1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

nghiên cứu phòng trừ một số sâu chính trên rau bắp cải, su hào tại lĩnh nam, hà nội bằng chế phẩm sinh học

144 226 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 2,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả khảo sát hiệu lực phòng trừ sâu tơ, sâu xanh bướm trắng, sâu khoang trong phòng thí nghiệm của chế phẩm nấm Beauveria bassiana, Metarhizium anisopliae và một số thuốc trừ sâu si

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Lê Quang Thể

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc PGS.TS Nguyễn Văn Viên đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn bệnh cây, Khoa Nông học- Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức viện Môi trường Nông nghiệp đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Lê Quang Thể

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục từ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục hình ix

Trích yếu luận văn x

Thesis abstract xii

Phần 1 Mở đầu 40

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 40

1.2 Giả thuyết khoa học 40

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 41

Phần 2.Tổng quan tài liệu 43

2.1 Tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự trên thế giới và trong nước 43

2.1.1 Tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas) trên thế giới 43

2.1.2 Tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas) ở châu Á 46

2.1.3 Tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas) ở Việt Nam 47

2.2 Tình hình nghiên cứu về sâu hại rau họ hoa thập tự trên thế giới và trong nước 48

2.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu về các chế phâm nấm beauveria bassiana, metarhizium anisopliae và các chế phẩm có nguồn gốc sinh học trong và ngoài nước 49

2.3.1 Tình hình nghiên cứu chế phẩm Beauveria bassiana 49

2.3.2 Tình hình nghiên cứu chế phẩm Metarhizium anisopliae 52

2.3.3 Tình hình nghiên cứu chế phẩm có nguồn gốc sinh học trên thế giới và Việt Nam 55

Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 61

3.1 Đối tượng nghiên cứu 61

3.2 Địa điểm nghiên cứu 61

3.3 Thời gian nghiên cứu 61

3.4 Vật liệu, dụng cụ nghiên cứu 61

3.5 Nội dung nghiên cứu 62

3.5.1 Điều tra tình hình sản xuất rau bắp cải, su hào tại hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội 62

3.5.2 Điều tra tình diễn biến một số loại sâu chính trên bắp cải su hào: sâu khoang, sâu xanh bướm trắng, sâu tơ và bọ nhảy 62

Trang 5

3.5.3 Khảo sát hiệu lực phòng trừ một số sâu hại su hào của chế phẩm nấm

Beauveria bassiana, Metarhizium anisopliae và thuốc trừ sâu sinh học 62

3.6 Phương pháp nghiên cứu 64

3.6.1 Điều tra tình hình sản xuất rau bắp cải, su hào vụ đông xuân năm 2014 – 2015 tại Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội 64

3.6.2 Điều tra tình hình một số sâu hại chính trên bắp cải, su hào vụ đông xuân năm 2014 – 2015 tại Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội 64

3.6.3 Chuẩn bị sâu để làm thí nghiệm 65

3.6.4 Phương pháp thí nghiệm trong phòng 65

3.6.5 Phương pháp thí nghiệm trong nhà lưới 68

3.6.6 Phương pháp khảo sát hiệu lực phòng trừ sâu của các chế phẩm sinh học trên đồng ruộng 70

3.7 Chỉ tiêu theo dõi 70

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 72

4.1 Kết điều tra tình hình sản xuất rau bắp cải, su hào tại lĩnh nam, hà nội 72

4.2 Kết quả điều tra tình hình sâu hại trên rau cải bắp, su hào tại HTXDV nông nghiệp lĩnh nam, quận hoàng mai, hà nội trong vụ đông xuân năm 2014 – 2015 73

4.2.1 Kết quả điều tra tình hình sâu hại trên rau cải bắp tại HTXDV nông nghiệp Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội trong vụ đông xuân năm 2014 – 2015 73

4.2.2 Kết quả điều tra tình hình sâu hại trên rau su hào tại HTXDV nông nghiệp Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội trong vụ đông xuân năm 2014 – 2015 76

4.3 Kết quả khảo sát hiệu lực phòng trừ sâu tơ, sâu xanh bướm trắng, sâu khoang trong phòng thí nghiệm của chế phẩm nấm Beauveria bassiana, Metarhizium anisopliae và một số thuốc trừ sâu sinh học 79

4.3.1 Kết quả khảo sát hiệu lực của chế phẩm nấm Beauveria basssiana phòng trừ một số loại sâu chính hại su hào trong phòng thí nghiệm 79

4.3.2 Kết quả khảo sát hiệu lực của chế phẩm nấm Metharhizium anisopliae phòng trừ một số loại sâu chính hại su hào trong phòng thí nghiệm 48

4.3.3 Kết quả khảo sát hiệu lực của thuốc sinh học chứa hoạt chất Abamectin phòng trừ một số loại sâu chính hại su hào trong phòng thí nghiệm 56

4.3.4 Kết quả khảo sát hiệu lực của thuốc sinh học chứa hoạt chất Emamectin benzoate phòng trừ một số loại sâu chính hại su hào trong phòng thí nghiệm 64

4.4 Kết quả khảo sát hiệu lực phòng trừ sâu khoang, sâu tơ, sâu xanh bướm trắng của chế phẩm nấm Beauveria bassiana, Metarhizium anisopliae và một số thuốc trừ sâu sinh học trong nhà lưới 72

Trang 6

4.4.1 Kết quả khảo sát hiệu lực của chế phẩm nấm Beauveria bassiana,

Metarhizium anisopliae và một số thuốc trừ sâu sinh học phòng trừ sâu

khoang (spodoptera litura) trên su hào trong nhà lưới 72

4.4.2 Kết quả khảo sát hiệu lực của chế phẩm nấm Beauveria bassiana, metarhizium anisopliae và một số thuốc trừ sâu sinh học phòng trừ sâu tơ (plutella xylostella) trên su hào trong nhà lưới 75

4.4.3 Kết quả khảo sát hiệu lực của chế phẩm nấm Beauveria bassiana, metarhizium anisopliae và một số thuốc trừ sâu sinh học phòng trừ sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae) trên su hào trong nhà lưới 77

4.5 Kết quả khảo sát hiệu lực của chế phẩm nấm Beauveria bassiana và thuốc trừ sâu sinh học phòng trừ sâu khoang, sâu tơ, sâu xanh bướm trắng trên su hào tại ngoài đồng thuộc xã lĩnh nam, quận hoàng mai, hà nội 80

4.5.1 Kết quả khảo sát hiệu lực của chế phẩm nấm Beauveria bassiana và thuốc trừ sâu sinh học Tasieu 5WG phòng trừ sâu khoang trên su hào tại xã Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội 80

4.5.2 Kết quả khảo sát hiệu lực của chế phẩm nấm Beauveria bassiana và thuốc trừ sâu sinh học Tasieu 5WG phòng trừ sâu tơ trên su hào tại xã Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội 82

4.5.3 Kết quả khảo sát hiệu lực của chế phẩm nấm Beauveria bassiana và thuốc trừ sâu sinh học Tasieu 5WG phòng trừ sâu xanh bướm trắng trên su hào tại xã Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội 84

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 86

5.1 Kết luận 86

5.2 Kiến nghị 87

Tài liệu tham khảo 88

Một số hình ảnh điều tra và thí nghiệm 92

Phụ lục 96

Trang 7

WG Water dispersible Granules

WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự vụ đông xuân 2014 - 2015 tại

Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội 72 Bảng 4.2 Mật độ một số sâu gây hại trên cải bắp trong vụ Đông Xuân tại

HTXDV nông nghiệp Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai , Hà Nội 73 Bảng 4.3 Mật độ sâu gây hại trên su hào trong vụ Đông Xuân tại HTXDV nông

nghiệp Lĩnh Nam , quận Hoàng Mai, Hà Nội 78

Bảng 4.4 Hiệu lực phòng trừ sâu khoang (Spodoptera litura) của chế phẩm nấm

Beauveria bassiana trên su hào trong phòng thí nghiệm 41

Bảng 4.5 Hiệu lực phòng trừ sâu tơ (plutella xylostella) của chế phẩm nấm

Beauveria bassiana trên su hào trong phòng thí nghiệm 43

Bảng 4.6 Hiệu lực phòng trừ sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae) của chế phẩm

nấm Beauveria bassiana trên su hào trong phòng thí nghiệm 46 Bảng 4.7 Hiệu lực phòng trừ sâu khoang (Spodoptera litura) của chế phẩm nấm

Metarhizium anisopliae trên su hào trong phòng thí nghiệm 49

Bảng 4.8 Hiệu lực phòng trừ sâu tơ (plutella xylostella) của chế phẩm nấm

Metarhizium anisopliae trên su hào trong phòng thí nghiệm 53

Bảng 4.9 Hiệu lực phòng trừ sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae) của chế phẩm

nấm Metarhizium anisopliae trên su hào trong phòng thí nghiệm 54 Bảng 4.10 Hiệu lực phòng trừ sâu khoang (Spodoptera litura) của thuốc sinh học

chứa hoạt chất Abamectin trên su hào trong phòng thí nghiệm 56 Bảng 4.11 Hiệu lực phòng trừ sâu tơ (plutella xylostella) của thuốc sinh học chứa

hoạt chất Abamectin trên su hào trong phòng thí nghiệm 59 Bảng 4.13 Hiệu lực phòng trừ sâu khoang (Spodoptera litura) của thuốc sinh học

chứa hoạt chất Emamectin benzoate trên su hào trong phòng thí nghiệm 65 Bảng 4.14 Hiệu lực phòng trừ sâu tơ (plutella xylostella) của thuốc sinh học chứa hoạt

chất Emamectin benzoate trên su hào trong phòng thí nghiệm 67 Bảng 4.16 Hiệu lực của chế phẩm nấm Beauveria bassiana, metarhizium

anisopliae và một số thuốc trừ sâu sinh học phòng trừ sâu khoang

(spodoptera litura) trên su hào trong nhà lưới 74

Trang 9

Bảng 4.17 Hiệu lực của chế phẩm nấm Beauveria bassiana, metarhizium

anisopliae và một số thuốc trừ sâu sinh học phòng trừ sâu tơ (plutella

xylostella) trên su hào trong nhà lưới 75

Bảng 4.18 Hiệu lực của chế phẩm nấm Beauveria bassiana, metarhizium

anisopliae và một số thuốc trừ sâu sinh học phòng trừ sâu xanh bướm

trắng (Pieris rapae) trên su hào trong nhà lưới 78 Bảng 4.19 Hiệu lực của chế phẩm nấm Beauveria bassiana và thuốc trừ sâu sinh học

Tasieu 5 WG đối với sâu khoang trên su hào tại xã Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, hà Nội vụ đông xuân năm 2014 - 2015 80

Bảng 4.20 Hiệu lực của chế phẩm nấm Beauveria bassiana và thuốc trừ sâu

sinh học Tasieu 5 WG đối với sâu tơ trên su hào tại xã Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội vụ đông xuân năm 2014 - 2015 82

Bảng 4.21 Hiệu lực của chế phẩm nấm Beauveria bassiana và thuốc trừ sâu sinh học

Tasieu 5 WG đối với sâu xanh bướm trắng trên su hào tại xã Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội vụ đông xuân năm 2014 - 2015 84

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1 Diễn biến mật độ sâu hại trên cây cải bắp trong vụ Đông Xuân tại

HTXDV nông nghiệp Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai , Hà Nội 76 Hình 4.2 Diễn biến mật độ sâu hại trên su hào trong vụ Đông Xuân tại HTXDV

nông nghiệp Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai , Hà Nội 79 Hình 4.3 Diễn biến mật độ sâu khoang ở các công thức thí nghiệm tại xã Lĩnh

Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội vụ đông xuân năm 2014 - 2015 81 Hình 4.4 Diễn biến mật độ sâu tơ ở các công thức thí nghiệm tại xã Lĩnh Nam ,

quận Hoang Mai, Hà Nội vụ đông xuân năm 2014 - 2015 83 Hình 4.5 Diễn biến mật độ sâu xanh bướm trắng ở các công thức thí nghiệm tại

xã Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội vụ đông xuân năm 2014 – 2015 84

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tóm tắt: Trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng việc sử dụng chế phẩm sinh

học đã và đang được nghiên cứu, áp dụng phòng trừ sâu hại rau, góp phần để sản xuất rau an toàn Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu tình hình sản xuất rau cải bắp, su hào và mật độ sâu hại trên hai loại rau này tại Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội, đồng thời xác định hiệu lực phòng trừ sâu khoang, sâu tơ, sâu xanh bướm

trắng của chế phẩm nấm Beauveria bassiana 6x109 CFU/g và chế phẩm nấm

Metarhizium anisopliae 6x109 CFU/g và hai thuốc sinh học chứa hoạt chất Abamectin và

Emamectin benzoate

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra :

Tại Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội, trong vụ đông xuân năm 2014 – 2015

có diện tích trồng rau cải bắp, su hào là 15 ha (chiếm ½ trong tổng diện tích trồng rau họ hoa thập tự), năng suất rau su hào đạt 22,2 tấn/ha, năng suất rau bắp cải đạt 25,3 tấn/ha.Trên rau cải bắp và rau su hào luôn xuất hiện sâu gây hại, xuất hiện nhiều nhất là

bọ nhảy, tiếp đến là sâu tơ Sâu xanh bướm trắng xuất hiện gây hại cũng kéo dài trong

cả vụ nhưng chúng chỉ tập trung vào trong tháng 12 năm 2014 và trung tuần tháng 1 năm 2015 Sâu khoang chỉ xuất hiện gây hại vào cuối tháng 12 năm 2014 và kéo dài đến đầu tháng 2 năm 2015

Trong phòng thí nghiệm, tại thời điểm 7 ngày sau khi phun, hiệu lực phòng trừ

đã đạt kết quả cao khi sử dụng chế phẩm nấm Beauveria bassiana 6x109 CFU/g ở

nồng độ 2-3% và chế phẩm nấm Metarhizium anisopliae 6x109 CFU/g ở nồng độ

2-3%, hai thuốc sinh học chứa hoạt chất Abamectin (thuốc trừ sâu Phumai 3,6EC) và thuốc sinh học chứa hoạt chất Emamectin benzoate (thuốc trừ sâu Tasieu 5WG) ở

nồng độ 0,03-0,04%

Trong nhà lưới, tại thời điểm 7 ngày: Sau khi phun chế phẩm nấm Beauveria

bassiana 6x10 9 CFU/g ở nồng độ 2%, chế phẩm nấm Metarhizium anisopliae 6x109

CFU/g ở nồng độ 2% và hai thuốc sinh học chứa hoạt chất Abamectin và Emamectin

benzoate ở nồng độ 0,03% cũng đã cho kết quả cao Hiệu lực phòng trừ đạt thấp nhất cũng đã đạt 74,71%

Ngoài ra kết quả nghiên cứu trên đồng ruộng tại Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai,

Hà Nội đã khẳng định thêm về hiệu lực phòng trừ của các chế phẩm sinh học đối với sâu khoang, sâu tơ và sâu xanh bướm trắng Tại thời điểm 7 ngày sau khi phun, khi

dùng chế phẩm nấm Beauveria bassiana 6x109 CFU/g nồng độ 2% phun với lượng 0,3

Trang 12

lít nước/10m 2 cho hiệu lực phòng trừ thấp nhất là đối với sâu tơ đạt 68,7%, thuốc Tasieu 5WG phun với lượng 0,5 lít nước/10m2 cho hiệu lực đạt thấp nhất là 78,62% (đối với sâu tơ)

Từ khóa: Beauveria bassiana Metarhizium anisoplia, Abamectin, Emamectin benzolate,

sâu khoang, sâu xanh bướm trắng, sâu tơ

Trang 13

THESIS ABSTRACT

Abastract: Nowaday, aplying microbial pesticide in agricultural production has been

becoming popular In this study, we surveyed cabbage and kohralbi production and pest density fluctuation in these vegetable in the field in Linh Nam commune, Hoang Mai district, Hanoi; the efficacy of Beauveria bassiana 6x109 CFU/g, Metarhizium anisopliae 6x109 CFU/g and two bio-pesticide contained ingredients of Abamectin and

Emamectin benzoate in controlling Spodoptera litura Fabr., Plutella xylostella and

Pieris rapae was tested in laboratory and in green house

The result indicated that:

In winter-spring cropping season (2014-2015) in Linh Nam commune, Area of cabbage and kohralbi production was 15ha (occupied ½ area of vegetable production), productivity of kohralbi and cabbage was 22,2 tons/ha and 25,3tons/ha, respectively In

the production, Phyllostreta striolata occured with highest density in the field during cropping season followed by Plutella xylostella and appeared very often in the field;

Pieris rapae was also important pest and appeared with highest density in Dec 2014 and

Jan 2015 Spodoptera litura attacked vegetable sieriously from Dec 2014 to Febr 2015

In laboratory, after 7 days of spaying, microbial pesticides are Beauveria

bassiana 6x109 CFU/g and Metarhizium anisopliae 6x109 CFU/g showed high efficacy

at concentration of 2-3% while two other bio-pesticide which are Phumai 3,6EC (with

Abamectin) and Tasieu 5WG ( with Emamectin benzoate) showed high efficacy at

concentration of 0.03-0.04%

In greenhouse, after 7 days of spraying, Beauveria bassiana 6x109 CFU/g,

Metarhizium anisopliae 6x109 CFU/g at concentration of 2-3% and two other

bio-pesticide which are Phumai 3,6EC (with Abamectin) and Tasieu 5WG ( with Emamectin

benzoate) at concentration of 0.03-0.04% showed high efficacy in Green house with lowest efficacy was 74.71%

Efficacy of these pesticides in controlling white butterfly, diamondback moth

and army worm was tested in the field After 7 days of spraying, Beauveria bassiana

6x109 CFU/g at concentration of 2% and sprayed 0.3 litre/10m2 showed the efficacy of 68.7%, Tasieu 5WG (0.5litre/10m 2 ) showed efficacy off 78.62%

Keywords: Beauveria bassiana, Metarhizium anisopliae, Abamectin, Emamectin

Benzoate, Spodoptera litura, Diamondback moth and Pieris rapae

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong thời gian gần đây ngành công nghiệp hóa chất phát triển mạnh, hiện tượng ô nhiễm môi trường gây ra do các hoá chất nông nghiệp đang trở thành một vấn đề được đề cập đến khá nhiều Người nông dân đang áp dụng các biện pháp thâm canh cao, với việc sử dụng ngày càng nhiều phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) có nguồn gốc hóa học nhằm tăng năng suất và sản lượng nông phẩm Tuy nhiên, sự thâm canh trong nông nghiệp đã làm cho đất đai ngày càng thoái hóa, hệ sinh thái mất cân bằng dinh dưỡng, hệ vi sinh vật trong đất bị phá hủy, tồn dư các chất độc hại trong đất ngày càng cao, nguồn bệnh tích lũy trong đất càng nhiều dẫn đến phát sinh một số dịch hại không dự báo trước Các loài sâu bệnh hại cũng xuất hiện nhiều, diễn biến rất phức tạp, trên các loại rau khác nhau xuất hiện nhiều loại sâu khác nhau, nhiều loài sâu còn kháng thuốc khi phun cùng một loại thuốc quá nhiều lần như sâu xanh, sâu tơ…

Trong lĩnh vực phòng trừ dịch hại, do sâu, bệnh kháng thuốc nhanh nên nông dân thường tăng nồng độ sử dụng, dẫn đến dư lượng thuốc BVTV trong sản phẩm nông nghiệp tăng cao, gây mất an toàn cho người sử dụng, ảnh hưởng xấu tới môi trường và sức khỏe cộng đồng Ngoài ra, các sản phẩm làm ra không thể xuất khẩu được nên ảnh hưởng lớn đến thu nhập của nông dân Đây cũng là một thách thức lớn cho nông dân Việt Nam khi ra nhập WTO

Để giảm thiểu tác động xấu của thuốc BVTV đến môi trường và cộng đồng,

xu hướng sử dụng các chế phẩm có nguồn gốc sinh học thay thế dần các thuốc hóa học đang ngày càng phát triển Các thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học cũng

là một trong những lĩnh vực mà đang được quan tâm và hướng tới

Xuất phát từ những vấn đề nói trên, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên

cứu phòng trừ một số sâu chính trên rau bắp cải, su hào tại Lĩnh Nam, Hà Nội bằng chế phẩm sinh học”

1.2 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Hiện nay, trong khu vực Hà Nội nói chung và tại xã Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội nói riêng người dân đang trồng chuyên canh rau

an toàn trên diện tích khá lớn Người dân vẫn không ngừng dùng các biện pháp

Trang 15

để ngăn chặn sự phá hoại rau của côn trùng gây hại Trong các biện pháp đó, người dân đa số dùng các loại thuốc trừ sâu để phòng trừ Ngoài các loại thuốc hóa học có tác dụng nhanh thì người dân cũng đã chú ý và sử dụng các loại thuốc sinh học và các chế phẩm sinh học Thuốc sinh học và chế phẩm sinh học được cho là khá an toàn đối với con người và vật nuôi Khi dùng các loại thuốc và chế phẩm trên người dân vẫn dùng chưa đúng liều lượng, họ thường sử dụng với lượng gấp đôi khuyến cáo vì e rằng khi sử dụng chúng với liều lượng khuyến cáo khó có thể đạt được hiệu quả mong muốn Trong quá tình thực hiện đề tài, chúng tôi đã tiến hành thí nghiệm ở các không gian khác nhau, liều lượng khác nhau Kết quả nghiên cứu sẽ là câu trả lời chế phẩm sinh học nói chung có khả năng phòng trừ sâu hại trên họ hoa thập tự cao hay không và lượng dùng nó như thế nào là hợp lý nhất

1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Đánh giá được tình hình sản xuất rau cải bắp, su hào tại Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội

Đánh giá hiện trạng một số sâu hại trên cải bắp, su hào tại Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội

Xác định khả năng sử dụng chế phẩm sinh học để phòng trừ sâu trên rau cải bắp, su hào đạt hiệu quả cao

1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Một số sâu hại (sâu khoang, sâu tơ, sâu xanh bướm trắng) trên cải bắp, su hào tại HTXDV nông nghiệp Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội

Các loại chế phẩm sinh học: chế phẩm nấm Beauveria bassiana, chế phẩm nấm Metarhizium anisopliace, thuốc trừ sâu sinh học

1.4.2 Thời gian và không gian nghiên cứu

Thời gian: Vụ trồng rau đông xuân năm 2014 – 2015

Không gian: Trong phòng, trong nhà lưới và ngoài đồng ruộng khu vực trồng rau của HTXDV nông nghiệp Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội

Trang 16

1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 1.5.1 Ý nghĩa khoa học

- Đã đánh giá được thực trạng sản xuất rau cải bắp, su hào và tình hình sâu hại chính hại hai loại rau này tại Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội

- Đã xác định được chế phẩm nấm chế phẩm nấm Beauveria bassiana dùng ở nồng độ 2% và chế phẩm nấm Metarhizium anisopliace dùng ở nồng độ

2% phòng trừ sâu khoang, sâu tơ và sâu xanh bướm trắng đạt hiệu quả cao

1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Áp dụng chế phẩm chế phẩm nấm Beauveria bassiana ở nồng độ 2% và thuốc sinh học Tasieu 5WG (thuốc chứa hoạt chất Emamectin benzoate) ở nồng

độ 0,03% ở Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội vụ đông xuân năm 2014 – 2015 cho kết quả tốt và có thể nhân rộng sử dụng trong các vụ khác nhau và ở các địa phương khác có trồng cải bắp, su hào

Trang 17

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT RAU HỌ HOA THẬP TỰ TRÊN THẾ GIỚI

VÀ TRONG NƯỚC

2.1.1 Tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas) trên thế giới

Theo nghiên cứu, đánh giá tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas)

trên thế giới của FAO trong 10 năm qua, từ năm 2003 đến năm 2012 kết quả thu được ở bảng 2.1

Qua bảng 2.1 chúng tôi thấy: Diện tích, năng suất và sản lượng rau họ hoa

thập tự (Brassicas) có sự biến động mạnh:

- Về diện tích: Diện tích rau họ hoa thập tự (Brassicas), trong 10 năm

qua, diện tích của thế giới trung bình là 2315660 ha; năm 2003 là năm đạt diện tích cao nhất 2477136 ha, cao hơn diện tích trung bình là 161476 ha; năm 2007 diện tích đạt thấp nhất, chỉ có 2198204 ha, thấp hơn diện tích trung bình của thế giới là 117456 ha Trong suốt 10 diện tích biến động lên xuống theo các năm, từ năm 2003 đến năm 2017 diện tích rau họ hoa thập tự biến động với chiều hướng

đi xuống, hết năm 2007 diện tích mới phát triển trở lại, nhưng cho đến năm 2012 diện tích rau họ hoa thập tự vẫn chưa đạt được ở mức cao nhất, so với năm 2003 năm 2012 diện tích còn kém hơn 85389 ha Như vậy trong các năm gần đây từ năm 2007 đến năm 2012 diện tích luôn tăng, nhưng tăng chậm qua các năm

- Về năng suất: Năng suất rau họ hoa thập tự trong 10 năm qua từ năm

2003 đến năm 2012 trung bình đạt 287815 kg/ha Tính riêng năm gần nhất, năm 2012 năng suất đạt 293112 kg/ha, so với năng suất trung bình của 10 năm năng suất năm nay cao hơn 5296 kg/ha, cao hơn năm có năng suất thấp nhất là (năm 2005 (279082 kg/ha)) 14030 kg/ha, thấp hơn năm cao nhất (năm 2006 (295286 kg/ha)) Về năng suất có sự đột biến giữa 2 năm liên tiếp đó là năm

2005 với năm 2006, năm 2005 năng suất thấp nhất, chỉ sau 1 năm, năm 2006

đã vươn lên năng suất cao nhất, và cao nhất tính cả đến thời điểm 2012 Giữa

2 năm đó năng suất đã tăng 16240 kg/ha, tăng 5,8% so với năm 2005 Còn tính từ năm 2006 trở đi, năm 2007 có sự sụt giảm năng suất, giảm đến 12127 kg/ha, các năm khác năng suất có khác nhau nhưng sự chênh lệch so với năm cao nhất (năm 2006) là không nhiều

Trang 18

Bảng 2.1 Tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas) trên thế giới

qua các năm từ năm 2003 đến năm 2012 Năm Diện tích (ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (tấn)

2007 thì sản lượng luôn giảm sau các năm, nhưng từ năm 2007 trở lại đây thì sau các năm sản lượng luôn tăng, đáng kể nhất sự tăng, năm 2011 đã tăng lên

4000000 tấn so với năm 2010 trước đó

Nghiên cứu tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự ở một số khu vực trên thế giới năm 2012 kết quả thu được ở bảng 2.2

Trang 19

Bảng 2.2 Tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas) ở một số khu

vực trên thế giới năm 2012

STT Khu vực Diện tích

(ha)

Năng suất (kg/ha)

Sản lượng (tấn)

413175 ha, chiếm 17,27%, nhưng so với Châu Á, sự chênh lệnh về diện tích là quá lớn, diện tích trồng rau họ hoa thập tự của Châu Á gấp xấp xỉ 4 lần diện tích của Châu đứng sau nó (Châu Âu)

- Về năng suất: Châu Á là Châu lục có diện tích cao nhất, nhưng bên cạnh

đó Chấu Á cũng có năng suất đạt cao nhất, năm 2012 năng suất của Châu Á đạt

303146 kg/ha, so với năng suất trung bình toàn thế giới, năng suất của Châu Á cao hơn gần 10000 kg/ha Đứng thứ 2 là Châu Âu với năng suất đạt được là

276693 kg/ha, năng suất của Châu Âu thấp hơn Châu Á 26453 kg/ha thấp hơn 9,56%, và thấp hơn so với năng suất trung bình của thế giới 16419 kg/ha, thấp hơn 5,93% Châu Mỹ là châu có diện tích thấp nhất nhưng năng suất cũng đạt

258052 kg/ha, cao hơn Châu Phi, châu có năng suất đạt thấp nhất (226092 kg/ha)

là 31960 kg/ha Châu Phi có năng suất thấp nhất trên thế giới, tính với Châu Á năng suất của Châu này thấp hơn 77054 kg/ha

- Về sản lượng: Toàn bộ thế giới năm 2012 đạt 70104972 tấn rau họ hoa thập tự Châu Á có sản lượng rau cao nhất (đạt 53616145 tấn), chiếm 76,48% so với tổng sản lượng rau họ hoa thập tự của toàn thế giới; tiếp đến là sản lượng rau

họ hoa thập tự của châu Âu (đạt 11432255 tấn), chiếm 16,31% tổng sản lượng

Trang 20

rau toàn thế giới và sản lượng rau họ hoa thập tự của Châu Mỹ là thấp nhất (đạt

2125838 tấn), chiếm 3,03% tổng sản lượng rau họ hoa thập tự toàn thế giới

Như vậy, từ kết quả nghiên cứu đánh giá của bảng 2.1 và 2.2 chúng tôi nhận thấy: Mặc dù, rau họ hoa thập tự là loài rau có nguồn gốc ở vùng ôn đới nhưng loại rau này chỉ cần có điều kiện khí hậu lạnh mát vẫn sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cao Còn ở các nước châu Á (khí hậu nhiệt đới), loại rau này chỉ trồng chủ yếu vào vụ đông xuân (tức chỉ trồng được 1 vụ/năm) Nhưng trong thực tế, diện tích rau họ hoa thập tự ở châu Á lớn nhất thế giới (đạt

1768656 ha, chiếm 73,94% diện tích rau họ hoa thập tự toàn thế giới

2.1.2 Tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas) ở châu Á

Nghiên cứu tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas) ở châu Á,

kết quả thu được ở bảng 2.3

Bảng 2.3 Tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas) ở một số nước

trong khu vực châu Á năm 2012

STT Khu vực Diện tích

(ha)

Năng suất (kg/ha)

Sản lượng (tấn)

và Ấn Độ diện tích trồng đó của Việt Nam là rất ít chỉ bằng 4,59% so với Trung

Trang 21

Quốc và bằng 12% so với Ấn Độ Trong bảng trên thấy diện tích trồng rau họ hoa thập tự của Philippin là thấp nhất

- Về năng suất: Theo như Hàn Quốc là nước có năng suất rau đạt 458333 kg/ha cao nhất thế giới, về năng suất rau thập tự Hàn Quốc vẫn là nước có năng suất ra họ hoa thập tự cao nhất, đạt 711886 kg/ha; tiếp đến năng suất rau của Bahrain đạt 334694 kg/ha và Timor là nước có năng suất rau họ hoa thập tự thấp nhấ, đạt 148183 kg/ha Việt Nam có năng suất đạt 174444 kg/ha, đứng thứ tư về năng suất trong khu vực

- Về sản lượng: Với diện tích cao nhất khu vực và năng suất cũng đứng thứ hai trong khu vực, sản lượng rau họ hoa thập tự của Trung Quốc cao nhất Đứng thứ 2 về diện tích trồng và cũng đứng thứ hai về sản lượng thu được, Ấn

Độ năm 2012 có sản lượng rau họ hoa thập tự đạt 8500000 tấn Philippin là nước

có sản lượng rau họ hoa thập tự thấp nhất châu Á, đạt 126356 tấn Việt Nam là nước có diện tích đứng thứ 3 và năng suất đứng thứ tư, sự chênh lệch về diện tích

là không qua lớn so với Hàn Quốc nhưng sự chênh lệch và năng suất là quá lớn nên sản lượng rau họ hoa thập tự của Việt Nam chỉ đứng thứ tư trong khu vực, với sản lượng thu được 785000 tấn

2.1.3 Tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas) ở Việt Nam

Việt Nam là một nước nhiệt đới gió mùa, có bốn mùa trong năm, trong đó

có một mùa đông lạnh rất thuận lợi cho việc trồng các loại rau họ hoa thập tự

* Về diện tích: trong mười năm kể từ năm 2003 đến năm 2012 diện tích trồng rau họ hoa thập tự có sự biến động liên tục qua các năm Trong 10 năm, năm

2003 có diện tích gieo trồng là thấp nhất chỉ đạt 34804 ha, trong đó năm 2010 có diện tích đạt lớn nhất 47151 ha Diện tích gieo trồng tính từ năm 2003 đến năm

2010 của rau họ hoa thập tự trong nước ta liên tục tăng, tăng 12347 ha Đến năm

2011 diện tích đột ngột giảm xuống còn 43591 ha, nhưng đến năm 2012 diện tích lại tăng (đạt 45000 ha) trở lại tuy chưa nhiều so với năm trước đó 2011

* Về năng suất: diện tích thì không ngừng tăng qua các năm nhưng về năng suất rau họ hoa thập tự không có sự biến đổi nhiều Năng suất giao động từ

170000 – 180000 tấn/ha Duy nhất năm 2009 có năng suất chỉ đạt 164286 tấn/ha Năm 2004 đạt cao nhất 180556 tấn/ha

Trang 22

* Về sản lượng: Diện tích thay đổi, năng suất biến động nên sản lượng rau

họ hoa thập tự có sự biến động mạnh qua các năm Sản lượng năm 2003 đạt thấp nhất, đạt 606226 tấn, trong đó năm 2010 sản lượng đạt được 805288 tấn Như vậy, giữa năm có sản lượng thấp nhất và năm có sản lượng cao nhất về sản lượng

có sự chênh nhau tới 199062 tấn

Bảng 2.4 Tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự (Brassicas) tại Việt Nam

qua các năm từ năm 2003 đến năm 2012 Năm Diện tích (ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (tấn)

2.2.1 Tình hình nghiên cứu về sâu hại họ hoa thập tự trên thế giới

Theo Chamberlin’ J R và Kok L T chỉ ra rằng trên bắp cải có rất nhiều sâu hại khác nhau Nhưng trong đó sâu tơ là loài xuất hiện nhiều nhất (Chamberlin’ J R and Kok L T., 1986) Điều này cũng được Avciu và Ozbeck

H khẳng định một lần nữa (Avciu and Ozbeck H., 1990) Theo Wakisaka et al

(1989) chỉ ra sâu tơ phát triển chậm ở mùa hè khi nhiệt độ cao hơn 300C, tại thời điểm này mật độ của chúng là không tăng và sức sinh sản của chúng giảm Nhưng vào mùa xuân chúng phát triển nhanh hơn và mật độ cũng tăng nhanh

Trang 23

(Talekar N.S., 1990) Ở Jamaica, Alam M M đã chỉ trên rau bắp cải có 17 loài sâu

hại, trong đó có 7 loài sâu hại chính, riêng sâu tơ Plutella xylostella L và sâu khoang Spodoptera litura F gây hại 74 - 100% năng suất bắp cải (Alam M M., 1992) Theo Shelton et al., (2001) nghiên cứu thì năm 1991 ở Mỹ có 3 loài chính,

còn tại Canada có 3 loài sâu hại chính trên cây họ cải (Harcourt D.G., 1985) Theo Koshihara ở Nhật Bản có 5 loài (Koshihara T., 1985); ở Trung Quốc theo Liu chỉ

ra năm 1996 ông và cộng sự tìm ra có 7 loài (Liu et al., 2005); ở Úc theo Hesisswolf et al (1996) có 6 loài gây hại chính, trong đó sâu tơ là loài khó phòng trừ nhất và sâu ăn đọt cải (Hellula undalis Fabricius, Crocidolomia

binotalis Zeller) có khả năng gây thiệt hại lớn nhất nếu không kiểm soát được chúng ngay từ đầu vụ

2.2.2 Tình hình nghiên cứu sâu hại rau họ hoa thập tự trong nước

Ở nước ta sâu hại trên họ hoa thập tự có đến 30 loài khác nhau, trong đó có 5

loài gây hại chủ yếu đó là Sâu tơ (Plutella xylostella L.), bọ nhảy (Phyllotreta

striolata Fabr.), rệp muội (Brevicoryne barassicae L.), sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae L.), sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.) (Nguyễn Đức Khiêm và

cs., 2005)

Theo Nguyễn Xuân Thành (2003) chỉ ra trên rau họ hoa thập tự có 9 loài gây hại phổ biến Theo Nguyễn Văn Thuần và Hà Quang Hùng (2009) về thành phần sâu hại trên rau họ hoa thập tự vụ Đông Xuân 2008 – 2009 tại Hà Nội rất phong phú

và đa dạng Trong quá trình điều tra và thu thập mẫu, ông đã xác định được 22 loài sâu hại thuộc 7 bộ và 14 họ Tại các huyện Gia Lâm, Thường Tín và Hoài Đức, thành phố Hà Nội, Đặng Thị Dung và Phan Thị Thanh Huyền (2010) chỉ ra có năm

loài sâu thuộc bộ cánh vảy gây hại cho rau họ hoa thập tự Trong đó, sâu tơ (Plutella

xylostell L.), sâu khoang (Spodoptera litura F.) là 2 loài quan trọng Chúng xuất hiện

và gây hại cao nhất vào giai đoạn trải lá bàng của cây bắp cải

2.3 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC CHẾ PHÂM NẤM

PHẨM CÓ NGUỒN GỐC SINH HỌC TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

2.3.1 Tình hình nghiên cứu chế phẩm Beauveria bassiana

* Trên thế giới:

Trên thế giới đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về nấm Beauveria

bassiana. Nấm ký sinh côn trùng đóng vai trò to lớn trong việc khống chế côn

Trang 24

trùng hại Tuy vậy ví dụ đầu tiên phải kể đến không phải là đối với con trùng hại

mà là côn trùng vật nuôi Vào thế kỷ XVI, XVII, nghề tằm tơ rất phát triển ở Pháp

và Ý Nhưng cũng trong thời kỳ này, nghề tằm tơ bị thiệt hại nặng nề do bệnh tằm

vôi (Muscardine) hay còn gọi là nấm bạch cương Mãi tới năm 1835, công trình

đầu tiên về đặc điểm gây bệnh và biện pháp phòng trừ bệnh này của nhà khoa học, cha đẻ “bệnh lý học côn trùng” Agistino Bassi được công bố Sau này, để ghi nhận

công lao của người đã phát hiện ra nó, loài nấm được mang tên Beauveria

bassiana (dẫn theo Nguyễn Văn Đĩnh và cs., 2004)

Năm 1895, nhà bác học Snoi đã tiến hành một loạt thí nghiệm dùng nấm

trắng Beauveria globuliera để gây bệnh trên bọ xít (Bliscus lencopteraSay) hại

lúa mỳ và ông nhận thấy có hiệu quả Năm 1885-1890, tại Trung tâm nuôi tằm ở Pháp, nhà bác học Louis Paster đã phát hiện ra các vi sinh vật gây bệnh trên con

tằm vôi như là nấm Beauveria bassiana và vi khuẩn Bacillus thuringiensis, sau

gian đó ông đã tìm ra các biện pháp phòng trừ sâu hại cây trồng bằng nấm côn trùng (Phạm Thị Thùy, 2010)

Ở Bắc Mỹ người ta đã phát hiện ra 175 loài côn trùng bị nấm Beauveria

bassiana ký sinh, các nhà khoa học Liên Xô cũ đã tìm thấy khoảng 60 loài côn

trùng bị nấm Beauveria bassiana ký sinh Trong thí nghiệm sử dụng nấm

Beauveria bassiana để phòng trừ một số đối tượng sâu hại, các nhà khoa học cho biết nấm có khả năng lây nhiễm trên nhiều loài côn trùng thuộc bộ cánh cứng Coleoptera, bộ cánh nửa Hemiptera, bộ cánh đều Homoptera, bộ cánh thẳng Orthoptera, bộ cánh bằng Isoptera; đặc biệt nhiều nhiều sâu non bộ cánh vẩy Lepidoptera và nhiều loại sâu hại khác Tuy nhiên ở mỗi bộ côn trùng

khác nhau, hoạt tính lây lan của nấm Beauveria bassiana là khác nhau (dẫn theo

Phạm Thị Thùy, 2004)

Năm 1969, Hamill et al đã xác định được độc tố diệt côn trùng của nấm

B bassiana và đặt tên cho độc tố này là Beuvericin (Hamill et al., 1969)

Nấm trắng đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trên hơn 70 loại cây trồng ở Xô Viết cũ và những quốc gia vệ tinh để phòng trừ nhiều dịch hại khác

nhau (Ferron P., 1978) Aguda và cộng tác viên năm 1984 đã dùng nấm B

bassiana để phòng trừ rầy nâu, rầy lưng trắng và rầy xanh đuôi đen hại lúa

(Aguda et al., 1984). Ở Trung Quốc nấm trắng được sử dụng để phòng trừ

sâu róm thông Dendrolimus spp với hiệu lực đạt 43 – 93% (Pan W.Y and

H Zheng, 1988)

Trang 25

* Ở Việt Nam:

Tại nước ta theo Trần Văn Mão chỉ ra chế phẩm nấm Beauveria bassiana

được sử dụng từ năm 1979 trên sâu róm và một số côn trùng nông nghiệp (Trần Văn Mão, 2004)

Theo Nguyễn Thị Thùy, vì nấm có màu trắng nên tại Trung Quốc và Việt

Nam gọi là nấm bạch cương Nấm Beauveria bassiana thường xuất hiện trên

con tằm tơ Sợi nấm có màu trắng đến crem có pha một ít màu đỏ, da cam, đôi khi pha một ít màu lục, có thể tiết vào môi trường sắc tố vàng, màu đỏ nhạt hoặc màu xanh ra trời Sợi nấm phân nhánh, có vách ngăn ngang, có chiều dài khoảng 3-5 µm phát triển dày đặc trên môi trường, về sau xuất hiện chi chít các cuống sinh bào tử Trên cơ thể côn trùng các sợi nấm mọc rất nhanh và chẳng mấy chốc đã bao phủ kín bề mặt cơ thể, sợi nấm dạng phấn trắng khi khô biến thành vàng sữa (Nguyễn Thị Thùy, 2004)

Những bào tử nấm bạch cương thường bay trong không khí khi dính vào côn trùng, gặp điều kiện thích hợp sẽ nảy mầm và mọc thành sợi nấm đâm xuyên qua vỏ kitin Chúng phát triển ngay trong cơ thể côn trùng cho đến khi xuất hiện các tế bào nấm đầu tiên (có dạng chuỗi ngắn như nấm men), côn trùng

đã phải huy động hết các tế bào bạch huyết (lympho-cyte) để chống đỡ, những nấm bạch cương đã sử dụng những vũ khí hoá học rất lợi hại là độc tố Boverixin, proteaza và một số chất khác làm cho tế bào bạch huyết của tằm không chống đỡ nổi lên lần lượt bị huỷ diệt Khi độc tố nấm đã tiêu diệt hết các

tế bào bạch huyết cũng là lúc côn trùng bị chết, cơ thể côn trùng bị cứng lại là

do các sợi nấm đan xen lại với nhau; bào tử của nấm bạch cương đã được sử dụng một cách có hiệu quả để phòng trừ nhiều loại côn trùng hại cây trồng (Nguyễn Văn Tuất, 2004)

Theo Nguyễn Văn Tuất nấm Beauveria bassiana có hiệu quả với sâu

xanh ăn lá bồ đề ở công thức có nồng độ cao nhất 3x108 CFU/ml đạt 68,5% sau

10 ngày trong điều kiện tự nhiên có nhiệt độ trung bình là 26,1oC và ẩm độ TB

là 79,8%, nồng độ thấp hơn không có hiệu quả (Nguyễn Văn Tuất, 2004)

Tại nước ta, việc sử dụng nấm Beauveria bassiana để trừ sâu đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Theo Nguyễn Văn Tuất thống kê 10 chủng Beauveria

(nấm trắng) trên sâu róm thông ở Thanh Hoá, Nghệ An trên sâu xanh bướm trắng tại Hà Nội, trên rầy nâu, rầy xanh hại lúa, rầy chổng cánh hại cam quýt, sâu

tơ, sâu đo hại rau tại Cần Thơ, An Giang, Trà Vinh và trên bọ cánh cứng hại dừa tại Bến Tre, Phú Quốc (Nguyễn Văn Tuất, 2004) Trừ sâu đo xanh hại đay ở Liên

Trang 26

Khê, Khoái Châu, Hưng Yên và ở Phúc Thọ, Đan Phượng, Hà Nội từ năm

1992-1994 trên diện tích 100 ha đạt kết quả tốt Trừ rầy nâu hại lúa ở các tỉnh Tiền Giang, Minh Hải năm 1992-1994, ở Duy Tiên, Hà Nam năm 1994-1995, ở Bà Rịa - Vũng Tàu năm 1994-1995 trên diện tích 50 ha Trừ châu chấu hại lúa ở Nghệ An, Hà Tĩnh năm 2003-2004 trên diện tích 50 ha Chế phẩm nấm Bb được

Bộ NN & CNTP công nhận tiến bộ kỹ thuật năm 1996 và được Bộ NN &PTNT cho đăng kí đặc cách là thuốc sinh học Boverit trừ sâu đo xanh, rầy nâu, bọ xít xanh hại lúa và sâu róm thông được sử dụng ở Việt Nam từ 2001 đến nay Trừ sâu hại rau, đậu ở Hải Phòng năm 2001-2002 và Hà Tĩnh (2003) trên diện tích vài chục ha đạt kết quả tốt, được địa phương đánh giá cao Ngoài ra nấm

Beauveria bassiana còn được nghiên cứu và ứng dụng để trừ một số loại sâu gây

hại chính trên cây rừng như: Chế phẩm nấm Boverit (Beauveria bassiana) do

Viện Bảo vệ thực vật sản xuất để phòng trừ sâu róm hại rừng thông ở Sơn La, Thanh Hóa vào năm 1996-1999 trên diện tích hàng nghìn ha, năm 2002-2006, Viện BVTV lại phối hợp với các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Lạng Sơn và Bắc Giang ứng dụng chế phẩm nấm Boverit trừ sâu róm thông trên diện tích hàng vạn ha,

đạt kết quả tốt Chế phẩm Beauveria bassiana đã được cấp bằng độc quyền sáng

chế và đã đoạt giải nhì giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam VIFOTEC và bằng lao động sáng tạo của Tổng Liên đoàn LĐVN năm 1999; Trừ

sâu xanh (Fentonia sp.) hại lá bồ đề ở Tân Hưng, Yên Bình, Yên Bái đạt kết

quả 75,7% sau 3 tuần phun trên diện tích 100 ha vào năm 2003-2004; Trừ sâu kèn hại cây keo tai tượng ở Đảo Độc lập, Suối Hai, Ba Vì trên diện tích 20 ha đạt kết quả cao vào năm 2004-2005 (Phạm Thị Thùy, 2013) Nguyễn Thị Lộc và

cộng sự 2010 đã dùng chế phẩm Beauveria bassiana (VL3 – RMCQ) để trừ rầy mềm và rầy chổng cánh hại cam quýt, kết quả thu được cho thấy chế phẩm có hiệu lực khá cao và có hiệu lực duy trì trong thời gian 14 ngày kể từ ngày phun (Nguyễn Thị Lộc và cs., 2010)

2.3.2 Tình hình nghiên cứu chế phẩm Metarhizium anisopliae

* Trên thế giới

Năm 1878, tác giả Metschnhikov E đã phát hiện và phân lập được nấm

xanh Entomophthora anisopliae trên sâu non bọ cánh cứng hại lúa mỳ (Anisopliae austrinia), về sau này ông đổi tên là Metarhizium anisopliae.Tác

giả đã nghiên cứu môi trường nhân nuôi nấm trên, rồi thử lại bằng cách sử dụng bào tử nấm thuần khiết gây bệnh trên ấu trùng và dạng trưởng thành của sâu

non bọ đầu dài hại củ cải đường (Bothinoderes punctiventris), nhận thấy có

Trang 27

hiệu quả Sau đó, Metschnhikov cùng với Isac Craxinstic tiến hành sản xuất bào

tử nấm Metarhizium anisopliae dạng thuần khiết rồi trộn với chất bột nền và

đưa ra đồng ruộng để diệt sâu non và trưởng thành bọ đầu dài hại củ cải đường

(Bothinoderes punctiventris), các tác giả xác nhận hiệu quả của nấm đạt được

55- 80% sau 10-14 ngày thử nghiệm (Phạm Thị Thùy, 2004)

Metarhizium anisopliae (Metsch.) Sorokin thuộc họ Moniliaceae, bộ

Hyphomy-cetes, lớp nấm bất toàn (Deuteromycetes), được phân lập từ nhiều loài

côn trùng bị nhiễm bệnh và sản xuất bằng công nghệ lên men Sợi nấm phát triển trên bề mặt côn trùng có màu trắng đến hồng, cuống sinh bào tử ngắn mọc tỏa tròn trên đám sợi nấm dày đặc Bào tử trần hình que có kích thước 3,5x6,4x7,2 µm, màu từ lục xám đến ôliu – lục, bào tử xếp thành chuỗi khá chặt chẽ và nhìn bằng mắt thường người ta có thể thấy bào tử được ta ra trên bề mặt cơ thể côn trùng một lớp phấn khá rõ màu xanh lục Sợi nấm khi phát triển bên trong côn trùng có chiều rộng khoảng 3-4 µm, dài khoảng 20 µm, chia thành nhiều tế bào ngắn, trong tế bào

thấy rõ nhiều giọt mỡ Nấm M anisopliae có bào tử dạng hình trụ, hình hạt đậu,

khuẩn lạc mầu xanh, đôi khi mày hồng quế Chúng phát triển thích hợp trên môi

trường có pepton Loài nấm M anisopliae có hai loài dạng bào tử nhỏ và dạng bào

tử lớn Theo tác giả Tsai và cộng sự nấm M anisopliae là chủng gây bệnh mạnh

trên côn trùng thuộc họ cánh cứng Coleoptera Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu

và tìm thấy có khoảng 204 loài côn trùng thuộc họ Elaridae và Curculionidae dễ nhiễm bệnh bởi nấm (Phạm Thị Thùy, 2010)

Nấm M anisopliae gồm 4 ngoại độc tố có tên là Destruxin A, B, C, D

Các ngoại độc tố đó là các sản phẩm thứ cấp vòng peptit, L- prolyn, L-leucine, anhydride, L- prolyn-L-valine anhydride và Dest ruxin B Năm 1961, 1962, Y Kodaira đã tách được độc tố Destruxin A và Destruxin B từ dịch nuôi cấy nấm

M.anisopliae Năm 1971, người ta đã tổng hợp nhân tạo được Destruxin B Có

khoảng 70 loài côn trùng bị tiêu diệt bởi nấm lục cương M Anisopliae (Phạm Thị

Thùy, 2010)

Nấm M anisopliae không thể sinh trưởng tốt ở trên nền cơ chất không có

kitin, chúng sống được ở nhiệt độ thấp 8oC, có biên độ về độ ẩm rộng ở nơi tích lũy nhiều CO2 và thiếu O2 chúng có thể sống tới 445 ngày Ở nhiệt độ dưới 10oC

và trên 45oC thì nấm thưởng không hình thành bào tử Nhiệt độ thích hợp cho sự nảy mâm của bào tử là 25-30oC và sẽ bị chết ở nhiệt độ 49-55oC nhiệt độ cho nấm phát triển tôt nhất là 25oC, pH thích hợp là 6 và có thể dao động trong

Trang 28

khoảng từ 3,3-8,5 Nấm M anisopliae có khả năng phân giải tinh bột, xeluloza

và kitin Nấm lục cương M anisopliae có thể đồng hóa nguồn thức ăn cacbon

khác nhau Chúng phát triển tốt trên môi trường chưa glucogen và lipit, và chúng đòi hỏi độ ẩm không khí khá cao (Phạm Thị Thùy, 2004)

Khi bào tử nấm M anisopliae bám trên bề mặt côn trùng trong khoảng

24h thì bào tử sẽ nảy mầm tạo thành ống mầm xuyên qua vỏ côn trùng, sau đó tiếp tục phân nhánh tạo nên một mạng sợi nấm chằng chịt bên trong cơ thể côn

trùng Nấm M anisopliae đã tiết ra các độc tố Destruxin A, B và chính các độc tố gây chết côn trùng Nấm M anisopliae có thể cần các điều kiện thích hợp như

nhiệt độ, độ ẩm, quá trình bệnh lý và hình thành các loại độc tố trong quá trình phát triển (Phạm Thị Thùy, 2010)

Trên thế giới như Úc, Ý, Brazil, Mỹ, Mêxicô, Pháp, Tây Ban Nha, Đức,

Ấn Độ, Peru, Colombia, Venezuela, đã sản xuất thành công các chế phẩm sinh

học từ nấm xanh, Metarhizium anisopliae như: Bio-Blast ,Ago Bio.Metarhizium

50, Biogreen, Bio 1020, Green Muscle, Granmet-P, Metarhizium Schweizer, Bio-Magic, Meta-Sin, Metaquino, Bio-Path, Metadieca, Metazam, Metarhisa

WP, Biocontrol, Cobican…( Nguyễn Thị Lộc, 2010)

Tại Mexico, Bautista-Galvez và cộng sự đã nghiên cứu và tuyển chọn chế

phẩm nấm Metarhizium anisopliae trong việc phòng trừ Aeneolamia postica hại mía (Bautista-Galvez et al., 2012)

* Ở Việt Nam:

Tại Việt Nam đã phân lập được 18 chủng Metarhizium (nấm xanh) gồm

16 chủng trên 7 loại sâu hại khác nhau như bọ cánh cứng hại dừa tại Bến Tre, Tiền Giang, Trà Vinh, trên sâu đo hại quế tại Quảng Nam, sâu xanh bướm trắng hại rau, sâu xanh đục quả đậu xanh, châu chấu lúa, ruồi đục quả cà phê, bọ xít xanh hại đậu tương tại Hà Nội, Cần Thơ, Sóc Trăng, Vĩnh Long Phân lập 2 chủng trên bọ xít nhãn ở Hà Nội và sùng hại mía ở Thanh Hoá Đã chọn được 4 chủng có hoạt lực diệt côn trùng rất cao và hiện đang sử dụng để sản xuất chế phẩm là 2 chủng

Beauveria bassiana và Metarhizium anisopliae ở phía Bắc 2 chủng Beauveria

bassiana và Metarhizium anisopliae ở phía Nam (Nguyễn Văn Tuất, 2004)

Năm 2004, Nguyễn Thị Lộc và cộng sự đã phân lập được nấm

Metarhizium anisopliae được phân lập từ bọ cánh cứng hại dừa và một và loài sâu hại khác nhiễm bệnh tự nhiên ở một số địa phương và đã được thử nghiệm về

Trang 29

hiệu lực trừ bọ cánh cứng hại dừa trong các điều kiện khác nhau: phòng thí nghiệm, nhà lưới và ngòai đồng ruộng Các thí nghiệm trong phòng và nhà lưới

cho thấy 3 chủng nấm M anisopliae đều có khả năng gây bệnh cho bọ cánh

cứng Chủng M.a (OM3-BD), phân lập từ bọ cánh cứng hại dừa nhiễm bệnh tự nhiên, nó có hiệu lực cao nhất trên ấu trùng và bọ dừa trưởng thành Ấu trùng bọ cánh cứng hại dừa mẫn cảm với nấm xanh hơn so với con trưởng thành Xử lý nấm xanh trừ bọ cánh cứng hại dừa ngoài đồng ruộng có hiệu lực cao từ ngày thứ

7 trở đi và kéo dài đến ngày 21 sau khi phun nấm (Nguyen Thi Loc et al., 2004)

Tính đến nay việc sử dụng nấm Metarhizium anisopliae cũng đạt được

nhiều thành tựu đáng kể ở nước ta như: Trừ châu chấu hại ngô, mía, mỳ ở các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai và Tây Ninh từ năm 1994-1998 trên diện tích vài trăm ha được UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp bằng khen; Chế phẩm nấm Mat trừ châu chấu đã đoạt giải Ba Giải thưởng sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam VIFOTEC năm 1995 và được Bộ Nông nghiệp & CNTP công nhận tiến bộ

kỹ thuật năm 1996 và được Bộ NN &PTNT cho đăng kí đặc cách là thuốc sinh học Mat trừ rầy nâu hại lúa, bọ cánh cứng dừa, bọ hung hại mía, mối đất được sử dụng ở Việt Nam từ 2001 đến nay Năm 2003 nấm Mat được cấp Bằng Độc quyền sáng chế; Trừ bọ cánh cứng hại dừa cho các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung, Hà Nội và Hải Phòng từ năm 2000-2008, trên diện tích hàng vạn ha, được UBND tỉnh Bến Tre cấp bằng khen về thành tích trừ bọ cánh cứng năm 2000; Trừ

bọ hung hại mía ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An từ năm 2001-2003 trên diện tích hàng trăm ha, không ô nhiễm môi trường và hiệu quả ổn định, kéo dài đến 2004; Trừ sâu hại rau, đậu ở Hải Phòng năm 2001- 2002 và trừ sâu hại đậu tương, đậu xanh ở Hà Tĩnh (2002-2004) trên diện tích vài chục ha đạt hi ệu quả; Chế phẩm nấm xanh trừ rầy nâu hại lúa ở các tỉnh Sóc Trăng, Cần Thơ và Long An từ năm 2009-2012 (Viện Lúa ĐBSCL và đại học Cần Thơ thực hiện) đạt hiệu quả cao được nông dân đón nhận; Trừ mối đất hại cây rừng ở Bà Rịa Vũng Tàu năm 1997-1998 và ở Hà Giang, Tuyên Quang và Tây Nguyên từ năm 2005-2010 đạt kết quả tốt trên diện tích vài trăm ha (Phạm Thị Thùy, 2013)

2.3.3 Tình hình nghiên cứu chế phẩm có nguồn gốc sinh học trên thế giới

và Việt Nam

- Nhóm Avermectin: Một trong 16 nhóm ester tự nhiên do vi khuẩn

Streptomycin avermitilis sản sinh, gồm hai chất Avermectin B1a và Avermectin B1b Những thay đổi rất nhỏ trong thành phần của thuốc (hàm lượng và tỷ lệ

Trang 30

hàm lượng Avermectin B1a và Avermectin B1b) tác động đến hoạt tính và hiệu lực phòng trừ của sản phẩm Các sản phẩm Avermectin ở thể rắn có hiệu lực trừ côn trùng và nhện kém ở dạng lỏng Vì vậy, các sản phẩm Avermectin đều dạng sữa Gần đây, nhiều công ty đã sử dụng bao đựng các sản phẩm Avermectin thể rắn có thể tan trong nước Loại thuốc này, dễ phân tán trong bình phun và tăng khả năng tiếp xúc của thuốc với vật phun và ít gây độc cho người sử dụng

Các thuốc trong nhóm có phổ tác động rộng, trừ được nhiều loài sâu miệng nhai và miệng chích hút thuộc bộ cánh vảy, bộ hai cánh, bộ cánh đều như sâu vẽ bùa, đục thân quả và nhện đã di chuyển được ở liều lượng 5,4 – 25 g/ha trên nhiều loại cây trồng như bắp cải và các loại rau khác, đậu tương, các loại cây

ăn quả, cam chanh, nho, chè, bông, cây cảnh Thuốc có hiệu quả phòng trừ kiến

lửa Sclenopsis invicta cao; có thể gây vô sinh hay giết kiến chúa Có thể phun

hay làm bả để diệt ấu trùng và trưởng thành hay kìm hãm sinh trưởng và làm ung trứng của dán Chúng tác động đến côn trùng và nhện bằng con đường tiếp xúc

và vị độc; nội hấp yếu hoặc không có tính nội hấp, di chuyển trong cây yếu Các hợp chất Avermectin thẩm thấu mạnh vào mô lá Do thuốc xâm nhập nhanh vào

biểu bì lá (với sự giúp đỡ của men translaminase), rồi tích lũy ở đó Vì vậy hiệu

lực của thuốc kéo dài, ít chịu tác động của điều kiện thời tiết Côn trùng và nhện

bị trúng độc rất nhanh Sau phun 8 giờ, triệu chứng ngộ độc thể hiện rõ; nhưng phải sau 3 - 4 ngày tỷ lệ chết mới đạt cao nhất

Sau khi tiếp xúc với các thuốc trong nhóm, côn trùng ngừng ăn và chết vì đói Các thuốc đã kích thích sự giải phóng GABA (γ-aminobutyric acid) gây kìm hãm sự vận chuyển xung động thần kinh, lượng ion Cl- trong tế bào thần kinh tăng lên, làm nhiễu loạn hoạt tính của hệ thần kinh Các tế bào thần kinh phải hoạt động mạnh hơn, nên năng lượng mất nhiều, côn trùng và nhện bị tê liệt và chết

Sâu hại ít có khả năng hình thành tính kháng hay khó hình thành tính kháng chéo với các thuốc Avermectin, nên có thể trừ được cả các loại sâu đã kháng các thuốc trừ sâu khác

Abamectin và Emamectin benzoate là các sản phẩm được tạo ra từ

Avermectin Chúng có cấu tạo hóa học và tính chất gần giống nhau Emamectin

có hiệu lực cao với sâu non bộ cánh phấn nhưng phổ tác động hẹp hơn

Abamectin có phổ tác động rộng, trừ được nhiều loài sâu kể cả nhện hại Hai hoạt chất này đều có tác động tiếp xúc, vị độc và có khả năng thấm sâu, hiệu lực diệt

Trang 31

sâu nhanh và mạnh không thua kém thuốc hóa học Do hiệu lực cao nên lượng hoạt chất sử dụng rất thấp, chỉ từ 3-5 g/ha Thuốc có phổ tác dụng rộng, phòng trừ được nhiều loại sâu miệng nhai, sâu chích hút và nhện hại cho nhiều loại cây trồng, đặc biệt sử dụng cho rau, hoa cảnh, các cây ăn quả và cây công nghiệp có giá trị cao

Abamectin là một hỗn hợp của avermectins có chứa hơn 80% avermectin B1a và ít hơn 20% B1b avermectin Hai thành phần này, B1a và B1b có đặctính sinh học và độc tính rất giống nhau Các avermectins là những hợp chất cồn antihelmintic có nguồn gốc từ nước canh trong phòng thí nghiệm lên men bằng

đất vi khuẩn Streptomyces avermitilis Abamectin là một sản phẩm lên men tự

nhiên của vi khuẩn này Trong dung môi hữu cơ, abamectin bị oxy hóa nhanh, không bền trong môi trường axít mạnh và kiềm Bị tia cực tím phân hủy nhanh Hiện đã có thương phẩm của Evermectin B1, dùng để trừ côn trùng, nhện hại cây

ăn quả và các cây trồng khác ở 50 quốc gia (Wikipedia, 2014)

Emamectin benzoate: là hỗn hợp chứa > 90% emamectin B1a và < 10% emamectin B1b cùng các muối benzoate của chúng Emamectin là một dẫn xuất thuốc trừ sâu trên lá của abamctin, chúng được phân lập từ quá trình lên men của

vi khuẩn Streptomyces avermitilis một cách tự nhiên với xạ khuẩn đất Nó hoạt động bằng cách kích thích việc hành axit γ- aminobutyric, dẫn truyền ức chế thần

kinh, gây tê liệt côn trùng Emamectin có hiệu quả trừ ấu trùng bộ cánh phấn trên rau và bông cao hơn Avermectin Hiện nay, nhiều nước đã dùng Emamectin

Benzoate để trừ sâu hại cây ăn quả và nhiều cây trồng khác đạt hiệu quả rất cao ở lượng 5,4 - 8.4 kg/ha Hiệu lực của thuốc bị giảm mạnh trong môi trường có ánh sáng (Wikipedia, 2014)

Theo Nguyễn Mạnh Chinh, Abamectin kết hợp với dầu khoáng sẽ làm

tăng khả năng trừ sâu Dầu khoáng có tác dụng bít lỗ thở làm sâu ngạt thở mà chết, ngoài ra còn xua đuổi sâu trưởng thành không đến đẻ trứng và làm ung trứng Chế phẩm dầu khoáng dùng hòa nước phun lên cây để trừ sâu (gọi là Petroleum Spray Oil) ngày càng sử dụng phổ biến Đặc biệt trong phương pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây có múi, dầu khoáng được coi là sản phẩm chủ lực ở nhiều nước Dầu không độc hại với người và môi trường Chất Abamectin hỗn hợp với dầu khoáng làm tăng hiệu lực diệt sâu do tác động bổ sung và khả năng loang trải, bám dính tốt của dầu, cũng được dùng để phòng trừ các loại sâu miệng nhai, sâu chích hút và nhện hại cho nhiều loại cây trồng

Trang 32

Thuộc nhóm này có các chế phẩm Đầu Trâu Bihopper, Feat… Thuốc Feat 25EC chứa 0,5% chất Abamectin và 24,5% dầu khoáng, dùng phòng trừ bọ trĩ hại dưa hấu, dưa leo, dòi đục lá cà chua, nhện đỏ cam, quýt… pha liều lượng 12-15ml/10l nước Cây cam, quýt được phun thuốc Feat cho trái bóng đẹp và chất lượng tốt hơn rõ rệt (Phạm Thị Thùy, 2010)

2.4 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA MỘT SỐ LOÀI SÂU HẠI CẢI BẮP, SU HÀO 2.4.1 Sâu khoang

Sâu khoang có tên khoa học là Spodoptera litura, là loài ăn lá Sâu gây hại

ở thời kỳ sâu non Khi lớn lên sâu khoang ăn đơn lẻ, chúng phá hoại hết cây này rồi ăn lan sang cây khác Trên cây bắp cải chúng thưởng ẩn nấp trong các bẹ lá hoặc đục lỗ chui vào bên trong bắp Sâu trưởng thành có sải cánh 30 – 45 mm, cánh trước màu nâu xen lẫn một chút màu kem, cánh sau màu trắng Nhưng con cái trưởng thành đẻ trứng ở mặt dưới của lá Sâu non phát triển đầy đủ dài 40 -50

mm, màu nâu, đen hoặc xám, hai bên lưng là hai hàng chấm nhỏ màu đen hoặc tam giác, gần đầu có hai đốm màu vàng hoặc màu trắng gần đầu Sâu khoang

thường phát sinh và gây hại ở cuối mùa hè và đầu mùa thu (Hamilton J T., 1987)

Sâu khoang là loại sâu có thể ăn hại trên nhiều loại rau Chúng phân bố rộng khắp trên cả nước ta và trên thế giới Ở Việt Nam, phổ biến nhất là loại

Prodenie Litura Sâu khoang gây hại chủ yếu vào ban đêm Ngài đẻ trứng ở mặt dưới lá thành từng ổ, mỗi ổ có khoảng hơn 1000 trứng Sau khi nở sâu non phân tán dần lúc đầu chỉ ăn chất xanh Nhưng khi lớn sâu ăn toàn bộ lá Sâu khoang thường ăn lá có vị chua, phát triển tốt ở môi trường nhiều ẩm, nhiệt độ thấp (Hà Thị Hiến, 2003)

Đặc tính của sâu khoang là ban đêm ăn lá còn ban ngày sống ở dưới đất và

ẩn trong các lớp lá khô Vì vậy, việc làm đất, vệ sinh đồng ruộng trừ sâu phải được quan tâm Trước khi trồng cây nên cày bừa kỹ, phơi ải, đốt cỏ, lá mục để diệt mầm bệnh ký sinh Khi trồng cây phải thường xuyên làm cỏ, xới gốc, tìm ổ trứng để diệt sâu Trồng các loại cây mà sâu ưa thích để hút sâu tập trung lại giúp cho việc diệt trừ sâu dễ dàng Có thể tháo nước vào ruộng để diệt nhộng nằm tiềm ẩn trong đất Người nông dân cũng có thể dùng các loại bả chua, ngọt để thu hút sâu, bướm khi chúng phát triển nhiều Kiểm tra theo dõi ruộng rau để tìm các

ổ trứng, diệt sâu non, diệt nhộng để tránh nở thành sâu gây hại Trung bình khoảng 2 ngày diệt một lần (Hà Thị Hiến, 2003)

Trang 33

2.4.2 Sâu tơ

Sâu tơ là một loài gây hại có tính quốc tế trên cây rau thập tự Chúng có xuất hiện tại bất cứ nơi nào có cây rau họ thập tự và nó là loài có sự phân bố rộng rãi nhất trong tất các các loài bộ cánh vảy Sâu tơ gây hại là sâu non và chúng có thể di chuyển từ nơi này sang nơi khác nhờ gió Tại Nam Phi năm 1900 sâu tơ đã được đề cập vào trong các báo cáo Tuy nhiên cho đến năm 1930 sâu tơ phát triển mạnh mẽ, lúc này người ta mới thực sự quan tâm đến việc phòng trừ chúng Con người đã sử dụng nhiều các loại thuốc hóa học để phòng trừ nhưng sâu tơ rất

nhanh kháng thuốc (Malesela J B., 2013)

Sâu tơ thuộc loài Plutella xylostella, họ ngài rau, bộ cánh phấn Sâu tơ là

sâu phổ biến hại các loại rau có hoa thập tự như bắp cải, su hào Sâu tơ trưởng thành dài 6 – 7cm, có hai cánh Cánh trước có thể xòe rộng 1,3 – 1,6cm màu nâu có những sọc dọc màu sáng Cánh sau có màu xám, mép ngoài có lông Khi đứng yên cánh sâu ép vào thân tạo lên những lớp màu óng ánh Sâu tơ thường

di chuyển dựa vào chiều gió Sâu tơ sinh trưởng từ trúng, mỗi con cái có thể đẻ

từ 50 – 400 trứng Trứng sâu hình bầu dục dài 4 – 5cm, màu trắng ngà Khoảng

2 ngày đến 1 tuần sau trứng sẽ nở ra sâu non Sâu non mới nở có màu xanh nhạt, đầu màu nâu vàng, đốt chân có lông tơ Khi phát triển, sâu non dài khoảng 0,9 – 1,2cm Sâu non phát triển trong khoảng 11 – 15 ngày nếu điều kiện thuận lợi Nếu không đủ nhiệt độ thời gian phát triển của nó kéo dài 18 – 20 ngày Qua thời kỳ sâu non, sâu sẽ hóa nhộng ngay trên lá Nhộng sâu tơ màu xanh nhạt dài 0,6 – 1cm bên ngoài nhộng có lớp vỏ kén màu trắng Nhộng phát triển trong khoảng 5 – 10 ngày rùi nở thành sâu trưởng thành Mỗi chu kỳ phát triển của sâu tơ kéo dài khoảng 1 – 1,5 tháng, các lứa sâu nở ra liên tiếp trong suốt cả

vụ sau Sâu tơ gây hại chủ yếu trong suốt quá trình sâu non Những con ngài của chúng thường hoạt động vào ban đêm Ban ngày chúng đậu ở phía dưới mặt

lá Ngài cái đẻ trứng thành từng cụm 2 – 3 quả dọc gân lá Sâu khi nở, sâu non

bò lên mặt lá, đục lá để ăn Lớn lên một chút sâu ăn các biểu bì ở mặt lá tạo ra các vết mờ Khi phát triển mạnh, sâu ăn toàn bộ biểu bì tạo nên những lỗ thủng Nếu mật độ lớn thì chỉ sau 3 ngày sâu đã tàn phá các ruộng rau làm giảm năng suất Ở các vùng trồng nhiều rau, sâu tơ xuất hiện nhiều làm mất mùa Nếu không biết xử lý chúng đúng cách hoặc không phun thuốc đúng khoa học thì không những không diệt được sâu mà còn tạo ra các loại sâu kháng thuốc khó diệt trừ Vì vậy diệt sâu không nên đơn thuần bằng cách phun thuốc mà phải kết

Trang 34

hợp nhiều biện pháp như việc chọn giống kháng bệnh, lựa chon phương pháp

chăm sóc, lựa chọn thuốc sâu và sử dụng hợp lý (Hà Thị Hiến, 2003)

Việc phòng trừ sâu tơ hại rau phải tiến hành từ việc chọn giống cho đến việc chăm sóc khi rau trưởng thành Chọn những giống rau có khả năng chống chịu sâu tơ tốt Nếu không có những giống có đủ sức đề kháng sâu tơ thì nên chọn những giống có đủ sức đề kháng sâu tơ thì nên chọn những loại giống tốt, không

có những vết bệnh để gieo trồng Trồng xen canh các loại cây khác nhau để sâu bệnh không thể luân phiên phát triển Nếu ruộng trồng các loại rau họ hoa thập tự thì nên xen canh các cây họ cà, cây lương thực Lúc tưới nước nên tưới thẳng lên mặt lá cũng có thể làm giảm tác hại do sâu tơ gây hại Thường xuyên giữ vệ sinh ruộng vườn, nên dọn sạch cỏ (có thể đốt thành tro) đề diệt trừ mầm bệnh Sử dụng các loài sinh vật có ích trên đồng ruộng để diệt sâu Bảo tồn các loài như ếch nhái, các loài thiên địch là biện pháp an toàn và tiện lợi Sử dụng các chế phẩm vi sinh

để trừ sâu và bảo vệ các loài có ích Dùng các loài sâu hóa học Việc dùng các

thuốc hóa học phải hợp lý và đúng liều lượng (Hà Thị Hiến, 2003)

2.4.3 Sâu xanh bướm trắng

Sâu xanh bướm trắng được biết đến từ những năm 1860 tại Cannada, sau

đó lan rộng ra nước Mỹ (Britton W E and Lowry Q S., 1916) Sâu xanh bướm trắng là một loài sâu gây hại phổ biến trên rau họ thập tự ở Estonia Trong điều kiện tự nhiên ở Estonia chúng có thể sinh sản 2 lứa/năm Lứa đầu chúng ăn thức

ăn chủ yếu của chúng là các loài cỏ dại họ cải, lứa sau chúng gây hại chủ yếu trên cây rau họ thập tự Sâu cái trưởng thành có thể đẻ 300 – 400 trứng, tuy nhiên đôi khi số lượng trứng có thể lên tới 1000 trứng Sâu non gây hại mạnh bằng cách ăn chụi lá, riêng trên bắp cải sâu xanh bướm trứng ban đầu gây hại trên lá ngoài và

về sau còn có thể chui vào bên trong để gây hại (Jõgar et al., 2009)

Theo Ngô Thị Hạnh s âu xanh bướm trắng thường phát sinh mạnh trong các tháng ít mưa Để phòng trừ chúng có thể dùng vợt bắt bướm, ngắt nhộng trên lá, thu rọn và tiêu hủy tàn dư cây trồng, luân phiên một số loại hoạt chất

sau: Abamectin; Emamectin benzoate; Matrine; Azadirachtin; Abamectin +

Chlorfluazuron; Abamectin + Alpha-cypermethrin, Abamectin +Bacillus thuringiensis (Ngô Thị Hạnh và cs., 2015)

Trang 35

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Sâu khoang (Spodotera litura)

- Sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae)

- Sâu tơ (Plutella xylostella)

3.2 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Đề tài được thực hiện tại Bộ môn Bệnh cây, khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam; viện Môi trường Nông nghiệp và khu trồng rau của hợp tác xã dịch vụ Nông nghiệp Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội

3.3 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 11/2014 – 06/2015

3.4 VẬT LIỆU, DỤNG CỤ NGHIÊN CỨU

- Rau bắp cải, su hào

Bảng 3.1 Danh mục một số chế phẩm sinh học sử dụng trong thí nghiệm

STT Tên thương mại Số lượng bào tử và hoạt chất Công ty sản xuất

Trang 36

- Dụng cụ điều tra: Panh, kính lúp cầm tay có đường kính 10 cm, bút lông, hộp nhựa hình nón cụt có kích thước 10 x 15 x 10 (cm) ,vợt bắt côn trùng, ống hút bọ nhảy, khung điều tra, sổ ghi chép

- Dụng cụ, hóa chất: Cồn 900, hộp nhựa có thể tích 30 x 20 x 15 (cm), bình phun mini (500 ml), thùng xốp, thùng có lưới che kích thước 1 x 1 x 1,5 (m) Đĩa petri kích thước 10 cm

- Vật tư, phân bón

3.5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.5.1 Điều tra tình hình sản xuất rau bắp cải, su hào tại hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội

3.5.2 Điều tra tình diễn biến một số loại sâu chính trên bắp cải su hào: sâu khoang, sâu xanh bướm trắng, sâu tơ và bọ nhảy

3.5.3 Khảo sát hiệu lực phòng trừ một số sâu hại su hào của chế phẩm nấm

Beauveria bassiana, Metarhizium anisopliae và thuốc trừ sâu sinh học

3.5.3.1 Khảo sát hiệu lực phòng trừ một số sâu hại su hào của chế phẩm nấm Beauveria bassiana, Metarhizium anisopliae và thuốc trừ sâu sinh học trong phòng thí nghiệm

a, Khảo sát hiệu lực của chế phẩm nấm Beauveria bassiana phòng trừ một số sâu hại su hào trong phòng thí nghiệm

+ Khảo sát hiệu lực phòng trừ của chế phẩm nấm Beauveria bassiana đối

với sâu khoang

+ Khảo sát hiệu lực phòng trừ của chế phẩm nấm Beauveria bassiana đối

với sâu xanh bướm trắng

+ Khảo sát hiệu lực phòng trừ của chế phẩm nấm Beauveria bassiana đối

với sâu tơ

b, Khảo sát hiệu lực của chế phẩm nấm Metarhizium anisopliae phòng trừ một

số sâu hại su hào trong phòng thí nghiệm

+ Khảo sát hiệu lực phòng trừ của chế phẩm nấm Metarhizium anisopliae

đối với sâu khoang

Trang 37

+ Khảo sát hiệu lực phòng trừ của chế phẩm nấm Metarhizium anisopliae

đối với sâu xanh bướm trắng

+ Khảo sát hiệu lực phòng trừ của chế phẩm nấm Metarhizium anisopliae

đối với sâu tơ

c, Khảo sát hiệu lực của thuốc sinh học chứa hoạt chất Abamectin phòng trừ một

số sâu hại su hào trong phòng thí nghiệm

+ Khảo sát hiệu lực phòng trừ của thuốc sinh học chứa hoạt chất

Abamectin đối với sâu khoang

+ Khảo sát hiệu lực phòng trừ của thuốc sinh học chứa hoạt chất

Abamectin đối với sâu xanh bướm trắng

+ Khảo sát hiệu lực phòng trừ của thuốc sinh học chứa hoạt chất

Abamectin đối với sâu tơ

d, Khảo sát hiệu lực của thuốc sinh học chứa hoạt chất Emamectin benzoate phòng trừ một số sâu hại su hào trong phòng thí nghiệm

+ Khảo sát hiệu lực phòng trừ của thuốc sinh học chứa hoạt chất

Emamectin benzoate đối với sâu khoang

+ Khảo sát hiệu lực phòng trừ của thuốc sinh học chứa hoạt chất Emamectin

benzoate đối với sâu xanh bướm trắng

+ Khảo sát hiệu lực phòng trừ của thuốc sinh học chứa hoạt chất

Emamectin benzoate đối với sâu tơ

3.5.3.2 Khảo sát hiệu lực phòng trừ một số sâu hại su hào của chế phẩm nấm Beauveria bassiana, Metarhizium anisopliae và thuốc trừ sâu sinh học trong nhà lưới

a, Khảo sát hiệu lực phòng trừ sâu khoang (Spodoptera litura) hại su hào của chế

phẩm nấm Beauveria bassiana, Metarhizium anisopliae và thuốc trừ sâu sinh học

Khảo sát hiệu lực phòng trừ của các loại chế phẩm đối với sâu khoang trong nhà lưới

b, Khảo sát hiệu lực phòng trừ sâu tơ (Plutella xylostella Linnaeus) hại su hào của chế

phẩm nấm Beauveria bassiana, Metarhizium anisopliae và thuốc trừ sâu sinh học

Khảo sát hiệu lực phòng trừ của các loại chế phẩm đối với sâu tơ trong nhà lưới

Trang 38

c, Khảo sát hiệu lực phòng trừ sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae) hại su hào của chế

phẩm nấm Beauveria bassiana, Metarhizium anisopliae và thuốc trừ sâu sinh học

Khảo sát hiệu lực phòng trừ của các loại chế phẩm đối với sâu xanh bướm trắng trong nhà lưới

3.5.3.3 Khảo sát hiệu lực phòng trừ một số sâu hại su hào của chế phẩm nấm Beauveria bassiana và thuốc trừ sâu sinh học ở ngoài đồng ruộng

a, Khảo sát hiệu lực phòng trừ sâu khoang (Spodoptera litura) hại su hào của chế

phẩm nấm Beauveria bassiana và thuốc trừ sâu sinh học chứa hoạt chất Emamectin benzoate ở ngoài đồng ruộng

Khảo sát hiệu lực phòng trừ của các chế phẩm sinh học khi thí nghiệm ngoài đồng ruộng đối với sâu khoang

b, Khảo sát hiệu lực phòng trừ sâu tơ (Plutella xylostella Linnaeus) hại su hào của chế

phẩm nấm Beauveria bassiana và thuốc trừ sâu sinh học chứa hoạt chất Emamectin benzoate ở ngoài đồng ruộng

Khảo sát hiệu lực phòng trừ của các chế phẩm sinh học khi thí nghiệm ngoài đồng ruộng đối với sâu tơ

c, Khảo sát hiệu lực phòng trừ sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae) hại su hào của

chế phẩm nấm Beauveria bassiana và thuốc trừ sâu sinh học chứa hoạt chất Emamectin benzoate ở ngoài đồng ruộng

Khảo sát lực phòng trừ của các chế phẩm sinh học khi thí nghiệm ngoài đồng ruộng đối với sâu xanh bướm trắng

3.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.6.1 Điều tra tình hình sản xuất rau bắp cải, su hào vụ đông xuân năm

2014 – 2015 tại Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội

Xây dựng bảng câu hỏi, sử dụng bảng câu hỏi để phỏng vấn nông dân

3.6.2 Điều tra tình hình một số sâu hại chính trên bắp cải, su hào vụ đông xuân năm 2014 – 2015 tại Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội

Điều tra cố định ngay từ đầu vụ Điều tra tại các ruộng trồng rau bắp cải,

su hào tại khu vực trồng rau của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội

Trang 39

Điều tra theo phương pháp điều tra quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây rau họ hoa thập tự; QCVN 01-169:2014/BNNPTNT

Điều tra theo 5 điểm theo đường chéo góc, và cách bờ 2 m trên ruộng điều tra Mỗi điểm điều tra 1m2 Điều tra định kỳ 7 ngày/lần Điều tra sâu khoang, sâu xanh bướm trắng, sâu tơ và bọ nhảy gây hại gây hại trực tiếp trên rau bắp cải, su hào trên các ruộng trồng rau

3.6.3 Chuẩn bị sâu để làm thí nghiệm

Chúng tôi tiến hành thu bắt sâu tơ, sâu xanh bướm trắng từ trên ruộng bắp cải, su hào có mật độ sâu cao, riêng sâu khoang tiến hành nuôi nhân tạo (để sâu vào nhộng, khi nhộng đã vũ hóa thành bướm, cho bướm ghép đôi giao phối, đẻ trứng, trứng sâu nở thành sâu con tiến hành nuôi nhân tạo đến tuổi 2, 3) để làm thí nghiệm

3.6.4 Phương pháp thí nghiệm trong phòng

3.6.4.1 Khảo sát hiệu lực của chế phẩm nấm Beauveria basssiana phòng trừ một số loại sâu chính hại su hào trong phòng thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí riêng rẽ đối với 3 loại sâu (sâu khoang, sâu tơ, sâu xanh bướm trắng) như sau:

+ Dùng các hộp nhựa có đường kính 15 cm, chiều cao 10 cm có nắp đậy Nắp được dùng kim chích rất nhiều các lỗ nhỏ để đảm bảo sâu thí nghiệm không

bị chết vì ngạt khí

+ Dùng bút lông thả sâu vào hộp, mỗi loại sâu là 30 con, tuổi 2-3 Thí nghiệm được tiến hành lặp lại 3 lần:

- Công thức 1: Chế phẩm nấm Beauveria basssiana 6x109 bt/g 1%

- Công thức 2: Chế phẩm nấm Beauveria basssiana 6x109 bt/g 1,5%

- Công thức 3: Chế phẩm nấm Beauveria basssiana 6x109 bt/g 2%

- Công thức 4: Chế phẩm nấm Beauveria basssiana 6x109 bt/g 2,5%

- Công thức 5: Đối chứng phun nươc lã

+ Công thức 1 cân 1 gam, công thức 2 cân 1,5 gam, công thức 3 cân 2 gam

và công thức 4 cân 2,5 gam chế phẩm nấm Beauveria basssiana 6x109 bt/g, lần lượt đem lượng chế phẩm đã cân hòa với 100 ml nước, lọc lấy dịch dùng bình phun cầm tay, phun ướt đều lá và sâu trong hộp

+ Các hộp thí nghiệm được đặt ở trong phòng

Trang 40

+ Hàng ngày dùng lá su hào bánh tẻ hoặc non để bổ sung thức ăn cho chúng Thường xuyên kiểm tra độ ẩm (nếu khô quá cần phun sương)

Theo dõi số lượng sâu còn sống sau phun 1 ngày, 3 ngày, 5 ngày và 7 ngày

3.6.4.2 Khảo sát hiệu lực của chế phẩm nấm Metarhizium anisopliae phòng trừ một số loại sâu chính hại rau su hào trong phòng thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí riêng rẽ trên 3 loại sâu trên như sau:

+ Dùng các hộp nhựa có đường kính 15 cm, chiều cao 10 cm có nắp đậy Nắp được dùng kim chích rất nhiều các lỗ nhỏ để đảm bảo sâu thí nghiệm không

bị chết vì ngạt khí

+ Dùng bút lông thả sâu vào hộp, mỗi loại sâu là 30 con, tuổi 2-3 Thí nghiệm được tiến hành lặp lại 3 lần:

- Công thức 1: Chế phẩm nấm Metarhizium anisopliae 6x109 bt/g 1%

- Công thức 2: Chế phẩm nấm Metarhizium anisopliae 6x109 bt/g 1,5%

- Công thức 3: Chế phẩm nấm Metarhizium anisopliae 6x109 bt/g 2%

- Công thức 4: Chế phẩm nấm Metarhizium anisopliae 6x109 bt/g 2,5%

- Công thức 5: Đối chứng phun nước lã

+ Công thức 1 cân 1 gam, công thức 2 cân 1,5 gam, công thức 3 cân 2 gam

và công thức 4 cân 2,5 gam chế phẩm nấm Metarhizium anisopliae 6x109 bt/g, lần lượt đem lượng chế phẩm đã cân hòa với 100 ml nước, lọc lấy dịch, dùng bình phun cầm tay, phun ướt đều lá và sâu trong hộp

+ Các hộp thí nghiệm được đặt ở trong phòng

+ Hàng ngày dùng lá su hào bánh tẻ hoặc non để bổ sung thức ăn cho chúng Thường xuyên kiểm tra độ ẩm (nếu khô quá cần phun sương)

Theo dõi số lượng sâu còn sống sau phun 1 ngày, 3 ngày, 5 ngày và 7 ngày

3.6.4.3 Khảo sát hiệu lực của thuốc chứa hoạt chất abamectin phòng trừ một

số loại sâu chính hại rau su hào trong phòng thí nghiệm

Đối với thí nghiệm thuốc chứa hoạt chất Abamectin chúng tôi lựa chọn

thuốc Phumai 3,6EC Thuốc Phumai 3,6EC do Công ty CP ĐTKTNN và PTNT

Trung ương sản xuất Thuốc Phumai 3,6EC chứa hoạt chất Abamectin với hàm

lượng 3,6% Phumai 3,6EC có tác dụng tiếp xúc và vị độc, phòng trừ được nhiều loại côn trùng gây hại trên cây trồng như: Sâu xanh da láng hại cây lạc, sâu tơ hại bắp cải, dòi đục lá cà chua…

Thí nghiệm được bố trí riêng rẽ trên 3 loại sâu trên như sau:

Ngày đăng: 16/11/2018, 23:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w