1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

giải pháp phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện phú xuyên, thành phố hà nội

114 171 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 2,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, kinh tế trang trại của Phú Xuyên vẫn còn nhiều yếu kém và bất cập: trang trại trên địa bàn còn phát triển mang tính tự phát, chưa hình thành được các mối liên kết trong quá tr

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

ĐỖ TUYẾT NHUNG

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ XUYÊN,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Vũ Quang

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ

để lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Đỗ Tuyết Nhung

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn tôi đã nhận được sự giúp đỡ

và tạo điều kiện của thầy hướng dẫn, các thầy cô trong Bộ môn Phân tích định lượng, một số cán bộ trong các phòng ban chuyên môn của huyện, xã; chủ trang trại và hộ trên địa bà huyện

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn TS Hoàng Vũ Quang đã tâm huyết, hết sức nhiệt tình tạo điều kiện giúp tôi trong cả quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô trong Bộ môn Phân tích định lượng thuộc khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn đã có những ý kiến đóng góp quý báu để tôi hoàn thiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Học viện Nông nghiệp Việt Nam; một số cán bộ trong các phòng ban chuyên môn của huyện, xã; chủ trang trại và hộ trên địa bà huyện

đã tạo điều kiện hỗ trợ, cung cấp tài liệu, chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức để giúp tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Đỗ Tuyết Nhung

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục từ viết tắt v

Danh mục hình vii

Trích yếu luận văn viii

Thesis abstract x

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1

1.2.1 Mục tiêu chung 1

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu: giải pháp phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Phú Xuyên 2

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 2

1.5 Những đóng góp lý luận và thực tiễn 2

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế trang trại 4

2.1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế trang trại 4

2.1.1 Một số khái niệm liên quan 4

2.1.2 Phân loại và tiêu chí xác định kinh tế trang trại 8

2.1.3 Ý nghĩa của việc phát triển kinh tế trang trại 8

2.1.4 Nội dung phát triển kinh tế trang trại 9

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại 11

2.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển kinh tế trang trại 14

2.2.1 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam 14

2.2.2 Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại 19

2.2.3 Bài học kinh nghiệm về phát triển kinh tế trang trại 23

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 25

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 25

Trang 5

3.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 27

3.2 Phương pháp nghiên cứu 30

3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 31

3.2.2 Chọn điểm và mẫu nghiên cứu 32

3.2.3 Xử lý và tổng hợp thông tin 33

3.2.4 Phương pháp phân tích 33

3.2.5 Các chỉ tiêu đánh giá 32

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 34

4.1 Thực trạng phát triền kinh tế trang trại của huyện Phú Xuyên thời gian qua 34

4.1.1 Số lượng và cơ cấu loại hình trang trại 34

4.1.2 Nguồn lực sản xuất của trang trại 35

4.1.3 Kết quả sản xuất của trang trại 47

4.1.4 Tình hình áp dụng khoa học công nghệ 50

4.1.5 Tình hình liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm của trang trại, hộ 53

4.1.6 Hỗ trợ mà các các trang trại nhận được từ các cơ quan Nhà nước, đoàn thể 56

4.1.7 Hiệu quả sản xuất của trang trại 58

4.1.8 Khó khăn của trang trại 60

4.1.9 Nhu cầu của trang trại 62

4.2 Quan điểm, định hướng phát triển 67

4.2.1 Căn cứ để đưa ra định hướng 67

4.2.2 Quan điểm, định hướng và mục tiêu phát triển 69

4.3 Giải pháp phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện 72

4.3.1 Các giải pháp chung cho các loại hình trang trại 72

4.3.2 Những giải pháp riêng cho từng loại hình trang trại 82

4.3.3 Giải pháp để các hộ quy mô lớn đạt tiêu chí trang trại 84

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 86

5.1 Kết luận 86

5.2 Kiến nghị 87

5.2.1 Đối với Nhà nước 87

5.2.2 Đối với chính quyền địa phương 87

5.2.3 Đối với các chủ hộ trang trại 87

Tài liệu tham khảo 88

Phụ lục 90

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Phú Xuyên 27

Bảng 3.2 Cơ cấu GDP các ngành kinh tế huyện Phú Xuyên từ 2013 đến 2015 (tính theo giá thực tế 1994) 28

Bảng 3.3 Dân số, lao động huyện Phú Xuyên 29

Bảng 3.4 Số lượng mẫu và loại mẫu 31

Bảng 4.1 Số lượng trang trại 34

Bảng 4.2 Diện tích đất canh tác bình quân của loại hình trang trại và hộ từ 2011 – 2015 36

Bảng 4.3 Bình quân cơ cấu diện tích đất trong 3 loại hình trang trại điều tra năm 2015 38

Bảng 4.4 Đặc điểm, tình hình cơ bản về chủ trang trại và chủ hộ 39

Bảng 4.5 Tình hình sử dụng lao động của trang trại và hộ năm 2015 41

Bảng 4.6 Tình hình về vốn, nguồn vốn của các trang trại từ 2011 – 2015 43

Bảng 4.7 Bình quân vốn của các hộ quy mô lớn năm 2015 44

Bảng 4.8 Bình quân vốn (đơn vị triệu đồng) và tốc độ tăng bình quân (đơn vị %) vốn của các loại trang trại giai đoạn 2011 - 2015 45

Bảng 4.9 Cơ cấu nguồn vốn của trang trại 2011 – 2015 46

Bảng 4.10 Giá trị sản xuất bình quân của các loại hình trang trại năm 2015 47

Bảng 4.11 Kết quả sản xuất bình quân của từng loại hình trang trại, hộ 2015 49

Bảng 4.12 Giá trị máy móc của trang trại, hộ quy mô lớn năm 2015 51

Bảng 4.13 Tình hình liên kết trong sản xuất của trang trại, hộ 54

Bảng 4.14 Tỷ lệ liên kết trong tiêu thụ sản phẩm của trang trại, hộ 55

Bảng 4.15 Tình hình chế biến nông sản của trang trại, hộ 56

Bảng 4.16 Tổng hợp những hỗ trợ mà các các trang trại nhận được từ các cơ quan Nhà nước, đoàn thể 58

Bảng 4.17 Hiệu quả sử dụng chi phí trung gian và lao động của các loại hình trang trại, hộ 2015 (tính bình quân 1 trang trại) 59

Bảng 4.18 Tổng hợp những khó khăn của các trang trại 61

Bảng 4.19 Tổng hợp những nhu cầu của các trang trại 63

Trang 8

DANH MỤC HÌNH Hình 3.1 Bản đồ địa lý huyện Phú Xuyên 25

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

1 Tên tác giả: Đỗ Tuyết Nhung

2 Tên luận văn: “Giải pháp phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội”

3 Ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 60.34.04.10

4 Cơ sở đào tạo: Học Viện Nông nghiệp Việt Nam

Thời gian qua, sự phát triển của kinh tế trang trại đã góp phần khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai, vốn, lao động, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, góp phần xóa đói, giảm nghèo Tuy vậy, trong thực tế việc phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Phú Xuyên thời gian qua còn bộc lộ một số hạn chế như: số lượng trang trại ít, tốc độ tăng chậm, các trang trại chưa được cấp giấy chứng nhận trang trại, hiệu quả trong sản xuất chưa cao Trong giới hạn thời gian và nguồn lực, đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng để đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Phú Xuyên, thành phố

Hà Nội Tương ứng với đó là ba mục tiêu cụ thể: (1) Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế trang trại; (2) Đánh giá thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển kinh tế trang trại ở Phú Xuyên thời gian qua; (3) Đề xuất giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở Phú Xuyên, TP Hà Nội

Trong nghiên cứu này tôi sử dụng linh hoạt giữa số liệu thứ cấp và sơ cấp để đưa

ra các phân tích nhận định Trong đó, số liệu thứ cấp thu thập từ nguồn các báo cáo khoa học, chuyên đề, các loại sách do các nhà khoa học viết và công bố, các tạp chí và một số cơ quan như Chi Cục Thống kê huyện, phòng Kinh tế huyện Để thu thập thông tin sơ cấp phục vụ cho quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp điều tra các chủ hộ, trang trại trên địa bàn huyện, cán bộ xã và huyện (chủ nhiệm HTX, cán bộ khuyến nông, địa chính và một số cán bộ chủ chốt); kết quả điều tra tình hình trang trại trên địa bàn do Chi Cục thống kê, phòng Kinh tế huyện thực hiện từ năm 2011 – 2015 cung cấp Mẫu điều tra đối với trang trại là toàn bộ số trang trại trên địa bàn huyện với 3 loại hình trang trại là chăn nuôi (26), nuôi trồng thủy sản (15) và tổng hợp (15); Mẫu điều tra đối với hộ quy mô lớn là 34 hộ với 3 loại hình sản xuất là chăn nuôi (16), nuôi trồng thủy sản (13) và tổng hợp (5) Số liệu, thông tin được xử lý, phân tích bằng phương pháp thống kê phân tổ, so sánh

Kinh tế trang trại ở Phú Xuyên trong thời gian qua có bước phát triển khá về quy mô, năng suất cây trồng, vật nuôi, kết quả sản xuất, giá trị sản phẩm hàng hoá, dịch

vụ đều tăng lên, thu nhập của trang trại và mức sống người lao động có sự cải thiện rõ rệt, góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá gắn

Trang 10

huy động được nguồn vốn đáng kể trong dân để đưa vào đầu tư phát triển sản xuất, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn của địa phương Giai đoạn

2011 - 2015, số lượng trang trại trên địa bàn nhìn chung tăng chậm, từ 39 trang trại tăng lên thành 56 trang trại; giá trị sản xuất bình quân của trang trại đạt kết quả khá khoảng 2.570,58 triệu đồng, mang lại thu nhập cho chủ trang trại khoảng gần 200 triệu đồng/năm Các hộ sản xuất quy mô lớn tuy giá trị sản xuất chỉ bằng chưa tới 30% giá trị sản xuất bình quân của trang trại nhưng mang lại thu nhập cho chủ hộ bằng xấp xỉ 78% thu nhập của trang trại

Tuy nhiên, kinh tế trang trại của Phú Xuyên vẫn còn nhiều yếu kém và bất cập: trang trại trên địa bàn còn phát triển mang tính tự phát, chưa hình thành được các mối liên kết trong quá trình phát triển; kinh tế trang trại còn lệ thuộc nhiều vào các nhân tố khách quan bên ngoài, độ rủi ro cao; trình độ quản lý của chủ trang trại và tay nghề của người lao động còn nhiều hạn chế; mức độ trang bị máy móc, thiết bị trong các trang trại còn rất thấp, áp dụng khoa học công nghệ trong sản xuất còn hạn chế, sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá chưa cao, hiệu quả sản xuất thấp, tất cả các trang trại đều chưa có giấy chứng nhận

Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm: Thiếu vốn; cơ sở hạ tầng còn yếu kém, trình độ của chủ trang trại và chất lượng lao động chưa cao; quản lý đất đai bất cập, tích tụ chưa thuận lợi; quản lý nhà nước về kinh tế trang trại còn bị buông lỏng; vấn đề liên kết, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ còn hạn chế

Qua phân tích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng, đề tài đưa ra những nhóm giải pháp để phát triển kinh tế trang trại của Phú Xuyên, cụ thể là: đất đai (tăng cường quản lý, tích tụ đất đai); vốn và tín dụng (đơn giản thủ tục, cơ chế vay, nâng mức và thời hạn cho vay); thị trường, chế biến sản phẩm (củng cố và mở rộng mạng lưới thương nghiệp); tăng cường công tác khuyến nông; đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kỹ thuật nghiệp vụ và quán lý cho các chủ trang trại và người lao động; tăng cường liên kết trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm; đầu

tư nâng cấp cơ sở hạ tầng

Trang 11

THESIS ABSTRACT

1 Author’s name: Do Tuyet Nhung

2 Thesis’s title: " Solution to Economic Development of Farms in Phu Xuyen District, Hanoi"

3 Major: Economic Management Code: 60.34.04.10

4 Training institutions: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Presently, the economic development of the farms has contributed to effective utilization of the resources of land, finance and labor that promote economic restructuring in agriculture and contribute to hunger eradication and poverty reduction However, in fact the economic development of farms in Phu Xuyen district also has some shortcomings such as very few farms, slow increase in the number of farms, the non-license farm and low production efficiency In the short time and limited resources, this study projects based on the analysis of the factors to propose some solutions to develop the farm economy in Phu Xuyen district, Hanoi Three specific objectives are: (1) review literature on economic development of farms; (2) Assessment of the situation and the factors affecting economic development of farms in Phu Xuyen in present; (3)

to propose solutions for the economic development of farms in Phu Xuyen, Hanoi

In this study I use both primary and secondary data Secondary data were collected from reports, seminars, books published and documents from government’s agencies such as the Statistics Branch Directorate and Economic Department of Phu Xuyen District As for primary data, I made surveys on household heads, farm heads and commune and district’s officers (cooperatives’ chairman, extension officer and key staffs) The Statistics Branch Directorate and Economic Department of Phu Xuyen District collected data from farm surveys in this area in 2011 - 2015 The sample for farm consisted of entire farms in the district with 3 types: livestock farms (26), aquaculture farms (15) and mix farms (15) The samples for large-size households are

34 households including 3 types of livestock (16), aquaculture (13) and mixture (5) Data were processed and analyzed by descriptive statistics and comparisons

In recent years, the farming economy in Phu Xuyen have witnessed rapid development in terms of scale, productivities of crop and livestock, outputs, value of goods and services, farms’ income and living standards, which contributed to the restructuring of the share of crops and livestock, following the commodity production linked to market, promote the effectiveness of land use and contribute to financing from community for production development, aiming at job creation and income generation for rural labor of the locality The period of 2011 - 2015, the number of farms in the district basically increased slowly, from 39 farms to 56 farms; average production value

Trang 12

of the farms were about 2570.58 million VND, creating nearly 200 million / year in household’s income Production value of large-scale households is less 30% than that of the farms but it brings approximately 78% of farm’s income

However, the farm economy of Phu Xuyen remains many weaknesses: the farms

in the district also developed spontaneously, not formed linkages in the development process; farm economy still depends mainly on external factors, high risks; management level of farm owners and workers' skills are limited; degree of machinery equipment on farms is very low; technology application in production is still limited, the competitiveness of the goods is not high, low production efficiency, all farms are not issued certificates

The factors affecting farm economy included: Lack of capital; Infrastructure is weak and the level of farm owners and workers is still low; inadequate land management, unfavorable accumulation; State management of the farm economy also is loose; the application of science technology is limited

By analyzing the current situation and the factors, this study proposed solutions

to develop the farm economy in Phu Xuyen, namely: land (strengthening management, land consolidation); capital and credit (simplify procedures and mechanism of lending, raising the level and duration of the loan); market, product processing (strengthen and expand business networks); strengthening agricultural extension; introduce scientific and technical advances in production; enhance training and retraining of production technique and management for farm owners and workers; strengthening links in the production and consumption; investment in upgrading infrastructure

Trang 13

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Ở nước ta, kinh tế trang trại đã xuất hiện từ lâu và phát triển mạnh mẽ cùng với quá trình đổi mới trong sản xuất nông nghiệp, nhất là từ khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 03/2000/NQ - CP về kinh tế trang trại Sự phát triển của kinh tế trang trại đã đem lại lợi ích to lớn cả về kinh tế, xã hội và môi trường nói chung do sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai, vốn, lao động, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, góp phần xóa đói, giảm nghèo

Thời gian qua, thành phố Hà Nội đã có nhiều chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp nói chung và trang trại nói riêng đã mang lại nhiều kết quả bước đầu quan trọng trong phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện như: các trang trại có bước phát triển khá về quy mô; năng suất cây trồng, vật nuôi, kết quả sản xuất, giá trị sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đều tăng lên; đã bước đầu có sự liên kết trong sản xuất và tiêu thụ giữa trang trại và một số công ty lớn; áp dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất; hiệu quả sản xuất cao hơn, thu nhập của trang trại và mức sống người lao động có sự cải thiện rõ rệt

Tuy vậy, trong thực tế việc phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Phú Xuyên thời gian qua còn bộc lộ một số hạn chế như: số lượng trang trại ít, tốc độ tăng chậm, các trang trại chưa được cấp giấy chứng nhận trang trại, hiệu quả trong sản xuất chưa cao Nguyên nhân dẫn đến hạn chế trên là do việc phát triển trại trại còn thiếu quy hoạch, sản xuất manh mún; thiếu vốn; áp dụng khoa học công nghệ, quy trình, giống mới còn rất hạn chế…

Trong thời gian qua chưa có đề tài nào nghiên cứu về giải pháp phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Phú Xuyên Vì vậy, tác giả đề xuất một số giải pháp phù hợp với thực tiễn địa phương thông qua đề tài luận văn Thạc sĩ của mình: "Giải pháp phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội"

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng việc phát triển kinh tế trang trại ở Phú Xuyên thời gian qua, qua đó đề xuất giải pháp phát triển kinh tế trang trại thời gian tới ở huyện Phú Xuyên

Trang 14

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

1) Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế trang trại; 2) Đánh giá thực trạng việc phát triển kinh tế trang trại ở Phú Xuyên thời gian qua;

3) Đề xuất giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở Phú Xuyên thời gian tới 1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

1) Việc phát triển kinh tế trang trại thời gian qua gặp những khó khăn, thách thức gì

2) Hiệu quả sản xuất kinh tế trang trại thời gian qua như thế nào

3) Giải pháp nào để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh tế trang trại thời gian tới 1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu: giải pháp phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Phú Xuyên

Nghiên cứu tiến hành điều tra hai nhóm: nhóm 1 là các trang trại, nhóm 2

là các hộ gần đạt quy mô trang trại Từ đó thấy được sự khác nhau giữa 2 mô hình trên để đưa ra giải pháp phát triển

Luận văn chỉ ra rằng sự phát triển của kinh tế trang trại phụ thuộc vào nhiều nhân tố trong đó nhân tố chính là sự tích tụ đất đai, sự liên kết trong sản

Trang 15

xuất và tiêu thụ, ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất, việc cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại cũng là vấn đề then chốt

Luận văn còn cho thấy có những hộ quy mô lớn gần đạt tiêu chí trang trại nhưng hiệu quả sản xuất còn cao hơn cả ở trang trại Điều này cho thấy không nên khuyến khích trang trại đầu tư phát triển theo chiều rộng Vì vậy, tiêu chí để xác định trang trại dựa trên quy mô đất đai và giá trị sản xuất chưa thực sự bám sát thực tế

Trang 16

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN

KINH TẾ TRANG TRẠI

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI

2.1.1 Một số khái niệm liên quan

a Kinh tế quy mô

Kinh tế quy mô chính là lợi thế chi phí có được nhờ vào quy mô, quy mô sản xuất hoặc quy mô hoạt động, với chi phí trên mỗi đơn vị đầu ra thường giảm

đi với quy mô ngày càng tăng khi chi phí cố định được chia đều trên mỗi đơn vị đầu ra (Paul K, 1980)

Kinh tế hộ gia đình nông dân là một cơ sở kinh tế có đất đai, các tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của hộ gia đình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình

để sản xuất và thường là nằm trong một hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu được đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao Mục tiêu của kinh tế hộ gia đình là tiêu thụ gia đình thông qua việc sản xuất các nông sản phục vụ cho tiêu dùng hàng ngày và thu nhập tiền mặt thông qua việc bán sản phẩm dư thừa so với yêu cầu tiêu dùng gia đình (Mai Văn Xuân, 2008)

Trong khi kinh tế trang trại có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung

đủ lớn với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao hoạt động

tự chủ và luôn gắn với thị trường (Chính phủ, 2000)

Có quan điểm cho rằng năng suất của các trang trại lớn cao hơn của các trang trại nhỏ, vì thế cần hợp nhất đất đai lại để phát huy lợi thế sản xuất quy mô lớn Nhưng các dữ liệu thực tế chính xác lại cho thấy nhận định trên không hoàn toàn đúng, ngược lại các trang trại nhỏ sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn so với các trang trại lớn trên mỗi đơn vị diện tích canh tác

Sở dĩ có tình trạng này là vì các trang trại nhỏ có xu hướng đi vào sản xuất các loại nông sản quy mô nhỏ nhưng giá trị cao và kinh doanh tổng hợp Họ kết hợp hoặc quay vòng cây trồng và vật nuôi, với việc sử dụng nhiều lao động và các yếu tố đầu vào hơn cho một đơn vị diện tích, và sử dụng đa dạng hơn các hệ thống canh tác Ở những nơi trang trại gia đình quy mô nhỏ phát triển mạnh thì ở

Trang 17

đó trang trại phát triển bền vững hơn Các trang trại nhỏ sử dụng hiệu quả tốt hơn đất đai của họ Vì vậy, mặc dù năng suất trên một đơn vị diện tích gieo trồng trong trang trại nhỏ có thể thấp hơn so với trang trại lớn chuyên canh nhưng tổng đầu ra trên một đơn vị diện tích được xác định thông qua nhiều loại sản phẩm khác nhau lại có thể có sự khác biệt rất lớn (Willis L.Peterson, 1997)

Những lợi thế của trang trại quy mô lớn được tìm thấy bởi một số phân tích trước đây đã không còn, đó là bằng chứng của tính phi hiệu quả khi quy mô trang trại tăng lên Nói cách khác, ngay cả ở Hoa Kỳ cũng không đủ cơ sở để kết luận rằng các trang trại quy mô lớn có hiệu quả hơn các trang trại có quy mô nhỏ (Feder and Gershon 1985)

Các nghiên cứu cũng cho thấy các trang trại quy mô rất nhỏ thường hoạt động không hiệu quả bởi vì chúng không có khả năng sử dụng hết công suất các máy móc thiết bị đắt tiền, trong khi đó các trang trại quy mô rất lớn cũng không hiệu quả vì những vấn đề quản lý và lao động cố hữu trong những hoạt động lớn Hiệu quả có vẻ tập trung ở các trang trại ở nhóm giữa, thường có từ 01 đến 02 lao động làm thuê (Michael Lipton, 2005)

Các chuyên gia kinh tế của Tổ chức Ngân hàng thế giới WB khi tiếp cận với quan điểm này đã đưa ra khuyến cáo các quốc gia đang phát triển với hàm ý rằng việc tái phân phối lại đất đai cho các trang trại gia đình quy mô nhỏ sẽ dẫn đến năng suất toàn bộ của trang trại lớn hơn

b Trang trại

Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc FAO (1997) đã đưa

ra khái niệm trang trại trên cơ sở khái niệm nông trại Theo FAO, trang trại là nông trại có quy mô lớn và tập trung vào sản xuất hàng hóa để bán ra thị trường nhằm mục tiêu chủ yếu là tạo ra lợi nhuận (nông trại là một mảnh đất mà trên đó nông hộ thực hiện các hoạt động sản xuất nông nghiệp phục vụ cho sinh kế của họ)

Ở nước ta, hiện nay có nhiều nhận thức và quan điểm khác nhau về trang trại:

- Ban Kinh tế Trung ương cho rằng "Trang trại là một hình thức tổ chức kinh tế trong nông – lâm - ngư nghiệp phổ biến được hình thành trên cơ sở phát triển kinh tế hộ nhưng mang tính sản xuất hàng hóa rõ rệt"

- Trang trại là một loại hình tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, thủy sản có mục đích chính là sản xuất hàng hóa, có tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy

mô ruộng đất với các yếu tố sản xuất tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động

Trang 18

tự chủ và luôn gắn với thị trường” Quan điểm này cho thấy, trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá dựa trên cơ sở lao động, đất đai, tư liệu sản xuất

cơ bản của hộ gia đình, hoàn toàn tự chủ và bình đẳng với các tổ chức kinh tế khác, sản phẩm làm ra chủ yếu để bán và tạo nguồn thu nhập chính cho gia đình (Nguyễn Thế Nhã, 1999)

- Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông nghiệp (bao gồm cả nông, lâm, ngư nghiệp) mà tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập Sản xuất được tiến hành với quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tập trung đủ lớn cùng phương thức tổ chức quản

lý sản xuất tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ để sản xuất ra các loại sản phẩm hàng hoá phù hợp với yêu cầu đặt ra của cơ chế thị trường (Nguyễn Thị Lai, Bùi Minh Vũ, 2005)

Như vậy, điểm chung giữa khái niệm trang trại của thế giới và Việt Nam

là trang trại đều được hình thành trên cơ sở hộ có quy mô sản xuất lớn và mang tính sản xuất hàng hóa

c Kinh tế trang trại

Theo một số học giả phương Tây: “Hình thức kinh tế trang trại dùng để chỉ một lĩnh vực tổ chức sản xuất kinh doanh nông sản hàng hoá lớn ở nông nghiệp nông thôn để phân biệt với hình thức tiểu nông tự túc, tự cấp”;

Kinh tế trang trại (hay kinh tế nông trại, lâm trại, ngư trại) là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, dựa trên cơ sở hợp tác và phân công lao động xã hội, bao gồm một số người lao động nhất định được chủ trang bị những tư liệu sản xuất nhất định để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với nền kinh tế thị trường và được nhà nước bảo hộ” Quan điểm trên đã khẳng định kinh tế trang trại là một đơn vị sản xuất hàng hoá, cơ sở cho nền kinh

tế thị trường và vai trò của người chủ trang trại trong quá trình sản xuất kinh doanh nhưng chưa thấy được vai trò của hộ gia đình trong các hoạt động kinh tế

và sự phân biệt giữa người chủ với người lao động khác (Lê Trọng, 2000)

Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá lớn trong Nông- Lâm - Ngư nghiệp của các thành phần kinh tế khác ở nông thôn, có sức đầu tư lớn, có năng lực quản lý trực tiếp quá trình phát triển sản xuất kinh doanh, có phương pháp tạo ra tỷ suất sinh lợi cao hơn bình thường trên đồng vốn bỏ ra, có trình độ đưa thành tựu khoa học công nghệ mới kết tinh trong hàng hoá tạo ra sức cạnh tranh cao trên thị trường, mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao” Quan điểm

Trang 19

trên đã khẳng định kinh tế thị trường (nền kinh tế hàng hoá đã phát triển cao) là tiền đề chủ yếu cho việc hình thành và phát triển kinh tế trang trại Đồng thời khẳng định vai trò vị trí của chủ trang trại trong quá trình quản lý trực tiếp quá trình sản xuất kinh doanh của trang trại (Trần Tác, 2000)

Nghị quyết 03/2000/QĐ – CP, ngày 02/02/2000 của Chính phủ về kinh

tế trang trại đã ghi rõ “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy

mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản” (Chính Phủ, 2000)

Từ các quan điểm trên đây luận văn cho rằng kinh tế trang trại là hình thức

tổ chức sản xuất trong Nông - Lâm - Ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ

kỹ thuật cao hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường

Sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra nhằm để trao đổi hoặc bán trên thị trường Sản xuất hàng hoá ra đời là bước ngoặt căn bản trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, đưa loài người thoát khỏi tình trạng “mông muội”, xoá bỏ nền kinh tế tự nhiên, phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội (Chu Văn Cấp và Trần Bình Trọng, 2005)

d Phát triển kinh tế trang trại

Theo Raaman Weitz: phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội

Phát triển kinh tế hiểu một cách chung nhất là một quá trình lớn lên hay tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả

sự tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội Từ các quan niệm trên ta thấy vấn đề cơ bản nhất của phát triển kinh tế là: sự tăng thêm về khối lượng sản phẩm, dịch vụ và sự biến đổi tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội; sự tăng thêm về quy mô sản lượng và tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội là hai mặt có mối quan hệ vừa phụ thuộc vừa độc lập tương đối của lượng và chất

Trang 20

2.1.2 Phân loại và tiêu chí xác định kinh tế trang trại

a Phân loại trang trại

Theo Thông tư số 27/2011/TT – BNN & PTNT, ngày 13/4/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại Các trang trại được xác định theo lĩnh vực sản xuất như sau: Trang trại trồng trọt; Trang trại chăn nuôi; Trang trại lâm nghiệp; Trang trại nuôi trồng thuỷ sản; Trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp

b Tiêu chí xác định kinh tế trang trại

* Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp phải đạt: 1) Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu: 3,1 ha đối với vùng Đông Nam

Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long; 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại

2) Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm

* Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên

* Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên

2.1.3 Ý nghĩa của việc phát triển kinh tế trang trại

a Về mặt kinh tế

Các trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hóa cao, khắc phục dần tình trạng phân tán, tạo nên những vùng chuyên môn hóa cao Mặt khác, qua thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh

tế trang trại góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, đặc biệt công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn (Ngô Xuân Toản, Đỗ Thị Thanh Vinh, 2014)

b Về xã hội

Thu hút lao động, hạn chế bớt làn sóng di cư ra thành phố, làm giảm áp lực đối với xã hội, đảm bảo an ninh trật tự nơi đô thị, hạn chế tai tệ nạn cho xã hội Năm 2015, các loại hình trang trại phát triển đã tạo công ăn, việc làm thường xuyên cho gần 100 nghìn lao động và rất nhiều lao động có tính thời vụ, tạm thời

ở các địa phương trong cả nước (Hoa Ly, 2015)

Phát triển kinh tế trang trại góp phần quan trọng làm tăng số hộ giàu trong nông thôn, tạo thêm việc làm tăng thêm thu nhập cho lao động Mặt khác, nông dân có việc làm là cách cải thiện đáng kể tệ nạn xã hội do thất nghiệp gây nên,

Trang 21

một trong những vấn đề bức xúc của nông nghiệp nông thôn nước ta hiện nay Phát triển kinh tế trang trại còn góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng, trong nông nghiệp nông thôn nước ta (Hoa Ly, 2015)

Kinh tế trang trại có đóng góp với nền an ninh lương thực như: đáp ứng được nhu cầu của cư dân một vùng, hay cả quốc gia một cách ổn định và bền vững Cho dù sự đóng góp của ngành nông nghiệp trong cơ cấu của nền kinh tế giảm một cách tương đối, lực lượng lao động có sự chuyển dịch sang các ngành khác, diện tích canh tác bị thu hẹp do chuyển đổi mục đích sử dụng… nhưng lương thực vẫn đảm bảo và bền vững (Hoa Ly, 2015)

lý và quan tâm bảo vệ các yếu tố môi trường, trước hết là trong phạm vi không gian sinh thái của trang trại và sau nữa là trong phạm vi từng vùng Các trang trại

đã góp phần quan trọng vào việc trồng rừng, bảo vệ rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai, những việc làm này đã góp phần tích cực cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái trên địa bàn (Ngô Xuân Toản và

Đỗ Thị Thanh Vinh, 2014)

2.1.4 Nội dung phát triển kinh tế trang trại

Phát triển kinh tế trang trại là quá trình tăng cường các yếu tố vật chất của trang trại cả về mặt số lượng và chất lượng, đồng thời là quá trình giải quyết hài hoà hơn các mối quan hệ kinh tế trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại Phát triển kinh tế trang trại phải được đặt trong mối quan hệ hài hoà với yếu tố xã hội và bảo vệ môi trường là cơ sở bảo đảm cho sự phát triển bền vững của kinh tế trang trại (Phạm Ngọc Thứ, 2000) Tăng cường các yếu tố thể hiện:

Phát triển quy mô bề rộng của trang trại:

- Yếu tố đất đai: Sau một thời gian hoạt động, quy mô đất đai của trang trại

Trang 22

sẽ được tăng thêm về mặt diện tích, đồng thời chất lượng các loại đất đai không ngừng được cải thiện, độ màu mỡ của đất đai ngày càng tăng lên

- Yếu tố lao động: lao động của trang trại ngày càng tăng lên cả về số lượng

và chất lượng, phản ánh sự phát triển ngày càng nhanh của kinh tế trang trại Trang trại ngày càng sử dụng nhiều lao động hơn với sự đòi hỏi ngày càng cao hơn về trình độ, kỹ năng và tay nghề của lao động, nhu cầu về lao động của các trang trại ngày càng đa dạng hơn, đòi hỏi tính chuyên nghiệp ngày càng cao hơn

- Vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh của trang trại: Sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh, trang trại có vốn tích luỹ nhiều hơn, mức độ đầu tư cho sản xuất ngày càng lớn hơn chứng tỏ sự phát triển của kinh tế trang trại ngày càng rõ rệt Vốn đầu tư ngày càng lớn thể hiện sức mạnh kinh tế của trang trại

- Mức độ đầu tư công nghệ và trình độ công nghệ được các trang trại đưa vào sử dụng càng cao, các biện pháp kỹ thuật tiên tiến trong trồng trọt, chăn nuôi, ngành nghề dịch vụ được áp dụng ngày càng nhiều sẽ là những yếu tố có tính quyết định đến năng suất lao động, năng suất cây trồng, vật nuôi, và trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm của trang trại, một yếu tố tạo nên sức mạnh cạnh tranh của kinh tế trang trại trên thương trường

- Cách thức tổ chức sản xuất, cơ cấu sản xuất, mức độ chuyên môn hoá, trình

độ sản xuất hàng hoá của trang trại là những yếu tố thể hiện sự tăng cường về mặt chất lượng trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế trang trại

Nâng cao kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của trang trại:

- Năng suất, sản lượng các loại cây trồng, vật nuôi, các loại sản phẩm ngành nghề, dịch vụ ngày càng tăng lên

- Giá trị sản lượng hàng hoá, doanh thu, thu nhập của trang trại, lợi nhuận,

tỷ suất lợi nhuận, mức tích luỹ hàng năm của trang trại, mức sống và thu nhập của các thành viên trang trại, tạo ra ngày càng nhiều việc làm cho xã hội (Nguyễn Đình Hương, 2000)

Giải quyết hài hoà các lợi ích: thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, bảo đảm lợi ích của chủ trang trại, của người lao động, của cộng đồng, chú trọng đến bảo vệ môi trường, phong tục tập quán, truyền thống, tăng việc làm và những vấn đề kinh tế xã hội khác trong nông thôn (Nguyễn Đình Hương, 2000)

Trang 23

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại

a Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý, điều kiện thời tiết, khí hậu; điều kiện đất đai, môi trường sinh thái đều có ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển của mọi cây trồng, vật nuôi, từ đó ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển các loại hình kinh tế trang trại Một trang trại muốn tồn tại và phát triển được thì phải được xây dựng sao cho phù hợp với các điều kiện tự nhiên khu vực ấy (Ngô Xuân Toản, Đỗ Thị Thanh Vinh, 2014)

b Điều kiện về kinh tế - xã hội

Các yếu tố về dân số, lao động, truyền thống văn hóa, nguồn vốn đầu tư, thị trường nông sản hàng hóa, trình độ phát triển kết cấu hạ tầng, công trình giao thông, trình độ khoa học công nghệ,…là các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và có tính quyết định đến quá trình sản xuất kinh doanh, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất và tiêu thụ nông sản hàng hóa của các trang trại (Ngô Xuân Toản, Đỗ Thị Thanh Vinh, 2014)

c Các chính sách về phát triển kinh tế trang trại

Cơ chế, chính sách chung của Nhà nước tạo ra định hướng và môi trường cho sự tồn tại và phát triển của kinh tế trang trại

Các cơ chế chính sách bao gồm các chính sách của Nhà nước và chính quyền địa phương với mục đích xác định vai trò, vị trí của kinh tế trang trại trong nền kinh tế của đất nước, những chính sách tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho kinh tế trang trại phát triển

Các chính sách về đất đai, khoa học kỹ thuật, công nghệ, chính sách tín dụng, chính sách về lao động, chính sách về thị trường, chính sách bảo vệ môi trường, là những chính sách hết sức quan trọng trực tiếp tác động vào quá trình hình thành và phát triển của các trang trại Sự tác động của các chính sách bao giờ cũng có hai mặt, do nhận thức của con người về các quy luật kinh tế và vận dụng vào những điều kiện cụ thể Thực tế cho thấy các trang trại ở các nước tiên tiến phát triển mạnh mẽ không chỉ vì trình độ sản xuất kinh doanh của trang trại

mà còn nhờ yếu tố quan trọng đó là sự tác động và hỗ trợ mạnh mẽ của các chính sách tích cực từ Nhà nước, đặc biệt là các chính sách về đất đai, chính sách về đầu tư, chính sách thuế… góp phần tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng các loại hình kinh tế trang trại (Chính phủ, 2000)

Trang 24

Chính sách đất đai: Hộ gia đình có nhu cầu và khả năng sử dụng đất để phát triển trang trại được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Chính sách thuế: Để khuyến khích và tạo điều kiện hộ gia đình, cá nhân đầu tư phát triển kinh tế trang trại, nhất là ở những vùng đất trống đồi núi trọc, bãi bồi, đầm phá ven biển, thực hiện miễn thuế thu nhập cho trang trại

Chính sách đầu tư, tín dụng: Căn cứ vào quy hoạch phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp trên các địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn, Nhà nước có chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng về giao thông, thuỷ lợi, điện, nước sinh hoạt, thông tin, cơ sở chế biến để khuyến khích các hộ gia đình, cá nhân phát triển trang trại sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp Trang trại phát triển sản xuất, kinh doanh được vay vốn tín dụng thương mại của các ngân hàng thương mại quốc doanh (Chính phủ, 2000)

Chính sách lao động: Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện hỗ trợ để các chủ trang trại mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tạo được nhiều việc làm cho lao động nông thôn, ưu tiên sử dụng lao động của hộ nông dân không đất, thiếu đất sản xuất nông nghiệp, hộ nghèo thiếu việc làm Chủ trang trại được thuê lao động không hạn chế về số lượng; trả công lao động trên cơ sở thoả thuận với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động Chủ trang trại phải trang

bị đồ dùng bảo hộ lao động theo từng loại nghề cho người lao động và có trách nhiệm với người lao động khi gặp rủi ro, tai nạn, ốm đau trong thời gian làm việc theo hợp đồng lao động (Chính phủ, 2000)

Đối với địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, chủ trang trại được ưu tiên vay vốn thuộc chương trình giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo để tạo việc làm cho lao động tại chỗ; thu hút lao động ở các vùng đông dân cư đến phát triển sản xuất

Nhà nước có kế hoạch hỗ trợ đào tạo nghề nghiệp cho lao động làm trong trang trại bằng nhiều hình thức tập huấn, bồi dưỡng ngắn hạn

Chính sách thị trường

Bộ Thương mại, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức tốt việc cung cấp thông tin thị trường, khuyến cáo khoa học kỹ thuật, giúp trang trại định hướng sản xuất kinh doanh phù hợp với nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước Nhà nước

Trang 25

hỗ trợ việc đầu tư nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới các cơ sở công nghiệp chế biến ở các vùng tập trung, chuyên canh; hướng dẫn việc ký kết hợp đồng cung ứng vật tư và tiêu thụ nông sản Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển công nghiệp chế biến nông sản và tiêu thụ nông sản hàng hoá của trang trại và nông dân trên địa bàn Khuyến khích phát triển chợ nông thôn, các trung tâm giao dịch mua bán nông sản và vật tư nông nghiệp Tạo điều kiện cho các chủ trang trại được tiếp cận và tham gia các chương trình, dự án hợp tác, hội chợ triển lãm trong và ngoài nuớc

Đẩy mạnh sự liên kết giữa các cơ sở sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản thuộc các thành phần kinh tế, đặc biệt là giữa các doanh nghiệp Nhà nước với hợp tác xã, chủ trang trại, hộ nông dân

Nhà nước tạo điều kiện và khuyến khích chủ trang trại xuất khẩu trực tiếp sản phẩm của mình và sản phẩm mua gom của trang trại khác, của các hộ nông dân và nhập khẩu vật tư nông nghiệp (Chính phủ, 2000)

Chính sách bảo hộ tài sản đã đầu tư của trang trại: Tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của trang trại không bị quốc hữu hoá, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính Trong trường hợp vì lý do quốc phòng, an ninh,vì lợi ích quốc gia, Nhà nước cần thu hồi đất được giao, được thuê của trang trại thì chủ trang trại được thanh toán hoặc bồi thường theo giá thị trường tại thời điểm công bố quyết định thu hồi (Chính phủ, 2000)

Cơ chế chính sách phù hợp và việc thực thi chính sách đúng sẽ thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển bền vững Ngược lại, cơ chế chính sách không phù hợp

sẽ kìm hãm sự phát triển của kinh tế trang trại, gây lãng phí nguồn lực xã hội

Kinh tế thị trường là điều kiện tất yếu cho sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại, vì vậy, ảnh hưởng tác động của kinh tế thị trường đối với kinh

tế trang trại là rất mạnh mẽ, trên tất cả mọi phương diện của thị trường Kinh tế trang trại phát triển như thế nào rõ ràng phụ thuộc rất lớn vào kinh tế thị trường

Trang 26

như là một điều kiện khách quan, quá trình nhận thức và vận dụng kinh tế thị trường của các chủ trang trại như là một điều kiện chủ quan (Chính phủ, 2000)

e Sự phát triển của khoa học kỹ thuật

Khoa học kỹ thuật có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến sự phát triển của kinh tế trang trại Trong những năm qua, nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật đã được áp dụng vào trong nông nghiệp Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã tạo ra nhiều sản phẩm đầu vào của các trang trại như các loại vật tư, phân bón, giống cây trồng, vật nuôi, các loại máy móc, thiết bị… Chính những yếu tố đầu vào có chất lượng tốt đã góp phần lớn vào sự tăng năng suất, sản lượng và chất lượng của sản phẩm nông nghiệp

Số lượng trang trại ngày càng tăng lên, trong đó hầu hết đã mạnh dạn ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh những loại cây trồng vật nuôi mới có năng suất và chất lượng cao hơn và do đó đã làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của các trang trại một các rõ rệt

f Trình độ quản lý sản xuất của chủ trang trại

Việc quản lý sản xuất kinh doanh của kinh tế trang trại trên thực tế là quản

lý một doanh nghiệp Vì vậy, chủ trang trại cần phải có trình độ, hiểu biết về quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh để đảm bảo cho trang trại hoạt động một cách có hiệu quả Trong nền kinh tế tiểu nông, chỉ cần có những người nông dân, chủ hộ cần cù lao động, có một chút hiểu biết về cây trồng, vật nuôi, kỹ thuật và

sử dụng công cụ, còn trong nền kinh tế thị trường lại cần có những chủ trang trại đồng thời là chủ doanh nghiệp năng động, đủ năng lực điều hành quản lý trang trại đạt hiệu quả cao (Phạm Ngọc Thứ, 2000)

Năng lực quản lý điều hành của chủ trang trại thể hiện ở khả năng về quản

lý tư liệu sản xuất, quản lý lao động, quản lý vốn sản xuất kinh doanh, xây dựng

kế hoạch, quy hoạch sản xuất, tiêu thụ hàng hóa nông sản

Theo thống kê ở các nước trên thế giới cũng cho thấy trình độ học vấn chuyên môn của chủ trang trại có tỷ lệ thuận với hiệu quả sản xuất kinh doanh, thu nhập của trang trại đó

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI 2.2.1 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam

Kinh tế trang trại Việt Nam thời kỳ phong kiến: Trong thời kỳ này đã có chính sách khai khẩn đất hoang bằng cách lập các đồn điền, doanh điền được biểu hiện dưới các hình thức khác nhau như: điền trang, điền doanh, thái ấp

Trang 27

Kinh tế trang trại Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc Mục đích chủ yếu của thực dân Pháp thời kỳ này là khai thác thuộc địa, cho nên thực dân Pháp đã ban hành một số chính sách như: chính sách ruộng đất, chính sách thuế, nhằm thiết lập các đồn điền để tăng sức sản xuất ở khu vực thuộc địa Năm 1927 chỉ riêng ở Bắc kỳ đã có tới 155 đồn điền rộng từ 200ha đến hơn 8.500ha Nam Kỳ và Cao nguyên Trung Kỳ, nhiều tên thực dân đã có những đồn điền rộng hàng vạn ha Đến năm 1930, số ruộng đất do thực dân Pháp chiếm để lập đồn điền đã lên tới 1,2 triệu ha tương đương khoảng 1/4 diện tích đất canh tác của ta lúc bấy giờ (Trần Đức, 1995)

Kinh tế trang trại Việt Nam thời kỳ 1950 đến nay:

- Thời kỳ 1954 - 1975: ở miền Bắc nền nông nghiệp mang nặng tính kế hoạch hoá tập trung, ở đó có các hình thức tổ chức sản xuất như Nông –Lâm trường Quốc doanh, hợp tác xã Nông nghiệp… Mọi tư liệu sản xuất chủ yếu là ruộng đất được tập trung một cách triệt để, kinh tế tư nhân không được coi là một thành phần kinh tế của nền kinh tế quốc dân Còn ở Miền Nam thời kỳ này các hình thức tổ chức sản xuất ở vùng tạm chiếm chủ yếu là các đồn điền, dinh điền, các hợp tác xã sản xuất hàng hoá (Trần Đức, 1995)

- Thời kỳ 1975 cho tới nay: Từ cuối những năm 1975, hiệu quả sản xuất trong nền kinh tế nói chung và trong ngành nông nghiệp nói riêng là thấp kém Ở Miền Bắc là sự khủng hoảng của mô hình tập thể hoá nông nghiệp Trước tình hình đó Đảng đã có Đại Hội lần thứ VI (tháng 12/1986) đề ra được các chủ trương chính sách mới, đặc biệt là cơ chế khoán gọn tới từng hộ gia đình, tiếp đến là Nghị Quyết 10 của bộ chính trị và cùng nhiều văn bản khác của Chính phủ, đã giải phóng sức lao động và các tư liệu sản xuất khác đặc biệt là đất đai Việc đổi mới cơ chế chính sách này đã tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế trang trại phát triển (Trần Đức, 1995)

Khu vực nông nghiệp ở nước ta hiện nay có gần 11 triệu hộ nông dân, chủ yếu sản xuất ở quy mô nhỏ lẻ, phân tán, giá trị sản xuất thấp và có nhiều rủi ro Tuy nhiên trong số đó có số hộ nông dân tổ chức phát triển sản xuất với quy mô lớn hơn theo hướng sản xuất tập trung, áp dụng khoa học công nghệ và mang lại giá trị kinh tế cao, ít rủi ro hơn Đây chính là các hộ gia đình, cá nhân phát triển theo hướng kinh tế trang trại Trong thực tiễn sản xuất, các mô hình kinh tế trang trại làm ăn có hiệu quả, đã đóng góp quan trọng cho sự phát triển nền kinh tế nông nghiệp của đất nước Do đó Đảng và Nhà nước có chủ trương khuyến

Trang 28

khích, thúc đẩy phát triển mạnh kinh tế trang trại trong trong thời gian tới (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2015)

Theo báo cáo của các địa phương, trên địa bàn cả nước hiện có khoảng 29.500 trang trại Trong đó, có 8.800 trang trại trồng trọt (chiếm 29,83%),10.974 trang trại chăn nuôi (chiếm 37,20%), 430 trang trại lâm nghiệp (chiếm 1,46%), 5.268 trang trại thủy sản (chiếm 17,86%) và 4.028 trang trại tổng hợp (chiếm 13,66%) Số lượng trang trại đã tăng 9.433 trang trại so với năm 2011 Tuy nhiên các địa phương mới chỉ cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại cho 6.247 trang trại (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2015)

Các trang trại phân bố nhiều ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (6.911 trang trại, chiếm 30%) chủ yếu sản xuất thủy sản và trái cây; Đông Nam Bộ (6.115 trang trại, chiếm 21%) chủ yếu là chăn nuôi; Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung (5.693 trang trại, chiếm 20%) chủ yếu kinh doanh tổng hợp; Đồng bằng Sông Hồng (5.775 trang trại, chiếm 19,5%) chủ yếu là chăn nuôi; Trung du

và miền núi phía Bắc (2.063 trang trại, chiếm 7%) chủ yếu là chăn nuôi và lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2015)

Quy mô diện tích đất bình quân của các trang trại hiện nay về trồng trọt là

12 ha/trang trại; chăn nuôi là 2 ha/trang trại; tổng hợp là 8 ha/trang trại; lâm nghiệp là 33 ha/trang trại; thủy sản là 6 ha/trang trại Trong quá trình tổ chức sản xuất cho thấy một số trang trại thực hiện tích tụ ruộng đất nên quy mô diện tích lớn, đặc biệt có trang trại có tới trên 100 ha Nhiều trang trại đã áp dụng tiến bộ

kỹ thuật vào sản xuất như sản xuất an toàn, sản xuất sạch, công nghệ cao, nên tạo

ra năng suất và chất lượng cao và hiệu quả kinh tế Theo báo cáo của các địa phương, thu nhập bình quân của trang trại đạt 02 tỷ đồng/năm, đã tạo thêm công

ăn việc làm cho lao động ở địa phương, mỗi trang trại bình quân giải quyết được khoảng 8 lao động, có nhiều trang trại thu hút được hàng trăm lao động (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2015)

Một số tồn tại, hạn chế

- Về quy mô và số lượng: Số lượng trang trại hiện nay tăng chậm và phân

bố không đều giữa các vùng trong cả nước Khu vực Trung du miền núi phía Bắc

là nơi có diện tích đất đai rộng nhưng số lượng trang trại ít, trong khi đó khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, Đông Nam Bộ lại tập trung nhiều trang trại thì quy

mô diện tích lại thấp, việc phân bố này cũng không đồng đều ở các vùng và các lĩnh vực (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2015)

Trang 29

- Về giá trị sản xuất: Mặc dù giá trị sản xuất hàng hóa bình quân một trang trại tương đối lớn (trung bình 02tỷ đồng/trang trại) nhưng số có thu nhập cao chỉ tập trung ở một số loại hình trang trại chăn nuôi, thủy sản còn các loại hình trang trại trồng trọt, lâm nghiệp, kinh doanh tổng hợp giá trị sản xuất thấp, do chất lượng sản phẩm chưa cao, sản phẩm bán ra chủ yếu dưới dạng thô hoặc tươi sống, chưa qua chế biến nên giá bán thấp, sức cạnh tranh yếu, nhiều chủ trang trại chưa nắm bắt được nhu cầu thị trường nên sản xuất thụ động (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2015)

- Về khoa học công nghệ: Số lượng trang trại ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất, chế biến bảo quản còn hạn chế mới chỉ tập trung ở một số lĩnh vực và khu vực nhất định (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2015)

- Sản xuất của các trang trại chưa thật sự bền vững, phần lớn chất lượng sản phẩm chưa được quản lý chặt chẽ Ô nhiễm môi trường do nước thải, chất thải không được xử lý Quy mô sản xuất càng lớn nguy cơ ô nhiễm càng tăng, nhất là đối với các trang trại chăn nuôi và thủy sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2015)

- Trình độ quản lý và sản xuất của các chủ trang trại: Chủ trang trại chủ yếu là nông dân, không được đào tạo chuyên môn về quản lý, kỹ thuật nên khả năng quản lý sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, liên kết tiêu thụ nông sản còn nhiều hạn chế, chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm thực tế Lực lượng lao động của các trang trại chưa được đào tạo nghề cơ bản lao động chưa được đào tạo nghề, tập huấn nghiệp vụ chuyên môn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2015)

- Việc cơ giới hóa trong nông nghiệp chưa được trú trọng do trang trại chủ yếu quy mô nhỏ, dẫn đến sử dụng nhiều lao động, hiệu quả thấp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2015)

Nguyên nhân các khó khăn, tồn tại

- Nhận thức về vai trò của kinh tế trang trại của các cấp, các ngành chưa đầy đủ, dẫn đến các cơ chế, chính sách, nhằm giúp cho các chủ trang trại hiện nay còn thiếu, chưa đồng bộ

- Từ năm 2000 đến nay, mới chỉ có Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại và một số chính sách đối với kinh

tế trang trại được quy định trong một số văn bản quy phạm pháp luật Nhiều tỉnh

Trang 30

đã ban hành các chính sách đặc thù để khuyến khích phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn (chính sách khuyến khích phát triển khu chăn nuôi tập trung, trồng trọt chuyên canh hoặc trang trại chăn nuôi ngoài khu dân cư; chính sách tín dụng; chính sách đất đai; chính sách hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng và khoa học kỹ thuật; chính sách hỗ trợ giống cây con vật nuôi và phòng chống dịch bệnh; chính sách xúc tiến thương mại và đào tạo…) Tuy nhiên, vẫn mang tính tự phát và gặp nhiều khó khăn Công tác quản lý nhà nước về phát triển kinh tế trang trại ở nhiều địa phương (ban hành cơ chế chính sách, công tác quản lý, hướng dẫn, tư vấn hỗ trợ các trang trại) chưa được quan tâm đầy đủ (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2015)

- Quy hoạch: Nhiều địa phương chưa có quy hoạch, kế hoạch hàng năm và dài hạn để phát triển trang trại Thiếu quy hoạch tổng thể và lâu dài, một số trang trại có điều kiện nhưng chưa mạnh dạn đầu tư Bên cạnh đó, nhiều địa phương cũng chưa làm tốt công tác quy hoạch sản xuất, thuỷ lợi, giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc, thị trường Có không ít địa phương, các quy hoạch đặc biệt là quy hoạch sử dụng đất sau khi được công bố đã đặt nhiều trang trại hình thành trước đó nằm “ngoài quy hoạch” nên không được áp dụng chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế trang trại (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2015)

- Đất sản xuất: Đây là vấn đề khó khăn nhất của trang trại Để đạt tiêu chí trang trại, hộ nông dân phải có quỹ đất đủ lớn theo quy định Nhưng hiện nay đa

số các địa phương không còn quỹ đất mới để giao cho nông hộ làm trang trại Do

đó phần lớn các hộ gia đình nông dân phải dồn điền đổi thửa, mua bán, thuê mướn, chuyển nhượng quyền sử dụng đất của nhiều chủ khác nhau với nhiều loại đất khác nhau để có khu đất tương đối tập trung để làm trang trại Trung bình ở Đồng bằng Sông Hồng, muốn đạt quy mô 2,1 ha/trang trại, chủ hộ cũng phải mua bán thuê mướn đất của 5 - 7 hộ khác Do có quá nhiều giao dịch, trao đổi, mua bán (nhìn chung là tự nguyện và hợp pháp) với nhiều loại đất khác nhau nên đa

số các chủ trang trại gặp khó khăn ở việc xác nhận, chứng nhận và cấp sổ đỏ sau trao đổi mua bán (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2015)

- Thiếu vốn và khó tiếp cận tín dụng đối với trang trại: Có đến 70% số trang trại đang kinh doanh bằng vốn tự có hoặc chiếm dụng vốn (mua chịu vật

tư, phân bón, thức ăn) Tuy có không ít các chủ trang trại thường xuyên vay vốn của các tổ chức tín dụng, nhưng chủ yếu là các khoản vay nhỏ và ngắn hạn do không có thế chấp Khi cần đầu tư mua sắm để khởi nghiệp trang trại

Trang 31

thường muốn vay vốn lãi suất thấp và dài hạn hơn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2015)

- Hạ tầng, công nghệ sản xuất yếu kém làm giảm sức cạnh tranh của trang trại: Hệ thống cơ sở hạ tầng chưa được đầu tư, cải tạo, chưa đáp ứng yêu cầu đi lại, vận chuyển, cấp, tiêu thoát nước phục vụ sản xuất của trang trại Chi phí cho mua thuê và cải tạo đất, chi phí mua cây con giống và các chi phí sản xuất trong điều kiện tiếp cận tín dụng khó khăn khiến cho trang trại không còn vốn để đầu

tư hạ tầng và công nghệ Đa số các trang trại chỉ là các “hộ sản xuất lớn”, không

có sự biến đổi về chất trong sản xuất, khả năng cạnh tranh khó khăn Nếu sớm được hỗ trợ về hạ tầng và công nghệ sản xuất, sẽ giúp trang trại bứt phá ngay từ đầu (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2015)

- Thông tin thị trường, quảng bá, xúc tiến thương mại và kết nối thị trường: nhiều chủ trang trại gặp khó khăn về tiêu thụ nông sản vì đa số còn thiếu hiểu biết về thị trường, lúng túng và chịu thua thiệt khi giá nông sản biến động Ngoài ra, do các trang trại thường nằm ở các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn nên khả năng kết nối với thị trường cũng gặp khó khăn Tính liên kết giữa các trang trại với nhau và liên kết giao dịch với các tổ chức kinh tế khác còn ở mức thấp, chậm hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung đáp ứng yêu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2015)

2.2.2 Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại

2.2.2.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở một số nước

a Nhật Bản

Nông nghiệp Nhật Bản có nhiều điểm giống các nước Đông Á và Đông Nam Á như bình quân đất canh tác trên đầu người thấp, lúa nước là cây trồng chính Từ những năm 1950 đến nay, nhờ cải cách ruộng đất, Nhật Bản đã hình thành các trang trại gia đình sản xuất nông sản hàng hóa, trang trại gia đình giảm dần về số lượng, và tăng dần về quy mô ruộng đất Số lượng trang trại của Nhật Bản năm 1995 là 3.640.000, trong đó có 2.830.000 trang trại sản xuất nông sản hàng hóa, chiếm gần 80% Quy mô bình quân trang trại năm 1995 là 1,5 ha, trang trại lớn nhất không vượt quá 10 ha Riêng đảo Hokkaido ở miền Bắc nước Nhật

là vùng đất đồi, nên ruộng đất của các trang trại có từ 1 ha đến 30 ha, các trang trại ở đây có diện tích từ 10 ha đến 30 ha trở lên chiếm khoảng 40% tổng số trang trại (Chayanov A.V, 1925)

Trang 32

Đặc điểm nổi bật của trang trại ở Nhật Bản là quy mô trang trại nhỏ, chi phí sản xuất, đặc biệt là chi phí lao động cao, giá nông sản cao, không tạo được

ưu thế cạnh tranh Để khắc phục tình trạng này, Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện cuộc cải cách rộng lớn về phương thức và quy mô sản xuất trong nông nghiệp, tạo ra những vùng chuyên canh về trồng trọt và thực hiện việc khuyến khích tích

tụ đất để mở rộng diện tích các trang trại trồng trọt Trong 10 năm lại đây, đất nông nghiệp Nhật Bản tiếp tục giảm do sự phát triển đô thị và sự phát triển của các ngành công nghiệp Số lượng trang trại ngày một giảm, tuy nhiên số trang trại chuyên môn hóa trong trồng trọt lại tăng lên

Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, Chính phủ Nhật Bản đã áp dụng mạnh

mẽ cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp nói chung, trang trại nói riêng Ngay từ thời gian đầu trong thiết kế, chế tạo máy nông nghiệp đã có những sáng tạo độc đáo như máy tách hạt lúa, máy xay xát thóc gạo, máy làm đất cho trang trại nhỏ hẹp, các loại máy cấy và máy "gặt liên hợp" Đến nay, hầu hết các khâu trong quá trình sản xuất của trang trại đã được cơ giới hóa, đảm bảo cơ giới liên hoàn

và đồng bộ các khâu sản xuất từ khai hoang, làm đất đến gieo cấy, bơm nước, trừ sâu, trừ cỏ, cắt gặt, đập tuốt, sấy thóc, xay xát, bảo quản và vận chuyển (Chayanov A.V, 1925)

Trong nhiều năm qua, Chính phủ Nhật Bản đã áp dụng mạnh mẽ chính sách hỗ trợ như trợ giá, hỗ trợ trực tiếp cho kinh tế trang trại, khuyến khích tích

tụ ruộng đất để tăng quy mô trang trại, phát triển những thành tựu công nghệ sinh học, phát triển và ứng dụng khoa học kỹ thuật chuyên môn hóa (Chayanov A.V, 1925)

b Trung Quốc

Kinh tế trang trại ở Trung Quốc đã có từ lâu và phát triển mạnh trong thời

kỳ cải cách và mở cửa (từ năm 1978 đến nay) Để khuyến khích phát triển trang trại theo hướng bền vững, Chính phủ Trung Quốc đã áp dụng nhiều chính sách

để hỗ trợ kinh tế trang trại phát triển theo hướng bền vững (Trần Tú Khánh, 2015)

- Chú trọng đầu tư vào cơ sở hạ tầng như đường sá, cầu cống, điện, hệ thống thủy lợi cung cấp nước để phục vụ cho vùng trang trại chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm xuất khẩu: các sân bay quốc tế đã được xây dựng mới để kết nối các địa phương nằm sâu trong đất liền với thế giới bên ngoài, đồng thời để có thể

Trang 33

vận chuyển hoa một cách dễ dàng; các xe tải lạnh được cung cấp miễn phí hoặc ở mức giá thấp cho các nông trại để có thể vận chuyển hoa tốt hơn (Trần Tú Khánh, 2015)

- Cung cấp các khoản vay với lãi suất thấp đối với các trang trại sản xuất các mặt hàng xuất khẩu chủ lực thuộc sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, các loại dược liệu quý (Trần Tú Khánh, 2015)

- Chính phủ hỗ trợ vốn cho các trang trại, nhất là những sản phẩm mới có tác động mạnh mẽ đến phát triển kinh tế - xã hội và xuất khẩu (Trần Tú Khánh, 2015)

- Thực hiện các chính sách khuyến khích ứng dụng khoa học, công nghệ vào các trang trại Coi trọng áp dụng công nghệ sạch vào nuôi trồng và chăn nuôi trong các trang trại để tăng chất lượng sản phẩm cho xuất khẩu (Trần Tú Khánh, 2015)

- Cho phép chuyển nhượng, tích tụ đất nông nghiệp để hình thành các trang trại có quy mô lớn hơn (Trần Tú Khánh, 2015)

- Trợ giá cho một số sản phẩm nông nghiệp Riêng năm 2004, Nhà nước

đã chị 5,4 tỉ USD để trợ giá cho một số sản phẩm nông nghiệp (Trần Tú Khánh, 2015)

c Thái Lan

Thái Lan là một nước có nền nông nghiệp phát triển ở khu vực châu Á Từ nhưng năm 1960, hệ thống trang trại ở Thái Lan đã phát triển rất nhanh theo hướng chuyên canh, sản xuất hàng hóa quy mô lớn, gắn với thị trường thế giới Sau đây là một số kinh nghiệm về phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững của Thái Lan (Trần Tú Khánh, 2015)

- Khuyến khích liên kết trong sản xuất, áp dụng khoa học - công nghệ trong các trại chăn nuôi bò sữa Chính phủ Thái Lan khuyến khích hình thành các trang trại chăn nuôi bò sữa với quy mô lớn để cung cấp cho thị trường trong nước

và xuất khẩu (Trần Tú Khánh, 2015)

- Chính phủ xây dựng các quy hoạch phát triển kinh tế trang trại, hình thành các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa tập trung, phát triển mô hình trang trại sinh thái gắn với kinh tế du lịch (Trần Tú Khánh, 2015)

- Chính phủ hỗ trợ các trang trại hình thành các mô hình liên kết sản xuất lớn Các trang trại ở vùng này đã liên kết chặt chẽ với nhau, từ sản xuất đến tiêu

Trang 34

thụ sản phẩm Trước hết, các chủ trang trại có diện tích gieo trồng lớn đã cùng hợp tác với nhau soạn thảo ra một kế hoạch sản xuất dựa theo tiêu chuẩn nhập khẩu của thị trường muốn xuất khẩu như EU, Mỹ, Nhật Sau đó các chủ trang trại

đề nghị chính quyền địa phương thay đổi một số chính sách hoặc bổ dung một số

ưu đãu về vốn, đất đau và liên kết với các viện nghiên cứu, trường đại học đề nghẹ cung cấp kỹ thuật giống Như vật, mô hình này đi từ nhu cầu thực tế của người sản xuất sau đó tác động phát sinh ra cơ chế hỗ trợ của chính quyền và trở thành khách hàng đề xuất đề tài cho các nhà khoa học (Trần Tú Khánh, 2015)

- Chính phủ ban hành các chính sách về bảo vệ môi trường sinh thái, vệ sinh an toàn thực phẩm, tạo ra các sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu (Trần Tú Khánh, 2015)

2.2.2.2 Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở ở Lâm Đồng

Từ lâu, tỉnh Lâm Đồng đã trở thành vùng đất nhiều tiềm năng, là nơi có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế trang trại Năm 1997, toàn tỉnh Lâm Đồng chỉ có 1.062 trang trại, năm 2005 đã có 4.805 trang trại (Trần Tú Khánh, 2015)

Sự phát triển nhanh và có hiệu quả của kinh tế trang trại đã góp phần quan trọng vào sự phát triển tương đối nhanh và bền vững của nền kinh tế Lâm Đồng, đặc biệt là trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp Lâm Đồng đã tập trung củng cố và phát triển trang trại mạnh hơn theo hướng:

- Khuyến khích các hộ gia đình đã có đủ quy mô về mặt diện tích canh tác nhưng chưa đạt tiêu chuẩn về thu nhập của trang trại, tăng cường đầu tư vốn, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, nâng cao trình độ quản lý để thực sự trở thành trang trại có giá trị và tỷ suất hàng hóa cao, cơ cấu cây, con hợp lý (Trần Tú Khánh, 2015)

- Khuyến khích các tổ chức và cá nhân giao hoặc thuê các diện tích đất trống, đồi núi trọc để lập trang trại, ưu tiên cho các trang trại trồng và kinh doanh rừng nguyện liệu, kết hợp kinh doanh rừng với kinh doanh du lịch (Trần Tú Khánh, 2015)

- Tổ chức sắp xếp lại vùng nguyên liệu cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả và rau, hoa theo hướng lấy trang trại gia đình làm đơn vị sản xuất kinh doanh

tự chủ, đồng thời phát triển kinh tế hợp tác làm dịch vụ nông nghiệp, công nghiệp chế biến và hoạt động thương mại để hỗ trợ trang trại gia đình, trang trại của hộ nông trường viên, hộ xã viên hợp tác xã phát triển hiệu quả và bền vững (Trần Tú Khánh, 2015)

Trang 35

2.2.3 Bài học kinh nghiệm về phát triển kinh tế trang trại

- Thứ hai, hiệu quả sản xuất kinh doanh của trang trại không hoàn toàn phụ thuộc vào quy mô đất đai, lao động Ở nhiều nước công nghiệp phát triển, quy mô đất đai của trang trại không lớn nhưng hiệu quả sản xuất kinh doanh là rất cao Mặt khác, ở hầu hết các nước, số lao động trong các trang trại rất thấp Ngay như ở Mỹ, mỗi trang trại chỉ cần 2 - 3 lao động, đó là do việc áp dụng cơ giới hóa đã đạt đến trình độ cao (Trần Tú Khánh, 2015)

- Thứ ba, bồi dưỡng, đào tạo chủ trang trại là một trong những nhân tố quan trọng nhất đối với sự thành công của kinh tế trang trại ở các nước trên thế giới Vì chủ trang trại phải có trình độ quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh để bảo đảm cho trang trại hoạt động có hiệu quả (Trần Tú Khánh, 2015)

- Thứ tư, sự tồn tại và phát triển của kinh tế trang trại gắn liền với công nghiệp hóa, với sự phát triển của kinh tế thị trường (Trần Tú Khánh, 2015)

- Thứ năm, gắn kinh tế trang trại với công nghiệp chế biến và dịch vụ tại nông thôn cũng là bài học kinh nghiệm quý báu (Trần Tú Khánh, 2015)

- Thứ sáu, phát triển các hình thức kinh tế hợp tác trang trại là một yêu cầu tất yếu để hỗ trợ, thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển (Trần Tú Khánh, 2015)

- Thứ bảy, Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại, quyết định sự thành bại của kinh tế trang trại Nhìn chung, ở hầu hết các nước, vai trò của Nhà nước đối với kinh tế trang trại được thể hiện trên nhiều lĩnh vực như: đầu tư xâydựng cơ sở hạ tầng nông

Trang 36

nghiệp, nông thôn; ban hành các chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển kinh

tế trang trại Trong giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,

hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước có tính quyết định đến sự phát triển bền vững kinh tế trang trại (Trần Tú Khánh, 2015)

b Ở Lâm Đồng

Một là, Nhà nước và chính quyền địa phương có vai trò đặc biệt quan trọng giúp kinh tế trang trại được hình thành và phát triển, trở thành một lực lượng chủ lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn:

- Trước hết là vấn đề nhận thức về vai trò của kinh tế trang trại Kinh nghiệm ở một số địa phương cho thấy, ở đâu nhận thức đúng vai trò, vị trí của kinh tế trang trại và có biện pháp cụ thể khuyến khích phát triển trang trại thì ở

đó, trang trại mới thực sự phát triển bền vững, khắc phục được các yếu tố tự phát (Trần Tú Khánh, 2015)

- Thực tế ở nhiều địa phương cho thấy, sự buông lỏng quản lý và thiếu thống nhất của các cấp chính quyền là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho trang trại phát triển theo phong trào, số lượng tăng nhanh, nhưng mang nặng tính tự phát và gây nên tình trạng cạn kiệt nguồn tài nguyên ô nhiễm môi trường (Trần Tú Khánh, 2015)

Hai là, hiệu quả sản xuất kinh doanh của các trang trại không hoàn toàn phụ thuộc vào quy mô đất đai của trang trại mà phụ thuộc nhiều vào chất lượng sản phẩm và trình độ công nghệ (Trần Tú Khánh, 2015)

Ba là, cần chú ý phát triển bền vững kinh tế trang trại đồng thời trên cả ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trường (Trần Tú Khánh, 2015)

Bốn là, phát triển bền vững kinh tế trang trại cần dựa trên định hướng và quy hoạch đồng bộ Sự thiếu định hướng cụ thể và quy hoạch dẫn tới tình trạng không xác định được rõ các đối tượng sản xuất, loại hình trang trại, quy mô trang trại, vùng chuyên môn hóa tập trung Điều đó gây khó khăn trong việc tạo điều kiện cần thiết cho hình thành và phát triển trang trại, dẫn tới tình trạng các trang trại thiếu hướng đầu tư tập trung và thiếu tính chuyên môn hóa trong sản xuất kinh doanh (Trần Tú Khánh, 2015)

Trang 37

PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý: Huyện Phú Xuyên là một huyện đồng bằng nằm phía Nam thành phố Hà Nội, trên trục đường quốc lộ 1A, cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 32 km về phía Nam Nằm trên vĩ tuyến 20o40’ - 20o49' Bắc và kinh tuyến 105o48’ - 106o01' đông, có tổng diện tích tự nhiên là 17.110,5 ha và có ranh giới như sau: Phía Bắc giáp 2 huyện Thanh Oai và Thường Tín, phía Nam giáp huyện Duy Tiên - Tỉnh Hà Nam, phía Đông giáp huyện Khoái Châu - Tỉnh Hưng Yên, phía Tây giáp huyện Ứng Hoà – Hà Nội

Hình 3.1 Bản đồ địa lý huyện Phú Xuyên

Nguồn: UBND huyện Phú Xuyên (2015)

Tuyến đường cao tốc Pháp Vân – Cầu Giẽ, tuyến đường bộ 1A (cũ) và tuyến đường sắt Bắc – Nam chạy dọc qua huyện Phú Xuyên, trên địa bàn huyện còn có các tuyến tỉnh lộ chạy qua như 428A, tỉnh lộ 429B Mặt khác, huyện lại

có một số xã giáp sông Hồng nên thuận lợi cả giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt

Với vị trí như vậy, Phú Xuyên cũng có điều kiện thuận tiện trong trao đổi, lưu thông hàng hóa với các tỉnh khác trong vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước Bên cạnh đó, nông thôn Hà Nội còn có lợi thế rất lớn trong việc tiếp nhận

Trang 38

và ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ vào các ngành kinh tế do Hà Nội là trung tâm đào tạo của đất nước về khoa học kỹ thuật

Khí hậu, thủy văn

Huyện Phú Xuyên mang các đặc điểm chung của khí hậu, thời tiết vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng: khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều

Một năm chia làm 2 mùa rõ rệt là mùa nóng ẩm và mùa khô hanh Lượng mưa trung bình năm khoảng 1.700mm Mưa tập trung vào mùa nóng ẩm, nhiều nhất vào tháng 7 và tháng 8 Mưa lớn và tập trung làm thiệt hại đáng kể đến mùa màng của nhân dân Số giờ nắng trung bình năm khoảng 1500 giờ, bình quân số giờ nắng/ngày khoảng 4,5 giờ

Trên địa bàn huyện có 3 con sông lớn chảy qua là: Sông Hồng (17km) theo hướng Bắc - Nam ở phía Đông huyện, sông Nhuệ (17km) chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam ở phía Tây huyện, sông Giẽ (9,75km) Ngoài ra có các sông nhỏ khác như sông Duy Tiên (13 km), sông Vân Đình (5 km), sông Hữu Bành (2km) và hệ thống kênh mương trên địa bàn Hệ thống sông Nhuệ thuộc hệ thống tưới tiêu do công ty thủy lợi Sông Nhuệ quản lý Trên hệ thống sông Hồng, sau khi trạm bơm Khai Thái hoàn thành giải quyết tiêu úng cho trên 6.000 ha đất canh tác của các xã vùng miền Đông và Trung Tây, đồng thời lấy nước phù sa sông Hồng để phục vụ tưới cho cây trồng và cải tạo đồng ruộng Với hệ thống sông ngòi, kênh mương khá dày đặc, huyện Phú Xuyên có Tài nguyên nước khá phong phú, dồi dào thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và phục vụ sinh hoạt

Tình hình sử dụng đất đai

Tổng diện tích đất toàn huyện là 17.110,5 ha được phân bổ cho các mục đích sử dụng như sau Quỹ đất nông nghiệp có 10.780,3 ha, chiếm 63% diện tích đất tự nhiên, tăng 0,01% so với năm 2015 Trong đó đất trồng lúa 8.455,8 ha, chiếm 49,4 %, giảm 1,13% so với 2013 Đất phi nông nghiệp có 6.249,6 ha, chiếm 36,5% diện tích đất tự nhiên, tăng 1,69% so với năm 2013 Trong đó đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp 81,8ha; đất quốc phòng an ninh 14,6 ha; đất tôn giáo tín ngưỡng 70 ha; đất nghĩa trang, nghĩa địa 167,2 ha; đất phi nông nghiệp khác còn lại 2.428,6 ha (14,2%) Nhìn chung quỹ đất nông nghiệp đang có xu hướng giảm

Huyện Phú Xuyên chịu ảnh hưởng rất mạnh của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nên đất sản xuất nông nghiệp giảm mạnh trong khi đất chưa sử dụng có thể khai thác đưa vào sản xuất không còn nhiều Nhìn chung phần lớn

Trang 39

diện tích đất của huyện đều sử dụng đúng mục đích nên đã mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội cao Môi trường đất cơ bản chưa bị ô nhiễm nhiều (Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phú Xuyên, 2015)

Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Phú Xuyên

Tốc độ tăng BQ (%/năm) Tổng diện tích đất tự nhiên 17110,5 17112,5 17114,2 0,01

2.5 Đất phi nông nghiệp khác 2425,4 2419,3 2428,6 0,07

Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phú Xuyên (2015)

3.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội

Về kinh tế

Phú Xuyên có tiềm năng đất đai trù phú và có nguồn lao động dồi dào Theo

số liệu năm 2015, cơ cấu giá trị các ngành kinh tế của huyện thì nông nghiệp chiếm 23,39%, công nghiệp - xây dựng chiếm 54,78%, thương mại dịch vụ chiếm 21,83% Miền Đông của huyện chiếm 17,4% diện tích đất canh tác là vũng đất bãi phù sa màu mỡ, thuận lợi cho phát triển hoa màu, cây công nghiệp, chăn nuôi; Miền Tây

Trang 40

của huyện với hơn 60% diện tích canh tác là vựa lúa quan trọng của Thủ đô, có khả năng lớn về nuôi cá nước ngọt, các loại gia cầm, gia súc

Cơ cấu giá trị các ngành kinh tế của huyện năm 2015 qua bảng cho thấy nông nghiệp chiếm 23,39%, Công nghiệp - xây dựng chiếm 54,78%, thương mại dịch vụ 21,83% Trong 3 năm từ 2013 – 2015, cơ cấu kinh tế có sự chuyển biến đáng kể, đã liên tục có sự biến đổi theo chiều hướng tích cực khi tỷ trọng công nghiệp xây dựng liên tục tăng lên từ 47% đến 54%, tỷ trọng thương mại dịch vụ tương đối ít biến động và tỷ trọng nông nghiệp thay đổi nhiều từ 34% xuống 23,09% (Phòng Kinh tế huyện Phú Xuyên, 2015)

Bảng 3.2 Cơ cấu GDP các ngành kinh tế huyện Phú Xuyên

từ 2013 đến 2015 (tính theo giá thực tế 1994)

Chỉ tiêu

Giá trị (tỷ đồng)

Cơ cấu (%)

Giá trị (tỷ đồng)

Cơ cấu (%)

Giá trị (tỷ đồng)

Cơ cấu (%) Nông nghiệp, thủy sản 477,30 34,02 498,56 28,73 517,50 23,39 Công nghiêp - Xây dựng 667,60 47,59 864,36 49,81 1211,90 54,78 Thương mại - Dịch vụ 258,00 18,39 372,50 21,46 483,00 21,83

Nguồn: Phòng thống kê huyện Phú Xuyên (2015)

Về xã hội: Tính đến nay tất các xã, thị trấn ở Phú Xuyên đã được công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục THCS, tỷ lệ huy động học sinh đến trường như sau: nhà trẻ 55%, mẫu giáo 98%, tiểu học 100% Đội ngũ giáo viên ngày càng được nâng cao chất lượng Đến năm 2012 có 100% giáo viên đạt chuẩn

Hoạt động văn hóa, thông tin: đã tập trung tuyên truyền và tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ phục vụ các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, các ngày lễ lớn, phục vụ nhu cầu văn hóa và đời sống tinh thần của nhân dân Chuyên mục truyền hình huyện, đài phát thanh tiếp tục được duy trì kịp thời thông tin về tình hình kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng và các hoạt động chính trị của huyện

Tăng cường thực hiện công tác y tế dự phòng, y tế cơ sở; bảo vệ, chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em Hoạt động hành nghề y dược tư nhân đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân; công tác y tế dự phòng thực hiện tốt nên không có dịch bệnh lớn xảy ra trên địa bàn

Ngày đăng: 17/11/2018, 00:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w