1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của tập đoàn lan huệ lai và biện pháp bón phân cho giống lan huệ hồng đào tại gia lâm, hà nội

74 373 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 5,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAMNGUYỄN THỊ THANH NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC CỦA TẬP ĐOÀN LAN HUỆ LAI VÀ BIỆN PHÁP BÓN PHÂN CHO GIỐNG LAN HUỆ HỒNG ĐÀO TẠI GIA LÂM, HÀ NỘI Người hướn

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ THANH

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC

CỦA TẬP ĐOÀN LAN HUỆ LAI VÀ BIỆN PHÁP BÓN PHÂN CHO GIỐNG LAN HUỆ HỒNG ĐÀO TẠI GIA LÂM, HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Thị Minh Phượng

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2106

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận

đư-ợc sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn

bè, đồng nghiệp và gia đình đóng góp, chỉ bảo quý báu của các thầy giáo, cô giáo trong

Bộ môn Rau-Hoa-Quả Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc cô giáo TS Phạm Thị Minh Phượng đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,

Bộ môn Rau - Hoa - Quả, Khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ công chức, viên chức Ban Bồi thường, giải phóng mặt bằng; Phòng Nội vụ huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các từ viết tắt v

Danh mục bảng vi

Danh mục đồ thị, hình, sơ đồ viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract x

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 3

2.1 Vị trí phân loại, nguồn gốc và phân bố của hippeastrum 3

2.2 Đặc điểm thực vật học của cây thuộc chi hippeastrum 3

2.3 Yêu cầu ngoại cảnh của cây hoa lan huệ 5

2.4 Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa có củ trên thế giới và việt nam 6

2.5 Tình hình nghiên cứu, chọn tạo và các biện pháp kĩ thuật bón phân cho cây lan huệ trên thế giới và việt nam 10

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 14

3.1 Địa điểm nghiên cứu 14

3.2 Thời gian nghiên cứu 14

3.3 Đối tượng/ vật liệu nghiên cứu 14

3.3.1 Đối tượng 14

3.3.2 Vật liệu nghiên cứu 15

3.4 Nội dung nghiên cứu 15

3.4.1 Đánh giá đặc điểm nông sinh học của tập đoàn hoa Lan huệ lai 15

3.4.2 Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật bón phân cho Lan huệ Hồng đào 15

3.5 Phương pháp nghiên cứu 16

3.5.1 Đánh giá đặc điểm nông sinh học của tập đoàn hoa Lan huệ lai 16

Trang 5

3.5.2 Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật bón phân cho giống Lan huệ Hồng đào 16

3.5.3 Các biện pháp kỹ thuật áp dụng 17

3.5.4 Các chỉ tiêu theo dõi 18

3.5.5 Phương pháp xử lý số liệu 20

Phần 4 Kết quả và thảo luận 21

4.1 Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số tổ hợp lan huệ lai 2012 21

4.1.1 Chiều cao cây của các THL Lan huệ 21

4.1.2 Số lá trên cây của các THL Lan huệ 23

4.1.3 Đặc điểm thân hành của các THL Lan huệ 26

4.1.4 Đặc điểm ngồng hoa và hoa của các THL Lan huệ 27

4.2 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các cây lai lan huệ được lựa chọn 30

4.2.1 Đặc điểm sinh trưởng và ngồng hoa của các cây lai Lan huệ 30

4.2.2 Đặc điểm hoa và cụm hoa của các cây Lan huệ được lựa chọn 33

4.2.3 Đặc điểm nhị, nhụy, bao phấn 38

4.3 Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật bón phân cho giống lan huệ hồng đào 40

4.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân chuồng đến sinh trưởng của Lan huệ Hồng đào 40

4.3.2 Ảnh hưởng của phân bón NPK tổng hợp Bình Điền (13:13:13) bón thúc tới sinh trưởng của Lan huệ Hồng đào 45

4.3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng của Lan huệ Hồng đào 49

4.3.4 Tình hình sâu bệnh hại trong quá trình nghiên cứu 51

Phần 5 Kết Luận Và Kiến Nghị 52

5.1 Kết luận 52

5.2 Kiến nghị 52

Tài Liệu Tham Khảo 53

Phụ Lục 56

Trang 6

TG Thời gian THL Tổ hợp lai

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình nhập khẩu hoa của một số nước trên thế giới 6

Bảng 2.2 Tình hình xuất khẩu hoa của một số nước trên thế giới 7

Bảng 2.3 Diện tích trồng các loài hoa có củ của một số nước trên thế giới 8

Bảng 4.1 Chiều cao cây của các THL Lan huệ 22

Bảng 4.2 Số lá trên cây của các THL Lan huệ từ tháng 8/2014 đến tháng 6/2015 24

Bảng 4.3 Đặc điểm thân hành của các THL Lan huệ tại thời điểm ra hoa 26

Bảng 4.4 Sự phân li của đặc điểm ngồng và hoa của các THL Lan huệ 28

Bảng 4.5 Số cây Lan huệ lai được chọn trong năm 2015 29

Bảng 4.6.a Một số đặc điểm hình thái của các cây lai Lan huệ dạng cánh đơn được chọn 31

Bảng 4.6.b Một số đặc điểm hình thái của các cây lai Lan huệ cánh bán kép được chọn 32

Bảng 4.7.a Đặc điểm hoa và cụm hoa của cây lai Lan huệ cánh đơn được chọn 34

Bảng 4.7.b Đặc điểm hoa và cụm hoa của cây lai Lan huệ cánh bán kép

được chọn 35

Bảng 4.8.a Đặc điểm bao phấn, nhị và nhụy của các cây lai Lan huệ cánh đơn được chọn 38

Bảng 4.8.b Đặc điểm bao phấn, nhị và nhụy của các cây lai Lan huệ cánh bán kép được chọn 39

Bảng 4.9 Ảnh hưởng của lượng phân chuồng đến chiều cao cây và số lá Lan huệ Hồng đào qua các tháng theo dõi 40

Bảng 4.10 Ảnh hưởng của lượng phân chuồng bón lót đến kích thước lá và trọng lượng củ Lan huệ Hồng đào 41

Bảng 4.11 Ảnh hưởng của lượng phân chuồng đến sự tăng của chu vi củ Lan huệ Hồng đào 44

Bảng 4.12 Ảnh hưởng của phân bón NPK tổng hợp Bình Điền (13:13:13) bón thúc tới chiều cao cây và số lá Lan huệ Hồng đào 45

Bảng 4.13 Ảnh hưởng của phân bón NPK tổng hợp Bình Điền (13:13:13) bón thúc đến kích thước lá và trọng lượng củ cây Lan huệ Hồng đào 46

Trang 8

Bảng 4.14 Ảnh hưởng của lượng phân bón NPK tổng hợp Bình Điền

(13:13:13) bón thúc đến chu vi củ Lan huệ Hồng đào 48 Bảng 4.15 Ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái tăng trưởng chiều cao

cây và số lá Lan huệ Hồng đào 49 Bảng 4.16 Ảnh hưởng của phân bón lá đến kích thước lá và chu vi củ của Lan

huệ Hồng đào 50

Trang 9

DANH MỤC ĐỒ THỊ, HÌNH, SƠ ĐỒ

Hình 4.1 Chiều cao cây của các THL Lan huệ qua các tháng theo dõi 22 Hình 4.2 Số lá trên cây của các THL Lan huệ tại các tháng theo dõi 25 Hình 4.3a Hình ảnh một số cây lai Lan huệ cánh đơn được lựa chọn từ các THL 37 Hình 4.3b Hình ảnh một số cây lai Lan huệ cánh bán kép được lựa chọn từ các

THL 37 Hình 4.4 Thí nghiệm phân chuồng bón lót tháng 10/2015 43 Hình 4.5 Hình ảnh cân củ Lan huệ Hồng đào sau khi bón lót 43 Hình 4.6 Ảnh hưởng của lượng phân chuồng đến sự tăng của chu vi củ

Lan huệ Hồng đào 44 Hình 4.7 Hình ảnh cân trọng lượng củ Lan huệ Hồng đào trong thí nghiệm bón

phân NPK tổng hợp Bình Điền (13:13:13) 47 Hình 4.8 Ảnh hưởng của lượng phân bón NPK tổng hợp Bình Điền

(13:13:13) bón thúc đến chu vi củ Lan huệ Hồng đào 48

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Nguyễn Thị Thanh

Tên luận văn: “Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của tập đoàn hoa Lan huệ lai và

biện pháp bón phân cho giống Lan huệ Hồng đào” tại Gia Lâm, Hà Nội

Ngành: Khoa học cây trồng Mã ngành: 60 62 01 10

Tên cơ sở đào tao: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu lựa chọn được các dòng lai

có triển vọng và các kết quả nghiên cứu về biện pháp, kỹ thuật bón phân sẽ góp phần xây dựng quy trình chăm sóc hoa Lan huệ ở miền Bắc Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu: 4 thí nghiệm đã được thực hiện bao gồm: Nghiên cứu đặc

điểm nông học của tập đoàn hoa Lan huệ lai Thí nghiệm được tiến hành tuần tự không nhắc lại với 218 cây Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân chuồng hoai mục bón lót, phân NPK tổng hợp Bình Điền (13:13:13) bón thúc và phân bón lá đến sinh trưởng của giống Lan huệ Hồng đào tại Gia Lâm, Hà Nội Các thí nghiệm này được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD) Mỗi công thức nhắc lại 3 lần, mỗi lần theo dõi 10 cây Một

số chỉ tiêu theo dõi bao gồm: chiều cao cây (cm), chu vi củ (cm), dài và rộng lá (cm), kích thước và đặc điểm hoa, số ngồng hoa, số hoa/ngồng, kích thước cánh hoa (cm), màu sắc và hình dạng hoa

Kết quả chính và kết luận:

- Các THL Lan huệ sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện trồng tại Gia Lâm

- Hà Nội, chiều cao cây từ 66,3 - 89,0cm, số lá/cây từ 4,9 - 8,6, chu vi củ từ 17,8cm - 30,1cm và khả năng đẻ củ con/củ mẹ 7,1 – 18 củ

- 204/218 cây lai (96%) ra hoa trong tháng 3- tháng 4 năm 2015 Chiều cao ngồng hoa ở mức trung bình từ 25cm-50cm, đường kính hoa từ 10cm-20cm, cây thích hợp trồng chậu hoặc trồng thảm

- 25 cây lai được lựa chọn có chiều cao ngồng từ 27,5 - 64,0cm, với màu sắc cánh hoa đa dạng như đỏ, trắng, hồng, cam, đỏ… Đường kính hoa từ 12,2cm - 18,8cm, số cánh trên bông từ 6 - 17 cánh/bông (dạng hoa cánh đơn, bán kép và kép), độ bền hoa và cụm hoa từ 3 - 6 ngày, 5-15 ngày 17/25 cây hoa có mùi thơm

- Bón lót 6kg/m 2 phân chuồng (CT4) làm cho Lan huệ Hồng đào tăng chiều cao cây (96,5cm), chiều dài lá 65,4cm, trọng lượng và chu vi củ (lần lượt là 530g và 30,8cm)

- Bón thúc 20g/m2/lần (CT3) phân NPK Bình Điền (13-13-13) có tác dụng tốt đến sinh trưởng và chất lượng củ Lan huệ Hồng đào (chiều cao cây 89,3cm, chiều dài lá 59,6cm, số lá/cây 7,1 và trọng lượng củ đạt 380,9g)

- Phun phân bón lá Pomior 298 hoặc Đầu Trâu 501 chưa có ảnh hưởng chưa rõ rệt đến sự sinh trưởng của cây

Trang 11

THESIS ABSTRACT Master candidate: Nguyen Thi Thanh

Thesis title: Study on agro-biological characteristics of hybrid hippeastrum and method

of fertilization application for hippeastrum Apple Blossom cv in Gialam, Hanoi

Major: Crop Science Code: 60 62 01 10

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

Research Objectives: The research was carried out to select promised hybrid lines and

create fertilizer application procedure for higher yield and quality of hippeastrum production in Vietnam

Materials and methods:

- Materials: 218 hybrid plants, which was breed in VNUA in 2012, were used in

the experiment 1 The Apple Blossom cv was used for the remain experiments

- Methods: Totally 4 experiment were carried out Excepting experiment 1, all the

experiment was designed as RCBD (Randomized Complete Block Design) with 3 replications in Gialam, Hanoi from August, 2014 to June, 2015 Data was collected from 10 plants/replication for some characteristics as plant height (cm), bulb circumference (cm), leaf length and width (cm), number of scapes, number of flower/scape, flower size, color, form and shape, fragrance and other botanical characteristics of the pollen and anther

Main findings and conclusions

- All the hybrids growth and developed well in Gia Lam - Hanoi (the plant height ranged from 66.3cm – 89.0cm, the number of leaves / plant reached from 4.9cm to 8.6, the bulb curriculum was from 17.8cm to 30.1cm, and the number of bullet from 7.1 – 18)

- 204/218 (about 96%) hybrids blooming in March to May in 2015 The spike height from 25 to 50cm, which was suitable for potted or bedding flower The flower diameter ranged from 10cm to 20cm

- 25 hybrids were selected of which the spike height from 27.5cm to 64.0cm The flower had various in colors such as red, white, pink, orange, etc Flower diameter was from 12.2 cm – 18.8cm, the number of petals/flower was from 6-17 (single, semi double and full double form) Flower and inflorescence longevity was from 3-6 days and 5-15 days, respectively 17/25 plants had fragrant flowers

- Applying 6kg manure / m 2 (CT4) had improved the growth of H Apple blossom

(the plant height was 96.5cm, the leaf length was 65,4cm, the bulb weight and

Trang 12

circumference were 530g and 30.8cm, respectively)

- Applying 20g / m2 (CT3) Binh Dien NPK (13-13-13) had increased the growth and quality of the bulb (the plant height reached 89.3cm, leaf length was 59 6cm, the number of leaves / plant was 7.1cm and the bulb weight was 380.9g)

- Spraying foliar fertilizers such as Pomior 298 or 501 Dautrau did not effect to

the growth of H Apple blossom in Galam, Hanoi

Trang 13

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Cây Lan huệ còn gọi là hoa loa kèn đỏ, mạc chu lan hay tứ diện có tên khoa

học là Hippeastrum Herb thuộc họ Loa kèn đỏ - Amaryllidaceae Lan huệ có

nguồn gốc từ vùng á nhiệt đới châu Mỹ do đó cây có thể sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện nhiệt độ cao Trên thế giới, Lan huệ rất đa dạng về màu sắc,

chủng loại (Robert et al., 2006) và được sử dụng chủ yếu trong dịp Giáng sinh,

năm mới ở các nước phương Tây Chủng loại giống Lan huệ trên thế giới hiện nay rất đa dạng với trên 1000 giống lai do đó cây Lan huệ cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học

Ở Việt Nam, Lan huệ là một loài hoa đẹp được nhiều người ưa thích, cây

có khả năng thích ứng và giá trị kinh tế cao, nhiều dạng hoa (đơn, kép, bán kép), bông to đẹp, màu sắc hoa đa dạng, độ bền hoa dài, cây hoa có thể sử dụng theo nhiều mục đích khác nhau (hoa trồng chậu, hoa thảm hoặc hoa cắt) Chủng loại giống hoa trong nước phong phú tuy nhiên giá thành củ giống Lan huệ khá cao do củ được nhập nội từ Hà Lan, Mỹ, Israel và một số nước khác Để đáp ứng nhu cầu hoa Lan huệ ngày càng cao của thị trường, gần đây các nghiên cứu lai tạo giống hoa Lan huệ ở Việt Nam đã được thực hiện ở một số cơ quan nghiên cứu Từ năm 2012, bộ môn Rau hoa quả, khoa Nông học đã tiến hành nghiên cứu, lai tạo thành công một số tổ hợp lai Lan huệ sử dụng nguồn gen trong nước và nước ngoài Để sử dụng hợp lý nguồn vật liệu đã tạo ra thì việc đánh giá các tổ hợp lai rất cần được thực hiện Bên cạnh đó, để góp phần phát triển hoa Lan huệ trở thành một trong các loại hoa chủ lực trên thị trường cũng như hướng tới tạo ra các giống hoa Lan huệ có chất lượng cao từ cây lai thì song song với các nghiên cứu lai tạo giống Lan huệ mới thì các nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật trồng, chăm sóc cây Lan huệ đặc biệt là kỹ thuật bón phân cho cây cũng rất cần được sớm được triển khai (ở Việt Nam hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu về kỹ thuật bón phân và áp dụng vào sản xuất cây Lan huệ)

Xuất phát từ các phân tích trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên

cứu đặc điểm nông sinh học của tập đoàn hoa Lan huệ lai và biện pháp bón phân cho giống Lan huệ Hồng đào” tại Gia Lâm, Hà Nội

Trang 14

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu lựa chọn được các dòng lai có triển vọng (màu sắc và hình dáng hoa khác lạ, cấu trúc hoa đẹp, độ bền hoa dài) có tiềm năng phát triển cho sản xuất trong nước hướng tới xuất khẩu Bên cạnh đó, các kết quả nghiên cứu về biện pháp, kỹ thuật bón phân sẽ góp phần xây dựng quy trình chăm sóc hoa Lan huệ ở miền Bắc Việt Nam

- Đánh giá được đặc điểm hình thái, sinh trưởng, phát triển của 15 tổ hợp lai hoa Lan huệ (218 cây) và lựa chọn ra được các dòng Lan huệ có triển vọng cho

sản xuất

- Xác định được lượng phân chuồng hoai mục bón lót thích hợp cho sự sinh

trưởng và tăng chất lượng củ Lan huệ Hồng đào

- Xác định được lượng phân NPK tổng hợp Bình điền (13:13:13) bón thúc thích hợp cho sự sinh trưởng và tăng chất lượng củ Lan huệ Hồng đào

- Xác định được loại phân bón lá phù hợp cho sự sinh trưởng của cây Lan

huệ Hồng đào

Trang 15

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 VỊ TRÍ PHÂN LOẠI, NGUỒN GỐC VÀ PHÂN BỐ CỦA HIPPEASTRUM

Chi Hippeastrum thuộc họ Hành Liliaceae, bộ Hành (Liliales), phân lớp Hành (Liliidae), lớp thực vật một lá mầm (Liliopsida) Chi Hippeastrum

có khoảng 60 loài có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Châu Mỹ, phân bố từ đông Brazil đến miền Nam dãy Andes thuộc Peru, Argentina và Bolivia Đây là loại cây có khả năng chịu nhiệt tốt nên được trồng phổ biến tại các vùng nhiệt đới và

á nhiệt đới Trên thế giới, hoa Lan huệ thường được xử lý ra hoa sớm để trồng chậu trong dịp Giáng sinh và năm mới (Phạm Thị Minh Phượng, 2014)

Ở Việt Nam, các loài thuộc chi Hippeastrum (thường gọi là là hoa loa kèn

đỏ, mạc chu lan, tứ diện, hoặc Lan huệ theo ngôn ngữ của từng vùng) đã được du nhập và trồng trong vườn làm cảnh, hay trồng chậu ở khắp các vùng trên cả nước Với các ưu điểm đa dạng về màu sắc hoa, độ bền hoa cao, dễ trồng và dễ chăm sóc thì Lan huệ đã trở thành một những loại hoa có giá trị thương mại cao Hiện nay, trên thị trường thế giới Lan huệ có sự đa dạng lớn về chủng loại, màu sắc, hình

dáng và kích thước (Robert et al., 2006)

2.2 ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC CỦA CÂY THUỘC CHI HIPPEASTRUM 2.2.1 Đặc điểm hình thái

Theo Phạm Hoàng Hộ (2001) và Nguyễn Thị Đỏ (2007) thì cây Lan huệ có một số đặc điểm chính như sau: Cây Lan huệ có thân dạng thân hành hình cầu hoặc cầu dẹt, có lớp vỏ mỏng (áo) bao ngoài Thân chính là phần đế củ, phần phình ra để dự trữ nước và các chất dinh dưỡng là do các bẹ lá tạo thành Lá Lan huệ tập trung ở gốc tạo thành 2 dãy, phiến lá hình dải, hình kiếm, hoặc hình mũi mác, hơi khum thành lòng máng, lá dài, cứng, có nhiều gân song song Lá to hay nhỏ, dài ngắn tùy thuộc vào từng giống và điều kiện chăm sóc khác nhau

Lan huệ có hoa mọc thành cụm hoa tán có từ 2 đến nhiều hoa trên 1 trục hoa Trục hoa (cành mang hoa) hình trụ, rỗng, dài 20-75cm, đường kính 1,5-4cm Lá bắc tổng bao dạng mo, gồm 2 cái mỏng tồn tại bao lấy cụm hoa, 2 lá này sẽ khô đi khi hoa nở Hoa to, đều, lưỡng tính, màu sắc sặc sỡ, có cuống dài 3-5cm Gốc cánh hoa thường có màu sắc khác hẳn với màu cánh hoa Có 6 nhị, chỉ nhị đính ở họng ống bao hoa, bao phấn 2 ô, hình trụ dài màu trắng ngà (hoặc

Trang 16

có ánh tím), đính lưng, hướng trong, mở bằng khe dọc Màu sắc hoa thì vô cùng phong phú bao gồm các màu cơ bản: đỏ, hồng, trắng, cánh sen, cam, vàng, xanh nhạt và vô số những màu khác nhau được tạo thành bởi sự đan xen của các đường kẻ sọc hay xương cá trên cánh hoa Hoa Lan huệ có mùi thơm hoặc không mùi tùy vào giống khác nhau

Quả đa số là quả nang hình cầu hoặc hình thuôn, mở ở khe lưng thành 3 mảnh Hạt nhiều, dẹp, xung quanh có cánh mỏng, màu đen nội nhũ nạc bao lấy phôi nhỏ Kích thước hạt tùy thuộc vào giống khác nhau (Nguyễn Thị Đỏ, 2007)

2.2.2 Đặc điểm bộ nhiễm sắc thể (NST) của chi Hippeastrum

Nhiều nghiên cứu về nhiễm sắc thể trên chi Hippeastrum đã được thực hiện Đa số các loài trong chi có bộ nhiễm sắc thể nhị bội với số lượng nhiếm sắc

thể 2n=2x=22 (Meerow, 1988), tuy nhiên các giống lan huệ phổ biến trong sản xuất hiện nay lại có bộ nhiễm sắc thể là tứ bội (2n=4x=44) Kết quả nghiên cứu

của William và Dudlay (1984) cho biết số nhiệm sắc thể của loài hoang dại H

iguazuanum là 2n=2x=24 Một nghiên cứu khác cho thấy trong số 8 loài lan huệ,

thì 7 loài có số lượng nhiễm sắc thể cơ bản và hình dáng như nhau n= 11, đa số

loài là nhị bội (2n=2x=22) nhưng thể tam bội, tứ bội và ngũ bội cũng đã được tìm thấy với số lượng nhiễm sắc thể (2n =3x= 33, 2n=4x=44 và 2n=5x=55) riêng

H blumenavia có bộ nhiễm sắc thể 2n =2x= 20 (Arroyo, 1982)

2.2.3 Đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây Lan huệ

Đối với cây Lan huệ, số lá trên cây có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành ngồng hoa Thông trường một củ Lan huệ cần phải có ít nhất 4 lá to, khỏe vào năm trước thì mới có khả năng cho 1 ngồng hoa vào mùa hoa năm sau Từ lần ra hoa thứ 2 trở đi, cây đều có khả năng cho ra hơn một ngồng hoa Tuy nhiên, khả năng ra hoa còn phụ thuộc vào đặc điểm giống Trong điều kiện trồng trọt và chăm sóc tốt thì một củ Lan huệ trưởng thành có thể cho từ 4 ngồng hoa trong một năm Thời gian xuất hiện ngồng có thể trùng hoặc không trùng nhau Trong trường hợp không xuất hiện đồng thời, ngồng hoa ra sau có thể ra chậm hơn những ngồng hoa trước một vài ngày hoặc thâm chí là vài tuần Số lượng hoa trên một cụm (ngồng) cũng có sự khác biệt, những ngồng hoa sau có thể ra ít hoa hơn những ngồng hoa trước tùy vào sự ổn định của giống và điều kiện khí hậu, thời tiết (Baker, 1878)

Trang 17

Đối với những cây Lan huệ gieo từ hạt, thời gian từ lúc trồng đến lúc ra hoa dao động từ 18 -24 tháng, thậm chí 3-5 năm Lan huệ là cây có củ do đó dựa vào kích thước củ người trồng cũng có thể biết khả năng ra hoa của các giống như: giống H Bihia có chu vi củ từ 16-18cm là có thể xuất hiện ngồng hoa, đối với H Rio chu vi cần đạt từ 18-20cm, hay H Sampa thì chu vi ở mức 17-19cm Thường thì cây sẽ ra hoa từ tháng 2, tập trung vào tháng 3,4 và rải rác đến tháng

2.3.3 Nhiệt độ

Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của Lan huệ là 21oC - 24oC

Nhiệt độ có ảnh hưởng lớn đến sự phân hóa mầm hoa (De Hertogh, AA, 1998)

Bên cạnh đó nhiệt độ cũng làm thay đổi màu sắc của lá

Trang 18

2.4 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, TIÊU THỤ HOA CÓ CỦ TRÊN THẾ GIỚI

VÀ VIỆT NAM

2.4.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa có củ trên Thế giới

2.4.1.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa cây cảnh

Sản xuất Hoa - cây cảnh trên thế giới ngày nay đã có nhiều chuyển biến Những nước sản xuất hoa - cây cảnh vốn nổi tiếng như Hà Lan, Pháp nay đã trở thành những nước nhập khẩu và cũng là thị trường tiêu thụ chính Thay vào đấy, những nước đang phát triển, nơi lao động đang còn rẻ và giá trị đất chưa cao như Trung Quốc, Malaysia, Nam Phi, Do Thái, Ấn Độ, Colombia, Kenya, Ethiopia và Ecuador lại trở thành những nước sản xuất và xuất khẩu Về mặt địa lý, có thể nói Nam Phi, Kenya và Zimbabwe là những vùng đất mới trong khẩu hoa - cây cảnh sang Âu châu trong khi Colombia là nước chủ chốt xuất khẩu sang Mỹ Ở châu Á các nước như Malaysia, Đài Loan, Thái Lan, và gần đây Trung Quốc là những nước xuất khẩu hoa cây cảnh, phần lớn sang thị trường Nhật Bản Nhìn chung, thị trường nhập khẩu hoa - cây cảnh trên thế giới được phân phối như sau: Đức với 22 tỷ đô la Mỹ, chiếm 22%; Mỹ với 15

tỷ đô la Mỹ, chiếm 15%; Pháp và Anh với 10 tỷ đô la, chiếm 10%; Hà Lan với

9 tỷ đô la, chiếm 9%; Nhật Bản với 6 tỷ đô la, chiếm 6%; Ý và Thuỵ Sĩ với 5 tỷ

đô la, chiếm 5% Giới chuyên gia còn cho rằng các nước thuộc khối Đông Âu

cũ cũng sẽ trở thành nơi sản xuất hoa - cây cảnh trong tương lai (Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga, 2007)

Bảng 2.1 Tình hình nhập khẩu hoa của một số nước trên thế giới

1 Đức 36,0 Cẩm chướng, cúc, hồng, lay ơn, lan,…

2 Mỹ 21,9 Cẩm chướng, cúc, hồng

3 Pháp 7,4 Cẩm chướng, cúc, hồng, lay ơn, đồng tiền

4 Anh 7,0 Cẩm chướng, cúc, hồng, lay ơn, đồng tiền

5 Thụy Điển 4,9 Cẩm chướng, cúc, hồng

6 Hà Lan 4,0 Hồng, lay ơn, lan,…

7 Italia 2,9 Cúc, hồng, lay ơn, đồng tiền

8 Các nước khác 15,9

Nguồn: Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga (2007)

Trang 19

Bảng 2.2 Tình hình xuất khẩu hoa của một số nước trên thế giới

1 Hà Lan 64,8 Lily, hồng, lay ơn, đồng tiền, tuy líp

2 Colombia 12,0 Cúc, hồng, lay ơn, đồng tiền

3 Israel 5,7 Cẩm chướng, hồng, đồng tiền

4 Italia 5,0 Cẩm chướng, hồng

5 Tây Ban Nha 1,9 Cẩm chướng, hồng

6 Thái Lan 1,6 Cẩm chướng, phong lan

7 Kenia 1,1 Cẩm chướng, hồng, đồng tiền

8 Các nước khác 7,9

Tổng 100

Nguồn: Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga (2007)

2.4.1.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ các loài hoa có củ

Một số loại hoa có củ đang được sản xuất và tiêu thụ phổ biến hiện nay

là hoa Tuylip, lily, Hoa Tuylip đang được sản xuất chủ yếu ở 15 quốc gia trên toàn thế giới trong đó Hà Lan là nước có diện tích trồng lớn nhất với 10.800ha (chiếm 88%), tiếp theo là 5 nước có diện tích trồng ít hơn như Nhật Bản 300ha (chiếm 2,5%), Pháp 293 ha (chiếm 2,4%), Balan 200ha (chiếm 1,6%), Đức 155ha (chiếm 1,3%) và New Zealand 122ha (chiếm 1%) Hà Lan

đã sản xuất được 4.32 tỷ củ tulip trong đó 2.3 tỷ củ (chiếm 53%) được sử dụng làm củ giống, hơn 1.3 tỷ củ sử dụng làm hoa trồng thảm trong nước Số còn lại được xuất khẩu sang các nước EU (0.6 tỷ củ), các nước bên ngoài EU (0.37 tỷ củ) (Buschman, 2005) Đối với hoa Lily, hiện nay củ giống được sản xuất chủ yếu ở 10 nướctrong đó Hà Lan có diện tích trồng lớn nhất với 4280ha (chiếm 77%), tiếp theo là Pháp với 401ha (chiếm 0,8%), Chile 205ha (chiếm 0,4%), Mỹ 200ha (chiếm 0,4%), Nhật Bản 189ha (chiếm 0,3%) và New Zealand Hà Lan sản xuất 2.21 tỷ củ Lily, với 2.11 tỷ củ được sử dụng làm củ giống với 410 triệu củ được trồng tại Hà Lan, phần còn lại được xuất khẩu sang các nước EU (1.0 tỷ củ), các nước ngoài EU (0.7 tỷ củ) Ngoài ra còn một số loại hoa khác cũng được sản xuất và tiêu thụ với lượng ít hơn Điều này được thể hiện ở bảng sau:

Trang 20

Bảng 2.3 Diện tích trồng các loài hoa có củ của một số nước trên thế giới

Tên nước Diện tích

Hà Lan 20.921 Tulip, Lily

Anh 4660 Thủy tiên, Hoa Layơn, Tulip

Pháp 1,289 Lily, Tulip, Iris, Layơn, Thược dược,Thủy tiên Trung Quốc 1281 Thủy tiên, Lily, Tulip

Hoa Kỳ 995 Thủy tiên, Tulip, Hoa Layơn, Lily, Iris

Nhật Bản 883 Lily, Tulip, Hoa Layơn

Israel 456 Thủy tiên, cây mao lương

Ba Lan 335 Tulip, Lily, thủy tiên, Hoa Layơn, thược dược New Zealand 258 Tulip, Lily, Chi Vân môn, Iris, Freesia

Chile 240 Lily, Tulip

Nam Phi 200 Lan huệ, Nerine, Lily, Tulip

Brazil 200 Hoa Layơn, Lan huệ

Đức 190 Tulip, Hoa Layơn, thủy tiên, Crocus

Bỉ 185 Thu hải đường, Lily

Đan Mạch 60 Tulip, thủy tiên

Argentina 47 Hoa Layơn, Tulip

2.4.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa có củ ở Việt Nam

* Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa cây cảnh

Diện tích sản xuất Hoa – cây cảnh tại Việt Nam chiếm một phần rất nhỏ với khoảng hơn 15.000ha, trong khi đó diện tích lúa là 4,5 triệu ha, gần 1 triệu ha trồng cây công nghiệp và 1,4 triệu ha trồng rau quả Hoa sản xuất ở Việt Nam

Trang 21

chủ yếu tập trung 3 vùng: miền Bắc (Hà Nội, Vĩnh Phúc, Lào Cai, Quảng Ninh ), ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh (Hóc Môn, Củ Chi ) và Lâm Đồng (Đà Lạt) Hoa sản xuất ở miền Bắc chỉ mới cung cấp cho thị trường Hà Nội khoảng 65%

và chưa xuất khẩu Hoa sản xuất ở Đà Lạt cung cấp thị trường thành phố Hồ Chí Minh và sản xuất ra nước ngoài như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore với kim ngạch khoảng 10 triệu Đô la Mỹ (2005) (Chương trinhg Quốc gia về phát triển sản xuất và xuất khẩu rau, hoa, quả tươi 2010-2015) Như vậy tuy ngành hoa Việt Nam tuy đã có những bước phát triển nhưng diện tích, số lượng và chủng loại vẫn còn ít, chất lượng chưa cao và chưa đáp ứng được ngay

cả với yêu cầu thị trường trong nước và nước ngoài Xuất khẩu có được là nhờ các công ty nước ngoài như Đalạt Hasfarm thực hiện Việc áp dụng công nghệ cao trong sản xuất hoa – cây cảnh cũng chưa thực sự phát huy hết hiệu quả mặc

dù Việt Nam đã xây dựng một số mô hình nông nghiệp công nghệ cao ở các tỉnh thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Lâm Đồng

Theo thống kê năm 2010, diện tích trồng hoa tươi của Việt Nam khoảng 8.000ha với 4,5 tỷ cành, trong đó 1 tỷ cành đã được xuất khẩu (85% là hoa hồng, cúc và lan) Doanh thu từ xuất khẩu hoa đạt 60 triệu USD Sản xuất hoa cành của Việt Nam tập trung ở các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Lâm Đồng…đặc biệt tỉnh Lâm Đồng được mệnh danh là xứ sở của các loài hoa có diện tích trồng hoa là 1.100ha với sản lượng không dưới 800 triệu cành mỗi năm Phong trào trồng hoa ở Việt Nam trong những năm gần đây đã được chú ý phát triển, diện tích hoa tăng nhanh

* Tình hình sản xuất tiêu thụ hoa có củ ở Việt Nam

Ở Việt Nam việc sản xuất mua bán các loài hoa có củ mới chỉ bước đầu phát triển trên hoa tulip và hoa lily còn Lan huệ thì diễn ra nhỏ lẻ trên quy mô hộ gia đình hoặc chơi hoa dạng câu lạc bộ Hoa lily được người dân sử dụng nhiều nhất trong tất cả các ngày trong năm, hoa tulip thì thường được sử dụng vào dịp Tết Lan huệ được trồng khá phổ biến trên các tỉnh thành trên cả nước từ đồng bằng đến miền núi, từ miền Bắc đến miền Nam tuy nhiên các giống hiện đang sử dụng là các giống cũ, màu sắc đơn điệu Để đáp ứng thú chơi Lan huệ mới lạ độc đáo, một số giống mới đã được đưa về theo con đường không chính thức Giá bán các củ giống mới khá đắt từ 200.000 đồng – 400.000 đồng thậm chí hơn tùy thuộc mức độ mới/cũ của giống Màu sắc và hình dạng của hoa

Trang 22

2.5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CHỌN TẠO VÀ CÁC BIỆN PHÁP KĨ THUẬT BÓN PHÂN CHO CÂY LAN HUỆ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2.5.1 Tình hình nghiên cứu lai tạo và biện pháp kĩ thuật bón phân cho Lan huệ trên thế giới

2.5.1.1 Tình hình nghiên cứu lai tạo giống hoa Lan huệ

Lan huệ bắt đầu được phát triển từ thế kỉ 18, bằng hình thức lai hữu tính

giữa hai loài H reginae x H vittatum đã tạo ra giống lai đầu tiên Hx johnsonii vào năm 1799 ở Anh (Traub, 1934) Sau này các dạng của H x Johnsonii được phát triển một cách rộng rãi ở miền Nam California (Quim, 2013) Rất nhiều loài lai mới đã được công bố trong 25 năm đầu của thế kỉ 19, chúng được thu thập từ Nam Mỹ và sau đó được nhập khẩu vào Châu Âu Hai chủng được đánh giá có ý nghĩa nhất trong sự phát triển của Lan huệ lai giai đoạn đó là sự phát triển mạnh

mẽ của H Reginae và H Leopoldii (Traub, 1958)

Mục đích sử dụng Lan huệ ngày càng đa dạng, bên cạnh sử dụng làm hoa trồng chậu, trồng thảm thì Lan huệ cũng có thể sử dụng làm hoa cắt hoặc mini bonsai Để đáp ứng được nhu cầu ngày càng khắt khe của người chơi hoa, các nhà chọn tạo giống đã nỗ lực không ngừng để luôn tạo ra các sản phẩm mới cung

cấp cho thị trường

Việc lai tạo ra các giống Lan huệ mới vẫn đang diễn ra suốt hơn 2 thế kỉ,

đã có rất nhiều giống mới được tạo ra trên khắp các Châu lục, có rất nhiều giống đã được đăng kí bản quyền và đưa vào sản xuất thương mại hóa ở nhiều

nước cụ thể: Năm 1986, Giống Hippeastrum ‘Double Six’ được tạo ra bởi nhà

lai tạo giống Andre Barnlroorn, Wilgesprui, Nam Châu phi Hoa có tông màu

đỏ kéo dài đến tận cổ họng hoa, có kích thước hoa lớn, chu vi khoảng 28cm, mỗi ngồng có khoảng 6 hoa Giống có chiều cao thấp, rất dễ cho việc vận chuyển đóng thùng

Năm 1987, Nhà chọn tạo giống Maraisburg, Nam phi đã tạo ra giống

hẹp, có nhiều ngồng hoa trên một củ, các hoa trên một ngồng thường nở đồng thời; kích thước nhỏ gọn và nhanh ra hoa (Bamhoom, 1996)

Đến 1994, một chương trình phát triển giống của Inventor tiến hành tại Fort Lauderdale, Florida kết quả đã tạo ra 3 giống mới triển vọng là: Một là

Trang 23

hai là Hippestrum”Sampa” với màu đỏ tím và đài hoa trắng sọc, cánh tròn và ba

là “Hippestrum Rio” với cánh hoa màu tím đỏ và đài hoa màu hồng, đường kính

hoa khoảng 18cm, có mùi thơm Cả 3 giống trên đều có khả năng chống lại bệnh

nấm (do Staganospora curtisii) và nấm lá do nấm Cercospora pancratill gây ra

Các giống thích nghi được ở điều kiện nhiệt độ từ 30-35 oC (Meroow, 2002) Đến năm 2000, các nhà khoa học ở Bet-Dagan, Israel Đã lai tạo thành công 2 giống Lan huệ có đặc điểm tốt phục vụ cho thương mại cụ thể: Một là

trắng-xanh, và sọc màu đỏ đen (Dori, 2012) Hippeastrum plant named ‘Opal Star’) Giống thứ 2 là Hippeastrum “Ruby Star” hình ngôi sao độc đáo, cánh hoa màu

đỏ tối, xanh-vàng và sọc màu xanh- tím (Doris, 2012) Hippeastrum plant named

‘RUBY STAR’)

2.5.1.2 Tình hình nghiên cứu biện pháp kĩ thuật bón phân cho Lan huệ

Song song với quá trình lai tạo ra các giống mới thì việc chăm sóc và bón phân cho các giống mới cũng là điều được quan tâm Tùy vào giống, điều kiện vùng, và chế độ canh tác thì chế độ bón phân cũng có sự khác biệt Trên thế giới, các nước sản xuất Lan huệ đều có những quy trình chăm sóc và bón phân cho từng giống riêng biệt Việc nghiên cứu biện pháp kĩ thuật bón phân chủ yếu ở các trung tâm nghiên cứu, các viện nghiên cứu và các trường đại học, cụ thể một vài ví dụ dưới đây:

Nghiên cứu của Đại học Alexandria, Ai cập (2009) về ảnh hưởng của giá thể và phân bón NPK (19-19-19) đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của

mục + cát tỉ lệ (1:1) với việc bón phân NPK 19-19-19 ở mức 5g/cây/tháng đã cho hiệu quả cao nhất về chiều cao cây, số lá, kích thước củ, khả năng ra hoa, màu sắc hoa, trọng lượng khô và thành phần hóa học trong lá cây (tổng hàm lượng, clorophyll, N, P, K trong lá) Công thức trên được khuyến cáo dùng để

sản xuất hoa chất lượng cao đối với Hippeastrum Vittatum, Herb phục vụ trong

Trang 24

6g/cây và kinetin ở mức nồng độ 60ppm đã cải thiện chiều cao cây, số lá, trọng lượng lá, chiều cao ngồng hoa, đường kính hoa, đường kính củ cho hiệu quả cao nhất trong các công thức

Ngoài ra còn rất nhiều các biện pháp bón phân cho Lan huệ như bón phân qua lá, bón qua dung dich thủy canh, đang được áp dụng

2.5.2 Tình hình nghiên cứu lai tạo và biện pháp kĩ thuật bón phân cho Lan huệ trong nước

2.5.2.1 Tình hình nghiên cứu lai tạo giống hoa Lan huệ

Ở Việt Nam những nghiên cứu về chi Hippeastrum còn rất hạn chế Cũng

có nhiều người tìm hiểu và thử lai tạo và nhân giống các giống cây hoa thuộc

chi Hippeastrum, nhưng đa số tham gia vào các diễn đàn, các câu lạc bộ Trong

những năm gần đây việc nghiên cứu các loài hoa thuộc chi Hippeastrum ngày càng thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu

Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu chọn tạo giống Lan huệ, tác giả Nguyễn Hạnh Hoa và Quách Thị Phương (2010) đã chọn tạo ra hàng loạt con lai có màu sắc đa dạng, phong phú, đẹp mắt, độ bền hoa cao và có thời gian ra hoa đúng dịp Valentine Điển hình là các dòng H1, H3, H5, H12, H37, H85 Các dòng lai trên có ưu điểm màu sắc cánh hoa đẹp và khác biệt so với bố me, hoa có độ bền lâu

Đến năm 2012, Trịnh Thị Hằng (2012) đã nghiên cứu được các giống Lan huệ ở Việt Nam có khả năng lai hữu tính và kết hạt trong điều kiện tự nhiên ở miền Bắc Việt Nam Từ 38 mẫu giống tác giả tiến hành 51 phép lai và đã thu được 15 tổ hợp lai với số lượng cây lai lớn

Sau 6 năm thu thập, nghiên cứu và lai tạo giống Lan huệ, Phạm Thị Minh Phượng và cs (2014) đã chọn ra được 3 cây lai Lan huệ từ tập đoàn các cây lai THL3-6, THL4-7, THL9-5 Những cây lai này đều có đặc điểm hoa nổi trội: THL3-6 có dạng cánh đơn, màu cam nhạt, vân trắng ở gốc cánh, đường kính hoa 18cm THL4-7 có dạng hoa tròn, cánh đơn, đường kính hoa 19,5cm, màu hoa hồng sen, xếp cân đối, chiều cao ngồng hoa 33cm THL9-5 có dạng hoa hình tam giác, cánh bán kép (8-9 cánh/bông), đường kính hoa 17,2cm, màu cánh đỏ đậm; chiều cao ngồng hoa 42cm Đây là các vật liệu có giá trị cho công tác đánh giá và lựa chọn vật liệu Lan huệ lai Việt Nam

Trang 25

2.5.2.2 Tình hình nghiên cứu biện pháp kĩ thuật bón phân cho Lan huệ

Ở nước ta, các giống Lan huệ bản địa được trồng rất phổ biến Hầu hết được trồng nhỏ lẻ theo hộ gia đình và một cách tự phát, không theo một quy

mô nào Bản thân các giống hiện có mang các đặc tính chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh nên được trồng nhiều để trang trí sân vườn, làm hàng rào và để phát triển tự nhiên không tiến hành chăm sóc bón phân nên cây cho chất lượng hoa kém, hoa thường nhỏ, củ bé và cho số ngồng hoa ít Những nghiên cứu về

kĩ thuật trồng trọt trên Lan huệ ở Việt Nam cho đến nay chưa được công bố Qua nghiên cứu tài liệu cũng như thực tế chúng tôi nhận thấy để nâng cao chất lượng hoa Lan huệ đồng thời hoàn thiện quy trình chăm sóc tiến tới đưa Lan huệ trở thành một sản phẩm hàng hóa mang thương hiệu của Việt Nam thì bên cạnh nghiên cứu lai tạo giống mới thì các nghiên cứu về kĩ thuật bón phân cũng rất cần được triển khai

Trang 26

PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Nhà lưới số 1 tại khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam Thị trấn Trâu Quỳ - Gia Lâm - Hà Nội

3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 12 năm 2015

- Thời gian thu thập số liệu: Từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 12 năm 2015

3.3 ĐỐI TƯỢNG/ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

Trang 27

- Cây Hoa Lan huệ Hồng đào nhân giống vô tính bằng phương pháp chẻ củ

sử dụng cho các thí nghiệm 2, 3 và 4 có chu vi của từ 10-26 cm Cụ thể như sau:

Thí nghiệm Chu vi củ (cm) Tuổi (năm) Số cây

3.3.2 Vật liệu nghiên cứu

- Thước thẳng, thước dây, thước Plame, dao, kéo, thuốc kích thích ra rễ,

phân bón và một số vật tư nông nghiệp khác

- Phân bón: phân chuồng hoai được ủ 6 tháng

- Phân NPK Bình điền 13 -13 -13 + TE của công ty cổ phần phân bón Bình Điền có thành phần gồm Đạm (N): 13%; lân (P2O5): 13%, Kali (K2O): 13%, Canxi (CaO): 1%, Magiê (MgO): 0,6%, Lưu huỳnh (S): 6%, Sắt (Fe): 90ppm, Kẽm (Zn):15ppm, Đồng (Cu): 10ppm, Bo (B): 90ppm

- Phân bón lá: Pomior 298 được sản xuất bởi Công ty cổ phần giống – Vật

tư nông nghiệp, công nghệ cao Việt Nam, gồm trên 12 nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng Thành phần: N: 5,5%, P2O5: 10,5%, K2O: 4,8%, CaO: 0,04%,

Mg2+: 540mg/l, Cu2+: 163mg/l, FeO: 322mg/l, Mn2+: 540mg/l, B3-: 84mg/l, Ni2+ : 78,4mg/l, Mo2+: 3mg/l, chất điều tiết sinh trưởng<0,2% Nồng độ sử dụng: 3/1000

- Phân đầu trâu 502 sản xuất tại công ty cổ phần Bình Điền, thành phần gồm 30% đạm (N), 10% lân (P2O5), 10% kali (K2O), lưu huỳnh (S), magiê (Mg), canxi (Ca), kẽm (Zn), sắt (Fe), đồng (Cu), mangan (Mn), bo (B), molypden (Mo), gibberellin, αNAA, bNOA Nồng độ sử dụng theo khuyến cáo của nhà sản xuất

3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.4.1 Đánh giá đặc điểm nông sinh học của tập đoàn hoa Lan huệ lai

3.4.2 Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật bón phân cho Lan huệ Hồng đào

- Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân chuồng hoai mục bón lót đến sự sinh trưởng của Lan huệ Hồng đào

- Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng NPK tổng hợp Bình Điền (13:13:13) bón thúc đến sự sinh trưởng của Lan huệ Hồng đào

Trang 28

- Nghiên cứu ảnh hưởng của loại phân bón lá đến sự sinh trưởng của Lan huệ Hồng đào

3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.5.1 Đánh giá đặc điểm nông sinh học của tập đoàn hoa Lan huệ lai

Thí nghiệm 1: Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của tập đoàn hoa Lan huệ lai

- Thí nghiệm được bố trí tuần tự không nhắc lại, theo dõi trên 15 tổ hợp lai (218 cây), cây được trồng trên luống đất cao 20 - 25cm Khoảng cách trồng cây 20x25cm, mật độ 20 củ/m2 Các củ lai 3 tuổi được gieo từ hạt từ năm 2012

- Chế độ chăm sóc được thực hiện đồng đều: Bón lót phân chuồng hoai mục 2kg/m2 (tương đương 2 tấn/ha) Trong thời gian sinh trưởng, phun phân bón lá Pomior 298 với tần suất 2 tuần/lần (nồng độ khuyến cáo của nhà sản xuất với lượng 1l/5m2) và bón lót NPK Bình Điền (13:13:13) với lượng 10g/m2/lần bón, một năm bón 4 lần Dừng bón phân khi cây bắt đầu lụi lá (tháng 11)

3.5.2 Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật bón phân cho giống Lan huệ Hồng đào

Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân chuồng hoai mục bón lót đến sinh trưởng của giống Lan huệ Hồng đào

- Thí nghiệm gồm 4 công thức:

CT1: Không bón phân (đối chứng)

CT2: 2Kg phân chuồng hoai mục/m2, tương ứng 20 tấn/ha

CT3: 4Kg phân chuồng hoai mục/m2, tương ứng 40 tấn/ha

CT4: 6Kg phân chuồng hoai mục/m2, tương ứng 60 tấn/ha

- Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) Mỗi công thức nhắc lại 3 lần, mỗi lần nhắc lại 15 cây Thí nghiệm sử dụng cây 1,5 tuổi có chu vi củ từ 23-26cm Khoảng cách giữa các cây là 20x25cm Theo dõi 10 cây/lần nhắc lại

- Phân chuồng được bón lót 01 lần vào tháng 1/2015 với lượng bón theo từng công thức (ngoại trừ công thức đối chứng không bóng phân lót) Phân NPK tổng hợp Bình Điền (13:13:13) sử dụng bón thúc thành 4 đợt/năm, lượng bón mỗi đợt 10g/m2 (tương ứng với 250kg/ha/lần bón) Phun phân bón lá Pomior định kỳ 2 tuần/lần (nồng độ phun 3/1000với lượng phun là 1l dung dịch phân bón/5m2

Trang 29

Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân NPK tổng hợp Bình Điền (13:13:13 +TE) bón thúc đến sinh trưởng của giống Lan huệ Hồng đào

- Phân NPK tổng hợp được sử dụng bón thúc, chia thành 4 đợt/năm bắt đầu sau trồng 3 tuần Định kỳ hai tháng rắc phân 1 lần Phân chuồng hoai mục được bón lót đồng đều với lượng 2kg/1m2 (tương đương 2 tấn/ha) Phun phân bón lá Pomior định kỳ 2 tuần/lần (nồng độ phun 3/1000với lượng phun là 1l dung dịch phân bón/5m2)

Thí nghiệm 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của loại phân bón lá đến sinh trưởng giống Lan huệ Hồng đào

- Thí nghiệm gồm 3 công thức:

CT1: Không phun phân bón lá (đối chứng)

CT2: Sử dụng phân bón Pomior 298

CT3: Sử dụng phân bón lá đầu trâu 502

- Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) Mỗi công thức nhắc lại 3 lần, mỗi lần nhắc lại 15 cây, củ giống <1 tuổi có chu vi củ 12- 14cm, khoảng cách trồng là 10x10cm Theo dõi 10 cây/ 1 lần nhắc lại

- Phân chuồng được bón lót 01 lần theo hàng với lượng 2kg/1m2 (20 tấn/ha), phân NPK tổng hợp Bình Điền (13:13:13+TE) sử dụng bón thúc thành 4 đợt/năm, lượng bón mỗi đợt 10g/m2 (tương ứng với 100kg/ha/lần bón) Phun phân bón lá định kỳ 2 tuần/lần (nồng độ phun 3/1000với lượng phun là 1l dung dịch phân bón/5m2)

3.5.3 Các biện pháp kỹ thuật áp dụng

- Thường xuyên nhổ cỏ, nhặt bỏ lá già, tưới nước cho cây Quan sát và phát hiện sâu bệnh để kịp thời có biện pháp phòng trừ

Trang 30

- Che ánh sáng bằng 1 lớp lưới đen (thời gian bắt đầu từ tháng 5 tới tháng 9) với khả năng cắt ánh sáng 40%

3.5.4 Các chỉ tiêu theo dõi

- Tổng số lá trên cây: Đếm toàn bộ số lá trên cây thành thục, 1 tháng đếm 1 lần

- Chiều cao cây (cm): Đo từ cổ củ Lan huệ đến đầu mút lá cao nhất, 1 tháng

đo 1 lần

- Động thái tăng trưởng của lá: Mỗi cây đo 3 lá, đo khi lá dài 5 cm đến khi

lá hết khả năng sinh trưởng, dùng bút xóa đánh dấu các lá theo dõi Thu số liệu một tháng/lần

+ Chiều dài lá (cm): Đo từ gốc lá (tại cổ củ) đến đầu mút lá Lá được đo khi nhú lên trên cổ củ 3 cm và định ký đo mỗi tháng 1 lần

+ Chiều rộng lá (cm): Đo tại vị trí rộng nhất của lá.Lá được đo khi nhú lên trên cổ củ 3 cm và định ký đo mỗi tháng 1 lần

- Kích thước củ (cm): Tiến hành đo 2 tháng đo 1 lần

+ Đường kính củ (cm): Dùng thước Palme đo tại vị trí củ phình to nhất, đo tại 2 vị trí vuông góc nhau, lấy giá trị trung bình

+ Chu vi củ (cm): Dùng thước dây đo quanh củ tại vị trí phình to nhất + Khả năng tạo củ con (số củ con/củ mẹ): Đếm số củ con được sinh ra từ 1

+ Số ngồng hoa/củ: Đếm số ngồng hoa/củ vào mùa ra hoa

+ Màu sắc ngồng hoa: Quan sát và nhận xét màu sắc ngồng hoa ở vị trí sát gốc (1/3 chiều dài ngồng ở phía dưới) và trên ngồng (2/3 chiều dài ngồng

ở phía trên)

Trang 31

Bao hoa:

+ Chiều cao bao hoa (cm): Đo từ gốc bao hoa đến đỉnh bao hoa, lấy số liệu

7 ngày/lần, bắt đầu đo khi bao hoa được 2 cm

+ Đường kính bao hoa (cm): Dùng thước Palme đo tại vị trí to nhất, đo 7 ngày/lần

+ Màu sắc bao hoa: Quan sát màu sắc bao hoa

Hoa:

+ Số hoa/ngồng hoa: Đếm số hoa trên một ngồng hoa

+ Đường kính hoa (cm): Đo khi hoa đã nở hoàn toàn Dùng thước thẳng đo khoảng cách giữa 2 đầu đối diện nhau, đo 2 lần vuông góc rồi tính giá trị trung bình + Kích thước cánh hoa: Đo khi hoa nở hoàn toàn, đo tất cả cánh trong và ngoài của các hoa trên cụm sau đó tính giá trị trung bình

Chiều dài cánh hoa trong và ngoài (cm): Đo từ gốc cánh hoa đến đầu cánh Chiều rộng cánh hoa trong và ngoài (cm): Đo tại vị trí rộng nhất của cánh + Màu sắc hoa: Nhận dạng màu sắc cánh hoa bằng mắt thường và sử dụng bảng so màu chuẩn (Royal Horticulture Society Colour Chart) Mô tả dạng phân

bố màu (sọc, vân, đốm, viền…)

Bao phấn, nhị và nhụy:

+ Chiều dài bao phấn (cm): Dùng thước thẳng đo từ đầu bao phấn đến cuối các bao phấn (đo khi bao phấn chưa mở) Đo tất cả các bao phấn trên hoa, sau đó tính giá trị trung bình

+ Chiều rộng bao phấn (cm): Dùng thước thẳng đo các bao phấn khi bao phấn chưa nở, đo tại vị trí rộng nhất của bao phấn Đo tất cả các bao phấn trên hoa, sau đó tính giá trị trung bình

+ Màu sắc bao phấn: Nhận xét màu sắc bao phấn trước khi bao phấn tung + Chiều dài nhị (cm): Đo khi hoa đã nở hoàn toàn, đo từ gốc vòi nhụy đến đầu vòi nhụy, đo tất cả các hoa trên cụm, sau đó tính giá trị trung bình

- Các chỉ tiêu thời gian (ngày)

+ Thời gian từ khi xuất hiện ngồng hoa đến khi xuất hiện nụ, hoa nở, hoa tàn + Thời gian bao phấn mở trong ngày (giờ): Khi bao phấn đầu tiên bắt đầu tung phấn

Trang 32

+ Độ bến của một hoa (ngày): Từ khi hoa bắt đầu hé nở đến khi hoa tàn (cánh hoa có hiện tượng đổ màu và héo)

+ Độ bền một cụm hoa (ngày): Từ khi hoa/cụm đầu tiên bắt đầu nở đến khi hoa/cụm cuối cùng tàn

3.5.5 Phương pháp xử lý số liệu

Sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2010 và IRRISTAT 5.0

Trang 33

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC CỦA MỘT SỐ TỔ HỢP LAN HUỆ LAI 2012

Công tác nghiên cứu, lai tạo ra những giống cây mới có năng suất, chất lượng tốt luôn là những mục tiêu mà những người làm nghiên cứu chọn tạo giống hướng tới Ở nước ta, Việc nghiên cứu lai tạo giống hoa Lan huệ đã được thực hiện từ năm 2012 tại Bộ môn Rau - Hoa - Quả, khoa Nông học Với việc sử dụng các nguồn gen bản địa và nhập nội bước đầu 15 tổ hợp lai Lan huệ đã được lai tạo thành công Để có thể lựa chọn ra các cây lai triển vọng có các tính trạng tốt phục

vụ cho công tác chọn giống hoa Lan huệ Việt Nam chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của tập đoàn Lan huệ lai vụ xuân hè 2015 Các kết quả nghiên cứu được thể hiện tại các nội dung sau:

4.1.1 Chiều cao cây của các THL Lan huệ

Đối với cây trồng, chiều cao cây có vai trò hết sức quan trong Nó có vai trò trong việc nâng đỡ cây trồng, là nơi tích lũy chất dinh dưỡng, quang hợp và việc hình thành năng suất sau này của cây Lan huệ là cây thân hành sống lâu năm, chiều cao cây được quyết định bằng chiều dài của lá cây Kết quả thu thập và theo dõi chiều cao cây từ tháng 8/2014 -6/2015 được thể hiện ở bảng 4.1 và hình 4.1 Kết quả bảng và hình cho thấy chiều cao tối đa của cây Lan huệ lai dao động

từ 66,3cm (TH9) – 89,4cm (TH3) Trong cùng một tổ hợp lai thì chiều cao cây cũng có sự khác biệt Điều này cho thấy có sự đa dạng lớn về chiều cao cây giữa các cây trong cùng một tổ hợp lai Sau 11 tháng theo dõi chúng tôi thấy chiều cao cây đạt kích thước tối đa vào tháng 10/2014 sau đó chiều cao cây giảm dần và

thấp nhất vào tháng 2/2015 -3/2015 tùy tổ hợp và tăng trở lại vào tháng 4/2015

Các THL có chiều cao cây tăng từ tháng 8 đến tháng 12 là do thời gian này cây có sự sinh trưởng sinh dưỡng mạnh mẽ để tích lũy dinh dưỡng tạo củ Chiều cao cây lớn nhất ở TH3 (đạt 89,4cm) tiếp đến là TH4 (đạt 89,1cm) và thấp nhất

là ở TH14 (đạt 62,8cm) Khi nhiệt độ trung bình từ 21,5-22,5oC cây sinh trưởng chậm dần và chiều cao cây giảm do lá có hiện tượng khô và lụi dần Chiều cao cây đạt mức thấp nhất vào tháng 1 đến tháng 2 Đây là giai đoạn cây ngủ nghỉ, thời gian này TH5 đạt chiều cao cây trung bình lớn nhất đạt 78,8cm và thấp nhất

ở TH7 đạt 58,6cm

Trang 34

Bảng 4.1 Chiều cao cây của các THL Lan huệ

Hình 4.1 Chiều cao cây của các THL Lan huệ qua các tháng theo dõi

Trang 35

Sang tháng 4, chiều cao cây lại theo quy luật tăng dẫn do lá mới bắt đầu được hình thành Chiều cao cây tăng mạnh trong giai đoạn từ tháng 5 đến tháng

6, trong đó TH15 có chiều cao lớn nhất đạt 64,0cm và thấp nhất là TH7 với chiều cao đạt 29,0cm Trong thời gian từ tháng 12 đến tháng 4, TH6 có hệ số biến động về chiều cao cây lớn nhất (đạt 33,4cm) vào tháng 1, thấp nhất là TH7 với hệ số biến động là 1,3cm vào tháng 2 Từ tháng 5 đến tháng 6, TH3 có hệ số biến động lớn nhất là 18cm và thấp nhất là TH4 là 1,3cm

4.1.2 Số lá trên cây của các THL Lan huệ

Song song với các chỉ tiêu chiều cao cây, chúng tôi cũng tiến hành theo dõi các chỉ tiêu số lá trên cây Lá là một bộ phận quan trọng của cây trồng Nó có chức năng quang hợp, thoát hơi nước để cân bằng giữ cây đứng thẳng và là một trong yếu tố quyết định năng suất của cây Với cây Lan huệ, lá cây mọc tập trung

ở gốc thành 2 dãy, các bẹ lá phình to ra tạo thành củ để dự trữ dinh dưỡng nuôi cây Số lượng lá trên cây có ảnh hưởng nhất định đến khả năng quang hợp, tích lũy dinh dưỡng của cây trồng cũng như kích thước củ Bên cạnh đó, số lá trên cây Lan huệ vụ trước cũng quyết định số lượng ngồng hoa của vụ sau vì đặc tính sinh trưởng của cây Lan huệ khi thuần thục là cứ 4 lá thì sẽ cho 1 ngồng hoa (Read, 2004) Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành theo dõi số lá trên cây của các THL qua thời gian từ 15/8/2014 đến 15/6/2015 Kết quả được thể hiện trong bảng 4.2 và hình 4.2

Số lá trên cây có ý nghĩa lớn trong sản xuất hoa Lan huệ thương mại vì số lá

tỉ lệ thuận với số ngồng hoa Số lá nhiều thì số ngồng hoa Lan huệ nhiều (Merow, 1998; Phạm Thị Minh Phượng, 2014) Trong số 15 THL nghiên cứu, TH13 và TH15 có nhiều lá nhất (trung bình đạt 11,1 lá/cây và 12 lá/cây) và thấp nhất là TH5 và TH7 với 7 lá/cây Trong cùng một tổ hợp lai thì số lá cũng có sự khác biệt, điều này cho thấy có sự đa dạng lớn về hình thái giữa các cây trong cùng một tổ hợp lai Qua quan sát chúng tôi nhận thấy số lá/cây nhiều nhất vào tháng 8/2014 đến tháng 10/2014 sau đó số lá trên cây giảm dần làm chiều cao cây giảm dần và lá lụi dần vào tháng 2/2015 - cây bước vào giai đoạn ngủ nghỉ

Từ tháng 2 đến tháng 4 số lá trên cây bắt đầu tăng và tăng mạnh nhất từ tháng 4 đến tháng 6, điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật sinh trưởng của Lan huệ là

lá Lan huệ xuất hiện khi nhiệt độ trung bình ngày >15oC (Read, 2004) Trong

Trang 36

tháng 8/2014, TH15 có số lá trên cây cao nhất (đạt 12 lá/cây) tiếp đó là TH13 với

11,1 lá/cây, thấp nhất là TH5 có 7,2 lá/cây Các THL còn lại số lá dao động từ

7,4 đến 10,1 lá/cây Số lá trên cây giảm dần từ tháng 10 và đến tháng 2/2015, các

THL như TH2, TH7, TH8 có số lá trung bình thấp nhất (đạt 1,3 lá/cây) và lớn

Trang 37

Hình 4.2 Số lá trên cây của các THL Lan huệ tại các tháng theo dõi

Có thể nói số lá trên cây Lan huệ có sự thay đổi theo xu hướng giảm dần qua các tháng bắt đầu từ tháng 8/2014 Giai đoạn đầu số lá giảm ít chủ yếu do các lá già bị thay thế dẫn bởi các lá non tuy nhiên sang tháng 12/2014 số lá giảm rất nhanh và hầu như không có lá non xuất hiện Điều này chứng tỏ các cây lai chính thức bước vào giai đoạn ngủ nghỉ

Từ tháng 2/2015 đến tháng 4/2015, cây Lan huệ bắt đầu ra hoa nên dinh dưỡng chủ yếu được tập trung vào nuôi hoa Giai đoạn từ tháng 4/2015 đến tháng 6/2015, nhiệt độ môi trường tăng cao, là điều kiện thuận lợi cho cây ra lá mới, những lá cây đã mọc trước đó tiếp tục phát triển bộ lá với mục đích nhằm tăng diện tích quang hợp cho cây từ đó tăng lượng dinh dưỡng tích lũy để bù đắp lại lượng dinh dưỡng đã mất cho việc ra hoa và tích lũy dinh dưỡng để cho việc ra hoa ở các vụ tiếp theo Điều này cũng đã lý giải cho việc chiều cao cây và số lá cùng tăng mạnh từ tháng 4/2015 đến tháng 6/2015

Cũng như chiều cao cây, trong quá trình theo dõi chúng tôi nhận thấy số lá trên cây cũng có sự khác biệt trong cùng một THL Từ tháng 1/2015 đến tháng 6/2015, hệ số biến động giữa các cây trong cùng một THL của các THL dao động trong khoảng 0 - 2,8 lá/cây trong đó, sự chênh lệch số lá trên cây thấp nhất và cao nhất ở TH14 với 0,0 lá/cây và cao nhất 2,8 lá/cây ở TH3 và TH6 (cùng 2,4 lá)

Ngày đăng: 16/11/2018, 23:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w