Tập làm văn là phân môn quan trọng giúp học sinh rèn luyện kĩ năng cơ bản để viết một đoạn văn, bài văn. Hiện nay trong chương trình đổi mới, phân môn Tập làm văn được đưa vào giảng dạy với những thay đổi khá toàn diện và sâu sắc so với chương trình cũ, trong đó dạy học văn bản thuyết minh được đưa vào chương trình là một kiểu
Trang 1NHẬN XÉT VÀ XẾP LOẠI CỦA HỘI
ĐỒNG KHOA HỌC TRƯỜNG
NHẬN XÉT VÀ XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC PHÒNG GIÁO DỤC
Trang 2SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GIỜ TẬP THỂ DỤC SÂN TRƯỜNG THCS TRƯNG VƯƠNG
Trang 3Vì vậy, yêu cầu của một bài làm văn thuyết minh là phải có tri thức về đốitượng thuyết minh Không có tri thức thì không thể làm tốt bài văn thuyết minhđược Tri thức bắt nguồn từ việc học tập và tích luỹ hàng ngày từ sách báo vàđặc biệt từ quan sát, tìm hiểu, tìm tòi của học sinh Kiểu bài này được đưa vàonhà trường, có thể có người lo ngại là học sinh lấy kiến thức đâu mà làm bài.Nhưng nếu học sinh biết kỹ năng làm bài, các em sẽ biết cách tích lũy kiến thức
trong thực tiễn để làm bài được tốt hơn Văn bản thuyết minh đã được học tập,
vận dụng trong chương trình Ngữ văn lớp 8 Đến lớp 9 nó được nâng cao và đisâu để hoàn thiện hơn một bước về kỹ năng và chất lượng bài viết của học sinhchẳng hạn như ở lớp 9 yêu cầu cao hơn như sử dụng một số biện pháp nghệthuật trong văn bản thuyết minh, kết hợp thuyết minh với miêu tả Các biện phápnghệ thuật và miêu tả có tác dụng làm cho văn bản thuyết minh sinh động, hấpdẫn và bớt khô khan hơn Tuy nhiên cần lưu ý là không phải văn bản thuyếtminh nào cũng có thể tùy tiện sử dụng các yếu tố nghệ thuật Ví dụ: SGK, cácmục từ trong các từ điển, các bản giới thiệu các di tích lịch sử, thuyết minh đồdùng,…người ta chỉ vận dụng một số biện pháp nghệ thuật vào một số bàithuyết minh có tính chất phổ cập kiến thức, hoặc một số bài có tính chất vănhọc Chính vì lẽ đó, việc tổ chức dạy học có hiệu quả kiểu văn bản này với địnhhướng tích hợp và tích cực, là một khó khăn và thách thức lớn về cả kiến thức và
phương pháp giảng dạy Như tất cả chúng ta đều biết, xưa nay việc dạy tập làm
văn vốn đã khó, khô khan nhưng để học sinh nắm bắt tốt kiến thức về bài vănthuyết minh và đồng thời biết cách vận dụng kiến thức đã học đó vào làm mộtbài văn thuyết minh sinh động và lôi cuốn sự hứng thú của người đọc thì lạicàng khó khăn gian nan gấp bội
Do vậy muốn thực hiện được người giáo viên cần phải có nghệ thuật, có sựđan xen kết hợp nhiều yếu tố Nếu giáo viên không biết kỹ năng ,phương pháp,hững hờ thiếu nhiệt tình thì sẽ gây sự nặng nề, nhàm chán, thụ động cho họcsinh Mặc khác, sự chủ động, tích cực hợp tác của học sinh cũng góp phầnkhông nhỏ vào sự thành công của tiết học Mà trong thực tế giảng dạy thì một sốđông các em vẫn còn thờ ơ với tiết học, có thái độ học tập rất thụ động theo kiểuthầy dạy bao nhiêu trò biết bấy nhiêu, không tự tìm tòi, học hỏi, quan sát… tạisao vậy? Phải chăng là do các em không có hứng thú với Phần Tập Làm Vănhay còn vì lý do nào khác nữa? Đó là câu hỏi khiến tôi trăn trở khá nhiều.
Xuất phát từ tình hình thực tế của việc giảng dạy kiểu văn bản thuyết minhtrong nhà trường THCS hiện nay, tôi xin phép trình bày một số kỹ năng, giải
pháp vận dụng trong quá trình dạy học, phân môn tập làm văn lớp 9 (kiểu văn
bản thuyết minh) trao đổi cùng đồng nghiệp
Trang 4II MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI:
1 Mục đích nghiên cứu:
a Đề tài gắn với mục tiêu dạy học phân môn Tập làm văn lớp 9 ở trường trung học cơ sở Đặc biệt đề tài chú trọng hướng tới thao tác kỹ năng của Giáo viên trong quá trình tổ chức, hướng dẫn, điều khiển học sinh những kỹ năng cần thiết khi tạo dựng văn bản thuyết minh
b Hướng đi của đề tài nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng dạy học về văn bản thuyết minh trên cơ sở nắm chắc lý thuyết phương pháp để học sinh làm bài văn thuyết minh được hay hơn
2 Nhiệm vụ nghiên cứu :
* Đề tài tập trung trình bày các vấn đề sau:
- Trình bày một số giải pháp cơ bản về kỹ năng dạy học văn bản thuyếtminh trong chương trình tập làm văn lớp 9
- Trình bày một số tình huống sư phạm được áp dụng thông qua một giáo
án thực dạy
- Kết quả các quá trình vận dụng các kỹ năng thao tác dạy học đó
3 Đối tượng nghiên cứu:
a Đối tượng:
Qua những định hướng của Bộ Giáo dục, Sở Giáo dục và phòng Giáo dục
TP Buôn Ma Thuột, thực hiện chương trình đổi mới phương pháp giáo dục
- Sgk và sách giáo viên Ngữ văn 9
- Sách thiết kế Ngữ văn 9
- Dạy học văn bản Ngữ văn THCS theo đặc trưng phương thức biểu đạt
Tác giả: Trần Đình Chung
- Dạy học Ngữ văn theo hướng tích hợp 6,7,8, 9 của tác giả
Giáo sư tiến sĩ: Lê An, Lê Minh Thu, Nguyễn Thị Thuý
NXB: Đại học sư phạm
- Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn trung học
cơ sở, tập 2 Nhà xuất bản Giáo dục Việt nam
b Cơ sở nghiên cứu:
Đề tài chủ yếu nghiên cứu về phân môn tập làm văn lớp 9 (Kiểu văn bản
thuyết minh) và áp dụng tiết bài dạy minh họa Tuần 2 - Tiết 9, bài: “Sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh” Ngữ văn 9 - Tập 1.
4 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về kỹ năng dạy học văn bản thuyết minh trong chương trình
tập làm văn lớp 9 tại trường THCS Trưng Vương
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Trang 5Để thực hiện đề tài này tôi đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Tập hợp, phân loại, xử lí các văn bản, tài liệu, SGK, SGV,…
- Phương pháp phân tích, đối chiếu
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế: Thông qua dự giờ đồng nghiệp, thao giảng, dự chuyên đề,
- Phương pháp trao đổi thực nghiệm Việc giảng dạy trên lớp
- Nghiên cứu tài liệu:
Giáo trình thay sách của Bộ, sách Giáo viên … có thể xem trên báo chí,
trên truyền hình, trên radio, trong sách giáo khoa của các môn học khác và ngaychính trong thực tế đời sống xung quanh ta Được sự giúp đỡ tận tình của cácđồng nghiệp trong trường khi có vấn đề liên quan đến phân môn Thầy, Cô giảngdạy Với sự tham gia nhiệt tình, tích cực và sáng tạo của học sinh
B PHẦN NỘI DUNG
I C ấu trúc chương tr ình v ề kiểu bài văn thuyết minh.
Trước khi đi vào nghiên cứu vấn đề dạy học văn bản thuyết minh chúng tacần nắm được cấu trúc chương trình kiểu văn bản thuyết minh trong chương trình Ngữ văn THCS
1 Tìm hiểu chung về văn bản thuyết
minh
2 Phương pháp thuyết minh
3 Đề văn thuyết minh và cách làm bài
văn thuyết minh
4 Luyện nói: Thuyết minh về một thứ
đồ dùng
5 Thuyết minh một thể loại văn học
6 Viết đoạn văn trong văn bản thuyết
2 Luyện tập sử dụng một số biện phápnghệ thuật trong văn bản thuyết minh
3 Sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh
4 Luyện tập sử dụng yếu tố miêu tảtrong văn bản thuyết minh
Như chúng ta đã biết, khác với văn bản tự sự , miêu tả, biểu cảm hay văn bản
Trang 6quan, giúp con người hiểu biết được đặc trưng , tính chất của sự vật, hiện tượng
và biết cách sử dụng chúng vào mục đích có lợi cho con người Văn bản thuyết minh gắn liền với tư duy khoa học, nó đòi hỏi sự chính xác, rạch ròi Do đó, khi
nói đến“Kỹ năng vận dụng dạy học văn bản thuyết minh trong chương trình Tập làm văn lớp 9” mỗi giáo viên trực tiếp giảng dạy nên chú ý một số vấn đề
trong tự nhiên, xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích.
2 Nắm rõ những tính chất và đặc điểm chung của văn bản thuyết minh:
Văn bản thuyết minh là văn bản trình bày tính chất, cấu tạo, cách dùng cùng
lí do phát sinh, quy luật phát triển biến hoá của sự vật, hiện tượng nhằm cungcấp tri thức cho con người Vì vậy văn bản thuyết minh sử dụng rất rộng rãi(hướng dẫn sử dụng phương tiện, đồ dùng, danh lam thắng cảnh, tác phẩm nghệthuật…) tất cả đều là văn bản thuyết minh Hai chữ thuyết minh đều bao hàm cả
ý giải thích, trình bày, giới thiệu cho người đọc, người nghe hiểu rõ Khác vớivăn bản nghị luận, tự sự, miêu tả, biểu cảm, hành chính, văn thuyết minh chủ
yếu trình bày tri thức một cách khách quan khoa học, xác thực, thực dụng, hữu ích cho con người Đồng thời, giúp con người hiểu được đặc trưng, tính
chất của sự vật, hiện tượng và biết cách sử dụng chúng vào mục đích giao tiếp
có lợi nhất
Văn thuyết minh gắn liền với tư duy khoa học, nó đòi hỏi phải chính xác,rạch ròi Muốn làm được văn thuyết minh phải tiến hành điều tra, nghiên cứuhọc hỏi để có kiến thức thì mới làm được
Thuyết minh là loại văn bản khác hẳn với tự sự (vì không có sự việc, diễn biến) khác với miêu tả (vì không đòi hỏi miêu tả cụ thể cho người đọc cảm thấy,
mà cốt là làm người ta hiểu), khác với các văn bản nghị luận (vì ở đây chính là
trình bày, giải thích nguyên lí, quy luật, cách thức…chứ không suy luận lí lẽ)
khác với văn bản hành chính công vụ (bày tỏ quyết định, nguyện vọng, thông
báo của ai đối với ai) Nghĩa là các văn bản ấy không thay thế văn bản thuyết
minh được
Đối với bài văn thuyết minh là phải có tri thức về đối tượng cần thuyết
Trang 7minh, không có tri thức không thể làm văn thuyết minh được Tri thức lấy từ họctập, tích luỹ hàng ngày, từ sách báo và đặc biệt là từ việc tìm hiểu của mỗingười Nói kiến thức về đối tượng nghĩa là phải hiểu biết về đối tượng thuyếtminh (sự vật, hiện tượng, phương pháp) là cái gì ? Nó có đặc điểm tiêu biểu gì ?
Có cấu tạo ra sao và nó hình thành như thế nào? Có giá trị và ý nghĩa gì đối vớicon người ?…), nghĩa là muốn làm được bài thuyết minh thì học sinh phải nắmđược bản chất, đặc trưng của sự vật, hiện tượng
- Muốn có tri thức về đối tượng phải quan sát, nhưng quan sát không đơn giản
là nhìn, xem mà còn phải phán xét để phát hiện được đặc điểm tiêu biểu của nó
là đặc điểm có ý nghiã phân biệt sự vật này với sự vật kia
- Muốn có tri thức về đối tượng phải biết tra cứu từ điển, sách, báo…
- Muốn có tri thức về đối tượng thì phải biết phân tích đối tượng thuyết minhchia làm mấy bộ phận, mỗi bộ phận có đặc điểm gì ? Quan hệ giữa các bộ phận
ấy ra sao ? Làm như vậy ta sẽ có được tri thức để thuyết minh
Muốn vậy: Cần phân biệt văn bản thuyết minh với các loại văn bản khác Như
đã nói ở trên, nếu văn bản tự sự trình bày sự việc, diễn biến nhân vật, văn bảnmiêu tả trình bày chi tiết cụ thể cho ta cảm nhận được sự vật, con người, văn bảnnghị luận trình bày ý kiến, luận điểm Thì văn bản thuyết minh trình bày đặcđiểm tiêu biểu của sự vật, hiện tượng Văn bản thuyết minh có nhiệm vụ cungcấp tri thức về sự vật Giúp con người hiểu đúng đắn, đầy đủ về sự vật Tri thức
trong văn bản thuyết minh đòi hỏi khách quan, xác thực, thực dụng, hữu ích
cho con người Vì vậy, đòi hỏi người học , người dạy cần phải nắm chắc kháiniệm cũng như đặc điểm của văn bản thuyết minh
Ví dụ:
- Văn bản: “Cây dừa Bình Định” trình bày ích lợi của cây dừa đối với đời
sống người dân Bình Định Văn bản trình bày ích lợi của thân cây dừa, lá dừa, gốc dừa già, nước dừa, cùi dừa, sọ dừa, vỏ dừa… Ngoài ra văn bản còn
giới thiệu Bình Định có nhiều dừa và nhiều giống dừa.
Trang 8CÂY DỪA
- Văn bản “Tại sao lá cây có màu xanh lục?” giải thích về tác dụng của
chất diệp lục làm cho người ta thấy lá cây có màu xanh Văn bản giải thích bằng những tri thức sinh học
- Văn bản “Huế” giới thiệu Huế như là một trung tâm văn hóa lớn của
Việt Nam với những đặc điểm riêng tiêu biểu của Huế như: cảnh sắc thiên nhiênHuế, những công trình kiến trúc nổi tiếng của Huế, đặc sắc Huế, lịch sử và con
3 Giáo viên biết phối hợp nhiếu phương pháp thuyết minh thường gặp và vai trò tác dụng của mỗi phương pháp phù hợp với kiểu bài tập thuyết minh.
Để bài văn thuyết minh có sức thuyết phục, dễ hiễu, sáng rõ, người ta có thể
sử dụng phối hợp nhiều phương pháp thuyết minh như: “Nêu định nghĩa, giải thích, liệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu, so sánh, đối chiếu, phân tích, phân loại…”
Chẳng hạn:
a Phương pháp nêu định nghĩa, giải thích:
Khi định nghĩa, giải thích, người viết phải xác định được đối tượng thuộcvào loại sự vật, hiện tượng nào, từ đó chỉ ra nguồn gốc, cấu tạo, đặc điểm riêng,cách sử dụng, cách chế tạo ra nó Khi nêu định nghĩa người viết thường sử dụng
từ “là” để biểu thị phán đoán
Trường Quốc Học Huế Chùa Thiên Mụ
Trang 9Dấu hiệu nhận biết của phương pháp này thường sử dụng mẫu câu A là B (A là
đối tượng cần thuyết minh, B bao gồm loại sự vật, hiện tượng của đối tượng và đặc điểm riêng nổi bật của đối tượng trong loại sự vật, hiện tượng ấy).
* Mô hình hoá phương pháp nêu định nghĩa giải thích
A: Đối tượng cần thuyết minh
B: Tri thức về đối tượng
Cách diễn đạt: từ “là”
A “ là” B
b Phương pháp liệt kê:
- Trình bày lần lượt, cụ thể, rõ ràng , chính xác nhiều đặc điểm của đối tượng
Ví dụ 1:
- Cây dừa cống hiến tất cả của cải của mình cho con người: Thân cây làm máng, lá làm tranh, cọng lá chẻ nhỏ làm vách, gốc dừa già làm chõ đồ xôi, nước dừa để uống, để kho cá, kho thịt (Cây dừa Bình Định)
- Trình bày ích lợi của cây dừa, câu văn liệt kê ích lợi của các bộ phận như
thân cây dừa, lá dừa, cọng lá dừa, gốc dừa già, nước dừa và từng bộ phận
người viết lại dùng phương pháp liệt kê để trình bày các lợi ích của chúng
- Trên những chặng đường dài suốt 50, 60km chúng ta chỉ gặp cây dừa: Dừa xiêm thấp lè tè, quả tròn, nước ngọt, dừa nếp lơ lững giữa trời, quả vàng xanh mơn mởn, dừa lá đỏ, vỏ hồng,… (Cây dừa Bình Định)
Câu văn thường dùng phương pháp liệt kê để giới thiệu các giống dừa ở BìnhĐịnh Người viết còn dùng phương pháp liệt kê để giới thiệu đặc điểm của từnggiống dừa
Ví dụ 2:
Trang 10- Theo các nhà khoa học, bao bì ni lông lẫn vào đất làm cản trở quá trình sinh
trưởng của các loài thực vật nó bao quanh, cản trở sự phát triển của cỏ dẫn đến xói mòn ở các vùng đồi núi Bao bì ni lông bị vứt xuống cống làm tắc các đường dẫn nước thải, làm tăng khả năng ngập lụt của các đô thị về mùa mưa Sự tắc
nghẽn hệ thống cống rãnh làm cho muỗi phát sinh, lây truyền dịch bệnh Bao bì
ni lông trôi ra biển làm chết các sinh vật khi chúng nuốt phải…
(Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000)
Đoạn văn dùng phương pháp liệt kê để trình bày tác hại của bao bì ni lông
trong nhiều trường hợp khác nhau như: “Bao bì ni lông lẫn vào đất…), “Bao bì
ni lông bị vứt xuống cống…”, “Bao bì ni lông trôi ra biển…”
* Phương pháp liệt kê giúp cho việc trình bày tính chất của sự vật rõ ràng, sáng sủa hơn.
c Phương pháp nêu ví dụ:
* Phương pháp này đòi hỏi người viết khi đưa ví dụ phải khách quan, chính
xác, đáng tin cậy.
Ví dụ:
Ngày nay, đi các nước phát triển, đâu đâu cũng nổi lên chiến dịch chống thuốc
lá Người ta cấm hút thuốc ở tất cả những nơi công cộng, phạt nặng những người
vi phạm (ở Bỉ, từ năm 1987, vi phạm lần thứ nhất phạt 40 đô la, tái phạm phạt
500 đô la).
(Ôn dịch thuốc lá)
Rác trong lòng thành phố Rác trong lòng đại dương
Trang 11Phòng chống thuốc lá tại Việt Nam
Ví dụ đưa ra rất rõ ràng àlàm cho kiến thức trừu tượng trở nên cụ thể, dễ hiểu àcó tác dụng thuyết phục cao àtạo niềm tin cho người đọc, người nghe
Trong đoạn văn trên phần trong dấu ngoặc đơn là ví dụ giúp cho việc trình bày cách xử phạt những người hút thuốc lá nơi cộng đồng được cụ thể và có sức thuyết phục hơn.
d Phương pháp dùng số liệu (con số):
Ví dụ 1:
Các nhà khoa học cho biết trong không khí, dưỡng khí chỉ chiếm 20% thể tích, thán khí chiếm 3% Nếu không có bổ sung thì trong vòng 500 năm con người và động vật sẽ sử dụng hết dưỡng khí ấy, đồng thời số thán khí ấy không ngừng giatăng Bởi vì sao đến nay dưỡng khí ấy vẫn còn? Đó là nhờ thực vật Thực vật khiquang hợp hút thán khí và nhả ra dưỡng khí Một héc-ta cỏ mỗi ngày có khả năng hấp thụ 900kg thán khí và nhả ra 600kg dưỡng khí Vì thế trồng cây xanh
và thảm cỏ trong thành phố có ý nghĩa cực kỳ to lớn
“Ngay khi vừa mới ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã phải đối mặt với
ba thứ giặc hung dữ: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm Nạn đói hoành hành
đã làm cho hơn 2 triệu đồng bào chết đói, trên 95% dân số mù chữ, miền Bắc
Trang 12hơn 20 vạn quân Tưởng, miền Nam trên 15 vạn quân Pháp lăm le xâm lược nước ta”.
Đoạn văn trên đã dùng con số rõ ràng chính xác Thuyết phục người đọc , làm cho người đọc tin vào những gì người viết đã cung cấp
g Phương pháp phân loại, phân tích:
Trong quá trình thuyết minh, đối với sự vật đa dạng, nhiều cá thể thì nên phân loại để trình bày cho rõ ràng, hoặc một đối tượng có nhiều bộ phận, nhiều mặt thì nên phân ra từng bộ phận, từng mặt để lần lượt trình bày
Ví dụ 1:
Cơ quan cảm giác của cá chép
Cơ quan thị giác là mắt Mắt cá chép không có mí Cá chép chỉ nhìn được
những vật ở gần, song phân biệt được hình dáng và màu sắc Cơ quan khứu giác
là hốc mũi Thành hốc mũi có những tế bào khứu giác Hốc mũi thông bên ngoàibằng hai lỗ mũi nhỏ hai bên đầu nhưng không thông với khoang miệng Cơ quanthính giác là tai trong nằm trong xương sọ ở hai bên thái dương và không lộ rangoài Tai cá chép cảm giác được cả những âm thanh trong không khí truyềnvào nước nên cá chép có thể phát hiện được tiếng động ở trên bờ vực nước Qua
áp suất của dòng nước, cơ quan đường bên giúp cá nhận được những chướngngại vật từ xa và xác định được phương hướng khi bơi Cơ quan xúc giác lànhững râu giúp cá chép phân biệt được tất cả thức ăn Cơ quan vị giác là những
tế bào vị giác nằm trong khoang miệng và rãi rác trên toàn bộ bề mặt, giúp cáchép phân biệt rõ ràng thức ăn trong bùn, cát