1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

thành phần bọ trĩ trên cây họ bầu bí, diễn biến số lượng và biện pháp hóa học phòng trừ chúng trên cây dưa chuột vụ hè thu năm 2015 tại văn lâm, hưng yên

87 204 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 7,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu: Điều tra thu thập thành phần bọ trĩ ngoài đồng trên 4 loại cây họ bầu bí: dưa chuột, bí xanh, bí ngô và mướp tại huyện Văn Lâm, Hưng Yên được tiến hành theo quy

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

PHẠM THỊ HỒNG ĐIỆP

THÀNH PHẦN BỌ TRĨ TRÊN CÂY HỌ BẦU BÍ, DIỄN BIẾN SỐ LƯỢNG VÀ BIỆN PHÁP HÓA HỌC PHÒNG TRỪ CHÚNG TRÊN CÂY DƯA CHUỘT

VỤ HÈ THU NĂM 2015 TẠI VĂN LÂM, HƯNG YÊN

Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật

Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Hồng Thái

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Phạm Thị Hồng Điệp

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của cơ quan, các thầy cô, bạn bè

và người thân

Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo

TS Phạm Hồng Thái – Bộ môn Côn trùng – Khoa Nông học – Học viện nông nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành bản luận văn này

Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của tập thể các thầy, cô giáo bộ môn Côn trùng – Khoa Nông học, Ban đào tạo Sau học viện – Học viện nông nghiệp Việt Nam đã giúp

đỡ và tạo điều kiện tốt cho tôi trong suốt quá trình học tập

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo và tập thể cán

bộ Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc, Trung tâm Giám định kiểm dịch thực vật – Cục Bảo vệ thực vật đã động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa học

và thực hiện đề tài nghiên cứu

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Hà Thanh Hương, người đã giúp đỡ tôi hết sức tận tình, chu đáo trong quá trình giám định mẫu

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến tất cả bạn bè, người thân

và gia đình đã luôn động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Phạm Thị Hồng Điệp

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục từ viết tắt v

Danh mục bảng vii

Danh mục hình viii

Trích yếu luận văn viii

Thesis abstract x

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích, yêu cầu 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 3

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

2.2 Tình hình sản xuất cây rau họ bầu bí trên thế giới và Việt Nam 3

2.3 Những nghiên cứu nước ngoàI 4

2.3.1 Thành phần loài bọ trĩ 4

2.3.2 Tình hình gây hại của bọ trĩ 6

2.3.3 Các biện pháp phòng chống bọ trĩ 9

2.4 Những nghiên cứu trong nước 12

2.4.1 Đặc điểm của một số họ bọ trĩ thường gặp trên cây trồng ở Việt Nam 12

2.4.2 Thành phần loài bọ trĩ 13

2.4.3 Tình hình gây hại của bọ trĩ 14

2.4.4 Các biện pháp phòng chống bọ trĩ 17

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 20

3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 20

3.1.1 Địa điểm nghiên cứu 20

3.1.2 Thời gian nghiên cứu 20

3.2 Đối tượng, vật liệu và dụng cụ nghiên cứu 20

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu 20

3.2.2 Vật liệu nghiên cứu 20

3.2.3 Dụng cụ nghiên cứu 20

3.3 Nội dung nghiên cứu 21

3.4 Phương pháp nghiên cứu 21

Trang 5

3.4.1 Phương pháp điều tra thu thập thành phần bọ trĩ 21

3.4.2 Phương pháp điều tra diễn biến số lượng của bọ trĩ trên cây dưa chuột 23

3.4.4 Phương pháp khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc trừ bọ trĩ 25

3.4.5 Chỉ tiêu và công thức tính toán 28

3.4.6 Xử lý số liệu 28

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29

4.1 Kết quả 29

4.1.1 Thành phần bọ trĩ trên cây họ bầu bí vụ hè thu 2015 tại Văn Lâm, Hưng Yên 29

4.1.2 Diễn biến số lượng bọ trĩ tổng số trên cây dưa chuột vụ thu 2015 tại Văn Lâm, Hưng Yên 42

4.1.3 Ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến số lượng bọ trĩ hại dưa chuột vụ thu 2015 tại Văn Lâm, Hưng Yên 47

4.1.4 Hiệu lực của một số loại thuốc bảo vệ thực vật trong phòng trừ bọ trĩ hại dưa chuột 52

4.2 Thảo luận 55

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 59

5.1 Kết luận 59

5.2 Kiến nghị 59

Tài liệu tham khảo 60

Phụ lục 67

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Tên thuốc BVTV trừ bọ trĩ trong phòng thí nghiệm và nồng độ sử dụng 26 Bảng 3.2 Tên thuốc BVTV trừ bọ trĩ ngoài đồng ruộng và liều lượng sử dụng 27 Bảng 4.1 Thành phần bọ trĩ trên cây họ bầu bí vụ hè thu 2015 tại Văn Lâm,

Hưng Yên 29 Bảng 4.2 Tỷ lệ (%) các loài bọ trĩ theo giai đoạn sinh trưởng của cây dưa chuột

vụ thu 2015 tại Văn Lâm, Hưng Yên 40 Bảng 4.3 Diễn biến số lượng bọ trĩ tổng số trên các giống dưa chuột vụ thu

2015 tại Văn Lâm, Hưng Yên 42 Bảng 4.4 Diễn biến số lượng bọ trĩ tổng số trên các thời vụ trồng dưa chuột vụ

thu 2015 tại Văn Lâm, Hưng Yên 44 Bảng 4.5 Diễn biến số lượng bọ trĩ tổng số trên ruộng dưa chuột gần làng và xa

làng vụ thu 2015 tại Văn Lâm, Hưng Yên 46 Bảng 4.6 Diễn biến số lượng bọ trĩ trên dưa chuột ruộng cao và ruộng trũng vụ

thu 2015 tại Văn Lâm, Hưng Yên 47 Bảng 4.7 Diễn biến số lượng bọ trĩ trên các ruộng có công thức luân canh khác

nhau vụ thu 2015 tại Văn Lâm, Hưng Yên 48 Bảng 4.8 Diễn biến số lượng bọ trĩ tổng số trên ruộng dưa chuột ngắt lá già và

ruộng không ngắt lá già vụ thu 2015 tại Văn Lâm, Hưng Yên 49 Bảng 4.9 Diễn biến số lượng bọ trĩ tổng số trên ruộng được che phủ luống và

ruộng không được che phủ luống vụ thu 2015 tại Văn Lâm, Hưng Yên 51 Bảng 4.10 Hiệu lực (%) của một số loại thuốc trừ bọ trĩ hại dưa chuột trong

phòng thí nghiệm 53 Bảng 4.11 Hiệu lực (%) của một số loại thuốc trừ bọ trĩ hại dưa chuột vụ thu

năm 2015 tại Văn Lâm, Hưng Yên 54

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1 Đặc điểm phân loại loài Thrips sp.1 33

Hình 4.2 Đặc điểm phân loại loài Thrips tabaci Lindeman 34

Hình 4.3 Đặc điểm phân loại loài Thrips sp 37

Hình 4.4 Đặc điểm phân loại loài Frankliniella occidentalis Pergande 36

Hình 4.5 Đặc điểm phân loại loài Haplothrips sp 37

Hình 4.6 Đặc điểm phân loại loài Megalurothrips sp 38

Hình 4.7 Đặc điểm phân loại loài Pauchaetothrips indicus 39

Hình 4.8 Ruộng bị hại 41

Hình 4.9 Ruộng không bị hại 41

Hình 4.10 Lá bị hại 41

Hình 4.11 Quả bị hại 41

Hình 4.12 Ruộng được tỉa lá 50

Hình 4.13 Ruộng không được tỉa lá 50

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Phạm Thị Hồng Điệp

Tên luận văn: Thành phần bọ trĩ trên cây họ bầu bí, diễn biến số lượng và biện pháp hóa

học phòng trừ chúng trên cây dưa chuột vụ hè thu năm 2015 tại Văn Lâm, Hưng Yên

Phương pháp nghiên cứu:

Điều tra thu thập thành phần bọ trĩ ngoài đồng trên 4 loại cây họ bầu bí: dưa chuột, bí xanh, bí ngô và mướp tại huyện Văn Lâm, Hưng Yên được tiến hành theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng – QCVN 01-38:2010/BNNPTNT và phương pháp thu thập bọ trĩ ngoài đồng ruộng của Hà Quang Hùng (2005), Mound (2007)

Mẫu bọ trĩ sau khi thu thập được lên tiêu bản và giám định theo phương pháp của Mound (2007)

Đặc điểm hình thái của trưởng thành của các loài bọ trĩ gây hại chủ yếu trên 4 loại cây họ bầu bí gồm dưa chuột, bí xanh, bí ngô và mướp được quan sát kỹ và mô tả dưới kính lúp soi nổi và kính hiển vi huỳnh quang và được chụp ảnh để mô tả

Kết quả chính và kêt luận:

Kết quả điều tra năm 2015 đã thu thập được 7 loài bọ trĩ, đó là Thrips sp.1, Thrips tabaci Lindeman, Frankliniella occidentalis Pergande, Megalurothrips sp., Haplothrips sp., Thrips sp và Pauchaetothrips indicus Trong đó loài Thrips sp.1 được

xem là dịch hại nguy hiểm trên cây dưa chuột, bí xanh và bí đỏ bởi chúng xuất hiện và gây hại từ khi cây còn nhỏ đến khi kết thúc thu hoạch Trên cây dưa chuột, bọ trĩ gây hại mạnh nhất vào thời kỳ thu hoạch quả rộ và giảm dần về cuối vụ Sự gây hại của bọ trĩ ở các giống dưa chuột khác nhau với các giai đoạn sinh trưởng khác nhau là khác nhau Sự gây hại của bọ trĩ đối với dưa chuột vụ thu là không đáng kể, dưa chuột trồng chính vụ (tháng 7) ít bị ảnh hưởng bởi bọ trĩ hơn là dưa chuột trồng vụ muộn (tháng 8) Các ruộng dưa chuột được bố trí ở khu vực có độ ẩm đất cao thường bị bọ trĩ hại nặng hơn các ruộng dưa chuột được bố trí ở khu vực có độ ẩm đất thấp Viêc áp dụng các biện pháp canh tác trong sản xuất dưa chuột để hạn chế sự gây hại của bọ trĩ ngày càng

Trang 10

được phổ biến, trong đó có thể áp dụng các biện pháp ngắt tỉa lá già và che phủ luống bằng ni lông để giảm mật độ bọ trĩ gây hại, đặc biệt không trồng dưa chuột sau cà tím, đậu cô ve và bí xanh Trong số 4 loại thuốc được thử nghiệm thì hiệu lực thuốc hóa học Marshal 200SC (92,85%) cao hơn 3 loại thuốc Confidor 100SL (86,92%), Tasieu 5WG (78,97%) và Abatimec 3,6EC (73,65%) Tuy nhiên, chỉ áp dụng các biện pháp hóa học khi mật độ bọ trĩ cao, không nên xử lý thuốc hóa học thường xuyên mà nên sử dụng các loại thuốc có nguồn gốc sinh học để bảo vệ môi trường, thiên địch và con người

Trang 11

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Pham Thi Hong Diep

Thesis title:Compostion of thrips species on cucurbits, the quantity development and

chemical measure to control them on cucumber in summer-autumn crop 2015 in Van Lam district, Hung Yen province

Major: Plant protection Code: 60.62.01.12

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives:

The first aim of this research work was to determine the species composition of thrips on cucurbits, the quantity development and chemical measure to control them on cucumber archieve economic eficiency

Material and Methods:

The thrips samples was collected in the field where was planted 4 cucurbits crops: cucumber, squash, pumkin and melon in Van Lam district (Hung Yen province) has been conducted in accordance with National technical regulation on surveillance method of plant pest QCVN 01-38:2010/BNNPTNT and thrips collection method in the

field of Ha Quang Hung et al (2005), Mound (2007)

Thrips samples after collecting were mounted and indentified by method of Mound (2007) The identification of adult thrips to the species was made using the keys

by Mound (2007)

Morphological characteristics of the thrips adult on above crops of cucurbits were observed and described under stereo microscope and fluorescence microscope

Main finding an conclusions:

The results of this research showed on four cucurbits that there are 7 species of

thrips: Thrips sp.1., Thrips tabaci Lindeman, Frankliniella occidentalis Pergande, Megalurothrips sp., Haplothrips sp., Thrips sp and Pauchaetothrips indicus Among these, Thrips sp.1 are considered as the hazardous pest on cucumber, squash and

pumpkin as the pests, appears and spoils even from when plants are the saplings to

finished harvesting period Thrips sp.1 is the major insect species The damage of thrips

in separate species of cucumbers with different growth stages are different The seasonal cucumbers (in July) appear to be less affected by thrips rather than off- season ones (in August) The adoption of cultivating activities in the production of cucumbers

Trang 12

to limit the damage of thrips is increasingly popular, which include old leaves pruning and using plastic mulching to reduce the distribution of pests Especially, cucumbers are supposed not to be planted after eggplant, beans and squash Marshal 200SC (92,85%)

is higher effective than Confidor 100SL (86,92%), Tasieu 5WG (78,97%) and Abatimec 3,6EC (73,65%) in controlling thrips on cucumbers However, only when high thrips densities should regularly chemical using be applied Instead of chemical abuse, biological cures are preferred to protect the environment, predators and humans

Trang 13

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Rau là thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hằng ngày của con người, rau cung cấp nhiều Vitamin, chất khoáng, chất xơ và rau có tính dược lý cao mà các thực phẩm khác không thể thay thế được Ngoài ra rau còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao, đem lại nhiều lợi nhuận, góp phần phát triển nền kinh tế quốc dân Các loại rau chính xuất khẩu của Việt Nam hiện nay là dưa chuột, cà chua,

cà rốt, hành, ngô rau, đậu rau, ớt cay trong đó dưa chuột và cà chua có nhiều triển vọng và có thị trường xuất khẩu tương đối ổn định (Lê Thị Khánh, 2009)

Do đòi hỏi của thị trường như vậy, việc thâm canh tăng vụ, diện tích cây trồng tăng nhanh và nó đã tác động mạnh mẽ đến hệ sinh thái vốn mang tính bền vững, có số lượng quần thể đa dạng, nhưng đã bị thay vào đó là hệ sinh thái mới chỉ có một vài loài tồn tại và luôn thay đổi theo thời gian Một số loài có kích thước cơ thể lớn như sâu cắn gié, bọ xít dài có xu hướng giảm đi, ngược lại tình trạng dịch hại của các loài có kích thước cơ thể nhỏ bé như bọ trĩ, bọ phấn, nhện

đỏ, nhện trắng, ruồi đục lá ngày càng thể hiện rõ nét (Phạm Bình Quyền, 2005) Rau là loại cây trồng có hàm lượng chất dinh dưỡng phong phú, hàm lượng nước trong thân lá cao, thân lá non mềm là môi trường rất thích hợp cho nhiều loại sâu bệnh hại sinh trưởng và phát triển Sâu bệnh hại là một trong nhiều nguyên nhân làm giảm năng suất, chất lượng và giá trị hàng hóa của rau (Tạ Thu Cúc, 2007)

Cây thuộc họ bầu bí (Cucurbitaceae) cũng không nằm ngoài quy luật nêu trên, chúng bị nhiều loài sinh vật gây hại như: sâu xám, sâu đục quả, ruồi đục lá, sâu ăn lá dưa, rệp, bọ trĩ… trong đó bọ trĩ là một trong những đối tượng gây hại nguy hiểm Bọ trĩ là côn trùng có kích thước nhỏ bé và nhẹ, do đó rất khó nhận thấy chúng, ngay cả khi chúng xuất hiện với số lượng lớn (Hà Quang Hùng và cs., 2005) Bọ trĩ gây hại trực tiếp bằng cách dũa hút dịch của lá, chồi, búp, hoa

và quả Ngoài ra nó còn là môi giới truyền bệnh virus cho cây (Andjus et al.,

1998; Capinera J.L., 2000) và thiệt hại về năng suất do bọ trĩ gây ra đối với cây

trồng nói chung và cây họ bầu bí nói riêng là rất lớn (Burubai et al., 2011;

Layton and Reed, 2000; Serguey, 1995)

Trang 14

Trong những năm gần đây, sản xuất cây rau thuộc họ bầu bí nói chung và dưa chuột nói riêng ở huyện Văn Lâm, Hưng Yên luôn phải đối mặt với nhiều khó khăn như sâu bệnh tăng, hạn chế về giống, trình độ thâm canh chưa cao, nhận thức của người dân trong việc sản xuất sản phẩm nông nghiệp an toàn còn hạn chế, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật bừa bãi làm ô nhiễm môi trường và phá

vỡ cân bằng sinh thái trong tự nhiên

Những nghiên cứu về thành phần loài bọ trĩ, cũng như ảnh hưởng của các yếu tố như giống, thời vụ, kỹ thuật canh tác là vô cùng quan trọng, giúp cho nhà nông chủ động trong công tác phòng trừ có hiệu quả bọ trĩ gây hại Hiện nay có rất ít công trình nghiên cứu về bọ trĩ hại cây họ bầu bí ở Hưng Yên (Nguyễn Thị Thanh,

2015; Yorn Try, 2008 ) Vì vậy tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Thành phần bọ

trĩ trên cây họ bầu bí, diễn biến số lượng và biện pháp hóa học phòng trừ chúng trên cây dưa chuột trong vụ hè thu năm 2015 tại Văn Lâm, Hưng Yên”

1.2 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU

1.2.1 Mục đích

Trên cơ sở điều tra thành phần bọ trĩ hại cây họ bầu bí, tìm hiểu diễn biến

số lượng để từ đó đề ra biện pháp phòng trừ chúng trên cây dưa chuột đạt hiệu quả kinh tế

- Thử nghiệm biện pháp hóa học phòng trừ bọ trĩ hại dưa chuột

Trang 15

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

Bọ trĩ là loài đa thực, chúng gây hại nhiều loại cây trồng, ở nhiều nước khác nhau Theo Hà Quang Hùng và cs (2005), bọ trĩ là côn trùng có kích thước

cơ thể nhỏ bé và nhẹ, nên khó phát hiện, ngay cả khi xuất hiện với số lượng lớn Chúng phân bố khắp thế giới, số lượng loài phân bố ở các vùng nhiệt đới, ôn đới nhiều, thậm chí một vài loài đã lan rộng tới vùng Bắc cực Bọ trĩ thuộc lớp côn trùng Insecta, bộ cánh tơ Thysanoptera Trên thế giới có khoảng 5000 loài bọ trĩ

được định danh, trong đó chỉ có 1% loài gây hại (Mound et al., 1973) Bọ trĩ xuất

hiện ở nhiều châu lục như Châu Phi, Bắc Mỹ, Trung Mỹ, , đặc biệt là ở các nước Châu Á

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, bọ trĩ đã trở thành loài sâu hại nguy hiểm trên nhiều loại cây trồng, bởi lẽ tuy cơ thể nhỏ bé nhưng bọ trĩ có khả năng phát tán mạnh và gây hại tất cả các bộ phận của cây trồng như lá, nụ, hoa và quả non gây thành những vụ dịch hại làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất, phẩm chất cây trồng; gián tiếp là véc tơ truyền bệnh virus, vi khuẩn cho cây (Hà Quang Hùng và cs., 2005) Để phòng chống chúng, người nông dân mới chỉ

sử dụng biện pháp hóa học một cách liên tục, thiếu hiểu biết đã dẫn tới hiện tượng bọ trĩ quen và kháng thuốc hóa học, đồng thời tiêu diệt hầu hết các loài thiên địch của bọ trĩ – một lực lượng sinh vật có ích quan trọng góp phần điều hòa số lượng quần thể bọ trĩ trong mỗi hệ sinh thái nông nghiệp, điều đó dẫn tới

sự bùng phát số lượng của một số loài bọ trĩ chủ yếu

Cây dưa chuột là cây rau ăn trái, thời gian từ khi ra hoa đến khi thu hoạch ngắn, mặt khác thời gian cho thu quả liên tục nên việc áp dụng các biện pháp hóa học khi cây ở thời kỳ thu hoạch sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe người tiêu dùng Đã có một số công trình nghiên cứu về biện pháp làm giảm số lượng bọ trĩ gây hại trên dưa chuột như sử dụng bẫy dính, quây ni lông quanh ruộng hay lựa chọn chân đất trồng Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp này trong thực tế sản xuất còn rất hạn chế, đại đa số người dân chọn biện pháp hóa học với tiêu chí đạt hiệu quả cao trong thời gian ngắn

2.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CÂY RAU HỌ BẦU BÍ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

Họ bầu bí chiếm vị trí rất quan trọng trong sản xuất rau trên thế giới và

Trang 16

nước ta, một số cây có vị trí đặc biệt quan trọng trong sản xuất, tiêu dùng và thương mại Các cây dưa chuột, dưa thơm, dưa hấu và bí ngô có ý nghĩa rất quan trọng trong sản xuất, tiêu dùng và thương mại của nhiều quốc gia (Tạ Thu Cúc, 2007) Dưa chuột là loại rau ăn quả được trồng rộng rãi trên thế giới, là thực phẩm thông dụng của nhiều quốc gia Năm 2003 diện tích sản lượng và năng suất dưa chuột trên thế giới: 2.337.888 ha, sản lượng 37.607.067 tấn, năng suất trung bình 15,81 tấn/ha và năm 2005 diện tích và sản lượng dưa chuột trên thế giới là 2.586 triệu ha và 68,2 triệu tấn Năng suất trung bình đạt 21,7 tấn/ha Ở nước ta, những năm gần đây dưa chuột đã trở thành loại rau xuất khẩu quan trọng Diện tích trồng dưa chuột trong năm 1999 là 6.478 ha, đến năm 2000 tăng lên 6.617 ha

và đến năm 2001 là 6.804 ha Dưa chuột có thể gieo trồng ở cả 3 miền: Bắc, Trung, Nam; hằng năm có thể gieo trồng 2-3 vụ (Tạ Thu Cúc, 2007)

2.3 NHỮNG NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI

2.3.1 Thành phần loài bọ trĩ

Theo Mound (1997), hầu hết các loài bọ trĩ gây hại cây trồng nằm trong

bộ cánh tơ mà chúng tập trung chủ yếu trong họ Thripidae với khoảng 1700 loài,

được phân bố trên khắp thế giới Đa số các loài của Thripidae đều thuộc phân họ

Thripinae (Mound, 1997) Trong Terebrantia, có khoảng 1500 loài thuộc họ

Thripidae với 47 loài được tìm thấy ở New Zealand (Teulon, 1988) Trong số các

loài bọ trĩ gây hại trên cây trồng, chúng thuộc về 2 giống chủ yếu đó là Thrips và

Liothrips Trong đó số lượng loài của Thrips khoảng 275 loài, Liothrips khoảng

255 loài, Haplothrips khoảng 230 loài và Franklinella khoảng 175 loài Chỉ có 1 giống bọ trĩ ăn thực vật, Aeolothrips, bao gồm hơn 100 loài, 2 giống bọ trĩ ăn

nấm, mỗi giống bao gồm hơn 140 loài Có 9 giống có từ 50 đến 100 loài; 95 giống có từ 10 đến 49 loài; 150 giống có từ 3-9 loài và 450 giống chỉ có 1 hoặc 2 loài (Mound, 2007)

Có 5000 loài được biết đến trong bộ cánh tơ được phân thành 8 họ Tuy nhiên, 93% tổng số loài thuộc 2 họ Thripidae hoặc Phlaeothripidae, là 2 họ

thường được tìm thấy trên cây trồng Họ Heterothripidae gồm 70 loài ở Mỹ, được

mô tả trên hoa của một loạt cây bản địa Thường gặp trên cây trồng, ít nhất là ở vùng ôn đới, có 250 loài thuộc họ Aeolothripidae trên khắp thế giới Những loài trong họ này thường không bị coi là dịch hại Về 2 họ chính của bộ cánh tơ, họ Phlaeothripidae chiếm số lượng nhiều nhất với 3.100 loài được mô tả; 600 loài trong số đó, tạo thành phân họ Idolothripinae, chỉ ăn bào tử nấm, nhưng ít nhất

Trang 17

một nửa số loài nằm trong phân họ thứ hai, Phlaeothripinae, chỉ ăn sợi nấm Bọ trĩ ăn nấm sống trong gỗ mục hoặc lá khô, đặc biệt ở những nước nhiệt đới và dường như có rất ít hoặc hầu như không có ảnh hưởng đến cây trồng, thậm chí là véc tơ của các mầm bệnh Tuy nhiên, trong họ Phalaeothripinae có 2 giống chính

của loài ăn thực vật Một giống bao gồm nhiều loài, thức ăn chính của chúng là lá

cây nhiệt đới và cây bụi (Mound, 1997)

156 loài bọ trĩ ở Đài Loan đã được phát hiện, trong đó có 70 loài gây hại trên cây trồng, trên cây rau đã ghi nhận được 27 loài Các loài có ý nghĩa quan

trọng là Thrips palmi, Franklinella intonsa, Thrips tabaci và Megalurothrips

usitatus Những loài không gây hại nghiêm trọng nhưng xuất hiện thường xuyên

trên đồng ruộng là Thrips hawaiinenis, Scirtothrips dorsalis, Thrips colouratus,

Thrips flavus và Haplothrips chinensis Sự xuất hiện, mức độ gây hại và khóa

phân loại của 9 loài này đã được xác định (Chen and Chang, 1987)

Trên cánh đồng lúa mỳ ở Serbian, Andjus et al (1999) cho biết, có tổng số

2.105 mẫu bọ trĩ được thu thập, với 1.503 mẫu vào năm 1998 và 602 mẫu vào

năm 1999 và 19 loài bọ trĩ đã được xác định, trong đó nhiều nhất là loài Thrips

physapus L với 917 mẫu Một giống bọ trĩ mới của họ Phlaeothripidae được mô

tả ở Úc, bao gồm một loài mới là K.myopori, gây hại trên lá của cây bụi (Mound

et al., 2007) Một loài bọ trĩ mới với tên Thrips razanii sp.n cũng được tìm thấy

trên hoa ở Penisular Malaysia Loài bọ trĩ mới này thuộc nhóm Thrips

hawaiiensis nhưng cánh có màu tối (Mound et al., 2010)

Theo Kalpana et al (2011), cuộc điều tra thành phần bọ trĩ hại cây trồng ở

Sri Lanka đã thu được tổng cộng 72 loài thuộc 5 phân họ gồm: Thripinae, Phlaeothripinae, Panchaetothripinae, Dendrothripinae và Idolthripinae, trong đó

có 25 loài chưa được ghi nhận là đã xuất hiện tại quốc gia này Trong số 324 loài

ký chủ điều tra, phát hiện loài Haplothrips gowdeyi là loài phổ biến nhất, có mật

độ cao được tìm thấy trên 44 loài ký chủ, Thrips palmi là loài gây hại phổ biến

thứ hai được tìm thấy trên 43 loài ký chủ

Khi điều tra thành phần bọ trĩ trên các loại cây thảo mộc ở Vườn thảo mộc – Khoa Nông học – Trường Nông nghiệp Cracow từ năm 2004 đến năm 2006 và

ở vườn thực vật Cracow từ năm 2006 đến năm 2008, Pobozniak and Sobolewska (2011) cho biết đã thu thập được 16.058 cá thể trưởng thành bọ trĩ Thysanoptera

trên 37 loài thảo mộc khác nhau Các loài chiếm ưu thế gồm Thrips fuscipennis,

Trang 18

Thrips flavus, Franklinella intonsa, Thrips albopilosus và Thrips major Một số

loài bọ trĩ phá hại cây trồng một cách nghiêm trọng, một trong số đó là Thrips

tabaci, được phát hiện gây hại trên 27 loài cây thảo mộc

2.3.2 Tình hình gây hại của bọ trĩ

Cho đến nay bọ trĩ đã gây hại trên rất nhiều nước trên thế giới như Philippines, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Đài Loan, Ấn Độ, khu vực Đông Nam châu Á, chúng gây hại trên nhiều loại cây trồng như dưa hấu, khoai tây, đậu

đỗ, bầu bí, hành tỏi…., gây hại trên các bộ phận của cây trồng như nõn, lá, hoa

và quả non Bọ trĩ đã làm giảm 20% năng suất hồ tiêu của Indonesia, 29% năng suất lạc ở Ấn Độ (Hà Quang Hùng và cs., 2005)

Bọ trĩ là loài duy nhất truyền tospovirus, thuộc họ Thripidae và phân họ Thripinae Trong số 1.710 loài được biết đến thuộc họ Thripidae chỉ có 14 loài bọ

trĩ hiện đang được xác định là truyền tospovirus Trong đó Frankliniealla

occidentalis, Frankliniella schultzei là tác nhân truyền 5 loại tospovirus, Thrips palmi là tác nhân truyền 4 loại tospovirus Bọ trĩ truyền tospovirus gây thiệt hại

nghiêm trọng về năng suất cho một số cây trồng quan trọng về kinh tế tại Hoa Kỳ

và trên toàn thế giới Một tospovirus (Tomato spotted wilt virus) đơn gây ra ước tính thiệt hại khoảng 1,4 tỷ USD ở Mỹ trong hơn 10 năm ( Riley et al., 2011) Lakshmi et al (1995) cho biết, Thrips palmi là véc tơ chính truyền virus Peanut

bud necrosis virus (PBNV) gây bệnh thối hoa đậu tương ở Ấn Độ

Theo Chang (1995), ở Đài Loan có 7 loài bọ trĩ được xem là dịch hại

chính, đó là Thrips tabaci trên cây hoa loa kèn, Scirtothrips dorsalis trên quả;

T.hawaiiensis trên chuối; Rhipiphorothrips cruentatus trên cây doi và cây nho, Frankliniella intonsa trên cây măng tây và hoa thương phẩm, T.palmi trên cây họ

cà và cây họ bầu bí và Megalurothrip usitatus trên cây họ đậu

Bọ trĩ dưa là một loài ăn tạp, nhưng chúng được biết đến gây hại nhiều nhất trên cây họ bầu bí và họ cà Cà chua ở vùng biển Ca-ri-bê cũng đã được ghi nhận bị bọ trĩ gây hại, nhưng không được ghi nhận ở Mỹ hay Nhật Bản Chúng gây hại trên nhiều cây trồng như đậu, bắp cải, dưa đỏ, ớt, cải thảo, đậu đũa, dưa chuột, cà tím, rau diếp, dưa, đậu bắp, hành tây, khoai tây, bí ngô, bí đỏ và dưa hấu Ngoài ra chúng còn gây hại trên bơ, hoa cẩm chướng, hoa cúc, cây có múi, bông, hoa dâm bụt, xoài, đào, mận, đậu tương, thuốc lá và nhiều cây khác (Capinera, 2000) Ở Trinidad, bọ trĩ gây hại nặng trên dưa chuột và cà tím, mật độ

Trang 19

bọ trĩ T.palmi là 300-700 cá thể trên một lá cà tím và dưa chuột, làm mất năng suất

từ 50-90% Bọ trĩ T.palmi đã xâm nhập vào Trinidad năm 1988 nhờ gió áp thấp

nhiệt đới, nhưng cũng có thể do sự nhập khẩu sản phẩm cây trồng từ các hòn đảo khác thuộc Ca-ri-bê, chẳng hạn như Martinique nơi mà chúng được coi là dịch hại

nghiêm trọng nhất (Suzuki et al., 1988)

Kết quả nghiên cứu của Mound et al (1973) cho thấy, khi nuôi bọ trĩ,

phần lớn sâu non của một số loài bọ trĩ có tính ăn đơn thực và ngay cả những loài

đa thực chỉ có 2 hoặc 3 ký chủ Tuy nhiên thời tiết nắng tạo điều kiện cho bọ trĩ trưởng thành bay một cách tích cực, nhờ đó chúng có thể được tìm thấy trên

nhiều cây trồng mà chúng không gây hại Ký chủ chính của bọ trĩ T.palmi bao gồm họ cà Solanaceae (cà tím Solanum melongena, khoai trắng Solanum

tuberosum, ớt Capsium annuum), các cây thuộc họ bầu bí Cucurbitaceae (dưa

hấu Citrullus lanatus, dưa melon Cucumis melon, dưa chuột Cucumis sativus), bông Gossypium, thuốc lá Nicotiana tabacum, lúa Oryza sativa, các cây họ dậu Fabaceae (đậu rau Phaseolus, đậu trạch Phaseolus vulgaris, đậu bò Vigna

unguiculata, đậu tương Glycine max), rau diếp Lactuca sativa, hành tây Allium cepa, cây lê tàu Persea americana, các cây có múi, xoài Mangifera annuus, cải

bắp, rau diếp, mướp tây, xoài, lê, mận và đậu Hà Lan (Shipp et al., 2000)

Những năm gần đây, bọ trĩ T.palmi đã trở thành sâu hại chính một cách

nhanh chóng trên cây thuộc họ cà và họ bầu bí Ở Philippines, loài gây hại chủ

yếu nhất và xuất hiện rộng rãi nhất là Thrips palmi Karny Nó bị nhầm lẫn là bọ trĩ Thrips tabaci Lindeman đến tận cuối những năm 1970 Nó được ghi nhận đã

gây hại nặng trên dưa hấu, dưa lưới, dưa chuột, cà chua, cà tím và khoai tây trồng

ở vùng trũng Nhiều trường hợp, bọ trĩ gây hại nặng dẫn đến mùa màng bị thất

thu Thrips palmi là một loài ăn tạp, đặc biệt gây hại trên cây họ bầu bí và họ cà

Nó gây hại trên cà tím, bông, đậu đũa, dưa chuột, các loại dưa, đậu Hà Lan, khoai tây, vừng, đậu tương, hoa hướng dương, thuốc lá và dưa hấu Nó có thể tàn phá hoa, hoặc cỏ dại

Trên cây bông, bọ trĩ được xem là côn trùng gây hại có kích thước nhỏ nhất với tổng chiều dài cơ thể nhỏ hơn 1 phần 12 inch Mặc dù kích thước nhỏ, nhưng chúng có khả năng làm giảm năng suất đến hơn 100 pound sợi cho mỗi mẫu Anh, chúng phá hoại nặng, thậm chí có thể gây chết cây, cây bị hại nặng có

thể dẫn đến khó đậu quả (Layton and Reed, 2000) Cây bông từ lúc nảy mầm đển

Trang 20

giai đoạn 3-4 lá thật là giai đoạn nhạy cảm nhất đối với bọ trĩ hành Thrips Tabaci Lindeman Bọ trĩ hoa và bọ trĩ đậu Caliothrips fasciatus Pergande gây hại chủ

yếu vào giai đoạn từ lúc cây bông được 5-6 lá và bông già Bọ trĩ được tìm thấy trên cây bông ngay từ đầu mùa và tăng dần theo giai đoạn sinh trưởng của cây,

đạt đỉnh điểm vào giữa tháng 5 đến cuối tháng sáu (Greenberg et al., 2009) Còn

bọ trĩ hành, Thrips tabaci Lindeman được xem là một dịch hại chính của cây

trồng trong nhà kính ở Iran Nó là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng đến

năng suất của dưa chuột (Pourian et al., 2009) Ở Hawaii, Riudavets et al (1995) cho biết, mật độ bọ trĩ T.palmi cao nhất trên lá dưa chuột và thấp nhất trên quả Suzuki et al (1988) đã nghiên cứu quần thể trưởng thành của bọ trĩ T.palmi tại

hai vùng khác nhau ở Đài Loan trên cà tím, mật độ của quần thể cũng bị chi phối bởi độ ẩm, nhiệt độ, lượng mưa và thời gian chiếu sáng

Ở Indonesia, phải kể đến các loài bọ trĩ gây hại trên các chủng loại rau, ớt,

hành và khoai tây Trong đó phải kể đến các loài Thrips tabaci Lindeman, Thrips

palmi Karny và Thrips parvispinus Karny Bọ trĩ cũng như nhiều loại sâu bệnh

hại nguy hiểm khác được coi là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sản xuất rau ở

Indonesia Theo thống kê ở vùng đồng bằng của miền Trung Java, bọ trĩ Thrips

tabaci Lindeman đã gây hại đáng kể trên cây hành non đặc biệt là vào mùa khô

Bên cạnh đó những cây hẹ non cũng thường bị tấn công nặng bởi Thrips tabaci

Lindeman, đặc biệt là vào mùa khô Bọ trĩ thường xuyên tấn công trên bề mặt lá,

chúng cắn và dũa hút dịch cây Thrips tabaci Lindeman, Thrips palmi Karny và

Thrips parvispinus Karny là những loài gây hại chính trên rau ở Indonesia, ngoài

ra chúng còn gây hại nghiêm trọng trên cây tiêu, hẹ và khoai tây T.parvispinus

được xem là dịch hại quan trọng trên cây ớt Chúng gây hại ngay từ thời kỳ đầu và

tăng dần trong suốt giai đoạn sinh trưởng của cây Trên cây tiêu, T.parvispinus là

loài gây hại chủ yếu, chúng gây hại đặc biệt nghiêm trọng vào mùa khô, làm giảm năng suất tới 20% (Hà Quang Hùng và cs., 2005)

Nhiều công trình nghiên cứu ở Ấn Độ chỉ rõ có tới 82 loài bọ trĩ chủ yếu gây hại trên 76 loại cây trồng khác nhau; nhiều loài trong số chúng có tính ăn đa thực; một số loài bị trĩ hại trên cả đậu đỗ, đậu rau và cây có dầu Bọ trĩ đã trở thành loài sâu hại nguy hiểm trên nhiều loài cây trồng ở Ấn Độ Ở một số vùng sinh thái nông nghiệp, nông dân đã phải phun thuốc hóa học liên tục phòng trừ

bọ trĩ đã dẫn đến một số loài kháng thuốc, số vụ dịch của bọ trĩ tăng lên Trong

số 6 loài bọ trĩ thường xuyên gây hại chè ở Ấn Độ thì loài Scirtothrips bispinosus

Trang 21

Bagnall phân bố rộng, mật độ cao thường gây thành dịch ở các vùng trồng chè

Nam Ấn Độ; loài Heliothrips haemorrhoidalis Bouche có tính đa thực, phân bố

rộng, hại nhiều loại cây trồng đặc biệt chè và cà phê; chúng có khả năng sinh sản đơn tính vòng đời ngắn (Hà Quang Hùng cs., 2005)

Bọ trĩ cũng là đối tượng gây hại nặng trên tỏi Một vài nơi ở Philippines, trên khoai tây và cà chua cũng xuất hiện một số lượng lớn loài bọ trĩ

Megalurothrips usitatus Bagnall Hai loài này thường xuyên xuất hiện cùng nhau

nhưng chúng có thể phân biệt dễ dàng bởi màu sắc T.palmi có màu nâu vàng da cam sáng, còn M.usitatus có cơ thể màu đen Một số loại rau khác cũng bị bọ trĩ

tấn công, như đậu đũa, đậu xanh, đậu rồng, đậu đũa, mướp đắng, bầu, mướp, bí, hành tây, bắp cải, củ cải, đậu bắp Chúng gây hại trên nõn, hoa, lá và quả non Bọ trĩ hại trên lá để lại những chấm thành từng đám sáng hoặc chuyển thành màu hồng, khi bị hại nặng lá chuyển thành màu nâu, màu đậm, mép lá khô, xoăn lại

(Bernardo, 1991)

Trên cây ớt, bọ trĩ S.dorsalis tấn công tất cả các bộ phận trên mặt đất của

cây, đặc biệt gây hại mạnh trên lá non, chồi và quả Cây bị nặng dẫn đến lá bị biến dạng, quăn queo, cây cằn cỗi, quả có màu nâu đến đen (Seal and Klassen, 2005) Còn trên cây hồ tiêu, theo thống kê của Talekar (1991) có 11 loài bọ trĩ gây hại

trên cây hồ tiêu, trong đó phổ biến nhất ở châu Á là 3 loài Scirtothrips dorsalis Hood, Thrips palmi Karny và Thrips tabaci Lindeman Ngoài cây tiêu, S.dorsalis còn gây hại trên 25 loại cây khác, T.palmi gây hại trên 45 loại cây khác và T.tabaci

hại trên 37 loại cây khác

Thrips obscuratus được xem là dịch hại quan trọng trên cây quả hạch ở

Newzealand T.obscuratus tấn công quả đào và mận ở thời kỳ thu hoạch, con

trưởng thành ăn và đẻ trứng trên quả, ảnh hưởng đến việc xuất khẩu hoa quả của nước này (Teulon and Penman, 1995)

2.3.3 Các biện pháp phòng chống bọ trĩ

2.3.3.1 Biện pháp canh tác

Ở Philippines, Tjosvld et al (1995) tiến hành nghiên cứu hiệu quả của việc

dọn sạch gốc rạ và phủ nilon lên gốc rạ để hạn chế côn trùng hại trên đậu bò sau trồng lúa Kết quả cho thấy việc làm này có tác dụng làm cản trở tín hiệu xác định môi trường sống thích hợp của bọ trĩ và bọ rầy di trú Taylor (1984) phát hiện thấy rằng phủ ny lông màu trắng và đen trên luống cây bầu và che xung quanh ruộng không những làm giảm quần thể bọ trĩ mà còn làm tăng năng suất bầu

Trang 22

Xen canh có tác dụng làm giảm tác hại của bệnh và các côn trùng gây hại trên nhiều loại rau Việc trồng xen với cây ngũ cốc (không phải là ký chủ của bọ trĩ) có thể giảm sự gây hại của bọ trĩ trên cây trồng chính Ở Anh, khi xen canh

giữa hành và cà rốt, mức độ nhiễm bọ trĩ Thrips tabaci giảm tới 50% Khi trồng xen bắp cải với cỏ 3 lá có thể làm mật độ quần thể bọ trĩ Thrips tabaci giảm 10 lần so với trồng độc canh (Theunissen et al., 1995) Theo Riley and Pappu

(2004), việc bố trí thời vụ hợp lý giúp ngăn cản sự di chuyển của bọ trĩ từ cây ký chủ phụ sang cây trồng chính và có thể tránh được thời điểm phát triển mạnh nhất của bọ trĩ Cây thiếu nước thường bị bọ trĩ nặng hơn, do đó tưới nước hợp lý cũng là một biện pháp giúp phòng trừ bọ trĩ

Bẫy dính màu trắng và màu xanh có hiệu quả cao trong việc thu bắt bọ trĩ

Ceratothripoides claratris Shumsher trên ruộng cà chua ở Thái Lan Những

ruộng không sử dụng bẫy, tỷ lệ lá bị bọ trĩ hại cao hơn (Ranamukhaarachchi and Wickramarachchi, 2007)

2.3.3.2 Biện pháp sinh học

Murai (2000) nhấn mạnh tầm quan trọng của biện pháp sinh học phòng

chống bọ trĩ T.palmi Tác giả cho rằng sự xuất hiện lại của dịch hại này ở Đông

Nam Á trong 10 năm qua là do việc tiêu diệt thiên địch của chúng bằng sử dụng

thuốc trừ sâu lặp đi lặp lại Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu tới bọ xít bắt mồi Orius

sp được Liu (2003) theo dõi tại Trung Quốc Thí nghiệm nhúng trứng bọ xít vào dung dịch thuốc cho thấy các loại thuốc như Chinomethionate, Bromoproylate, Pirimicarb, Phosalone và Dichlorovs tỏ ra ít độc đối với trứng Tuy nhiên, hỗn hợp giữa Malathion và Fenobucarb, Methidathion, Phenthoate và Fenthion có

tính độc rất cao đối với trứng Điều này chứng tỏ bọ xít bắt mồi giống Orius

không mẫn cảm với Buprofenzin hoặc Bromopropylate khi được phun trên ruộng

cà tím để phòng chống bọ trĩ Thrips tabaci, nhưng Phosalone, Chlorfluazuron và Flufenoxuron có tính độc rất cao đối với loài bọ xít bắt mồi giống Orius

Shipp et al (2000) cho biết, bọ xít bắt mồi Anthocoris antevolens là côn trùng bắt mồi rất phổ biến ở Bắc Mỹ Bọ xít bắt mồi Anthocoris musculus là loài

côn trùng bắt mồi tấn công nhện đỏ, rệp, bọ trĩ và các loài động vật có kích thước

cơ thể nhỏ khác Những nghiên cứu đầu tiên về loài bọ xít bắt mồi này được tiến

hành vào năm 1978 ở Canada Ở Pháp, loài Anthocoris nemorum là thiên địch của bọ trĩ hoa Franklniella occidentalis hại dưa chuột trong nhà kính Khi mật độ

bọ trĩ tăng cao, người ta bắt đầu thả bọ xít bắt mồi A.nemorum vào ruộng dưa

chuột trong nhà kính

Trang 23

Nhện bắt mồi Amblyseius mckenziei Schuster và Pritchard (Acari:

Phytoseiidae) đã được sử dụng để kiểm soát quần thể bọ trĩ thuốc lá, bọ trĩ hành

trên cây thuốc lá trồng ở Crimea (Ukraine) Thrips tabaci được biết đến là véc tơ truyền virus TSWV trên cây thuốc lá Việc thả A.McKenzie vào ruộng thuốc lá,

khi mật độ bọ trĩ từ 3-6 con/lá có tác dụng kiểm soát bọ trĩ và TSWV hiệu quả như thuốc trừ sâu thông thường (Serguey, 1995) Theo Houten and Stratum

(1995), 2 loài nhện Amblyseius cucumeris (Oudemans) và A.degenerans Berlese

được đánh giá là tác nhân kiểm soát sinh học của bọ trĩ hoa WFT trong nhà kính trồng ớt ngọt vào mùa đông Còn trên cây bông, nhóm thiên địch của bọ trĩ có

Orius spp.; Hippodamia spp.; Chrysopa rufilabris (Burmeister); Geocoris spp.; Argiope spp.; và Syrphus spp Trong đó Orius spp là loài bắt mồi phổ biến nhất

(Greenberg et al., 2009) Ở Trung Quốc, Chin et al (2003) đã nghiên cứu đặc tính sinh học của bọ xít bắt mồi O.similis Trong phòng thí nghiệm, một cá thể của bọ xít bắt mồi O.similis có thể ăn 440 cá thể bọ trĩ T.palmi trong một đời của chúng

(cả sâu non và trưởng thành)

là 6,1 tấn/ha Còn tại Đài Loan, Tjosvold and Ali (1995) đã công bố Deltamethrin, Cypermethrin và Flucythrinate là những thuốc BVTV có hiệu quả trong phòng trừ bọ trĩ trên cà tím

Hirose (1991) ghi nhận thời điểm xử lý thuốc có hiệu quả nhất là buổi sáng

hoặc buổi chiều Bọ trĩ T.palmi đã xuất hiện tính kháng các loại thuốc nhóm lân hữu cơ và kể cả methomyl Quần thể bọ trĩ T.palmi trên ruộng cà tím xử lý thuốc

Diazinon và Profenofos cao hơn hẳn so với ruộng không xử lý thuốc, đây có thể

do thiên địch trên ruộng bị xử lý thuốc đã bị tiêu diệt hoàn toàn

Chế phẩm Beauvaria bassiana (chẳng hạn như Naturalis – O, BotaniGard, Mycotrol) có hiệu quả cao trong việc phòng trừ bọ trĩ, hiệu quả của thuốc có thể kéo dài từ 7-10 ngày Bên cạnh đó, Spinosad (ví dụ Conserve/E) cũng có tác dụng tốt trong kiểm soát bọ trĩ gây hại (Kuepper G., 2004)

Trang 24

Phòng chống bọ trĩ T.palmi chỉ dùng thuốc trừ sâu là rất khó khăn bởi vì

cần sử dụng chất hóa học nông nghiệp một cách an toàn Vì vậy cần thiết lập một

hệ thống phòng chống tổng hợp Mô hình quần thể bọ trĩ T.palmi được xây dựng

để đánh giá hiệu quả của các biện pháp phòng chống khác nhau và để phát triển

một hệ thống phòng chống có hiệu quả cho bọ trĩ T.palmi trên cây dưa chuột

trong nhà lưới (Kawai and Kitamura, 1987)

2.4 NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

2.4.1 Đặc điểm của một số họ bọ trĩ thường gặp trên cây trồng ở Việt Nam

Bộ cánh tơ Thysanoptera có 2 bộ phụ: bộ phụ Terebrantia và bộ phụ Tubulifera Đối với bộ phụ Terebrantia, hầu hết các loài bọ trĩ thuộc bộ phụ này chích hút dịch cây gây hại cây trồng, gián tiếp truyền bệnh virus cho cây, cuối bụng hình nón, khi đứng yên thì cánh xếp song song nhau, phủ gần kín bụng, mép cánh có nhiều lông tơ Con cái có ống đẻ trứng dạng răng cưa, đẻ trứng vào

mô lá hoặc bộ phận khác của cây Còn bộ phụ Tubulifera bao gồm những loài bọ trĩ có kích thước cơ thể tương đối lớn, có khi hơn 1 cm Bọ trĩ sống thành đàn ở mặt dưới tàn dư lá, ở đó chúng ăn nấm hoặc những côn trùng nhỏ, một số loài hút dịch cây trở thành loài gây hại, đốt cuối bụng kéo dài thành ống, cánh ngắn chỉ phủ tới đốt bụng thứ VI hoặc VII, khi đứng yên 2 cánh vắt chéo lên nhau Con cái không có ống đẻ trứng dạng răng cưa, đẻ trứng trực tiếp trên mặt lá hoặc các

bộ phận khác của cây

Theo Hà Quang Hùng và cs (2005), bọ trĩ là loài côn trùng nhỏ bé với số đốt râu đầu từ 6 đến 9, kiểu miệng dũa hút không đối xứng, bàn chân có một đến hai đốt, đối cuối bàn chân có đệm 2 đôi cánh chạy dài hẹp với hệ gân cánh tiêu giảm, mép ngoài của cánh có nhiều lông tơ dài Biến thái không hoàn toàn đặc biệt (bao gồm: trứng, sâu non tuổi 1, sâu non tuổi 2, tiền nhộng, nhộng và trưởng thành) Hầu hết các loài bọ trĩ chích hút dịch của cây trồng, một số loài là bắt mồi (thiên địch)

Ở Việt Nam thường gặp 3 họ bọ trĩ, trong đó có 2 họ thuộc bộ phụ Terebrantia( họ Aeolothripidae và Thripidae) và 1 họ thuộc bộ phụ Tubulifera(

họ Phlaeothripidae) Bọ trĩ thuộc họ Phlaeothripidae, cánh trước không có vân dọc và không có lông ở trên vân đó nhưng có lông ở gốc phụ của mép trước cánh, mặt cánh mịn Đốt bụng thứ X dạng ống ở cả con đực và con cái Ống đẻ trứng của con cái không có răng cưa Con đực chân trước phình to dạng đào bới, cuối ống bụng có những lông nhỏ xếp thành vòng Sâu non tuổi I và II có đốt râu đầu trơn, mượt, không mọc các lông mịn nhỏ

Trang 25

Bọ trĩ thuộc họ Aeolothripidae, cánh trước thường có 3 vân dọc phát triển, mỗi vân mọc nhiều lông, mặt cánh mọc nhiều lông mịn nhỏ xếp theo chiều dọc của canh Đốt bụng thứ X có dạng hình nón ở cả con đực và con cái Ống đẻ trứng của con cái có dạng răng cưa Bọ trĩ non tuổi I và II có đốt râu đầu mọc nhiều lông mịn Râu đầu có 9 đốt, tế bào cảm giác trên đốt râu đầu thứ III và IV thẳng và hẹp Cánh trước rộng và tròn ở đỉnh cánh, lông mọc ở trên gân cánh thường nhỏ Đối với bọ trĩ thuộc họ Thripidae, râu đầu có 7-8 đốt (ít khi 6 và 9 đốt), tế bào cảm giác trên đốt râu đầu thứ III và IV hơi nhô ra có dạng chữ V Cánh trước hẹp và nhọn ở đỉnh cánh Lông mọc trên gân cánh thường lớn

2.4.2 Thành phần loài bọ trĩ

Cây họ bầu bí được xem là ký chủ ưa thích của bọ trĩ Trên dưa chuột vụ thu năm 2004 tại đại học Nông nghiệp Hà Nội (nay là Học viện nông nghiệp Việt

Nam), Hà Quang Hùng và cs (2005) cho biết có 4 loài bọ trĩ gây hại là Thrips

palmi Karny, Megalurothrips usitatus, Caliothrips fasiatus và Frankliniella intonsa Trybom; trong đó bọ trĩ Thrips palmi Karny là loài gây hại chủ yếu Tại

Gia Lâm, Hà Nội, Yorn Try (2008) đã xác định được 7 loài bọ trĩ gây hại trên cây

dưa chuột là: Thrips palmi Karny, Thrips parvispinus Karny, Thrips flavus Schrank, Frankliniella occidentalis Pergande, Frankliniella intonsa (Trybom),

Thrips tabaci Lindeman, Haplothrips kurjummovi Karny Trong đó Thrips palmi

là loài gây hại chủ yếu xuất hiện quanh năm với mức độ phổ biến cao nhất, tấn công lên lá, chồi và hoa Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh (2015) lại cho biết, chỉ xác định được 2 loài bọ trĩ gây hại trên cây dưa chuột tại Yên Mỹ,

Hưng Yên, đó là Frankliniella occidentalis Pergande và Haplothrip gowdeyi

Franklin Như vậy, thành phần bọ trĩ trên cây dưa chuột khá đa dạng, thay đổi

theo thời gian và không gian

Trên cây bí đỏ đã ghi nhận được 4 loài bọ trĩ gây hại, đó là Thrips palmi Karny, Thrips flavus Schrank, Frankliniella intonsa Trybom và Thrips tabaci Lindeman, trong đó phổ biến là loài Thrips palmi Karny (Nguyễn Hữu Đại, 2012) Trên cây dưa hấu, T.palmi cũng được ghi nhận gây hại nặng, ngoài ra còn

có 2 loài khác là bọ trĩ thuốc lá Thrips tabaci Lindeman, Scirtothrips dorsalis Hood nhưng phổ biến nhất vẫn là bọ trĩ dưa Thrips palmi Karny (Nguyễn Hồng

Yến, 2009) Đây cũng là đối tượng gây hại trên nhiều loại cây trồng khác nhau Tại Bắc Ninh, Trần Văn Lợi (2001) đã xác định được 12 loài cây ký chủ của bọ trĩ,

trong đó có một số cây ký chủ ưa thích của T.palmi ngoài cây dưa chuột là đậu

cove, dưa chuột, cà tím

Trang 26

Theo Hà Quang Hùng và cs (2005) có 5 loài bọ trĩ thường gây hại trên hoa

cúc, đó là Thrips tabaci Linderman, Thrips flavus Schrark, Frankliniella intonsa Trybom, Scirtothrips dorsalis Hood và Frankliniella sp Trong đó có 3 loài thường xuyên xuất hiện và gây hại chủ yếu là T.tabaci, T.flavus, F intonsa Cũng

nghiên cứu về thành phần bọ trĩ hại hoa, Nguyễn Việt Hà (2008) cho biết thành

phần bọ trĩ hại hoa cúc gồm 5 loài phổ biến: Thrips palmi, Scirtothrips dorsalis,

Thrips hawaiiensis, Thrips sp và Frankliniella intonsa Còn trên hoa hồng, xác

định được 3 loài bọ trĩ gây hại là Scirtothrips dorsalis, Thrips palmi,

Frankliniella intonsa

Trên đậu rau, bọ trĩ Thrips palmi Karny, Scirtothrips dorsalis, Caliothrips

sp và Frankliniealla intonsa Trybom được xác định là 4 loài bọ trĩ thường xuất hiện và gây hại, trong đó T.palmi và S.dorsalis là 2 loài gây hại chủ yếu (Yorn

Try, 2003) Thành phần bọ trĩ hại lạc cũng khá đa dạng Nguyễn Đức Thắng

(2012) xác định được 9 loài bọ trĩ gây hại trên lạc tại Nghệ An là Frankliniella

intonsa Trybom, Frankliniella schultzei Trybom, Megalurothrips usitatus

Bagnall, Megalurothrips sjostedti Trybom, Scirtothrips dorsalis Hood, Thrips

palmi Karny, Thrips tabaci Lindeman, Thrips hawaiiensis Morgan và Haplothrips gowdeyi Franklin thuộc 2 họ Thripidae và Phlaeothripidae Kết quả

điều tra cây trồng tại Nho Quan, Ninh Bình cho thấy, có 9 loài bọ trĩ hại cây

trồng, trong đó có 7 loài thuộc họ Thripidae và 1 loài thuộc họ Phlaeothripidae

hawaiiensis Morgan, Haplothrips gowdeyi Franklin, Haplothrips sp Các loài bọ

trĩ nói trên đều được phát hiện trên các bộ phận của cây rau gia vị như: mặt trên của lá, mặt dưới của lá, ngọn và chủ yếu tập trung ở các chùm hoa (Hà Thanh Hương và cs., 2012)

2.4.3 Tình hình gây hại của bọ trĩ

Ở Việt Nam, bọ trĩ là một đối tượng khá quan trọng gây hại trên nhiều loài cây trồng như dưa chuột, dưa hấu, lạc, khoai tây, đậu tương, chè, bông; làm ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất cây trồng Trên cây bông ở Bình Thuận, Lê

Quang Quyến và cs (2005) cho biết, bọ trĩ gây hại bông gồm 2 loài Thrips palmi

Trang 27

và Scirtothrips dorsalis Chúng xuất hiện khi cây bông mới có lá sò và tồn tại

trong suốt vụ, gây hại chủ yếu ở giai đoạn cây con Bọ trĩ phát sinh mạnh từ giữa tháng 12 đến giữa tháng 2, bông gieo vào tháng 12 thường bị bọ trĩ gây hại nặng hơn nhiều so với bông gieo trước đó

Yorn Try (2003) đã xác định Thrips palmi Karny là loài sâu hại nghiêm

trọng trên đậu rau, đặc biệt là đậu trạch; mật độ cao gây hại nặng vào các tháng 5

và tháng 6 ở vùng Hà Nội Khi thí nghiệm về tính hấp dẫn của thức ăn đến tập

tính đẻ trứng đối với bọ trĩ T.palmi cho thấy trong 4 loại đậu thì đậu trạch là ký

chủ ưa thích nhất, tiếp theo đến đậu cove xanh rồi đến đậu cove vàng và cuối

cùng là đậu đũa Những chồi non bị T.palmi gây hại sẽ biến màu trắng toàn bộ, cây lùn và lá bị biến dạng Riêng trên hoa, sự gây hại của T.palmi làm ảnh hưởng

trực tiếp đến năng suất quả Nếu hoa bị hại nặng dẫn đến cản trở sự hình thành quả, đồng thời khiến các hoa bị rụng, những hoa còn sót lại cho dù có thể hình thành quả nhưng bị mất giá trị kinh tế do quả cong queo, bé

Nguyễn Văn Đĩnh (2005) khi nghiên cứu về sâu hại rau chủ yếu trồng

trong nhà có mái che ở Hà Nội cho biết, bọ trĩ vàng Thrips palmi là đối tượng

gây hại nghiêm trọng trên cây dưa chuột, chúng có thể làm cây bị còi cọc, quả bị

cong queo biến dạng T.palmi gây hại trên dưa chuột làm giảm năng suất nghiêm trọng trong điều kiện vụ xuân - hè, còn trong vụ thu và đông, bọ trĩ T.palmi không

phải là loài dịch hại chủ yếu trên dưa chuột Bọ trĩ gây hại nặng trên cây dưa chuột dẫn đến chồi không phát triển được, các lá nhăn nheo từ đó làm lớp mô càng dầy hơn, quả bị biến dạng và khả năng cho quả ít, các quả non không phát triển Khi cây bị hại nặng ở giai đoạn cây con làm cây không ra chồi, lá bị héo do mất khả năng quang hợp và cuối cùng sẽ chết toàn cây (Yorn Try, 2008)

Trên cây bí ngô, bọ trĩ vàng Thrips palmi cũng là đối tượng gây hại quan

trọng, chúng gây hại phổ biến từ tháng 2 đến tháng 4, đến tháng 5 thì mật độ giảm dần (Nguyễn Văn Đĩnh, 2005) Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Đại (2012) chỉ rõ, thành phần loài bọ trĩ gây hại bí đỏ biến đổi theo từng giai đoạn sinh

trưởng của cây và đặc biệt là loài Thrips palmi Karny xuất hiện sớm và gây hại chủ yếu ngay từ thời kỳ cây non Các loài bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom,

Thrips flavus Schrank gây hại ở mức độ nhẹ, ít phổ biến, loài bọ trĩ Thrips tabaci

Lindeman xuất hiện ít, không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây Bọ trĩ sống và gây hại chủ yếu trên lá, ngọn và hoa Con trưởng thành di chuyển nhanh, đẻ trứng trong mô mặt dưới lá Bọ trĩ hút nhựa làm đọt và lá non

Trang 28

xoăn lại, có nhiều đốm nhỏ màu vàng nhạt Mật độ cao làm cây cằn cỗi không phát triển được, ngọn bị chùn lại, lá vàng và khô, hoa rụng, không đậu quả hoặc quả không lớn

Bọ trĩ cũng là một trong những đối tượng gây hại trên cây dược liệu tại Hà Nội (Đặng Thị Dung, 2005) và cây na ở Lạng Sơn và Quảng Ninh (Phạm Văn Lầm

và cs., 2011) Trên cây lúa, bọ trĩ Thrips oryzae Bagnall xuất hiện và gây hại ở thời

kỳ cây lúa còn non (Đặng Thị Dung, 2005) Còn trên cây thuốc lá và cà chua, bọ trĩ gây hại trên lá, búp chồi của cây ở giai đoạn vườn ươm nhưng mức độ gây hại không đáng kể (Nguyễn Văn Biếu, 2005; Nguyễn Văn Sơn và cs., 2014)

Trên cây dưa hấu, bọ trĩ gây hại phổ biến nhất vào giai đoạn khoảng

35-49 ngày sau trồng Cả bọ trĩ non và trưởng thành đều tập trung hại chủ yếu ở phần búp và lá non, các lá bị hại thường biến dạng, xoăn hay quăn queo Nguyễn Tuấn Lộc và cộng sự (2010) cho biết, trong số các đối tượng sâu hại

dưa hấu, bọ trĩ Thrips palmi Karny xuất hiện với tần suất khá cao Bọ trĩ phát

sinh gây hại trên dưa hấu từ giai đoạn cây con đến thu hoạch, mỗi vụ dưa có 3 cao điểm, nhưng hại nặng vào giai đoạn phát triển thân lá và giai đoạn ra hoa đậu quả Vụ Hè Thu, đầu vụ mật độ cao, bọ trĩ gây hại nặng ngay ở giai đoạn phát triển thân lá, nhưng sau đó giảm dần vào cuối vụ khi nhiệt độ giảm

T.palmi cũng là 1 trong số 20 loài sâu hại trên cây cà chua ở Đông Anh, Hà Nội

(Nguyễn Văn Đĩnh và cs., 2003)

Thành phần bọ trĩ hại lạc cũng khá đa dạng Tại Nghệ An, Nguyễn Đức

Thắng (2012) cho biết, cả 9 loài bọ trĩ thu thập được đều gây hại chủ yếu trên lá,

hoa và ngọn Trong đó loài Frankliniella intonsa Trybom gây hại hoa ở mức độ phổ biến trên lạc vụ xuân, 2 loài Frankliniella intonsa Trybom và Megalurothrips

usitatus Bagnall đều phát sinh ở mức độ rất phổ biến trên lạc vụ xuân

Bọ trĩ cũng xuất hiện và gây hại chè, làm ảnh hưởng không nhỏ tới năng suất

và chất lượng chè Tại Phú Thọ, bọ trĩ Physothrips setiventris Bagnall xuất hiện ở

mức độ phổ biến cao Chúng làm cho lá chè bị cong queo, biến dạng, búp chè

“chùn” lại và sinh trưởng chậm, làm giảm năng suất, chất lượng chè (Vũ Thị Thương, 2010) Cả bọ trĩ non và trưởng thành đều hại búp chè Miệng bọ trĩ thuộc loại miệng dũa hút Khi ăn chúng dùng hàm dưới dũa hút vào biểu bì sau đó cắm vòi hút để hút chất dinh dưỡng trong lá, cuống búp tạo thành những tổn thương trên búp, khi lành tạo thành những vết sần sùi màu nâu và những vết nứt ngang Ngoài triệu chứng gây hại của bọ trĩ do miệng dũa hút, lá và búp chè còn bị tổn thương do khi

Trang 29

đẻ, ống đẻ trứng của con cái châm vào búp chè Búp chè bị bọ trĩ hại trở nên giòn,

dễ gẫy khi sao sấy làm giảm chất lượng sản phẩm chè Tại thời điểm phát triển mạnh, bọ trĩ gây hại làm giảm 20,14% năng suất chè (Lê Thị Xuân Thu, 2004) Trên rau gia vị, các loài bọ trĩ đều được phát hiện trên các bộ phận của cây như: bề mặt trên của lá, bề mặt duới của lá, ngọn và chủ yếu tập trung ở các chùm

hoa Trên cây húng quế, loài Frankliniella intonsa Trybom, Scirtothrips dorsalis Hood và Haplothrips gowdeyi Franklin gây hại ở các bộ phận non như trên bề mặt

lá non, làm quăn mép lá và quăn ngọn, chúng tập trung chủ yếu ở các chùm hoa và dưới bề mặt lá Ở giai đoạn cây còn non (4-10 lá thật), bọ trĩ thường tập trung ở gốc cây và trên bề mặt lá non Trên các cây húng quế bị bọ trĩ hại, lá non và ngọn

có hiện tượng bị quăn mép lá, bị dúm và biến dạng (Vũ Ngọc Anh, 2012)

2.4.4 Các biện pháp phòng chống bọ trĩ

2.4.4.1 Biện pháp canh tác

Trong các hệ thống xen canh, có nhiều yếu tố có thể giúp chống lại sự tấn công của sâu hại Cây chủ có thể tránh khỏi sự tấn công của sâu hại nhờ sự có mặt của các loài thực vật khác tạo nên hàng rào ngụy trang hay vật cản tự nhiên (Phạm Bình Quyền, 2005) Việc sử dụng các biện pháp canh tác đều gây ra những thay đổi đáng kể về tình hình dịch hại trong hệ sinh thái nông nghiệp Nếu tính toán đúng thì luân canh cây trồng sẽ là biện pháp canh tác rất hiệu quả để hạn chế nhiều loại sâu bệnh quan trọng trong nông nghiệp Việc trồng xen lạc với ngô, kê sẽ làm giảm số lượng của bọ trĩ, rầy xanh hại lạc (Phạm Văn Lầm, 1999)

Việc sử dụng ni lông làm hàng rào quanh ruộng là một biện pháp ngăn

ngừa sự lây lan của dịch hại, đặc biệt là bọ trĩ T.palmi trên cây dưa chuột Theo

Nguyễn Văn Hùng (2013), việc dùng ni lông làm hàng rào cao 1,5m xung quanh

ruộng có thể làm giảm tỷ lệ lá bị bọ trĩ T.palmi gây hại Đặc biệt việc sử dụng

bẫy dính màu vàng ngay từ giai đoạn cây con có thể làm giảm mật độ bọ trĩ đến

20% Yorn Try (2008) cho biết, sở dĩ mật độ bọ trĩ T.palmi trên ruộng có quây ni

lông làm hàng rào quanh ruộng thấp hơn so với ruộng đối chứng là do hàng rào cao 1,5m có tác dụng ngăn cản một số lượng lớn các cá thể bọ trĩ di chuyển từ nơi khác đến Khi mà chúng bay đến sẽ đâm vào hàng rào rồi rơi xuống đất Một

số lượng lớn không bò lên hàng rào để vào trong ruộng được Sự ngăn cản này có thể hạn chế được sự gây hại khoảng 6% so với ruộng đối chứng Cũng theo Yorn Try, biện pháp tỉa bớt các lá tầng dưới gần sát mặt đất (những lá thứ 13, 14 và 15 tính từ ngọn xuống) có thể làm giảm mật độ sâu non vì các lá này có mật độ sâu

Trang 30

non khá cao, mặt khác sau khi tỉa bớt các lá đó hầu như không làm ảnh hưởng đến khả năng quang hợp của cây

2.4.4.2 Biện pháp sinh học

Biện pháp sinh học trong BVTV đã có một lịch sử khá lâu đời và thực tế cũng cho thấy các sáng kiến cũng như kinh nghiệm sử dụng sinh vật để chống lại các loài gây hại đã đồng hành với lịch sử phát triển phát triển sản xuất nông nghiệp của nhiều nước trên thế giới Đặc biệt trong thời đại ngày nay, trước đòi hỏi gắt gao của một nền nông nghiệp sạch và bền vững, biện pháp sinh học đang trở thành biện pháp đi đầu trong quản lý dịch hại tổng hợp (Nguyễn Văn Đĩnh và cs., 2014)

Có nhiều công trình nghiên cứu sử dụng thiên địch trong việc làm giảm mật độ quần thể bọ trĩ Yorn Try (2003) đã xác định 14 loài thiên địch của bọ trĩ

T.palmi: nhóm bắt mồi có Orius sauteri poppius, Lyctocoris beneficus, Xylocoris

sp., Amphiareus obscuriceps, Isometopus japonicus, Orthotylus sp.,

Franklinothrips vespiformis, Aeolothrips sp., Haplothrips sp., Scolothrips sexmaculatus, Menochilus sexmaculatus, Micrapis discolor, Oenopia sauzati và Ceranisus sp

Nguyễn Đức Thắng (2012) xác định được 10 loài thiên địch của các loài

bọ trĩ hại lạc xuân tại Nghệ An, thuộc 3 bộ (Hemiptera, Coleoptera và Hymenoptera) lớp côn trùng, 1 bộ (Acarina) lớp nhện Trong đó có tới 4 loài bọ

xít bắt mồi thuộc họ Anthocoridae Loài bọ xít nâu nhỏ O.sauteri xuất hiện với mức độ cao nhất có ý nghĩa trong điều hòa số lượng bọ trĩ Frankliniella intonsa ở

vùng Nghệ An

2.4.4.3 Biện pháp hóa học

Hà Quang Hùng và cs (2005) cho biết các thuốc Tập Kỳ 1,8EC, Sumicidin 20EC, Decis, Diazinon, Nicotin đều có thể phòng trừ bọ trĩ đạt kết quả tốt

Theo Yorn Try (2008), thuốc Marshal 200SC có hiệu lực cao nhất trong

phòng chống bọ trĩ Thrips palmi trên cây dưa chuột, sau đó lần lượt là các thuốc

Amico 10EC, Conphai 10WP và Regent 800WP Trong số các loại thuốc có nguồn gốc sinh học thì Alphatin 1,8EC là có hiệu lực cao nhất, tiếp theo là Abatimec 3,6EC, Thần tố 78DD (Yorn Try, 2008) Cũng nghiên cứu về biện pháp hóa học trong phòng trừ bọ trĩ hại dưa chuột, Nguyễn Thị Thanh (2015) cho

Trang 31

biết, thuốc Scorpion 18EC và Shertin 1,8EC có hiệu quả cao trong phòng trừ, nhưng thuốc Confidor 100SL tỏ ra hiệu quả không cao Nguyễn Hữu Đại (2012) cũng cho biết thuốc Scopion 36EC có hiệu quả cao trong phòng trừ bọ trĩ hại bí

đỏ, trong khi đó thuốc Shertin 1,8EC lại có hiệu quả thấp nhất

Nguyễn Việt Hà (2008) khi nghiên cứu hiệu lực của thuốc phòng trừ bọ trĩ trên hoa hồng, hoa cúc đã cho biết 4 loại thuốc Dylan 2EC, Shepatin 36EC,

Silsau 10WP và Kuraba WP đều có khả năng phòng trừ Frankliniella intonsa,

song Shepatin 36EC có hiệu lực cao nhất (89,18% ở thời điểm 7 ngày sau phun) trên pha trưởng thành và có thể đạt tới (94,98% ở thời điểm 7 ngày sau phun)

trên pha sâu non Cũng sử dụng thuốc hóa học trong phòng trừ bọ trĩ F.intonsa

hại lạc, Nguyễn Đức Thắng (2012) cho biết thuốc Oshin 100 SL có hiệu lực cao

nhất trong phòng chống bọ trĩ F.intonsa, thứ hai là Admire 200OD; còn đối với 3

loại thuốc thuốc có nguồn gốc sinh học được khảo nghiệm thì Tập Kỳ 1,8EC có hiệu lực cao nhất, tiếp theo là Alfapathrin 10EC và thấp nhất là Acotrin 440EC

Trang 32

PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

3.1.1 Địa điểm nghiên cứu

Địa điểm: Các nghiên cứu ngoài đồng ruộng được thực hiện tại xã Tân Quang, Trưng Trắc và thị trấn Như Quỳnh của huyện Văn Lâm, Hưng Yên Các nghiên cứu trong phòng được thực hiện tại phòng thí nghiệm, trung tâm bảo vệ thực vật phía Bắc, phòng thí nghiệm bộ môn Côn trùng của khoa Nông học và gửi mẫu giám định tại cục BVTV

3.1.2 Thời gian nghiên cứu

- Đề tài thực hiện: Từ tháng 5/2015 – tháng 12/2015

3.2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ DỤNG CỤ NGHIÊN CỨU

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các loài bọ trĩ trên cây họ bầu bí

3.2.2 Vật liệu nghiên cứu

- Một số cây thuộc họ bầu bí : Dưa chuột, bí xanh, bí ngô, mướp

- Một số giống dưa chuột: Giống dưa Nhật, Nhật lai và Cúc 71

- Một số loại thuốc bảo vệ thực vật: Confidor 100SL, Marshal 200SC, Abatimec 3,6EC và Tasieu 5WG

3.2.3 Dụng cụ nghiên cứu

- Hộp đựng mẫu, túi nilon có mép dán kín, đĩa petri

- Lọ đựng bọ trĩ có nắp (ống eppendorf)

- Bút, giấy ghi địa điểm, bộ phận thu mẫu

- Bút lông, giấy thấm, kéo, kim côn trùng

- Cồn 70%, dung dịch Hoyer, dung dịch NaOH 10%

- Lam, lamen

- Kính lúp soi nổi (có bộ phận chụp ảnh) và kính hiển vi huỳnh quang

- Sổ ghi chép, bút chì, thước, xilanh, bình bơm đeo vai

Trang 33

3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Xác định thành phần bọ trĩ trên cây họ bầu bí ở Văn Lâm, Hưng Yên: Bí ngô, bí xanh, dưa chuột, mướp

- Điều tra diễn biến số lượng của bọ trĩ tổng số gây hại trên cây dưa chuột dưới ảnh hưởng của một số yếu tố (giống, thời vụ, vị trí ruộng trồng, độ ẩm đất, luân canh, ngắt lá già và che phủ luống)

- Nghiên cứu hiệu quả của một số loại thuốc BVTV trong phòng trừ bọ trĩ hại dưa chuột

3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.4.1 Phương pháp điều tra thu thập thành phần bọ trĩ

Điều tra thu thập thành phần bọ trĩ được thực hiện theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng - QCVN 01-38: 2010/BNN&PTNT, Hà Quang Hùng (2005) và phương pháp thu thập bọ trĩ ngoài đồng của Mound (2007)

- Thời gian điều tra lấy mẫu: định kỳ 7 ngày/lần, điều tra liên tục theo giai đoạn sinh trưởng của cây trồng có liên quan đến sự xuất hiện và gây hại của bọ trĩ

- Điều tra thu thập theo phương pháp ngẫu nhiên tự do, không cố định điểm điều tra và số lượng điểm điều tra, số điểm càng nhiều càng tốt

- Thu thập bọ trĩ đang có mặt trên bộ phận của cây bằng cách dùng túi nilon nhẹ nhàng chụp lấy lá hoặc búp non, hoặc hoa Mỗi túi mẫu được ghi rõ thông tin về: ngày thu mẫu, địa điểm, giai đoạn sinh trưởng, bộ phận của cây Các túi mẫu sau khi thu thập được chuyển ngay vào khoang đá của tủ lạnh trong thời gian 2 giờ Sau đó, mẫu bọ trĩ được chuyển sang khay nhựa màu trắng sữa (có độ tương phản cao), đồng thời rũ hết bộ phận cây trồng đã thu lên cùng khay Dùng bút lông thu mẫu bọ trĩ cho vào ống eppendorf có chứa sẵn dung dịch cồn 70% và trên vỏ của ống đựng mẫu cũng ghi rõ thông tin như trên túi nilon đựng mẫu đó

+ Toàn bộ mẫu thu được được bảo quản ở ngăn mát của tủ lạnh Toàn bộ

mẫu bọ trĩ của một ống được đổ vào lam lõm, đặt dưới kính hiển vi để tách bỏ các mẫu bọ trĩ non và chỉ giữ lại các mẫu bọ trĩ trưởng thành để giám định, phân loại

+ Các mẫu vật của từng loài lần đầu thu được gửi về phòng thí nghiệm

của Cục BVTV để định tên loài

Trang 34

- Chỉ tiêu cần điều tra :

+ Tên loài bọ trĩ gây hại (tên Việt Nam và tên khoa học)

+ Mật độ của bọ trĩ ở mỗi bộ phận của cây trồng

Phương pháp điều tra biến động thành phần loài bọ trĩ trên cây dưa chuột

Tiến hành điều tra ở 5 giai đoạn sinh trưởng khác nhau của cây trong 1 vụ

dưa chuột: giai đoạn cây con, leo giàn, ra hoa – quả non, thu quả và thu quả rộ

Thu thập bọ trĩ đang có mặt trên các bộ phận của cây bằng cách chụp túi

nilon vào lá hoặc ngọn, hoa, quả; đánh dấu sau đó mang về phòng thí nghiệm, dùng cồn 70% rửa để thu thập bọ trĩ hại trên lá, ngọn, hoa và quả Sau đó gạn, đưa lên kính lúp điện soi để phân loại, đếm và xác định thành phần số lượng bọ trĩ từng loài theo mẫu đã định loài

Phương pháp lên tiêu bản mẫu bọ trĩ

Dựa theo phương pháp lên tiêu bản bọ trĩ của Mound (2007)

- Vật liệu cần có: Lam lõm, lam phẳng, lamen, NaOH 10%, nước cất, cồn

70%, Glycerine, Bom Canada, dầu đinh hương, bàn nhiệt (hotplate)

- Các bước tiến hành như sau:

Trước khi tiến hành lên tiêu bản bọ trĩ, chuyển mẫu bọ trĩ sang ống có chứa sẵn dung dịch NaOH 10%, ngâm trong vòng 24 giờ

+ Bước 1: Chuyển mẫu bọ trĩ lên lamen đã nhỏ 1 giọt dầu đinh hương, quan sát dưới kính lúp 2 mắt soi nổi tư thế của bọ trĩ, điều chỉnh tư thế của bọ trĩ sao cho cánh và râu đầu sải ra hết (các bộ phận cơ thể của bọ trĩ phải lộ diện hoàn toàn) + Bước 2: Dùng que gỗ có gắn kim ở đầu để điều chỉnh tư thế của bọ trĩ sao cho cánh và râu đầu sải ra hết (các bộ phận cơ thể của bọ trĩ phải lộ diện hoàn toàn), rồi từ từ đặt lam lên sao cho lam phải song song với lamen, tránh tạo bọt khí

+ Bước 3: Đặt lam lên bàn nhiệt (hotplate) ở nhiệt độ 500C trong 1 tuần Khi đó dung dịch Hoyer và mẫu bọ trĩ se trong để tiện cho quan sát

+ Bước 4: Dán 2 nhãn lên lamen

Nhãn 1: Ghi địa điểm thu mẫu, ngày thu mẫu, người thu mẫu

Nhãn 2: Ghi tên khoa học loài bọ trĩ và ký chủ

+ Bước 5: Cố định mẫu bằng một vài giọt Bom Canada xung quanh mép bản lamen để cố định mẫu bọ trĩ

Trang 35

Phương pháp định loại bọ trĩ

Mẫu bọ trĩ thu thập ở ngoài đồng, làm tiêu bản lam, đưa lên kính lúp soi nổi và kính hiển vi và tiến hành giám định bằng các tài liệu phân loại bọ trĩ của Mound (1976) và website www.ozthrips.org cùng với sự giúp đỡ của TS Hà Thanh Hương để xác định chính xác tên loài bọ trĩ trên cây họ bầu bí thu được tại Hưng Yên

Để định loại bọ trĩ, các đặc điểm hình thái bên ngoài theo khóa phân loại như màu sắc, râu đầu, các vị trí lông cũng như số lượng lông ở trên đầu, mảnh lưng ngực trước, mảnh lưng ngực giữa, mảnh lưng ngực sau và cánh; quan sát các đốt bụng, đặc biệt đốt bụng thứ VIII được chụp ảnh lại

Trong trường hợp các mẫu không thể xác định được sẽ gửi tới Tiến sỹ Laurence Mound tại Úc để giám định

Phương pháp mô tả bọ trĩ theo Mound (2007)

Mô tả hình thái, đặc điểm phân biệt của trưởng thành các loài bọ trĩ gây

hại chủ yếu trên cây họ bầu bí tại địa điểm nghiên cứu dưới kính lúp soi nổi và kính hiển vi huỳnh quang Mô tả hình thái, đặc điểm phân biệt của trưởng thành: Màu sắc cơ thể, số lượng đốt râu, kiểu râu đầu, các vị trí lông cũng như số lượng mảnh trên đầu, mảnh lưng ngực trước, mảnh lưng ngực giữa, mảnh lưng ngực sau và cánh; quan sát các đốt bụng, đặc biệt đốt bụng thứ VIII

3.4.2 Phương pháp điều tra diễn biến số lượng của bọ trĩ trên cây dưa chuột

- Thời gian điều tra: 7 ngày/lần

- Địa điểm điều tra: Huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên

- Chọn ruộng trồng đại diện cho :

Theo giống dưa chuột : 3 giống

+ Giống Cúc 71 + Giống Nhật + Giống Nhật lai

Theo thời vụ trồng cây dưa chuột: Áp dụng đối với giống dưa Nhật trong vụ thu

năm 2015 tại Văn Lâm, Hưng Yên

+ Công thức 1: Chính vụ( Trồng 22-25/07/2015) + Công thức 2 : Vụ muộn ( Trồng 27/08/2015)

Trang 36

Dưa chính vụ được trồng vào cuối tháng 7, thu hoạch vào tháng 9

Dưa vụ muộn được trồng vào cuối tháng 8, thu hoạch vào tháng 10

Theo vị trí ruộng trồng: Áp dụng đối với giống dưa Nhật lai trong vụ thu

- Điều tra theo 10 điểm chéo góc, mỗi điểm điều tra trên 10 lá (phân bố đều trên lá non, lá bánh tẻ, lá già), giai đoạn ra hoa thì đếm số lượng bọ trĩ trên hoa Lá non được tính từ lá thật thứ nhất từ chồi ngọn xuống Lá bánh tẻ được tính từ lá thật thứ 5 tính từ chồi ngọn xuống Lá già được tính từ lá thật thứ 10 từ chồi ngọn xuống

- Phương pháp đếm số lượng bọ trĩ: Khi mật độ bọ trĩ ít dùng kính lúp tay

có độ phóng đại 10 lần di chuyển trên lá để đếm trực tiếp số lượng bọ trĩ trên lá

và các bộ phận bị hại khác Khi mật độ bọ trĩ cao dùng phương pháp ngắt lá của từng điểm điều tra (10 lá) cho vào từng túi nilon riêng biệt, có ghi nhãn rồi mang

về phòng thí nghiệm để đếm theo phương pháp: ngâm riêng từng bộ phận bị hại trong cồn loãng 10% lắc nhẹ cho bọ trĩ rơi ra khỏi lá, gạn nước để lấy bọ trĩ và đếm trên đĩa Petri có sử dụng kính lúp tay có độ phóng đại 10 lần để quan sát

Chỉ tiêu cần điều tra:

- Mật độ bọ trĩ (con/lá) trên các giống dưa chuột, thời vụ trồng, vị trí ruộng trồng dưa và chân ruộng khác nhau

3.4.3 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến mật độ bọ trĩ tổng số hại dưa chuột

• Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp ngắt tỉa lá và

không ngắt tỉa lá đối với số lượng bọ trĩ tổng số trên cây dưa chuột

Trang 37

Thí nghiệm trên hai ruộng, ruộng thứ nhất là ruộng không tỉa lá và ruộng thứ hai là ruộng được ngắt tỉa lá già thường xuyên

Tiến hành ngắt lá khi cây bước vào thời kỳ leo giàn (cây được khoảng 10 lá thật), ngắt những lá già phía dưới sát mặt đất, thời gian 5 ngày/lần Ngoài ra, có thể ngắt những lá bị bọ trĩ hại nặng, có mật độ bọ trĩ cao Lá ngắt xuống sẽ được thu gom lại

• Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của công thức luân canh đến số

lượng bọ trĩ tổng số trên cây dưa chuột

Điều tra mật độ bọ trĩ tổng số trên các ruộng có công thức luân canh khác nhau như cà tím – dưa chuột, đậu cô ve- dưa chuột, dưa chuột – dưa chuột và đậu tương – dưa chuột, sau đó so sánh Thí nghiệm áp dụng đối với giống dưa Cúc 71 trong vụ thu chính vụ năm 2015 tại Văn Lâm, Hưng Yên

• Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp che phủ luống

đến số lượng bọ trĩ tổng số trên cây dưa chuột

Thí nghiệm tiến hành trên 2 ruộng dưa, một ruộng che phủ luống và một ruộng không che phủ, sau đó so sánh

Đối với ruộng che phủ luống, sử dụng màng phủ nilon 2 mặt, một mặt đen, một mặt xám; mặt xám phủ lên trên; kích thước màng phủ 1,0m x chiều dài luống Tiến hành làm đất, lên luống, bón lót đầy đủ (lưu ý vùi phân sâu), sau đó phủ nilon lên trên mặt luống, cố định 2 bên mép luống bằng đất Sau khi đã cố định màng phủ và xác định được vị trí trồng dưa, tiến hành đục lỗ để trồng Sử dụng loại ống nhựa đường kính khoảng 12cm, có cắt răng cưa ở đầu ống để thuận lợi cho việc đục lỗ (hoặc có thể sử dụng lon sữa bò để đục lỗ trồng) Sau khi đục

lỗ, tiến hành trồng dưa và chăm sóc dưa bình thường

Thí nghiệm áp dụng đối với giống dưa Nhật trong vụ thu chính vụ năm

2015 tại Văn Lâm, Hưng Yên

3.4.4 Phương pháp khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc trừ bọ trĩ

3.4.4.1 Phương pháp khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc trừ bọ trĩ trong phòng thí nghiệm

Thử nghiệm 4 loại thuốc trong phòng thí nghiệm bằng phương pháp phun trực tiếp bằng bình phun 2 lít, nồng độ thuốc theo bảng 3.1:

Trang 38

Bảng 3.1 Tên thuốc BVTV trừ bọ trĩ trong phòng thí nghiệm

và nồng độ sử dụng

CT Tên thuốc Tên hoạt chất Nhóm

độc

Nồng độ (%)

Phương pháp: Dùng đĩa Petri có lót giấy thấm nước dưới đáy để giữ ẩm

cho lá dưa chuột, cắt lá dưa chuột theo hình đĩa, đặt lá vào đĩa Dùng bút lông bắt

30 cá thể bọ trĩ tuổi 1, 2 từ lá dưa chuột mang ngoài đồng về chuyển sang đĩa petri có sẵn lá dưa chuột đặt trên giấy thấm, mỗi công thức có 3 hộp, thí nghiệm được nhắc lại 3 lần

Cách phun: Phun dung dịch thuốc bằng bình phun tay với lượng vừa đủ để

ướt lá Sau khi phun, dốc ngược lá lên giấy thấm cho nước chảy hết không còn đọng thành giọt trên lá Sau đó quan sát và đếm số lượng bọ trĩ non còn sống sau

24 giờ, 48 giờ và 72 giờ

3.4.4.2 Phương pháp khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc trừ bọ trĩ ngoài đồng ruộng

Việc thử nghiệm được tiến hành khi bọ trĩ ở giai đoạn tuổi 1, tuổi 2; bọ trĩ non tuổi 2 rộ Mật độ bọ trĩ khoảng 9 con/lá Phun trực tiếp dung dịch thuốc đã pha (liều lượng theo bảng 3.2), phun ướt đều tán cây dưa chuột bằng bình phun tay 16 lít

Thử nghiệm 4 loại thuốc, trong đó 2 loại thuốc có nguồn gốc hóa học và 2 loại thuốc có nguồn gốc sinh học Đó là Confidor 100SL, Marshal 200SC, Abatimec 3,6EC và Tasieu 5WG

Confidor 100SL là thuốc trừ sâu có nguồn gốc hóa học, có tác dụng tiếp xúc, vị độc, nội hấp

Marshal 200SC là thuốc trừ sâu có nguồn gốc hóa học, có tác dụng tiếp xúc, vị độc và lưu dẫn mạnh, có khả năng hấp thu và di chuyển nhanh trong cây,

Trang 39

diệt hữu hiệu các côn trùng gây hại bên ngoài lẫn bên trong cây trồng

Abatimec 3,6EC là thuốc trừ sâu sinh học, có tác động vị độc, tiếp xúc, nội hấp yếu

Tasieu 5WG là thuốc trừ sâu có nguồn gốc sinh học, có tác động vị độc, tiếp xúc; nội hấp, thẩm thấu mạnh

- Lượng nước phun: 400l/ha

Bảng 3.2 Tên thuốc BVTV trừ bọ trĩ ngoài đồng ruộng và liều lượng sử dụng

CT Tên thuốc Tên hoạt chất Nhóm độc Lượng dùng

kg(lít)/ha

Trang 40

3.4.5 Chỉ tiêu và công thức tính toán

Công thức tính toán số liệu ngoài đồng

Tổng số cá thể của các loài (A, B, C ) điều tra

Mật độ bọ trĩ(con/lá) = Tổng số bọ trĩ đếm được

Tổng số lá điều tra

Độ thường gặp (%) = Số điểm có loài bọ trĩ cần xác định x 100

Tổng số điểm điều tra Hiệu lực của thuốc ngoài đồng được tính theo công thức Henderson -Tilton

H(%) = (1- Ta x Cb ) x 100

Ca x Tb Trong đó:

H: Hiệu lực của thuốc Ta: Số cá thể bọ trĩ ở công thức xử lý sau xử lý Tb: Số cá thể bọ trĩ ở công thức xử lý trước xử lý Ca: Số cá thể bọ trĩ ở công thức đối chứng sau xử lý Cb: Số cá thể bọ trĩ ở công thức đối chứng trước xử lý

Công thức tính toán số liệu nghiên cứu trong phòng

Hiệu lực của thuốc trong phòng được tính theo công thức Abbott

Hiệu lực (%) = Ca – Ta × 100

Ca Trong đó :

C: Số lượng bọ trĩ sống ở công thức đối chứng sau xử lý

T: Số lượng bọ trĩ sống ở công thức xử lý sau xử lý

3.4.6 Xử lý số liệu

Toàn bộ số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu sẽ được xử lý bằng phần mềm Microsoft excel 7,0 và phần mềm IRRISTAT 4,0

Ngày đăng: 16/11/2018, 23:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Vũ Ngọc Anh, Hà Thanh Hương (2012). Thành phần loài bọ trĩ hại rau gia vị tại Hà Nội và đặc điểm hình thái, sinh vật học của loài Frankliniella intonsa (Trybom). Tạp chí BVTV. Số 4/2015. tr. 16-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Frankliniella intonsa
Tác giả: Vũ Ngọc Anh, Hà Thanh Hương
Năm: 2012
14. Hà Quang Hùng và Bùi Quang Thạo (2005). Kết quả nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh vật học của bọ trĩ Thrips oryzae Bagnall hại lúa. Tạp chí BVTV. Số 6/2005. tr. 3-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thrips oryzae
Tác giả: Hà Quang Hùng và Bùi Quang Thạo
Năm: 2005
15. Hà Quang Hùng, Yorn Try và Nguyễn Thanh Hải (2005). Những nghiên cứu sử dụng bọ xít bắt mồi Orius sauteri (Poppius) phòng chống bọ trĩ Thrips palmi Karny hại dưa chuột vụ hè thu 2004 tại Gia Lâm, Hà Nội. Báo cáo khoa học về sinh thái và tài nguyên sinh vật. NXB Nông nghiệp, Hà Nội. tr. 738-749 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Orius sauteri" (Poppius) phòng chống bọ trĩ "Thrips palmi
Tác giả: Hà Quang Hùng, Yorn Try và Nguyễn Thanh Hải
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005
16. Nguyễn Văn Hùng (2013). Thành phần bọ trĩ hại dưa chuột, diễn biến mật độ của bọ trĩ Thrips palmi Karny và biện pháp phòng trừ vụ đông 2012, vụ xuân 2013 tại Kim Bảng, Hà Nam. Luận văn thạc sĩ nông nghiệp - Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thrips palmi
Tác giả: Nguyễn Văn Hùng
Năm: 2013
22. Trần Văn Lợi (2001). Nghiên cứu tình hình gây hại, đặc tính sinh học, sinh thái của bọ trĩ Thrips palmi Karny hại khoai tây vụ đông xuân. Luận văn thạc sĩ nông nghiệp - Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thrips palmi
Tác giả: Trần Văn Lợi
Năm: 2001
30. Yorn Try (2003). Bọ trĩ Thrips palmi Karny hại đậu rau và thiên địch của chúng tại Gia Lâm – Hà Nội vụ xuân hè 2003. Luận văn thạc sĩ nông nghiệp - Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thrips palmi
Tác giả: Yorn Try
Năm: 2003
31. Yorn Try (2008). Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của bọ trĩ Thrips palmi Karny hại dưa chuột và biện pháp phòng chống chúng ở vùng Hà Nội và phụ cận. Luận án Tiến sỹ khoa học nông nghiệp - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thrips palmi
Tác giả: Yorn Try
Năm: 2008
34. Burubai W., G.W. Etekpe, B. Ambah and P.E. Angaye (2011). Combination of Garlic Extract and Some Organophosphate Insecticides in Controlling Thrips (Thrips palmi) Pest in Watermelon Management. International Journal of Applied Science and Engineering 2011. pp. 19-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thrips palmi
Tác giả: Burubai W., G.W. Etekpe, B. Ambah and P.E. Angaye
Năm: 2011
53. Murai (2000). The pest and vector from the East: Thrips palmi. Bioesources, Okayama University, Kurashiki, 710-0046, Japan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thrips palmi
Tác giả: Murai
Năm: 2000
1. Vũ Ngọc Anh (2012). Nghiên cứu thành phần, đặc điểm hình thái và sinh vật học của một số loài bọ trĩ hại rau gia vị có tiềm năng xuất khẩu tại Hà Nội. Luận văn thạc sĩ nông nghiệp - Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Khác
3. Nguyễn Văn Biếu (2005). Một số kết quả nghiên cứu về thành phần sâu bệnh hại thuốc lá ở Việt Nam. Tạp chí BVTV. Số 5/2005. tr. 13-18 Khác
4. Cục bảo vệ thực vật (2010). Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng (QCVN 01-38:2010/BNNPTNT). Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành tại thông tư số 71/2010/TT-BNNPTNT ngày 10 tháng 12 năm 2010 Khác
6. Đặng Thị Dung (2005). Một số kết quả nghiên cứu về sâu hại cây dược liệu trong những năm 2000-2002 tại trung tâm nghiên cứu cây thuốc Hà Nội. Tạp chí BVTV. Số 1/2005. tr. 3-10 Khác
7. Đặng Thị Dung (2005). Thành phần sâu hại lúa, sâu cuốn lá nhỏ và côn trùng ký sinh chúng trong vụ mùa 2005 tại Gia Lâm, Hà Nội. Tạp chí KHKT Nông nghiệp.Số 2/2006. tr. 1-7 Khác
8. Nguyễn Hữu Đại (2012). Nghiên cứu sự phát sinh gây hại của bọ trĩ trên cây bí đỏ và biện pháp phòng trừ vụ đông 2012 và vụ xuân 2013 tại Kim Bảng, Hà Nam.Luận văn thạc sĩ nông nghiệp - Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Khác
9. Nguyễn Văn Đĩnh (2005). Sâu hại rau chủ yếu trồng trong nhà có mái che ở Lĩnh Nam (Hoàng Mai) và Đặng Xá (Gia Lâm) Hà Nội năm 2003-2004. Tạp chí BVTV. Số 4/2005. tr. 5-11 Khác
10. Nguyễn Văn Đĩnh, Hà Quang Hùng, Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Văn Lầm (2014). Côn trùng và động vật hại nông nghiệp ở Việt Nam. Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội Khác
11. Nguyễn Văn Đĩnh, Ngô Thị Xuyên và Nguyễn Thị Kim Oanh (2003). Tình hình sản xuất và thành phần sâu bệnh hại cà chua ở Lương Nỗ, Đông Anh, Hà Nội. Tạp chí KHKT Nông nghiệp. Số 1/2004. tr. 13-17 Khác
12. Nguyễn Việt Hà (2008). Thành phần bọ trĩ hại hoa hồng, hoa cúc; đặc điểm hình thái, sinh học của loài bọ trĩ chủ yếu và biện pháp phòng trừ trong vụ xuân 2008 tại Hải Phòng. Luận văn thạc sĩ nông nghiệp - Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Khác
13. Hà Quang Hùng, Yorn Try và Hà Thanh Hương (2005). Bọ trĩ hại cây trồng và biện pháp phòng trừ. NXB Nông nghiệp Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm