Bên cạnh đó, hiện nay với sự phát triển của công nghệ sinh học, việc chế biến phụ phẩm của ngành trồng trọt thành các loại phân hữu cơ sinh học đã trở nên dễ dàng và đem lại hiệu quả cao
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THÁI HƯNG
ẢNH HƯỞNG CỦA PHỤ PHẨM CÂY THUỐC LÁ ĐƯỢC XỬ LÝ BẰNG CHẾ PHẨM SINH HỌC
ĐẾN GIỐNG LÚA VT404 TẠI KIẾN THỤY - HẢI PHÒNG
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Tuấn Anh
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thái Hưng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè,
đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới TS Phạm Tuấn Anh - Bộ môn Sinh sý thực vật, Khoa Nông học, Học viện
Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo
điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ
môn Sinh lý thực vật, Khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức xã Ngũ Phúc, huyện
Kiến Thụy, TP Hải Phòng đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện
đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thái Hưng
Trang 4
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục hình ix
Trích yếu luận văn x
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Giả thuyết khoa học 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Phạm vi nghiên cứu 2
1.5 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
1.5.1 Những đóng góp mới: 2
1.5.2 Ý nghĩa khoa học 2
1.5.3 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và ở Việt Nam 3
2.1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới 3
2.1.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam 4
2.2 Giới thiệu chung về phân bón hữu cơ 6
2.2.1 Phân loại và tiêu chuẩn phân hữu cơ 6
2.2.2 Tình hình sử dụng và nghiên cứu về phân hữu cơ ở Việt Nam 13
2.3 Cơ sở của việc xử lý phụ phẩm nông nghiệp thành phân hữu cơ bằng phương pháp sinh học 17
2.3.1 Cơ sở khoa học của việc xử lý phụ phẩm nông nghiệp bằng vi sinh vật 17
2.3.2 Vai trò của vi sinh vật hữu hiệu trong chế tạo phân hữu cơ 19
2.4 Các nghiên cứu xử lý phụ phẩm nông nghiệp liên quan đến đề tài trên thế giới và ở Việt Nam 21
2.4.1 Nghiên cứu xử lý phụ phẩm nông nghiệp bằng phương pháp sinh học trên thế giới 21
2.4.2 Nghiên cứu xử lý phụ phẩm nông nghiệp bằng phương pháp sinh học ở Việt Nam 23
2.5 Giới thiệu, khả năng ứng dụng của chế phẩm sinh học Fito-Biomir RR và Emina 27
2.5.1 Chế phẩm EMINA 27
Trang 52.5.2 Chế phẩm Fito-Biomir RR 28
2.6 Khảo sát tình hình sử dụng phụ phẩm thuốc lá hiện nay 28
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 30
3.1 Địa điểm nghiên cứu 30
3.2 Thời gian nghiên cứu 30
3.3 Đối tượng/vật liệu nghiên cứu 30
3.4 Nội dung nghiên cứu 30
3.5 Phương pháp nghiên cứu 30
3.5.1 Bố trí thí nghiệm 30
3.5.2 Các biện pháp kỹ thuật 32
3.5.3 Các chỉ tiêu theo dõi 33
3.5.4 Phương pháp xử lý số liệu 36
Phần 4 Kết quả và thảo luận 37
4.1 Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học xử lý phụ phẩm cây thuốc lá thành phân bón hữu cơ 37
4.1.1 Biến động của nhiệt độ của các đống ủ 37
4.1.2 Biến động pH của các đống ủ 38
4.1.3 Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học xử lý phụ phẩm cây thuốc lá đến thành phần hóa học của phân hữu cơ 39
4.1.4 Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học xử lý phụ phẩm cây thuốc lá đến tính chất cảm quan của phân hữu cơ 41
4.2 Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ phụ phẩm thuốc lá đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và khả năng chống chịu sâu bệnh giống lúa VT404 vụ mùa năm 2015 tại Kiến Thụy, Hải Phòng 42
4.2.1 Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ phụ phẩm thuốc lá đến thời TGST của giống lúa VT404 vụ Mùa năm 2015 tại Kiến Thụy, Hải Phòng 42
4.2.2 Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ phụ phẩm thuốc lá đến chiều cao cây của giống lúa VT404 vụ Mùa năm 2015 tại Kiến Thụy, Hải Phòng 43
4.2.3 Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ phụ phẩm thuốc lá đến động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống lúa VT404 vụ Mùa năm 2015 tại Kiến Thụy, Hải Phòng 45
4.2.4 Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ phụ phẩm thuốc lá đến động thái để nhánh của giống lúa VT404 vụ Mùa năm 2015 tại Kiến Thụy, Hải Phòng 46
4.2.5 Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ phụ phẩm thuốc lá đến HSĐN và HSĐNHH của giống lúa VT404 vụ Mùa năm 2015 tại Kiến Thụy, Hải Phòng 47
Trang 64.2.6 Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ phụ phẩm thuốc lá đến chỉ số diện
tích lá (LAI) của giống lúa VT404 vụ Mùa năm 2015 tại Kiến Thụy,
Hải Phòng 48
4.2.7 Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ phụ phẩm thuốc lá đến khả năng tích lũy chất khô của giống lúa VT404 vụ Mùa năm 2015 tại Kiến Thụy, Hải Phòng 50
4.2.8 Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ phụ phẩm thuốc lá đến tốc độ tích lũy chất khô của giống lúa VT404 vụ Mùa năm 2015 tại Kiến Thụy, Hải Phòng 51
4.2.9 Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ phụ phẩm thuốc lá đến hiệu suất quang hợp thuần (NAR) của giống lúa VT404 vụ Mùa năm 2015 tại Kiến Thụy, Hải Phòng 52
4.2.10 Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ phụ phẩm thuốc lá đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa VT404 vụ Mùa năm 2015 tại Kiến Thụy, Hải Phòng 53
4.2.11 Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ phụ phẩm thuốc lá đến NSSVH và HSKT của giống lúa VT404 vụ Mùa năm 2015 tại Kiến Thụy, Hải Phòng 57
4.2.12 Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ phụ phẩm thuốc lá đến sâu bệnh hại của giống lúa VT404 vụ Mùa năm 2015 tại Kiến Thụy, Hải Phòng 58
4.3 Hiệu quả kinh tế của giống lúa VT404 khi sử dụng phân bón hữu cơ xử lý từ phụ phẩm cây thuốc lá bằng chế phẩm sinh học 59
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 61
5.1 Kết luận 61
5.2 Kiến nghị 61
Tài liệu tham khảo 62
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CCCC Chiều cao cuối cùng
CSDL Chỉ số diệp lục
CV% Hệ số biến động (Coefficient of
variation) HSĐN Hệ số đẻ nhánh
HSĐNHH Hệ số đẻ nhanh hữu hiệu
NSLT Năng suất lý thuyết
NSTT Năng suất thực thu
P1000 Khối lượng 1000 hạt
TGST Thời gian sinh trưởng
TLCK Tích lũy chất khô
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của thế giới giai đoạn từ
2008-2014 4 Bảng 2.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam từ năm 2008-2014 5 Bảng 2.3 Khuyến cáo lượng phân hữu cơ cho một số loại cây trồng 14 Bảng 2.4 Hiệu suất phân chuồng bón cho lúa ở đồng bằng sông Hồng và sông
Cửu Long (kg thóc/tấn phân chuồng) 15 Bảng 4.1 Diễn biến nhiệt độ trong đống ủ của thí nghiệm 37 Bảng 4.2 Biến động pH trong đống ủ của các công thức thí nghiệm 38 Bảng 4.3 Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học xử lý phụ phẩm cây thuốc lá đến
thành phần hóa học của phân hữu cơ 40 Bảng 4.4 Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học xử lý phụ phẩm cây thuốc lá đến
tính chất cảm quan của phân hữu cơ 41 Bảng 4.5 Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ phụ phẩm thuốc lá đến TGST
của giống lúa VT404 vụ Mùa năm 2015 tại Kiến Thụy, Hải Phòng 43 Bảng 4.6 Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ phụ phẩm thuốc lá đến chiều cao
cây của giống lúa VT404 vụ Mùa năm 2015 tại Kiến Thụy, Hải Phòng 44 Bảng 4.7 Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ phụ phẩm thuốc lá đến tốc độ
tăng trưởng chiều cao cây của giống lúa VT404 vụ Mùa năm 2015 46 Bảng 4.8 Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ phụ phẩm thuốc lá đến động
thái đẻ nhánh của giống lúa VT404 vụ Mùa năm 2015 tại Kiến Thụy 47 Bảng 4.9 Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ phụ phẩm thuốc lá đến
HSĐN và HSĐNHH của giống lúa VT404 vụ Mùa năm 2015 tại
Kiến Thụy, Hải Phòng 48 Bảng 4.10 Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ phụ phẩm thuốc lá đến LAI của
giống lúa VT404 vụ Mùa năm 2015 tại Kiến Thụy, Hải Phòng 49 Bảng 4.11 Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ phụ phẩm thuốc lá đến khả năng
tích lũy chất khô của giống lúa VT404 tại Kiến Thụy, Hải Phòng 50 Bảng 4.12 Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ phụ phẩm thuốc lá đến tốc độ
tích lũy chất khô của giống lúa VT404 vụ Mùa năm 2015 52 Bảng 4.13 Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ phụ phẩm thuốc lá đến NAR
của giống lúa VT404 vụ Mùa năm 2015 tại Kiến Thụy, Hải Phòng 53
Trang 9Bảng 4.14 Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ phụ phẩm thuốc lá đến khả
năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa VT404 vụ
Mùa năm 2015 tại Kiến Thụy, Hải Phòng 54 Bảng 4.15 Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ phụ phẩm thuốc lá đến NSSVH
và HSKT của giống lúa VT404 vụ Mùa năm 2015 57 Bảng 4.16 Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ phụ phẩm thuốc lá đến sâu
bệnh hại của giống lúa VT404 vụ Mùa năm 2015 58 Bảng 4.17 Hiệu quả kinh tế của giống lúa VT404 khi sử dụng phân bón hữu cơ
xử lý từ phụ phẩm cây thuốc lá bằng chế phẩm sinh học 59
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Sản xuất lúa gạo thế giới phân theo khu vực 3 Hình 4.1 Diễn biến nhiệt độ trong đống ủ của các công thức thí nghiệm 38 Hình 4.2 Biến động pH trong đống ủ của các công thức thí nghiệm 39 Hình 4.3 Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ phụ phẩm thuốc lá đến chiều
cao cây cuối cùng của giống lúa VT404 vụ Mùa năm 2015 45 Hình 4.4 Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ phụ phẩm thuốc lá đến LAI của
giống lúa VT404 vụ Mùa năm 2015 tại Kiến Thụy, Hải Phòng 49 Hình 4.5 Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ phụ phẩm thuốc lá đến khả
năng tích lũy chất khô của giống lúa VT404 tại Kiến Thụy, Hải Phòng 51 Hình 4.6 Ảnh hưởng của phân hữu cơ xử lý từ phụ phẩm thuốc lá đến NSLT
và NSTT của giống lúa VT404 vụ Mùa năm 2015 tại Kiến Thụy 54
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Ảnh hưởng của phụ phẩm thuốc lá được xử lý bằng chế phẩm sinh học đến giống
lúa VT404 tại Kiến Thụy, Hải Phòng
Đề tài được thực hiện nhằm xác định được biện pháp kỹ thuật xử lý phụ phẩm cây thuốc lá bằng chế phẩm vi sinh vật thành phân hữu cơ và sử dụng cho giống lúa VT404 tại Kiến Thụy, Hải Phòng
Thí nghiệm ảnh hưởng của chế phẩm sinh học đến phụ phẩm thuốc lá gồm 4 công thức: CT1- Phụ phẩm thuốc lá tưới nước (đối chứng); CT2- Phụ phẩm thuốc lá xử
lý Fito-Biomix RR 0,4%; CT3- Phụ phẩm thuốc lá xử lý Phun EMINA 3%; và CT4- Phụ phẩm thuốc lá xử lý hỗn hợp Fito-Biomix RR 0,4% và EMINA 3% Mỗi công thức thí nghiệm được tiến hành để xử lý 1 tấn phụ phẩm thuốc lá và bổ sung thêm 1kg urê, 1kg supe lân, 1kg kali clorua Trong các công thức nghiên cứu, công thức xử lý phụ phẩm thuốc lá kết hợp phun Fito-Biomix RR 0,4% và EMINA 3% cho hiệu quả cao nhất, đạt tiêu chuẩn để sản xuất phân hữu cơ
Thí nghiệm ảnh hưởng của phụ phẩm thuốc lá được xử lý chế phẩm visinh vật đến giống lúa VT404 tại Kiến Thụy- Hải Phòng gồm 3 công thức: CT1 – Nền NPK (đối chứng); CT2- Nền + phân HC từ phụ phẩm thuốc lá được kết hợp phun Fito-Biomix RR 0,4% và EMINA 3% (6 tấn/ha); CT3- Nền + phụ phẩm thuốc lá thô (6 tấn/ha) Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB); mỗi công thức 3 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc lại là 1 ô, diện tích mỗi ô là 10m2 Nền NPK (cho 1ha): 100kg N + 90kg P2O5 + 100kg K2O Kết quả cho thấy công thức bón phân hữu cơ được ủ từ phụ phẩm thuốc lá kết hợp phun Fito-Biomix RR 0,4% + Phun EMINA 3% với liều lượng 6 tấn/ha
có các chỉ tiêu sinh trưởng, sinh lý và các yếu tố cấu thành năng suất cao hơn các công thức khác, năng suất đạt 66 tạ/ha và thu nhập thuần đạt 18.667.000 đồng/ha và hiệu quả kinh tế cao hơn đối chứng 8.060.000 đồng/ha
Trang 12THESIS ABSTRACT
Effect of compost made from tobacco by-product treated by
effective microorganisms on VT404 variety rice in Kien Thuy, Hai Phong
This study was conducted to determine the processing techniques for treating tobacco by-products using effective microorganisms to compost and its effect on VT404 variety rice in Kien Thuy, Hai Phong
The fisrt experiment including 4 treatments: CT1- Tobacco by-products treated
by water (control); CT2- Tobacco by-products treated by 0.4%Fito-Biomix RR; CT3- Tobacco by-products treated by 3% EMINA; CT4- Tobacco by-products treated by mixing of 0.4% Fito-Biomix RR with 3% EMINA Each recipe is handled 1 ton of tobacco byproducts and add 1 kg urea, 1 kg superphosphate, 1 kg potassium chloride Among 4 treatments, the tobacco by-products treated by mixing of 0.4% Fito-Biomix
RR with 3%EMINA showed significantly efficieny to produce organic fertilizer
The effect of compost made from tobacco by-products treated by effective microorganisms on VT404 variety rice in Kien Thuy, Hai Phong was arranged in complete randomized block design (RCB) with 3 treatments including CT1- NPK (no application of compost from tobaco by-product as control); CT2- NPK + organic fertilizer made from tobacco by-products treated by mixing of 0.4% Fito-Biomix RR with 3% EMINA (6 tons per ha); CT3- NPK + crude tobacco by-products (6 tons per ha) Each recipe was 3 replicates and each replicate is one cell, each area cell is 10m2 NPK - platform per ha using 100kg N + 100kg 100kg K 2 O + 90 kg P 2 O 5 And the results show that the highest yield (66 tonnes per ha) and the highest economic efficiency 18.67 millions VND (8 millions VND higher than control) were obtained when the VT404 variety rice were treated by 6 tonnes per ha of organic fertilizer made from tobaco by-product treated by mixing of 0.4% Fito-Biomix RR with 3%EMINA
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cây lúa (Oryza sativa L.) là cây trồng có từ lâu đời và gắn liền với quá trình
phát triển của loài người Có thể nói con đường lúa gạo là một bộ phận lịch sử văn hoá của châu Á, từ rất xa xưa giữa các nước châu Á, Trung cận Đông và cả châu Âu đã có một số con đường giao lưu vật tư được khai thông và lúa gạo cũng theo đó mà phát tán đi khắp nơi Đến nay cây lúa đã trở thành cây lương thực chính của Châu Á nói chung, người Việt Nam ta nói riêng và có vai trò quan trọng trong nét văn hoá ẩm thực của dân tộc ta Tại Việt Nam, cây lúa có truyền thống sản xuất lâu đời, có vai trò quan trọng thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển Lúa đảm bảo lương thực cho hầu hết dân số, vừa đóng góp vào việc đưa Việt Nam trở thành một quốc gia xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới Những năm gần đây, năng suất và sản lượng lúa của toàn miền Bắc khá ổn định, bảo đảm an ninh lương thực
Hải Phòng là thành phố cảng, thành phố công nghiệp nhưng diện tích trồng lúa của Hải Phòng vẫn đạt trên 37,000 ha; năng suất lúa bình quân thuộc tốp cao trong cả nước (khoảng 69 tạ/ha so với trung bình cả nước khoảng 67 tạ/ha) Ngoài ra, Hải Phòng còn nổi tiếng là vùng đất thích hợp trong việc trồng cây thuốc lào và cây thuốc lá với các nhà máy lớn như Công ty Cổ phần Thuốc lá Hải Phòng, Nhà máy chế biến thuốc lá xuất khẩu Devyt … Theo thông tin từ nhà sản xuất, công suất của nhà máy mỗi năm cho ra 24.000 tấn nguyên liệu và khoảng 1.200 tấn phụ phẩm Phụ phẩm bao gồm: cuống lá, mép lá, gân lá, vụn thuốc lá khi thái, bụi thuốc lá,…Qua khảo sát thực tế tại các nhà máy thuốc lá hiện nay việc xử lý các nguồn phụ phẩm thừa này chưa triệt để và có phương án tối ưu Hầu hết các phụ phẩm sau khi thu gom được tập kết ra các bãi đất trống để chờ
xử lý tiêu hủy bốc mùi rất khó chịu ra môi trường xung quanh tiềm ẩn quy cơ gây
ô nhiễm môi trường rất lớn
Bên cạnh đó, hiện nay với sự phát triển của công nghệ sinh học, việc chế biến phụ phẩm của ngành trồng trọt thành các loại phân hữu cơ sinh học đã trở nên dễ dàng và đem lại hiệu quả cao trong sản xuất nông nghiệp cũng như giải quyết các vấn đề về môi trường Trước thực tế đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài “Ảnh hưởng của phụ phẩm cây thuốc lá được xử lý bằng chế phẩm sinh
học đến giống lúa VT404 tại Kiến Thụy - Hải Phòng”
Trang 141.2 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Việc sử dụng các chế phẩm sinh học như Fito-Biomix RR 0,4%, EMINA 3% để xử lý nguồn phụ phẩm trong nông nghiệp như rơm rạ, xác thực vật, bã thải trong các làng nghề chế biến miến dong, phế thải trong chăn nuôi,….đang được nhiều địa phương áp dụng Trong quá trình sản xuất thuốc lá, để xử lý phụ phẩm
dư thừa, sử dụng kết hợp Fito-Biomix RR 0,4%, EMINA 3% sẽ mang lại hiệu quả cao nhất
1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Xác định được chế phẩm sinh học tốt để xử lý phụ phẩm cây thuốc lá thành phân bón và đánh giá ảnh hưởng của phân hữu cơ từ phụ phẩm thuốc lá đến giống lúa VT404 tại Kiến Thụy, Hải Phòng
1.5.2 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp những dẫn liệu khoa học về việc
có thể chế biến phụ phẩm thuốc lá thành phân hữu cơ và tác dụng của nó đến sinh trưởng, phát triển và phòng trừ sâu bệnh của cây lúa
- Kết quả đề tài sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác giảng dạy và nghiên cứu về việc sử dụng phụ phẩm thuốc lá làm phân bón cho cây lúa
1.5.3 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
- Xác định được biện pháp xử lý nguồn phụ phẩm thuốc lá làm phân bón cho cây trồng, đặc biệt là cây lúa nhằm góp phần xử lý nguồn phụ phẩm cho nhà máy giảm ô nhiễm môi trường
- Mở ra hướng đi mới trong việc sản xuất và sử dụng phân bón hữu cơ từ phụ phẩm thuốc lá để tăng hiệu quả và khả năng phòng trừ sâu bệnh trong sản xuất nông nghiệp
Trang 15PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
2.1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Lúa là cây lương thực chính của nhiều quốc gia trên thế giới vì khả năng thích nghi rộng với nhiều điều kiện sinh thái khác nhau Theo thống kê thì hiện nay trên thế giới có khoảng trên 100 quốc gia trồng và sản xuất lúa gạo Sản xuất lúa gạo trên thế giới phân theo khu vực được thể hiện ở hình 2.1:
Hình 2.1 Sản xuất lúa gạo thế giới phân theo khu vực
Qua hình 2.1 cho thấy: hiện nay sản xuất lúa gạo trên thế giới tập trung chủ yếu ở Châu Á Sản xuất lúa gạo của Châu Á chiếm 90,4% sản xuất lúa gạo toàn thế giới, tiếp đó là Châu Mỹ chiếm 5,0% và Châu Phi chiếm 3,9%, Châu Đại
Dương và Châu Âu chỉ chiếm 0,7%
Về tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới giai đoạn từ năm 2008-2014
được thể hiện ở bảng 2.1:
Qua bảng 2.1 ta có thể thấy:
Về diện tích trên thế giới: Diện tích trồng lúa trên thế giới giai đoạn
2008-2014 luôn tăng, giảm không ổn định So với năm 2008 thì diện tích trồng lúa trên thế giới năm 2014 đã tăng thêm 3,2 triệu ha
Về năng suất lúa thế giới: Bắt đầu từ năm 2011 năng suất lúa thế giới có bước tăng trưởng khá mạnh So với năm 2008 thì đến năm 2014 năng suất lúa trung bình thế giới đã tăng thêm 2,4 tạ/ha và sự tăng trưởng khá ổn định Năng suất lúa trung bình thế giới hiện nay đạt khá cao là 45,4 tạ/ha
Trang 16Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của thế giới giai đoạn
Nguồn: FAO STAT (2016)
Về sản lượng: Cùng với sự ổn định về diện tích và tăng dần về năng suất thì sản lượng lúa của thế giới tăng trưởng đều qua các năm Đến năm
2014 tổng sản lượng lúa trên thế giới đạt 740,1 triệu tấn, tăng xấp xỉ 7% so
với năm 2008
Hiện nay 5 nước có sản lượng lúa gạo lớn nhất trên thế giới lần lượt là Trung quốc, Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh và Việt Nam
2.1.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
Việt Nam là nước có điều kiện khí hậu thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của nhiều loại cây trồng, trong đó có cây lúa Mặt khác, do sự bồi đắp của các con sông đã hình thành nhiều đồng bằng châu thổ tương đối bằng phẳng, màu
mỡ Đây là điều kiện rất thuận lợi trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa Chính vì vậy mà từ lâu cây lúa đã trở thành cây lương thực chủ yếu có ý nghĩa đáng kể trong nền kinh tế xã hội của đất nước Tình hình sản xuất lúa gạo của nước ta các năm gần đây được thể hiện ở bảng 2.2:
Trang 17Bảng 2.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam từ năm 2000-2014
(nghìn ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Nguồn: FAO STAT (2016)
Qua bảng 2.2 cho thấy:
Về diện tích: diện tích trồng lúa của nước ta từ năm 2008-2014 có xu hướng tăng đều qua các năm Diện tích trồng lúa thấp nhất là năm 2008 (7.405,3 nghìn ha) và cao nhất là năm 2013 đạt 7.906,7 nghìn ha Năm 2014 diện tích lúa nước
ta giảm nhẹ còn 7.821,6 nghìn ha
Về năng suất: Năng suất lúa nước ta tăng dần từ năm 2008-2014 (từ 52,3 – 57,5 tạ/ha) Tăng trưởng ổn định Chính điều này làm cho tổng sản lượng lúa của nước ta từ năm 2008 đến nay luôn tăng Hiện nay sản lượng lúa của nước ta đã đạt xấp xỉ 45 triệu tấn và đứng thứ 5 trong số các nước sản xuất lúa gạo lớn trên thế giới
Về sản lượng: sản lượng lúa tăng từ 38.729,8 nghìn tấn năm 2008 lên 44.974,2 nghìn tấn năm 2014
Việt Nam đang đứng thứ 3 thế giới về xuất khẩu gạo tuy nhiên vấn đề hiện nay của ngành lúa gạo của nước ta là sản phẩm lúa gạo có giá thấp trên thị trường quốc tế do chất lượng gạo của Việt Nam thấp so với các nguồn cung cấp khác
Do nước ta thường sử dụng các giống ngắn ngày (3 tháng/vụ), thời gian sinh trưởng ngắn đã tạo ra chất lượng gạo của chúng ta luôn thấp, không đảm bảo Mặt khác hiện nay chúng ta chủ yếu sản xuất gạo hạt dài Indica nhưng hạt dài của Việt Nam luôn thấp hơn các nước khác Ở Việt Nam quy định cỡ hạt dài
Trang 18là 6,2 mm, ở vùng Đông Bắc Thái Lan giống gạo hạt dài của họ là 7 mm và có thể dài hơn Chưa kể đến việc sử dụng giống ngắn ngày ở Việt Nam khiến gạo bị bạc bụng không trong suốt như gạo của Thái Lan Ở Đông Bắc Thái Lan có đến trên 60% diện tích chỉ trồng 1 vụ/năm theo mùa mưa, ở miền Trung Thái Lan có
hồ chứa nước nhưng cũng chỉ trồng tối đa 02 vụ/năm Thời gian mỗi vụ ở Thái Lan thường kéo dài từ 4 tháng đến hơn 4 tháng nên thời gian sinh trưởng đảm bảo chất lượng gạo tốt Giống gạo thơm cao cấp ở Thái Lan chỉ trồng 01 vụ/năm
Từ đặc điểm và tập quán sản xuất này nên gạo Thái Lan luôn có chất lượng cao hơn gạo của Việt Nam
Chính vì vậy, để đảm bảo vấn đề an ninh lương thực và giữ vị trí xuất khẩu lúa gạo đồng thời nâng cao hiệu quả sản xuất lúa gạo thì một vấn đề cần đặt ra đó
là cần thâm canh, tăng vụ nâng cao năng suất và chất lượng lúa gạo, áp dụng các tiến bộ khoa học ỹ thuật vào trong sản xuất để giảm bớt chi phí về công lao động, tập trung nguồn lực và trí lực cho việc nghiên cứu lai tạo ra các giống lúa mới có năng suất cao, chất lượng tốt, thích ứng với các điều kiện ngoại cảnh, ít sâu bệnh, chống chịu tốt với các điều kiện ngoại cảnh bất thuận
2.2 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ PHÂN BÓN HỮU CƠ
2.2.1 Phân loại và tiêu chuẩn phân hữu cơ
* Khái niệm
Theo Trần Thị Thu Hà (2009), phân hữu cơ được hiểu rộng ra bao gồm phế phụ phẩm của cây trồng và gia súc ở các giai đoạn khác nhau của quá trình phân giải và được bón vào đất nhằm cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng và cải thiện tính chất đất Phân hữu cơ bao gồm phân chuồng, phế phụ phẩm của trồng trọt, lâm nghiệp, rác thải công nghiệp từ các ngành sản xuất như ngành sản xuất giấy, đường, bùn cống rãnh và phế phụ phẩm từ ngành chế biến nông sản
* Tác dụng của phân hữu cơ
Phân bón hữu cơ có 2 tác dụng chính: cải tạo đất và cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng (Vũ Hữu Yêm, 1995)
- Cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng
Phân bón hữu cơ cung cấp chất dinh dưỡng cần thiết cho sự sinh trưởng phát triển của cây trồng Phân hữu cơ có tác dụng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng cả về dinh dưỡng khoáng đa lượng (NPK), trung lượng (Ca2+, Mg2+…)
và vi lượng (B, Cu, Zn, Mn…) Ngoài ra nó còn cung cấp chất kích thích sinh
Trang 19trưởng như gibberelin, axindoaxetic, các enzim, vitamin, chất kháng sinh… giúp cây trồng nâng cao tính chống chịu hạn, rét, sâu bệnh
Enwall et al (2005), đã đề cập rằng sử dụng phân bón hữu cơ là một giải
pháp lâu dài vì các chất dinh dưỡng có trong phân phân hủy chậm trong đất với một chu kỳ tự nhiên và luôn có sẵn cho cây hấp thụ trong thời gian dài Hơn nữa, phân hữu cơ có chứa của nhiều chất nguyên tố cần thiết dù mỗi loại phân bón hữu cơ có có nồng độ dinh dưỡng khác nhau Bên cạnh đó khi bón phân hữu cơ vào đất làm cho tập đoàn vi sinh vật hoạt động mạnh vì cung cấp cho chúng một hàm lượng thức ăn cả về khoáng và thể hữu cơ
Bùi Đình Dinh (1993), nhận định có thể coi hữu cơ là kho chứa tổng hợp các yếu tố dinh dưỡng và luôn là nền tảng cho mọi hoạt động sống trong đất Trong hữu cơ có chứa chất mùn, chất mùn cung cấp dưỡng chất N, P, S và nguyên tố vi lượng từ từ cho cây trồng Chất mùn có khả năng trao đổi cation (CEC) và có khả năng kết hợp với nhiều ion kim loại nên giúp đất giữ cation tốt hơn Nhờ chất mùn mà các cation dinh dưỡng trong đất ít bị rửa trôi Chất mùn cải thiện cấu trúc của đất Chất mùn trong đất là một chỉ thị tốt tình trạng dinh dưỡng đạm của đất đối với cây trồng Trên 95% đạm trong lớp mặt của hầu hết các loại đất là ở dạng hữu cơ, vì vậy chất hữu cơ của đất có tương quan rất chặt với đạm tổng số của đất
Liang et al (1996), khi nghiên cứu về vai trò của chất hữu cơ đối với khả
năng hấp thụ dinh dưỡng của cây kết quả cho thấy bón phân hữu cơ tạo thành phức hệ lân – mùn trong đất làm cho lân ở trạng thái cây có thể dùng được cho
dù đất giàu Ca, Fe di động, sản phẩm CO2 sản sinh trong quá trình phân giải phân hữu cơ còn có tác dụng hòa tan những chất dinh dưỡng khó tiêu trong đất, nhất là photphat cho cây trồng sử dụng
Vũ Hữu Yêm (1995), cũng thừa nhận rằng phân hữu cơ có tác động chuyển hóa các hợp chất khó tan thành dễ tan, giải phóng được nhiều dinh dưỡng trong
Trang 20đất cho cây trồng, cơ chế của hiện tượng này do tác động của các axit hữu cơ được giải phóng tích cực với Fe trong các phosphate có hóa trị thấp hơn
Rowel and Hadad (2002), khẳng định rằng phân bón hữu cơ thay đổi cấu trúc của đất và giúp cải thiện độ tơi xốp, khả năng giữ nước và thoát nước Mùn phục vụ như một bộ đệm hiệu quả của pH đất điều hoà cân bằng giữa acid và base trong dung dịch đất (Naramabuye, Haynes and Modi, 2007)
* Phân loại
Phân hữu cơ được chia thành 2 nhóm: i) Phân hữu cơ nhà nông (truyền thống) và ii) Phân hữu cơ công nghiệp (hữu cơ khoáng, hữu cơ sinh học, phân vi
sinh và hữu cơ vi sinh)
2.2.1.1 Phân hữu cơ truyền thống
Phân hữu cơ truyền thống là loại phân có nguồn gốc từ chất thải của người, động vật hoặc từ các phế phụ phẩm trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông, lâm, thủy sản, phân xanh, rác thải hữu cơ, các loại than bùn được chế biến theo phương pháp ủ truyền thống Có thể chia phân hữu cơ truyền thống ra làm 4 nhóm: i) Phân chuồng; ii) Phân rác; iii) Than bùn và iv) Phân xanh
trung và vi lượng mà một loại phân bón vô cơ không có được Ngoài ra, phân chuồng cung cấp chất mùn làm kết cấu của đất tốt lên, tơi xốp hơn, bộ rễ phát triển mạnh, hạn chế nước bốc hơi, chống được hạn, xói mòn Tuy nhiên, phân chuồng cũng có nhược điểm như: hàm lượng chất dinh dưỡng thấp nên phải bón lượng lớn, đòi hỏi chi phí vận chuyển cao, ngoài ra nếu không chế biến kỹ có thể mang đến một số nấm bệnh cho cây trồng
Phân chuồng thường được nhà nông tự sản xuất chế biến Phương pháp ủ phân chuồng được tiến hành như sau: Phân chuồng xếp thành lớp rộng nén chặt đến khi đống phân cao 1,5-2,0 m Trát kín bùn, ở giữa chọc một lỗ hình phễu để tưới nước Ủ từ 2 đến 6 tháng Song thông thường, nên ủ phân chuồng với đất bột, với lân (bất cứ loại phân lân nào, tỷ lệ 2%), có thể thêm vôi (3-5%) cho phân nhanh hoai hơn, bớt chua, các vi sinh vật hoạt động thuận tiện hơn
lạc, trấu, bã mía, v.v chặt thành đoạn ngắn 20-30 cm, có thể ngâm nước vôi loãng 2-3 ngày trước khi ủ Phương pháp ủ phân rác được tiến hành như sau: phân rác xếp thành lớp và cứ 30 cm rắc một lớp vôi bột Trát bùn, ủ khoảng 20
Trang 21ngày, rồi đảo lại rắc phân lên men (phân bắc, phân chuồng, phân hóa học như đạm, lân) với tỷ lệ 20% Xếp đủ cao, lại trát bùn, để hở lỗ để tưới thường xuyên
Ủ 45-60 ngày và có thể dùng bón lót, còn ủ lâu hơn nữa có thể dùng để bón thúc Tùy theo nguyên liệu và kỹ thuật ủ, thành phần trung bình của phân rác là %: 0,5-0,6 N; 0,4-0,6 P2O5; 0,5-0,8 K2O; 3-6 CaO
vùi lấp lâu ngày, phân giải yếm khí, tạo thành than bùn Dùng than bùn đã được phơi khô để độn chuồng, hoặc có thể dùng để chế biến phân rác, làm chất đốt, chất cải tạo đất Than bùn thượng thành không dùng trực tiếp làm phân bón, chỉ
để ủ phân rác hoặc độn chuồng; than bùn hạ thành có độ phân giải cao (>50%) và
pH từ 5,5 trở lên có thể bón trực tiếp, nhất là dùng để làm chất cải tạo lý tính đất; than bùn chuyển tiếp là loại trung gian
Có 2 chỉ tiêu vật lý là sức chứa ẩm và mức độ phân giải để đánh giá chất lượng than bùn phục vụ cho sản xuất phân bón Kết quả nghiên cứu của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa giai đoạn năm 2002-2003 với 224 mẫu than bùn ở 3 vùng trong nước ta cho thấy:
- Hầu hết các mẫu than bùn đều có độ ẩm cao, trung bình là 42,1%, cao nhất là: 58,0% và thấp nhất là: 17,9%, trong đó, ở miền Bắc là 30,7%; vùng duyên hải Nam Trung bộ, Đông Nam bộ, Tây Nguyên là 48,5% và ở Đồng bằng sông Cửu Long 28,2% Do độ ẩm cao nên nếu sử dụng than bùn làm phân bón thì phải tốn chi phí để sấy
- Các mẫu than bùn đều khá nhuyễn, mức độ phân giải trung bình là 35,3% khối lượng mẫu là nhỏ hơn 0,2 mm; cao nhất là 44,8% và thấp nhất là 25,3% và thích hợp cho sản xuất phân bón Mức độ phân giải ở các mỏ là tương đối giống nhau và càng xuống sâu thì khả năng phân giải càng cao
Quy trình công nghệ sản xuất phân bón trên nền than bùn phổ biến là: Than bùn phơi khô, nghiền nhỏ, phối trộn vôi (nếu pH thấp), phụ gia, vi sinh vật, sau
đó ủ một thời gian rồi đóng gói thành phẩm Tùy theo đối tượng đất và cây trồng
mà có thể thay đổi tỷ lệ mùn, N, P2O5, K2O, số lượng vi sinh, v.v… trong quá trình phối trộn cho phù hợp Bón phân từ nguồn gốc than bùn có tác dụng cải tạo đất tốt song khối lượng lớn do hàm lượng chất dinh dưỡng thấp
hay vùi thẳng xuống đất để bón ruộng Đồng thời với tác dụng làm phân bón, cây phân xanh có thể phủ đất, chống xói mòn, bảo vệ đất và làm cây che bóng
Trang 22Trong quá trình phân giải của cây phân xanh (vùi trong đất) nhất là ở điều kiện ngập nước, thường phát sinh ra nhiều hợp chất độc hại đối với cây như H2S, axit butiric, CH4, C2H2, v.v do đó, cần bón vôi, lân kèm theo để hạn chế Phương pháp chế biến phân xanh thường là trộn với đất bột, phân lân, phân chuồng, trát kín bùn, ủ khoảng 1 tháng
hoặc sát trùng trước khi dùng Bình quân 1 người lớn thải ra trong 24 giờ là 133
g phân tươi, gồm có 25 g chất khô, 2 g N, 4,5 g tro, 1,35 g P2O5 và 0,64 g K2O Phân gia cầm có thể là phân gà, vịt, ngan, ngỗng, bồ câu Tỷ lệ % trong phân tươi của các gia cầm biến động như sau: Nước: 56,0-77,5%; N: 0,55-1,76%; P2O5: 0,54-1,78%; K2O: 0,62-1,00%; CaO: 0,84-2,40%; MgO: 0,20- 0,74%
động trong khoảng 1,65 –14,90%), N tổng số: 0,23% (dao động 0,11 –0,52%),
P2O5 tổng số: 0,29% (dao động 0,21- 0,48%), K2O tổng số: 0,40% (dao động 0,13-0,70%), H2S trung bình là 7,1 mg/100 g bùn (dao động 3,4 -13,6 mg/100 g) nên có thể bón cho cấy trồng
kích thước từ thô đến mịn do bị cuốn theo các dòng chảy (sông, suối) và được lắng đọng ở ven sông, cửa sông hay gần bờ biển Nước sông Hồng chứa trung bình 0,5 kg/m3 phù sa lúc bình thường và đến tháng 6, khi bắt đầu có lũ thì lên 1,8 kg/m3 và lũ to có thể đến 3,5 kg/m3 Thành phần phù sa sông Hồng như sau:
pH 7,4-7,6; mùn –0,84-1,36%; N tổng số 0,10-0,15%; P2O5 tổng số 0,13-0,17%;
K2O tổng số: 0,95- 1,43% Như vậy sử dụng nước phù sa để tưới đã cung cấp cho cây trồng, cho đất một lượng chất hữu cơ và một số các nguyên tố dinh dưỡng
của mỗi loại khô dầu mà nông dân đã sử dụng như loại phân bón hữu cơ bón vào đất để cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng
màu xám Trong nông nghiệp một số nguyên liệu thực vật như cây: sắn, bông, ngô, lá dừa, mạt cưa, v.v sau khi bị đốt có tỷ lệ tro và chất dinh dưỡng khá cao
2.2.1.2 Phân hữu cơ công nghiệp (phân hữu cơ chế biến, phân hữu cơ khoáng,
phân hữu cơ sinh học, phân vi sinh, phân hữu cơ vi sinh)
Phân hữu cơ công nghiệp là một loại phân được chế biến từ các nguồn hữu
cơ khác nhau để tạo thành phân bón tốt hơn so với bón nguyên liệu thô ban đầu
Trang 23Hiện nay có thể chia ra 5 loại phân hữu cơ công nghiệp, đó là: phân hữu cơ, phân hữu cơ khoáng, phân hữu cơ sinh học, phân vi sinh, phân hữu cơ vi sinh
nguyên liệu hữu cơ với tiêu chuẩn như sau: ẩm độ đối với phân bón dạng bột không vượt quá 25%; hàm lượng hữu cơ tổng số không thấp hơn 20%; hàm lượng đạm tổng số (Nts) không thấp hơn 2,0%; pH H2O (đối với phân hữu cơ bón qua lá) trong khoảng từ 5-7
phối trộn thêm một hoặc nhiều yếu tố dinh dưỡng khoáng, trong đó có ít nhất một yếu tố dinh dưỡng khoáng đa lượng Loại phân này được chế biến từ các nguyên liệu hữu cơ khác nhau (than bùn, mùn rác thải thành phố, phụ phẩm nông nghiệp, công nghiệp ) phơi khô, nghiền nhỏ, ủ tự nhiên Sau một thời gian đưa phối trộn với phân khoáng ở các tỷ lệ khác nhau Tiêu chuẩn bắt buộc của loại phân này như sau: Hàm lượng hữu cơ tổng số không thấp hơn 15%; ẩm độ đối với phân bón dạng bột không vượt quá 25%; hàm lượng Nts + P2O5hh + K2Ohh; Nts +
P2O5hh; Nts + K2Ohh; P2O5hh + K2Ohh không thấp hơn 8%
theo quy trình lên men có sự tham gia của vi sinh vật sống có ích hoặc các tác nhân sinh học khác Loại phân này được chế biến từ các nguyên liệu hữu cơ khác nhau (than bùn, mùn rác thải thành phố, phụ phẩm nông nghiệp, công nghiệp ) phơi khô, nghiền nhỏ, ủ lên men với vi sinh vật có tuyển chọn
Tiêu chuẩn của phân hữu cơ sinh học như sau: Hàm lượng hữu cơ tổng số không thấp hơn 22%; Ẩm độ đối với phân bón dạng bột không vượt quá 25%; hàm lượng Nts không thấp hơn 2,5%; hàm lượng axit humic (đối với phân chế biến từ than bùn) không thấp hơn 2,5% hoặc tổng hàm lượng các chất sinh học (đối với phân chế biến từ nguồn hữu cơ khác) không thấp hơn 2,0% hoặc pH
H2O (đối với phân hữu cơ sinh học bón qua lá) trong khoảng từ 5-7 Nếu phân có
bổ sung chất điều hòa sinh trưởng thì tổng hàm lượng các chất này không vượt quá 0,5%
nhiều loại vi sinh vật sống có ích bao gồm: nhóm vi sinh vật cố định đạm, phân giải lân, phân giải kali, phân giải xenlulo, vi sinh vật đối kháng, vi sinh vật tăng khả năng quang hợp và các vi sinh vật có ích khác với mật độ phù hợp với quy
Trang 24chuẩn kỹ thuật đã ban hành là mật độ mỗi chủng VSV có ích không thấp hơn 1 x
108 CFU/g (ml)
Tùy theo công nghệ sản xuất người ta có thể chia phân vi sinh thành hai loại: a) Phân vi sinh trên nền chất mang khử trùng có mật độ tế bào vi sinh hữu ích > 109 VSV/g (ml) và mật độ VSV tạp nhiễm thấp hơn 1/1.000 so với VSV hữu ích Phân bón dạng này được sử dụng dưới dạng nhiễm hạt, hồ rễ hoặc tưới phủ với liều lượng 1-1,5 kg (lít)/ha canh tác và b) Phân vi sinh trên nền chất mang không khử trùng được sản xuất bằng cách tẩm nhiễm trực tiếp sinh khối VSV hữu ích vào cơ chất không cần thông qua công đoạn khử trùng nhằm tiêu diệt các VSV có sẵn trong cơ chất Phân bón dạng này có mật độ VSV hữu ích
>106 VSV/g (ml) và được sử dụng với số lượng từ vài trăm đến hàng ngàn kg (lít)/ha
Trên cơ sở tính năng tác dụng của các chủng loại VSV sử dụng, phân bón VSV còn được gọi dưới các tên:
- Phân VSV cố định nitơ (phân đạm vi sinh, nitragin) chứa các VSV sống cộng sinh với cây bộ đậu, hội sinh trong vùng rễ cây trồng cạn hay tự do trong đất, nước có khả năng sử dụng nitơ (N) từ không khí tổng hợp thành đạm cung cấp cho đất và cây trồng
- Phân VSV phân giải hợp chất phốt pho khó tan (phân lân vi sinh, photphobacterin) sản xuất từ các VSV có khả năng chuyển hóa các hợp chất phốt pho khó tan thành dễ tiêu cho cây trồng sử dụng
- Phân VSV kích thích, điều hòa sinh trưởng thực vật chứa các VSV có khả năng sản sinh hoạt chất sinh học có tác dụng điều hòa, kích thích quá trình trao đổi chất của cây
- Phân VSV có chứa các chủng VSV đối kháng vi khuẩn/vi nấm gây bệnh vùng rễ cây trồng cạn
- Phân VSV đa chủng, phân VSV chức năng có chứa hỗn hợp các VSV có khả năng cố định nitơ, phân giải phốt phát khó tan, sinh tổng hợp hoạt chất kích thích sinh trưởng thực vật và đối kháng vi khuẩn/vi nấm gây bệnh vùng rễ cây trồng có tác dụng cung cấp dinh dưỡng và nâng cao hiệu quả sử dụng phân khoáng, đồng thời có khả năng hạn chế bệnh vùng rễ cây trồng do vi khuẩn hoặc
vi nấm gây ra, qua đó nâng cao năng suất nông sản và hiệu quả kinh tế
Trang 25v) Phân hữu cơ vi sinh: là loại phân được sản xuất từ nguyên liệu hữu cơ có chứa ít nhất một chủng vi sinh vật sống có ích với mật độ phù hợp với quy chuẩn
kỹ thuật đã ban hành, cụ thể như sau: hàm lượng hữu cơ tổng số không thấp hơn 15%; ẩm độ đối với phân bón dạng bột không vượt quá 30%; mật độ mỗi chủng VSV có ích không thấp hơn 1 x 106 CFU/g (ml)
Đối với tất cả các loại phân hữu cơ công nghiệp, các chỉ tiêu định lượng bắt buộc trong phân bón như sau: asen (As) không vượt quá 3,0 mg/kg (lit) hoặc ppm; cadmi (Cd) không vượt quá 2,5 mg/kg (lit) hoặc ppm; chì (Pb) không vượt quá 300,0 mg/kg (lit) hoặc ppm; thủy ngân (Hg) không vượt quá 2,0 mg/kg (lit)
hoặc ppm; mật độ tế bào vi khuẩn Salmonella không phát hiện trong 25 g hoặc
25 ml mẫu kiểm tra (CFU)
2.2.1.3 Hạn chế của phân hữu cơ
Ngoài những ưu điểm thì phân hữu cơ cũng có những nhược điểm như hàm lượng chất dinh dưỡng thấp nên phải bón lượng lớn, đòi hỏi chi phí lớn để vận chuyển và nếu không chế biến kỹ có thể mang đến một số nấm bệnh cho cây trồng, nhất là khi chế biến từ một số loại chất thải sinh hoạt và công nghiệp Các
vi sinh vật gây hại có trong phân bón gồm: E coli, Salmonella, Coliform là
những loại gây nên các bệnh đường ruột nguy hiểm hoặc ô nhiễm thứ cấp do có chứa các kim loại nặng hoặc vi sinh vật gây hại vượt quá mức quy định (Bùi Huy Hiền, 2014)
2.2.2 Tình hình sử dụng và nghiên cứu về phân hữu cơ ở Việt Nam
Theo dự báo, giá phân bón thế giới sẽ còn tiếp tục tăng cao trong thời gian tới và như thế lượng phân nhập khẩu vào Việt Nam sẽ rất hạn chế Trong khi theo ước tính của các chuyên gia, tổng cầu urê tại Việt Nam luôn ổn định ở mức 2,2 triệu tấn/ năm, trong khi trong nước chỉ sản xuất được khoảng 1 triệu tấn/năm (chiếm khoảng 48%) còn 52% phải nhập khẩu Như thế khả năng thiếu hụt phân bón trong nước là có thể xảy ra
Vì thế, trong thời gian tới chúng ta cần nhanh chóng thay đổi tập quán bón phân, thay thế dần việc bón đạm đơn thuần bằng việc bón phân hỗn hợp NPK, sử dụng các loại phân hữu cơ, phân hữu cơ vi sinh, các loại phân hữu cơ tận dụng từ nguồn phân xanh, phế phẩm nông nghiệp trong gia đình
Thực tế, hiện nay lượng phân hữu cơ trong nước sản xuất chưa cao, lượng phân hữu cơ còn thiếu, sử dụng phân hữu cơ chưa được tiện dụng bằng các loại
Trang 26phân vô cơ nên việc bón phân hữu cơ cho cây trồng còn chưa đủ, ngoại trừ rau và một số loại cây trồng có giá trị cao mới được nông dân đầu tư phân hữu cơ Do vậy, trong thời gian tới việc sản xuất phân hữu cơ các loại có hàm lượng dinh dưỡng cao, tiện dụng là rất cần thiết vừa hướng nông dân quen dần với việc sử dụng phân hữu cơ đồng thời làm giảm áp lực nhập khẩu phân bón
Lợi ích của việc sử dụng phân hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp đã được thực tế và nhiều công trình khoa học chứng minh trong việc duy trì độ phì nhiêu đất đai và chất lượng nông sản
Bảng 2.3 Khuyến cáo lượng phân hữu cơ cho một số loại cây trồng
Lúa nước 5-10 Lượng dùng trong 1 vụ
Khoai mì 5-7 Lượng dùng trong 1 vụ
Khoai lang 2-10 Lượng dùng trong 1 vụ
Mía 10-20 Lượng dùng trong 1 vụ
Đậu tương 10 Lượng dùng trong 1 vụ
Thuốc lá 10-15 Lượng dùng trong 1 vụ
Trà 20-30 Bón lót khi mới trồng và hàng năm Cao su 10-24 Bón lót và hàng năm Lượng dùng tùy
Trang 27Bảng 2.4 Hiệu suất phân chuồng bón cho lúa ở đồng bằng sông Hồng
và sông Cửu Long (kg thóc/tấn phân chuồng)
2 Đồng bằng sông Cửu Long 157 94 125,5
Nguồn: Dẫn theo Phạm Tiến Hoàng, Đỗ Ánh và Vũ Thị Kim Thoa (1999)
Viện Thổ nhưỡng - Nông hoá cũng đã có các công trình nghiên cứu sử dụng phụ phẩm nông nghiệp trong cơ cấu cây trồng có lúa nhằm nâng cao độ phì nhiêu đất, giảm sử dụng phân khoáng khi mà giá phân bón ngày càng tăng Các nghiên cứu được tiến hành trên nhiều loại đất: bạc màu, cát biển, đất phù sa [PS sông Hồng, sông Dinh (Khánh Hoà), sông Cửu Long (trên nền phèn-tại Cần Thơ)] đối với 2 cơ cấu trong hệ thống cây trồng có lúa: (1) Lúa xuân-Lúa mùa-Ngô đông (Bắc Giang, Hà, Nghệ An) và (2) Lúa đông xuân-Lúa xuân hè-Lúa hè thu (Khánh Hoà, Cần Thơ) Kết quả cho thấy: vùi phụ phẩm nông nghiệp đã cải thiện
độ phì nhiêu đất (hàm lượng chất hữu cơ, đạm, lân và kali dễ tiêu, dung tích hấp thu, thành phần cơ giới, độ xốp, độ ẩm, vi sinh vật tổng số, vi sinh vật phân giải xenlulô, vi sinh vật phân giải lân và vi sinh vật cố định đạm), đã tăng năng suất 6-12% so với không vùi Vùi phụ phẩm nông nghiệp có thể thay thế lượng phân chuồng cần bón cho cây trồng trong cơ cấu có lúa; giảm được 20% lượng phân đạm, lân và 30% lượng phân kali mà năng suất vẫn không giảm so với không vùi phụ phẩm Hiệu quả kinh tế tương đương với bón đầy đủ phân chuồng, phân khoáng NPK và cao hơn 5% so với chỉ bón phân khoáng NPK, lợi nhuận tăng 5-12% so với không vùi phụ phẩm (Bùi Huy Hiền, 2006)
Tiến sâu hơn một bước, tiến sĩ Lưu Hồng Mẫn và các cộng sự đã tiến hành nhiều nghiên cứu tại Viện Lúa ĐBSCL, đồng thời phối hợp thực hiện với Trung tâm giống cây trồng tỉnh Sóc Trăng và Trại giống Bình Đức, tỉnh An Giang nhằm xác định ảnh hưởng dài hạn của phân hữu cơ từ rơm rạ đối với năng suất lúa và
độ phì của đất canh tác lúa Kết quả nghiên cứu sau các vụ hè thu, đông xuân từ năm 2000 đến 2005 cho thấy khi bón kết hợp phân hữu cơ từ rơm rạ với phân hóa học thì năng suất không khác biệt so với bón hoàn toàn phân hóa học mà lại tiết kiệm được nhiều chi phí Khi bón toàn bộ số phân hữu cơ này ngay vụ đầu tiên sẽ tiết kiệm được 40% lượng phân NPK/ha Nếu bón liên tục khoảng 10 vụ
Trang 28lúa có thể tiết kiệm 80% lượng phân NPK/ha Như vậy, sử dụng phân hữu cơ từ rơm rạ không những sản lượng lúa vẫn được đảm bảo mà còn giảm số lượng phân hóa học, giúp hạn chế ô nhiễm môi trường, dần trả lại độ phì cho đất thông qua việc cung cấp chất mùn hữu cơ trong quá trình sản xuất lúa (http://www.nhanong.net/) Dự án độc lập cấp nhà nước "Hoàn thiện công nghệ chế biến phế thải các nhà máy đường làm phân bón hữu cơ vi sinh - đa vi lượng Huđavil kết hợp với xử lý ô nhiễm môi trường và cải tạo chống thoái hóa đất trồng mía" do kỹ sư Hoàng Đại Tuấn làm chủ nhiệm và Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên (Trung tâm Khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia) chủ trì đã sản xuất ra loại phân bón hữu cơ với tên gọi Huđavil Loại phân này đã được áp dụng thử nghiệm trên nhiều đối tượng cây trồng ngoài mía như lúa, chè, hồ tiêu
ở một số địa phương đạt kết quả tốt: Cho phép thâm canh tăng năng suất lúa lên 25% - 30% ở Tam Điệp (Ninh Bình), tăng năng suất chè lên 70% ở Văn Chấn, Nghĩa Lộ (Yên Bái), tăng năng suất hồ tiêu gần 100% ở Tân Lâm (Quảng Trị); một số loại cây công nghiệp trồng ở Tuyên Quang, Hà Nam, Thanh Hóa, Nghệ An năng suất tăng gấp ba lần; mía trồng ở Thạch Thành, Nông Cống (Thanh Hóa), Quảng Hà (Cao Bằng) luôn xanh tốt, chịu được hạn, giữ được đường lâu,
ít sâu bệnh nên được người dân ưa dùng loại phân bón này (Phân hữu cơ vi sinh từ phế thải mía đường, 2003)
Hoàng Hải, 2004 khi nghiên cứu về "tác động của phân hữu cơ vi sinh trên đất phù sa trồng lúa ở huyện Đông Triều, Quảng Ninh" đã đưa ra kết luận: Phân hữu cơ vi sinh (HCVS) đã làm thay đổi khả năng sinh trưởng của lúa, làm thay đổi hoạt động sinh lý (chỉ số diện tích lá, tích luỹ vật chất khô) và giữ được trị số tốt đến lúc thu hoạch Đồng thời chúng cũng có tác dụng tốt đến các yếu tố cấu thành năng suất lúa, từ đó đã làm tăng năng suất 8,2% (phân HCVS Sông Gianh)
và 12% (phân HCVS đa tác dụng, Học Viện Nông nghiệp Việt Nam) so với chỉ bón phân vô cơ đơn thuần Bên cạnh đó, khi thay đổi tỷ lệ phân vô cơ để bón phối hợp với phân HCVS thì thấy: với phân HCVS Sông Gianh có thể giảm 25% phân vô cơ; với phân HCVS đa chức năng của Học Viện Nông nghiệp Việt Nam
có thể giảm tới 50% phân vô cơ mà không ảnh hưởng đến năng suất lúa (Nguyễn Xuân Thành và cs., 2008)
Đề tài mang mã số B 2006 - 11- 23 do Nguyễn Xuân Thành và cộng sự thực hiện trên 2 đối tượng cây trồng là lúa và lạc cũng cho kết quả tương tự về phân hữu cơ vi sinh vật đa chức năng (HCVSV ĐCN) Phân HCVSV ĐCN khi
Trang 29bón kết hợp với phân khoáng đã kích thích quá trình sinh trưởng phát triển của cây lúa, làm tăng chiều cao cây (5,44 - 5,89 cm), tăng số nhánh hữu hiệu (0,25 - 0,56 nhánh), tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, tăng năng suất cây lúa (0,27 - 0,54 tấn/ha trên cả 2 loại đất là đất phù sa và đất bạc màu; hoặc khi được bón cho cây lạc xuân thì nó có tác dụng làm tăng tăng tỷ lệ nảy mầm của cây lạc lên 9 - 9,34%, tăng số lượng nốt sần tổng số 23 - 25,98%, tăng năng suất củ khô 5,16 - 5,84 tạ/ha so với đối chứng (bón 100% phân khoáng) Đề tài cũng cho biết phân HCVSV ĐCN có thể thay thế được 25 - 40 kg N/ha (tuỳ thuộc vào loại đất) (Nguyễn Xuân Thành và cs., 2008)
Các công thức bón phân cho cây lúa bao gồm: Nền (Đ/C) (100kgN +100kg
P2O5 + 80kg K2O/ha) và công thức bón kết hợp giữa Đ/C với các loại phân HCVS (Biogro, Sông Gianh, lượng bón 550kg/ha) kết quả cho thấy năng suất lúa tăng so đ/c từ 0,7-0,9 tấn/ha tương đương 13,1-17,0% (Hoàng Hải, 2007)
Tóm lại, từ năm 1960 đến nay tuy có lúc phân hữu cơ (phân sinh học) đã
có lúc tưởng chừng như bị lãng quên nhưng vẫn có rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học nông nghiệp về vấn đề sử dụng phân bón hữu cơ trong thâm canh cây trồng và hiệu quả của nó đối với chất lượng đất cũng như năng suất, chất lượng nông sản Các kết quả nghiên cứu đã chứng minh một chân lý không thể bác bỏ đó là: Trong thâm canh cây trồng, bên cạnh phân khoáng thì phân bón sinh học luôn là người bạn đồng hành có một vai trò đặc biệt quan trọng đối với độ bền sức sản xuất của đất và nâng cao năng suất, chất lượng nông sản
2.3 CƠ SỞ CỦA VIỆC XỬ LÝ PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP THÀNH PHÂN HỮU CƠ BẰNG PHƯƠNG PHÁP SINH HỌC
2.3.1 Cơ sở khoa học của việc xử lý phụ phẩm nông nghiệp bằng vi sinh vật
Phế phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp tương đối nhiều nếu ủ thành phân hữu cơ để bón cho đồng ruộng là đưa lại lợi ích kép: phát triển sản xuất bền vững, bảo vệ môi trường và sức khoẻ con người
Theo Achim Doberman và Thomas Fairhurs (2000), trong thân lá lúa vào thời kỳ chín chứa 40% tổng lượng đạm, 80-85% tổng lượng kali, 30-35% tổng lượng lân và 40-45% tổng lượng lưu huỳnh mà cây huta được Rơm rạ là nguồn hữu cơ quan trọng cung cấp KO2, Si và Zn cho cây trồng
Trang 30Về thành phần hóa học của rơm rạ: tại thời điểm thu hoạch, hàm lượng ẩm của rơm rạ thường cao tới 60%, tuy nhiên trong điều kiện thời tiết khô hanh rơm
rạ có thể trở nên khô nhanh đạt đến trạng thái độ ẩm cân bằng vào khoảng 12% Rơm rạ có hàm lượng tro cao (trên 22%) và lượng protein thấp Các thành phần hydrate cacbon chính của rơm rạ gồm lignoxenluloza (37,4%), hemicellulose (bán xenluloza - 44,9%), ligin (4,9%) và hàm lượng tro silica (silic dioxyt từ 9-14%), chính điều này gây cản trở việc sử dụng loại phế thải này một cách kinh tế Thành phần lienoxenluloza trong rơm rạ khó hủy về mặt sinh học,
10-vì vậy để xử lý đòi hỏi phải có bước tiền xử lý
Chất hữu cơ trong rơm rạ chiếm 85%, trong 50 tạ rơm rạ có từ 20-35,5kg
N, 5-7kg P2O5, 60-90kg K2O, 10-15kg CaO, 4-6kg MgO, 5-6kg S và các nguên
tố vi lượng: 28g B, 15g Cu, 150g Mn, 2g Mo, 200g Zn; 0,5g Co Lượng các nguyên tố hoá học tối quan trọng trong rơm rạ (trừ N) có khả năng đảm bảo gần như đầy đủ dinh dưỡng của cây để đảm bảo thu được trên 20 tạ/ha (Mai Văn Quyền, 2002)
Nếu để phế thải đồng ruộng phân hủy tự nhiên thì mất thời gian khá dài
Vì vậy, trong thực tế con người đã ứng dụng vai trò của vsv để phân hủy và chuyển hóa phế thải đồng ruộng giúp rút ngắn thời gian ủ Từ những thập kỷ cuối thế kỷ 20, công nghệ sinh học đã có những tiến bộ vượt bậc, những thành tựu thuộc lĩnh vực này có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sông nhân loại Ngày nay, công nghệ sinh học đã len lỏi vào rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống con người như nông nghiệp, y học, xây dựng, năng lượng môi trường, và đã khẳng định được
vị trí của nó trong thế kỷ 21
Cơ sở của phương pháp này là dựa trên đặc tính quý báu của hệ vi sinh vật
có khả năng phân giải, chuyển hoá các hợp chât hữu cơ tự nhiên (xenluloza, ligin, tinh bột, protein, ) thành các dạng vật chất dễ tan, dễ tiêu, dễ hấp thụ trong
cả điều kiện hiếu khí và kỵ khí Đặc trưng của các quá trình trao đổi chất ở vi sinh vật đã được ứng dụng từ lâu vào sản xuất các loại thực phẩm lên mem trước khi có sự hiểu biết về sự tồn tại của chúng Khả năng phân huỷ vật chất của quần thể vi sinh vật đã được sử dụng để quay vòng chất thải có trong tự nhiên Bởi vì, nếu chất thải tích tụ quá nhiều tại một vùng sinh thái sẽ cản trở khả năng tự làm sạch của vi sinh vật trong môi trường và làm ô nhiễm môi trường sống (Lương Đức Phẩm, 1998) Dựa trên cơ sở đó hàng loạt chế phẩm vi sinh được chế tạo ra với những tác dụng giúp phân giải nhanh các chất hữu cơ có trong rơm rạ như:
Trang 31xenluloza, tinh bột, ligin, protein .,thành các chất tạo chất kháng sinh để tiêu diệt hoặc ức chế một số vi sinh vật gây bệnh cho cây trồng; tạo các chất ức chế sinh trưởng hoặc tiêu diệt các vi sinh vật gây thối, làm mất mùi hôi thối; hình thành các chất kích thích sinh trưởng thực vật giúp cây trồng phát triển (Nguyễn Lân Dũng và cs., 1998)
Mặt khác, trong đống ủ compost tốc độ phân giải xenluloza được đẩy mạnh, nhiệt độ được nâng cao do đó tiêu diệt được các vi sinh vật gây bệnh cho cây trồng Chế phẩm còn có khả năng tồn tại lâu dài trong đất để tiếp tục phân giải những phần chưa được phân huỷ, có tác dung lâu dài; phát triển tốt trong các điều kiện bình thường; cạnh tranh được các vi sinh vật khác; chế phẩm có khả năng phân huỷ được cả các chất hữu cơ khô và tươi (Trần Thị Thanh, 2001)
Sử dụng vi sinh vật trong xử lý môi trường là một hướng đi đúng và đã được thế giới cũng như trong nước quan tâm với những lợi ích: thân thiện, không tạo ra các sản phẩm độc hại cho môi trường, chi phí xử lý thấp.Trong đó, chuyển hoá nguồn phế thải sau khi thu hoạch giàu xenlulozo nhờ vi sinh vật là một giải pháp hữu ích vừa tạo nguồn phân bón lớn cung cấp cho cây trồng, vừa là giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững
2.3.2 Vai trò của vi sinh vật hữu hiệu trong chế tạo phân hữu cơ
Trong cấu trúc của thực vật có 3 thành phần cơ bản xenlulo, hemi xenlulo
và lignin Các thành phần này thường có tỷ lệ không giống nhau, chúng thường liên kết với nhau tạo thành một khối và quyết định tính chất hoá lý riêng cho từng
loài thực vật (Coughlan M.P and Folan M.A., 1979)
* Vi sinh vật phân giải xenlulo
Trong tự nhiên có rất nhiều loại vsv có khả năng tiết ra một hoặc một số loại enzim là tác nhân của quá trình phân giải chuyển hóa các loại hợp chất hữu
cơ, biến chúng từ dạng thô sơ thành dạng mùn nhuyễn và các chất dinh dưỡng để hấp thu trong đất, từ đó làm tăng độ phì nhiêu của đất và cải thiện môi trường sống xung quanh chúng ta
Nấm sợi là nhóm có khả năng tiết ra môi trường một lượng lớn enzim với đầy đủ các thành phần nên khả năng phân giải xenluloza rất mạnh Nấm có hoạt
tính phân giải xenluloza đáng chú ý là Trichoderma bao gồm hầu hết các loại sống trong đất, những đại diện tiêu biểu là Trichoderma reesei, Trichoderma
Trang 32hữu cơ khổng lồ Một số nấm khác cũng có khả năng phân giải xenluloza khá cao
là Aspergillus niger, Fusarium solani, Penicillium pinophinum…(Đặng Minh
Hằng và Lê Văn Nhương, 2000)
Vi khuẩn cũng có khả năng phân giải xenluloza nhưng cường độ không mạnh bằng nấm sợi do lượng enzim tiết ra môi trường ít hơn và các thành phần enzim cũng không đầy đủ Các vi khuẩn hiếu khí cũng có khả năng phân giải
xenluloza khá mạnh như: Cellulomonas, Vibrio, Archomobacter (Nguyễn Lan Hương và cs., 1999) Trong điều kiện yếm khí các vi khuẩn ưa ẩm và ưa nhiệt thuộc giống bacillus và Clostridium cũng có khả năng phân giải xenluloza
Bên cạnh nấm và vi khuẩn, xạ khuẩn cũng có khả năng phân giải xenlulo
khá cao, đáng chú ý là Streptomyces, Actinomyces, Nocardia, Mycromonospora
Xạ khuẩn phân giải xenluloza được phân lập từ các mẫu đất, mùn rác, mẫu bùn, những nơi có chứa xenluloza Người ta thường sử dụng xạ khuẩn đặc biệt là
thuộc nhóm ưa nhiệt, sinh trưởng phát triển tốt ở nhiệt độ 45 - 500C, rất thích hợp
với quá trình ủ rác thải (Lê Văn Nhương và cs., 2001)
* Nhóm vi sinh vật phân giải hemixenluloza
Các vi sinh vật phân giải hemixenluloza ít được chú ý đến vì nhiều tác giả cho thấy đa số vsv có khả năng tổng hợp xylanaza để phân giải xylan.Khả năng
này thường được thấy ở vi khuẩn dạ cỏ như: Ruminococcus, Bascillus,
cũng có khả năng tạo xylanaza như: Aspergillus niger, Penicillium janthinnellum,
Tuy nhiên, nhiều vi sinh vật hiếu khí và yếm khí trong đất có khả năng tổng hợp enzim hemixenluloza với hoạt tính cao hơn xenluloza
* Vi sinh vật phân giải Lignin
Sau xelluloza và bên cạnh hemixelluloza thì lignin là hợp phần có ý nghĩa nhất về mặt khối lượng của thực vật Sự phân giải lignin là kết quả của mối quan
hệ tương hỗ sinh vật giữa nấm, vi khuẩn và các vi sinh vật khác trong đất Dựa vào kiểu phân giải của nấm người ta chia thành: white - rot bao gồm
nấm bất toàn Vi khuẩn có thể có vai trò sau nấm trong việc phân hủy lignin
Phần lớn vi khuẩn phân hủy các hợp chất monomeric và dimeric, đại diện là
Trang 33Pseudomonas, xanthomonas, Acinebacter Ngoài ra, một số xạ khuẩn cũng có
khả năng phân hủy lignin mạnh là Streptomyces và Nocardia (Lê Văn Nhương và
cs., 1998)
Mỗi loại cây trồng đều có liên quan trên nhiều mặt với một tập đoàn các loại vi sinh vật nhất định, bao gồm cả những loại có ích và có hại Vì vậy ngay từ khi quy hoạch sản xuất nông lâm nghiệp, bố trí cây trồng, tác động các biện pháp
kỹ thuật cần chú ý đến vấn đề này để có thể đạt được hiệu quả kinh tế cao
2.4 CÁC NGHIÊN CỨU XỬ LÝ PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
2.4.1 Nghiên cứu xử lý phụ phẩm nông nghiệp bằng phương pháp sinh học trên thế giới
Trước tình trạng ô nhiễm rác thải và phế thải ngày càng trầm trọng và nhu cầu sản xuất phân hữu cơ cho sản xuất nông nghiệp an toàn ngày càng lớn, một
số nhà khoa học môi trường và sinh học thế giới đã bắt tay vào nghiên cứu, khai thác các nguồn hữu cơ tự nhiên có từ hoạt động sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) và từ sinh hoạt của con người hàng ngày (ăn uống, chế biến…) để tái chế thành phân bón hữu cơ Cùng với sự góp mặt của công nghệ sinh học, hàng vạn, hàng triệu tấn phế thải hữu cơ đã được xử lý tạo ra sản phẩm cuối cùng là
CO2, nước và phân ủ Đã có rất nhiều nghiên cứu cơ bản và chuyên sâu của các nhà khoa học thế giới, từ đó giúp hoàn thiện và rút ngắn quá trình ủ phân đồng thời tạo ra sản phẩm với chất lượng tốt nhất Nguyên liệu đầu vào dùng làm phân
ủ cần phải có pH từ 5 - 7; trong quá trình ủ giai đoạn đầu pH đạt khoảng 6, sau 2
- 4 ngày pH giảm xuống chỉ còn 4,5 - 5 do các axit hữu cơ được sinh ra với lượng lớn; nhưng khi nhiệt độ ủ tăng cao thì pH tăng lên theo xu hướng hơi kiềm (7,5 - 8,5) Không nên bổ sung thêm tro, cacbonat hoặc vôi vào đống ủ vì sẽ gây mất đạm dưới dạng NH3 trong điều kiện pH cao Trong quá trình ủ hiếu khí có mặt của vi sinh vật sẽ xảy ra 3 trường hợp sau:
- Khi lượng cacbon trong rác có ít thì một lượng lớn khí NxOy và NH3 sẽ thoát ra ngoài không khí
- Khi tỷ lệ C/N thích hợp cho vi sinh vật sử dụng thì lượng nitơ mất đi không đáng kể
- Khi lượng nitơ có ít hơn lượng cacbon thì một số vi sinh vật sẽ chết và nitơ chứa trong tế bào của chúng sẽ được tái sử dụng Khi sử dụng 7 vi sinh vật
Trang 34phân giải xenluloza (Aspergillus sp, Penicillium sp, 2 loài Chaetomium, 1 loài
xenlophan có khá nhiều thành phần các chất bọc ngoài: 10% nitroxenluloza và clorua polivinyliden, 90% xenlophan (trong đó có 76% xenluloza) nên cơ chất này không tan trong tất cả các dung môi hữu cơ Tác giả nhận thấy nếu để từng vi sinh vật tác dụng thì sự phân giải hầu như không diễn ra, do đó phải dùng hỗn hợp vi sinh vật nói trên Tuy nhiên xenlophan cũng bị phân giải rất chậm dưới tác dụng của hỗn hợp VSV nêu trên, phải sau gần 100 ngày lên men thì chúng mới phân huỷ được 85% xenlophan Sản phẩm cuối cùng là 30% protein, 60% đường hoà tan được dùng làm phân bón
Harper and Lynch (1984) đã nuôi hỗn hợp 2 chủng là Trichodecma harzianum (phân giải xenluloza) và Clostridium butiricum (cố định nitơ) nhằm làm tăng khả năng phân giải xenluloza, thành phần chính trong phế thải hữu cơ Waskman (1939) đã khẳng định một khối lượng lớn hợp chất hữu cơ được phân huỷ khi nhiệt độ đạt 65oC trong quá trình ủ phân từ nguyên liệu phân chuồng và rơm rạ Đến năm 1977, nghiên cứu của Finstein và cộng sự đã làm rõ hơn vấn đề này, tác giả cho rằng nấm và vi khuẩn sinh axit xuất hiện ở giai đoạn nhiệt độ 25 - 300C, làm tăng nhiệt độ đống ủ tạo điều kiện cho VSV ưa nhiệt phát triển đồng thời sinh ra enzim phân huỷ phần lớn protein và hydrocacbon dễ phân giải; khi nhiệt độ tăng hơn 400C chúng được thay thế bởi nấm, vi khuẩn và xạ khuẩn ưa nhiệt, những VSV này làm chức năng phân huỷ các hợp chất khó phân giải hơn như Hemi - xenluloza, xenluloza; sau cùng nấm và vi khuẩn ưa ấm xuất hiện khi nhiệt độ hạ xuống (Đào Thị Lương, 1998)
Từ các nghiên cứu chuyên sâu nêu trên và từ rất nhiều nghiên cứu khác mà trên thế giới đã có khá nhiều loại chế phẩm xenlulaza dùng trong xử lý môi trường và sản xuất phân bón sinh học (dẫn theo Nguyễn Thị Hạnh Dung, 1996) như:
- Chế phẩm enzim Cellusin thu được từ việc nuôi cấy chủng Aspergillus niger có hoạt tính xenlulaza khoảng 450 000 đơn vị/g
- Chế phẩm "Biosin" ở Mỹ được sản xuất bằng phương pháp nuôi cấy bề mặt Aspergillus oryzae chứa 26 enzim khác nhau trong đó có xenlulaza, amilaza, proteaza, pectinaza
Trang 35- Chế phẩm "Cellolignorin" sản xuất ở Liên Xô cũ được nuôi cấy từ Trichodecma lignorum đã sấy khô đến độ ẩm 13%, chứa 1 - 50 đơn vị xenlulaza/g Ngoài các enzim C1, Cx còn có cả hemixenlulaza, pectinaza và xylanaza Trên đây chỉ là một số kết quả nghiên cứu trong hàng trăm, hàng nghìn nghiên cứu của các nhà khoa thế giới đóng góp vào sự phát triển chung của nền nông nghiệp thế giới cũng như vào sự giữ gìn màu xanh của trái đất
Thế kỷ XXI, thế kỷ của công nghệ sinh học chúng tôi tin rằng sự đóng góp của các nhà khoa học thế giới trong lĩnh vực này sẽ ngày càng lớn lao hơn đúng theo nhận định của FAO và IFA: nếu thế kỷ XX sản xuất phân bón bằng quặng
từ lòng đất, thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của một nền công nghiệp phân bón hữu cơ vì các nhà khoa học đang và sẽ tích cực nghiên cứu phát triển sản xuất phân bón bằng những công nghệ tiên tiến nhất để tạo ra các chế phẩm mới có hiệu quả sử dụng cao góp phần giảm chi phí vận chuyển và sử dụng
2.4.2 Nghiên cứu xử lý phụ phẩm nông nghiệp bằng phương pháp sinh học
ở Việt Nam
Xuất phát từ những mặt ưu việt của phương pháp xử lý phế thải hữu cơ bằng biện pháp sinh học (sử dụng các chế phẩm vi sinh vật) nhiều tác giả trong nước đã dầy công đầu tư thời gian và trí lực vào nghiên cứu, từng bước hoàn thiện các quy trình xử lý phế thải hữu cơ một cách hoàn thiện và triệt để nhất Tức là tìm mọi cách để biến "phế" thành "bảo", góp phần giải quyết một vấn nạn môi trường là "rác thải và phế thải hữu cơ" đồng thời cũng giảm bớt gánh nặng cho ngành nông nghiệp trong lĩnh vực dinh dưỡng cây trồng và duy trì độ bền sức sản xuất của đất
Sau đây chúng tôi xin đưa ra một số nghiên cứu điển hình của các tác giả: Phạm Văn Tý và cs (1999) đã phân lập được hàng trăm chủng VSV có khả năng phân giải xenluloza, lignin, hemixenluloza Tác giả đã xây dựng được quy trình sản xuất chế phẩm phân giải chất hữu cơ đạt huy chương vàng hội chợ triển lãm kinh tế kỹ thuật toàn quốc năm 1987 Kết quả thử nghiệm xử lý phế thải hữu cơ bằng chế phẩm VSV này đã rút ngắn thời gian ủ xuống còn 45 – 60 ngày thay vì phải ủ từ 6 tháng đến 1 năm với phương pháp ủ tự nhiên (Phạm Văn Tý, 1999)
Đề tài cấp nhà nước KHCN 02 – 06 A, giai đoạn 1996 – 1998 [dẫn theo Nguyễn Xuân Thành, 2003) “Nghiên cứu và áp dụng công nghệ sinh học trong sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh từ nguồn phế thải hữu cơ rắn”, đã phân lập từ
Trang 36mẫu đất và mẫu rác ở một số tỉnh phía bắc tuyển chọn được 2 chủng xạ khuẩn
X50 thuộc loài Streptomyces gougero và chủng X20 Streptomyces macrosporrus;
2 chủng vi khuẩn là V40 thuộc loài Cellulona Sp và V31 thuộc loài
loài A unilateralis Các chủng giống này là các chủng giống có khả năng phân
huỷ chuyển hoá các hợp chất hữu cơ khó phân giải như xenluloza, hemixenluloza
… cao Khi nghiên cứu tác động của VSV vào quá trình phân huỷ rác, các tác giả nhận thấy khi chúng tác động đồng thời theo tỷ lệ phối trộn 1:1:1 giữa xạ khuẩn,
vi khuẩn và nấm sợi sẽ cho hiệu quả cao hơn khi chúng có tác động riêng rẽ
Đề tài cấp Nhà nước KC 02 - 04 GS Lê Văn Nhương và cộng sự đã phân lập và tuyển chọn được 2 chủng xạ khuẩn là S59 và S16 có hoạt tính phân giải tinh bột, xenluloza cao Khi thử nghiệm mức độ chuyển hoá xenluloza của các xạ khuẩn trên môi trường có bổ sung 5 g rơm rạ hoặc vỏ lạc đã xử lý kiềm và nhận thấy chúng làm giảm cơ chất rơm 37,78% so với đối chứng Khi nuôi trên môi trường rơm, vỏ lạc đã qua xử lý kiềm thì chủng S59 đã làm giảm hàm lượng xenluloza là 43,03% (rơm) và 39,73% (vỏ lạc); chủng S116 giảm 40,7% (rơm)
và giảm 37,34% (vỏ lạc) so với đối chứng
Lê Văn Nhương và cs (2000) đã nghiên cứu thành công đề tài: “Công nghệ
xử lý một số phế thải nông nghiệp chủ yếu (lá mía, vỏ cà phê, rác thải nông nghiệp) thành phân bón hữu cơ sinh học” Kết quả nghiên cứu đã phân lập và tuyển chọn được 7 chủng vi khuẩn, 6 chủng xạ khuẩn và 11 chủng nấm sợi có hiệu lực xenlulaza cao và xác định được rằng khi các loại vi sinh này phối trộn với nhau theo một tỷ lệ thích hợp sẽ cho hiệu suất phân giải là cao nhất ðồng thời khi ứng dụng chế phẩm VSV từ các chủng giống đó vào đống ủ lá mía, vỏ cà phê, rác thải sinh hoạt người cho thấy thời gian phân huỷ được rút ngắn, thành phẩm sau khi ủ có hàm lượng chất dinh dưỡng dễ tiêu đối với cây trồng cao hơn đối với đống ủ không qua xử lý (Nguyễn Xuân Thành, 2004)
Lý Kim Bảng và cs (2001) đã nghiên cứu: “Hiệu quả sử dụng chế phẩm Micromix3 trong xử lý rác thải bằng phương pháp ủ hiếu khí tại nhà máy chế biến phế thải Việt Trì, Phú Thọ Thí nghiệm được các tác giả bố trí như sau: Rác được cho vào các bể lên men có dung tích 150 m3, bể đối chứng và bể thí nghiệm được bổ sung 8 kg đạm ure, 16 kg rỉ đường; riêng bể thí nghiệm bổ sung thêm 30 kg chế phẩm Micromix3 đã thúc đẩy nhanh quá trình phân huỷ triệt để hơn, thời gian ủ rút ngắn từ 50 ngày xuống còn 40 ngày, hàm lượng mùn thu
Trang 37được tăng hơn 22%, đặc biệt hàm lượng mùn tinh tăng hơn 50% so với đối chứng Nếu tính trung bình mỗi tháng trước đây nhà máy xử lý được 15 bể ủ thì việc bổ sung Micromix3 đã nâng lên 18 bể ủ (do thời gian xử lý được rút ngắn hơn), qua đó cũng làm tăng nguồn thu nhập hàng tháng cho công ty
Phan Bá Học (2007) trong nghiên cứu “Ứng dụng chế phẩm vi sinh vật xử
lý tàn dư thực vật trên đồng ruộng thành phân hữu cơ tại chỗ bón cho cây trồng trên đất phù sa sông Hồng” đã có kết luận: Cứ 1 tấn rơm rạ ủ thì cho ra 0,2 - 0,25 tấn phân hữu cơ; 1 tấn thân và lá ngô sau khi ủ cho ra 0,3 - 0,33 tấn phân hữu cơ;
1 tấn thân và lá khoai tây thu được 0,2 tấn phân ủ; 1 tấn các loại rau màu khác cho 0,15 - 0,3 tấn phân ủ
Đại Tuấn và cộng sự ở trung tâm công nghệ Hóa - Sinh Huđavil Viện hóa học các hợp chất thiên nhiên - Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia đã chế biến bã bùn mía thành phân bón HCVS Huđavil (bón cho đất trồng mía là chính và đất trồng một vài loại cây trái khác) để trả lại độ phì cho đất, chống thoái hóa đất canh tác và quan trọng nữa là khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường nói chung và nguồn nước nói riêng Về mặt công nghệ, ông cho rằng: phải xây dựng được một công nghệ vi sinh để chuyển hóa các thành phần hữu cơ
có trong bùn mía thành mùn do vi sinh vật (VSV) thực hiện ðể làm được việc này phải xác định được tỷ lệ C - N (cácbon - nitơ) có trong bùn mía, xác định các điều kiện (độ kiềm pH, nhiệt độ, độ ẩm, độ thông khí) để cho VSV chuyển hóa (có định hướng) các thành phần của bùn thành mùn chứ không gây thối Quá trình chuyển hóa thực chất là kỹ thuật ủ compost tất cả các phế thải của cây mía gồm bã bùn, tro đốt lò và tủy bã mía bằng phương pháp tạo luống ủ hai giai đoạn, lượng phế thải ra ngày nào xử lý hết ngày đó với thời gian ủ từ 45 đến 50 ngày là tạo ra sản phẩm Giai đoạn 1: Hứng bã bùn từ nhà máy đem đổ ra bãi ủ, phối trộn với các chất điều chỉnh, các chất phụ gia và VSV, vun thành luống, dùng vải dứa phủ lên, định kỳ 5 ngày đảo luống một lần Sau 30 ngày các chất dễ phân hủy được phân hủy hết, không gây mùi thối và biến thành một chất tơi xốp không mùi Giai đoạn 2: phun thêm vài loại VSV vào và trộn đều rồi đưa vào nhà mái che ủ độ 15 - 20 ngày nữa sẽ tạo thành compost chín có thể cùng bón ngay hoặc trộn thêm phân hóa học (đạm - lân - kali) để bón (Phân bón hữu cơ vi sinh từ phế thải mía đường, 2003)
Chế phẩm sinh học nấm đối kháng Trichoderma ngoài tác dụng sản xuất phân bón hũu cơ sinh học, hay sử dụng như một loại thuốc BVTV thì còn có tác
Trang 38dụng để xử lý ủ phân chuồng, phân gia súc, vỏ cà phê, chất thải hữu cơ như rơm,
rạ, rác thải hữu cơ rất hiệu quả Chế phẩm sinh học BIMA (có chứa Trichoderma) của Trung Tâm Công nghệ Sinh học TP Hồ Chí Minh, chế phẩm Vi-ĐK của Công ty thuốc sát trùng Việt Nam … đang được nông dân TP Hồ Chí Minh và khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, Đông nam bộ sử dụng rộng rãi trong việc ủ phân chuồng bón cho cây trồng Việc sử dụng chế phẩm này đã đẩy nhanh tốc độ ủ hoai phân chuồng từ 2 – 3 lần so với phương pháp thông thường, giảm thiểu ô nhiễm môi trường do mùi hôi thối của phân chuồng Người nông dân lại tận dụng được nguồn phân tại chỗ, vừa đáp ứng được nhu cầu ứng dụng tăng khả năng kháng bệnh cho cây trồng do tác dụng của nấm đối kháng Trichoderma có chứa trong trong phân Các chế phẩm của Viện Sinh học nhiệt đới như BIO-F, chế phẩm chứa các vi sinh vật do nhóm phân lập và tuyển chọn:
xạ khuẩn Streptomyces sp., nấm mốc Trichoderma sp và vi khuẩn Bacillus sp Những vi sinh vật trên có tác dụng phân huỷ nhanh các hợp chất hữu cơ trong phân lợn, gà và bò (protein và cellulose), gây mất mùi hôi Trước đó, chế phẩm BIO-F đã được sử dụng để sản xuất thành công phân bón hữu cơ vi sinh từ bùn đáy ao, vỏ cà phê và xử lý rác thải sinh hoạt (Xử lý rơm rạ thành phân bón bằng chế phẩm chức năng)
Lưu Hồng Mẫn và cộng sự ở Viện Lúa ĐBSCL đã khai thác nấm
được sự phát triển của nấm bệnh khô vằn lưu tồn trong rơm rạ, để điều chế thành chế phẩm sinh học phân hủy rơm rạ, tạo nguồn phân hữu cơ cho đất Nếu sử dụng 10kg chế phẩm cho 1 ha rơm rạ sau thu hoạch thì trong khoảng thời gian 4 tuần sẽ tạo được khoảng 6 tấn phân hữu cơ tại chỗ Chế phẩm vi sinh vật phân hủy rơm được nghiên cứu và sản xuất thành 2 dạng: dạng xử lý trực tiếp vào rơm
và dạng hòa tan trong nước tưới hoặc phun trực tiếp vào rơm Thời gian để chế phẩm sinh học phân hủy rơm rạ là 5-6 tuần sau khi xử lý Rơm rạ xử lý ở các thời điểm khác nhau khi được bón trả lại cho vụ mùa không ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của cây lúa (Tình hình sản xuất và nhập khẩu phân bón của Việt Nam đến năm 2010)
Lý Kim Bảng và cộng sự ở Viện khoa học Công nghệ Việt Nam đã nghiên cứu thành công chế phẩm VIXURA và công nghệ xử lý rơm rạ đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội rất cao Trong đó, chế phẩm VIXURA chứa 12-15 loại vi sinh vật được phân lập tại Việt Nam có khả năng sinh ra các enzyme khác nhau để
Trang 39phân hủy chất hữu cơ trong rác và rơm rạ đồng thời tăng khả năng đồng hoá dinh dưỡng, khả năng chống chịu sâu bệnh của cây trồng Theo công nghệ này, tàn dư cây lúa sau thu hoạch được gom thành từng đống; rạ được xếp từng lớp
có rắc xen kẽ phân chuồng, phân NPK và chế phẩm vi sinh VIXURA (dưới dạng hòa thành nước tưới) Chiều cao mỗi đống rạ từ 1,5m - 2m, được phủ kín bằng nilon, có một lỗ nhỏ để tưới nước Đống rạ ủ được tưới ẩm thường xuyên Sau thời gian ủ từ 5-7 ngày, nhiệt độ tăng từ 70-80oC, rạ lúc này sẽ mềm và xẹp xuống Sau 20 ngày, rạ trong đống mềm hết và chuyển dần sang màu đen, nhiệt
độ giảm dần và trở thành một loại phân bón hữu cơ rất tốt cho đồng ruộng (Vũ Hữu Yêm và cs., 1998)
Như vậy, có thể nói các tác giả Việt Nam đã tận dụng và phát huy tốt những nguồn lợi thiên nhiên sẵn có trong nước Đóng góp lớn nhất của các tác giả ở đây
là đã biến các nguồn lợi tự nhiên (các chủng giống vi sinh vật và phế thải hữu cơ) tưởng chừng như không có giá trị đối với cuộc sống trở thành có ý nghĩa, có giá trị thiết thực hơn Từ đó, không những góp phần làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường do phế thải hữu cơ gây ra mà còn tạo ra một nguồn phân hữu cơ sinh học rất lớn dùng để bón cho cây trồng, giảm bớt chi phí về phân bón cho nhà nước ta
2.5 GIỚI THIỆU, KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CỦA CHẾ PHẨM SINH HỌC FITO-BIOMIR RR VÀ EMINA
2.5.1 Chế phẩm EMINA
Theo Nguyễn Quang Thạch (2001; 2008) dựa trên nguyên tắc hoạt động và phối chế của chế phấm EM (Effective Microorganisms) của Nhật bản, nhiều cơ quan ở Việt Nam như EMUNI của trường Đại học Khoa học tự nhiên, EMINA của Viện Sinh học nông nghiệp của Học viện Nông nghiệp Việt Nam, chế phẩm sinh học EMINA đã được thử nghiệm và ứng dụng có hiệu quả trên nhiều loại cây trồng khác nhau Chế phẩm sinh học EMINA là tập hợp các chủng vi sinh vật có lợi như vi khuẩn Axitlactic, nấm mem và xạ khuẩn
EMINA có tác dụng tăng năng suất và rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây trồng Khi xử lý EMINA cho hạt có tỷ lên nẩy mầm cao hơn, cây con sống khoẻ và tốc độ sinh trưởng phát triển nhanh hơn Trong lĩnh vực nông nghiệp Emina có tác dụng bổ sung vi sinh vật cho đất, cải thiện môi trưởng đất, phân huỷ chất hữu cơ, tăng hiệu quả của phân bón, cố định Nitơ không khí, ngăn chặn
Trang 40tác nhân gây hại, sâu bệnh trong đất, kích thích sự nẩy mầm, ra hoa, kết quả, tăng khả năng quang hợp, tăng năng suất, chất lượng cây trồng Các nhà khoa học đã đánh giá tác dụng tốt của EMINA:
- Cải tạo hoá tính và đặc tính sinh học của đất
- Làm giảm mầm mống sâu bệnh trong đất
- Tăng hiệu quả của phân hữu cơ
- Cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao, phẩm chất tốt
- Hạn chế sâu bệnh hại cây trồng
2.5.2 Chế phẩm Fito-Biomir RR
là một hỗn hợp vi sinh vật xử lý rơm, rạ do Công ty cổ phần Công nghệ sinh học Hà Nội sản xuất Quy trình kỹ thuật xử lý rơm, rạ làm phân bón hữu cơ vi sinh bằng chế phẩm Fito-Biomix RR đã được cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích số 956 và Chứng nhận Nhãn hiệu hàng hóa số 19058 của Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ Chế phẩm sinh học dùng để xử lý H2S được cấp bằng Độc quyền Giải pháp hữu ích số 02509 của Cục Sở hữu trí tuệ -
Bộ Khoa học và Công nghệ
vật kháng bệnh cho cây mật độ ≥ 107 CFU/g.và Các nguyên tố khoáng, vi lượng
hữu cơ có khả năng phân giải nhanh và triệt để rơm, rạ sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ vi sinh giàu dinh dưỡng phục vụ sản xuất nông nghiệp Phân bón hữu
cơ vi sinh là sản phẩm an toàn với người và động vật
2.6 KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG PHỤ PHẨM THUỐC LÁ HIỆN NAY
Hiện nay, theo khảo sát và thông tin từ một số nhà máy thuốc lá tại Việt Nam, phần lớn việc sử dụng phụ phẩm thuốc lá chưa có phương án hiệu quả phù hợp và ổn định Phụ phẩm thuốc lá sau khi thu gom từ nhà máy được tính toán số liệu phù hợp với sổ sách kế toán (đặc biệt đối với số lượng nguyên liệu là thuốc
lá nhập khẩu) và đưa ra bãi tập kết, chuyển thành rác thải và làm thủ tục đem tiêu hủy Việc tiêu hủy này được hợp đồng với với các đơn vị quản lý môi trường và theo quy trình riêng, tuy nhiên khói bụi và mùi của phụ phẩm này khi đốt vẫn có