1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ca dao, dân ca làng chài vịnh hạ long từ góc nhìn văn hóa

118 277 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 2,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, có thể kể đến các công trình sưu tầm tiêu biểu như: Ca dao - Dân ca vùng biển Quảng Ninh 2007 của Vũ Thị Gái, Ca dao vùng mỏ 2010 của Hội văn nghệ dân gian Quảng Ninh phối hợp

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––––

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––––

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ Ca dao, dân ca làng chài vịnh Hạ Long từ

góc nhìn văn hóa là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của ai Các số

liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trìnhkhác Nếu sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm./

Thái Nguyên, ngày 02 tháng 5 năm 2018

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Bùi Thị Ngọc Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, với lòng biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin gửi lời cảm ơn tới cô giáo PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thu đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoànthành tốt luận văn này

-Tôi xin trân trọng cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, các phòng ban chứcnăng, Khoa Sau đại học, Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tạođiều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp.Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè và các bạn họcviên đã luôn động viên, khích lệ tôi trong suốt thời gian vừa qua

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 02 tháng 5 năm 2018

Học viên

Bùi Thị Ngọc Anh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang 6

Lời cam đoan i

ii Mục lục

iii MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài .1

1.2.2 Khái quát chung về ca dao, dân ca làng chài vịnh Hạ Long 14

1.3 Khái niệm văn hóa, mối quan hệ giữa văn học & văn hóa và hướngnghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa 16

Trang 7

1.3.1 Khái niệm văn hóa .16

1.3.2 Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa 18

1.3.3 Hướng nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa, văn hóa biển vùngvịnh Hạ Long 20Tiểu kết chương 1 26

Trang 8

Chương 2: NỘI DUNG CÁC BÀI CA DAO, DÂN CA Ở LÀNG CHÀI VỊNH

HẠ LONG NHÌN TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA

27 2.1 Tình yêu biển, tình yêu nghề biển

27 2.1.1 Tình yêu biển 27

2.1.2 Tình yêu nghề đi biển

31 2.2 Tình yêu lứa đôi 35

2.2.1 Làm quen, tỏ tình 35

2.2.2 Tương tư, yêu đương

41 2.2.3 Đôi lứa từ biệt nhau sau những cuộc vui 46

2.2.4 Đôi lứa nên duyên vợ chồng

48 2.2.5 Trái duyên, không xứng đôi

55 2.3 Những tâm tình đời thường của người dân chài

58 2.3.1 Tâm sự người dân chài bị bắt lính

58 2.3.3 Tâm sự của người phụ nữ qua khúc hát ru con

61 Tiểu kết chương 2 63

Chương 3: NGHỆ THUẬT CỦA CÁC BÀI CA DAO, DÂN CA Ở LÀNG CHÀI VỊNH HẠ LONG TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA

64 3.1 Biểu tượng 64

3.2 Thể thơ 71

3.2.1 Thể thơ lục bát 72

3.2.2 Thể hỗn hợp 74

3.3 Kết cấu 76

3.3.1 Kết cấu đối đáp 76

3.3.2 Kết cấu trần thuật 79

3.4 Ngôn ngữ và biện pháp tu từ

Trang 9

3.4.1 Ngôn ngữ 81

3.4.2 Biện pháp tu từ 83

Tiểu kết chương 3 85

KẾT LUẬN 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quảng Ninh, nơi có kì quan thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long, từ ngàn đời nay

đã có bao gia đình chuyên sinh sống bằng nghề chài lưới Được các hòn đảo chechắn, người dân chài nơi đây, đời nối đời lấy thuyền làm nhà, non xanh nước biếc làquê hương Trong cảnh lênh đênh giữa mây trời non nước, họ có một hình thức sinhhoạt văn hóa tinh thần, một phương thức giao lưu tình cảm độc đáo là tiếng hát Traigái tìm hiểu nhau qua tiếng hát, nên duyên, tổ chức đám cưới cũng bằng tiếng hát…Những lúc nghiêng buồm chèo lái, ra khơi vào lộng, lời ca cất lên chứa đựng biết baođằm thắm, mượt mà, thiết tha, sâu lắng mà vẫn hóm hỉnh, thông minh, đôi khi đáo đểnhưng rất đỗi chân thành, ngân dài vang vọng hòa cùng sóng nước Những lời ca ngọtngào, đằm thắm, tinh tế thấm đẫm nét đẹp của người dân chài Hạ Long, mang đậmbản sắc vùng biển đảo mà không một nơi nào khác có được Những câu ơ hò khỏekhoắn, những làn điệu dân ca da diết rất dễ làm say đắm lòng người, hồn người

Thăm vịnh Hạ Long trong một đêm trăng thanh, giữa mây trời, chợt đâu đóvang vọng trên sóng nước câu hát dân ca chắc chắn sẽ để lại trong lòng mỗi du khách

ấn tượng khó phai về nét văn hóa riêng biệt trong lòng di sản thiên nhiên nơi đây.Văn học dân gian Quảng Ninh rất phong phú về thể loại, gồm: truyền thuyết,truyện cười, ca dao, dân ca, vè, tục ngữ, câu đố Đáng chú ý trong văn học dân gianQuảng Ninh là bộ phận ca dao, dân ca vịnh Hạ Long, hệ thống các bài ca của dânchài sinh sống trên vịnh được xem là thể loại phản ánh rõ nét đặc điểm lịch sử, địa lý,văn hóa, ngôn ngữ và bản sắc con người nơi đây

Với mong muốn góp một phần nhỏ vào chuỗi hoạt động tìm hiểu, giới thiệu,

bảo tồn kho tàng ca dao, dân ca của địa phương, tôi đã chọn đề tài: Ca dao, dân ca ở

làng chài vịnh Hạ Long từ góc nhìn văn hóa làm vấn đề nghiên cứu Qua đề tài này,

chúng tôi hy vọng có thể đem những câu ca dao, dân ca của người dân chài Vịnh HạLong đến với độc giả, giúp họ nhận diện được vẻ đẹp, giá trị của các làn điệu dân catrên biển Từ đó, khơi dậy tình yêu quê hương đất nước từ các giá trị văn hóa mà chaông để lại

Trang 11

2 Lịch sử vấn đề

Ca dao, dân ca Hạ Long nói riêng và Quảng Ninh nói chung được bắt đầu sưutầm từ những năm 70 của thế kỉ XX Hiện nay, theo thống kê chưa đầy đủ cũng đã cótới hàng ngàn bài ca dao, dân ca Quảng Ninh Hàng chục tác giả đã sưu tầm, có tácgiả đã in xuất bản thành sách Trong đó, có thể kể đến các công trình sưu tầm tiêu

biểu như: Ca dao - Dân ca vùng biển Quảng Ninh (2007) của Vũ Thị Gái, Ca dao

vùng mỏ (2010) của Hội văn nghệ dân gian Quảng Ninh phối hợp với Tập đoàn than

khoáng sản Việt Nam, Ca dao, dân ca của dân chài trên vịnh Hạ Long (2016) của Tống Khắc Hài, Một số loại hình ca dao, dân ca ở Quảng Ninh (2016) của Phạm

Văn Học

Ở công trình Ca dao - dân ca vùng biển Quảng Ninh, nhà sưu tầm Vũ Thị Gái

đã sưu tầm được 220 đơn vị tác phẩm, được phân chia thành 7 loại: Cảnh đánh bắt cá(địa danh, ngư trường), tình yêu vùng biển, phong tục nghi lễ đám cưới, hát đối đápkhách đến chơi, thi tài hiểu biết (hát đối vui), tâm tình đôi lứa, phê phán chê trách.Nhà văn Vũ Thảo Ngọc cho rằng: việc phân chia các loại hình một cách bài bản, khoahọc và công phu giúp cho người đọc dễ hiểu, dễ tiếp nhận Bên cạnh việc sưu tầm vàbiên soạn hệ thống các bài ca dao, dân ca vùng biển Quảng Ninh, tác giả Vũ Thị Gáicòn tái hiện quá trình đi sưu tầm văn học dân gian Quảng Ninh gắn với địa danh vàcon người nơi đây Cuốn sách được coi là tư liệu quý giá về ca dao, dân ca vùng biểnnói chung và ca dao, dân ca Quảng ninh nói riêng, góp phần bổ sung, làm phong phúthêm kho tàng ca dao, dân ca Quảng Ninh và ca dao dân ca Việt Nam

Công trình Ca dao vùng mỏ (2010) của Hội văn nghệ dân gian Quảng Ninh phối

hợp với Tập đoàn than khoáng sản Việt Nam sưu tầm và tập hợp được chia làm 2 giaiđoạn chính: giai đoạn trước cách mạng và sau cách mạng Các bài ca trước cách mạngtháng tám năm 1945 đã miêu tả chân thực cuộc sống của công nhân mỏ dưới thờiPháp thuộc Giai đoạn sau cách mạng, công trình ngợi ca ý thức làm chủ lao động,ngợi ca những người thợ mỏ vừa sản xuất vừa chiến đấu với nhiều chiến công hiểnhách

Với tình yêu quê hương, yêu những làn điệu dân ca của người dân chài HạLong và mong muốn giới thiệu với tất cả bạn đọc một loại hình nghệ thuật biểu diễn

Trang 12

Tống Khắc Hài đã biên soạn cuốn Ca dao, dân ca của dân chài trên vịnh Hạ Long

(2016) Bên cạnh việc giới thiệu những điều kiện đặc thù về địa lý, lịch sử và cộngđồng dân chài thuỷ cư trên vịnh Hạ Long; công trình còn sưu tầm được gần 500 đơn

vị tác phẩm tái hiện khá đầy đủ và toàn diện diện mạo của ca dao, dân ca làng chàivịnh Hạ Long với ba loại hình cơ bản là ca dao, hát đối và hát cưới trên thuyền Cadao, dân ca của dân chài trên vịnh Hạ Long là một công trình sưu tầm có quy mô vàgiá trị về một di sản văn hóa đặc biệt đã hình thành và tồn tại từ hàng ngàn năm ởđúng đất kỳ quan của thế giới Tác giả Tống Khắc Hài, trong lời nói đầu của cuốn

sách đã nhận định rằng: “Từ kho tàng văn học dân gian đủ thể loại này, ta không

chỉ thấy cuộc sống lao động và tình yêu nam nữ nơi mênh manh non xanh nước biếc, nơi đầu sóng ngọn gió mà còn thấy những phẩm chất, những tính cách của một giai tầng nghèo khổ nhưng cực kỳ hồn nhiên và chân thành” [18, tr 9]

Dưới góc nhìn của một nhà báo, trong công trình Một số loại hình ca dao dân

ca ở Quảng Ninh (2016), tác giả Phạm Văn Học đã đề cập đến một số loại hình ca

dao, dân ca ở Quảng Ninh, như: Ca dao Vùng mỏ, hát Soóng cọ của người dân tộcSán Chỉ, hát giao duyên trên Vịnh Hạ Long của dân chài, hát Đúm ở Hà Nam (TXQuảng Yên), hát Nhà tơ - Hát múa cửa đình ở các huyện miền Đông, hát Then củangười Tày, hát Sán cô của người Dao Ngoài ra, còn có những bài viết đề cập đếnnhững vấn đề thời sự mang tính báo chí như: Làm thế nào để xây dựng thương hiệuVăn nghệ dân gian Quảng Ninh, làm thế nào để các loại hình văn nghệ dân gian trởthành sản phẩm du lịch

Trên báo điện tử Quảng Ninh, trang “Văn hóa đất và người Quảng Ninh”, tác giảHoàng Long có bài viết “Người đi gom những câu ca trên vịnh Hạ Long”ngày

12/2/2016 Bài báo ghi lại cuộc trò chuyện giữa tác giả với nhà nghiên cứu TốngKhắc Hài khi ông biết tin công trình nghiên cứu “Ca dao - dân ca của dân chài trênvịnh Hạ Long” đã được trao giải nhì, giải thưởng văn nghệ dân gian năm 2015 Trong

cuộc trò chuyện, nhà nghiên cứu Tống Khắc Hài tâm sự: “Kho tàng ca dao, dâm ca

làng chài trên vịnh hạ Long rất lớn, rất đồ sộ Những gì đã in thành sách còn quá ít, quá nhỏ nhoi Vậy mà trong xu thế đô thị hóa hiện nay, nếu không tổ chức sưu tầm, gom nhặt nhanh thì chẳng còn cơ hội nào nữa Những câu ca dao, dân ca của người

Trang 13

dân ở các làng chài tích lũy từ bao đời, nay sẽ theo người già về với cội nguồn mất thôi.” [25, tr 1]

Gần đây nhất, luận văn thạc sỹ “Nhân vật và đối tượng trữ tình trong ca dao

Quảng Ninh” (2017) của Nguyễn Bích Ngọc là một công trình nghiên cứu tương đối

hệ thống và toàn diện về nhân vật và đối tượng trữ tình trong ca dao Quảng Ninh, gópphần giúp người đọc hiểu rõ hơn về đời sống, tâm tư, tình cảm, khát vọng và ướcmuốn của nhân dân lao động xưa, đặc biệt là những người dân sống ở vùng mỏ vàven biển Thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu về các văn bản ca dao ở Quảng Ninh,

tác giả Nguyễn Bích Ngọc cho rằng “Luận văn sẽ làm sống lại hiện thực khách quan

về cuộc sống và tâm tư tình cảm của ông cha ta ngày trước gửi gắm qua các bài ca dao Từ đó, góp phần kết nối giữa quá khứ và hiện tại, giúp cho con người thời nay không quên lịch sử, nguồn cội của quê hương mình, có ý thức giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa nói chung và và văn học dân gian nói riêng” [27, tr 7].

Nhìn chung, các công trình trên chủ yếu đi sâu vào việc sưu tầm các bài cadao, dân ca trong phạm vi tỉnh Quảng Ninh và khai thác ở khía cạnh văn hóa và dulịch; hiện chưa có công trình nào xem xét hệ thống các bài ca dao, dân ca làng chàivịnh Hạ Long từ góc nhìn văn hóa, tức là xem xét sự chi phối, dấn ấn của văn hóahiện hữu trong các bài ca dao, dân ca Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi tiếnhành khảo sát nội dung và nghệ thuật của các bài ca dao, dân ca ở làng chài vịnh

Hạ Long từ góc nhìn văn hóa

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Chọn nghiên cứu Ca dao, dân ca ở làng chài vịnh Hạ Long từ góc nhìn văn hóa,

luận văn hướng tới mục đích nghiên cứu từ góc nhìn văn hóa nhằm hệ thống các bài

ca dân gian đã và đang được lưu truyền ở vùng làng chài Hạ Long về nội dung, nghệthuật, từ đó khẳng định giá trị, sức sống lâu bền và đặc trưng văn hóa biển được thểhiện qua ca dao, dân ca làng chài Qua đó, đóng góp thêm một cách tiếp cận về cadao, dân ca dưới góc nhìn văn hóa, giúp cho việc phân tích và giảng dạy các tác phẩmvăn học dân gian trong nhà trường phổ thông có cơ sở và có sức thuyết phục hơn.Đồng thời, bước đầu đề xuất một số ý kiến góp phần bảo tồn và phát huy những giátrị truyền thống quý báu ấy

Trang 14

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn khái quát những nét cơ bản về vịnh Hạ Long và cộng đồng ngư dânsinh sống ở nơi đây, đồng thời, làm sáng tỏ các cơ sở lý luận nhằm đi sâu nghiên cứu,đánh giá nội dung và nghệ thuật của hệ thống các bài ca dao, dân ca ở làng chài vịnh

Hạ Long từ góc nhìn văn hóa

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống các bài ca dao, dân ca ở làngchài vịnh Hạ Long Việc gọi câu hát dân gian, bài hát dân gian, bài ca, lời thơ dângian, đơn vị tác phẩm trong luận văn này là một, đều chỉ các bài ca dao - dân ca

và nghệ thuật của các bài ca dao, dân ca làng chài vịnh Hạ Long từ góc nhìn văn hóa

về lịch sử văn hóa, xã hội của một cộng đồng trôi nổi với phương thức sống duy nhất

là nghề đánh cá Vì vậy, dù có sự giao thoa, ca dao, dân ca vùng vịnh vẫn tươi róinhững nét đặc thù không lẫn với sản phẩm nghệ thuật của bất cứ miệt biển nào trêndải đất hình chữ S

5.2 Phương pháp thống kê, phân loại

Phương pháp này được sử dụng để thống kê và phân loại hệ thống các bài cadao, dân ca làng chài vịnh Hạ Long ở phạm vi nguồn tư liệu khảo sát đã xác định

Trang 15

5.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Từ kết quả thống kê, phân loại ở trên, phương pháp phân tích, tổng hợp sẽ giúpchúng tôi đưa ra những nhận xét, đánh giá; từ đó khẳng định vai trò, vị trí của loạihình văn học dân gian này trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân vùng biển

Hạ Long

5.4 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Trong quá trình phân tích, tổng hợp, chúng tôi cố gắng so sánh, đối chiếu ca dao,dân ca làng chài vịnh Hạ Long với các thể loại văn học dân gian khác ở Quảng Ninh

và các vùng miền khác nhằm làm rõ những nét tương đồng hay khác biệt trong nhữngtrường hợp cần thiết

5.5 Phương pháp nghiên cứu liên ngành

Dựa trên các tài liệu và văn bản nghiên cứu về ca dao, dân ca làng chài vịnh HạLong nói riêng và ca dao dân ca tỉnh Quảng Ninh hiện có nói chung, chúng tôi kếthợp một số phương pháp: văn hóa học, sử học, địa lý học, dân tộc học, du lịch đểnghiên cứu

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn đưa ra cách tiếp cận mới trên cơ sở vận dụng kiến thức ngôn ngữ vàvăn hóa học vào việc nghiên cứu ca dao, dân ca vùng miền Thông qua việc sưu tầm,tìm hiểu và nghiên cứu về hệ thống các bài ca dao, dân ca làng chài vịnh Hạ Long,luận văn sẽ làm sống lại hiện thực khách quan về cuộc sống và tâm tư, tình cảm củangười dân chài trong các bài ca Từ đó, góp phần kết nối giữa quá khứ và hiện tại, gópphần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa nói chung và văn học dân gian nói riêng.Bên cạnh đó, từ những kết quả khảo sát của đề tài, luận văn đóng góp thêm mộtcách tiếp cận về ca dao, dân ca dưới góc nhìn văn hóa, giúp cho việc phân tích vàgiảng dạy các tác phẩm văn học dân gian trong nhà trường phổ thông có cơ sở và cósức thuyết phục hơn

Một trong những mục tiêu nữa mà luận văn muốn hướng tới là dùng kết quả sưutầm, nghiên cứu để ứng dụng vào việc giảng dạy trong chương trình ngữ văn địaphương ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Hạ Long nói riêng và tỉnh Quảng

Trang 16

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, phụ lục ảnh và thư mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được triển khai thành ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Nội dung của các bài ca dao, dân ca ở làng chài vịnh Hạ Long từ gócnhìn văn hóa

Chương 3: Nghệ thuật của các bài ca dao, dân ca ở làng chài vịnh Hạ Long từ góc nhìn văn hóa

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TẾ CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Khái quát về vịnh Hạ Long và cộng đồng ngư dân ở vịnh Hạ Long

1.1.1 Khái quát về vịnh Hạ Long

Vịnh Hạ Long là một di sản độc đáo chứa đựng những dấu tích quan trọng trongquá trình hình thành và phát triển lịch sử trái đất, là cái nôi cư trú của người Việt cổ;đồng thời, là tác phẩm nghệ thuật tạo hình vĩ đại của thiên nhiên với sự hiện diện củahàng nghìn đảo đá muôn hình vạn trạng, với nhiều hang động kỳ thú quần tụ thànhmột thế giới vừa sinh động vừa huyền bí Bên cạnh đó, vịnh Hạ Long còn là nơi tậptrung đa dạng sinh học cao với những hệ sinh thái điển hình cùng với hàng nghìn loàiđộng thực vật vô cùng phong phú, đa dạng Nơi đây còn gắn liền với những giá trịvăn hóa - lịch sử hào hùng của dân tộc

Là vùng biển đảo nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam, thuộc tỉnh Quảng Ninh,vịnh Hạ Long có diện tích 1.223km², bao gồm 1.969 hòn đảo Phía Bắc và Tây Bắcvịnh Hạ Long kéo dài từ huyện Yên Hưng, qua thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phảđến hết phần biển đảo huyện đảo Vân Đồn; phía Đông Nam và phía Nam giáp bờTây vịnh Bắc Bộ; phía Tây Nam giáp đảo Cát Bà (thành phố Hải Phòng)

Vịnh Hạ Long có dạng địa hình đảo đất, đảo đá vôi xen lẫn với các trũng biển,các vùng bãi triều có sú vẹt mọc Các đảo trên vịnh Hạ Long có độ cao trung bình từ50m đến 200m

Vịnh Hạ Lo n g n ổi bật với hệ thống đảo đá và hang động tuyệt đẹp Đảo ở HạLong có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch, tập trung ở hai vùng chính là vùngphía đông nam vịnh Bái Tử Long và vùng phía tây nam vịnh Hạ Long Đây là hìnhảnh cổ xưa nhất của địa hình có tuổi kiến tạo địa chất từ 250 - 280 triệu năm, là kếtquả của quá trình vận động nâng lên, hạ xuống nhiều lần từ lục địa thành trũng biển.Quá trình Carxto bào mòn, phong hoá gần như hoàn toàn tạo ra một Hạ Long độcnhất vô nhị trên thế giới

Đáy biển vịnh Hạ Long tương đối bằng phẳng, phần lớn là bùn, đôi chỗ là vỏnhuyễn thể pha cát, có độ sâu trung bình từ 5m đến 10m, chỗ sâu nhất từ 20m đến25m là các cửa biển hoặc luồng lạch

Trang 18

Khí hậu Hạ Long mang tính nhiệt đới ẩm, bị phân hóa thành hai mùa rõ rệt:mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều kéo dài, mùa đông lạnh, khô Tuy nhiên, do tính chấtbiển nên khí hậu luôn được điều hòa, nhiệt độ trung bình năm từ 15ºC đến 25ºC.

Về thủy văn, vịnh Hạ Long có chế độ nhật triều điển hình thuần nhất, với biên

độ triều vào loại lớn nhất nước ta từ 0,1 đến 4,6m Độ mặn của nước biển từ 31 đến34,5%, dao động của độ mặn giữa các tháng trong mùa không lớn

Hàng trăm đảo đá, mỗi đảo mang một hình dáng khác nhau hết sức sinh động:hòn Đầu Người, hòn Rồng, hòn Lã Vọng, hòn Cánh Buồm, hòn Trống Mái, hòn LưHương… Tiềm ẩn trong lòng các đảo đá ấy là những hang động tuyệt đẹp gắn vớinhiều truyền thuyết thần kỳ như động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, động Sửng Sốt,hang Trinh Nữ, động Tam Cung… Đó thực sự là những lâu đài của tạo hoá giữa chốntrần gian Từ xưa, Hạ Long đã được đại thi hào dân tộc Nguyễn Trãi mệnh danh là

“kỳ quan đất dựng giữa trời cao”

Các đảo ở vịnh Hạ Long có hai dạng là đảo vôiđá và đảo phiến thạc h , tập trung

ở hai vùng chính là vùng phía Đông Nam vị n h Bái Tử L o ng và vùng phía Tây Namvịnh Hạ Long Theo thống kê của ban quản lý vịnh Hạ Long, trong tổng số 1.969 đảocủa vịnh Hạ Long có đến 1.921 đảo đá với nhiều đảo có độ cao khoảng 200m Cácđảo trên vịnh Hạ Long có những hình thù riêng, không giống bất kỳ hòn đảo nào venbiển Việt Nam và không đảo nào giống đảo nào Trong đó có thể kể tên một số hònđảo nổi tiếng như: Hòn Con Cóc, Hòn Gà Chọi, Đảo Ngọc Vừng, Đảo Ti Tốp, ĐảoTuần Châu Ngoài ra, thiên nhiên cũng ban tặng cho vịnh Hạ Long rất nhiều hangđộng tuyệt đẹp với bề dày kiến tạo từ 2 triệu năm đến 11 ngàn năm như: hang SửngSốt, động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ…

Vịnh Hạ Long đã được xếp hạng di tích danh thắng quốc gia năm 1962, hai lầnđược Unesco công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới (lần thứ nhất năm 1994; lần thứ

2 năm 2000) Khu vực được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới rộng 434km²gồm 775 hòn đảo, giới hạn bởi ba điểm: đảo Đầu Gỗ phía Tây, đảo Công Tây phíaĐông và đảo Đầu Bê phía Nam Năm 2009, vịnh Hạ Long được Thủ tướng Chínhphủ Việt Nam quyết định xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt

Vịnh Hạ Long không chỉ là một tác phẩm điêu khắc hùng vĩ, một trang sử củathiên nhiên ban tặng cho con người, mà trong đó còn chứa nhiều giá trị, tiềm năng lớn

Trang 19

về lịch sử văn hóa, đa dạng sinh học, du lịch, giao thông cảng biển, thủy hải sản Trong đó, văn hóa của cộng đồng ngư dân sinh sống trên vịnh là một nét đẹp truyềnthống mang những đặc trưng tiêu biểu của con người nơi đây, tạo nên bản chất conngười Hạ Long với một bản sắc riêng biệt.

1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của cộng đồng ngư dân trên vịnh Hạ Long

Địa chí Quảng Ninh có viết: “Vào thời tiền sử (cách nay khoảng 18.000 năm

đến 7.000 năm), khi Hạ Long còn là môi trường lục địa, ở đây đã có bộ phận cư dân

cổ thuộc nền văn hóa Soi Nhụ cư trú, sinh sống trong các hang động trên núi đá vôi (nay là các đảo đá trên vịnh Hạ Long và Bái Tử Long), với phương thức sinh sống chính là săn bắn và hái lượm” [34; tr.15].

Bước sang giai đoạn văn hóa Cái Bèo (cách ngày nay từ 7.000 đến 5.000 năm),khi mực nước biển dâng cao, con người tiền sử đã phải di dời đến khu vực cao hơn vàbắt đầu thích nghi với môi trường biển, mặc dầu còn ở hình thức sơ khai

Tiếp đến giai đoạn văn hóa Hạ Long (cách ngày nay từ 5.400 đến 3.500 năm)phương thức sinh sống chủ yếu của cư dân Hạ Long là khai thác nguồn hải sản ven

bờ theo phương thức đánh bắt truyền thống, kết hợp săn bắt, hái lượm tự nhiêntrên các đảo, núi đá Họ lợi dụng các dòng sông, luồng lạch và con nước đầunguồn để thu lượm hải sản; cư dân nơi đây đã biết chế tác các công cụ đá mangđặc trưng nổi tiếng của nền văn hóa Hạ Long như: rìu, bôn có vai, có nấc độc đáo

để nâng cao năng suất trong việc kiếm sống Ngoài ra, họ còn biết chế tạo đồ gốmmang tính chất biển rõ nét với nguyên liệu được pha trộn vỏ nhuyễn thể để phục

vụ đời sống sinh hoạt Các di vật: xương cá, chì lưới được tìm thấy ở các di chỉkhảo cổ cũng đã chứng minh rằng cư dân nơi đây còn biết tới nghề trồng trọt,trồng cây lấy sợi để se sợi đan lưới hoặc dây dâu để bắt cá Mặt khác, khi nướcbiển dâng cao, cả khu vực trở thành biển đảo thì con người đã biết dùng các bộcông cụ bằng đá độc đáo để chế tạo ra những phương tiện đi biển để có thể dichuyển phù hợp với môi trường cư trú của mình

Đầu thế kỉ XIX, cộng đồng ngư dân vạn chài ở vùng Cửa Lục tập trung chủ yếutại hai làng thủy cư là Giang Võng (thuộc tổng An Khoái, huyện Hoành Bồ, phủ Hải

Trang 20

Đông, trấn An Quảng, nay thuộc phường Hà Khánh, TP Hạ Long) và Trúc Võng(thuộc tổng Vạn Yên, huyện Hoành Bồ nay thuộc phường Bãi Cháy, TP Hạ Long).

Từ năm 1946, phần lớn người dân ở hai làng Giang Võng và Trúc Võng đã dichuyển ra vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long (nay thuộc huyện Vân Đồn, Quảng Ninh)

để cư trú và sinh sống

Năm 1948, huyện đảo Cẩm Phả được thành lập (tách ra khỏi thị xã Cẩm Phả).Cũng thời gian này, các xã Thắng Lợi (thuộc huyện Cẩm Phả, nay thuộc huyện VânĐồn), Thành Công (thuộc huyện Hoành Bồ nay thuộc phường Cao Xanh, thành phố

Hạ Long) và Hùng Thắng (thuộc thành phố Hạ Long) ra đời, là nơi tập trung dân chàiphiêu bạt từ nhiều nơi đến cư trú

Sau khi hòa bình lập lại, năm 1955, phần lớn ngư dân làng chài ở các xã ThànhCông, Hùng Thắng trở về vùng vịnh Hạ Long sinh sống Chính quyền địa phương đãlập ra các hợp tác xã để tập hợp dân chài, nhằm tập trung sản xuất, nâng cao đời sống

và đảm bảo an ninh quốc phòng

Năm 1959 - 1960, trong cao trào hợp tác hóa để nâng cao tổ chức sản xuất vàđời sống văn hóa xã hội, các làng chài được vận động lên định cư trên đất liền Thờigian đầu ở bãi biển Khe Cá thuộc thị trấn Hà Tu, về sau tập trung tại bãi biển Cọc 5.Sau đó tiếp tục chuyển về xã Hùng Thắng, lập thành hai hợp tác xã Quyết Thắng vàChiến Thắng Trong thời gian vào hợp tác xã, họ làm nhà trên bờ nhưng vẫn thườngxuyên xuống thuyền sinh sống Khi hợp tác xã giải tán, họ chuyển xuống thuyền sốngthủy cư

Năm 1963, xã Hùng Thắng có các thôn Cửa Vạn, Cặp Dè, Cặp La ở giữa vịnh

Hạ Long và các thôn Lán Bè, Cọc Năm ở sát ven bờ

Đối với các làng chài sống thủy cư trên mặt biển, chủ yếu là cư dân của xãHùng Thắng Ngoài ra còn có các hộ gia đình là cư dân các vùng khác đến đây sinhsống và làm ăn dựa vào sự phong phú của nguồn lợi thủy hải sản Những hộ cư dânnơi đây tập trung chủ yếu ở bãi biển Cọc 5 và thôn Vông Viêng

Ở xã Hùng Thắng (nay là phường Hùng Thắng) ngoài dân gốc chủ yếu là dânlàng Giang Võng, Trúc Võng xưa, còn có dân ở các vùng khác trong tỉnh và ngoàitỉnh đến sinh cơ lập nghiệp như: Hà Nam, Thái Bình, Thanh Hóa,

Trang 21

“Hiện nay, trên vịnh Hạ Long có sáu làng chài thủy cư (đều thuộc phường Hùng Thắng) gồm: Cửa Vạn, Vông Viêng (Vung Viêng), Cống Tàu, Ba Hang, Hoa Cương và Cống Đầm Trong đó, Cửa Vạn là làng chài lớn nhất” [5; tr 1].

1.2 Khái niệm ca dao, dân ca và khái quát chung về ca dao, dân ca làng chài vịnh Hạ Long

1.2.1 Khái niệm ca dao, dân ca

Ca dao, dân ca, xét về góc độ tư duy của dân tộc, là tấm gương bức xạ hiện thựckhách quan của mỗi dân tộc với lối sống, điều kiện sống và những phong tục tập quánriêng Nghiên cứu về ca dao, dân ca không chỉ cho thấy những nét đẹp văn hóa củangười Việt Nam mà còn làm nổi bật lên tinh thần lạc quan, yêu đời, yêu người thiếttha Có thể nói, ca dao, dân ca chính là kết tinh thuần tuý của tinh thần dân tộc, là nétđẹp trong văn hóa dân gian Việt Nam

Với cội nguồn lịch sử và chữ viết rất phong phú đa dạng nên ca dao và dân ca

có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, cách chúng ta khoảng trên dưới 2.500 năm Phó Giáo

sư, Tiến sỹ Đặng Văn Lung, Trưởng Ban Văn học dân gian, Viện Văn học phát

biểu: "Tất cả các dân tộc trên thế giới suốt mấy nghìn năm chỗ nào cũng có dân ca

và ca dao Vì thế nói về ca dao dân ca của một dân tộc hay ca dao dân ca nói chung

là vấn đề rất lớn Nó tồn tại rất lâu, từ hàng ngàn năm trước và như các nhà khoa học nghiên cứu trước đây, các học giả đã nói ca dao ra đời khi trong lòng mình có những điều muốn thể hiện ra, muốn nói lên Những điều đó được gọi là ca dao".

Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu về ca dao, dân ca; trong đó, có một số cáchhiểu phổ biến như sau:

Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt, "ca dao là thơ ca dân gian được truyền miệng

dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định, thường phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ, dễ thuộc Ca dao là thể loại văn vần, thường làm theo thể thơ lục bát" [32; tr 132].

Nguyễn Xuân Kính cho rằng: "Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ

biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bền vững trong phong cách Và ca dao đã thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian" [23; tr 56].

Trang 22

Từ điển thuật ngữ văn học, (Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi)

viết: "Ca dao còn gọi phong dao Thuật ngữ ca dao được dùng với nhiều nghĩa rộng

hẹp khác nhau Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu Ca dao là danh từ ghép chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu Trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca" [19; tr.31].

Theo Tục ngữ ca dao, dân ca, (Vũ Ngọc Phan chủ biên): "Ca dao là một loại

thơ dân gian có thể ngâm được như các thể thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu dân ca" [28; tr.42].

Văn học dân gian Việt Nam, (Đinh Gia Khánh - Chu Xuân Diên - Võ Quang

Nhơn): "Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán - Việt Theo cách hiểu thông thường thì ca

dao là lời của các bài hát dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy… hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể “bẻ” thành những làn điệu dân ca" [22; tr.436].

Cũng đưa ra định nghĩa về ca dao, dân ca; Cuốn Ngữ văn 7, (Nguyễn Khắc Phi,

chủ biên) còn phân biệt rõ hai thể loại này: "Dân ca là những sáng tác kết hợp lời và

nhạc, tức là những câu hát dân gian trong diễn xướng Ca dao là lời thơ của dân ca Khái niệm ca dao còn được dùng để chỉ một thể thơ dân gian - thể ca dao" [33; tr.35].

Từ những cách hiểu trên, có thể khái quát lại: Ca dao, dân ca là khái niệm dùng

để chỉ những sáng tác trữ tình dân gian, diễn tả đời sống nội tâm của con người Cadao là phần lời của dân ca; là những bài thơ dân gian mang phong cách nghệ thuậtchung với lời thơ dân ca Dân ca là những sáng tác kết hợp lời và nhạc Nói đến dân

ca là nói đến môi trường và các hình thức diễn xướng (dân ca quan họ Bắc Ninh; hát

ví, hát dặm Nghệ Tĩnh, )

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng hai thuật ngữ ca dao, dân ca đi liền vớinhau vì bản t h ân ca d ao chính là thể loại t h ơ ca dân gian đ ược truyền miệng dướidạng những câu hát không theo một điệu nhất định, thường phổ biến theo thể thơ lụcbát cho dễ nhớ, dễ thuộc Ca dao là một từ H án V i ệt, theo từ nguyên, ca là bài hát cóchương khúc, giai điệu; dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc Bởivậy, đôi khi giữa hai thể loại này không có ranh giới và sự phân biệt một cách rànhrọt, rõ ràng Đặc biệt, ca dao, dân ca làng chài vịnh Hạ Long là những khúc ca, bài ca

Trang 23

được sản sinh trong môi trường lao động ngư nghiệp, trong quá trình diễn xướng sôiđộng của đời sống thợ thuyền Có khi, những câu ca dao vừa sáng tác lập tức đượccất thành lời ca giữa mênh mông sóng nước Hạ Long Khi ấy, ca dao và dân ca songtrùng với nhau, cùng thể hiện những đặc trưng văn hóa tinh thần của người dân chàinơi đây.

1.2.2 Khái quát chung về ca dao, dân ca làng chài vịnh Hạ Long

Nhà nghiên cứu Tống Khắc Hài từng nhận định: “Mỗi dân tộc, mỗi cộng

đồng người đều có một nền văn hoá dân gian mang giá trị đặc trưng Riêng ở Quảng Ninh, có một cộng đồng khá đặc biệt, họ có một đời sống văn hoá hoà quyện với thiên nhiên, phản chiếu vào ca dao, dân ca, tạo nên giá trị vô giá về nhiều mặt, rất cần được nghiên cứu, đánh giá, bảo tồn và phát huy Đó là kho tàng ca dao, dân ca - giá trị văn hóa đặc hữu của dân chài vùng vịnh Hạ Long - những cộng đồng thủy cư từng có cả ngàn năm sinh sống ở đ ây” [18, tr 9].

Là hậu duệ của 3 nền văn hóa tiền sử (Soi Nhụ, Cái Bèo, Hạ Long cách nay từ20.000 đến 4.500 năm), ca dao dân ca của dân chài Hạ Long là sự tích hợp về lịch sửvăn hóa, xã hội của một cộng đồng thủy cư với phương thức sống duy nhất là nghềđánh cá Cũng như phương thức sinh hoạt văn hóa duy nhất là ngâm vịnh, diễnxướng Ngôn ngữ ca dao trở thành bộ phận không thể tách rời của dân ca Đó lànhững gì tinh túy nhất của nghệ thuật và tinh thần được dân gian sàng lọc và lưu giữ

Vì vậy, dù có sự giao thoa, ca dao dân ca vùng vịnh vẫn tươi rói những nét đặc thùkhông lẫn với sản phẩm nghệ thuật của bất cứ miệt biển nào trên dải đất hình chữ S.Người dân chài trên vịnh Hạ Long sống trong cảnh nước non kỳ ảo lênh đênhtrôi dạt, mỗi con thuyền là một hộ gia đình, tùy theo sóng gió, tùy theo nghề chài lướihay cắm đăng, cắm đọn, hay buông câu thả bóng mà nay đây mai đó Họ phải phântán để làm ăn, mưu sinh nên mỗi dịp gặp nhau, ai cũng muốn cởi lòng mình một cáchchân thành, tha thiết Họ mượn những lời ca, tiếng hát để giãi bày, tâm sự, để gìn giữnhững phong tục cổ truyền Ông Tống Khắc Hài - nhà sưu tầm văn hóa dân gian,người từng đi tiên phong trong việc tìm kiếm, phát hiện ca dao, dân ca làng chài vịnh

Hạ Long bình luận: "Nó trần trụi, bạo liệt, sống động, tình tứ và thênh thang như

chính cuộc sống của những con người sinh ra trong trời nước" [18, tr 8].

Trang 24

Khảo sát 720 bài ca ở các công trình nghiên cứu, sưu tầm và một số bài ca cònlưu truyền trong dân gian qua quá trình điền dã tại vịnh Hạ Long, chúng tôi thấy rằng,các bài ca dao, dân ca làng chài có nội dung rất phong phú, thể hiện những tâm tìnhđời thường của người dân biển, đó là tình yêu đôi lứa, yêu biển, yêu nghề biển, tâmtình người lính và những khúc hát nghi lễ, đặc biệt là phong tục hát cưới trên thuyền(bao gồm các màn hát ngõ khách, hát ngõ cheo, hát ngõ hoa; hát đối, hát đố) Về mặtnghệ thuật, đáng lưu ý ở bộ phận văn học dân gian này là những biểu tượng gắn liềnvới văn hóa tinh thần và đời sống lao động của người dân làm nghề chài lưới Cũngchính cuộc sống lao động giữa mênh mông sóng nước đã sản sinh ra nghệ thuật diễnxướng với kết cấu đối đáp, trần thuật để trao gửi tâm tư tình cảm.

Sống giữa một thiên nhiên khoáng đạt và diễm lệ, hiển nhiên ca dao dân ca củadân chài vùng vịnh luôn xuất hiện vô số những chuỗi ngọc long lanh như sự sống, gợi

cảm một cách tế vi: “Hỡi nàng con mắt lá răm/ Vào trong cheo lưới ta nằm với nhau/

Cheo rách thì để gối đầu/ Cheo lành để đắp, cheo rầu buộc lưng”; “Nhất thơm trà mạn nước mưa/ Nhất ngon là gái xe tơ mạn thuyền”; “Anh câu vớ được chị chài/ Mỗi đêm một lứa như khoai gậm giường” Cũng chỉ ở không gian tự do này, người

ta mới có thể hát được với nhau: “Thuyền chật em giải chiếu ngang/ Em thì nằm

giữa, hai chàng hai bên”…

Cùng với ca dao là dân ca với rất nhiều các hình thức diễn xướng: Hát chèođường, hát đối, hát giao duyên, hát kể chuyện Trong hát cưới gồm cả hát ngõ khách,hát ngõ cheo, hát ngõ hoa; hát đối, hát đố theo phương thức ứng tác hết sức uyển

chuyển, thông minh: “Tương phùng nhắn với tương tri/ Chim gì một cánh bay đi tít

trời?”/ “Tương phùng nhắn với tương tri/ Cánh buồm một lá bay đi tít trời”; “Cái gì

mà cao hơn trời/ Mà sâu hơn bể, mà dài hơn tơ?”/ “Trán người thì cao hơn trời/ Lòng sâu hơn bể, đường dài hơn tơ” Quả thật là một kho tàng nghệ thuật vô tận.

Có thể thấy rằng, ca dao, dân ca làng chài vịnh Hạ Long là những bài ca ngọtngào, đằm thắm mà chủ nhân của chúng chính là những ngư dân làng chài đời nối đờisinh ra trên những con thuyền lênh đênh sóng nước, trưởng thành và lập nghiệp gắnliền với biển và nghề đi biển Vì thế, có thể thấy phong vị biển đậm đà từ nội dungphản ánh đến các phương diện nghệ thuật trong các bài ca ấy Đó là bức tranh đẹp,

Trang 25

sinh động về cảnh biển, đời sống sinh hoạt của người dân làng chài, là tình yêu, niềm

tự hào và cả nỗi nhọc nhằn chất chứa của những người làm nghề đi biển Hình ảnhcon thuyền và các loài sinh vật biển xuất hiện thường xuyên như một dấu ấn, mộtđiểm nhấn Thể thơ và kết cấu đa dạng, nhiều vẻ đã góp phần tạo ra nét riêng đặc sắcthể hiện phong vị của ca dao, dân ca vùng biển Khám phá vẻ đẹp lấp lánh của nhữnglời ca ấy chính là góp phần vào việc gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa truyền thốngtrong đời sống đương đại

Tóm lại, có thể hiểu rằng, ca dao, dân ca làng chài vịnh Hạ Long là khái niệmdùng để chỉ những sáng tác trữ tình dân gian do người dân làng chài vịnh Hạ Longsáng tạo ra hoặc được lưu truyền từ các địa phương khác nhưng được người dân chài

sử dụng và biến đổi cho phù hợp với thực tiễn đời sống và lao động sản xuất để diễn

tả đời sống nội tâm của người dân chài nơi sóng nước Hạ Long (do đó, ta thấy xuấthiện các từ địa phương của các vùng miền khác trong ca dao, dân ca làng chài vịnh

Hạ Long) Ca dao là phần lời của dân ca; là những bài thơ dân gian mang phong cáchnghệ thuật chung với lời thơ dân ca Dân ca Hạ Long là những sáng tác kết hợp lời vànhạc (Bao gồm hát đúm, hát chèo đường, hát cưới trên thuyền)

1.3 Khái niệm văn hóa, mối quan hệ giữa văn học & văn hóa và hướng nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa

1.3.1 Khái niệm văn hóa

Văn hóa là khái n i ệ m m ang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liênquan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con ng ư ời Từ tương ứngvới văn hóa theo ngôn ngữ của ph ư ơng T â y có nguồn gốc từ các dạng của động

từ

trong trồng trọt; hai là cầu cúng Từ văn hóa trong tiếng Việt là từ gốc Nhật, ngườiNhật dùng từ này để định nghĩa cách gọi văn hóa theo phương tây Trong cuộc sốnghàng ngày, văn hóa thường được hiểu là văn học,n g hệ thu ậ t như thơ ca, m ỹ thuật, khấu,sân đ i ệ n ả nh Các "trung tâm văn hóa" có ở khắp nơi chính là cách hiểunày Một cách hiểu thông thường khác: văn hóa là cách sống bao gồm phong cách ẩ m th

ự c, trang phục, cư xử và cả đức tin, tri t h ứ c đ ược tiếp nhận Vì thế chúng ta nóimột người nào đó là văn hóa cao, có văn hóa hoặc văn hóa thấp, vô văn hóa

Trang 26

Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cáchnhìn nhận và đánh giá khác nhau Ngay từ năm 1 9 52, hai nhà nhân loại học

M ỹ là Al f red Kro e ber và C l y d e K l uckh o hn đã từng thống kê có tới 164 địnhnghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới Văn hóa được đềcập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như tộcdân họ c , â n l o ạinh họ c , d â n gi a n học,địa văn hóa họ c , v ăn hóa họ c , xã h ộ i họ c , … và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đóđịnh nghĩa về văn hóa cũng khác nhau

Trong n h â n l o ạ i h ọ c v à x ã h ộ i họ c , khái niệm văn hóa được đề cập đến theomột nghĩa rộng nhất Văn hóa bao gồm tất cả mọi thứ vốn là một bộ phận trong đờisống con người Văn hóa không chỉ là những gì liên quan đến t i n h t h ầ n m à bao gồm

Khi nghiên cứu quy luật vận động và phát triển của xã hội loài người, C.Mác vàPh.Ăngghen đã khái quát các hoạt động của xã hội thành hai loại hình hoạt động cơbản là "sản xuất vật chất" và "sản xuất tinh thần" Do đó, văn hóa bao gồm cả văn hóavật chất và văn hóa tinh thần

Trong tiếng việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức, lốisống Theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn Trong khitheo nghĩa rộng, thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại, chođến tín ngưỡng, phong tục, lối sống

Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam

-Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông

tin, xuất bản năm 1998, thì: "Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con

người sáng tạo ra trong lịch sử" [47; tr.94].

Cuốn Xã hội học Văn hóa của Đoàn Văn Chúc, Viện Văn hóa và Nhà xuất bản

Văn hóa - Thông tin, xuất bản năm 1997, tác giả cho rằng: "Văn hóa - vô sở bất tại:

Văn hóa - không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con

Trang 27

người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa; nơi nào có con người nơi đó có văn hóa" [6; tr.53].

Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho

rằng: "Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người

sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình" [39; tr.67].

Năm 2002, Unesco đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa nên được

đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về t â m hồ n , vật chất,t r i th

ứ c và xúc c ả m của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng,ngoài văn học và nghệ thuậ t , cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giátrị, tr u y ền t hống và đức tin

Tóm lại, Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triểntrong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vàoviệc tạo nên con người, duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từthế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo vàphát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa làtrình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hìnhthức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất vàtinh thần mà do con người tạo ra

1.3.2 Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa

Văn học, nghệ thuật cùng với triết học, chính trị, tôn giáo, đạo đức, phong tục…

là những bộ phận hợp thành của toàn thể cấu trúc văn hoá Nếu văn hoá thể hiện quanniệm và cách ứng xử của con người trước thế giới, thì văn học là hoạt động lưu giữnhững thành quả đó một cách sinh động nhất Để có được những thành quả quả đó,văn hoá của một dân tộc cũng như của toàn thể nhân loại từng trải qua nhiều chặngđường tìm kiếm, chọn lựa, đấu tranh và sáng tạo để hình thành những giá trị trong xãhội Văn học vừa thể hiện con đường tìm kiếm đó, vừa là nơi định hình những giá trị

đã hình thành Cũng có thể nói, văn học là văn hoá lên tiếng bằng ngôn từ nghệ thuật.Văn học biểu hiện văn hoá, cho nên văn học là tấm gương của văn hoá Trongtác phẩm văn học, ta tìm thấy hình ảnh của văn hoá qua sự tiếp nhận và tái hiện của

Trang 28

nhà văn Đó là bức tranh văn hoá dân gian trong thơ Hồ Xuân Hương (tục ngữ, câu

đố tục giảng thanh, trò chơi…), là những vẻ đẹp của văn hoá truyền thống trongtruyện ngắn và tuỳ bút Nguyễn Tuân (hoa thuỷ tiên, nghệ thuật pha trà, thư pháp…),

là những tín ngưỡng, phong tục trong tiểu thuyết Mẫu Thượng ngàn của Nguyễn

Xuân Khánh (đạo Mẫu và tín ngưỡng phồn thực, tục thờ Thần Chó đá, Thần Cây đa,Thần Thành hoàng, cách lên đồng, hát chầu văn, tục kết chạ, ma chay, cưới hỏi…).Tác phẩm văn học còn dẫn ta đi đến những nguồn mạch sâu xa của văn hoá qua việc

lý giải tấn bi kịch lịch sử trong kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng hay cốt cách

người nông dân được đào luyện qua những biến thiên cách mạng trong các truyện

ngắn Khách ở quê ra và Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu.

Theo nhà lý luận phê bình văn học Huỳnh Như Phương, văn hoá tác động đếnvăn học không chỉ ở đề tài mà còn ở toàn bộ bầu khí quyển tinh thần bao bọc hoạtđộng sáng tạo của nhà văn và hoạt động tiếp nhận của bạn đọc Bản thân nhà văn vớithế giới nghệ thuật của mình là một sản phẩm văn hoá Người đọc, với chân trời chờđợi hướng về tác phẩm, cũng được rèn luyện về thị hiếu thẩm mỹ trong một môitrường văn hoá nhất định Chính không gian văn hoá này chi phối cách xử lý đề tài,thể hiện chủ đề, xây dựng nhân vật, sử dụng thủ pháp nghệ thuật… trong quá trìnhsáng tác; đồng thời cũng chi phối cách phổ biến, đánh giá, thưởng thức… trong quátrình tiếp nhận Một nền văn hoá cởi mở, bao dung mới tạo điều kiện thuận lợi chovăn học phát triển Vì vậy, có thể nói văn học là thước đo, là “nhiệt kế” vừa lượngđịnh, vừa kiểm nghiệm chất lượng và trình độ văn hoá của một xã hội trong một thờiđiểm lịch sử nhất định

Giữa văn học và văn hoá có mối quan hệ hữu cơ mật thiết như vậy, nên việc tìmhiểu văn học dưới góc nhìn văn hoá là một hướng đi cần thiết và có triển vọng Cùngvới những cách tiếp cận văn học bằng xã hội học, mỹ học, thi pháp học…, cách tiếpcận văn học bằng văn hoá học giúp chúng ta lý giải trọn vẹn hơn tác phẩm nghệ thuậtvới hệ thống mã văn hoá được bao hàm bên trong nó Những yếu tố văn hoá liên quanđến thiên nhiên, địa lý, lịch sử, phong tục, tập quán, ngôn ngữ… có thể được vậndụng để cắt nghĩa những phương diện nội dung và hình thức của tác phẩm

Trang 29

Cách tiếp cận văn hoá học như vậy thực chất là đặt văn học trong không gianvăn hoá với những đặc trưng của nó đã thâm nhập một cách tinh vi vào thế giới sángtạo nghệ thuật của nhà văn Một mặt, những giá trị từ nguồn văn hoá truyền thống rìrầm chảy trong mạch ngầm của nó và thấm vào thế giới hình tượng và ngôn từ củatác phẩm mà đôi khi chủ thể sáng tạo không ý thức một cách tự giác Mặt khác,những giá trị văn hoá mới hình thành vào lúc đương thời không thôi cám dỗ, kêu gọi,thách thức, đòi hỏi nhà văn phải trả lời, trực tiếp hay gián tiếp, bằng ngôn ngữ nghệthuật trong tác phẩm của mình.

Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, nếu văn hoá chi phối hoạt động và sự phát triểncủa văn học, thì ngược lại, văn học cũng tác động đến văn hóa, hoặc trên toàn thể cấutrúc, hoặc thông qua những bộ phận hợp thành khác của nó Những nhà văn tiênphong của dân tộc bao giờ cũng là những nhà văn hoá lớn Bằng nghệ thuật ngôn từ,

họ đấu tranh, phê phán những biểu hiện phản văn hoá, đồng thời khẳng định nhữnggiá trị văn hoá dân tộc, nhân bản và khai phóng Dù là phản ứng trước những làn sóngvăn hoá tiêu cực hay cổ vũ cho sự tiếp biến văn hoá, giới trí thức sáng tác tinh hoabao giờ cũng là những người tiên phong mở ra hướng nhìn về vận hội mới của vănhoá dân tộc

1.3.3 Hướng nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa, văn hóa biển vùng vịnh Hạ Long

1.3.3.1 Hướng nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa

Lịch sử nghiên cứu văn học đã chỉ ra rằng, có nhiều con đường, cách thức khácnhau để tiếp cận một tác phẩm văn học như: xã hội học, nghệ thuật học, thi pháp học,văn hóa học Trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu chuyên biệt, mỗi góc nhìn đều có giá trịbình đẳng, cần thiết, bổ sung cho nhau và không loại trừ nhau Tính hiệu quả, tính ưuviệt của mỗi cách tiếp cận được quy định bởi cách người nghiên cứu có xác định đúngđối tượng, phạm vi nghiên cứu thích hợp và vận dụng, xử lý mối quan hệ giữa chúngvới mục tiêu đặt ra Do vậy, cần có một cái nhìn toàn cảnh về góc nhìn văn hóa xuấtphát từ yêu cầu của thời đại, đáp ứng và thừa nhận tác phẩm văn học như một bộ phậncủa văn hóa Việc xem xét và vận dụng sự đa dạng của nhiều góc nhìn là cần thiết

Trang 30

Góc nhìn văn hóa cho phép người đọc định vị được chỗ đứng của nhà văn trongdòng chảy lịch sử văn hóa - văn học dân tộc Bởi suy cho cùng, các tác giả dân gian

và mỗi nhà văn tồn tại như một nhân cách của nền văn học cụ thể Những sáng tạođích thực của họ sẽ có những đóng góp nhất định cho một cộng đồng văn hóa, caohơn là cho dân tộc và nhân loại Văn hoá không bao giờ là một hiện tượng thuần nhất

Sự đan xen văn hoá có khi dẫn đến sự pha tạp, trộn lẫn, nhưng cũng có thể dẫn đến sựkết tinh, chưng cất nên những giá trị mới Về mặt thời gian, khi cái cũ chưa chuyểngiao sang cái mới, văn học có thể là nơi hội tụ của những tìm tòi cho sự chuẩn bịchuyển tiếp thời đại Còn về mặt không gian, khi một địa bàn trở thành ngả ba đườngcủa sự giao lưu văn hoá, thì văn học có thể là nơi hoà giải của những xung đột tinhthần, nhằm tìm một tiếng nói cho sự chung sống giữa các nhóm người

Tiếp nữa, góc nhìn văn hóa cho phép ta nhận thức sáng rõ các yếu tố cấu thànhcủa các hiện tượng văn học trong mối liên hệ đa chiều với các hiện tượng văn hóakhác Có một thực tế không thể phủ nhận, tác phẩm văn học không chỉ có mối liên hệ

ý nghĩa giữa các yếu tố nội bộ bên trọng, ở bề mặt mà còn nằm ở mối liên kết liênvăn bản Thêm nữa, góc nhìn văn hóa không chỉ cần thiết cho việc nghiên cứu vănhọc trong nước mà còn vô cùng cần thiết với việc nghiên cứu văn học nước ngoài.Sau cùng, với góc nhìn văn hóa, chúng ta sẽ có trong tay bộ “công cụ” khai mởnhững cấp độ ý nghĩa mới mẻ, như một chìa khóa giải quyết cái khó của người nghiêncứu văn học trong quá trình lý giải các hiện tượng văn học đặc biệt

Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa ngoài việc đứng vững trên nguyên tắcchung, mỗi người tiếp cận có thể chọn cho mình một bộ công cụ phù hợp với từngtrường hợp cụ thể Có người đã vận dụng trường phái văn hóa lịch sử của HippolitTaine (1828 - 1895) để cắt nghĩa tác phẩm văn học, có người lại đứng vững trên tinhthần của tâm lý học, xã hội học văn hóa Vận dụng các xu hướng nghiên cứu là cầnthiết, nhưng không có nghĩa là sẽ vận dụng một cách máy móc, cơ học theo lối “bắtvít” Nghiên cứu ca dao, dân ca làng chài vịnh Hạ Long, chúng tôi chọn trong tay bộcông cụ, đó là cách nhìn thể loại văn học dân gian này từ giá trị văn hóa và biểutượng văn hóa

Trang 31

1.3.3.2 Văn hóa biển vùng vịnh Hạ Long

Vịnh Hạ Long, nơi không chỉ được thiên nhiên ban cho vẻ đẹp thiên nhiên hùng

vĩ mà còn là mảnh đất ghi dấu những giá trị văn hóa từ thời tiền sử và cho đến nay nétvăn hóa Hạ Long vẫn còn được lưu giữ, bảo tồn trở thành một trong những vẻ đẹpđặc trưng mà nhiều du khách khi đến với Hạ Long mong muốn được khám phá và tìmhiểu Hạ Long có nền văn hóa từ lâu đời, ẩn sâu trong từng di tích, từng phong tục tậpquán, từng lễ hội truyền thống và từng thế hệ con người Trong số đó, nét đẹp văn hóalàng chài ở Hạ Long như làng chài Cửa Vạn, làng chài Vung Viêng, làng chài BaHang,… đã để lại ấn tượng sâu sắc cho nhiều du khách, khiến những ai từng có dịpkhám phá nét văn hóa ấy đều nhớ mãi chẳng thể quên

Văn hóa Hạ Long gắn liền với lịch sử, với thắng cảnh thiên nhiên và với conngười từ thuở sơ khai cách đây vài thiên nhiên kỷ Những giá trị quý báu của văn hóalàng chài vẫn được các thế hệ con cháu nối tiếp bảo tồn, lưu giữ đến ngày nay Khácvới vùng biển khác trên đất nước Việt Nam thường có sóng to gió lớn, vịnh Hạ Longvới hàng ngàn hòn đảo như bức tường thành ngăn sóng và bão lớn Với điều kiện nhưthế, thuyền bè đi lại trên biển nhẹ tựa như trong ao hồ trên đất liền Ở các vùng biểnkhác, tàu và thuyền đánh cá chỉ dành cho đàn ông khỏe mạnh, nhưng ở Hạ Long tàuthuyền không chỉ là phương tiện đánh cá mà còn là nhà của họ, là nơi ăn ngủ và cảthờ cúng tổ tiên Những người dân chài trên vịnh Hạ Long gắn bó cả cuộc đời vớinhững con thuyền của họ từ khi sinh ra, lớn lên, lấy vợ gả chồng và cho đến cả khi trở

về cõi vĩnh hằng

Đặt chân đến một trong những làng chài xinh đẹp nhất trong vùng vịnh HạLong, du khách sẽ có cơ hội khám phá vẻ đẹp thiên nhiên kỳ vĩ và những giá trị vănhóa quý báu ở nơi đây Làng chài Cửa Vạn như một kỳ quan độc đáo do chính bàntay con người tạo ra, hội tụ vẻ đẹp cổ kính, duyên dáng và lưu giữ nền văn hóa truyềnthống đặc trưng

Cách cảng tàu du lịch Bãi Cháy 20km về phía nam Vịnh Hạ Long, Trung tâmVăn hoá nổi Cửa Vạn nằm ngay trong khu vực làng chài Cửa Vạn Đây là một trongnhững điểm du lịch hấp dẫn, với nhiều nét đẹp văn hoá cũng như phong tục tập quánmang đậm sắc thái vùng biển của một cộng đồng ngư dân sinh sống trên Vịnh đã và

Trang 32

đang được bảo tồn, gìn giữ Dạo thăm những làng chài Cửa Vạn và những làng chàikhác ở Hạ Long, du khách sẽ thấy được nhịp sống mộc mạc, giản dị và êm đềm củangư dân nơi đây Cuộc sống của họ êm ả, thanh bình và an yên biết nhường nào! Dẫucho cuộc sống đó vẫn còn đó những vất vả, khó khăn và thiếu thốn nhưng nét văn hóađặc trưng truyền thống của cư dân làng chài vẫn luôn hiện diện trong cuộc sốngthường nhật với đời sống vật chất và phương thức kiếm sống của họ Bên cạnh đó, vẻđẹp văn hóa ấy còn có cả trong tâm linh, cuộc sống tinh thần và cả những khi kết bạn,dựng vợ gả chồng, tổ chức lễ hội, những trò chơi dân gian của bọn trẻ,…

Nơi đây có cảnh quan thiên nhiên đặc sắc và sự quần tụ sinh sống của một cộngđồng dân cư đông đúc, chính họ đã sản sinh ra các giá trị văn hoá tinh thần mang đậmyếu tố biển của vùng Vịnh Hạ Long Trung tâm có diện tích 330m2, là nơi trưng bàynhững hình ảnh, hiện vật sinh động, thể hiện toàn bộ cuộc sống vật chất, tinh thần củangư dân trên Vịnh Hạ Long xưa và nay Qua các hiện vật sống động, du khách có cáinhìn bao quát hơn về cuộc sống của ngư dân làng chài trên Vịnh, với những nét đặctrưng riêng Từ cuộc sống mưu sinh vất vả, lúc buồn vui, khi giao lưu sớm tối, kếtbạn, lấy vợ gả chồng và cả khi tổ chức lễ Tết, hội hè… chính là nguồn gốc ra đời củanhững làn điệu hát giao duyên đằm thắm, những phong tục tập quán mang đậm sắcthái văn hoá của một vùng biển, góp phần tăng thêm trách nhiệm của cả cộng đồngtrong việc bảo tồn, phát triển bền vững di sản thế giới Vịnh Hạ Long

Ở nơi đây, nghề đánh cá là nét văn hóa đặc trưng gắn liền với những lễ hội,những nghi thức mang giá trị truyền thống như tục thờ cá Ông, thờ cúng thủy thần.Những chiếc thuyền buồm giữa mênh mông sóng nước, với cảnh sắc thiên nhiên và

cá tôm đầy lưới chính là nguồn cảm hứng dồi dào để người ngư dân cất lên những bài

ca về quê hương tươi đẹp, về tình yêu cuộc sống, yêu lao động Tiếp tục khám phávăn hóa đặc trưng của ngư dân vùng biển Hạ Long, bạn sẽ được khám phá nhữngchiếc thuyền buồm trôi lững lờ trên vùng vịnh, vẽ nên bức tranh sơn thủy tình, tôđiểm cho cảnh sắc thêm phần tươi đẹp Ngoài ra, bạn cũng sẽ được tham quan nhà bèdập dềnh trên sóng nước vùng vịnh Ở nơi đây, những người ngư dân luôn giữ choriêng mình những cung bậc cảm xúc phong phú, làm đa dạng cuộc sống tinh thần ởnơi sóng nước mênh mang vùng vịnh Hạ Long Họ có thể trải lòng mình, thả hồn

Trang 33

phiêu lãng theo những làn điệu hát giao duyên, hát đúm, hò biển, hát đám cưới trênthuyền thể hiện nét đẹp văn hóa làng chài độc đáo Hòa nhịp theo những giai điệu trữtình ấy, bạn cũng sẽ thấy lòng mình yên vui biết mấy, lâng lâng dòng chảy cảm xúckhó tả, cứ thế nghe hoài nghe mãi mà chẳng thấy chán.

Theo các nhà khảo cổ học thì cư dân trên Vịnh Hạ Long chính là “hậu duệ” củangười Việt cổ cư trú ở đây từ cách hàng ngàn năm trước, từ dấu tích ở các di chỉ SoiNhụ (khoảng 7.000 năm cách ngày nay), đến Văn hoá Hạ Long (khoảng trên dưới4.000 năm), Đầu Rằm (khoảng trên dưới 2.000 năm cách ngày nay) Chính sự kế thừanày mà ngư dân trên Vịnh Hạ Long đã gìn giữ, tiếp nối được nhiều phong tục, tínngưỡng đặc trưng của cư dân thuỷ cư của cha ông để lại Cuộc sống mưu sinh lênhđênh trên biển của họ đã tạo ra những nét văn hoá độc đáo, với các phong tục, tậpquán, nghi lễ thờ cúng, cưới hỏi, tang ma, các hình thức hò hát giao duyên trên biển,tục kiêng kỵ ngày Tết…

Là người Việt, tất yếu ngư dân làng chài trên Vịnh Hạ Long có nhiều phong tục,tập quán chung của cư dân ven biển Bắc Bộ, đó là dù sinh sống trên nhà bè, khônggian hạn chế, nhưng mỗi gia đình đều có bàn thờ tổ tiên, thờ ông Công (ông Táo),ngày giỗ cha, mẹ làm cỗ cúng; quan hệ gia đình, trên dưới cùng một nếp chung Bêncạnh đó, do sinh sống trên biển, luôn đối mặt với hiểm hoạ từ thiên nhiên nên ngưdân các làng chài rất coi trọng chuyện kiêng kỵ, thờ cúng Vào những ngày rằm,mồng một hay dịp Tết v.v hầu hết các gia đình đều sắm lễ tới các đền thờ trên Vịnhnhư đền Bà Men (hồ Ba Hầm), đền Cậu Vàng (Cửa Vạn) hoặc vào các đền, chùatrong đất liền như chùa Long Tiên, đền Cái Lân, đền Trần Quốc Nghiễn (TP HạLong), đền Cửa Ông (TX Cẩm Phả) để cầu tài, cầu lộc, mong cho một năm mới đibiển gặp nhiều may mắn, mọi người trong gia đình mạnh khoẻ, an lành Xuất phát từnhu cầu tín ngưỡng của ngư dân, hiện nay, trên Vịnh Hạ Long có một số đền, miếu.Trong số đó, lớn nhất là đền Bà Men Tương truyền, thuở xưa có người đàn bà chếtđuối, xác trôi vào đây, ngư dân làng chài thương cảm bèn vớt xác chôn cất ven đảo.Khi thuyền đi qua, ai có cầu ước gì thảy đều linh ứng Dân làng chài bèn lập đền thờ.Khách đến cầu ở đền vào dịp Tết rất đông, trong đó có cả ngư dân bên Cát Bà (Hải

Trang 34

Phòng) sang Vào ngày rằm tháng giêng hàng năm, ngư dân các làng chài trên Vịnh lại tổ chức giải đua thuyền trước đền rất sôi nổi.

Ngày Tết, ngư dân Hạ Long kiêng kỵ nhất là chuyến xuất hành đầu năm mới.Trước Tết, các gia đình đều đã chuẩn bị sẵn lưới, câu cho chuyến đi biển đầu năm.Ngày xuất hành, mọi gia đình đều tuyệt đối tránh khi nhổ neo mà có thuyền khác điqua trước mũi thuyền mình, bởi đó là điềm báo cả năm sẽ làm ăn không may mắn,thất bát

Với quan niệm “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành”, trong cuộc sống sinh hoạthàng ngày, ngư dân Vịnh Hạ Long cũng thường kiêng kỵ Ở những gia đình ngư dân

cư trú lâu đời trên Vịnh, mỗi đứa trẻ khi sinh ra đều được ông bà buộc một vòng dâyvải đỏ vào cổ tay, coi đây là lá bùa ngăn chặn, xua đuổi tà ma, xui xẻo Nhiều giađình khi sinh con ra đặt tên con là “Nhặt” với ngụ ý là nhặt được để cho dễ nuôi.Ngày nay, quan niệm này vẫn còn nhưng số người tên là “nhặt” đã ít đi

Ngày nay, nhiều phong tục, tập quán của ngư dân trên Vịnh Hạ Long đã maimột, không còn giữ được tính thuần nhất do sự pha trộn dân cư ở các làng chài vàphương thức sống cũng có nhiều thay đổi, từ chuyên đánh bắt cá, phần lớn các giađình chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản Rồi là tác động của cuộc sống mới đến lớp trẻv.v Theo Dự án di dời nhà bè trên Vịnh Hạ Long lên bờ mà TP Hạ Long đã và đangtriển khai, các phong tục, tín ngưỡng của ngư dân trên Vịnh Hạ Long tới đây sẽ được

“bảo tàng hoá” để giới thiệu với du khách như tại Trung tâm Văn hoá nổi Cửa Vạn.Đồng tình với quan điểm này, nhà nghiên cứu văn hoá Tống Khắc Hài cho rằng nên

có một trung tâm thông tin, nghiên cứu và bảo tồn, trong đó có các phong tục, tínngưỡng độc đáo của dân chài để du khách có thể tìm hiểu sâu về các giá trị của Vịnh

Hạ Long

Có thể thấy rằng, vùng biển Hạ Long không chỉ là một mảnh đất giàu văn hoátruyền thống mà còn đậm đà hơi thở của văn hoá đương đại; không chỉ là văn hoáđiển hình mà còn là văn hoá đời thường Đây cũng chính là nơi gắn kết cộng đồngngư dân cùng tham gia bảo vệ, giữ gìn và phát huy các giá trị di sản, kỳ quan thiênnhiên thế giới Vịnh Hạ Long

Trang 35

Tiểu kết chương 1

Trong Chương 1, chúng tôi đã trình bày một số vấn đề mang tính lý thuyết vàthực tiễn có liên quan đến đề tài Các vấn đề được trình bày gồm: các quan niệm, ýkiến, khái niệm, nghiên cứu về ca dao, dân ca nói chung và ca dao, dân ca làng chàivịnh Hạ Long nói riêng; khái niệm văn hóa, mối quan hệ giữa văn hóa và văn học,hướng nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa cũng như những đặc điểm khái quát

về vịnh Hạ Long và cộng đồng ngư dân trên vịnh Hạ Long Việc nghiên cứu nhữngvấn đề cơ bản về lý luận ở chương 1 chính là cơ sở để nghiên cứu đặc điểm về nộidung và hình thức nghệ thuật của ca dao dân ca làng chài vịnh Hạ Long ở các chươngsau Có thể thấy rằng, ca dao, dân ca là khái niệm dùng để chỉ những sáng tác trữ tìnhdân gian, diễn tả đời sống nội tâm của con người Nếu như ca dao là phần lời thơ dângian cấu thành nên dân ca; thì dân ca chính là những sáng tác kết hợp phần lời ca dao

và phần nhạc trong quá trình diễn xướng Hòa mình vào mạch nguồn văn hóa dângian của dân tộc, ca dao, dân ca làng chài vịnh Hạ Long ẩn chứa những đặc sắc riêng

có được phản ánh trong đời sống tinh thần của những ngư dân đời nối đời sống bằngnghề chài lưới Được thiên nhiên ưu ái ban tặng vẻ đẹp núi non hùng vĩ, vịnh HạLong chính là không gian văn hóa tuyệt vời cho hoạt động diễn xướng giao duyêntrên biển Đó chính là giá trị văn hóa vô giá tiềm ẩn đằng sau những áng ca dao, dân

ca được sản sinh từ làng chài vịnh Hạ Long

Trang 36

Chương 2 NỘI DUNG CÁC BÀI CA DAO, DÂN CA Ở LÀNG CHÀI

VỊNH HẠ LONG NHÌN TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA

Ca dao, dân ca là tấm gương phản chiếu một cách chân thực và sâu sắc đời sốngtinh thần và tình cảm của dân tộc ta Là một bộ phận của ca dao, dân ca cả nước, hệthống các bài ca ở các làng chài sinh sống trên vịnh Hạ Long phản ánh cuộc sống,sinh hoạt và tập quán của ngư dân nơi đây trong hàng trăm năm Đó là những suynghĩ, mơ ước về những mẻ lưới nặng cá trong mỗi chuyến ra khơi của các làng nghề,

là tình yêu với biển, tình yêu nghề biển; là những suy nghĩ về tình yêu đôi lứa, tìnhcảm vợ chồng

2.1 Tình yêu biển, tình yêu nghề biển

2.1.1 Tình yêu biển

Hạ Long được thiên nhiên ưu ái ban tặng hàng ngàn vịnh lớn nhỏ đẹp như tranh

vẽ và những bãi biển trong xanh tạo nên một vùng trời nước bao la, quyến rũ lòngngười Tìm đến với văn học dân gian, trong đó có ca dao, dân ca vùng biển Hạ Long

là tìm đến với đời sống của nhân dân lao động miền biển với tất cả sự mộc mạc, chấtphác vốn có trong cuộc sống của họ

Người dân chài trên vịnh Hạ Long không yêu sao được cảnh “thuyền soi bóng

núi, núi soi bóng thuyền” Sống giữa nơi được núi non che chở, được biển cả cho

trăm loài tôm cá nên nơi đây đã trở thành cội nguồn cảm hứng để tác giả dân giansáng tác ra những bài ca ngợi ca non nước Hạ Long với những sự tích rồng tiên kì ảo:

Cái Rồng đẹp lắm ai ơi Biển phơi cát trắng, núi phơi dáng rồng [18; tr 66]

Ai về Trà Cổ mà chơi Biển phơi nước biếc, bãi phơi cát mềm [18; tr 66]

Trời sinh ra làng Đồng Chùa Trên non, dưới nước, bắt cua đầy thuyền

Ai sinh ra đất Tiên Yên

Trang 37

Đầm Hà, Hà Cối kế bên Cái Bầu Bên non bên nước một màu Núi non xanh lá, nước màu thiên thanh Rồng chiều chín khúc vòng quanh

Vẽ ra một áng nước xanh Cái Rồng Khen trời khéo vẽ làm sao

Vẽ nên non nước biết bao công trình [18; tr 76]

(Khen trời khéo vẽ)

“Khen trời khéo vẽ” - đó có lẽ là cách giải thích hợp lý nhất về cảnh sắc thiên

nhiên tươi đẹp mà tạo hóa đã ban tặng cho Hạ Long - mảnh đất được coi là địa linhgắn liền với sự tích rồng bay xuống Bởi vậy mà ngư dân chài lưới bao đời gắn bó vớinơi đây vẫn không khỏi ngỡ ngàng trước cảnh sắc mây trời, non nước kì ảo Đó là

cảnh “Nước trong soi bóng tự tình”, là cảnh “Biển phơi nước biếc, bãi phơi cát

mềm” làm say đắm lòng người.

Nơi quê hương họ sống cùng người thân và hành nghề thật không có nơi nàothơ mộng và đẹp đẽ bằng Người đọc tìm thấy ở những bài ca dao niềm tự hào mãnhliệt khi ngư dân kể về những hòn đảo, những ngư trường Thật cảm động khi bắt gặphình ảnh người ngư dân quỳ xuống vẽ nên những tấm họa đồ trong tâm tưởng:

Thanh nhàn cầm bút chép tô Quỳ chân xuống họa địa đồ núi non Họa

từ cái vũng Khe Gon Ngòi Di, Cái Quýt sóng dồn cồn vui Vừa chèo, vừa họa ai ơi Núi Chà, Đá Bãi đất trời đẹp sao Chèo sang Cái Cổng, Đầu Trâu Họa đến Soi Sặt ở đầu làng Trên Họa rồi họa dưới kéo lên Đầu Giếng, Khe Chẹo ở miền Cây Thai [18; tr 70]

(Bài ca họa đồ)

“Bài ca họa đồ” được coi là bài ca tiêu biểu nhất cho tình yêu biển đảo quê

hương, vừa chân thành, vừa hết sức sinh động, cụ thể và sâu sắc Đó là những nét vẽ

Trang 38

tuyệt vời, khắc họa toàn cảnh vùng trời, vùng biển nơi đây với những vẻ đẹp kỳ vĩ.Nét vẽ bắt đầu từ vũng Khe Von, chạy qua Núi Chà, Đá Bãi, kéo đến Hòn Gội, HònThồng, rồi về đến Đông Vang, Trà Bản Tình yêu quê hương đất nước, yêu biển đảoquê hương thấm đẫm trên từng địa danh mà tác giả dân gian dẫn dắt người đọc đi

qua, để rồi nhắc nhở những người con vùng biển: “Dù ai đi đâu về đâu/ Nhớ về vui

thú một màu nước non”.

Đọc ca dao, dân ca làng chài vịnh Hạ Long, ta dễ dàng tìm thấy những địa danh quen thuộc, những tên núi, tên vịnh, nơi đã bao đời gắn bó với ngư dân nơi đây:

“Thuyền em ở dưới Hòn Trồng

Có theo về bến Cái Rồng thì lên” [18; tr 68]

Trang 39

Thấp thoáng trong mỗi lời ca là cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp hòa quyện cùngtrời nước bao la, nơi sinh sống, cư ngụ và cũng là nơi ẩn chứa biết bao giá trị tinhthần trong đời sống của những người dân chài đời nối đời coi biển cả là quê hương.Những bến bờ, gò bãi, những non xanh, núi biếc, những hang động, chùa chiền chính

là nơi sinh hoạt văn hóa tinh thần của người dân chài Hạnh phúc thay, sau nhữngtháng ngày lênh đênh trên biển cả để kiếm tìm những mẻ tôm cá bội thu, người dânchài lại được gặp gỡ nhau, trò chuyện với nhau sau những chuyến đi xa

Tình yêu biển cả quê hương còn gắn liền với những phong tục tập quán được tácgiả dân gian khắc họa qua những áng ca dao:

“Hà Nam riêng một phương trời Hóa công xây đắp biết đời nào đây” [18; tr 69]

Vào mồng bảy tháng giêng hàng năm, trên đảo Hà Nam có hội ở miếu thờ 17 vịTiên Công - những người đầu tiên có công khai canh hòn đảo này Trong lễ hội có tụcrước các cụ tròn tuổi 80 ra lễ miếu Tiên Công Sau đó, các cụ đánh vật, đào đất đắpđê

Trang 40

mở đầu cho một năm lao động Phần hội có múa rồng, hát đúm, đua thuyền Đó làmột nét văn hóa tâm linh vùng biển gắn liền với đời sống tinh thần của người dânchài nơi đây, cầu cho mưa thuận gió hòa, công việc thuận buồm xuôi gió, tôm cá đầythuyền.

Đặc biệt, tình yêu quê hương biển đảo còn được thể hiện trong những cuộc hátđối thử tài, thử tình giữa những nam thanh nữ tú miền biển Họ thể hiện tình yêu vùngđất mà mình sinh ra qua những câu đố, những kiến thức rất phong phú, đa dạng từtrên trời dưới biển, thiên văn địa lý đến sách vở điển tích

Câu hát đố hỏi:

"Ở đâu có sáu cửa sông?

Ở đâu ngọn nước chảy xuôi một mình Sông nào bên đục bên trong?

Núi nào thắt ngang cổ bồng lại có thánh sinh…" [18; tr 299]

Người hát giảng thưa rằng:

"Lục đầu có sáu cửa sông Lại có ngọn nước chảy xuôi một dòng Sông Thương bên đục bên trong Núi ông Tản Viên thắt cổ bồng lại có thánh sinh…" [18; tr 300]

Hay như:

"Đến đây hỏi khách tương phùng Chim chi một cánh bay cùng nước non" [18; tr 321]

Câu hát giảng là:

Ngày đăng: 16/11/2018, 13:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị An (1990), Về một phương diện nghệ thuật của thơ ca tình yêu, Tạp chí văn học, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một phương diện nghệ thuật của thơ ca tình yêu
Tác giả: Trần Thị An
Năm: 1990
2. Đào Duy Anh (2005), Hán Việt giản yếu từ điển, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt giản yếu từ điển
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2005
3. Lại Nguyên Ân (biên soạn), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
4. Diệp Quang Ban (2010), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
5. Ban quản lý vịnh Hạ Long (2010), Làng chài Cửa Vạn - một nét văn hóa vịnh Hạ Long, Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng chài Cửa Vạn - một nét văn hóa vịnh HạLong
Tác giả: Ban quản lý vịnh Hạ Long
Năm: 2010
6. Đoàn Văn Chúc (1997), Xã hội học Văn hóa, Nxb Viện Văn hóa và Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học Văn hóa
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: Nxb Viện Văn hóa và Nhà xuất bảnVăn hóa - Thông tin
Năm: 1997
7. Mai Ngọc Chừ (1991), Ngôn ngữ ca dao Việt Nam, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ ca dao Việt Nam
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Văn hoá - Thông tin
Năm: 1991
8. Mai Ngọc Chừ (Chủ biên) (1998), Nhập môn ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
9. Việt Chương (2003), Từ điển thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam, quyển Thượng và quyển Hạ, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam, quyển Thượngvà quyển Hạ
Tác giả: Việt Chương
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Đồng Nai
Năm: 2003
10. Lê Văn Chưởng (2004), Dân ca Việt Nam - Những thành tố của chính thể nguyên hợp, Nxb Khoa học Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca Việt Nam - Những thành tố của chính thể nguyên hợp
Tác giả: Lê Văn Chưởng
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã Hội
Năm: 2004
11. Chu Xuân Diên (1973), Các thể loại trữ tình dân gian, trong: Đinh Gia Khánh - ChuXuân Diên, Văn học dân gian, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thể loại trữ tình dân gian, "trong: Đinh Gia Khánh - ChuXuân Diên, "Văn học dân gian
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1973
12. Chu Xuân Diên (2008), Nghiên cứu văn hóa dân gian, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn hóa dân gian
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
13. Hữu Đạt (1996), “Đặc điểm phong cách ngôn ngữ của thơ và ca dao”, Tạp chí Ngôn ngữ số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm phong cách ngôn ngữ của thơ và ca dao”
Tác giả: Hữu Đạt
Năm: 1996
14. Cao Huy Đỉnh (2000), Ca dao Việt Nam và những lời bình, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Việt Nam và những lời bình
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2000
15. Nguyễn Xuân Đức (2003), Những vấn đề thi pháp văn học dân gian, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp văn học dân gian
Tác giả: Nguyễn Xuân Đức
Nhà XB: Nxb Khoahọc xã hội
Năm: 2003
16. Vũ Thị Gái (2007), Ca dao dân ca vùng biển Quảng Ninh, Sở văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao dân ca vùng biển Quảng Ninh
Tác giả: Vũ Thị Gái
Năm: 2007
17. Nguyễn Thiện Giáp (2001), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
18. Tống Khắc Hài (2016), Ca dao dân ca của dân chài trên Vịnh Hạ Long, Nxb Văn hóa dân gian, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao dân ca của dân chài trên Vịnh Hạ Long
Tác giả: Tống Khắc Hài
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân gian
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w