1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

nghiên cứu ảnh hưởng của lượng giống gieo và lượng đạm bón đến sinh trưởng và năng suất giống lúa vật tư – na2 tại thanh liêm, hà nam

119 132 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 9,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Nguyễn Thị Nhâm Tên luận văn: Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng giống gieo và lượng đạm bón đến sinh trưởng và năng suất giống lúa Vật tư – NA2 tại Thanh L

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ NHÂM

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG GIỐNG GIEO VÀ LƯỢNG ĐẠM BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG

VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA VẬT TƯ – NA2

TẠI THANH LIÊM, HÀ NAM

Người hướng dẫn: PGS TS Hà Thị Thanh Bình

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Nhâm

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc PGS.TS Hà Thị Thanh Bình đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Canh tác, Khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Trung tâm Khuyến nông, UBND xã Liêm Phong, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Nhâm

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn i

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt v

Danh mục bảng vi

Trích yếu luận văn viii

Thesis Abstract ix

Phần 1 mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

1.4.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 3

2.1 Tình hình nghiên cứu và sản xuất lúa trong và ngoài nước 3

2.1.1 Tình hình nghiên cứu và sản xuất lúa trên thế giới 3

2.1.2 Tình hình sản xuất, xuất khẩu lúa gạo tại Việt Nam 4

2.2 Những ưu và nhược điểm của phương thức gieo thẳng lúa 7

2.2.1 Ưu điểm 7

2.2.2 Nhược điểm 7

2.3 Tình hình nghiên cứu về lúa gieo thẳng trong và ngoài nước 8

2.3.1 Đặc điểm của lúa gieo thẳng so với lúa cấy 8

2.3.2 Tình hình sản xuất lúa gieo thẳng 13

2.3.3 Bón phân cho lúa gieo thẳng 19

2.3.4 Phòng trừ cỏ dại cho lúa gieo thẳng 20

2.4 Tình hình sử dụng phân bón cho lúa 23

2.4.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ phân bón trên thế giới 23

2.4.2 Tình hình sử dụng phân bón cho lúa ở Việt Nam 25

2.5 Nghiên cứu về phân đạm cho lúa trên thế giới và Việt Nam 27

2.6 Sản xuất lúa gạo tại tỉnh Hà Nam 30

Trang 5

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 32

3.1 Địa điểm nghiên cứu 32

3.2 Thời gian nghiên cứu 32

3.3 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu 32

3.4 Nội dung nghiên cứu 32

3.5 Phương pháp nghiên cứu 33

3.5.1 Điều tra hiện trạng canh tác lúa tại huyện Thanh Liêm – Hà Nam 33

3.5.2 Bố trí thí nghiệm 33

3.5.3 Các biện pháp kỹ thuật 35

3.5.4 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 35

3.5.5 Phương pháp xử lý số liệu 38

Phần 4 Kết quả và thảo luận 39

4.1 Tình hình sản xuất lúa tại thanh liêm, hà nam 39

4.2 Ảnh hưởng của lượng giống gieo và lượng đạm bón đến sinh trưởng của giống vật tư – na2 tại thanh liêm – hà nam 41

4.2.1 Thời gian sinh trưởng 41

4.2.2 Động thái tăng trưởng chiều cao và chiều cao cây 43

4.2.3 Động thái đẻ nhánh và số nhánh hữu hiệu 46

4.2.4 Chỉ số diện tích lá 50

4.2.5 Khả năng tích lũy chất khô 53

4.2.6 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại 56

4.2.7 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 59

4.2.8 Hiệu suất sử dụng phân đạm 63

4.2.9 Hiệu quả kinh tế 64

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 68

5.1 Kết luận 68

5.2 Kiến nghị 69

Tài liệu tham khảo 70

Phụ lục 78

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

BVTV Bảo vệ thực vật CCCC Chiều cao cuối cùng CPBĐ Chi phí biến động

GTNC Giá trị ngày công HCVS Hữu cơ vi sinh LAI Chỉ số diện tích lá

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới 4

Bảng 2.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa ở Việt Nam (2001 – 2014) 5

Bảng 2.3 Sản lượng lúa 6 vùng của nước ta 6

Bảng 2.4 Các phương pháp gieo thẳng ở Đồng Bằng sông Cửu Long 15

Bảng 2.5 Nhóm 10 nước tiêu thụ phân bón lớn nhất toàn cầu năm 2010 - 2011 25

Bảng 2.6 Kết quả sản xuất lúa tại Hà Nam từ năm 2011 đến 2015: 30

Bảng 4.1 Kết quả gieo thẳng của các huyện tại tỉnh Hà Nam giai đoạn 2012 – 2015 39

Bảng 4.2 Thực trạng sử dụng phân bón cho lúa gieo thẳng tại điểm nghiên cứu 40

Bảng 4.3 Ảnh hưởng của lượng giống gieo và lượng đạm bón đến thời gian sinh trưởng của giống thí nghiệm 42

Bảng 4.4a Ảnh hưởng tương tác giữa lượng giống gieo và lượng đạm bón đến động thái tăng trưởng chiều cao và chiều cao cây ở vụ Xuân 44

Bảng 4.4b Ảnh hưởng tương tác giữa lượng giống gieo và lượng đạm bón đến động thái tăng trưởng chiều cao và chiều cao cây ở vụ Mùa 44

Bảng 4.5 Ảnh hưởng của từng yếu tố lượng giống gieo và lượng đạm bón đến động thái tăng trưởng chiều cao và chiều cao cây ở vụ Xuân 45

Bảng 4.6a Ảnh hưởng tương tác giữa lượng giống gieo và lượng đạm bón đến động thái đẻ nhánh và số nhánh hữu hiệu ở vụ Xuân 47

Bảng 4.6b Ảnh hưởng tương tác giữa lượng giống gieo và lượng đạm bón đến động thái đẻ nhánh và số nhánh hữu hiệu ở vụ Mùa 48

Bảng 4.7 Ảnh hưởng của từng yếu tố lượng giống gieo và lượng đạm bón đến động thái đẻ nhánh và số nhánh hữu hiệu của giống thí nghiệm 49

Bảng 4.8 Ảnh hưởng tương tác giữa lượng giống gieo và lượng đạm bón đến chỉ số diện tích lá của giống thí nghiệm 51

Bảng 4.9 Ảnh hưởng của từng yếu tố lượng giống gieo và lượng đạm bón đến chỉ số diện tích lá của giống thí nghiệm 52

Bảng 4.10 Ảnh hưởng tương tác giữa lượng giống gieo và lượng đạm bón đến tích lũy chất khô của giống thí nghiệm 54

Trang 8

Bảng 4.11 Ảnh hưởng của từng yếu tố lượng giống gieo và lượng đạm bón

đến tích lũy chất khô của giống thí nghiệm 55 Bảng 4.12 Ảnh hưởng của lượng giống gieo và lượng đạm bón đến mức độ

nhiễm sâu bệnh hại của giống thí nghiệm 57 Bảng 4.13a Ảnh hưởng tương tác giữa lượng giống gieo và lượng đạm bón

đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất ở vụ Xuân 59 Bảng 4.13b Ảnh hưởng tương tác giữa lượng giống gieo và lượng đạm bón

đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất ở vụ Mùa 60 Bảng 4.14 Ảnh hưởng của từng yếu tố lượng giống gieo và lượng đạm bón

đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống thí

nghiệm 62 Bảng 4.15 Ảnh hưởng của lượng giống gieo và lượng đạm bón đến hiệu suất

sử dụng phân đạm của giống thí nghiệm 63 Bảng 4.16a Ảnh hưởng của lượng giống gieo và lượng đạm bón đến hiệu quả

kinh tế của giống thí nghiệm ở vụ Xuân 65 Bảng 4.16b Ảnh hưởng của lượng giống gieo và lượng đạm bón đến hiệu quả

kinh tế của giống thí nghiệm ở vụ Mùa 2015 66

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nguyễn Thị Nhâm

Tên luận văn: Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng giống gieo và lượng

đạm bón đến sinh trưởng và năng suất giống lúa Vật tư – NA2 tại Thanh Liêm,

Phương pháp nghiên cứu

Thí nghiệm 2 nhân tố bố trí theo kiểu ô lớn ô nhỏ, nhắc lại 3 lần, được tiến hành trong 2 vụ Xuân và Mùa năm 2015 Trong đó lượng giống gieo được

bố trí ở ô nhỏ với 5 mức 25 - 30 - 35 - 40 - 50 kg/ha và lượng đạm bón được bố trí ở ô lớn với 4 mức là 0 – 60 – 90 - 120 kg N/ha trên nền 90 kg P2O5 + 90 kg

K2O + 560 kg phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh/ha

Kết quả chính và kết luận

Kết quả thí nghiệm cho thấy, lượng giống gieo ít ảnh hưởng chiều cao cây, nhưng lượng đạm bón tăng làm tăng chiều cao cây của giống thí nghiệm trong cả 2 thời vụ Số dảnh hữu hiệu/m2, chỉ số diện tích lá và tích lũy chất khô tăng khi tăng lượng giống gieo và tăng lượng đạm bón Kết quả cũng chỉ ra ảnh hưởng rõ rệt của lượng đạm bón và lượng giống gieo đến năng suất lúa Vật tư - NA2 Năng suất thực thu trong thí nghiệm dao động từ 4,49 đến 6,71 tấn/ha trong

vụ Xuân và từ 4,00 đến 6,46 tấn/ha trong vụ Mùa Kết quả một lần nữa khẳng định, khi tăng lượng đạm bón thì có thể giảm lượng giống gieo Cụ thể như sau:

Ở mức bón 60, 90 và 120 kg N/ha nên sử dụng lượng giống gieo lần lượt là 35,

30, và 25 kg/ha

Trang 10

THESIS ABSTRACT Master candidate: Nguyen Thi Nham

Thesis title: Study the effect of the amount of rice seed sowing and

nitrogen fertilizer on the growth and yield of rice cultivar Vat Tu- NA2 in Thanh

Liem district, Ha Nam province

Educational organization: Vietnam National University of Agricuture

(VNUA)

Research Objcctives

The aim of this research is measuring the suitable amount of rice seed and

nitrogen fertilizer for direct sowing in order to get high yield

Materials and Methods

The two-factor experiments that were designed in Split-Plot, with three replication were carried out in both srping and summer seasons 2015 In the experiences, main factor consisted of four seeding rate treatments (25, 30, 35 and

40 kg/ha) and sub-factor was nitrogen fertilizer rates (0, 60, 90 and 120 kg N/ha) using basal fertilizer at the rate of 90 kg P2O5 + 90 kg K2O + 560 kg of Song Gianh micro-organic fertilizer/ha

Main findings and conclusions

The result showed that plant height was less affected by seeding rate whereas it is increased with increasing N fertilizer levels in both seasons Increasing seeding and nitrogen rates induced a higher number of panicle/m2, a greater leaf area index and more total dry matter The yield of rice between treatments fluctuated from 4,49 to 6,71 ton/ha in spring season and from 4,00 to 6,46 ton/ha in summer season The result confirmed that seeding rate should be reduced when the supplied nitrogen rate increased Hence, at rate of 60, 90, và

120 kg N/ha, the seeding rate should be 35, 30, and 25 kg/ha, respectively

Trang 11

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Hà Nam là tỉnh thuộc đồng bằng Sông Hồng với nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, bình quân diện tích đất canh tác/đầu người thấp Diện tích cấy lúa

cả năm hiện nay là 68.000 ha Sản lượng lương thực quy thóc là 400.000 tấn Chính vì vậy nên cây lúa ảnh hưởng lớn tới đời sống của nông dân trong tỉnh Cùng với tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa tăng nhanh đã thu hút hầu hết lực lượng lao động nông nghiệp nông thôn còn trẻ khỏe vào làm việc trong các khu công nghiệp

Trong nghề trồng lúa trước đây do điều kiện khó khăn về quản lý nước và

cỏ dại người nông dân đã chọn phương thức canh tác lúa cấy Ưu điểm chính của canh tác lúa cấy là quản lý cỏ dại thuận lợi hơn so với canh tác lúa gieo và ít bị rủi ro thiếu hoặc thừa nước Tuy nhiên, canh tác lúa cấy yêu cầu đầu tư lao động sống cao không còn phù hợp với tình hình lao động hiện nay tại địa phương Việc thay thế phương thức canh tác lúa cấy bằng phương thức gieo thẳng đang là xu hướng tất yếu ở những vùng thiếu lao động trong nông nghệp

Đứng trước tình hình đó, ngành nông nghiệp Hà Nam đã tích cực chuyển giao kỹ thuật gieo thẳng lúa cho nông dân Năm 2007 bắt đầu đưa kỹ thuật gieo thẳng vào sản xuất lúa và diện tích gieo thẳng trong toàn tỉnh đạt 50 ha Đến năm

2015 con số này đã đạt 14.331 ha trong vụ Xuân chiếm 42% diện tích và 7.281

ha trong vụ Mùa chiếm 21% diện tích gieo trồng lúa

Canh tác lúa theo phương thức gieo thẳng phù hợp với đặc tính nông sinh học của cây lúa, cây lúa đẻ nhánh sớm và dễ phát huy tiềm năng năng suất của giống nếu như có quy trình kĩ thuật phù hợp với điều kiện sinh thái và mức độ thâm canh của người sản xuất Trong quần thể ruộng lúa gieo cây lúa được phân

bố đều, có cơ hội hấp thu ánh sáng, dinh dưỡng thuận lợi hơn so với lúa cấy Tuy nhiên, nếu lượng giống gieo và lượng đạm bón thấp sẽ không đảm đủ số bông cần thiết để đạt năng suất cao vì các giống ngắn ngày hiện nay thời gian đẻ nhánh hữu hiệu không dài, ngược lại lượng giống gieo và lượng đạm bón quá nhiều dễ dẫn đến ruộng lúa bị nhiễm sâu bệnh hại ảnh hưởng đến năng suất Theo Pandey and Velasco (2002) lúa gieo thẳng có xu hướng bị nhiễm sâu bệnh nhiều hơn lúa cấy, đặc biệt là khi gieo thẳng với mật độ cao Vì vậy, xác định lượng giống gieo

Trang 12

và lượng đạm bón thích hợp cho từng giống lúa trên từng vùng đất là việc làm cần thiết góp phần tăng năng suất và hiệu quả trong sản xuất lúa

Mặc dù diện tích gieo thẳng tăng nhanh trong những năm qua nhưng thực tế sản xuất tại tỉnh Hà Nam cho thấy, tình hình sâu bệnh hại trên lúa gieo thẳng cao hơn so với lúa cấy do mật độ gieo còn dầy và lượng đạm bón nhiều Do đó, có nhiều ý kiến khác nhau về lượng giống gieo, lượng đạm bón bao nhiêu là hợp lý vừa đảm bảo năng suất cao đồng thời nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa và không ảnh hưởng đến môi trường do bón

dư thừa đạm Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về mật

độ và phân bón cho lúa cấy ở đồng bằng sông Hồng Tuy nhiên, tại tỉnh Hà Nam chưa có công trình nghiên cứu nào về lượng giống gieo và lượng phân bón cho lúa gieo thẳng Để góp phần xây dựng quy trình thâm canh lúa gieo

thẳng trên địa bàn tỉnh, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh

hưởng của lượng giống gieo và lượng đạm bón đến sinh trưởng và năng suất giống lúa Vật tư - NA2 tại Thanh Liêm, Hà Nam”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Xác định được lượng giống gieo và lượng đạm bón phù hợp góp phần xây dựng quy trình kĩ thuật thâm canh giống lúa Vật tư – NA2 bằng phương thức gieo thẳng tại tỉnh Hà Nam

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đề tài tiến hành thí nghiệm trên giống lúa Vật tư – NA2

- Thời gian thực hiện: vụ Xuân và vụ Mùa năm 2015

- Địa điểm: xã Liêm Phong, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam

1.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

1.4.1 Ý nghĩa khoa học

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp những dẫn liệu khoa học về mật

độ và phân bón cho lúa gieo thẳng tại ĐBSH

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp người sản xuất lúa lựa chọn lượng giống gieo và lượng đạm bón phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa tại

Hà Nam

Trang 13

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SẢN XUẤT LÚA TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

2.1.1 Tình hình nghiên cứu và sản xuất lúa trên thế giới

Trong thống kê nông nghiệp của FAO các loại lương thực truyền thống chủ yếu được sản xuất và tiêu thụ trên thế giới bao gồm năm loại là lúa mì, lúa gạo, ngô, kê và đại mạch Trong đó lúa mì và lúa gạo là hai loại lương thực cơ bản nhất dùng cho con người Ngày nay do sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ nhiều ngành nghề mới ra đời nhưng chưa có ngành nào dù hiện đại đến đâu cũng không có thể thay thế được sản xuất lúa gạo (Bùi Huy Đáp, 1999) Vào đầu những năm 1960, viện nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) đã được thành lập tại Losbanos, Laguna, Philippin Sau đó các viện nghiên cứu nông nghiệp quốc tế khác cũng được thành lập ở các châu lục và tiểu vùng sinh thái khác nhau như IRAT, EAT, CIAT, ICRISAT (Gomez and De Datta, 1995)

Với sự thành lập của Viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI nhiều giống lúa mới đã ra đời: giống lúa IR8 và hàng loạt các giống mới như IR5, IR22, IR36 Các nước cũng đã lai tạo ra 178 giống có thành phần di truyền từ IR và thích hợp với mỗi địa phương (Bùi Huy Đáp, 1980) Năm 1970 Viện đã đưa ra giống lúa chín sớm và chống sâu đục thân IR747, B2-6, giống chống bệnh bạc lá IR 497- 84- 3, IR 498- 1- 88

Hiện nay viện IRRI đang tập trung vào nghiên cứu chọn tạo ra các giống lúa

có năng suất siêu cao (siêu lúa) có thể đạt 13 tấn/vụ, đồng thời chọn tạo các giống lúa có chất lượng cao (giàu vitamin A, giàu protein, giàu lisine, có mùi thơm…) để vừa hỗ trợ các nước giải quyết vấn đề an ninh lương thực, vừa đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng (Cada and Escuro, 1997) Trung Quốc là nước đã nghiên cứu và đưa vào sản xuất thành công thành tựu khoa học kỹ thuật về lúa lai được đánh giá là một phát minh lớn về khoa học kỹ thuật trong nghề trồng lúa của thế kỉ 20 Nhưng phải đến năm 1973 các nhà khoa học Trung Quốc mới tìm đủ 3 dòng: dòng bất dục đực di truyền tế bào chất, dòng duy trì bất dục và dòng phục hồi bất dục Từ đây đã tạo ra các giống lúa ưu thế lai đầu tiên như: Nam ưu số 2, Sán ưu số 2, Uỷ ưu số 6 (Đinh Văn Lữ, 1978) Nhiệm vụ trọng tâm của viện nghiên cứu phát triển lúa lai của Trung Quốc trong

Trang 14

thế kỷ 21 là phát triển lúa lai 2 dòng và đẩy mạnh nghiên cứu lúa lai 1 dòng và lúa lai siêu cao sản nhằm tăng năng suất và sản lượng lúa gạo của đất nước (Lin, 2001) Các nhà chọn tạo giống đang tập trung và định hướng chọn tạo kiểu hình cây lúa có chiều cao lý tưởng là 100 cm (FAOSTAT.FAO.ORG)

Hiện nay trên thế giới có khoảng trên 100 quốc gia trồng và sản xuất lúa gạo, trong đó tập trung nhiều ở các nước Châu Á, 85% sản lượng lúa trên thế giới phụ thuộc vào 8 nước ở Châu Á: Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia, Banglades, Myamar và Nhật Bản Ở khu vực Đông Á còn có các nước trồng lúa khác như: Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên, Đài Loan Tùy thuộc vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, xã hội và trình độ thâm canh của mỗi nước mà năng suất và sản lượng có sự chênh lệch nhau nhưng theo xu hướng tăng dần trong những năm gần đây

Bảng 2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới

Năm Diện tích

(triệu ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

Nguồn: FAOSTAR FAO.ORG

2.1.2 Tình hình sản xuất, xuất khẩu lúa gạo tại Việt Nam

Việt Nam là nước có nền nông nghiệp với lịch sử phát triển hàng nghìn năm trong đó cây lúa có vị trí rất quan trọng Những năm gần đây, Việt Nam và Thái Lan đã trở thành 2 nước xuất khẩu gạo nhiều nhất trên thế giới Tuy nhiên, sản xuất lúa gạo ở Việt Nam còn nhiều thách thức trong chiến lược đảm bảo an toàn lương thực, trong sự đa dạng sinh học của một nền nông nghiệp bền vững đặc biệt là khả năng nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế (Nguyễn Hữu Nghĩa, 1996)

Qua số liệu bảng 2.2 cho thấy diện tích sản xuất lúa gạo của Việt Nam tăng không đáng kể từ 2001 – 2014 nhưng bên cạnh đó năng suất lúa lại tăng rõ rệt từ 42,9 tạ/ha (năm 2001) lên 57,1 tạ/ha (năm 2014) Nhờ vậy mà sản lượng lúa tăng nhanh qua các năm, năm 2001 sản lượng lúa đạt 32,14 triệu tấn sau 14 năm sản lượng lúa đã đạt 43,40 triệu tấn

Trang 15

Bảng 2.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa ở Việt Nam (2001 – 2014)

(triệu ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

đồ đồng khoảng từ 4000 – 3000 năm trước Công nguyên (Đinh Thế Lộc, 2006) Tính từ năm 1961 đến năm 2005, năng suất lúa của nước ta đã tăng lên 2,8 lần, giai đoạn tăng cao nhất là từ thập kỷ 80 đến nay Sản lượng lúa của Việt Nam cũng vì thế mà tăng liên tục từ 32,14 triệu tấn năm 2001 lên 43,4 triệu tấn năm

2014 (Bảng 2.2) Đây là thành công lớn trong công tác chỉ đạo và phát triển sản xuất lúa của Việt Nam (Nguyễn Thị Nguyệt, 2006)

Qua tìm hiểu về sản lượng lúa của các vùng trong cả nước chúng tôi thu được kết quả ở bảng 2.3

Qua bảng 2.3 cho thấy, việc sản xuất lúa nước ta trải dài trên sáu vùng sinh thái từ Nam vào Bắc Vùng đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất của cả nước, diện tích và sản lượng lớn gấp 3 lần diện tích và sản lượng lúa đồng bằng sông Hồng Đối với những vùng còn lại do điều kiện tự nhiên không thuận lợi do đó sản lượng chỉ chiếm một phần nhỏ so với hai vùng trên

Khi Việt Nam gia nhập vào AFTA đã có nhiều cơ hội, nhưng cũng có rất nhiều thách thức mới đối với nền kinh tế nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng Do đó cần phải biết phát huy những thế mạnh vốn có cũng như tìm mọi cách khắc phục những khó khăn yếu kém của mình để tận dụng những cơ hội mới góp phần phát triển kinh tế Năm 2011 xuất khẩu gạo của nước ta đã phá kỷ lục và đứng thứ nhất thế giới trong khi Thái Lan là nước xuất khẩu gạo số 1 thế

Trang 16

giới trong suốt hai thập kỷ trở lại đây Năm 2012 xuất khẩu 8,0 triệu tấn gạo đạt kết quả vượt mức kế hoạch Thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam là Trung Quốc với sản lượng 2,09 triệu tấn tương đương 898,43 triệu USD, chiếm 24,46% tổng kim ngạch Thị trường lớn thứ 2 là Philippines đạt 1,11 triệu tấn, trị giá 475,26 triệu USD, chiếm 12,94% tổng kim ngạch, tiếp đến là Indonesia đạt sản lượng 929,91 tấn, trị giá 458,39 triệu USD chiếm 12,48% tổng kim ngạch

Bảng 2.3 Sản lượng lúa 6 vùng của nước ta

Đơn vị: Triệu tấn

Nguồn: Tổng cục thống kê Năm 2013 cả nước đã xuất khẩu gần 6,6 triệu tấn gạo, giảm hơn 1,4 tấn so với năm 2012 Đây là mức xuất khẩu thấp nhất trong 3 năm vừa qua Với kết quả này Việt Nam đã giảm xuống xếp thứ 3 sau Ấn Độ và Thái Lan, xuất khẩu gạo không đáp ứng được mục tiêu đề ra 7,5 triệu tấn Nguyên nhân xuất khẩu gạo Việt Nam sụt giảm là do áp lực cạnh tranh cao và sụt giảm nhu cầu thị trường truyền thống như Malaysia, Philippines và Indonesia.Nhưng xuất khẩu gạo của nước ta tăng mạnh ở các thị trường như châu Âu (tăng 16%), châu Mỹ (tăng 25,9%),… và số gạo trắng cao cấp chiếm 35,5% tính đến tháng 10/2013 (Tổng cục thống kê)

Đồng bằng sông Hồng

Bắc trung bộ

và Duyên hải miền Trung

Tây Nguyên

Đông Nam

Bộ

Đồng bằng sông Cửu Long

Trang 17

2.2 NHỮNG ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG THỨC GIEO THẲNG LÚA

2.2.1 Ưu điểm

Gieo thẳng lúa có một số ưu điểm vượt trội so với lúa cấy, như:

- Thứ nhất, gieo thẳng lúa tiết kiệm lao động, tùy thuộc vào hệ thống sản xuất mà gieo thẳng lúa có thể tiết kiệm công lao động tới 50% và giảm bớt lao động nặng nhọc Người ta cho rằng sản xuất lúa theo phương thức gieo thẳng ướt làm giảm công lao động là nhờ không phải thực hiện các khâu: làm mạ, nhổ mạ, vận chuyển và cấy; công làm cỏ được giảm bớt nhờ sử dụng hóa chất diệt cỏ (De Datta and Flinn, 1986)

- Thứ hai, trong trường hợp công lao động giảm không đáng kể thì gieo thẳng lúa vẫn có lợi thế bởi gieo thẳng không đòi hỏi căng thẳng về lao động thời

vụ như lúa cấy, vì lúa cấy cần phải hoàn thành trong khung thời vụ nghiêm ngặt

để đảm bảo năng suất (Pandey and Velasco, 2002)

- Thứ ba, khi lượng mưa trong thời gian trồng trọt biến động tương đối lớn thì gieo thẳng có thể giúp giảm rủi ro trong sản xuất Gieo thẳng là một phương pháp canh tác đòi hỏi ít nước và công lao động Lúa gieo thẳng có thể tránh được hạn cuối vụ đây là một trong những yếu tố làm giảm năng suất lúa cấy,

nhất là nếu cấy muộn do có mưa muộn (Husain et al., 2008 and Pandey and Velasco, 2002)

- Thứ tư, gieo thẳng có thể tăng vụ dễ dàng Ở Philippin, mở rộng diện tích lúa gieo thẳng vào cuối những năm 1970 đã trồng được 2 vụ lúa ở những diện

tích mà trước đó nông dân chỉ cấy 1 vụ lúa (Pandey and Velasco,1998)

- Cuối cùng, gieo thẳng lúa có thể tiết kiệm nước tưới, đặc biệt là đối với gieo khô Tại vùng có tưới Muda của Mailaysia, nông dân đã có thể sản xuất lúa thành công bằng phương pháp gieo khô với lượng nước tưới thấp (Ho, 1994) Tương tự, lượng nước tưới cho lúa gieo ướt ở Philippin cũng thấp hơn đáng kể so

với lúa cấy (Bhuiyan et al., 1995)

2.2.2 Nhược điểm

Tuy nhiên, gieo thẳng lúa cũng có một số nhược điểm:

- Sự thành công của vụ lúa gieo thẳng (cả gieo khô và gieo ướt) phụ thuộc rất lớn vào việc quản lý nước ngay từ đầu vụ và ngăn chặn sự cạnh tranh của cỏ

dại (Mortimer et al., 2008)

Trang 18

- Trong điều kiện đồng ruộng không bằng phẳng và việc kiểm soát cỏ dại không được tốt thì năng suất lúa gieo thẳng có xu hướng thấp hơn so với lúa cấy

(De Datta and Flinn, 1986 and Moody, 1982)

- Chi phí trừ cỏ bằng thuốc hóa học cho lúa gieo thẳng có xu hướng cao hơn

so với lúa cấy Một cuộc khảo sát ở Iloido thuộc Philippin đã cho thấy, chi phí phòng trừ cỏ dại cho lúa gieo thẳng có thể chiếm tới 20% tổng chi phí sản xuất lúa trước thu hoạch

- Lúa gieo thẳng thường bị phá hại nhiều hơn bởi chim, chuột, ốc… do hạt được gieo nông trên bề mặt đất

- Ở giai đoạn chín, lúa gieo thẳng dễ bị đổ ngã hơn lúa cấy do bộ rễ ăn nông

- Lúa gieo thẳng có xu hướng bị nhiễm sâu bệnh nhiều hơn lúa cấy, đặc biệt

là khi gieo vãi với mật độ cao (Pandey and Velasco, 2002)

2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ LÚA GIEO THẲNG TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

2.3.1 Đặc điểm của lúa gieo thẳng so với lúa cấy

2.3.1.1 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển

- Sự nảy mầm:

Tác giả Yamauchi et al (1994) khi nghiên cứu về quỹ gen cây lúa thích hợp

cho gieo thẳng dưới bề mặt đất ngập nước đã cho rằng có một số giống lúa có thể nảy mầm trong điều kiện thiếu oxy và hình thành cây con khỏe mạnh từ đất yếm khí ngập nước Những giống lúa này không chỉ được sử dụng để cải thiện những hạn chế về kỹ thuật canh tác lúa gieo thẳng của người nông dân mà còn là để phát triển kỹ thuật tiến bộ hơn nữa về lúa gieo thẳng Tác giả cũng đã nhận định đặc tính sinh học được yêu cầu cho lúa gieo thẳng có thể là tỷ lệ mọc cây con và cường lực cây con cao Những giống có khả năng hình thành cây khỏe mạnh từ đất ngập nước sẽ được sử dụng vào việc phát triển các giống lúa thích hợp cho gieo thẳng trong điều kiện ngập nước Những giống lúa này được gọi là giống lúa chịu yếm khí, có thể chịu đựng được với điều kiện đất thiếu oxy Những giống lúa chịu yếm khí khi trồng có biểu hiện tốt hơn giống đối chứng ngay cả khi gieo

trong nước (Pablico et al., 1993)

- Đặc điểm bộ rễ:

Trang 19

Rễ của lúa gieo thẳng có xu hướng ăn sâu hơn, rộng hơn, do đó lúa gieo

thẳng thường chống chịu tốt hơn với điều kiện hạn hán (Castillo et al., 1998) Rễ

lúa gieo thẳng phát triển mạnh hơn lúa cấy về chiều sâu từ 3 - 5 cm, thậm chí 10

cm, chiều ngang 2 - 6 cm (Tống Văn Khiêm, 1994)

Nghiên cứu bộ rễ của lúa gieo thẳng và lúa cấy, De Datta (1990) cho biết, trọng lượng rễ khô trên 1 m2 của lúa gieo thẳng cao hơn lúa cấy ở mọi thời kỳ và đạt cao nhất là 160 g/m2 lúc 70 ngày sau khi gieo, trong khi lúa cấy đạt cao nhất

là 100 g/m2 ở giai đoạn 90 ngày sau cấy

Cia (1990) cũng có nhận xét, khối lượng khô của bộ rễ lúa gieo ướt đạt cao nhất lúc 70 ngày sau gieo, sau đó giảm xuống; còn khối lượng khô của bộ rễ lúa cấy thì đạt cao nhất trong giai đoạn chín

Một thí nghiệm thực hiện tại IRRI năm 1989 đã cho thấy tổng chiều dài rễ

và khối lượng rễ của lúa IR72 đạt được lúc trỗ ở biện pháp gieo thẳng cao hơn

so với biện pháp cấy (Nabheerong, 1990)

Kết quả nghiên cứu của Tống Văn Khiêm (1994) cũng cho thấy khối lượng

rễ tươi trên diện tích 1 m2 ở độ sâu 30 cm trong cả 3 giai đoạn sinh trưởng (đẻ nhánh rộ, sau trỗ và chín sáp) của lúa gieo thẳng cao hơn lúa cấy 9 - 90% Đặc điểm khác nhau này là do kết cấu quần thể ruộng lúa gieo thẳng có những đặc điểm khác với lúa cấy Ở ruộng lúa gieo, cây lúa được rải đều trên mặt đất nên đã tạo thành một màng lưới những bộ rễ và rễ dày đặc, chằng chịt với nhau Xét trên từng cây lúa thì bộ rễ của lúa gieo không bằng bộ rễ của bụi lúa cấy, nhưng tính trên một đơn vị diện tích, lúa gieo có mật độ cao hơn lúa cấy, do vậy số rễ nhiều hơn nên đạt được trọng lượng lớn hơn Mặt khác, lúa gieo trong suốt thời kỳ sinh trưởng có bộ rễ phát triển bình thường, không qua giai đoạn bị nhổ mạ đứt rễ, phải ngừng hoạt động một thời gian như lúa cấy nên bộ rễ cũng phát triển tốt hơn

- Sự đổ ngã ở lúa gieo thẳng: Lúa cấy thường bị đổ thân (gãy thân), trong

khi lúa gieo thẳng thường bị đổ rễ (Kim et al., 1993 and Balasubramaian and Hill, 2002)

Theo Balasubramania and Hill (2002) thì bộ rễ ăn nông và thân lúa cao, yếu

là những nguyên nhân chính gây đổ ngã ở lúa gieo thẳng với mật độ cao Ngoài mật độ cây cao, thì liều lượng và thời gian bón đạm, mức độ tưới ngập và tháo cạn nước giữa vụ cũng được cho là nguyên nhân gây ra đổ ngã

Trang 20

Kết quả nghiên cứu của Tống Văn Khiêm (1994) cho thấy lúa gieo thẳng thường bị đổ nhiều hơn so với lúa cấy chủ yếu là do lúa gieo thẳng không có các đốt thân nằm sâu trong đất

Để hạn chế thấp nhất hiện tượng lúa gieo thẳng bị đổ thì cần gieo với lượng giống thích hợp, bón phân đạm đủ lượng và đúng thời điểm, tiến hành tháo nước

giữa vụ (Balasubramaian and Hill, 2002)

Số liệu của Hàn Quốc (Lee, 1995) chỉ ra rằng tỷ lệ đổ cao nhất ở điều kiện lúa tưới ngập nước liên tục và thấp nhất khi ruộng lúa được tháo cạn nước 2 lần vào thời điểm 20 ngày và 30 ngày sau lần tưới đầu tiên hoặc tháo cạn nước 3 lần vào 20, 30 và 40 ngày sau lần tưới đầu tiên

- Thời gian sinh trưởng: Lúa gieo thẳng có thời gian sinh trưởng ngắn hơn

so với lúa cấy từ 7 - 15 ngày do lúa gieo thẳng có thể tránh khỏi tổn thương bộ rễ

khi nhổ mạ cấy (Husain et al., 2008) Kết quả nghiên cứu của Tống Văn Khiêm

(1994) qua 7 vụ liên tiếp từ năm 1991 đến năm 1994 tại vùng Đồng bằng sông Hồng cho thấy: so với lúa cấy, lúa gieo thẳng có thời gian sinh trưởng ngắn hơn

35 – 40 ngày ở vụ xuân và 7 – 13 ngày, thậm chí 20 ngày ở vụ mùa

2.3.1.2 Đặc điểm sinh lý của lúa gieo thẳng so với lúa cấy

Nghiên cứu đặc điểm sinh lý của lúa gieo thẳng và lúa cấy, Nguyễn Văn Luật (1963 và 1970) cho thấy lúa gieo thẳng có số bông đạt được nhiều hơn lúa cấy nhưng bông ngắn và ít hạt hơn Kết quả nghiên cứu gieo thẳng theo hàng và gieo vãi của Bùi Thị Thanh Tâm (2004) cho thấy biện pháp gieo hàng chỉ phát huy ưu thế trong điều kiện được quản lý cỏ dại một cách chặt chẽ và trong điều kiện như vậy gieo hàng sẽ cho năng suất tích lũy chất khô, số hạt chắc/bông và năng suất cao hơn gieo vãi một cách rõ rệt

Chỉ số diện tích lá (LAI): Theo Mada (1987) thì chỉ số diện tích lá ở công thức bón phân từ 0 - 90 kg N/ha của lúa gieo thẳng luôn luôn cao hơn lúa cấy và đạt cao nhất ở giai đoạn lúa làm đòng Ở công thức 150 kg N/ha, chỉ số diện tích

lá cao nhất là giai đoạn sau làm đòng 20 ngày Trong khi lúa cấy ở cả 3 công thức bón phân 0 - 90 - 150 kg N/ha đều có chỉ số diện tích lá cao nhất là thời kỳ làm đòng được 15 - 20 ngày Tống Văn Khiêm (1994) cũng cho rằng chỉ số diện tích lá của lúa gieo cao hơn lúa cấy ở cả 3 thời kỳ: tròn đòng, trỗ và chín Hiệu suất quang hợp thuần không khác nhiều lúa cấy, tốc độ tích lũy chất khô ở lúa gieo nhanh hơn lúa cấy Bùi Thị Thanh Tâm (2004) khi nghiên cứu kỹ thuật gieo

Trang 21

hàng trong sản xuất lúa ở ĐBSCL bằng máy gieo hàng cải tiến đã cho biết, gieo lúa theo hàng cho năng suất cao hơn gieo vãi (870 kg thóc/ha trong vụ hè thu và

630 kg thóc/ha trong vụ thu đông) do yếu tố tích lũy chất khô và chỉ số diện tích

lá quyết định Ngay trong cùng một mật độ 100 kg/ha thì gieo hàng vẫn cho chỉ

số diện tích lá cao hơn gieo vãi trong giai đoạn tròn đòng vào chín sáp

Hiệu suất sử dụng đạm: Gieo lúa theo hàng cho hiệu suất sử dụng đạm cao hơn gieo vãi tập quán Để đạt cùng một mức năng suất, biện pháp gieo lúa theo hàng có thể tiết kiệm được 20 kg N/ha so với gieo vãi tập quán

Hiệu quả sử dụng nước: Sattar and Khan (1994) cho rằng lúa gieo thẳng yêu cầu nước ít hơn 20% so với lúa cấy Lúa gieo thẳng có thời gian sinh trưởng ngắn hơn lúa cấy nên giảm tổng lượng nước tưới cho cả vụ và giảm được tổn thất

do hạn cuối vụ (Cabangon et al., 2002; Rathore and Sahu, 2002 and Sharma et

al., 2005) Theo Isvilanonda (2002), lúa gieo thẳng giảm chi phí sản xuất tới 6%

và tăng lợi nhuận lên 37% trong canh tác lúa có tưới Theo Pandey và Velasco (2002), lúa gieo thẳng có thể tiết kiệm nước tưới, đặc biệt là đối với gieo khô Tại vùng có tưới Muda của Malaysia, nông dân đã có thể sản xuất lúa thành công bằng phương pháp gieo khô với lượng nước tưới thấp (Ho, 1994) Tương tự, lượng nước tưới cho lúa gieo ướt ở Philippin cũng thấp hơn đáng kể so với lúa

cấy (Bhuiyan et al., 1995)

2.3.1.3 Năng suất của lúa gieo thẳng

De Datta and Nantasomsaran (1991) cho rằng với việc kiểm soát nước và

cỏ dại tốt, năng suất lúa gieo thẳng sẽ tương đương với lúa cấy Ở Ấn Độ, trên vùng đất màu mỡ, tầng canh tác trung bình, dựa vào nước trời là chính, nhìn

chung lúa gieo thẳng cho năng suất cao hơn lúa cấy (Nayak and Lenka, 1988)

Khi theo dõi trên 76.000 ha lúa gieo thẳng và lúa cấy ở vùng Muda của Malaysia từ năm 1986 đến 1988, các tác giả Lirojuki Hiraoka, Yutaka Kanetani, Hideto Full và Ho Naikin đã cho thấy năng suất lúa gieo thẳng cao hơn lúa cấy

từ 12 – 18% (Tan, 1987) Tại miền Bắc của Băngladesh, người nông dân thu hoạch lúa ở phương pháp gieo thẳng cao hơn phương pháp cấy là 835 kg/ha trong cùng điều kiện canh tác và thu được tiền lãi là 47 USD/ha do tiết kiệm được công cấy và năng suất đạt cao hơn (Sattar and Khan, 1994)

Theo tài liệu khảo nghiệm tại Ghanaghat 1988 – 1989 của Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế tiến hành với 5 phương pháp gieo cấy, kết quả là gieo thẳng cho năng

Trang 22

suất cao nhất (Sing, 1990) Ở Thái Lan, theo báo cáo khoa học được trình bày tại Hội nghị về lúa 2 vụ, tổ chức từ ngày 30/9 - 3/10 tại Tasukuba cho biết năng suất lúa gieo thẳng và lúa cấy là tương đương nhau, nhưng xu hướng trong tương lai lúa gieo thẳng sẽ phát triển mạnh hơn vì đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn lúa cấy (Pushavesa, 1987)

Theo Hussain et al (2008) thì gieo lúa thẳng hàng bằng công cụ có thể tăng

năng suất lúa từ 10 – 15%, yêu cầu lượng giống giảm đi đáng kể, giảm sự phụ thuộc vào lao động và hạ thấp chi phí sản xuất Số liệu báo cáo ở Băngladesh cho thấy, gieo lúa thẳng hàng bằng công cụ có thể tăng năng suất lúa từ 0,43 – 0,75 tấn/ha và thu nhập của nông dân trung bình tăng 7,5% so với gieo vãi và tăng 28%

so với cấy So sánh giữa lúa gieo thẳng và lúa cấy, Nguyễn Văn Luật (1973) thông qua một số kết quả nghiên cứu cho thấy phương thức gieo hay cấy đều không hạn chế phát huy tiềm năng của giống, mà là vấn đề áp dụng kỹ thuật thích hợp Cùng với quan điểm trên, Đinh Văn Lữ và cs (1976) cũng cho rằng năng suất lúa gieo thẳng không những không kém lúa cấy mà có nơi còn cao hơn lúa cấy vì năng suất lúa chủ yếu phụ thuộc vào điều kiện đất đai, phân bón, kỹ thuật canh tác thích hợp chứ không phụ thuộc hoàn toàn vào phương thức cấy hay gieo thẳng Khi nghiên cứu về lúa gieo thẳng và lúa cấy ở Đồng bằng sông Hồng, một số tác giả đã cho rằng lúa gieo thẳng cho năng suất cao hơn lúa cấy từ 5 – 20% (Bùi Huy Đáp, 1970; Nguyễn Văn Luật, 1973; Đinh Văn Lữ và cs., 1976)

Năng suất sinh vật khô của lúa gieo thẳng cao nhất là 18 tấn/ha ở thời kỳ sau trỗ 20 ngày và khi lúa chín giảm xuống còn 17,5 tấn/ha Ở lúa cấy, năng suất sinh vật khô tăng dần và đạt cao nhất là 16 tấn/ha lúc lúa trỗ Kết quả thí nghiệm thực hiện trên giống lúa IR64 với 5 mức bón phân đạm 30, 60, 90, 120 và 150 kg N/ha tại Munoz Nueva, Philippin vào mùa khô năm 1988 cho thấy, năng suất sinh vật của lúa gieo thẳng và lúa cấy tăng tỷ lệ thuận với lượng bón đạm Nhưng

ở mức bón dưới 90 kg N/ha, năng suất sinh vật của lúa cấy luôn cao hơn lúa gieo thẳng, từ mức bón trên 90 kg N/ha trở lên thì lúa gieo thẳng có năng suất sinh vật

cao hơn lúa cấy (De Datta et al., 1988)

Năng suất kinh tế của lúa gieo tăng tỷ lệ thuận với lượng phân bón, còn ở

lúa cấy, từ mức bón 120 kg N/ha năng suất kinh tế bắt đầu giảm (Reddy et al.,

1987) Lúa gieo thẳng ở Trung Quốc cho năng suất cao hơn lúa cấy khoảng 15%

(Ding et al., 1999) Ở Philippin, lúa gieo thẳng cho năng suất cao hơn lúa cấy 3 – 17% và tăng hiệu quả sử dụng nước 25 – 48% (Tabbla et al., 2002) Thí nghiệm

Trang 23

của Husain et al (2008) tại Băngladesh trong các năm 2004 – 2005 cho thấy,

năng suất lúa gieo thẳng tăng so với lúa cấy chủ yếu là do tăng số bông trên một đơn vị diện tích Ở các mật độ khác nhau, lúa gieo thẳng tạo ra số bông/m2 cao hơn lúa cấy từ 32 - 63% tùy giống và mùa vụ Ngược lại, số hạt trên bông của lúa gieo thẳng lại giảm so với lúa cấy từ 22 – 39%

Tại khu vực Bago thuộc Myamar, người ta tiến hành trình diễn 3 phương pháp cấy, gieo vãi và gieo hàng thì gieo hàng có số bông trên đơn vị diện tích và

số hạt chắc/bông cao hơn gieo vãi (196 bông so với 171 bông và 94 hạt so với 78 hạt) Năng suất thu được ở phương pháp gieo hàng cũng cao hơn gieo vãi là 348 kg/ha

Đánh giá khả năng năng suất của lúa gieo thẳng, Tống Văn Khiêm (1994) cho biết: các chỉ tiêu cấu thành năng suất như số hạt/bông, tỷ lệ hạt chắc, trọng lượng 1000 hạt ở lúa gieo thấp hơn lúa cấy, chỉ có số bông/m2 của lúa gieo là cao hơn nhiều lúa cấy

Kết quả nghiên cứu các biện pháp gieo thẳng lúa của Bùi Thị Thanh Tâm (2004) cho thấy biện pháp gieo hàng chỉ phát huy ưu thế trong điều kiện được quản lý cỏ dại một cách chặt chẽ và trong điều kiện như vậy gieo hàng sẽ cho năng suất tích lũy chất khô, số hạt chắc/bông và năng suất cao hơn gieo vãi một cách rõ rệt Biện pháp gieo hàng có số bông/m2 thấp hơn gieo vãi nhưng số hạt chắc/bông lại cao hơn và tỷ lệ hạt lép thấp hơn Kết quả cho ở cùng mật độ gieo 100 kg/ha biện pháp gieo hàng đã cho năng suất lúa cao hơn gieo vãi 350 – 720 kg/ha

2.3.2 Tình hình sản xuất lúa gieo thẳng

2.3.2.1 Diện tích lúa gieo thẳng

Lúa cấy là tập quán canh tác có từ lâu đời và hiện nay chiếm đại bộ phận diện tích trồng lúa trên thế giới Lúa gieo thẳng tuy ra đời sau lúa cấy nhưng nó lại phát triển rất nhanh và nó thúc đẩy cho việc cơ giới hoá trong sản xuất lúa Tại Malaysia diện tích lúa gieo thẳng chiếm 90% tổng diện tích trồng lúa cả nước Ở Cộng Hoà Triều Tiên cho tới năm 1975 diện tích mới có 20.000 ha chủ yếu phát triển dựa vào nước trời là chính, đến năm 1988 chỉ còn 3.000 ha do thời tiết thay đổi, năm bị hạn nặng, năm bị rét và có khi mưa quá lớn, thứ đến là phá hoại của chim, chuột, cỏ dại… Tuy nhiên, việc sản xuất lúa bằng phương pháp gieo thẳng lại mang lại hiệu quả cao, cộng với giá công lao động ngày càng tăng cùng với sự ra đời của các loại thuốc trừ cỏ chọn lọc khiến vài năm trở lại đây đất

Trang 24

nước này chuyển mạnh từ cấy tay sang gieo thẳng mà chủ yếu bằng máy bay trên

nền đất ướt và bằng máy gieo hạt trên nền đất khô (Lim et al., 1991)

Ở Srilanka, trồng lúa theo phương pháp gieo thẳng đang chiếm ưu thế Đến năm 1988, diện tích lúa gieo thẳng đạt 80% tổng diện tích trồng lúa của nước này

(Pathinayake et al., 1990)

Ở Thái Lan, diện tích lúa gieo thẳng tăng từ 604,44 ha năm 1985 – 1986 lên 645,31 ha năm 1989-1990 Các tỉnh gieo thẳng chính ở Thái Lan là Pathum

Thani, Chachongsao, Nakhom Pathom và Suphan Buri (De Datta,1990)

Ở Ấn Độ, năng suất trung bình của lúa gieo thẳng trên đất chủ động nước bình quân khoảng 3 tấn/ha; còn vùng canh tác dựa vào nước trời chỉ từ 0,8 – 1,2

tấn/ha (Biswas et al., 1990)

Ở Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI), so sánh về năng suất của hai phương pháp gieo thẳng và cấy trên vùng đất khô cho kết quả thể hiện không rõ nét nhưng trong điều kiện mùa mưa lúa gieo thẳng cho năng suất cao hơn mùa

khô (De Datta,1990)

Tại Việt Nam, phương pháp gieo thẳng lúa được áp dụng rất phổ biến và đã trở thành tập quán sản xuất lúa của nông dân ở các tỉnh ĐBSCL Lúa gieo thẳng chiếm khoảng 80% diện tích lúa ở miền Nam, trong khi ở miền Bắc phương pháp cấy vẫn là chủ yếu

Với lúa cấy, mật độ là số khóm/m2, lúa gieo thẳng là lượng giống gieo/ đơn

vị diện tích cần thiết để dải đều hạt trên mặt đất, hạt giống gieo mọc đều, đảm bảo số cây mọc/đơn vị diện tích Trong một giới hạn nhất định thì việc tăng số bông/đơn vị diện tích sẽ không làm giảm số hạt/bông và khối lượng hạt, nhưng nếu vượt quá giới hạn đó sẽ làm giảm số hạt/bông và khối lượng hạt vì chế độ dinh dưỡng và ánh sáng không đảm bảo đủ cho cây sử dụng, làm cho những cá thể trong quần thể tranh chấp dinh dưỡng cũng như điều kiện ánh sáng, nhiệt độ… dẫn đến tiểu khí hậu trên đồng ruộng không đảm bảo cho cây lúa sinh trưởng, phát triển Ngoài ra, việc bố trí mật độ hợp lý còn tiết kiệm được hạt giống, công lao động và các khoản chi phí khác góp phần nâng cao hiệu quả kinh

tế trong sản xuất lúa hiện nay

Quan hệ giữa mật độ và năng suất cây lấy hạt là quan hệ Parapol, tức là mật

độ tăng tới một ngưỡng nhất định nào đó thì năng suất tăng theo nhưng nếu vượt quá ngưỡng này thì năng suất lại giảm

Trang 25

Gieo thẳng lúa là hình thức gieo trực tiếp hạt giống trên đồng ruộng, không qua giai đoạn làm mạ và cấy Ở Miền Bắc, gieo thẳng còn gọi là gieo vãi, ở Đồng Bằng sông Cửu Long thì gọi là gieo thẳng; hiện đang áp dụng 5 kiểu sạ thẳng, dựa vào điều kiện đất đai, chế độ nước, kiểu chuẩn bị đất và chuẩn bị hạt giông Đó là sạ ướt, sạ khô, sạ ngầm, sạ chay và sạ gởi (Bảng 2.4) Trong đó chủ yếu áp dụng sạ ướt, tức là hạt giống được qua ngâm ủ và được gieo khi ruộng được trang phẳng

Bảng 2.4 Các phương pháp gieo thẳng (sạ) ở Đồng Bằng sông Cửu Long

- Cày, bừa

- Đào mương thoát phèn

Chuẩn bị đất Như sạ ướt hoặc sạ khô tuỳ cách sạ lúa vụ đầu

- Trộn thuốc bảo vệ hạt

Hạt giống

- Ngâm ủ vừa nảy mầm

- Trộn thuốc bảo vệ mầm

Hạt giống

- Khô, hoặc ngâm ủ tuỳ cách

sạ lúa vụ đầu

- Trộn lẫn hạt giống lúa ngắn ngày và lúa mùa theo tỷ lệ thích hợp Nguồn: Nguyễn Ngọc Đệ (2008) Phương pháp gieo thẳng lúa đã được áp dụng ở các tỉnh phía Bắc từ những năm 1970 Trước đây do tập quán gieo mạ, cấy đã ăn sâu vào tiềm thức của nông dân, đồng thời hệ thống thuỷ lợi chưa hoàn chỉnh Nếu áp dụng gieo thẳng mật

độ cao, nhiều sâu bệnh, năng suất thấp và chi phí giống cao nên việc mở rộng diện tích gieo còn hạn chế (Minh Huệ, 2008) Tuy nhiên, trong những năm gần đây diện tích lúa gieo thẳng ở các tỉnh phía Bắc mỗi năm đều tăng 1,2 – 1,5 lần, chứng tỏ sản xuất lúa gieo thẳng thực sự có hiệu quả, được nông dân tiếp nhận,

áp dụng và nhanh chóng lan rộng trong sản xuất

Áp dụng gieo thẳng còn giúp nông dân tiết kiệm thời gian, tiết kiệm công lao động trong khâu cấy và nhổ mạ Nếu gieo bằng công cụ gieo hàng, nông dân còn giảm được 30% lượng giống so với gieo thẳng bằng tay, cấy Theo thống kê các tỉnh từ Nghệ An trở ra thì diện tích lúa gieo thẳng cả năm 2010 chiếm 11-

Trang 26

12% tổng diện tích gieo cấy, riêng vụ Đông xuân 2011 chiếm 14-15% tổng diện tích gieo cấy, như các tỉnh Thái Bình (19,8%), Phú Thọ (20,5%), Bắc Giang (21%), Hà Nam (25%), Hưng Yên (27%), Thái Nguyên (29%), Hải Dương (37,5%), Quảng Ninh (37,2%), Lai Châu (62,3%), Cao Bằng (65,4%) và Điện Biên (80%) Trong những năm tới tiếp tục đẩy mạnh việc ứng dụng sản xuất lúa gieo thẳng có hiệu quả cao, phù hợp với hướng công nghiệp hoá – cơ giới hoá trong sản xuất lúa ở miền Bắc Để giải phóng sức lao động cho nông dân, mục tiêu đến năm 2020, chúng ta quyết tâm thực hiện làm lúa 3 không: không cấy, không gặt, không phơi tức là cơ giới hoá đồng bộ từ khâu cấy lúa đến thu hoạch

và sau thu hoạch Để thực hiện mục tiêu trên, cần chú ý đến hệ thống tưới tiêu, thuỷ lợi để tăng diện tích lúa gieo thẳng Trong thời gian tới phấn đấu hoàn thành công tác dồn điền đổi thửa giai đoạn 2, giảm số thửa ruộng trên hộ, tăng diện tích mỗi ô thửa, xoá bỏ bờ vùng, bờ thửa tạo thành những cánh đồng lớn thuận tiện cho cơ giới hoá…

Một số kết quả nghiên cứu lúa gieo thẳng ở Học viện Nông nghiệp Việt Nam (1976) như diệt cỏ dại bằng thuốc trừ cỏ 2,4D, các nghiên cứu về thời vụ, mật độ gieo đã mang lại những hiệu quả thiết thực và đã được ứng dụng trên đồng ruộng đã cho thấy điều đó (Đinh Văn Lữ và cs., 1976)

Sản xuất lúa theo phương pháp gieo thẳng vấn đề trừ cỏ dại hết sức quan trọng Mật độ gieo trồng hợp lý có tác dụng hạn chế cỏ dại, sâu bệnh Gieo trồng thưa sẽ tạo điều kiện cho nhiều loài cỏ dại sinh trưởng và phát triển, lấn át cây trồng Do đó phải mất nhiều công làm cỏ Gieo trồng dày tốn công dặm tỉa, là môi trường thích hợp cho sâu bệnh phát sinh và gây hại (Phạm Văn Lầm, 1999)

Áp dụng thuốc trừ cỏ trên lúa gieo thẳng làm tăng năng suất lúa 1,9 tấn/ha so với ruộng đối chứng không phun Còn so với phương thức làm cỏ bằng tay thì năng suất tăng lên 0-200 kg thóc/ha, đồng thời giảm công lao động từ 49-81 ngày công/ha, tuỳ theo liều lượng thuốc phun thấp hay cao (Tiw, 1994)

2.3.2.2 Mật độ (lượng giống gieo)

Theo Dương Hồng Hiên (1993), khi nghiên cứu về mật độ lúa gieo thẳng đã kết luận rằng: lượng giống gieo không nên quá cao Thường trong vụ Đông Xuân, để đạt 700 bông/m2 chỉ cần 100 – 150 kg hạt giống/ha trong điều kiện giống nảy mầm tốt, ruộng làm đất tốt và sạ ướt thóc đã nảy mầm Nếu điều kiện kém hơn thì cũng chỉ cần 180 – 200 kg/ha là cùng Vụ lúa Hè Thu ở Nam bộ chỉ

Trang 27

có từ 400-500 bông/m2 thì phải rút bớt số lượng thóc giống, còn ở Duyên hải miền Trung thì vẫn gieo thẳng như vụ Đông Xuân để đạt khoảng 700 bông/m2 Thời vụ có tính chất quyết định đến khả năng sinh trưởng và phát triển của mỗi một giống lúa Xác định thời gian gieo hợp lý để tránh điều kiện thời tiết bất thuận giúp giảm lượng giống gieo Lúa gieo thẳng có thời gian sinh trưởng ngắn hơn lúa cấy nên thường phải gieo muộn hơn thời kỳ gieo mạ để cấy Ở vụ Xuân thường gieo xung quanh tiết Lập Xuân (05-10/2 hàng năm) lúa thường cho năng suất cao và ổn định Nếu thời tiết ẩm nên gieo trước Lập Xuân Trong vụ Mùa thời vụ gieo thẳng rộng rãi hơn vụ Xuân Có thể gieo từ thượng tuần tháng 6 đến thượng tuần tháng 7, trường hợp có cây vụ Đông cực sớm nên gieo vào hạ tuần tháng 5, năng suất lúa cao nhất là gieo trong tháng 6 (Nguyễn Văn Hoan, 2004) Kết quả một số nghiên cứu về mật độ gieo thẳng ở trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam trong vụ Xuân 1972, 1973 và vụ Mùa năm 1973 ở các mật độ gieo thẳng từ 60, 80, 100, 120, 140 kg/ha đã cho thấy trong vụ Xuân gieo thẳng với mật độ 100 - 120 kg/ha là cho năng suất cao nhất nhưng trong vụ Mùa chỉ nên gieo với mật độ từ 80 - 100 kg/ha là cho năng suất cao nhất (Đinh Văn Lữ và cs., 1976)

Theo kết luận của Dương Hồng Hiên (1993), thì vụ Xuân gieo dày hơn

vụ Mùa vì thời tiết rét, tỷ lệ mọc và sinh trưởng của cây là kém hơn, mật độ gieo có thể biến động từ 80-120 kg/ha tuỳ theo tình hình đất đai, phân bón và thời tiết khí hậu

Kết quả nghiên cứu của Đỗ Khắc Thịnh và cs (2011), cho thấy tại Bình Phước lượng giống gieo thẳng phù hợp ở vụ Hè Thu là 120 kg/ha và vụ Đông Xuân là 120-150 kg/ha; tại Đắk Nông 90-120 kg/ha và 120-150 kg/ha cho vụ Hè Thu và vụ Đông Xuân

Hiện nay, người dân do quá lạm dụng phân hoá học và thuốc bảo vệ thực vật cho sản xuất nên năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế không cao do chi phí sản xuất lớn Vì vậy, để góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả của việc trồng lúa nhằm tăng thu nhập cho những nông dân trồng lúa và bảo vệ môi trường, tiến tới xây dựng nền nông nghiệp bền vững, Bộ NN và PTNT đã quyết định thành lập và xây dựng chương trình 3 giảm 3 tăng áp dụng cho canh tác lúa Mục đích của chương trình này giúp người nông dân giảm 3 thứ trong sản xuất lúa là giảm lượng giống gieo, giảm lượng thuốc trừ sâu bệnh, giảm lượng phân

Trang 28

đạm; 3 tăng là tăng năng suất lúa, tăng chất lượng và tăng hiệu quả kinh tế Ngoài

ra, còn nhiều chương trình khác như 1 phải 5 giảm, hoặc canh tác lúa cải tiến SRI đều mục đích giảm lượng giống gieo Việc giảm lượng giống gieo có ý nghĩa rất quan trọng trong sản xuất lúa, giúp người nông dân giảm chi phí về giống, giảm công dặm tỉa, làm cho ruộng lúa thông thoáng dẫn đến giảm sâu bệnh nên giảm được chi phí về thuốc bảo vệ thực vật Đồng thời giúp người nông dân nâng cao kiến thức quản lý đồng ruộng có biện pháp điều chỉnh mật độ để đảm bảo số bông/m2 như điều chỉnh mực nước trong ruộng như rút nước xen kẽ để tăng khả năng đẻ nhánh cho lúa, bón phân chăm sóc đúng lượng và đúng thời điểm Việc xác định lượng giống cần gieo để giảm chi phí giống mà vẫn đảm bảo hiệu quả kinh tế là rất cần thiết Nếu gieo quá dày sẽ tăng chi phí thóc giống, đặc biệt là giống lúa lai Mặt khác nếu gieo dày kéo theo tăng công lao động tỉa dặm, chăm sóc, đặc biệt sâu bệnh sâu bệnh hại tăng lên làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm Dựa trên cơ sở của sức này mầm, khối lượng 1000 hạt, độ sạch của lô hạt giống và mật độ cây trên một đơn vị diện tích có thể đưa ra công thức tính lượng hạt giống cẩn gieo (Nguyễn Văn Hoan, 2004)

A – Giá trị gieo trồng của lô hạt giống (%)

B – Độ sạch của lô hạt giống (%)

C – Sức nảy mầm của hạt (%)

K – Khối lượng 1000 hạt (g)

Ví dụ: giống lúa Bắc thơm số 7 để đạt năng suất trên 6 tấn/ha cần đảm bảo

số cây mọc trên m2 là khoảng 150 cây với hệ số đẻ nhánh là 2 thì số bông/m2 là

300 bông/m2 , biết C = 90%, B = 99,5%, K = 19g Do đó ta tính được A = 89,5%,

D = 31 kg/ha

Trang 29

Lê Hữu Hải và cs (2006), tập quán gieo thẳng truyền thống của nông dân miền Nam với mật độ cao khoảng 200 kg/ha, bón nhiều phân đạm sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh hại phát triển và làm giảm năng suất từ 38,2 – 64,6%, giảm tỷ lệ gạo nguyên từ 3,1 – 11,3% và giảm trọng lượng 1000 hạt từ 3,7 – 5,1% Còn ở các tỉnh phía Bắc mật độ thấp hơn so với miền Nam chỉ từ 40 - 60 kg/1000 m2 Điều đó có thể được lý giải là do điều kiện canh tác, khí hậu của hai miền khác nhau Trong miền Nam, điều kiện thời tiết khí hậu thích hợp cho cây lúa phát triển quanh năm, đồng thời diện tích đất canh tác rộng, nên nông dân sử dụng lượng giống gieo cao để không mất công dặm tỉa và làm cỏ Ở miền Bắc chủ yếu chỉ sản xuất hai vụ lúa/ năm, diện tích đất canh tác nhỏ lẻ, người dân có điều kiện chăm sóc, tỉa dặm để phân bố đều các cây trên đơn vị diện tích, phát huy khả năng đẻ nhánh của cây lúa Hiện nay, trong sản xuất lúa áp dụng phương pháp gieo theo hàng, giúp nông dân tiết kiệm được lượng giống sử dụng từ 100 –

150 kg/ha và làm tăng năng suất từ 0,5 – 1,5 tấn/ha so với sạ lan (Nguyễn Văn Luật, 2001) Ngoài ra, phương pháp này còn làm tăng hiệu quả kinh tế so với sạ lan đến 20% (Lê Trường Giang, 2005)

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Tuất và Phạm Đức Hùng (2010), lượng giống gieo hợp lý cho Chợ Mới, tỉnh An Giang và Phù Cát, tỉnh Bình Định

là từ 70-80 kg/ha cho cả hai phương pháp gieo sạ lan và gieo hàng đều cho năng suất lúa cao hơn so với gieo cấy 120 kg/ha

Phương pháp gieo theo hàng đã được nhiều địa phương áp dụng do giảm được giống và công tỉa dặm, chi phí thuốc Bảo vệ thực vât Theo Nguyễn Thị Dung và cs (2010), mật độ gieo 50 kg giống/ha năng suất chỉ đạt 4,89 tấn/ha Theo Lê Trường Giang và Phạm Văn Phượng (2010) kết quả thí nghiệm cho thấy gieo theo hàng ở mật độ 50, 100 kg/ha và sạ lan lượng giống gieo 100 kg/ha cho năng suất tương ứng là 6,56; 6,79 và 6,08 tấn/ha đều cao hơn sạ lan ở lượng giống gieo 200 kg/ha chỉ đạt 5,67 tấn/ha Trong đó, gieo hàng lượng giống gieo 100 kg/ha có năng suất cao nhất đạt 6,79 tấn/ha và tăng năng suất đến 19,75% so với thí nghiệm sạ lan 200 kg/ha Trong vụ Hè Thu, gieo theo hàng lượng giống gieo 50 và 100 kg/ha đều có tác dụng tích cực trong việc hạn chế sự gây hại của rầy nâu, bệnh đạo ôn, chuột và chống đổ ngã cho lúa

2.3.3 Bón phân cho lúa gieo thẳng

Theo Đinh Văn Lữ và cs (1976) thì đối với lúa gieo thẳng do kết cấu quần thể của ruộng lúa có những đặc điểm khác với lúa cấy, nhất là sự phân bố rễ lúa trong

Trang 30

đất đã làm cho quá trình hút thu dinh dưỡng của cây thay đổi Sự tạo thành một màng lưới những bộ rễ dày đặc, chằng chịt với nhau đã tạo nên một diện tích hút dinh dưỡng khá lớn của cả quần thể ruộng lúa gieo thẳng Vì vậy, nó đòi hỏi cung cấp liên tục một lượng chất dinh dưỡng cần thiết qua các thời kỳ sinh trưởng

Trong các yếu tố dinh dưỡng, đạm là yếu tố chủ yếu ảnh hưởng nhiều đến năng suất Bón phân đạm cho lúa gieo thẳng được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu Theo De Datta (1990), lúa gieo thẳng hút NH4+ nhanh hơn lúa cấy ở 20 ngày đầu vì ở giai đoạn đầu lúa cấy bị tổn thương bộ rễ Trong trường hợp không bón đạm hoặc bón đạm ở mức thấp dưới 75 kg N/ha, lúa gieo thẳng cho năng suất cao hơn lúa cấy; khi tăng phân đạm tới 75 kg N/ha trở lên, năng suất lúa gieo thẳng và cấy gần ngang nhau Ramaiah (1986) thì cho rằng ở giai đoạn 30 ngày sau gieo, lúa gieo thẳng hút đạm mạnh hơn lúa cấy, ngược lại lúa cấy hút đạm mạnh hơn lúa gieo thẳng vào giai đoạn cuối sinh trưởng và chín

Ở Philippin, bón phân đạm cho lúa gieo thẳng ít hơn lúa cấy nhưng năng suất đạt được như nhau vì lúa gieo thẳng hấp thụ 47% lượng đạm tổng số đem bón, còn lúa cấy chỉ hấp thụ được 37%, mất đạm do bay hơi ở lúa gieo thẳng giảm 10% so với lúa cấy Như vậy, vùng Đông Nam Á nếu trồng lúa bằng phương pháp gieo thẳng sẽ có thể tiết kiệm được phân đạm hàng năm tương đương 450 triệu USD (De Datta, 1990)

Tại Triều Tiên người ta tiến hành thí nghiệm bón phân đạm cho lúa gieo thẳng với liều lượng 80, 160 và 240 kg N/ha, chia làm 5 lần bón: 20% bón lót, 30% bón thúc lúa 5 lá, 20% thúc lúa 7 lá, 20% thúc đòng và 10% thúc trổ đều Kết quả cho thấy ở lượng bón 160 kg N/ha và 240 kg N/ha cho năng suất như nhau (4,8 tấn/ha),

lượng bón 80 kg N/ha cho năng suất chỉ kém 2 lượng bón trên 0,4 tấn/ha (Lim et al.,

1991)

Ở Ấn Độ, trong mùa mưa, bón phân đạm với liều lượng 80 kg N/ha đã làm gia tăng năng suất lúa và đạm được chia thành 4 lần bón vào lúc 10, 30, 45 và 60 ngày sau khi gieo cho năng suất cao hơn một cách có ý nghĩa so với bón 3 lần vào các thời điểm 10, 30 và 45 ngày sau gieo (Bhattcharya and Singh, 1992)

2.3.4 Phòng trừ cỏ dại cho lúa gieo thẳng

Các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước gần đây cho thấy biện pháp gieo thẳng các giống lúa cao sản đã dẫn tới sự xâm nhập của cỏ dại ngày một nghiêm trọng hơn đặc biệt là cỏ lồng vực (Dương Văn Chín, 1995 và Hoàng Anh Cung,

Trang 31

1981) Sự cạnh tranh của cỏ dại với cây trồng dẫn tới sự thất thoát về năng suất biến động từ 44 – 100% tùy thuộc vào kiểu canh tác khác nhau (Moody, 1993) Năng suất lúa tại Philippin giảm gần 13% vào mùa mưa và 11% vào mùa khô do cạnh tranh với cỏ dại gây ra; tương tự như vậy ở Mỹ là 15% (Smith, 1989)

Ở Việt Nam sự thất thoát giảm năng suất do cạnh tranh của cỏ dại gây ra ở ĐBSCL ước tính lên tới 46% (Dương Văn Chín, 1997) Ước lượng trên toàn thế giới, năng suất giảm do cạnh tranh cỏ dại là khoảng 10% (De Datta, 1990) Hiện nay, một tác nhân quan trọng nữa được xác định gây ảnh hưởng nhiều tới năng suất lúa đó là lúa cỏ Lúa cỏ được coi là dịch hại mới cho vùng trồng lúa với phương pháp gieo thẳng Sự xuất hiện của lúa cỏ là mối đe dọa lớn đối với kỹ nghệ sản xuất lúa gạo nhiều nước Tại ĐBSCL, sự lây lan lúa cỏ nghiêm trọng nhất trên lúa gieo khô, tiếp đến là lúa gieo ướt, thấp nhất là trên lúa cấy, vụ hè thu nghiêm trọng hơn so với các vụ khác (Dương Văn Chín, 1995, 1997)

Để đánh giá tác động của mật độ lúa cỏ (Oryza sativaL f spontanea) đến

sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của lúa gieo thẳng và lúa cấy Cao et al

(2007) thuộc Trường Đại học Fudan – Trung Quốc đã thực hiện một thí nghiệm đồng ruộng gồm 2 phương pháp gieo cấy (gieo thẳng và cấy) và 4 mật độ lúa cỏ (0; 5; 25 và 125 cây/m2) Số liệu thí nghiệm đã chỉ ra rằng trên ruộng lúa gieo thẳng, lúa cỏ phát triển kém hơn có ý nghĩa so với trên ruộng lúa cấy Ngược lại, với sự có mặt của lúa cỏ thì lúa gieo thẳng sinh trưởng tốt hơn, đẻ nhánh nhiều hơn và cho năng suất cao hơn lúa cấy

Đối với lúa, giai đoạn 40-50 ngày sau khi gieo là giai đoạn cạnh tranh gay gắt nhất, năng suất lúa sẽ giảm đột ngột nếu giai đoạn này không được phòng trừ

cỏ dại (Vega et al., 1967) Ở giai đoạn từ gieo đến 20 ngày sau gieo, khả năng cạnh tranh của cỏ không ảnh hưởng tới năng suất lúa (Chon et al., 1993) Do vậy

việc trừ cỏ cho lúa gieo thẳng cần được thực hiện nghiêm ngặt vào giai đoạn từ

30 – 50 ngày sau gieo, trong đó 40 ngày sau gieo nếu được làm sạch cỏ thì năng suất cao nhất

Biện pháp gieo hàng chỉ phát huy ưu thế trong điều kiện được quản lý cỏ dại một cách chặt chẽ và trong điều kiện như vậy gieo hàng sẽ cho năng suất tích lũy chất khô, số hạt chắc/bông và năng suất cao hơn gieo vãi một cách rõ rệt Trong báo cáo Hội thảo lúa quốc tế tổ chức từ ngày 31/3 đến 3/4 năm 2000, tại IRRI (Philippin), Hill đã cho biết: Quản lý nước là kỹ thuật canh tác quan

Trang 32

trọng nhất quyết định sự thành công hay thất bại của việc kiểm soát cỏ dại trên ruộng lúa gieo thẳng Lúa cấy phần lớn cho phép sử dụng biện pháp tưới ngập sớm như là một biện pháp kiểm soát cỏ dại Tuy nhiên, khi chi phí lao động tăng cao thì nông dân ở Nam Á và Đông Nam Á đã chuyển sang sản xuất lúa gieo thẳng ngày càng tăng, trong khi lúa gieo thẳng ở vùng nhiệt đới khó có thể áp dụng tưới ngập sớm hay tưới ngập liên tục Tháo cạn nước đầu vụ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của rễ và bám vào đất cây lúa non dễ dàng luôn đi kèm với sự tăng cỏ dại Hơn nữa thời gian và mức độ tháo cạn nước ảnh hưởng rất lớn đến thành phần và mật độ cỏ dại Để ruộng cạn hoặc giữ lớp nước nông trong giai đoạn sinh trưởng đầu của cây lúa kích thích sự nảy mầm và sinh trưởng của các loài cỏ dại như cỏ lồng vực (Echinochloa), cỏ lông công (Leptochloa), trong khi tưới ngập liên tục kích thích sự phát triển của các loài cỏ thủy sinh lá rộng như cỏ rau mác (Monochoria vaginalis) Do đó, sự chuyển từ cấy lúa sang gieo thẳng dẫn đến gia tăng sự cạnh tranh của hệ cỏ dại và các chất diệt cỏ được sử dụng ngày càng nhiều hơn Vấn đề trì hoãn tưới ngập hoặc tháo cạn nước để tiến hành gieo thẳng càng trở nên tồi tệ vì đồng ruộng không bằng phẳng và hệ thống tưới tiêu yếu kém ở các nước Châu Á Ngay cả khi ruộng được tưới ngập thì sự khác biệt về độ sâu nước chỉ vài cm cũng

có thể thay đổi đáng kể thành phần của hệ cỏ dại (Hill et al., 2001)

Đưa nước vào ruộng sớm từ 3 – 5 ngày sau gieo với mực nước ngập 5cm đã hạn chế tốt cỏ lồng vực và gia tăng năng suất lúa so với đưa nước muộn 7 – 10 ngày sau gieo (Tống Văn Khiêm, 1993) Đưa nước vào ruộng sớm từ 4 ngày sau gieo đã hạn chế tốt sự nảy mầm, phát triển và cạnh tranh của nhóm cỏ hòa thảo, đặc biệt là cỏ lồng vực và cỏ đuôi phụng trong ruộng lúa gieo ướt; duy trì mực nước ngập trong ruộng 5 cm trở lên đã hạn chế khá tốt khả năng lây nhiễm của nhóm cỏ hòa thảo (Chu Văn Hách, 1999)

Luân canh cây trồng có thể được sử dụng để làm giảm tới mức thấp nhất thiệt hại do cỏ dại gây ra cho cây trồng Các kết quả nghiên cứu cho thấy luân canh lúa với đậu tương đã làm giảm một cách đáng kể sự lấn át của lúa cỏ trong

các vụ kế tiếp (Griffin et al., 1991)

Sự cạnh tranh của cỏ dại ở lúa gieo thẳng lớn hơn so với lúa cấy, do cỏ và lúa sinh trưởng cùng lúc nên việc trừ cỏ bằng hóa chất diệt cỏ cũng gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên sử dụng thuốc diệt cỏ vẫn là một biện pháp có hiệu quả thiết thực và kinh tế để giảm sự cạnh tranh của cỏ dại và sự thiệt hại trong sản xuất

Trang 33

lúa Sử dụng thuốc trừ cỏ trên ruộng lúa gieo thẳng giảm thời gian để kiểm soát

cỏ dại xuống còn 84 giờ/ha, trong khi cấy lúa thì phải làm cỏ bằng tay ít nhất 2

lần với 590 giờ/ ha (Mazid et al., 2008) Hiệu lực của thuốc cỏ phụ thuộc vào tỷ

lệ áp dụng, sự cạnh tranh của cây cỏ, các yếu tố về đất đai, khí hậu, độ ẩm

(Gogoi et al., 1994)

Khi nghiên cứu các biện pháp quản lý cỏ dại trên lúa gieo thẳng ở Pakistan,

Hussain et al (2008) đã tiến hành thử nghiệm để so sánh hiệu quả của 4 loại

thuốc trừ cỏ khác nhau so với phương pháp làm cỏ bằng tay Kết quả thí nghiệm cho thấy 2 loại thuốc trừ cỏ Nominee 100SC và Sunstar Gold 60WP cho hiệu quả tốt nhất, kiểm soát được 90,5% và 87,15% cỏ dại (tương ứng với 2 loại thuốc) Lợi nhuận thu được cao nhất ở công thức sử dụng thuốc trừ cỏ và thấp nhất đối với công thức làm cỏ bằng tay Theo tác giả thì làm cỏ bằng tay là phương pháp tốn nhiều thời gian và lao động nên không thể áp dụng khi sản xuất quy mô lớn

2.4 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG PHÂN BÓN CHO LÚA

2.4.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ phân bón trên thế giới

Phân bón có từ rất lâu đời cùng với sự ra đời của nền nông nghiệp và bắt đầu bằng việc sử dụng các loại phân hữu cơ Từ trước Công Nguyên con người

đã quan tâm đến việc bón phân hữu cơ cho ruộng, ở Trung Quốc đã biết bón phân xanh và phân bón đã được bắt đầu sử dụng từ các phân của động vật và mở rộng ra các loại phân hữu cơ khác

Sang thế kỷ XX, nền nông nghiệp thế giới chuyển từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp hiện đại đã khiến cho năng suất lúa tăng gấp đôi Vì vậy, trên thế giới lượng N, P, K sản xuất không ngừng tăng lên Theo Hiệp hội Công nghiệp Phân bón Quốc tế (IFA), sản xuất phân bón thế giới từ năm 2002 đến năm

2007 tăng trung bình 3,7%/năm, nhưng do năm 2008 – 2009 tăng trưởng âm nên kéo theo cả giai đoạn 2002 – 2009 sản xuất phân bón thế giới chỉ tăng trung bình 1,7%/năm Cuối năm 2009, thị trường phân bón đã hồi phục nhưng mới có chỉ có đạm tăng trưởng nhẹ, lân và kali giảm Trong các nước sản xuất phân bón chủ lực, Trung Quốc dẫn đầu chiếm 33% tổng sản lượng của thế giới, tiếp đến là Mỹ 10%, Ấn độ 9% và Nga 9%, Châu Âu 8%, các nước khác 26%

Trang 34

Nguồn: FAOSTAT.FAO.ORG Hình 2.1 Tỷ lệ đóng góp của các nước sản xuất phân bón trên thế giới

năm 2010/2011

Trong các sản phẩm phân bón sản xuất và cung ứng trên thị trường thì ure chiếm tỷ trọng lớn nhất tiếp đến NPK các loại, MOP, AN và DAP/MAP Theo số liệu của Fetercon, năm 2013, Trung Quốc cung cấp đến 29% tổng nguồn cung đạm ure toàn cầu, Ấn Độ 8% và Nga với 6% Nguồn cung Lân và Kali tập trung khi nhóm 10 quốc gia sản xuất lớn nhất thế giới đã chiếm đến 86% và 97% nguồn cung Lân và Kali

Tiêu thụ phân bón có liên quan chặt tới sản xuất nông nghiệp Nếu sản xuất thuận lợi, kinh tế và thị trường phát triển thì nhu cầu phân bón tăng cao Chính vì vậy, trong một số giai đoạn tình hình kinh tế thế giới bất ổn, sản xuất khủng hoảng sẽ kéo sản xuất và tiêu thụ phân bón giảm xuống Theo Hiệp hội Công nghiệp Phân bón Quốc tế, mức tiêu thụ phân bón đạt gần 173 triệu tấn vào năm

2007, sau đó giảm mạnh xuống còn 155.3 triệu tấn vào năm 2008/2009 (do khủng hoảng kinh tế ở nhiều nước) và tăng trở lại vào cuối năm 2009 lên 163,5 triệu tấn, và ước đạt 184 triệu tấn (tính theo lượng dinh dưỡng) Dự báo niên vụ 2014-2015, nhu cầu phân bón các loại của thế giới sẽ tiếp tục tăng trưởng 2-2,1% đạt 187,9 triệu tấn

Trang 35

Bảng 2.5 Nhóm 10 nước tiêu thụ phân bón lớn nhất toàn cầu năm 2010 - 2011

Trong các sản phẩm phân bón được tiêu thụ thì sản lượng ure chiếm nhiều nhất, có đến 150 triệu tấn tiêu thụ trong năm 2010 và lượng này tăng lên 155 triệu tấn năm 2011 Ngoài ra, các loại phân bón DAP, MAP, NPK,… cũng được người nông dân ngày càng quan tâm

2.4.2 Tình hình sử dụng phân bón cho lúa ở Việt Nam

Việt Nam là một trong những nước sử dụng phân bón tương đối cao do người dân áp dụng rất nhiều biện pháp kỹ thuật trong thâm canh Việt Nam hiện đang là một trong 20 quốc gia sử dụng phân bón cao nhất thế giới Trong đó, lúa có nhu cầu phân bón lớn nhất chiếm 65% trong nhu cầu tiêu thụ phân bón Việt Nam

Theo FAOSTAT.FAO.ORG, lượng phân bón sử dụng của Việt Nam đang

có mức cao lên đến 297kg/ha so với mức 156kg/ha của các quốc gia lân cận điều này làm năng suất lúa Việt Nam cao hơn so với các quốc gia lân cận (55,7 tạ/ha

so với 38,9 tạ/ha, 2011) nhưng do tình trạng ô nhiễm môi trường vì lạm dụng loại

Trang 36

phân bón hoá học nên lượng phân bón sử dụng giảm dần trong những năm gần đây

Trong năm 2014 Việt Nam tiêu thụ khoảng 10,8 triệu tấn phân bón, tăng trưởng khoảng 4% Trong đó, nhu cầu tiêu thụ phân NPK là lớn nhất khi chiếm đến 37% tổng nhu cầu, với giá trị khảng 110 nghìn tỷ đồng/năm

Theo số liệu Tài Chính Hải Quan, nhập khẩu phân bón của Việt Nam năm

2014 đạt 3,79 triệu tấn, trị giá 1,237 tỷ USD giảm 17,85% về lượng và 26,38%

về trị giá so với cùng kỳ năm 2013

Xuất khẩu phân bón của Việt Nam trong năm 2014 đạt khoảng 1,078 triệu tấn các loại, kim ngạch 383,7 triệu USD, tăng nhẹ 0,51% về lượng nhưng giảm 8,06% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013

Theo dự báo của Hiệp hội Công nghiệp Phân bón Quốc tế (IFA), trong năm

2015 cả nước cần khoảng 10,83 triệu tấn phân bón các loại không thay đổi so với năm 2014

NPK là mặt hàng có lượng xuất khẩu lớn nhất đạt 338,86 nghìn tấn chiếm

tỷ trọng 31,42% về lượng; Ure đứng thứ 2 chiếm mức tỷ trọng 27,84% tương đương 300,25 nghìn tấn Xuất khẩu phân bón sang Campuchia vẫn lớn nhất với 461,79 nghìn tấn chiếm tỷ trọng 42,82% giảm so với mức tỷ trọng 47,38% trong năm 2013 và giảm 9,17% so với lượng xuất khẩu năm 2013

Hiện nay, trong sản xuất để được năng suất tối đa con người đã quá lạm dụng phân bón hoá học, gây lãng phí nghiêm trọng Theo số liệu tính toán của các chuyên gia trong lĩnh vực nông hoá học ở Việt Nam, hiện nay hiệu suất sử dụng phân đạm mới chỉ đat từ 30-45%, lân từ 40-45% và kali từ 40-50%, tuỳ theo chân đất, giống cây trồng, thời vụ, phương pháp bón, loại phân bón,…

Hệ số sử dụng chất dinh dưỡng của phân bón ở nước ta thấp Đối với lúa hệ

số sử dụng đạm là 30-40%, lân là 22% và kali là 45% Tỷ lệ đạm cây hút được trên lượng đạm bón chỉ vào khoảng 30-50% vùng nhiệt đới, tuỳ thuộc vào tính chất đất, phương pháp, số lượng, thời gian bón đạm Tỷ lệ này có xu hướng cao khi mức đạm bón thấp và vùi sâu đạm vào trong đất hoặc bón thúc ở các thời kỳ sinh trưởng về sau Hiêu quả sử dụng đạm là số kg hạt lúa, ngô thu được khi cây hấp thu 1kg đạm Ở vùng nhiệt đới, hiệu suất sử dụng đạm vào khoảng 50, tức với mỗi kg đạm cây hút được sẽ sản sinh ra khoảng 50 kg hạt Nguyên nhân của hiệu quả sử dụng phân bón thấp là do đạm trong đất lúa bị mất đi qua các con

Trang 37

đường sau: do bốc hơi dưới dạng NH3, do rửa trôi bề mặt, rửa trôi theo chiều sâu nhất là dạng nitrat (NO3-), bay hơi dưới dạng N2 do hiện tượng phản nitrat hoá Theo Nguyễn Như Hà (2006), nên sử dụng phân NPK chuyên dùng cho lúa

Đó là phân đa yếu tố cung cấp đủ chất dinh dưỡng không chỉ đa lượng (N, P, K)

mà cả trung lượng (Ca, Mg, S) và vi lượng (Fe, Mn, Cu,…) nên tiết kiệm được chi phí phân bón

2.5 NGHIÊN CỨU VỀ PHÂN ĐẠM CHO LÚA TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

Nitơ là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng nhất đối với cây lúa nói riêng và cây trồng nói chung trong các giai đoạn sinh trưởng và phát triển Nitơ tham gia vào nhiều thành phần trong cây như: axit amin, protein, axit nucleic, sắc tố trong

lá làm nhiệm vụ hấp thu ánh sáng mặt trời, thành phành ATP, NADP.H+ trong trao đổi năng lượng, trong thành phần của phytohocmon, phytocrom…

Trong cuốn “Bàn về lúa sinh thái nhiệt đới” Alosin cho rằng: “Đạm ở dạng amon có tác dụng tốt đến cây lúa thời kỳ non Còn đạm dạng nitrat có ảnh hưởng đến cây lúa ở giai đoạn sau của quá trình sinh trưởng Lúa cần một lượng đạm cần thiết chủ yếu ở thời kỳ đẻ nhánh và chín sữa, cho đến giai đoạn chín sữa cây lúa đã hút tới 80% lượng đạm cần thiết, vì vậy thời gian từ bắt đầu đẻ nhánh đến cuối chín sữa là giai đoạn khủng hoảng dinh dưỡng đạm đối với cây lúa

Tại Việt Nam, nghiên cứu cho thấy, sau khi tăng lượng đạm thì cường độ quang hợp, cường độ hô hấp và hàm lượng diệp lục của cây lúa tăng lên, nhịp

độ quang hợp, hô hấp không khác nhau nhiều nhưng cường độ quang hợp tăng mạnh hơn cường độ hô hấp gấp 10 lần cho nên vai trò của đạm làm tăng tích luỹ chất khô (Nguyễn Thị Lẫm, 1994) Kết quả nghiên cứu trên 2 giống lúa ngắn ngày (Khang Dân và giống mới chọn tạo) của Tăng Thị Hạnh (2014) cho thấy: khi tăng mức đạm bón từ 0 đến 45 kg N/ha đã làm tăng các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất ở cả vụ xuân và vụ mùa

Viện Nông hoá thổ nhưỡng đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của đất, mùa

vụ và liều lượng phân đạm bón vào đến tỷ lệ đạm do cây lúa hút (Nguyễn Như Hà, 2006) Không phải do bón nhiều đạm thì tỷ lệ đạm của lúa sử dụng nhiều Ở mức phân đạm 80 kgN/ha, tỷ lệ sử dụng đạm là 46,6%, so với mức đạm này có phối hợp với phân chuồng tỷ lệ đạm hút được là 47,4% Nếu tiếp tục tăng liều lượng đạm đến 160N và 240N có bón phân chuồng thì tỷ lệ đạm mà cây lúa sử dụng cũng giảm

Trang 38

xuống Trên đất bạc màu so với đất phù sa Sông Hồng thì hiệu suất sử dụng đạm của cây lúa thấp hơn Khi bón liều lượng đạm từ 40N - 120N thì hiệu suất sử dụng phân giảm xuống, tuy lượng đạm tuyệt đối do lúa sử dụng có tăng lên (Cục Khuyến nông

và Khuyến ngư, 1998) Kết quả nghiên cứu trên giống lúa chịu mặn (giống Cườm), Phạm Văn Cường và cs (2012) cho thấy: khi tăng nồng độ đạm từ 1,425mM đến 4,275mM diện tích lá và hàm lượng diệp lục trong lá, tích lũy chất khô tăng sau 28 ngày trồng Trên giống lúa Việt Lai 20 khi giảm mức bón đạm từ 1,6g N/chậu 5 lít xuống mức thấp 0,8g N/chậu thì diện tích lá giảm theo các thời kỳ theo dõi và cường

độ quang hợp cũng giảm Mức đạm bón khác nhau (60, 90, 120 và 150 kg N/ha) đã ảnh hưởng đến chỉ số diện tích lá LAI ở các giai đoạn đẻ nhánh rộ, trỗ và chín sáp Kết quả cho thấy LAI tăng theo tuyến tính theo lượng đạm bón ở mức tin cậy 95% Kết quả nghiên cứu sử dụng phân bón đạm trên đất phù sa sông Hồng của Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam đã tổng kết các thí nghiệm 4 mức đạm từ năm 1992 đến năm 1994, kết quả cho thấy: Phản ứng của phân đạm đối với cây lúa phụ thuộc vào thời vụ, loại đất và giống lúa (Nguyễn Như Hà, 1999)

Viện nghiên cứu lúa đồng bằng sông Cửu Long đã có nhiều thí nghiệm về ảnh hưởng của liều lượng đạm khác nhau đến năng suất lúa vụ đông xuân và hè thu trên đất phù sa đồng bằng sông Cửu Long Kết quả nghiên cứu trung bình nhiều năm, từ năm 1985 - 1994 của Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long, kết quả này đã chứng minh rằng: Trên đất phù sa được bồi hàng năm có bón 60

P2O5 và 30 K2O làm nền thì khi bón đạm đã làm tăng năng suất lúa từ 15-48,5% trong vụ đông xuân và hè thu tăng từ 8,5 - 35,6% Hướng chung của hai vụ đều bón đến mức 90N có hiệu quả cao hơn cả, bón trên mức 90N này năng suất lúa tăng không đáng kể Theo Nguyễn Thị Lẫm (1994), khi nghiên cứu về bón phân đạm cho lúa cạn đã kết luận: Liều lượng đạm bón thích hợp cho các giống có nguồn gốc địa phương là 60N/ha Đối với những giống thâm canh cao như CK136 thì lượng đạm thích hợp từ 90-120 kg N/ha

Theo Nguyễn Như Hà (1999), khi nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy và ảnh hưởng của liều lượng đạm tới sinh trưởng của giống lúa ngắn ngày thâm canh cho thấy: Tăng liều lượng đạm bón ở mật độ cấy dày có tác dụng tăng tỷ lệ nhánh hữu hiệu

Các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã kết luận: cùng một mức năng suất, lúa lai hấp thu lượng đạm và lân thấp hơn lúa thuần, ở mức năng suất 75 tạ/ha lúa lai hấp thu đạm thấp hơn lúa thuần 4,8%, hấp thu lân thấp hơn 18,2% nhưng hấp thu kali cao hơn 30% Với ruộng lúa cao sản thì lúa lai hấp thu đạm cao hơn lúa

Trang 39

thuần 10%, hấp thu kali cao hơn 45%, còn hấp thu lân thì bằng lúa thuần (Nguyễn Thị Lẫm, 1994)

Kết quả thí nghiệm trong chậu cho thấy: Trên đất phù sa sông Hồng bón đạm đơn độc làm tăng năng suất lúa lai 48,7% trong khi đó năng suất giống lúa CR203 chỉ tăng 23,1% Với thí nghiệm đồng ruộng, bón đạm, lân cho lúa lai có kết quả

rõ rệt Nhiều thí nghiệm trong phòng cũng như ngoài đồng ruộng cho thấy hiệu quả của đạm: 1 kg N bón cho lúa lai làm tăng năng suất 9 - 18 kg thóc, so với lúa thuần thì tăng 2 - 13 kg thóc Như vậy, trên các loại đất có vấn đề như đất bạc màu, đất gley khi các yếu tố khác chưa được khắc phục về độ chua, lân và kali thì vai trò của phân đạm không phát huy được, do bón đạm, lân nên năng suất lúa lai tăng có 17,7% trên đất bạc màu và 11,5% trên đất gley

Với đất phù sa sông Hồng, bón đạm với mức 180 kg/ha trong vụ Xuân và

150 kg N/ha trong vụ Mùa cho lúa lai vẫn không làm giảm năng suất lúa Tuy nhiên, ở mức đạm bón 120 kg N/ha làm cho hiệu quả cao hơn các mức khác (Nguyễn Như Hà, 1999) Thời kỳ bón đạm là thời kỳ rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực của phân để làm tăng năng suất lúa Với phương pháp bón đạm (bón tập trung vào giai đoạn đầu và bón nhẹ vào giai đoạn cuối) của Việt Nam vẫn cho năng suất lúa cao, năng suất lúa tăng thêm từ 3,5 tạ/ha (Nguyễn Văn Bộ,

1999 và Nguyễn Thị Lẫm, 1994)

Kết quả nghiên cứu thời kỳ bón đạm cho thấy rất rõ hiệu quả của phân đạm trên đất phù sa sông Hồng đạt cao nhất ở thời kỳ bón lót từ 50-75% tổng lượng đạm, lượng đạm bón nuôi đòng chỉ từ 12,5- 25% Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng

của phân đạm bón đối với lúa lai, Phạm Văn Cường và cs (2005), cho thấy khi

tăng lượng đạm bón khả năng sinh trưởng của lúa lai tốt hơn, tăng diện tích lá, tăng khả năng trao đổi khí CO2 do đó làm cho quá trình sản xuất chất khô cao ở giống lai F1

Hiệu suất sử dụng phân đạm của giống Bắc thơm 7 tại huyện Điện Biên,

tỉnh Điện Biên dao động từ 16,0 – 25,6 kg thóc/kg N ở lượng giống gieo sạ 35 kg/ha và từ 17,2 – 26,3 kg thóc/kg N ở lượng giống gieo 50 kg/ha Hiệu suất sử dụng phân đạm giảm khi tăng mức đạm bón (Vũ Thị phương Thảo, 2013)

Như vậy, các nghiên cứu về sử dụng phân đạm cho cây lúa vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu cho từng giống lúa, các điều kiện thổ nhưỡng khí hậu và tập quán canh tác khác nhau

Trang 40

2.6 SẢN XUẤT LÚA GẠO TẠI TỈNH HÀ NAM

Năm 1997, tỉnh Hà Nam được tái lập sau 32 năm hợp nhất với tỉnh Nam Định, Ninh Bình Ở thời điểm năm 1997, Hà Nam gặp rất nhiều khó khăn do cơ

sở hạ tầng kinh tế - xã hội thấp kém, hệ thống giao thông, công trình tưới tiêu xuống cấp, hạ tầng đô thị lạc hậu Nền kinh tế thuần nông, nhỏ lẻ, manh mún, tỷ trọng kinh tế nông nghiệp chiếm gần 50% Thu nhập bình quân đầu người 2,1 triệu đồng, mới bằng 58,2% mức bình quân cả nước, thu ngân sách 72,4 tỷ đồng Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức vừa thiếu về số lượng, vừa mất cân đối về cơ cấu Đời sống của cán bộ, công chức và phần lớn dân cư gặp khó khăn

Trong những năm qua, được sự quan tâm của chỉ đạo của tỉnh nên tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân đạt 4,1% (2001-2005) Trong đó: trồng trọt tăng 1,7%, sản lượng lương thực đạt 420 tấn/năm Hình thành vùng cây lương thực chuyên canh, thâm canh có năng suất cao ở ba huyện Duy Tiên,

Lý Nhân, Bình Lục Tại đây đầu tư vùng lúa đặc sản xuất khẩu có năng xuất cao Cùng với đó, tỉnh đã đẩy mạnh việc ứng dụng nhanh chóng, có hiệu quả các quy trình quản lý cây trồng tổng hợp (ICM), quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), quy trình gieo thẳng bằng công cụ gieo thẳng hàng, đưa các loại phân NPK chuyên dùng và phân sinh học vào trong sản xuất,… nhờ đó năng suất lúa của Hà Nam đạt trên 12 tấn/ha

Bảng 2.6 Kết quả sản xuất lúa tại Hà Nam từ năm 2011 đến 2015:

Đvt: Diện tích: ha, năng suất: tạ/ha

Ngày đăng: 16/11/2018, 23:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
29. Nguyễn Văn Luật (1963). “Thực nghiệm gieo thẳng lúa xuân ở xã Hưng Đạo, Hải Dương”. Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp. Bộ Nông nghiệp, Hà Nội.tr.2-3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực nghiệm gieo thẳng lúa xuân ở xã Hưng Đạo, Hải Dương
Tác giả: Nguyễn Văn Luật
Năm: 1963
30. Nguyễn Văn Luật (1970). “Cấy và gieo thẳng lúa xuân”. Phụ trang Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, Hà Nội. tr. 54-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấy và gieo thẳng lúa xuân
Tác giả: Nguyễn Văn Luật
Năm: 1970
93. Minh Huệ (2008). Khuyến khích nông dân áp dụng phương pháp gieo thẳng. Truy cập ngày 25/2/2015 từ http://www.vusta.vn/vi/news/Thong-tin-Su-kien-Thanh-tuu-KH-CN/Khuyen-khich-nong-dan-ap-dung-phuong-phap-gieo-thang-26948.html Link
94. Thái Bình: Hội nghị đánh giá hiệu quả sản xuất lúa gieo thẳng vụ Xuân năm 2011. Truy cập ngày 20/3/2015 từhttp://wcag.mard.gov.vn/pages/news_detail.aspx?NewsId=16679 Link
4. Bùi Thị Thanh Tâm (2004). Nghiên cứu kỹ thuật gieo hàng trong sản xuất lúa ở ĐBSCL bằng máy gieo hàng cải tiến. Luận văn Tiến sỹ Nông nghiệp. Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam Khác
5. Chu Văn Hách (1999). Nghiên cứu một số biện pháp phòng trừ cỏ dại cho lúa sạ ướt ở ĐBSCL. Luận án Tiến sỹ nông nghiệp. Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam Khác
6. Cục Khuyến nông và Khuyến lâm (1998). Bón phân cân đối và hợp lý cho cây trồng. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Khác
7. Dương Hồng Hiên (1993). Cơ sở khoa học của quy trình kỹ thuật thâm canh lúa đạt năng suất cao, giá thành hạ, phẩm chất tốt. Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp. Nhà xuất bản Nông nghiệp. tr. 27-30 Khác
8. Dương Văn Chín (1995). Phòng trừ cỏ dại lúa sạ ướt. Hội nghị khoa học Khoa trồng trọt. Trường Đại học Cần Thơ. tr. 166-172 Khác
9. Dương Văn Chín (1997). Lúa cỏ trên ruộng lúa tại các tỉnh phía Nam. Kết quả nghiên cứu khoa học 1977-1997 Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long. Nhà xuất bản Nông nghiệp – Tp. Hồ Chí Minh. tr. 149-154 Khác
11. Đinh Văn Lữ, Nguyễn Hữu Tề, Phùng Đăng Chinh và Phạm Quý Hiệp (1976). Kỹ thuật gieo vãi lúa trên ruộng nước. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Khác
13. Đỗ Khắc Thịnh, Hoàng Đức Dũng, Nguyễn Huy Việt và Nguyễn Thị Thanh Huyền (2011). Nghiên cứu hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất giống lúa mới và xây dựng mô hình sản xuất tại vùng đồng bào dân tọc ở hai tỉnh Bình Phước và Đăk Nông. Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn: kỳ 2, tháng 7/2011 Khác
14. Đường Hồng Dật (2002). Sổ tay hướng dẫn sử dụng phân bón. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Khác
15. Hoàng Anh Cung (1981). Khả năng trừcỏ ở ruộng lúa bằng hóa chất 2,4-D và MCPA. Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp.Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Khác
16. Lê Hữu Hải, Phạm Văn Kim, Phạm Văn Dư, Trần Thị Thu Thuỷ và Dương Ngọc Thành (2006). Ảnh hưởng của bệnh đạo ôn đến năng suất và chất lượng xay xát của lúa gạo ở hai mật độ sạ và các lượng phân đạm. Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học Khoa nông nghiệp và sinh học ứng dụng 2006. Quyển 2: Bảo vệ thực vật – Khoa học cây trồng – Di truyền giống nông nghiệp Khác
17. Lê Trường Giang (2005). Năng suất và lợi nhuận của phương pháp sạ hàng trong sản xuất lúa vụ Đông Xuân 2002 – 2003 tại tỉnh Cần Thơ. Tạp chí Khoa học. Trường Đại học Cần Thơ Khác
18. Lê Trường Giang và Phạm Văn Phượng (2010). Ảnh hưởng của mật độ sạ đến năng suất lúa vụ Hè Thu 2010 tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang. Tạp chí Khoa học 2011. Trường Đại học Cần Thơ Khác
19. Nguyễn Hữu Nghĩa (1996). Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam - thực trạng và những vấn đề chính trong công tác cải thiện sản xuất lúa gạo thông qua sự hợp tác đa phương. Kết quả nghiên cứu Khoa học nông nghiệp 1995 - 1996 Khác
21. Nguyễn Như Hà (1999). Phân bón cho lúa ngắn ngàythâm canh trên đất phù sa sông Hồng. Luận án tiến sỹ nông nghiệp. Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Khác
22. Nguyễn Như Hà (2006). Giáo trình bón phân cho cây trồng. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w