1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

nghiên cứu ảnh hưởng một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, phát triển và năng suất, chất lượng hạt giống của cây ban (hypericum perforatum l) tại mộc châu – sơn la

99 155 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 12,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGUYỄN VĂN HÙNG NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG HẠT GIỐNG CỦA CÂY BAN HYPERICUM PERFOR

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN VĂN HÙNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG HẠT GIỐNG CỦA CÂY BAN

(HYPERICUM PERFORATUM L)

TẠI MỘC CHÂU – SƠN LA

Người hướng dẫn khoa học: TS Ninh Thị Phíp

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được sử dụng, công bố trong các luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu khoa học nào trước đây

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn được sử dụng trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc, đảm bảo trích dẫn theo quy định

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này!

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Hùng

Trang 3

Tôi xin trân trọng cám ơn sự đóng góp của các thầy cô trong bộ môn Cây công nghiệp & cây thuốc - Khoa Nông học - Học Viện Nông nghiệp Việt Nam

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ThS Trần Danh Việt, chủ nhiệm đề tài, ThS Đào Văn Núi thư ký đề tài “Nghiên cứu xây dựng quy trình nhân giống và trồng khảo

nghiệm cây ban (Hypericum perforatum L.) di thực” đã tạo mọi điều kiện cho tôi thực hiện

tốt nội dung nghiên cứu của mình

Tôi cũng xin chân thành cám ơn tới lãnh đạo cơ quan, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình tôi tham gia khóa học và hoàn thành luận văn Cuối cùng, tôi xin được bảy tỏ lòng biết ơn của mình tới những người thân trong gia đình, những người đã luôn động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Hùng

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục bảng vii

Danh mục hình viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Phần 2 Tổng quan tài liệu 4

2.1 Giới thiệu chung về cây ban 4

2.1.1 Nguồn gốc và phân loại 4

2.1.2 Đặc điểm thực vật học 5

2.1.3 Đặc điểm sinh thái nơi phân bố 6

2.1.4 Thành phần hóa học 8

2.1.5 Tác dụng dược lý 8

2.2 Cơ sở khoa học của đề tài 10

2.2.1 Cơ sở khoa học xử lý hạt bằng GA3 10

2.2.2 Cở sở khoa học để bố trí thời vụ gieo hạt hợp lý 13

2.2.3 Cơ sở khoa học để xác định phương pháp, thời điểm thu hạt giống hợp lý 15

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới 17

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 17

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 21

2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 24

2.3.1 Vị trí địa lý 24

2.3.2 Địa hình 24

2.3.3 Khí hậu 25

2.3.4 Đất đai thổ nhưỡng 25

2.3.5 Thảm thực vật 26

Trang 5

Phần 3 Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 27

3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 27

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 27

3.3 Nội dung nghiên cứu 27

3.4 Phương pháp nghiên cứu 27

3.4.1 Thí nghiệm 1:Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ GA3 và thời gian xử lý hạt đến tỷ lệ nảy mầm của hạt ban (thực hiện trong phòng) 27

3.4.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ gieo hạt đến sinh trưởng, phát triển và tỷ lệ xuất vườn của cây ban 28

3.4.3 Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp gieo hạt đến sinh trưởng, phát triển của cây ban 29

3.4.4 Thí nghiệm 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm thu hái đến chất lượng hạt giống ban 29

3.4.5 Thí nghiệm 5: Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp thu hái đến chất lượng hạt giống ban 30

Phần 4 Kết quả và thảo luận 33

4.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ ga 3 và thời gian xử lý hạt đến nảy mầm của hạt ban 33

4.1.1 Ảnh hưởng của nồng độ GA 3 đến nảy mầm của hạt 33

4.1.2 Ảnh hưởng thời gian xử lý GA 3 đến nảy mầm của hạt 34

4.1.3 Ảnh hưởng nồng độ GA 3 và thời gian xử lý đến nảy mầm của hạt 35

4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ gieo hạt đến sinh trưởng, phát triển và tỷ lệ xuất vườn của cây ban 38

4.2.1 Ảnh hưởng thời vụ đến khả năng nảy mầm và xuât vườn của cây ban 38

4.2.2 Ảnh hưởng thời vụ đến thời gian ra hoa rộ và thu hạt của cây ban 42

4.2.3 Ảnh hưởng của thời vụ đến các chỉ tiêu sinh trưởng của cây ban 43

4.2.4 Ảnh hưởng của thời vụ đến các chỉ tiêu cấu thành năng suất hạt 44

4.2.5 Ảnh hưởng của thời vụ đến năng suất hạt 45

4.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp gieo hạt đến sinh trưởng, phát triển cây ban 47

4.3.1 Ảnh hưởng của phương pháp gieo hạt đến thời gian sinh trưởng và phát triển của của cây ban 47

4.3.2 Ảnh hưởng của phương pháp gieo hạt đến các chỉ tiêu sinh trưởng của cây ban 48

4.3.3 Ảnh hưởng của phương pháp gieo hạt đến năng suất dược liệu 49

4.3.4 Ảnh hưởng của phương pháp gieo hạt đến các yếu tố cấu thành năng suất hạt ban 51

Trang 6

4.3.5 Ảnh hưởng của phương pháp gieo hạt đến năng suất hạt ban 52

4.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm thu hái đến chất lượng hạt giống cây ban 53

4.4.1 Ảnh hưởng của thời điểm thu hái đến thời gian ra hoa và thời gian thu hạt của cây ban 53

4.4.2 Ảnh hưởng của thời điểm thu hái đến các yếu tố cấu thành năng suất hạt ban 54

4.4.3 Ảnh hưởng của thời điểm thu hái đến năng suất hạt ban 55

4.4.4 Ảnh hưởng của thời điểm thu hái đến chất lượng hạt ban 56

4.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp thu hái đến chất lượng hạt giống ban 58

4.5.1 Ảnh hưởng của phương pháp thu hái đến thời gian thu hạt và kết thúc thu hạt 58

4.5.2 Ảnh hưởng của phương pháp thu hái đến các yếu tố cấu thành năng suất hạt cây ban 59

4.5.3 Ảnh hưởng của phương pháp thu hái đến năng suất hạt cây ban 60

4.5.4 Ảnh hưởng của phương pháp thu hái đến chất lượng hạt ban 60

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 63

5.1 Kết luận 63

5.2 Kiến nghị 63

Tài liệu tham khảo 64

Phụ lục 69

Phụ lục 1: hình 71

Phụ lục 2: số liệu khí tượng 72

Phụ lục 3: xử lý kết quả 73

Trang 7

NSLT Năng suất lý thuyết

RCB Phương pháp tổng hợp khối ngẫu nhiên

TTDBKTTVTW Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn trung ương TGST Thời gian sinh trưởng

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2 1 Đặc điểm khí hậu tại vùng nghiên cứu 25

Bảng 4.1 Ảnh hưởng của nồng độ GA 3 đến nảy mầm của hạt 33

Bảng 4.2 Ảnh hưởng thời gian xử lý GA 3 đến nảy mầm của hạt 34

Bảng 4.3 Ảnh hưởng nồng độ GA 3 và thời gian xử lý đến nảy mầm của hạt 36

Bảng 4.4 Ảnh hưởng của thời vụ đến khả năng nảy mầm và xuất vườn của cây ban 39

Bảng 4.5 Ảnh hưởng thời vụ đến thời gian ra hoa rộ và thu hạt của cây ban 42

Bảng 4.6 Ảnh hưởng của thời vụ đến các chỉ tiêu sinh trưởng của cây ban tại thời điểm thu hoạch dược liệu 43

Bảng 4.7 Ảnh hưởng của thời vụ đến các chỉ tiêu cấu thành năng suất hạt 44

Bảng 4 8 Ảnh hưởng của thời vụ đến năng suất hạt 45

Bảng 4.9 Ảnh hưởng của phương pháp gieo hạt đến thời gian sinh trưởng và phát triển của cây ban 47

Bảng 4.10 Ảnh hưởng của phương pháp gieo hạt đến các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của cây ban tại thời điểm thu hạt giống 49

Bảng 4.11 Ảnh hưởng của phương pháp gieo hạt đến các yếu tố cấu thành năng suất dược liệu cây ban 50

Bảng 4.12 Ảnh hưởng của phương pháp gieo hạt đến các yếu tố cấu thành năng suất hạt ban 51

Bảng 4.13 Ảnh hưởng của phương pháp gieo hạt đến năng suất hạt ban 52

Bảng 4.14 Ảnh hưởng của thời điểm thu hái đến thời gian ra hoa và thời gian thu hạt của cây ban 53

Bảng 4.15 Ảnh hưởng của thời điểm thu hái đến các yếu tố cấu thành năng suất hạt ban 54

Bảng 4.16 Ảnh hưởng của thời điểm thu hái đến năng suất hạt cây ban 55

Bảng 4.17 Ảnh hưởng của thời điểm thu hái đến chất lượng hạt ban 56

Bảng 4 18 Ảnh hưởng của phương pháp thu hái đến thời gian thu hạt và kết thúc thu hạt 58

Bảng 4.19 Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp thu hái đến các yếu tố cấu thành năng suất 59

Bảng 4.20 Ảnh hưởng của phương pháp thu hái đến năng suất hạt cây ban 60

Bảng 4.21 Ảnh hưởng của phương pháp thu hái đến chất lượng hạt ban 61

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1 Pha chế nồng độ GA 3 38

Hình 4.2 Hạt xử lý trong 6 giờ, nồng độ khác nhau 38

Hình 4.3 Hạt bắt đầu nảy mầm 38

Hình 4.4 Hạt nảy mầm ở công thức 12 38

Hình 4.5 Thí nghiệm thời vụ 41

Hình 4.6 Cây ban ra lá thật 41

Hình 4.7 Cây ban gieo thời vụ 15/10 sau 60 ngày 41

Hình 4.8 Hạt gieo trực tiếp ngoài đồng ruộng 48

Hình 4.9 Hạt gieo vào bầu 48

Hình 4.10 Hạt gieo trong vườn ươm 48

Hình 4.11 Thu cả cây khi lá 10% vàng và vỏ quả 100 vàng đều 57

Hình 4.12 Thu cả cây khi lá 50% vàng và vỏ quả vàng chuyển sang nâu 57

Hình 4.13 Thu cả cây khi lá 100% vàng và vỏ quả 50% màu nâu 58

Hình 4.14 Thu cả cây khi lá 100% vàng và vỏ quả 100% màu nâu 58

Hình 4.15 Thu theo cấp cành, chọn cành chín thu hái trước 62

Hình 4.16 Thu cả cây, khi 2/3 quả chín tiến hành cắt cả cây 62

Hình 4.17 Quả chuyển từ vàng sang nâu 62

Hình 4.18 Phơi hạt trên bạt sau khi thu hoạch 62

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Mục đích:

Xác định được nồng độ, thời gian xử lý GA3 thích hợp cho hạt Ban nảy mầm đồng thời xác định thời vụ gieo trồng, phương pháp gieo, thời điểm thu hái và phương pháp thu hái thích hợp cho cây sinh trưởng, phát triển tốt và chất lượng hạt giống cao góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật nhân giống hữu tính cây ban, sản xuất hạt giống đảm bảo tiêu chuẩn, chất lượng

Phương pháp nghiên cứu:

Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ GA3 và thời gian xử lý hạt đến

tỷ lệ nảy mầm của hạt ban (thực hiện trong phòng)

Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ gieo hạt đến sinh trưởng, phát triển và tỷ lệ xuất vườn của cây ban

Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp gieo hạt đến sinh trưởng, phát triển của cây ban

Thí nghiệm 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm thu hái đến chất lượng hạt giống ban

Thí nghiệm 5: Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp thu hái đến chất lượng hạt giống ban

Kết luận:

1 Khi xử lý hạt cây ban bằng GA3 ở nồng đô 15ppm trong 6h đã rút ngắn được thời gian nảy mầm của hạt và tăng tỷ lệ nảy mầm của hạt đạt 93%, gấp 1,48 lần so với

phương pháp hạt chỉ xử lý khi ngâm nước trong 2 giờ

2 Thời vụ gieo ảnh hưởng trực tiếp rất lớn đến sinh trưởng, phát triển và tỷ lệ xuất vườn của cây ban Thời vụ gieo hạt hợp lý vào 15/10 có tỷ lệ nảy mầm cao 82,67

%, tỷ lệ xuất vườn đạt 77,67%, thời gian vườn ươm kéo dài 124 ngày, cây sau xuất vườn sinh trưởng phát triển tốt chiều cao cây đạt trung bình 50,7cm, số cành cấp 1 đạt 8,4 và năng suất hạt 353,33 kg/ha

3 Các phương pháp gieo hạt ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây ban Trong đó phương pháp gieo hạt trực tiếp ngoài đồng ruộng cho cây sinh trưởng, phát triển cao nhất, năng suất dược liệu đạt 3,49 tấn/ha, năng suất hạt: 517,78 kg/ha

Trang 11

4 Thời điểm thu hái có tính chất quyết định lớn đến năng suất và chất lượng hạt Thời điểm thu hái thích hợp khi lá 100% vàng và vỏ quả 50% màu nâu cho năng suất hạt thu được đạt 517,78 kg/ha, tỷ lệ nảy mầm cao đạt trên 86,67%

5 Các phương pháp thu hái khác nhau ảnh hưởng đến năng suât, chất lượng hạt sau thu hái khác nhau Trong đó, phương pháp thu hái theo cấp cành, chọn cành chín thu hái trước cho tỷ lệ nảy mầm của hạt đạt trên 84,67% và năng suất hạt thu được đạt 580,00 kg/ha

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Objective:

Determining the concentration, processing time of GA 3 to Ban (Hypericum

perforatum L) seeds germination, Beside, determining the seasonal planting, the method

of cultivate, the time of harvesting and suitable harvesting methods for good development and high quality of seeds, contribute to building technical process sexual breeding Ban, seeds production to ensure quality standards

Treatment 5: Study effect of harvesting methods to quality of Ban seeds

Conclusion:

When processing seeds at GA 3 concentrations 15 ppm during 6 hours effected reduce the time of germination and increase germination rate to 93% This treatment increases 1.48 times as the germination rate as soaking seeds in water for two hours Ban’s seasonal planting has strong influence on the growth and development rate and the seedlings standards Ban has suitable seasonal planting on 15/10 with high germination rate to 92,67% and seedling standard rate to 77,67%, seedling period is 124 days Seedlings grow and develop well with average height is 50.7 cm, the number of level 1 branches reached 8.4 and seeds yield gains 353.33 kg/ha

The research show that seeding methods affect growth and development of Ban Ban’s development is the highest with Ban’s material medicinal yield gains 3.49 tonnes/

ha and seed yield reach 517.78 kg / ha when Ban are planted directly in the field

Harvest time has major decisive productivity and quality of Ban seeds Harvest time is the most appropriate and seeds yield gains 517.78 kg/ ha and, high germination rate above 86.67% when yellow leafs is 100%, brown fruit peel is 50%

The different harvesting methods affect the yield and quality of seeds after harvesting are different In particular, Level branches harvesting method with selecting

Trang 13

branches have brown fruit peel to harvesting before make germination rate gains above 84.67% and seeds yield gains 580 kg/ha

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Cây Ban (Hypericum perforatum L.) còn được biết đến với tên khác như cỏ

Tipton, cỏ Thánh John (St John’s Wort) Cây có nguồn gốc tự nhiên ở Châu Âu, sau đó được du nhập vào Mỹ, Australia và mọc hoang dại trên nhiều đồng cỏ Cây phân bố địa lý tự nhiên theo nhiệt độ ở vùng cận nhiệt đới hoặc Bắc Mỹ, Châu Âu, Tiểu Á, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc

Ban là cây thân thảo sống một năm hoặc lâu năm hay cây bụi, cao từ 0,3m đến 1m Thân cây thẳng, thân gỗ, nhiều nhánh, từ một gốc có thể mọc ra nhiều thân Cây có rất nhiều hoa, thường xuất hiện từ cuối xuân đến đầu hoặc giữa hè Cây ban có bộ phận sử dụng làm thuốc là phần trên mặt đất của cây đã được phơi khô (thu hoạch vào mùa hoa nở) Cây có tác dụng trong điều trị bệnh trầm cảm, tác dụng điều trị ung thư, tác dụng chống vi rút, tác dụng làm giảm sự thoái hóa

thần kinh gây ra bởi bệnh Parkinson (Blank et al., 2001) Ngoài ra dầu của cây

ban còn được sử dụng để làm liền sẹo, làm thuốc chống viêm, làm lành vết

thương và làm dịu chỗ đau nhanh chóng (Guevich A.I et al., 1971)

Hiện nay ban được biết đến nhiều nhất như một loài thảo mộc điều trị chính bệnh trầm cảm, tác dụng phụ của nó ít hơn tác dụng phụ của một vài loại thuốc trị trầm cảm khác Tại Châu Âu, đặc biệt ở Đức, cây ban thường là loại thuốc được các bác sĩ kê đơn cho bệnh nhân bị bệnh trầm cảm mức độ nhẹ và vừa, thông thường nó được dùng để điều trị bệnh trầm cảm nhẹ, đặc biệt đối với trẻ

em, thanh thiếu niên và những vùng dân nghèo Ở Mỹ, cây ban được rất nhiều người dùng để chữa trầm cảm vì được coi là an toàn, công hiệu, rẻ tiền và không cần bác sĩ kê đơn Các chế phẩm từ ban được bán ở khắp các siêu thị và nhà thuốc ở Mỹ và châu Âu Lượng sản phẩm từ cây ban được tiêu thụ trong những thập niên gần đây ngày càng tăng làm cho nó trở thành một trong 10 thảo dược được tiêu thụ nhiều nhất trên thế giới Chỉ riêng năm 2007, ở Mỹ doanh số thu được từ các sản phẩm ban là 8,1 triệu USD

Cây ban đã được di thực vào Việt Nam từ năm 2005, bước đầu đánh giá cây sinh trưởng, phát triển tốt ra hoa, kết quả, thu được hạt làm giống với điều kiện khí hậu và đất đai của các vùng có khí hậu mát như Sapa (Lào Cai), Tam Đảo (Vĩnh Phúc) Tuy nhiên, diện tích trồng cây ban tại Việt Nam còn hạn chế, đặc

Trang 15

biệt tại Tam Đảo do diện tích đất canh tác nhỏ, diện tích trồng cây ban từ

200-300 m2, khó có thể phát triển vùng sản xuất hạt giống Bên cạnh đó, nhu cầu về dược liệu ngày càng cao, đòi hỏi cần có vùng sản xuất hạt giống, phát triển nguồn nguyên liệu, vùng trồng thích hợp để cây cho năng suất cao và hoạt chất

tốt nhất, chúng tôi đã tiến hành thí nghiệm “Nghiên cứu ảnh hưởng một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, phát triển và năng suất, chất lượng hạt giống của cây ban (Hypericum perforatum L.) tại Mộc Châu – Sơn La”

1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

- Đánh giá ảnh hưởng của nồng độ GA3 và thời gian xử lý đến tỷ lệ nảy mầm hạt ban

- Đánh giá ảnh hưởng của thời vụ gieo hạt đến sinh trưởng, phát triển và tỉ

lệ xuất vườn của cây giống

- Đánh giá ảnh hưởng của phương pháp gieo hạt đến sinh trưởng, phát triển

và năng suất hạt ban

- Đánh giá ảnh hưởng của thời điểm thu hái đến chất lượng hạt giống cây ban

- Đánh giá ảnh hưởng của phương pháp thu hái đến chất lượng hạt giống cây ban

1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN ĐỀ TÀI

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

Bổ sung được những hiểu biết về ảnh hưởng của nồng độ GA3, thời gian sử

lý hạt đến khả năng nảy mầm của hạt Thời vụ gieo hạt, phương pháp gieo hạt đến sinh trưởng, phát triển của cây ban Những hiểu biết về thời điểm thu hái và phương pháp thu hái đến chất lượng hạt giống cây ban

Trang 16

Các kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng quy trình nhân giống hữu tính và sản xuất hạt giống cây ban tại Mộc Châu- Sơn La Kết quả của đề tài làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu về

nhân giống của cây sau này

Trang 17

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÂY BAN

2.1.1 Nguồn gốc và phân loại

Cây ban có tên khoa học là Hypericum perforatum L Ngoài ra cây ban còn

được biết đến với một số tên khác tên khác như cỏ Tipton, cỏ Klamath, St.John wort (Viện Dược Liệu, 2002)

Theo các nghiên cứu cho thấy, có xấp xỉ 370 loài thuộc chi Hypericum tồn tại hoang dại và nhiều loài không còn tồn tại do những biến đổi tự nhiên của địa

lý như biến đổi nhiệt độ ở vùng cận nhiệt đới thuộc Bắc Mỹ, Châu Âu, Châu Á, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ Các loài trong chi này phân bố rộng rãi khắp các vùng

ôn đới ấm, cận nhiệt đới và nhiệt đới Trong số vài chục loài đã biết ở vùng Đông Nam Á có gần 10 loài được dùng làm thuốc Ở Việt Nam có khoảng 6 đến 7 loài thuộc chi này Trong số 4 loài được dùng làm thuốc, cây ban là loài có kích thước nhỏ nhất nhưng lại được dùng phổ biến hơn Cây phân bố ở hầu hết các tỉnh, từ vùng đồng bằng đến trung du và miền núi phía Bắc Ở các tỉnh phía nam thường thấy ở các vùng núi cao Độ cao phân bố chúng đến trên 1500m Cây còn thấy ở nhiều nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Nêpa, Srilanca, Niudilan, Malaysia, Thái Lan, Lào Cây dùng để chữa bệnh viêm gan vàng da, trẻ em lên sởi, chữa rắn độc cắn, viêm thận cấp, viêm niêm mạc miệng Ngoài ra còn có tác dụng

thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, giảm đau… Ban (Hypericum perforatum L.) được

biết đến nhiều nhất như một loại thảo mộc được nghiên cứu để điều trị các chứng

suy nhược cơ thể (He Y Y et al., 2004)

Xét về nhiều mặt của một cây trồng, ban được coi như là loài hoa dại, cỏ dại và thảo mộc Vì Ban là cây trồng có lợi cho sức khỏe nên đã được các nhà nghiên cứu về thảo dược quan tâm từ khi là loài thảo mộc có mặt sớm nhất tại

Hy Lạp Bác sỹ người Hy Lạp ở thế kỷ thứ nhất GaLen và Dioscorides đã giới thiệu nó là một loại thuốc lợi tiểu, chữa lành vết thương và điều chỉnh sự rối loạn kinh nguyệt

Từ nhiều thế kỷ trước, cây ban được coi như có thể chữa được bệnh u sầu, nhiễm độc tiểu tiện, tiêu trừ vi trùng, mau lành vết thương ngoài da Ban được Hippocrates, Dioscorides giới thiệu rồi bị rơi vào lãng quên cho đến vài chục

Trang 18

năm mới đây một loại trà từ cây này được tung ra thị trường quảng cáo là trị được trầm cảm, lo âu

2.1.2 Đặc điểm thực vật học

Ban là cây thuốc lưu niên, có thể cao tới 1,5m nhưng thông thường chỉ cao

từ 0,3m đến 1m tùy từng chủng loại Thân cây thẳng, thân gỗ, nhiều nhánh và phân nhánh từ nửa thân phía trên của cây Từ một gốc có thể mọc ra nhiều thân (có thể lên tới 30 thân)

Lá cây mọc đối, không cuống, hình dạng hơi thuôn, dài 1,5cm đến 3cm, rộng 1,5mm đến 5mm Lá màu vàng xanh với những chấm nhỏ trong suốt xuyên qua mô và có một vài chấm đen ở mặt dưới của lá

Cây có rất nhiều hoa (một thân có khoảng 25 hoa đến 100 hoa) mọc thành chùm ở ngọn và đỉnh cành Đường kính hoa khoảng 2cm, có 5 cánh, màu vàng sáng với những chấm đen nổi bật Đài hoa nhọn với những tuyến chấm nhỏ trong

mô Hoa có nhiều nhị tập hợp tại đế hoa trong 3 túi Hoa thường xuất hiện từ cuối xuân đến đầu hoặc giữa hè Khi hoa và vỏ hạt bị ép sẽ tạo thành dịch lỏng màu

đỏ nhạt hay đỏ tía (Vickery.A.R, 1981)

Nhờ những đặc điểm đặc biệt trên của lá và hoa mà người ta có thể dễ dàng nhận biết được loại cây này

Quả dài 5mm đến 10mm, chia làm 3 ngăn, có nhiều hạt, là dạng quả có đầu dính Hạt dài 1mm Trung bình 1 cây có khoảng 15.000 hạt đến 34.000 hạt và biến động do các yếu tố địa lý, điều kiện thời vụ và khả năng cạnh tranh của cây trong quần thể Hạt có thể phát tán nhờ gió, nước, con người và các động vật Chủ yếu phát tán nhờ nước và động vật Hạt có thể tồn tại trong đất trên 50 năm

Tỷ lệ nảy mầm của hạt phụ thuộc vào tuổi hạt, nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, dinh dưỡng và kết hợp phản ứng của nhiều yếu tố Các nghiên cứu cho thấy hạt cần một chu kỳ ngủ nghỉ từ 4 đến 6 tháng trước khi nảy mầm, sau khi thu hoạch 12 tháng sẽ cho tỷ lệ nảy mầm tối đa

Một cây riêng lẻ có 1 hay rất nhiều rễ khí sinh gắn vào thành một hệ thống rễ cọc và rễ chùm Rễ cọc của cây đâm sâu vào đất từ 0,6m đến 1m phụ thuộc vào thành phần đất và ẩm độ Rễ chùm thường mọc rộng và có độ sâu từ 1cm đến 8cm Vào mùa thu hoặc mùa xuân hay sau khi cây bị thương tổn, hệ thống rễ chùm sẽ phát sinh chồi để tạo thành thân mới Nếu những rễ liên kết bị thối thì những thân này sẽ phát triển thành cây độc lập xung quanh cây mẹ với số lượng lớn

Trang 19

Cây ban có thể tái sinh bằng hạt và chồi mọc từ rễ phụ Một số nghiên cứu chỉ ra rằng ban là cây sinh sản sinh dưỡng không bắt buộc Ở Châu Âu, 97% sự tái sinh của cây là sinh sản sinh dưỡng Cây có khả năng tự thụ và thụ phấn nhờ côn trùng (F.Chittendon, 1956)

2.1.3 Đặc điểm sinh thái nơi phân bố

Cây ban là loài cây bản xứ từ Châu Âu, đã được du nhập vào Mỹ và mọc hoang dại trên nhiều đồng cỏ Cây được trồng với quy mô thương mại ở một số vùng thuộc đông nam Châu Âu (Camila, 2002)

Cây phân bố địa lý tự nhiên theo nhiệt độ ở vùng cận nhiệt đới hoặc Bắc

Mỹ, Châu Âu, Tiểu Á, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc

Ban có một chu kỳ sống phức tạp bao gồm giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng và giai đoạn sinh trưởng sinh thực Ban yêu cầu khí hậu ấm áp và mùa sinh trưởng dài cho chu trình phát triển Theo các kết quả nghiên cứu cho thấy cây phát triển tốt ở độ cao vài trăm mét so với mực nước biển, ở độ cao 1.100 m cây bắt đầu kém phát triển Ở độ cao trên 1.500 m thì nhiệt độ quá thấp, mùa sinh trưởng ngắn nên hạn chế sự sinh trưởng và tồn tại của cây

Ở Idaho, nhiệt độ thấp nhất vào tháng giêng (nhiệt độ trung bình tháng dao động từ -3 oC đến 1oC), nhiệt độ cao nhất vào tháng 7 (nhiệt độ trung bình tháng dao động từ 19 oC đến 25oC) là nơi thích hợp cho Ban sinh trưởng phát triển (Christopher A, 1988)

Cây phát triển mạnh ở những vùng có lượng mưa nhiều vào mùa mưa hoặc mùa hè Tuy nhiên, sự phân bố của cây bị chi phối bởi nhiệt độ rất thấp cho hạt nảy mầm hoặc hạt đang nảy mầm sống sót Độ cao trên 1.500 m, lượng mưa ít hơn 500 mm và nhiệt độ từ 1oC đến 24oC được xem là giới hạn ngưỡng cho cây phát triển

Ban có thể trồng được ở nhiều loại đất khác nhau nhưng phát triển tốt nhất

ở vùng đất có cấu trúc thô, thoát nước tốt, đất có độ chua nhẹ đến trung tính (pH

5 – 6,5) Ở Washington, cây phát triển ở những vùng đất cằn cỗi, xói mòn, đất thịt nhẹ và đồng cỏ có chân đất tốt

Cây đòi hỏi ánh sáng nhiều để phát triển nên chúng phát triển tốt ở những đồng cỏ trống, rừng thưa…Thí nghiệm ở nhà kính cho thấy khi giảm 50% ánh sáng ban ngày thì quần thể cây giảm sức sống sau 10 ngày và chết gần như toàn

bộ sau 15 ngày

Trang 20

Tùy thuộc vào môi trường và điều kiện khí hậu, cây ban có khả năng tự thích nghi để sinh trưởng và phát triển Mưa mùa hè hoặc sự ăn lá của côn trùng

và động vật chăn thả có tác động đặc biệt dẫn tới sự sinh trưởng sinh dưỡng mạnh của cây

Theo một số tác giả thì sự thay đổi quần thể cây chịu ảnh hưởng của hỗn hợp phản ứng bên trong với một số yếu tố gây stress như khô hạn, tầng đất nông sâu, cấu tạo đất,… và các yếu tố tích cực như lượng mưa hàng năm Ví dụ: Đất

có tầng canh tác dày thích hợp cho bộ rễ cọc phát triển và các chồi tồn tại trong thời gian dài, còn đất có tầng canh tác mỏng thì kích thích hệ thống rễ chùm phát triển và các chồi tồn tại trong thời gian ngắn Đặc điểm đất, khí hậu, độ cao… không những ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của cây mà còn ảnh hưởng đến thời gian sống của cây Kết quả nghiên cứu đã cho thấy ở những vùng đất tốt, tầng canh tác dày, khí hậu và độ cao phù hợp thì thời gian sống của cây có thể kéo dài 3 năm đến 6 năm

Hạt ban nảy mầm vào mùa thu, mùa đông và xuân Cây thường nở hoa và thụ phấn vào cuối xuân đến đầu hè Vào giữa mùa hè, cánh hoa bị héo, vỏ quả

ẩm, xanh và nhớt, hạt màu xanh Đầu thu, vỏ quả khô và đỡ nhớt Cuối thu, quả chín Ở Bắc Idaho, hầu hết hạt chín vào trung tuần tháng 9 và người ta gieo hạt giống trong suốt tháng 10 đến tháng 11 (F.Chittendon, 1956)

Cây con nhỏ, phát triển rất chậm so với các loài khác vì chúng rất mẫn cảm khi cạnh tranh ánh sáng, dinh dưỡng, không gian và độ ẩm với những cây trưởng thành cùng loài và khác loài Kết quả nghiên cứu ở Victoria cho thấy chỉ dưới 1% trong số 40.000 cây con sống sót được sau 3 năm trong điều kiện tự nhiên không có tác động của con người Nghiên cứu sự phát triển và tồn tại của cây Ban trên đồng ruộng tại Idaho cho thấy, giai đoạn khủng hoảng cho sự sống sót của cây là cuối tháng 7, đầu tháng 8 Đó là giai đoạn lượng mưa thấp và nhiệt độ đất, nhiệt độ không khí cao nhất Những cây tồn tại được qua mùa khô hạn thường cao 5cm – 10cm, rễ đâm sâu khoảng 30cm hoặc hơn Tỷ lệ cây chết cũng tăng lên qua mùa đông năm đầu tiên, đặc biệt là những nơi có tuyết phủ Kết quả nghiên cứu của Sampson và Parket ở California cũng cho thấy tỷ lệ cây ban nảy mầm cao hơn khi những cây xung quanh bị phá bỏ Tỷ lệ cây con sống sót để thành cây trưởng thành rất thấp trừ khi không có bất cứ sự cạnh tranh nào của các cây xung quanh (Christopher A, 1988)

Trang 21

2.1.4 Thành phần hóa học

Thành phần hóa học của cây ban đã được xác định bằng phương pháp sắc

ký lỏng cao áp và định lượng bằng quang phổ khối Ban chứa nhiều dạng flavonoid, tỷ lệ flavonoid trong cây được tìm thấy khoảng 3,2% Flavonoid thường được định khu ở lá, cuống và nhị hoa (Christopher B John Son and Chlowig Franz, 2002) Tỷ lệ này cao ở những ngọn hoa non

Trong các thành phần có ý nghĩa sinh học của cây, hypericin là thành phần quan trọng có nhiều tác dụng dược lý rất đáng quan tâm và cũng là thành phần có tính quang động trong cây Hypericin được tìm thấy trong những tiểu phần màu tối định khu ở thân, lá, cánh hoa, đế hoa, noãn của cây tươi với Pseudohypericin

và dạng tiền Hypericin và tiền Pseudohypericin Trong họ Clusiaceae, hầu hết các loài đều chứa cả hai thành phần Hypericin và Pseudohypericin, Pseudohypericin thường có hàm lượng nhiều hơn Hypericin Một số loài như

Hypericumhirsutum và Hypericum empetrifolium chỉ chứa Pseudohypericin, trái

lại Hypericum formosissimum chỉ chứa Hypericin Hàm lượng Hypericin biến đổi

từ 0,09% đến 0,512% (0,09% trong Hypericum mpetrifolium và 0,512% trong

Hypericum boiseri) Chức năng của các thành phần này trong cây chưa được biết

nhiều (Piette et al., 2003)

Theo các nghiên cứu, khi có ánh sáng tiền Hypericin được tổng hợp thành Hypericin Bước sóng cực thuận cho sự biến đổi của các tiền sắc tố trong dịch

chiết ngọn hoa của cây là 515nm (Blank et al., 2001)

Hyperforin cũng là một trong những thành phần chính trong dịch chiết của ban Nó là thành phần chính công hiệu, có giá trị quan trọng của thuốc chống suy nhược cơ thể Người ta cho rằng Hyperforin ức chế sự hấp thu Neurotransmitters Serotonin, Dopamine, Noradrenalin, GABA và Glutamate Hyperforin được coi như một chất kháng sinh

2.1.5 Tác dụng dược lý

2.1.5.1 Tác dụng điều trị bệnh trầm cảm

Trong cây Hyperforin là thành phần Lipopholic phong phú nhất được dùng trong việc chữa bệnh trầm cảm Hyperforin tác động vào hệ thống Setotonergic, Noradrenergic, Dopaminergic, Cholinergic và Opioip Các nhà khoa học cho rằng Hyperforin có tác dụng ức chế sự hấp thu Neurotransmitters Serotonin, Dopamine, Noradrenalin, GABA và Glutamate (Phạm Thị Nguyệt Hằng, 2011)

Trang 22

Hiện nay cây ban được biết đến nhiều nhất như một loài thảo mộc điều trị chính của bệnh trầm cảm Ở một số nước như Đức, Ailen thông thường nó được dùng để điều trị bệnh trầm cảm nhẹ, đặc biệt đối với trẻ em, thanh thiếu niên và

những vùng dân nghèo (Brondz et al., 1983)

2.1.5.2 Tác dụng điều trị ung thư

Hypericin là thành phần chính có tác dụng điều trị ung thư Về bản chất, Hypericin là sắc tố thực vật đỏ nhạy cảm mạnh với ánh sáng huỳnh quang Photo nhạy cảm là một phân tử phát sinh từ gốc superoxide tự do, có thể ở dạng peroxide, gốc hydroxyl hoặc oxy phân tử đơn không gốc Hypericin kích thích hình thành các gốc tự do dưới sự có mặt của ánh sáng và chính sự sản xuất các

gốc tự do này dẫn tới phản ứng gây độc trong tế bào ung thư (Agostinis et al.,

2002) Do đó, nó được dùng trong liệu pháp quang động điều trị ung thư

2.1.5.3 Tác dụng chống virus

Mới đây, ban được các chuyên viên về bệnh AIDS của Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ nghiên cứu vì một dược chất của cây này có tác dụng chống một vài loại siêu vi trùng, trong đó có HIV

Hypericin là thuốc thử chống virus mạnh và được dùng để ức chế Murinecyomegalo virus (MCMV), Sindbis virus, HIV loại 1, đặc biệt trong khi

có mặt của ánh sáng huỳnh quang

Trong tác dụng chữa HIV, protein p27SJ là một loại protein mới được chiết

từ mô sẹo nuôi cấy của cây có khả năng ức chế modul phiên mã của promoter HIV-1 ở một số tế bào động vật Trong thí nghiệm, p27SJ đã ức chế hoạt động của virus thông qua nhân tố phiên mã C/EBPβ

2.1.5.4 Tác dụng làm giảm sự thoái hóa thần kinh gây ra bởi bệnh Parkinson

Dịch chiết từ cỏ St John làm giảm tác hại của Rotenone trên mô hình động vật Các thông số về nồng độ các enzyme chống oxi hóa như Superoxide Dismutase, Catalase, Glutathione Peroxidase chứng tỏ dịch chiết từ cỏ St John làm tăng nồng độ các loại enzyme này Tác động bảo vệ neuron thần kinh ở vùng chất đen (Substantia Nigra) cao nhất ở lô thí nghiệm với dịch chiết tổng hợp chứa 0,3% Hypercerin Điều này cho thấy hoạt tính chống oxi hóa của cây là do nhiều thành phần hợp thành

Ngoài ra dầu của cây ban còn được sử dụng để làm liền sẹo, làm thuốc chống viêm, làm lành vết thương và làm dịu chỗ đau nhanh chóng Nó dùng để điều trị sẹo, bong gân, vết bỏng, sưng tấy da bên ngoài hay những vết thương của

Trang 23

mô thần kinh Chính phủ Đức cho phép các chất của Ban được gắn nhãn mác để điều trị các vết thương trầy da hay các cơn đau, chứng đau cơ, vết bỏng Kết quả

điều trị bằng chất này đều cho tác dụng tốt (Brolis et al., 1998)

2.2 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

Cây ban có nguồn gốc từ Nhật Bản (xuất xứ từ miền trung Nhật Bản như Nagoya, Tokyo, Kyoto ) thích hợp với điều kiện khí hậu các vùng như Tam Đảo

và Sapa Việt Nam Cây sinh trưởng phát triển tốt ra hoa vào cuối tháng 4 đầu tháng 5 và kết quả vào tháng 6, hạt chín và thu hoạch làm giống đầu tháng 7 Thu dược liệu vào trung tuần tháng 6 Lúc cây ra hoa rộ cũng là thời điểm động thái tích lũy hàm lượng Hypericin cao nhất kết hợp năng suất sinh học của cây cao

nhất vào trung tuần tháng 6 hàng năm.Cây ban (Hypericum perforatum L) đã

nhập nội thành công ở Việt Nam Vùng trồng thích hợp là các vùng có khí hậu mát mẻ nhiệt độ bình quân năm khoảng 250C, lượng mưa 1800-2200mm/năm Nhiệt độ tối cao không quá 320C và tối thấp không dưới 50C (Nguyễn Thượng Dong và cs., 2011)

Mộc Châu- Sơn La nằm trong vùng Đông bắc Việt Nam mang khí hậu đặc trưng nhiệt đới gió mùa Các đặc điểm về khí hâu như nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa giữa các tháng trong năm tương đương với các khu vực khác như Sa Pa- Lào Cai, Tam Đảo – Vĩnh Phúc Nhiệt độ trung bình từ 15,0ºC đến 22,0ºC, lượng mưa trung bình hàng năm là 1400 mm rất thích hợp cho cây Ban sinh trưởng, phát triển Do đó việc nghiên cứu cây Ban để đưa vào trồng trọt, nhân giống phát triển tại Mộc Châu hoàn toàn có sơ sở

2.2.1 Cơ sở khoa học xử lý hạt bằng GA 3

a Lịch sử nghiên cứu

Gibberellin là nhóm phytohormon thứ hai được phát hiện sau auxin Từ

việc nghiên cứu bệnh lí “bệnh lúa von” do loài nấm Gibberella fujikuroi gây nên,

giai đoạn gây bệnh nấm này có tên là Fusarium moniliforme

Năm 1962, nhà bệnh lí thực vật Kurosawa (Nhật) đã thành công trong thí nghiệm “bệnh von” nhân tạo cho lúa và ngô Nhưng cho đến năm 1955 các nhà nghiên cứu Anh, Mỹ mới chiết xuất được acid gibberellin (GA)

Hiện nay người ta đã xác định được trên 126 loại gibberellin Trong đó loại quan trọng, có tác dụng sinh lí mạnh nhất là GA3 (Hoàng Minh Tấn và cs, 2006)

Trang 24

b Vai trò sinh lí của Gibberellin

Gibberellin xúc tiến hoạt động của auxin, hạn chế sự phân giải auxin Do chúng có tác dụng kìm hãm hoạt tính xúc tác của Enzim phân giải auxin

(auxinoxydaza, flavinaxydaza) khử tác nhân kìm hãm hoạt động của auxin

Hiệu quả rõ rệt nhất của GA là kích thích mạnh mẽ sự sinh trưởng về chiều cao của thân, chiều dài của cành, rễ, sự kéo dài của lóng cây hòa thảo Hiệu quả này có được là do ảnh hưởng kích thích đặc trưng của GA lên sự giãn theo chiều dọc của tế bào (tăng auxin về vùng sinh trưởng mạnh)

GA có hiệu quả trong việc phân hóa giới tính, ức chế sự hình thành hoa cái

và kích thích hình thành hoa đực Có thể sử dụng GA để tăng tỉ lệ hoa đực cho

cây có hoa đực hoa cái riêng biệt như bầu bí

Gibberellin kích thích sự nảy mầm, chồi của hạt và củ Do nó có tác dụng phá bỏ trạng thái ngủ nghỉ của chúng GA có tác dụng hoạt hóa sự hình thành các enzim thủy phân trong hạt như α-amylaza Enzim này sẽ xúc tác phản ứng biến

đổi tinh bột thành đường, tạo điều kiện cho sự nảy mầm

Trong nhiều trường hợp, GA có hiệu quả kích thích sự ra hoa Theo học thuyết của Trailakhian thì GA là một trong hai thành phần của horcmon ra hoa (florigen) là GA và antesin GA cần cho sự hình thành và phát triển của cuống hoa, còn antesin cần cho sự phát triển của hoa Xử lý GA có thể làm cho cây ngày dài ra hoa trong điều kiện ngày ngắn hoặc làm cho bắp cải, su hào ra hoa

trong điều kiện Việt Nam

Gibberellin ảnh hưởng rõ rệt đến trao đổi chất và các hoạt động sinh lí trong

cây do chúng có tác dụng điều hòa sinh tổng hợp tế bào, nảy mầm, ra hoa

Trong sự sinh trưởng của quả và tạo quả không hạt thì GA có vai trò gần giống với auxin Một số cây trồng có phản ứng đặc hiệu với GA như nho, anh đào Trong việc sản xuất nho, biện pháp xử lý GA có ý nghĩa quan trọng việc tăng tỉ lệ đậu quả và quả không hoặc ít hạt, tăng năng suất quả

Gibberellin được sử dụng có hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp Người ta

tổng hợp GA bằng cách nuôi cấy nấm Gibberellin fujikura trong môi trường rồi

chiết thành gibberellin dạng thương phẩm (Vũ Văn Vụ, 1993)

c, Nguyên tắc và phương pháp sử dụng chất điều hòa sinh trưởng

Nguyên tắc sử dụng

Trang 25

Nguyên tắc về nồng độ: Hiệu quả của chất điều hòa sinh trưởng lên cây trồng hoàn toàn phụ thuộc vào nồng độ sử dụng Nồng độ thấp thường gây hiệu quả kích thích, nồng độ cao thường gây ảnh hưởng ức chế, còn nồng độ rất cao

có thể gây chết Tùy theo chất sử dụng và loại cây trồng mà nồng độ kích thích,

ức chế và hủy diệt khác nhau Vì vậy, tùy theo mục đích sử dụng mà ta chọn nồng độ xử lý thích hợp

Nguyên tắc không thay thế: Các chất điều hòa sinh trưởng chỉ có tác dụng hoạt hóa quá trình trao đổi chất và sinh trưởng mà không có ý nghĩa về dinh dưỡng nên không thể thay thế chất dinh dưỡng Muốn áp dụng đạt kết quả tốt,

cần phải thỏa mãn nhu cầu về dinh dưỡng, nước cho cây

Nguyên tắc đối kháng sinh lí: Khi xử lý các chất ngoại sinh phải quan tâm đến các phytohormon trong cây có hoạt tính sinh lý đối kháng nhau thì mới có hiệu quả tốt được Sự đối kháng thường xảy ra giữa chất kích thích và chất ức chế sinh trưởng Ví dụ xử lý GA thúc đẩy nảy mầm cần quan tâm đến hàm lượng

abcixic acid trong cây

Nguyên tắc chọn lọc: Khi sử dụng chất điều hòa sinh trưởng cho mục đích diệt cỏ dại thì phải quan tâm đến tính độc chọn lọc của thuốc Đảm bảo chất sử dụng không có hại cho cây trồng, thậm chí tính độc chọn lọc cho từng loại cỏ dại

Vì vậy, phải chọn thuốc diệt cỏ không có hại cho cây trồng hoặc sử dụng đồng thời nhiều loại thuốc để diệt được nhiều loại cỏ dại có tính mẫn cảm với các loại

thuốc khác nhau (Hoàng Minh Tấn và cs., 2006)

Phương pháp sử dụng

Phun lên cây: Dùng để phun cho các cây trồng lấy lá, hoa, quả và thân Nồng độ phun được tính bằng mg/lít (ppm) Tùy từng giai đoạn phát triển của cây mà có nồng độ phun thích hợp

Ngâm (hoặc nhúng) hạt, củ, cành vào dung dịch thuốc: Thường áp dụng để phá ngủ nghỉ, kích thích nảy mầm cho hạt và củ, nhân nhanh các cây bằng phương pháp giâm cành để kích thích ra rễ

Tiêm, chích lên cây: Thường dùng trong chiết cành cây giống, làm cho cành mau ra rễ Áp dụng trong công tác nghiên cứu để so sánh, xác định hiệu quả của chất điều hòa sinh trưởng ở các nồng độ khác nhau

Bôi lên cây: Khi các phương pháp trên không thực hiện được thì người thực hiện phương pháp bôi trực tiếp dung dịch lên cây Chất điều hòa sinh trưởng có

Trang 26

thể được nhào trộn với các chất mang khác nhau như cao lanh … thành một chất dẻo để đắp lên cây Trường hợp này thường dùng để chiết cành cây giống, tạo cho cành chiết nhanh ra rễ (Lê Văn Tri, 1992)

Các kết quả nghiên cứu cho thấy, khi xử lý GA3 20ppm cho hạt xà lách thì

tỷ lệ cao nhất (91,67%) và thời gian nảy mầm ngắn nhất (2 ngày), điều này được giải thích khi bổ sung một lượng GA3 phù hợp thì làm giảm hàm lượng ABA ở trong hạt do đó hàm lượng tinh bột trong hạt giảm sẽ hình thành các chất đơn giản để dùng vào việc cung cấp nhiệt lượng cho quá trình cơ giới của mầm và cung cấp cho hợp thành các tế bào mầm non Khi xử lý GA3 ở nồng độ 5ppm và 30ppm thì hiệu quả kích thích nảy mầm giảm do ở nồng độ quá thấp và gây ức chế, gây chết khi xử lý ở nồng độ quá cao (Nguyễn Văn Trương, 2008)

Gibberellin được sử dụng để xử lý cho một số loại rau khó nảy mầm như cà rốt, su hào, hành Kết quả xử lý GA trước khi gieo đã làm tăng tỷ lệ nảy mầm của

cà chua hồng 11%, su hào Sa Pa 18,5% và cải xanh 7% (Vũ Quang Sáng, 2007)

Xử lý GA3, IAA và α-NAA cho hạt rau cải mầm trước khi gieo đã tăng tỷ

lệ nảy mầm và tốc độ nảy mầm, rút ngắn thời gian nảy mầm; tăng chiều cao thân

và chiều dài rễ; tăng khối lượng tươi và khối lượng khô cây rau mầm Nồng độ

xử lý thích hợp đối với GA3 là 8 ppm, đối với IAA và α-NAA là 12 ppm (Nguyễn Đình Thi, 2010)

2.2.2 Cở sở khoa học để bố trí thời vụ gieo hạt hợp lý

Thời vụ trồng là một trong những yếu tố quyết định đến khả năng sinh trưởng phát triển, năng suất của cây trồng

Chọn thời vụ trồng thích hợp là một trong những yêu cầu phải chú trọng bởi

vì đảm bảo thời vụ là đảm bảo điều kiện tự nhiên tương tự như điều kiện của chính quê hương của loại cây trồng đó Các yếu tố tự nhiên (bao gồm các yếu tố ngoại cảnh theo thời gian, không gian) có vai trò quyết định đó là: nhiệt độ, độ

ẩm, lượng mưa và đặc biệt là độ dài chiếu sáng đã giúp cho sự phát triển và tích luỹ vật chất tối đa đối với cây trồng kể cả khi thời tiết khô ráo và nhiệt độ cao phù hợp cho hạt chín và thu hoạch Tuy nhiên, điều kiện khí hậu cũng có rất nhiều hiện tượng gây bất lợi cho sinh trưởng của cây trồng: hạn hán, lũ lụt, mưa bão, nắng nóng, rét đậm, rét hại…nên cần phải nghiên cứu bố trí thời vụ hợp lý Ánh sáng ảnh hưởng đến quang hợp tạo nên các chất đồng hóa tham gia vào vận chuyển trong mạch libe Ánh sáng có tác dụng kích thích dòng vận chuyển

Trang 27

chất hữu cơ ra khỏi lá Vì vậy, nếu trong thời kỳ hình thành cơ quan kinh tế mà

có thời gian chiếu sáng dài và cường độ ánh sáng mạnh thì quá trình tích luỹ vào

cơ quan kinh tế mạnh mẽ hơn và năng suất kinh tế tăng Đặc biệt đối với cây phản ứng với điều kiện chiếu sáng ngày dài như cây Ban nếu không có thời gian chiếu sáng dài thì cây sẽ không ra hoa và cho quả

Ảnh hưởng của ánh sáng luôn kèm theo ảnh hưởng của nhiệt độ Ở nhiệt độ tối thích, hoạt động quang hợp và các quá trình sinh lý khác của cây trồng đạt mức độ tối ưu Nhiệt độ thấp sẽ ức chế tốc độ vận chuyển các chất trong cây làm giảm năng suất cây trồng Nhiệt độ quá cao sẽ ức chế sự vận chuyển các chất trong cây, làm rối loạn hoạt động trao đổi chất, tăng hô hấp tiêu hao các chất đồng hoá, làm giảm năng suất cây trồng Vì vậy, để tránh tác hại của nhiệt độ thấp hay cao quá cần phải bố trí thời vụ trồng hợp lý

Nước là nhân tố tối cần thiết vì các chất hữu cơ và vô cơ hoà tan trong nước rồi chảy trong mạch dẫn Nước không những ảnh hưởng đến tốc độ mà còn ảnh hưởng đến chiều hướng vận chuyển và phân bố các chất đồng hoá trong cây Thiếu nước thì quang hợp giảm mạnh ảnh hưởng đến năng suất Vì vậy, lượng mưa phân bố trong chu kỳ sinh trưởng của cây trồng ảnh hưởng rất nhiều đến sự sinh trưởng phát triển, năng suất của cây trồng, đặc biệt ở những vùng không có điều kiện chủ động tưới tiêu

Viện Dược Liệu đã di thực nhập nội nhiều cây thuốc có nguồn gốc từ các vùng khí hậu ôn đới như đương quy nhật, bạch chỉ, đan sâm, hoàng cầm, ngưu tất được nhập nội vào Việt Nam từ những năm 1960, cây trồng thích hợp với khí hậu các vùng ở miền bắc Việt Nam như Tam Đảo- Vĩnh Phúc, Sa Pa- Lào Cai, Mộc Châu- Sơn La (Trần Hùng, 1971) Trong đó, đương quy đã được trồng và sản xuất ở Việt Nam, thời vụ thích hợp để gieo hạt vào trung tuần tháng 10 năm trước và thu hoạch vào hạ tuần tháng 6 hoặc thượng tầng tháng 7 (Nguyễn Văn Thuận và cs., 2007) Đối với cây ngưu tất , bạch chỉ, đan sâm thời vụ thích hợp

để gieo hạt tốt nhất từ 15/9 đến 15/10 (Nguyễn Bá Hoạt, 2005)

Một số loại cây thuốc khác như: Thời vụ trồng để lấy hạt giống đối với cây hương nhu tốt nhất vào tháng 4, trồng muộn vào tháng 6 cây cũng cho thu hoạch được nhưng đòi hỏi phải chăm sóc tốt (Trần Toàn và cs., 1979)

Cây huyền sâm thích nghi với điều kiện sinh thái trung du và núi cao, nơi

có khí hậu ôn hòa Cây huyền sâm được nhân giống hữu tính từ hạt Thời vụ gieo

Trang 28

hạt vào tháng 10 hoặc tháng 11 với điều kiện đồng bằng, hoặc tháng 2, 3 ở miền núi, có thể gieo thảng hoặc gieo vườn ướm rùi sau đó đánh đi trồng

Cây nhân trần có khả năng thích ứng rộng với các vùng sinh thái, khí hậu, đất đai, thổ nhưỡng Từ vùng núi cao đến đồng bằng, từ miền núi tới đồng bằng ven biển, từ miền bắc đến miền nam Thời vụ gieo hạt nhân trần vào tháng 3 (có thể gieo trong khoảng từ tháng 2 đến tháng 4) Hạt nhân trần rất nhỏ khi gieo hạt nên trộn với cát hoặc đất bột để gieo cho đều, sau gieo phủ rơm rạ, hoặc lưới đen

và tưới ẩm thường xuyên Khi cây được 8-10 lá thật, chọn cây to khỏe đủ tiêu chuẩn trồng ra khu vực sản xuất

Thời vụ gieo hạt giống đối với cây lão quan thảo gieo hạt vào tháng 10-11, trồng vào tháng 2, tháng 3 năm sau Thu hoạch dược liệu vào tháng 2 và thu hoạch hạt vào tháng 7

Ích mẫu được nhân giống hữu tính bằng hạt, hệ số nhân giống cây ích mẫu cao, mỗi cây ích mẫu có thể cho hàng triệu hạt và tỷ lệ nảy mầm của hạt thường đạt trên 90% Thời vụ gieo hạt ích mẫu vào tháng 2 và tháng 10 ở điều kiện đồng bằng và trung du Tháng 11 và tháng 3 ở miền núi (Nguyễn Văn Thuận, 2004)

2.2.3 Cơ sở khoa học để xác định phương pháp, thời điểm thu hạt giống hợp lý

Để có chất lượng hạt giống cao, phải thu hoạch vào đúng lúc hạt chín Nếu thu vào lúc hạt chưa chín năng suất giảm, nhiều hạt lép, chất lượng hạt giống không bảo đảm Nếu để hạt chín quá, sẽ dễ bị gãy nứt, độ nảy mầm giảm Chín trên đồng ruộng là chín hình thái Các biểu hiện của chín hình thái của các loài cây thuốc hoàn toàn khác nhau, cùng một giống gieo ở các mùa vụ khác nhau, chín hình thái cũng khác nhau Khi vừa chín hình thái nên thu hoạch hạt giống ngay Đương quy khi 70-75% số hạt trên bông chuyển màu vàng chanh, thì thu là tốt nhất (Nguyễn Văn Thuận, 1995) Bạch chỉ khi chín, vỏ áo của hạt vàng khô (Lê Khúc Hạo, 1991), còn ngưu tất khi chín thì lá vàng, vỏ quả vàng (Nguyễn Bá

Hoạt và cs., 2005)

Nhiều giống khi chín hình thái xong, thì quá trình diễn biến sinh lý, hóa sinh trong hạt cũng kết thúc, nếu cung cấp đủ nhiệt và ẩm thì có thể bắt đầu nảy mầm Một số giống sau khi chín hình thái chưa có khả năng nảy mầm, kể cả cung cấp đủ điều kiện, mà cần một khoảng thời gian bảo quản nhất định Thời gian tính

từ lúc hạt chín hình thái đến khi chúng có thể nảy mầm được gọi là thời gian chín sinh lý, hay thời gian ngủ nghỉ Các giống khác nhau có thời gian ngủ nghỉ khác

Trang 29

nhau Bảo quản sau thời gian ngủ nghỉ hạt nảy mầm bình thường Đối với giống có thời gian ngủ nghỉ thì thu hoạch hạt giống thuận lợi hơn những giống không có thời gian ngủ nghỉ Bạch truật do không có thời gian ngủ nghỉ, nên có hiện tượng hạt nảy mầm trên hoa khi gặp mưa (Nguyễn Minh Khởi và cs., 2013)

Thời điểm, thời gian thu hạt giốn thích hợp là lúc hạt biến thành màu xanh vàng, hái theo từng đợt (chín đến đâu thì thu hoạch đến đó), cuối cùng lúc chín rộ thì cắt lần cuối Không được đến lúc vàng khô, hạt dễ bị gió làm rụng, gây nên thiệt hại Lúc hái hạt, nên ngắt, cắt từng bông, không nên cắt cả thân cây, rải ra chỗ râm mát thoáng gió, khô ráo để hạt khô dần (Nguyễn Văn Lai, 1970)

Phương pháp thu lấy hạt giống đối với cây ích mẫu, khi cây đã nở hết hoa phơi màu và đậu quả tránh những đợt không khí lạnh nhất là sương muối ảnh hường đến tỷ lệ đậu hạt và tỷ lệ nảy mầm của hạt Khi hạt đã chín, cây vàng lụi,

lá khô và rụng thì cắt phần thân, cành mang bông đem về phơi trên nong nia hoặc trên sân để đập và thu hạt

Cây huyền sâm được thu hoạch khi vỏ ngoài của quả đã khô, hạt có màu cánh gián bắt đầu thu hạt huyền sâm Dùng liếm sắc cắt lấy phần cành mang quả, cẩn thận cho vào nong, nia hoặc bao tải để đem phơi Hạt huyền sâm khô rất rễ tách ra khỏi vỏ quả

Thu hoạch và bảo quản giống đối với cây sả hoa hồng, Khi cây được trồng vào năm thứ nhất, tháng 3,4 đều đồng loạt ra hoa vào tháng 8,9, ra hạt vào tháng

10, 11 thu hoạch vào tháng 11, 12 Sang năm thứ 2 cây ra hoa vào hai thời điểm lần một vào tháng 4, 5 hạt chín vào tháng 6, 7 Lần 2 vào tháng 9, 10, thu hạt vào tháng 12, tháng 1 năm sau Hạt sả hoa hồng khi chín rất rễ rụng do đó cần chú ý thu đúng lúc và nên thu làm nhiều đợt Hạt sả hoa hồng khi chín chuyển từ màu xanh nhạt sang màu trắng bạc đó là thời điểm thu hạt tốt nhất Sau khi thu hạt về kho ủ một đến hai đêm, sau phơi nắng cho khô, đập lấy hạt, sang sẩy cho sạch phơi tiếp đến khi độ ẩm hạt đạt 7-8% Để nguội hạt sau đó đóng vào bao nilong ngoài bao xi măng, bảo quản trong kho lạnh hoặc nơi khô ráo, thoáng mát

Hạt mã đề khi chín chuyển từ mầu xanh sang vàng nhạt đó là thời điểm thu hạt tốt nhất Sau khi thu hạt về kho ủ 1-2 đêm, sau phơi nắng cho khô đập lấy hạt, sàng, xẩy cho sạch phơi đến độ ẩm hạt từ 7-8% Để nguội hạt rùi sau đó cho vào bao ni long, ngoài là bao xi măng để bảo quản tố hơn

Trang 30

Sau khi lão quan thảo được trồng từ 70-80 ngày có thể bắt đầu thu hoạch hạt giống Khi quả chuyển từ màu xanh sang màu vàng là quả đã chín đã thu hoạch được, chọn những bông cho vào bao để phòng trừ thất thoát hạt, do hạt rụng khỏi quả rơi vãi trong quá trình thu hoạch, vận chuyển Sau khi thu hoạch trên đồng ruộng đem về phơi đến khi bông quả khô, dùng que, gậy đập cho hạt rụng ra khỏi quả, thu lấy hạt, làm sạch tạp chất và hạt lép, phơi lại cho thật khô đưa vào bảo quản (Nguyễn Văn Thuận, 2007)

2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI 2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Theo Nguyễn Thượng Dong và cs (2011), cây ban đã được nghiên cứu di thực và trồng tại Tam Đảo- Vĩnh Phúc Cây ban có nguồn gốc từ Nhật Bản (xuất

xứ từ miền trung Nhật Bản như Nagoya, Tokyo, Kyoto ) thích hợp với điều kiện khí hậu các vùng như Tam Đảo và Sa Pa - Việt Nam Cây sinh trưởng phát triển tốt ra hoa vào cuối tháng 4 đầu tháng 5 và kết quả vào tháng 6, hạt chín và thu hoạch làm giống đầu tháng 7 Thu dược liệu vào trung tuần tháng 6 Lúc cây ra hoa rộ cũng là thời điểm động thái tích lũy hàm lượng Hypericin cao nhất kết hợp năng suất sinh học của cây cao nhất vào trung tuần tháng 6 hàng năm

Cây ban (Hypericum perforatum L) đã nhập nội thành công ở Việt Nam

Vùng trồng thích hợp là các vùng có khí hậu mát mẻ nhiệt độ bình quân năm khoảng 250C, lượng mưa 1.800-2.200mm/năm Nhiệt độ tối cao không quá 320C

và tối thấp không dưới 50C

2.2.1.1 Kỹ thuật trồng ban tại Tam Đảo- Vĩnh phúc

a Chọn vùng trồng

Vùng trồng thích hợp cho cây ban có nguồn gốc từ Nhật Bản đó là những nơi

có điều kiện khí hậu và đất đai của các vùng có khí hậu mát như Tam Đảo, Sa Pa

Trang 31

d, Mật độ và khoảng cách trồng

Mật độ cây ban trồng tại Tam Đảo là 25 vạn cây/ha (20 cm x 20 cm)

e, Phân bón và kỹ thuật bón phân

Liều lượng phân bón đối với cây ban là: 10 tấn phân chuồng + 150 kg N +

150 kg P2O5 + 120 kg K2O/ha

Cách bón phân:

Bón lót: Toàn bộ phân chuồng + lân

Bón thúc lần 1 (khi cây hồi xanh): 30% N

Bón thúc lần 2 (sau trồng 30 ngày): 50% N + 50% K2O

Bón thúc lần 3 (sau trồng 60 ngày): 20% N + 50% K2O

f, Kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc

Vườn ươm cây ban nên chọn nơi gần ruộng trồng, có thể ở một góc ruộng, gần nguồn nước tưới Đất vườn ươm tốt nhất là loại đất nhẹ, tầng canh tác có thể không sâu, nhưng có điều kiện tưới tiêu tốt Đất vườn ươm cũng cần cày sâu, bừa

kỹ, nhặt hết cỏ dại, đặc biệt loại cỏ có bộ rễ ăn sâu như cỏ gấu, cỏ tranh Sau khi phơi ải, có thể lên luống rộng từ 100-110cm, cao 20-25cm, rãnh thoát nước lớn Vườn ươm nên chia ô nhỏ để tiện việc chăm sóc sau này Diện tích vườn ươm chỉ cần 3-5% so với diện tích sản xuất đại trà

Chăm sóc: Ruộng trồng ban cần giữ thường xuyên sạch cỏ và độ ẩm vừa phải Trung bình mỗi tháng làm cỏ và xới xáo một lần, đến khi cây giao tán thì thôi Khi xới xáo cần chú ý không làm đứt rễ Nếu đất khô cần tưới nước và khi trời mưa to phải tháo nước kịp thời

Phòng trừ sâu, bệnh hại: Vào những tháng mưa nhiều, cây có thể bị thối gốc do nấm Bệnh này thể hiện bằng những chấm màu vàng nâu ở gốc và những sợi nấm trắng ở xung quanh Có thể hạn chế bệnh này bằng cách giữ cho ruộng ban thông thoáng , không bị ngập úng Kết hợp với xử lý bằng các thuốc trừ nấm Ngoài ra còn bị bệnh sương mai mức độ nhẹ có thể hạn chế bằng phương pháp canh tác tổng hợp

Ban cũng hay bị sâu xám phá hoại lúc cây non, sâu xanh, sâu đo, rệp hại lá

và ngọn Diệt trừ bằng thuốc Basudin đối với sâu xám và Sherpa với các loại sâu khác

Trang 32

g, Thu hoạch, chế biến, bảo quản

- Thu hoạch và bảo quản dược liệu: Dược liệu thường được thu hoạch vào cuối mùa hè đầu mùa thu (tháng 6)

- Bộ phận thu hoạch là phần trên mặt đất Cắt phần ngọn hoa dài 10cm đến 20cm để riêng, băm thành đoạn dài khoảng 3cm, phơi đến độ ẩm 12% là đạt yêu cầu, bảo quản dược liệu bằng túi nilon nơi khô ráo, thoáng mát

h, Năng suất chất lượng dược liệu và hạt

Năng suất dược liệu ban đạt từ 28-30 tạ/ha; Tỷ lệ tươi khô từ 29- 30%; Tỷ

lệ ngọn hoa từ 40- 43%

Hàm lượng hypericin ở thân lá từ 0,2-0,25%

Hàm lượng hypericin ở ngọn hoa từ 1,4-1,5%

2.2.1.2 Quy trình kỹ thuật sản xuất hạt giống cây ban tại Tam Đảo

a, Giống

Cây ban (Hypericum perforatum L ) sinh sản bằng hạt và chồi mọc từ rễ

phụ

Hạt ban nảy mầm vào mùa thu, mùa đông và xuân Cây thường nở hoa

và thụ phấn vào cuối xuân đến đầu hè Vào giữa mùa hè, cánh hoa bị héo, vỏ quả ẩm, xanh và nhớt, hạt màu xanh Đầu thu vỏ quả khô và đỡ nhớt Cuối thu quả chín

Đất cày bừa kỹ, đập đất nhỏ tơi, vơ sạch cỏ Lên luống cao 20– 25cm, mặt luống 80cm, rãnh 30cm Sau khi lên xong luống, san phẳng mặt luống, nếu đất

Trang 33

khô cần tưới ẩm mặt luống trước khi gieo Trộn hạt với đất ẩm để gieo cho đều Hạt gieo trên mặt luống, dùng đất bột phủ lấp hạt, tưới nước giữ ẩm hàng ngày Sau khi gieo 65-70 ngày hạt mọc và sau 135 ngày khi cây con có chiều cao 5,5cm – 6cm và 5 – 6 đôi lá thật được đem trồng ở ruộng sản xuất

e, Mật độ và khoảng cách trồng

Mật độ trồng tại Tam Đảo là 16,6 vạn cây/ha tương đương khoảng cách 20x30cm

f, Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây con

Giai đoạn trồng cây con: Trồng cây từ vườn ươm cần thiết phải bảo vệ bộ rễ khi nhổ cây, tốt nhất nên dùng các nông cụ phù hợp như dầm, cọc đánh cây, để phá kết cấu đất vườn ươm

g, Phân bón và kỹ thuật bón phân

Liều lượng phân bón thích hợp nhất đối với cây ban là: 10 tấn phân chuồng + 150 kg N + 150 kg P2O5 + 120 kg K2O/ha

và ngọn Diệt trừ bằng thuốc Basudin đối với sâu xám và Sherpa với các loại sâu khác

i, Thu hoạch và bảo quản hạt

Ở cây ban khi chín hình thái thì lá vàng, vỏ quả vàng Khi vừa chín hình thái vào tháng 7 hàng năm nên thu hoạch hạt giống ngay

- Chế biến, bảo quản hạt giống:

Trang 34

Hạt giống đi phơi hoặc sấy ngay, đến độ ẩm thích hợp cho bảo quản trong kho, không nên hạ độ ẩm của hạt quá nhanh Sau khi sấy khô, cần tiến hành làm sạch rơm rác, hạt cỏ dại, hạt lép, sau đó cho vào kho để bảo quản Cần sử lý chống mối mọt trong kho bằng thuốc hóa học hoặc xông hơi (Nguyễn Thượng Dong và cs., 2011)

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới có khoảng 350 loài Hypericum bao gồm 25 loài ở bắc Mỹ St

Johnswort (Hypericum perforatum), còn được goi là Klamath cỏ dại hoặc cỏ dê

dại, đã sử dụng làm thuốc từ những năm 1696, dùng làm trang trí và có tính ma thuật Ngày nay nó được tìm thấy hầu hết trong các tiểu bang với số lượng khoảng 500.000 mẫu anh chỉ ở Montana Số lượng thường biến động theo chu kỳ

từ năm này sang năm khác Cỏ St Johnwort là cây lâu năm, với hệ rễ lan rộng, theo chiều ngang Nhân giống bằng phương pháp hữu tính từ hạt Một cây có từ 150,000-300.000 hạt/1 năm Hạt giống có thể tồn tại trong đất lên đến 10 năm Khả năng nảy mầm của hạt bị ức chế trong mùa hè, khô nóng hoặc bị vùi sâu hơn 2mm dưới bề mặt đất(Mabberley, D.J, 1987).

Cây sinh trưởng tốt trên nền đất thoáng khí, nhưng tốt hơn trên đất ẩm (F Chittendon, 1956) Cây sinh trưởng, phát triển tốt khi có ánh nắng trực xạ, hoặc dưới tán cây, hoặc khi cây được nhận ánh sáng trực tiếp (cây ưa sáng) Cây thường được tìm thấy trong vườn, sinh trưởng tốt trên các cánh đồng cỏ vào mùa

hè và thu hút côn trùng Toàn cây, đặc biệt là khi nở hoa tỏa ra một mùi khó chịu

khi chạm vào Loài Hypericum perfolium là một thể tứ bội rõ ràng, được hình

thành từ hai loài lưỡng bội H.macltatum subsp.maculatum (phân bố từ Châu âu đến tây Siberia) và H.attenuatum (phía tây Siberia đến Trung Quốc) (Baines.C, 1992)

Hạt gieo trong nhà kính ngay sau khi được thu hoạch vào mùa thu hoặc mùa xuân Hạt thường nảy mầm trong vòng 1-3 tháng ở nhiệt độ 100C Hạt được gieo trong vườn ươm đến khi đủ tiêu chuẩn thì đem ra trồng vào mùa hè Khi trồng với diện tích lớn có thể đem gieo trực tiếp lên đất trồng sản xuất Dù vậy, việc gieo hạt trong vườn ươm, trong nhà kính, nhà lưới cho đến khi cây đủ tiêu chuẩn đem trồng vào mùa xuân sẽ tốt hơn

Sử dụng loài Hypericum perforatum L tăng lên trong vài năm qua do các

thuốc chống trầm cảm và các hoạt động kháng virus được tìm thấy trong chất

Trang 35

chiết xuất từ loài này Tiềm năng về dược phẩm của loài đã thúc đẩy nhiều nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy một phương pháp nhân giống mới khác với phương pháp truyền thống, nhân giống in vitro của các loài này Cấy lá đã được tiêm vào môi trường MS có bổ sung 2,4-dichlorophenoxyacetic acid (2,4-

D, 0,45 hoặc 4,5 mM) và 6-benzyladenine (BA, 0,44 hoặc 4,4 mM) hoặc kinetin (0,46 hoặc 4,6 mM) Cấy trồng trong điều kiện tối hay ánh sáng để tạo ra hình thành mô sẹo Mô sẹo bắt đầu được quan sát đánh giá thấy gữa các lần và sự tăng sinh tế bào cao nhất Phát triển tế bào cao nhất thu được từ cấy trồng trong dung dich có chứa 4.4 mM BA và 4,5 mM 2,4-D trong bóng tối Chụp cảm ứng đã thu được từ mô sẹo gây ra trên 4,6 mM kinetin và 0,45 mM 2,4-D sau 6 tuần chuyển giao mô sẹo đến một môi trường MS có bổ sung 4,4 mM BA Rễ được tạo ra từ chồi dựa trên phương pháp MS đầy đủ và khả năng phát triển mạnh có hoặc không có axit indolebutyric (IBA, 4,9 mM) và số lượng rễ đạt cao nhất khi sử dụng môi trường MS, bất kể sự hiện diện của IBA Cây được nhân giống invitro

dễ dàng thích nghi trong điều kiện nhà kính Các phương pháp nhân giống trên cho phép nhân nhanh số lượng lớn loài đó, so với phương pháp truyền thống và

sự gia tăng của khối tế bào mà có thể được sử dụng cho các nghiên cứu về các hợp chất hữu cơ chính của dược phẩm (Fabiane and Eliane, 2000)

Hạt giống cây ban đòi hỏi một quá trình ngủ trước khi nảy mầm Quá trình ngủ này có thể bị phá vỡ bởi rửa nước, xử lý nhiệt, ánh sáng, hoặc một khoảng thời gian sau khi thu hoach hạt từ 3-4 tháng Khả năng nảy mầm của hạt giống có thể đến 94% sau 5 năm bảo quản lạnh khô và 50% nảy mầm sau 16 năm lưu trữ Kết quả quan sát cho thấy rằng sau 5 năm lưu trữ, độ ẩm của hạt là 7% Thí nghiệm khác cho thấy rằng tỷ lệ nảy mầm tăng lên so với thời gian hạt được ngâm trong nước Nếu dịch tiết hạt giống không được loại bỏ thông qua trà sát, thì thời gian ngủ nghỉ hạt tăng lên Điều này sẽ cho thấy rằng ít nhất một cơ chế phát tán hạt giống là thông qua nước (Sheahan, C.M, 2012) Hạt giống mới từ (1-

6 tháng tuổi) và hạt giống cũ (9 năm) đã được so sánh bằng các phương pháp như rửa hạt giống, xử lý nhiệt, thời gian từ 5-60 phút với nhiệt độ 212°F và 260°F cho thấy tỷ lệ nảy mầm lên đến 81% Hạt giống được ngâm trong nước nóng làm giảm tỷ lệ nảy mầm Việc xác đinh điều kiện để nảy mầm và yêu cầu nhiệt độ cho nảy mầm tối ưu vẫn chưa được nghiên cứu cụ thể

Gieo hạt: Gieo vào đầu hoặc cuối mùa xuân và cuối mùa hè, mùa thu Hạt

có thể được gieo trong nhà lưới 4-5 tuần trước tránh thời tiết lạnh, gieo hạt trong

Trang 36

chậu hoặc vại, hoặc gieo trực tiếp vào luống trong vườn ươm Hạt cũng có thể được gieo trực tiếp ra khu sản xuất vào mùa thu hoặc mùa xuân trước khi có đợt sương giá cuối cùng

Điều kiện gieo hạt: Trước khi gieo hạt có thể ủ hạt trong chậu hoặc khay Hạt giống cần ánh sáng để nảy mầm, rắc một lớp đất mỏng lên che hạt Đất gieo hạt cần được giữ ẩm nhưng không quá ẩm Hạt giống nảy mầm trong 14-30 ngày

ở nhiệt độ từ 16 đến 24oC (60 đến 75˚F)

Khi cây con đủ tiêu chuẩn thì đem đi trồng Cây được trồng vào cuối xuân hoặc đầu mùa hè trước đợt lạnh cuối cùng trong năm Cây đạt chiều cao từ 2-3 inches thì trồng cây trực tiếp ngoài đồng ruộng hoặc trồng dưới khu vực có bóng râm một phần Tưới nước thường xuyên cho cây sau khi trồng đến khi cây hồi xanh

Trồng trọt: Cây sinh trưởng và phát triển mạnh sau khi trồng ra khu vực sản xuất Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng để loại bớt cỏ dại, làm cỏ chăm sóc cho cây cho cây sinh trưởng Cây phát triển và tái sinh tốt sau mùa đông giá rét Thu hoạch: Trong năm thứ hai trở đi, thu hoặc khi cây bắt đầu ra hoa vào tháng Bảy, cắt khoảng một phần ba của cây, bao gồm cả hoa Phơi lá, hoa dưới ánh sáng tán xạ, phơi trong bóng râm từ 7- 10 ngày, hoặc đẩy nhanh quá trình phơi khô bằng một dehydrator hoặc dùng máy sấy (Huxley.A, 1992)

Có thể trồng cây ban và các loài Hypericum khác từ hạt Hạt được gieo sớm trong mùa xuân hoặc hoặc đầu mùa thu Hạt cần được che đậy khi gieo Cây ban có thể sinh trưởng tốt ngoài ánh sáng trực tiếp hoặc được che một phần Cây thích hợp trồng trên đất thoát nước tốt, pH 5,5-7, những yêu cầu về đất không quá khắt khe

Trước khi cây được trồng ra sản xuất thì hạt được gieo trong vườn ươm, giai đoạn này kéo dài từ hai tháng đến hai tháng rưỡi Hạt được gieo vào trước đợt sương giá cuối cùng của mùa xuân hoặc đầu mùa thu Hạt ban cần từ ba tuần đến ba tháng để hạt nảy mầm, ở nhiệt độ tử 10-120C

Cây ban được trồng từ hạt, cây sinh trưởng tốt Hạt được gieo trong vườn uơm từ 6-8 tuần trước đợt lạnh cuối cùng, hoặc trước thời điểm lạnh rét kéo dài Hạt được gieo trên đất, nhưng hạt cần có ánh sáng để nảy mầm tốt hơn Khi cây cao từ 2-3 inches thì đem ra trồng Cây có tính chống chịu cao, thích hợp với đất

Trang 37

ẩm và ánh sáng trực xạ Cần bón phân bổ sung ở những loại đất nghèo dinh dưỡng, hoặc những nơi hạn hán kéo dài (Harren Saura, 2004)

2.3 TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Mộc Châu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh khô, mùa hè mát ẩm và mưa nhiều Mộc Châu có độ cao lớn lại nằm giữa sông Đà và sông Mã do đó khí hậu ở Mộc Châu quanh năm mát mẻ, nhiệt độ không khí trung bình/năm khoảng 18,50C

2.3.1 Vị trí địa lý

Mộc Châu là huyện miền núi nằm trên cao nguyên đá vôi vùng Tây Bắc với

độ cao trung bình hơn 1.000 m so với mặt nước biển, về hướng Đông nam của tỉnh Sơn La, có diện tích tự nhiên 2.061 km2 Mộc Châu tiếp giáp với các khu vực

- Phía Đông và Đông nam giáp tỉnh Hoà Bình

- Phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Yên Châu

- Phía Nam giáp tỉnh Thanh Hoá và nước CHDCND Lào với đường biên giới chung dài 36 km

- Phía bắc giáp với huyện Phù Yên

Về vị trí và mối liên hệ trong Vùng Trung du miền núi Bắc Bộ, Mộc Châu

là khu vực có những lợi thế không nhỏ thể hiện ở những điểm sau Mộc Châu là cửa ngõ đặc biệt quan trọng kết nối Sơn La và các tỉnh vùng Tây Bắc với Hà Nội

và vùng đồng bằng sông Hồng thông qua quốc lộ 6, đồng thời, Mộc Châu còn có cửa khẩu Quốc gia Lóng Sập thông với tỉnh Hủa Phăn và cố đô Luông Phra Bang (Luang Prabang) của nước CHDCND Lào và xa hơn là sang các nước ASEAN như Thái Lan, Myanmar… Đối với thủ đô Hà Nội, Lóng Sập là cửa khẩu Quốc gia sang Lào có khoảng cách ngắn nhất Mộc Châu là một trong những điểm nút giao thông quan trọng trên quốc lộ 6 Từ Mộc Châu có thể kết nối thuận lợi với Sơn La, Hòa Bình, Lào, Điện Biên, Lai Châu

2.3.2 Địa hình

Mộc Châu Là huyện mang đặc trưng của một huyện miền núi Tây Bắc, địa hình bị chia cắt mạnh có nhiều núi cao hiểm trở và nhiều thung lũng rộng, độ cao trung bình từ 950 - 1050 m so với mặt nước biển, có cao nguyên rộng lớn và tương đối bằng phẳng.Cao nguyên Mộc Châu kéo dài 80 km từ Yên Châu đến Suối Rút, bề ngang nơi rộng nhất đạt tới 25 km, có độ cao trung bình so với mặt

Trang 38

biển là 1.050 m, các khu vực xung quanh Mộc Châu như Hòa Bình, Sơn La đều

có độ cao trung bình thấp hơn so với Mộc Châu

ở đất nước nhiệt đới như Việt Nam, chỉ có ở các khu vực nổi tiếng về du lịch nghỉ dưỡng ở Việt Nam như Sa Pa, Tam Đảo, Bà Nà, Đà Lạt, Bạch Mã… mới có những điều kiện khí hậu tương tự

2.3.4 Đất đai thổ nhưỡng

Diện tích đất tự nhiên của huyện Mộc Châu là 202.513 ha, trong đó: đất nông nghiệp: 34.830,51 ha, chiếm 17,2% tổng diện tích tự nhiên; đất lâm nghiệp: 81.359,21 ha, chiếm 40,17%; đất chuyên dùng: 4.547,28 ha chiếm 2,25%; đất ở: 1.179,76 ha chiếm 0,58%; đất chưa sử dụng và sông suối, núi đá: 80.596,24 ha, chiếm 39,8 % diện tích tự nhiên

Trang 39

Mộc Châu có quỹ đất rộng, diện tích đất chưa sử dụng còn lớn Đây là điều kiện thuận lợi để khai thác phát triển nông lâm nghiệp và du lịch Tuy nhiên, đối với Mộc Châu phát triển du lịch sẽ thuận lợi hơn so với phát triển nông nghiệp do các quỹ đất chưa sử dụng hầu hết là đất có địa hình dốc, thuộc vùng xa, hạ tầng giao thông kém phát triển… điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh

tế của hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp song đối với du lịch vấn đề này không ảnh hưởng quá nhiều

2.3.5 Thảm thực vật

Tài nguyên rừng Mộc Châu khá phong phú với khoảng 456 loài thực vật và

49 loài động vật hoang dã trong đó có nhiều loài quý hiếm Đất đai Mộc Châu phù hợp với nhiều loại cây, có điều kiện xây dựng hệ thống rừng phòng hộ và tạo các vùng rừng kinh tế hàng hoá có giá trị kinh tế cao

Tài nguyên rừng của Mộc Châu có giá trị quan trọng đối với phát triển du lịch là khu rừng đặc dụng Xuân Nha với diện tích trên 12.313,6 ha có nhiều loại

gỗ và động vật quý hiếm có khả năng tạo thành điểm du lịch sinh thái hấp dẫn Tuy nhiên, do nằm ở khu vực giáp biên giới, thủ tục hành chính chặt chẽ và phức tạp nên khả năng tổ chức các hoạt động du lịch ở khu vực này ít thuận lợi

Trang 40

PHẦN 3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

- Nguồn vật liệu ban đầu là hạt cây ban (Hypericum perforatum L.)

- Hóa chất GA3 (Gebberellin), nồng độ hoạt chất 0,1%

3.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

- Thí nghiệm được bố trí tại Mộc Châu- Sơn La

- Thời gian: Từ tháng 09/2014 đến tháng 02/2016

3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ GA3 và thời gian xử lý đến tỷ lệ nảy mầm hạt ban

- Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ gieo hạt đến sinh trưởng, phát triển và

tỉ lệ xuất vườn của cây giống

- Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp gieo hạt đến sinh trưởng, phát triển và năng suất hạt ban

- Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm thu hái đến chất lượng hạt giống cây ban

- Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp thu hái đến chất lượng hạt giống cây ban

3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.4.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ GA 3 và thời gian xử

lý hạt đến tỷ lệ nảy mầm của hạt ban (thực hiện trong phòng)

Nhân tố 1: Nồng độ GA3

M1: Đối chứng ngâm với nước

M 2: Ngâm dd GA3 5ppm trước khi gieo

M3: Ngâm dd GA3 10ppm trước khi gieo

M4: Ngâm dd GA3 15ppm trước khi gieo

M 5: Ngâm dd GA3 20ppm trước khi gieo

Ngày đăng: 16/11/2018, 23:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
23. Brondz, I.et al. (1983) .n- alkanes of. H.perforatum a revision. Phytochemic. 22. pp 295-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: et al
24. Brondz, I.et al. (1983). The absolute configuration of hyperforin, an antibiotic from H. perforatum L. acta chem.Scad. ser. A. A37. pp.263-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: et al
Tác giả: Brondz, I.et al
Năm: 1983
29. Fabiane Raquel and Eliane Romanato Santare’m (2000). Callus formation and plan regeneration from Hypericum perforatum. pp. 58-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hypericum perforatum
Tác giả: Fabiane Raquel and Eliane Romanato Santare’m
Năm: 2000
30. Guevich A. I et al (1971) Hyperforin, an antibiotic from- Hypericum perforatum L. Antibiotiki 16 p. 510-2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hypericum perforatum
1. Hoàng Minh Tấn, Vũ Quang Sáng và Nguyễn Kim Thanh (2006). Giáo trình sinh lý thực vật. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm. tr. 45 Khác
2. Lê Khúc Hạo (1991). Nghiên cứu kỹ thuật trồng cây bạch chỉ. Luận văn thạc sĩ. Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam. tr. 56 Khác
3. Lê Văn Tri (1992). Cách sử dụng chất điều hòa sinh trưởng và vi lượng đạt hiệu quả cao. Nhà xuất bản Khoa học - Kỹ thuật, Hà Nội. tr. 89 Khác
4. Nguyễn Bá Hoạt, Nguyễn Duy Thuần và Đinh Thế Lộc (2005). Kỹ thuật trồng, sử dụng và chế biến cây thuốc. Nhà xuất bản Nông nghiêp, Hà Nội. tr. 180-192 Khác
5. Nguyễn Đình Thi (2010). Ảnh hưởng của các chất kích thích sinh trưởng (GA3, IAA, α-NAA) đến sinh trưởng và năng suất rau cải mầm ở Thừa Thiên Huế. Tạp chí khoa học, Đại học Huế. (57). tr. 3 Khác
6. Nguyễn Minh Khởi, Ngô Quốc Luật và Trần Danh Việt (2013). Kỹ thuật trồng, sử dụng và chế biến cây thuốc. Nhà xuất bản Nông nghiệp. tr. 45-70 Khác
7. Nguyễn Thượng Dong, Nguyễn Văn Thuận và Trần Danh Việt (2011). Nghiên cứu di thực và quy trình trồng trọt cây ban Hypericum perforatum L, để chiết xuất sản phẩm chứa hypericin. Đề tài cấp Bộ Y tế. tr. 45-116 Khác
8. Nguyễn Văn Lai và cộng sự (1970). Kỹ thuật nuôi, trồng và chế biến dược liệu. ( Ban huấn luyện đào tạo cán bộ dược liệu Trung Quốc biên dịch). NXB Nông thôn, Hà Nội Khác
9. Nguyễn Văn Thuận (1995). Tiêu chuẩn giống cho đương quy, bạch chỉ, ngưu tất, bạc hà. Báo cáo đề tài KY02-05. tr. 100-105 Khác
10. Nguyễn Văn Thuận (2004). Xây dựng một số quy trình sản xuất dược liệu sạch và chế biến sạch để bào chế một số chế phẩm chất lượng cao. Báo cáo Đề tài cấp Nhà nước KC10.02. tr. 51-103 Khác
11. Nguyễn Văn Thuận (2007). Xây dựng mô hình quản lý chất lượng giống cây thuốc. Đề tài cấp bộ y tế. tr. 60-75 Khác
12. Nguyễn Văn Trương (2008). Ảnh hưởng của gibberellin đến sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lượng của xà lách vụ Xuân - Hè 2008 tại thành Phố Huế. Luận văn thạc sĩ. tr. 78 Khác
13. Phạm Thị Nguyệt Hằng (2011). Xây dựng mô hình nghiên cứu thuốc chống trầm cảm trên tế bào thần kinh vỏ não nuôi cấy nguyên phát và tế bào NG 108-15. Tạp chí Dược liệu. (5). tr. 277-281 Khác
14. Trần Hùng (1971). Kết quả di thực một số cây thuốc. Kỷ yếu công trình nghiên cứu 1961-1971, Viện Dược liệu. tr. 103-105 Khác
15. Trần Toàn, Đặng Văn Khiên (1979). Kỹ thuật trồng cây thuốc. Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội Khác
16. Viện Dược Liệu (2002). Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập 1. tr. 215-217 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w