiện tượng thiếu lân thì lá sinh trưởng phát triển kém, rụng nhiều, bộ rễ kém phát triển, do đó năng suất, phẩm chất quả giảm ở mỗi thời kỳ sinh trưởng

và phát triển khác nhau cây có nhu cầu về lượng lân cũng khác nhau, ví dụ ở giai đoạn kiến thiết cơ bản cây cần lân để phát triển bộ rễ, còn ở thời kỳ kinh doanh cây cần lân để phân hóa mầm hoa Nhưng nếu dư thừa lân vừa gây lãng phí mà lại làm cho cam lâu chín vàng Hiệu quả của việc bón lân cho cam quýt còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó độ pH đất là quan trọng nhất, đất có pH thấp sẽ làm giảm hiệu lực của phân (Nguyễn Văn Luật, 2006)

+ Kali (K 2 O): theo Vũ Công Hậu (1996) kali rất cần cho sự sinh trưởng và

phát triển của cam quýt, đặc biệt là thời kỳ ra lộc non và thời kỳ quả phát triển mạnh Kali ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất và phẩm chất quả cam quýt, vì kali tham gia vào quá trình vận chuyển các sản phẩm quang hợp về các cơ quan tích lũy trên cây Nếu cây được cung cấp đầy đủ kali quả to, ngọt, nhanh chín, có khả năng chịu được lâu dài khi vận chuyển đi xa hoặc cất giữ lâu ngày

Trang 18

Tuy nhiên nếu thừa kali cây sinh trưởng kém, đốt ngắn, cây còi cọc, đặc biệt nếu quá nhiều kali sẽ gây nên hiện tượng hấp thu caxi, magie kém, quả to nhưng xấu mã, vỏ quả dày, lâu chín Kali trong lá thấp dẫn đến trái nhỏ và vỏ mỏng (Trần Đăng Kết và Trần Thế Tục, 1994; Nguyễn Văn Luật, 2006)

Ngoài các nguyên tố đa lượng N, P, K, các nguyên tố trung lượng và vi lượng cũng có vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng phát triển, năng suất và phẩm chất cam quýt (Vũ Hữu Yêm, 1998)

Theo các nhà nghiên cứu đã chứng minh được rằng cây hoàn toàn không thể phát triển một cách bình thường nếu như thiếu các nguyên tố trung và vi lượng như: Bo, Mangan, Canxi, Kẽm, Molipden v.v các nguyên tố này hết sức cần thiết cho cây, chúng có tác dụng thúc đẩy và kích thích khả năng sinh trưởng, phát triển của cây một cách mạnh mẽ

+ Canxi (Ca): Có tác dụng gắn kết các tế bào lại với nhau Hàm lượng Ca

trong cây cao sẽ ngăn cản sự rụng ngược lại khi hàm lượng Ca trong cây thấp sẽ tăng sự rụng

+ Kẽm (Zn): Quá trình sự tổng hợp Triptophan - tiền thân của auxin rất

cần kẽm Nếu thiếu kẽm sẽ thiếu auxin và sẽ làm tăng sự rụng cũng như quả khô, nhạt

+ Bore: Có vai trò quan trọng trong việc hình thành màng sinh học Đặc biệt khi

B kết hợp với Ca làm ổn định thành tế bào Thiếu B ảnh hưởng lớn đến mô phân sinh

và sự nảy mầm của hạt phấn Vì thế nên B có tác dụng hạn chế rụng quả trên nhiều đối tượng cây trồng trong đó có cây cam Khi thiếu B làm cho hàm lượng nước trong quả ít, hình dạng quả không bình thường Để khắc phục có thể phun dung dịch axit boric nồng độ 300g/100l nước (Lockhart, 1960; 1961)

Theo Herrett (1962) thiếu lưu huỳnh (S) sẽ làm tăng sự rụng quả, lá vì làm giảm các axit amin chứa lưu huỳnh ở trong cây, hoặc khi thừa Zn, Fe và các cation I+, Cl- sẽ gây độc cho cây và làm tăng quá trình rụng

Khi cây thiếu Cu quả dễ bị nứt, nhất là khi còn xanh, ít vitamin C cũng như

ít các chất hòa tan nên quả xốp và chua Để khắc phục thì cần giữ ẩm cho đất, phun 0,2-0,5% CuSO4 lên lá kết hợp với phun boocdo càng tốt

Khi cây thiếu Fe làm cho lá chồi non bị vàng đi dẫn đến rụng quả khi còn xanh, chịu rét kém Để khắc phục thì cần cải tạo đất, bón phân hữu cơ, phun phân

vi lượng 0,5% FeSO4

Trang 19

Khi thiếu Mo làm cho lá lốm đốm vàng Để khắc phục có thể phun dung dịch chứa 100-150g molybdate natri trong 1.000 lít nước

Theo Trần Thế Tục và Trần Đăng Kết (1994), các nguyên tố vi lượng Zn,

B, Mo có ảnh hưởng đến cường độ quang hợp của cây, tỷ lệ đậu quả, năng suất

và phẩm chất cam Sunkits Sau khi phun Zn, B, Mo thì hoạt động quang hợp tăng 10,2-23,4%, tỷ lệ đậu quả tăng 1,34-4,07%, năng suất tăng từ 4,02-21,86%, ngược lại hàm lượng axit giảm 14,67-21,33%

Nhìn chung các chất vi lượng cung cấp cho cây chủ yếu là từ đất, nhưng một điều thật thú vị là chính các chất này đã làm nên những loại quả đặc sản như; cam Xã Đoài chỉ ngon nhất khi được trồng ở làng Xã Đoài hay bưởi Phúc Trạch chỉ ngon nhất khi được trồng ở xã Phúc Trạch - Hương Khê - Hà Tĩnh Khi các giống này được gieo trồng ở các địa phương khác thì không còn giữ nguyên được chất lượng

Reuther and Smith (1973) đã dùng lá cam (4-7 tháng tuổi) ở những cành không mang hoa, quả, phân tích dinh dưỡng và xác định thang chuẩn gồm 5 mức nồng độ chất dinh dưỡng trong lá để xác định lượng dinh dưỡng cần cung cấp bổ sung

Ở nước ta phương pháp này đã được tiến hành thử nghiệm và thu được kết quả tốt tại các nông trường cam quýt vùng Phủ Quỳ - Nghệ An từ những năm

1974 và được công nhận đây là một tiến bộ khoa học trong sản xuất cam quýt Qua đây cho ta thấy các chất dinh dưỡng trong lá cây có hàm lượng khác nhau, do vậy mà nhu cầu của cây về hàm lượng các chất dinh dưỡng là không giống nhau Bón phân cho cam quýt cần phải có những hiểu biết nhất định để khi bón làm sao không thừa hoặc không thiếu chất dinh dưỡng Nếu thừa hoặc thiếu đều ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng và phát triển của cam quýt Đặc biệt sự thừa đạm là một dấu hiệu xấu Khi hàm lượng dinh dưỡng trong lá thích hợp thì cam sinh trưởng và phát triển tốt, vườn cam sẽ cho năng suất cao

• Vai trò và tác dụng của các chất điều hòa sinh trưởng:

Chất điều hòa sinh trưởng có vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây đặc biệt là quá trình đậu quả và sự sinh trưởng của quả Nó được sử dụng khá rộng rãi trong sản xuất giúp điều hòa sinh trưởng, giảm tỷ lệ rụng quả cho cây trồng nhất là trên cây ăn quả

Sự rụng là do sự hình thành tầng rời ở cuống lá, hoa, quả, đây là một vài

Trang 20

lớp tế bào nhu mô có thành mỏng, hoàn toàn thiếu lignin và suberin Các chất

ức chế sinh trưởng sẽ cảm ứng sự rụng còn GA3, auxin thì kìm hãm sự rụng IAA chứa trong dịch chiết hạt phấn Phong Lan có thể kìm hãm sự rụng và nó được xem như là nhân tố quan trọng kiểm tra sự rụng của cơ quan Như vậy, chúng ta có thể thấy chất điều hòa sinh trưởng có tác dụng chống lại sự rụng lá, hoa quả vì chúng ngăn cản sự hình thành tầng rời Sự cân bằng các hoocmon sinh trưởng nhờ chất điều hòa sinh trưởng có ý nghĩa quyết định trong sự điều chỉnh sự rụng lá, hoa, quả Chính vì vậy xử lý GA3, auxin… cho cây và quả non có thể làm quả bớt rụng

Nghiên cứu hàm lượng auxin liên quan đến sự hình thành tầng rời đã chỉ ra rằng, lá non có hàm lượng auxin cao hơn ở lá già, bản lá có hàm lượng auxin cao hơn ở cuống lá Khi hàm lượng auxin cao sẽ ngăn chặn sự hình thành tầng rời Vì vậy nếu xử lý auxin sẽ làm tăng hàm lượng auxin trong lá có thể ngăn ngừa được

sự rụng

Sự chín của quả được điều chỉnh bằng tỷ lệ auxin/ethylen Muốn kìm hãm

sự chín, cần tăng cường hàm lượng auxin trong mô quả, vì vậy việc sử dụng dung dịch auxin cho quả xanh hoặc quả sắp chín có thể kéo dài thời gian tồn tại của quả trên cây Với quả đã thu hoạch trong kho ta có thể phun dung dịch auxin cho chúng để kéo dài được thời gian bảo quản sau thu hoạch Điều này rất có ý nghĩa trong thời vụ quả chín cần thu hoạch đông loạt mà khả năng vận chuyển và tiêu thụ có hạn Trước đây người ta thường sử dụng dung dịch 2,4D với nồng độ

10 - 25 ppm nhưng hiện nay thường sử dụng a-NAA với nồng độ 10-20ppm mà không gây độc hại cho người sử dụng (Hoàng Minh Tấn và cs., 2006)

Có thể dùng chất kích thích sinh trưởng với liều lượng cao để phun cho cam làm hoa rụng bớt đi để tránh hiện tượng ra quả cách năm Khi dùng NAA nồng

độ từ 100ppm, 200ppm 500ppm cho thấy: nồng độ 500ppm, số hoa rụng đi 50% Số lượng quả tuy giảm, nhưng do trọng lượng quả tăng lên cho nên sản lượng ổn định và tránh hiện tượng cách năm

Phun a-NAA riêng lẻ ở nồng độ 20 ppm hay phun kết hợp với GA3 ở nồng

độ 20 ppm bước đầu làm hạn chế sự rụng của quả nhãn xuồng Cơm Vàng, duy trì được số quả trên chùm cao khi thu hoạch

Ở Trung Quốc phun 2,4D ở nồng độ 5-10ppm vào thời điểm hoa cam đang nở rộ thấy tỷ lệ đậu quả tăng so với đối chứng, đường kính quả tăng 9%, sản lượng tăng 34,2%

Trang 21

Ở Ấn Độ (Vũ Công Hậu, 1996) phun NAA 10-20 ppm và 2,4,5 T 20-25 ppm có thêm hoặc không có chất vi lượng khi cây vải ra hoa và đậu quả đã làm giảm sự rụng quả Cũng ở Ấn độ một số tác giả khác cho rằng phun 2,4 D cho kết quả tốt hơn hai chất trên Phun IAA 20 mg/lít khi cây vải ra hoa cũng làm tăng tỉ

lệ đậu quả

Ở Thái lan phun NAA 200 ppm trộn lẫn với GA 20 ppm vào lúc một nửa

số hoa đã nở làm tăng tỉ lệ đậu quả đáng kể, còn phun khi quả đậu thì tỉ lệ rụng quả giảm đi

Trên cam quýt, xử lý 2,4 D 10-15 ppm làm tăng kích thước quả Phun khi quả còn non có hiệu quả hơn khi quả đã khá to vì ở giai đoạn quả non cây phản ứng tốt hơn Thậm chí phun 2,4 D cho cam Washington navel trước khi nở hoa 6 tuần cũng có tác dụng làm cho quả khi thu hoạch to hơn so với đối chứng Nếu phun muộn thì tăng nồng độ lên 40 ppm

2.1.4 Đặc điểm ra hoa, đậu quả và rụng quả của cây cam quýt

2.1.4.1 Đặc điểm ra hoa, đậu quả

Hoa cam quýt thuộc loại hoa đủ gồm đế hoa, đài hoa, cánh hoa, nhị đực, nhị cái và bầu noãn Hoa tự của cam quýt được phân biệt thành 2 loại hoa: hoa đơn và hoa chùm

- Hoa đơn chỉ sinh ra một hoa ở đầu cành mang quả, nên dinh dưỡng tập trung đầy đủ, tỷ lệ đậu quả cao

- Hoa chùm gồm nhiều hoa mọc trên một cành mang quả, người ta căn cứ vào hình thái hoa chia ra làm 3 loại hoa chùm

Ngoài ra việc ra hoa còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác như chăm sóc, nếu chăm sóc kém cây phát triển kém xẽ ảnh hưởng đến khả năng ra hoa và đậu quả, yếu tố sâu bệnh cũng ảnh hưởng đến khả năng ra hoa và đậu quả của cây (Vũ Mạnh Hải và Nguyễn Thị Chắt, 1988)

Nhị có thể có phấn hoặc không có phấn, số nhị thường gấp 4 lần số cánh hoa Bầu nhụy thường có 10 - 14 ô (múi), hoa có mùi thơm hấp dẫn Quả có 8 -

14 múi và có thể có từ 0 - 20 hạt Cam quýt đậu quả nhờ thụ phấn chéo hoặc tự thụ Hoa dị hình là hoa phát triển không đầy đủ, cuống hoặc cánh hoa ngắn, thường số lượng rất ít Hạt cam quýt phần lớn là đa phôi (0 - 13 phôi); chỉ riêng bưởi và các giống lai của chúng là đơn phôi (Hoàng Ngọc Thuận, 1990)

Trang 22

Cây họ cam quýt thường ra hoa đồng thời với cành non và ra tập chung, số lượng hoa rất nhiều Một cây cam có thể ra tới 60.000 hoa, chỉ cần 1% đậu quả cũng có thể đạt năng suất 100 kg/cây Tỷ lệ đậu quả phụ thuộc vào đặc tính di truyền, đặc điểm sinh lý của cây và điều kiện ngoại cảnh Cần chọn cây khoẻ, phù hợp với điều kiện môi trường sinh thái, kỹ thuật chăm sóc tốt, phòng trừ sâu bệnh kịp thời, tăng cường phân hữu cơ, giảm tối đa lượng phân bón vô cơ và thuốc hoá học để tăng tỷ lệ đậu quả và cho sản phẩm quả sạch, an toàn, đáp ứng nhu cầu thị hiếu người tiêu dùng (Hoàng Ngọc Thuận, 1995)

Các yếu tố sinh thái có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ đậu quả và sự phát dục của quả cam quýt Muốn tỷ lệ đậu quả cao, quả sinh trưởng bình thường, phẩm chất tốt thì trong kỹ thuật trồng trọt cần tác động sao cho bộ lá của cây luôn xanh, chuyển lục đều và không bị rụng lá sớm (tuổi thọ lá dài) (Bùi Thị Nhuận và cs., 1966)

2.1.4.2 Hiện tượng rụng quả và cơ sở sinh lý của sự rụng quả

Cây cam quýt thường ra hoa rất nhiều tuy nhiên số lượng hoa còn lại trên cây đậu thành quả lại rất thấp do hiện tượng rụng sinh lý Trong sản xuất, canh tác trồng cây cam quýt hiện tượng rụng hoa, rụng quả là một hiện tượng sinh lý hoàn toàn bình thường của cây, do quá trình hình thành tầng rời ở cuống hoa, cuống quả Sự rụng quả là sự thích ứng của cây khi thiếu dinh dưỡng, nước và hoocmon cho sự sinh trưởng của chúng, buộc chúng phải rụng đi một lượng nhất định các quả non, để tập trung dinh dưỡng và hoocmon cho những quả khác Sự rụng quả thường mạnh mẽ vào lúc phôi sinh trưởng nhanh và lúc phình to của quả Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là do 2 yếu tố đó là yếu tố môi trường

và yếu tố nội tại

* Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự rụng

Các nghiên cứu về môi trường ảnh hưởng đến sự rụng các bộ phận của cây như: Lá, hoa, quả đã được quan tâm từ lâu Trong triết học Hy Lạp đã có nhận xét: điều kiện ẩm sẽ làm cho cây giữ lá tốt hơn nơi khô hạn Nói chung đất bạc màu lá rụng sớm hơn hoặc cây già lá rụng sớm hơn cây non

Theo Addicott (1965), thì nhiệt độ có ảnh hưởng rõ rệt đến sự rụng, khi cây gặp nhiệt độ thấp sẽ kích thích sự hình thành tầng rời ở cuống, nhiệt độ quá cao thúc đẩy nhanh chóng sự rụng

Lockhart (1960) cho rằng ánh sáng liên quan đến sự rụng theo nhiều cách

Trang 23

khác nhau Khi cây thiếu ánh sáng sẽ hình thành tầng rời ở cuống lá, hoa, quả Sự rụng ở cây còn liên quan chặt chẽ đến chế độ chiếu sáng trong ngày, chế độ ánh sáng ngày dài sẽ làm hạn chế sự rụng

Hạn cũng là một nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng tới sự rụng Khi bị hạn các bộ phận của cây sẽ bị rụng vì hạn liên quan đến sự thoái hóa của lá, tuy nhiên nếu thừa nước cũng thúc đẩy sự rụng ở cây Reuther and Smith (1973)

Trần Thế Tục (1980), cho rằng rụng quả là do hạn hán, khi mưa đột ngột làm cho tốc độ lớn của quả mạnh hơn so với vỏ quả do đó làm cho quả nứt và quả bị rụng

Theo Abeles and Holm (1966), thì thành phần khí trong khí quyển cũng ảnh hưởng đến quá trình rụng Hàm lượng oxygen như là một nhân tố thiết yếu liên quan đến sự rụng, do vậy nếu thiếu oxy sẽ kìm hãm sự rụng

Vai trò của etylen ảnh hưởng đến quả trình rụng đã được xác nhận Hiện nay do không khí bị ô nhiễm, hàm lượng etylen tăng làm tăng sự rụng hoa, rụng quả trên cây Ngoài ra khí NH3 cũng là một trong những nhân tố điển hình cảm ứng sự rụng của cây (Lê Văn Tri, 2001)

Hàm lượng khí cacbonic (CO2) trong không khí cũng ảnh hưởng đến sự rụng Thông thường CO2 có tác động ngăn cản sự rụng nhưng trong một số thực nghiệm nó lại có tác dụng như một chất cảm ứng rộng

Theo Hoàng Minh Tấn và cs (2006) khi chúng ta đã hiểu được bản chất của

sự rụng chúng ta có thể điều chỉnh sự rụng các cơ quan có lợi cho sản xuất Muốn kìm hãm sự rụng thì người ta thường phun các hợp chất chứa auxin, hoặc gibberellin cho lá hoặc hoa, quả non đồng thời kết hợp với vệc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cho cây sinh trưởng và phát triển thuận lợi

Addicott (1965) khẳng định rằng: “các yếu tố môi trường đó đã làm ảnh hưởng đến sự cân bằng C/N, ảnh hưởng đến các đường hướng sinh học phân tử qua đó thức đẩy hoặc ngăn cản sự rụng Khi hàm lượng C và hydrogen cao sẽ kìm hãm sự rụng và ngược lại”

* Các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến sự rụng

Quá trình quang hợp giúp cây tích lũy chất khô về các sản phẩm thu hoạch, cung cấp nguyên liệu cho hô hấp và cấu tạo thành tế bào, làm cho thành tế bào vững chắc và ngăn cản sự rụng

Trang 24

Hiệu quả của quang chu kỳ đến quá trình rụng có liên quan đến các phytocrom, qua phytocrom tác động đến quá trình tổng hợp các hoocmon Theo Nitsch (1963) dưới điều kiện ngày dài thì auxin và gibberellin được tổng hợp nhiều hơn axit abxixic, tổ hợp các chất này làm tăng sinh trưởng và chống lại sự rụng Trong điều kiện ngày ngắn thì cân bằng này theo hướng làm tăng sự rụng Các yếu tố nội tại đều được sản sinh nhờ tác động của yếu tố môi trường, ví

dụ nhiệt độ gây ra sự rụng là do nhiệt độ có ảnh hưởng đến quá trình hô hấp và các quá trình tổng hợp các enzyme Vì vậy việc tạo mọi điều kiện thuận lợi để cho cây trồng sinh trưởng phát triển tốt là việc làm cần thiết có tác dụng ngăn cản quá trình rụng của cây (Hoàng Minh Tấn và cs., 2006)

Etylen kích thích sự rụng do nó thúc đẩy quá trình hình thành các enzym gây rụng, do etylen tăng cường quá trình tổng hợp các mRNA mã hóa enzyme này

Sự trao đổi của hoocmon có liên quan đến sự rụng Sự thay đổi hàm lượng auxin IAA khi có nhiều O2 do enzyme IAA oxydaza tăng cường hoạt động làm giảm IAA và làm quá trình rụng tăng lên

2.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ QUẢ CÓ MÚI TRÊN THẾ GIỚI

VÀ Ở VIỆT NAM

2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ quả có múi trên thế giới

Với nhu cầu tiêu thụ quả của thị trường nói chung cũng như cam quýt nói riêng ngày một cao, đã từng bước thúc đẩy cây cam quýt ngày càng có vị thế trong xản xuất nông nghiệp Chính vì thế nghề trồng cây ăn quả của thế giới, ngành sản xuất cam quýt đã không ngừng phát triển về mặt số lượng cũng như chất lượng

Cam quýt nổi tiếng thế giới hiện nay được trồng phổ biến ở những vùng có khí hậu khá ôn hòa thuộc vùng á nhiệt đới hoặc vùng khí hậu ôn đới ven biển chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương

- Địa Trung Hải và Châu Âu bao gồm các nước: Tây Ban Nha, Italia, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Isaren, Tunisia, Algeria

- Vùng Bắc Mỹ bao gồm các nước: Hoa Kỳ, Mexico

- Vùng Nam Mỹ bao gồm các nước: Braxin, Venezuela, Argentina, Uruguay

- Vùng Châu Á bao gồm các nước: Trung Quốc và Nhật Bản

- Các hòn đảo Châu Mỹ bao gồm các nước: Jamaica, CuBa, Cộng hòa Dominica Năm 2010, tổng sản lượng cây ăn quả trên thế giới đạt 608,926 triệu tấn,

Trang 25

trong đó sản lượng cây có múi đạt 122,976 triệu tấn (FAO Statistical year Book 2013) chiếm 20,2 % tổng sản lượng cây ăn quả trên thế giới Riêng đối với cam quýt đạt sản lượng 55,942 triệu tấn (Văn phòng phân tích toàn cầu – Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, tháng 1 năm 2015) chiếm khoảng 9% tổng sản lượng quả toàn

thế giới và 48% tổng sản lượng cây có múi

Cam là thứ quả tiêu thụ nhiều nhất chiếm 73% quả có múi, tập trung ở các nước có khí hậu á nhiệt đới ở các vĩ độ cao hơn 20 – 220 nam và bắc bán cầu, giới hạn phân bố từ vĩ độ 35 vĩ độ nam và bắc bán cầu, có khi lên tới 40 vĩ độ nam và bắc bán cầu Dự báo trong những năm đầu của thế kỉ 21 mức tiêu thụ quả có múi của thị trường thế giới tăng khoảng 20 triệu tấn (Hoàng Minh Tấn

và cs., 2006)

Các nước xuất khẩu cam quýt chủ yếu đó là: Tây Ban Nha, Israel, Maroc, Italia Các giống cam quýt trên thị trường được ưa chuộng là: Washington, Navel, Valenxia Late của Maroc, Samouti của Isarel, Maltaises của Tunisia, và các giống quýt Địa trung hải như: Clemention, quýt Đỏ Danxy và Unshiu được rất nhiều người ưa chuộng (Nonskyete, 1996)

Bảng 2.1 Tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ cam quýt tại một số

quốc gia trên thế giới giai đoạn 2009 đến nay Quốc gia

Trang 27

Qua bảng 2.1 cho thấy Brazil vẫn là quốc gia sản xuất cam quýt lớn nhất thế giới, sản lượng năm 2014 của Brzil đạt 16.320 nghìn tấn quả tươi gấp gần 2,5 lần so với quốc gia đứng thứ 2 là Trung Quốc (6.900 nghìn tấn) Phần lớn cam quýt được tiêu thụ phục vụ nhu cầu quả ăn tươi, tuy nhiên sản xuất cam quýt tại Brazil lại chủ yếu để chế biến (2/3 sản lượng) phục vụ xuất khẩu sang các quốc gia khác dưới dạng nước ép hoa quả, siro,…

Tại Việt Nam, năm 2014 tổng sản lượng cam quýt đạt 675 nghìn tấn, lượng tiêu thu quả tươi lên tới 750 nghìn tấn Cho thấy hàng năm nước ta phải nhập khẩu khoảng 75 nghìn tấn hoa cam quýt (chủ yếu từ Trung Quốc) để phục vụ nhu cầu trong nước Nhưng thực tế con số này chắc chắn còn lớn hơn rất nhiều Việc sản xuất cam quýt của nước 3 năm trở lại đây không có dấu hiệu tăng về sản lượng, bên cạnh đó nhu cầu tiêu thụ lại tăng khá đều và cong tiếp tục tăng cao trong thời gian tới Sản xuất cây ăn quả nói chung và cam quýt nói riêng tại Việt Nam cần có giải pháp mới, phát triển diện tích, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, sản lượng có như vậy mới đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ hoa quả trong nước, không phụ thuộc vào thị trường nước ngoài đặc biệt là hoa quả Trung Quốc và xa hơn có thể xuất khẩu sang các quốc gia lân cận

2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ quả có múi ở Việt Nam

Nước ta là một trong những nước nằm trong trung tâm phát sinh cây có múi (Trung tâm Đông Nam Á), khí hậu nhiệt đới, thích hợp với nhiều loại cây trồng trong đó có các loại cây ăn quả, đặc biệt là các loại cam quýt

Cam quýt được trồng phổ biến nhiều nơi trên khắp mọi miền của đất nước, phong phú về chủng loại giống, có nhiều giống nổi tiếng đặc trưng cho vùng Tuy nhiên việc mở rộng diện tích cam quýt còn gặp nhiều khó khăn, đó là do điều kiện thời tiết thất thường, cơ sở hạ tầng yếu kém, tiếp cận thị trường khó khăn, trình độ thâm canh thấp, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn chậm chạp do trình độ dân trí không đồng đều giữa các vùng, công tác bảo vệ thực vật chưa được quan tâm chu đáo, công tác tuyển chọn giống và sản xuất cây giống chất lượng chưa được chú trọng đúng mức (Nguyễn Văn Luật, 2006)

Cây ăn quả: Sản lượng một số cây ăn quả đạt khá, trong đó sản lượng cam năm 2013 ước tính đạt 530,9 ngàn tấn, tăng 1,7% so với năm 2012; chuối đạt 1,9 triệu 5 tấn, tăng 5,6%; bưởi đạt 449,3 ngàn tấn, tăng 2,2% Tuy nhiên, một số cây khác do ảnh hưởng của thời tiết và một phần diện tích đang được cải tạo, chuyển

Trang 28

đổi nên sản lượng giảm như: Sản lượng vải, chôm chôm đạt 641,1 ngàn tấn, giảm 1,1% so với năm 2012; quýt đạt 177,7 ngàn tấn, giảm 2,4%

Diện tích và sản lượng cây có múi chủ yếu tập trung ở Đồng bằng sông Cửu Long Hàng năm diện tích và sản lượng cam quýt ở nước ta tăng nhanh nhưng năng suất còn khá khiêm tốn do điều kiện khí hậu thời tiết, do kỹ thuật chưa được áp dụng Theo kết quả điều tra của Nguyễn Minh Châu và

cs (2000) thì năng suất cam chanh là 105 tạ/ha; quýt 87 tạ/ha; chanh 88 tạ/ha; bưởi 74 tạ/ha; Tuy nhiên cá biệt có trang trại đạt năng suất cam chanh

237 tạ/ha; chanh 128 tạ/ha; quýt 240 tạ/ha; bưởi 177 tạ/ha Lãi suất đối với một ha trồng cam là 84,2 triệu đồng, quýt 54,6 triệu đồng, chanh 43,7 triệu đồng, bưởi 21 triệu đồng Đồng bằng sông Cửu Long có sản lượng lớn nhất toàn quốc nhưng năng suất còn quá thấp so với năng suất của nhiều nước trồng cam trên thế giới (từ 20 - 40 tạ/ha) Tuy nhiên cũng có năng suất điển hình như ở Phủ Quỳ đạt 400 - 500 tạ/ha

Phát triển cam quýt ở nước ta phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước là chủ yếu và một phần rất nhỏ dùng cho xuất khẩu Hiện nay với khoảng 60 triệu dân sống ở các thành phố, thị xã, thị trấn, mức tiêu thụ quả đang có xu hướng tăng lên Điều tra tiêu dùng riêng về quả ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh năm 2014 đã lên tới 900 nghìn tấn quả tươi các loại được tiêu thụ trong năm, tính riêng các loại quả có múi khoảng 300 nghìn tấn

Biến động về diện tích, năng suất và sản lượng cam quýt trong những năm gần đây ở nước ta thống kê được trong bảng 2.2

Bảng 2.2 Tình hình sản xuất cam ở Việt Nam giai đoạn 2008 – 2012

(ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (tấn)

Trang 29

Qua bảng 2.2 cho thấy diện tích trồng quýt của cả nước tương đối lớn cao nhất là năm 2009 với diện tích là 64.500 ha Sản lượng năm 2010 đạt cao nhất 729.400 tấn Năm 2012 diện tích trồng cam thấp nhất 42.764 ha tuy nhiên năng suất đạt cao nhất 12,18 tấn/ha Có thể thấy những năm gần đây diện tích quýt có xu hướng giảm bởi có một số diện tích đã già cỗi, người dân chưa kịp thời trồng mới nhưng năng suất trồng cam tăng đều qua các năm, cụ thể năng suất bình quân năm 2008 là 10,62 tấn/ha, năm 2009 là 10,75 tấn/ha, năm 2010 là 11,86 tấn/ha, năm 2011 năng suất vượt mức 12 tấn/ha (12,16 tấn/ha) và đến năm

2012 năng suất đạt 12,18 tấn/ha Do vậy, mặc dù diện tích trồng cam của nước ta những năm 2009-2012 có giảm mạnh (giảm 30%) nhưng sản lượng chỉ giảm khoảng 162.000 tấn (giảm 23%) Chứng tỏ người dân có sự đầu tư chăm sóc, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất để đem lại hiệu quả kinh tế cao và kế hoạch tiếp tục mở rộng diện tích trồng cam trong những năm tới là một trong những hướng phát triển sản xuất của người dân

Tổ chức tiêu thụ sản phẩm quả có múi cũng rất đa dạng, ngoài hệ thống chỉ đạo sản xuất lưu thông phân phối của nhà nước và Tổng Công ty Rau quả Trung ương với các đơn vị trực thuộc, dưới tác động của cơ chế thị trường, hệ thống tổ chức tiêu thụ quả tươi của tư nhân được hình thành một cách rộng khắp và chặt chẽ từ khâu thu mua đến khâu vận chuyển đường dài, bán buôn, bán lẻ cũng tỏ ra

có hiệu quả hơn Chính hình thức tổ chức kinh tế nhiều thành phần mà quả tươi được phân bố, lưu thông đi các nơi trên mọi miền đất nước Đây là một động lực phát triển sản xuất cây ăn quả ở nước ta

Tóm lại, cam quýt là một trong những cây ăn quả quan trọng ở Việt Nam Diện tích và sản lượng cam quýt không ngừng tăng, đặc biệt trong thời gian qua diện tích trồng cam quýt tăng khoảng 4 lần và sản lượng tăng khoảng 3 lần Điều này cho thấy mặc dù có một số hạn chế về mặt sinh thái, cam quýt vẫn được quan

tâm phát triển mạnh ở Việt Nam

* Các vùng trồng cam quýt chính ở Việt Nam

- Vùng đồng bằng sông Cửu Long

Theo Trần Thế Tục (1980), Trần Thế Tục và cs (1995) lịch sử trồng cam quýt ở đồng bằng sông Cửu Long có từ lâu đời, nên người dân ở đây rất có kinh nghiệm trồng trọt, chăm sóc loại cây ăn quả có múi Cam quýt được trồng chủ

Trang 30

yếu ở các vùng đất phù sa ven sông hoặc trên các cù lao lớn nhỏ của sông Tiền, sông Hậu có nước ngọt quanh năm, nơi đây có tập đoàn giống cam quýt rất phong phú như: Cam chanh, cam Sành, Bưởi, chanh Giấy Điều này hoàn toàn phù hợp với vị trí của các tỉnh đồng bằng sông Cửu long nằm ở 9015’ đến 10030’

vĩ bắc và 1050 đến 106045’ độ kinh đông, địa hình rất bằng phẳng, có độ cao từ 3-5m so với mặt nước biển Các yếu tố khí hậu, nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa và ánh sáng ở vùng này rất phù hợp với việc phát triển sản xuất cây có múi

Cam của Nam Bộ quả lớn, hương vị đặc biệt thơm ngon, vượt xa loại cam mang từ Trung Hoa vào cùng mùa Nhiều giống được ưa chuộng và trồng phổ biến hiện nay như: Cam Sành, cam Mật, quýt Tiều (quýt hồng), quýt Siêm, quýt đường, bưởi đường, bưởi Năm Roi, bưởi Long Tuyễn ở điều kiện khí hậu, đất đai vùng đồng bằng sông Cửu Long các giống nêu trên thường cho năng suất tương đối cao

- Vùng miền núi phía Bắc

Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang và Thái Nguyên là các vùng trồng cam lớn ở các tỉnh miền núi phía bắc Cam quýt được trồng thành từng khu tập trung từ 500 ha đến hàng nghìn ha như ở Bắc Sơn - Lạng Sơn, Bạch Thông - Bắc Cạn, Hàm Yên, Chiêm Hóa - Tuyên Quang, Bắc Quang - Hà Giang, nhìn chung cam quýt trở thành thu nhập chính của hộ nông dân tại đây Do địa hình sinh thái phong phú dẫn đến có nhiều loại cam quýt đặc trưng, đặc biệt ở vùng núi phía Bắc là nơi chứa đựng tập đoàn giống cam quýt đa dạng (Bùi Huy Kiểm, 2000)

Nói đến cam Sành chúng ta không thể không nghĩ đến khu vực huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang Vì đây là một vùng sản suất cam quýt lớn của miền bắc với chất lượng ngon, màu sắc đẹp, cung cấp một lượng cam lớn cho miền Bắc vào dịp Tết và sau Tết Khi phân tích các chỉ tiêu như chế độ nhiệt, chế độ mưa,

ẩm và những điều kiện thời tiết đặc biệt như: Bão, sương muối, mưa đá và đi đến kết luận rằng ở đây có các yếu tố thời tiết đặc biệt có lợi cho cam phát triển, các yếu tố khác như: Nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa hoàn toàn phù hợp với yêu cầu sinh thái và có thể hình thành nên vùng trồng cam quýt xuất khẩu Bên cạnh đó nơi đây cũng rất nổi tiếng với 4 giống quýt; quýt Chum, quýt Chun, quýt Đỏ và quýt Vàng có triển vọng phát triển với thời gian cho năng suất cao, kéo dài và có giá trị thương phẩm (Hoàng Ngọc Thuận, 2000)

Trang 31

- Vùng khu 4 cũ

Bao gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh trải dài từ 180 đến

20030’ vĩ độ Bắc, với diện tích năm 2009 là 3.454 ha, trọng điểm trồng cam quýt vùng này là vùng Phủ Quỳ - Nghệ An Các giống cam ở Phủ Quỳ có khả năng sinh trưởng tốt và năng suất tương đối ổn định Hai giống Sunkiss và Xã Đoài có

ưu thế tiềm về tiềm năng, năng suất và sức chống chịu sâu bệnh hại năng trên cả cây và quả (Nguyễn Duy Lâm và cs, 2001)

Huyện Hương Khê là một trong những vùng đất miền núi của tỉnh Hà Tĩnh Nhân dân ở đây đã có tập quán trồng bưởi lâu đời, đặc biệt là bưởi Phúc Trạch, một trong những giống bưởi đặc sản ngon nhất hiện nay (Đỗ Xuân Trường, 2003) Ngoài bưởi Phúc Trạch ở vùng này còn có một giống cam quýt rất nổi tiếng đó là cam Bù Cam Bù có quả to, ngon, màu sắc hấp dẫn, chín muộn nên có thể đưa vào cơ cấu cam quýt chín muộn ở nước ta hiện nay Cam Bù có năng suất cao nhờ có bộ lá quang hợp tốt và số lượng lá/cây lớn, có tính chịu hạn tốt Cam

Bù thường được trồng với mật độ cao (600 – 1000 cây/ha) để cho cây chóng giao tán, che phủ đất trống xói mòn và hạn chế ánh sáng trực xạ ở vùng núi thấp (Phạm Văn Côn, 1987)

2.3 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ PHÂN BÓN LÁ VÀ CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG CHO CÂY CAM QUÝT

2.3.1 Nghiên cứu về dinh dưỡng

Thực vật nói chung và cam quýt nói riêng, muốn sinh trưởng và phát triển tốt cần phải được cung cấp đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng đa lượng cũng như vi lượng

+ Đạm (Nitơ): là nguyên tố vô cùng quan trọng và không thể thiếu được

trong quá trình sinh trưởng đặc biệt trong sự hình thành bộ lá và có vai trò quyết định đến năng suất, phẩm chất của quả Nitơ tham gia vào quá trình hình thành

và phát triển cành lá, xúc tiến hình thành các đợt lộc mới trong năm, có tác dụng giữ cho bộ lá xanh lâu Nhiều nghiên cứu cho thấy một quả cam Washington Navel muốn phát triển bình thường cần có 45 lá, cam Chanh cần 50 lá, bưởi Chùm cần 60 lá cho một quả (Trần Thế Tục và cs., 1988)

Tuy nhiên nếu thừa đạm sẽ làm cho lá và lộc sinh trưởng quá tốt, quả lớn nhanh nhưng vỏ dày, quả bị nứt và phẩm chất quả kém, mầu sắc quả đậm hơn, hàm lượng vitamin C có chiều hướng giảm Nhưng nếu thiếu đạm lộc non không

Trang 32

phát sinh đúng lúc hoặc ra ít, lá nhỏ, lá mất diệp lục, bị ngả vàng, cành quả nhỏ, mảnh và bị rụng lá, quả nhỏ, vỏ mỏng, năng suất giảm.

Ở điều kiện thời tiết nước ta cam quýt hấp thu đạm quanh năm, nhưng cây hút đạm mạnh nhất vào các tháng có thời tiết ấm, đồng thời cũng là thời điểm cây cam quýt trong giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng đến khi thu hoạch Ngoài

ra khả năng hút đạm chịu sự tác động của độ pH đất, nếu pH từ 4 - 4,5 cây hấp thu mạnh dạng NO3, pH từ 6-6,5 cây hấp thu mạnh dạng NH4+ (Trần Thế Tục

và cs., 1988)

+ Lân (Phospho): là nguyên tố dinh dưỡng rất cần cho cây sinh trưởng và

phát triển đặc biệt là giai đoạn phân hóa mầm hoa

Phân lân có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng quả, đủ lân lượng axit trong quả giảm, tỷ lệ đường/ axit cao, hàm lượng Vitamin C giảm, vỏ quả mỏng, mã đẹp, lõi quả chặt, màu sắc quả hơi kém nhưng chuyển màu nhanh

Nếu thiếu lân cành, lá sinh trưởng phát triển kém, rụng nhiều, bộ rễ kém phát triển, do đó năng suất, phẩm chất quả giảm ở mỗi thời kỳ sinh trưởng và phát triển khác nhau cây có nhu cầu về lượng lân cũng khác nhau, ví dụ ở giai đoạn kiến thiết cơ bản cây cần lân để phát triển bộ rễ, còn ở thời kỳ kinh doanh cây cần lân để phân hóa mầm hoa Tuy nhiên nếu dư thừa lân vừa gây lãng phí

mà lại làm cho cam lâu chín vàng (Nguyễn Văn Luật, 2006) Hiệu quả của việc bón lân cho cam quýt còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó độ pH đất là quan trọng nhất, đất có pH thấp sẽ làm giảm hiệu lực của phân

+Kali: Vũ Công Hậu (1996) kali rất cần cho sự sinh trưởng và phát triển

của cam quýt, đặc biệt là thời kỳ ra lộc non và thời kỳ quả phát triển mạnh Kali ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất và phẩm chất quả cam quýt, vì kali tham gia vào quá trình vận chuyển các sản phẩm quang hợp về các cơ quan tích lũy trên cây Nếu cây được cung cấp đầy đủ kali quả to, ngọt, nhanh chín, có khả năng chịu được lâu dài khi vận chuyển đi xa hoặc cất giữ lâu ngày Tuy nhiên nếu thừa kali cây sinh trưởng kém, đốt ngắn, cây còi cọc, đặc biệt nếu quá nhiều kali sẽ gây nên hiện tượng hấp thu caxi, magie kém, quả to nhưng xấu

mã, vỏ quả dày, lâu chín

Ngoài các nguyên tố đa lượng N,P,K, các nguyên tố trung lượng và vi lượng cũng có vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng phát triển, năng suất và phẩm chất cam quýt (Vũ Hữu Yêm, 1998)

Trang 33

Theo các nhà nghiên cứu đã chứng minh được rằng cây hoàn toàn không thể phát triển một cách bình thường nếu như thiếu các nguyên tố trung và vi lượng như: Bo, Mangan, Canxi, Kẽm, Molipden v.v các nguyên tố này hết sức cần thiết cho cây, chúng có tác dụng thúc đẩy và kích thích khả năng sinh trưởng, phát triển của cây một cách mạnh mẽ.

+ Canxi (Ca): được ví như xi măng gắn kết các tế bào lại với nhau Hàm

lượng Ca trong cây cao sẽ ngăn cản sự rụng ngược lại khi hàm lượng Ca trong cây thấp sẽ tăng sự rụng

+ Kẽm (Zn): rất cần cho sự tổng hợp Triptophan - tiền thân của auxin Khi

thiếu Zn sẽ thiếu auxin và sẽ làm tăng sự rụng

+ Bore (Bo): là nguyên tố dùng cho cây ăn quả khá tốt Nó có vai trò quan

trọng trong việc hình thành màng sinh học Đặc biệt khi B kết hợp với Ca làm ổn định thành tế bào Thiếu B ảnh hưởng lớn đến mô phân sinh và sự nảy mầm của hạt phấn Chính vì vậy, B có tác dụng hạn chế rụng quả trên nhiều đối tượng cây trồng trong đó có cây cam Khi thiếu B làm cho hàm lượng nước trong quả ít, hình dạng quả không bình thường Để khắc phục có thể phun dung dịch axit boric nồng độ 300g/100l nước

+ Lưu huỳnh (S): thiếu lưu huỳnh sẽ làm tăng sự rụng quả, lá vì làm giảm

các axit amin chứa lưu huỳnh ở trong cây, hoặc khi thừa Zn, Fe và các cation I+,

Cl- sẽ gây độc cho cây và làm tăng quá trình rụng

Khi cây thiếu Cu quả dễ bị nứt, nhất là khi còn xanh Để khắc phục thì cần giữ ẩm cho đất, phun 0,2-0,5% CuSO4 lên lá kết hợp với phun boocdo càng tốt.Khi cây thiếu Fe làm cho lá chồi non bị vàng đi dẫn đến rụng quả khi còn xanh Để khắc phục thì cần cải tạo đất, bón phân hữu cơ, phun phân vi lượng 0,5% FeSO4

Khi thiếu Mo làm cho lá lốm đốm vàng Để khắc phục có thể phun dung dịch chứa 100-150g molybdate natri trong 1.000l nước

Để nâng cao năng suất và chất lượng cam quýt và bón phân như thế nào

và để đạt hiệu quả kinh tế cao, cần phải căn cứ vào những cơ sở khoa học đã được các nhà nghiên cứu khoa học đúc kết Đa phần khi bón phân cần căn cứ vào nhu cầu dinh dưỡng của cây ở các thời kỳ sinh trưởng và phát triển cụ thể Theo các nhà nghiên cứu về việc bón phân cho cam quýt đều cho rằng cơ sở khoa học của việc bón phân có hiệu quả là dựa vào phân tích hàm lượng dinh dưỡng trong đất và trong lá theo thang tiêu chuẩn của Chapman và các tác giả,

Trang 34

cần căn cứ vào đó để khi cung cấp phân bón cho cây tránh làm sao không xảy

ra hiện tượng quá thừa hay quá thiếu vừa gây lãng phí và làm giảm năng suất

là không giống nhau Bón phân cho cam quýt cần phải có những hiểu biết nhất định để khi bón làm sao không thừa hoặc không thiếu chất dinh dưỡng Nếu thừa hoặc thiếu đều ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng và phát triển của cam quýt Đặc biệt sự thừa đạm là một dấu hiệu xấu Khi hàm lượng dinh dưỡng trong lá thích hợp thì cam sinh trưởng và phát triển tốt, vườn cam sẽ cho năng suất cao.Theo Koo (1985) (bảng 2.3) cho rằng hàng năm một lượng dinh dưỡng nhất định trong đất đã bị một số loại cây ăn quả có múi lấy đi và không hoàn trả lại đất Lượng dinh dưỡng này được cây sử dụng phục vụ cho sự sinh trưởng, hình thành và phát triển tế bào quả Do vậy, cần phải bổ sung lượng dinh dưỡng nhất định bao gồm cả vi lượng và đa lượng cho đất sau mỗi đợt

thu hoạch tùy thuộc vào sản lượng thu hoạch của vụ đó

Bảng 2.3 Lượng dinh dưỡng do cây ăn quả có múi lấy đi từ 1 tấn sản phẩm

Loại cây Dinh dưỡng đa lượng (gam/tấn quả tươi)

Trang 35

Theo kết quả bảng 2.3 cho thấy đối với cây cam dinh dưỡng kali được cây hấp thụ nhiều nhất trong số tất cả các chất dinh dưỡng khoáng (3.194g/tấn quả), tiếp theo là đạm và canxi Lượng lân cây lấy đi từ đất chỉ bằng 1/6 so với lượng kali cây hấp thụ Bên cạnh đó, các nguyên tố vi lượng cũng được cây cam sử dụng với lượng từ 0,8 – 3,0g/tấn quả Đây là nguồn dinh dưỡng rất quan trọng đối với chất lượng, khả năng chống chịu cũng như năng suất đối với cây cam Vì vậy, hàng năm cần phải căn cứ vào tình hình sản xuất, năng suất thu quả để có kế hoạch bón trả đất hay bổ sung cho cây thông qua các chế phẩm sinh học, phân bón lá đảm bảo cây sinh trưởng tốt, cho năng suất ổn định

Trong một nghiên cứu của Quaggio et al (2012) cho rằng đối với cây có

múi đã có tiến bộ rất lớn về việc dùng kết quả phân tích lá để hướng dẫn sử dụng phân bón Người ta chuẩn đoán dinh dưỡng lá cho cây có múi bằng cách lấy lá mùa xuân, 4 - 6 tháng tuổi ở những cành không mang quả để phân tích từ đó có căn cứ để xác định lượng phân bón cần bổ sung, điều chỉnh cho cây Kết quả thể hiện bảng 2.4

Bảng 2.4 Đánh giá mức độ thiếu đủ căn cứ vào hàm lượng dinh dưỡng trong lá

(lá 4 - 6 tháng tuổi/cành không mang quả)

Trang 36

Bảng 2.5 Đánh giá mức độ thiếu đủ căn cứ vào hàm lượng dinh dưỡng trong đất

Nguồn: Srivastiva et al (2007)

Một nghiên cứu khác của Srivastiva et al (2007) (bảng 2.5) khi phân tích

hàm lượng dinh dưỡng trong đất và năng suất cây cam quýt để xác định lượng dinh dưỡng cần thiết cho cây đáp ứng được mục tiêu năng suất đã thu được kết quả được thể hiện trong bảng 1.5 Để đạt được năng suất ổn định 48 – 117kg/cây, cây cam quýt cần được bổ sung rất nhiều các nguyên tố khoáng, vì vậy trong đất cần có một lượng dinh dưỡng khoáng nhất định để cho cây hấp thụ khi cây cần đến Đặc biệt Kali và Canxi là 2 nguyên tố khoáng cần nhiều nhất trong đất Như vậy, ta có thể căn cứ vào các mức độ đánh giá: Thiếu - Thấp - Tối ưu - Cao - Thừa ở bảng 2.4 và 2.5 mà quyết định có bón phân hay không; bón những loại phân nào; liều lượng ra sao Đồng thời ta cũng có thể căn cứ vào mức đánh giá này để điều chỉnh loại và lượng phân bón vào mùa sau, sao cho đạt được hiệu quả tối ưu Các chỉ số này cũng cho ta biết phần nào đặc điểm đất trồng của ta so với nhu cầu loại cây ăn quả có múi hiện có Như vậy, người làm vườn chuyên nghiệp rất cần quan tâm đến những chỉ số có tính chất hướng dẫn này để tích lũy kinh nghiệm trồng trọt và làm tăng năng suất cây trồng, tăng phẩm chất hàng hóa

và tăng hiệu quả kinh tế trồng trọt

- Phân bón ở thời kỳ kiến tiết cơ bản (KTCB)

Trang 37

Bảng 2.6 Lượng phân bón cho cây ăn quả có múi ở thời kỳ KTCB

- Ghi chú: Bột xương chứa: 3,0 % N; 25 % P 2 O 5 ; 0,2 % K 2 O; 20 % Ca

Tro gỗ chứa: 0,0 % N; 1,8 % P 2 O 5 ; 5,5 % K 2 O; 2,2 % Mg; 23 % Ca

Thường những nơi có đào hốc để trồng thì nên bón phân theo hốc vì rất ít rễ

có thể mọc xa hơn Những nơi không đào hốc để trồng thì bón theo tán lá Thường bón từ khoảng cách xa hơn tán lá 30 cm hướng tới gần gốc cây Số lần bón cũng giảm dần từ năm thứ nhất đến các năm sau đó Năm đầu bón 5 - 7 lần

và năm thứ 5 chỉ bón 3 - 4 lần Tuy nhiên những nơi bón cho đất qua con đường nước tưới thì có thể bón tới 25 - 30 lần/năm trong suốt 5 năm

Kết quả bảng 1.6 cho thấy, ở những vùng khác nhau, các quốc gia khác nhau sử dụng lượng phân bón cho cây có múi là hoàn toàn khác nhau; ở Ấn Độ lượng phân bón đạm và lân thấp hơn so với Mỹ nhất là phân bón đạm lượng bón chỉ bằng ½ Tuy nhiên nhìn chung lượng phân bón cho cây hàng năm đều tăng lên theo độ tuổi của cây do nhu cầu của cây tăng cao nhất là trong năm thứ 3 khi cây bắt đầu cho thu quả, nhu cầu về tất cả các loại dinh dưỡng đều tăng

- Bón phân hóa học ở thời kỳ kinh doanh (TKKD)

Chế độ phân bón ảnh hưởng trực tiếp tới cả năng suất và chất lượng sản phẩm Thường người ta căn cứ vào cả lượng dinh dưỡng cây lấy đi do sản lượng hàng năm và vào cả số liệu phân tích lá và đất để làm kế hoạch phân bón hàng năm

Trang 38

Đối với cây Cam Quýt thì N và K là 2 nguyên tố quan trọng bậc nhất Thường cần 3 - 6 kg N cho 1 tấn sản phẩm quả và lượng N cần bón cũng được làm cơ sở để tính tới nhu cầu các nguyên tố khác Lân ít quan trọng hơn vì nó được sử dụng với 1 lượng rất ít trong thành phần sản phẩm Phân bón cho Cam Quýt thường có tỷ lệ N : P2O5 : K2O = khoảng 5:1:5; Magie cũng cần được quan tâm ở những nơi cần

Bảng 2.7 Lượng phân khuyến cáo cho cam quýt thời kỳ kinh doanh

Có thể nhận thấy, lượng phân bón được khuyến cáo bón cho cây cam quýt

là thấp hơn tương đối nhiều so với Nhật Bản và Mỹ Tại Mỹ lượng phân bón lân khá thấp thấp hơn 3 lần so với Nhật Bản Ngoài ra, tại Mỹ được khuyến cáo bón thêm một lượng tương đối lớn MgO (75-210 kg/ha)

Theo Vũ Công Hậu (1996), bón phân cho cây có múi tác giả đề nghị lấy công thức bón của Brazil sau đây làm chuẩn: Bón vào hố trước khi trồng cho mỗi cây 20 kg phân chuồng hay hữu cơ + 2 kg phân gà vịt + 75 g đạm nguyên chất Mỗi năm bón theo số lượng ở bảng 2.8 dưới đây

Bảng 2.8 Lượng phân bón hàng năm cho cây có múi

Trang 39

Phân đạm nên bón làm 3 lần, lần 1 sau khi thu hoạch; lần 2 khi cành lá mới hình thành và lần 3 khi quả đang lớn Phân lân có thể chỉ bón 1 lần sau khi thu hoạch kết hợp bón toàn bộ lượng phân hữu cơ, phân vi sinh Kali chia 2 lần: 1/2 trước khi nở hoa và 1/2 sau khi đậu quả

Tiến hành rạch hố theo hình chiếu tán, sâu 8 – 10 cm, bón đều lượng phân của đợt bón sau đó lấp đất và tưới nước cho cây

Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004) thì chế độ bón phân cho cây có múi như sau (bảng 2.9 và 2.10):

Bảng 2.9 Chế độ phân bón cho cây cam quýt Năm tuổi N (g/cây) P 2 O 5 (g/cây) K 2 O (g/cây)

Nhìn chung, nhu cầu dinh dưỡng của cây cam quýt trong 1-3 năm đầu tiên

là khá thấp, từ năm thứ 3 trở đi cây bắt đầu cho quả nên nhu cầu dinh dưỡng tăng rất mạnh, tăng khoảng 1,5-2 lần cac dinh dưỡng đa lượng (N, P, K) cho nên cũng cần cung cấp tương ứng dinh dưỡng với nhu cầu của cây để đảm bảo cây sinh trưởng, phát triển tốt nhất Khi cây trên 10 năm tuổi lượng phân bón được duy trì

ổn định N (400-800g/cây), P2O5 (350-400g/cây) và K2O (240 g/cây)

- Bón phân vi lượng TKKD

Các nguyên tố vi lượng: Ngoài tác dụng tăng sức đề kháng cho cây, một

số nguyên tố vi lượng có tác dụng nâng cao tỷ lệ đậu hoa, quả và khả năng giữ quả của cam quýt Bên cạnh đó, vi lượng còn làm tăng chất lượng và mẫu mã quả cho cam quýt Có thể dùng kết quả phân tích lá và quan sát bằng mắt thường để đánh giá Cần điều chỉnh ngay các biểu hiện thừa, thiếu để đảm bảo sức khoẻ cho cây Cách sử dụng và thời gian cung cấp nguyên tố vi lượng cho cây cam quýt được thể hiện trong bảng 2.10

Trang 40

Bảng 2.10 Phương pháp áp dụng các nguyên tố vi lượng cho cam quýt Liều lượng và phương pháp Mn Zn Cu Fe B Mo

Phun lên lá (khi cây có hầu hết

lá mới đã to hết cỡ) Được Được Được Không Được Được

Bón vào đất (bất cứ lúc nào) Được Không Được Được Được Không

Nguồn: Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004)

Như vậy, trong quá trình sử dụng các loại phân bón lá, cần lưu ý đến thành phần các nguyên tố có trong phân để lựa chọn thời gian và phương pháp hợp lý khi cung cấp cho cây cam quýt

- Dùng phân NPK bón cho cây ăn quả có múi trong thời kỳ KTCB

Năm thứ nhất: Năm thứ nhất cây cần nhiều lân để phát triển bộ rễ nên chọn loại phân có tỷ lệ lân khá cao như NPK 5-10-5; 5-8-6; 6-8-4 v.v bón với lượng 80gN/cây

Năm thứ 2 đến năm thứ 4: Có thể coi như thời gian này cây vẫn còn trong thời kỳ KTCB, mặc dù lúc này cây đã cho một sản lượng nhất định Chọn các loại phân NPK 10-10-5; 15-15-6; 14-8-6; 12-6-9; 15-15-10-5; 16-16-8; 20-15-7; 20-20-15; 20 -20-10-5; 20-15-15-7;v.v Tính toán để bón với lượng 100 - 200 g N/cây

- Dùng phân NPK bón cho cây ăn quả có múi trong thời kỳ kinh doanh

Từ năm thứ 4 trở đi: Lúc này coi như cây đã chính thức bước vào thời kỳ khai thác Do đặc điểm của cây có múi là sản phẩm chứa một hàm lượng Kali rất cao nên cần chú ý trong việc bón phân để bù đắp lại lượng mất đi này Theo số liệu khá thống nhất về hàm lượng dinh dưỡng mất đi do mùa màng thì tỷ lệ NPK nên là 4:1:6 hoặc 3:1:4 là được Như vậy thì trong số các loại phân NPK hiện có loại NPK 20-7-25 là đáp ứng khá tốt tỷ lệ này

Lượng bón cần tính toán như sau:

+ Các năm thứ 5 và 6 bón khoảng 200 - 250 g N/cây

+ Các năm 7-9 bón 300 - 400 g N/ cây

Ngày đăng: 17/11/2018, 00:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w