Trong di sảncủa mình, Ngô Tất Tố đã thể hiện một sự quan tâm đặc biệt với chủ đề Nho giáo.Thậm chí, Ngô Tất Tố đã có những sáng tác mang nhiều chất liệu của trải nghiệm cá nhân về con đư
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
BÙI THỊ HẢI SÂM
HÌNH ẢNH NHO HỌC TRONG SÁNG TÁC CỦA
NGÔ TẤT TỐ (LỀU CHÕNG) VÀ
CHU THIÊN (BÚT NGHIÊN, NHÀ NHO)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Thái Nguyên – 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
BÙI THỊ HẢI SÂM
HÌNH ẢNH NHO HỌC TRONG SÁNG TÁC CỦA
NGÔ TẤT TỐ (LỀU CHÕNG) VÀ
CHU THIÊN (BÚT NGHIÊN, NHÀ NHO)
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Hải Yến
Thái Nguyên – 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác.
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Bùi Thị Hải Sâm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Báo chí – Truyền thông và Văn học, Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập.
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn TS Trần Thị Hải Yến đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đã giúp
đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Bùi Thị Hải Sâm
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 10
1.1 Nho học trong văn hóa Việt Nam thời trung đại 10
1.2 Những cải cách giáo dục của thực dân Pháp ở Việt Nam đầu thế kỷ XX 12
1.3 Cấu trúc tầng lớp trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX 16
1.4 Học vấn và những tác phẩm của Ngô Tất Tố, Chu Thiên về Nho giáo 19
CHƯƠNG 2 NHO HỌC TRONG CÁCH NHÌN CỦA NGÔ TẤT TỐ VÀ CHU THIÊN 26
2.1 Nội dung học của môn sinh Việt Nam thời trung đại 26
2.1.1 Chương trình khai tâm 26
2.1.2 Chương trình tiểu tập 27
2.1.3 Chương trình đại tập 27
2.2 Lối học Nho giáo trong tác phẩm của Ngô Tất Tố và Chu Thiên 29
2.3 Trường thi Nho học qua phục dựng của Ngô Tất Tố và Chu Thiên 42
2.3.1 Các vòng thi và nội dung thi 42
2.3.2 Quy tắc thi cử 47
2.3.3 Nhận xét về lối thi Nho học từ các tác phẩm của Ngô Tất Tố và Chu Thiên55 CHƯƠNG 3 NẾP SỐNG CỦA NHÀ NHO QUA NGÒI BÚT CỦA NGÔ TẤT TỐ VÀ CHU THIÊN 59
3.1 Nhà nho với đạo học 59
3.2 Nhà nho trong quan hệ với thầy học, bạn hữu 66
3.3 Nhà nho trong cuộc sống gia đình (cha mẹ, vợ con) 73
3.4 Nhà nho trong sinh hoạt văn hóa làng xã 78
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Là một hệ tư tưởng ngoại lai nhưng Nho giáo có lịch sử du nhập và tồn tại
lâu dài ở Việt Nam, khoảng từ thế kỉ III đến thế kỉ XX (năm 1945) Đặc biệt, trongquãng thời gian từ thế kỉ XV đến thế kỉ XX - khi Nho giáo được lựa chọn là một họcthuyết chính trị - thì ảnh hưởng của nó thật sự liên tục, sâu rộng Từ một học thuyếtđạo đức, Nho giáo trở thành nguyên tắc tổ chức bộ máy chính trị quốc gia, quy địnhthiết chế văn hóa xã hội và đời sống của dân chúng Tham gia vào việc tổ chức bộ máychính trị, vào thiết chế văn hóa Nho giáo có một hệ công cụ chắc chắn đó là kinh điển
và chế độ khoa cử để đào luyện ra một đội ngũ những trí thức (kẻ sĩ), còn gọi là nhànho Hệ “công cụ” Nho giáo đó là Nho học Nho học, vì vậy có một vai trò hết sức tolớn đối với sự phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam Nó là thước đo, là biểutượng cho sự thịnh trị - suy tàn của thiết chế xã hội, của đời sống tư tưởng, văn hóa
Và cũng chính vì thế, ở giai đoạn chuyển giao lịch sử, từ phong kiến phương Đôngsang thực dân hóa phương Tây, Nho học cũng sẽ là nơi có thể quan sát, chứng kiếnnhững đổi thay trong hệ giá trị tinh thần của xã hội Quá trình đổi thay này diễn ra từnhững năm cuối thế kỉ XIX, kéo dài vài chục năm đầu thế kỉ XX, và trong nhiều lĩnhvực: biên khảo, chuyên khảo, tranh luận trên báo chí, và sáng tác văn học nghệ thuật
1.2 Ngô Tất Tố (1894-1954) là cây bút có vị trí quan trọng trong nền văn học
Việt Nam những năm 1930, 1940 Ông đã để lại một di sản văn học phong phú, baogồm nhiều thể loại: tiểu thuyết, phóng sự, truyện kí lịch sử, khảo cứu, dịch thuật, tiểu
phẩm báo chí, viết truyện dài Với những sáng tác này, Ngô Tất Tố bộc lộ được cả sở
trường và sở đoản của cá nhân mình cũng như thế hệ nhà nho đi vào hiện đại hóa –một hiện tượng đặc sắc của không khí văn hoá Việt Nam đầu thế kỷ XX Trong di sảncủa mình, Ngô Tất Tố đã thể hiện một sự quan tâm đặc biệt với chủ đề Nho giáo.Thậm chí, Ngô Tất Tố đã có những sáng tác mang nhiều chất liệu của trải nghiệm cá
nhân về con đường học theo Nho giáo mà Lều chõng là tác phẩm tiêu biểu.
Bên cạnh Ngô Tất Tố, Chu Thiên (1913-1992) cũng là một tác giả có hứng thúsâu đậm với các đề tài của quá khứ, như truyện ký lịch sử Riêng chủ đề Nho học, Chu
Thiên có Bút nghiên, Nhà nho đều viết vào những năm 30, 40 của thế kỷ XX.
Trang 7Với thực tiễn trải nghiệm cuộc sống và thực tế sáng tác đó của hai tác giả, việctìm hiểu Nho học trong sáng tác văn chương của những cây bút có xuất thân Nho giáohứa hẹn đem lại một cái nhìn từ bên trong cũng như những biểu hiện cụ thể của conđường chuyển giao cũ-mới tại Việt Nam đầu thế kỉ XX.
Trên đây là những lý do giải thích việc chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Hình ảnh Nho học trong sáng tác của Ngô Tất Tố (Lều chõng) và Chu Thiên (Bút nghiên, Nhà nho).”
vì thế suốt nhiều thập kỉ qua, thân thế và sự nghiệp sáng tác của ông đã thu hút sự chúý của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình
Thuộc thế hệ cầm bút có căn rễ Nho giáo sâu đậm (truyền thống gia đình, vàquá trình tu dưỡng cá nhân), sáng tác của Ngô Tất Tố chịu nhiều ảnh hưởng của cội rễtri thức đó Hầu hết các nghiên cứu về Ngô Tất Tố đã chỉ ra đặc điểm này Ngoài VũTrọng Phụng với nhận xét “Ngô Tất Tố là một nhà báo về phái Nho học, và là một
tay ngôn luận xuất sắc trong đám nhà nho” [45, tr.409], có thể kể thêm: “Phê bình
Lều chõng” (báo Tri tân, số 33, ngày 23.1.1942, của Kiều Thanh Quế), mục viết về
Ngô Tất Tố trong Nhà văn hiện đại (19421945, của Vũ Ngọc Phan), “Ngô Tất Tố một chân dung lớn, một sự nghiệp lớn” (Tạp chí văn học, số 1, năm 1994 của nhà nghiên cứu Phong Lê), “Nhà nho thức thời – ngòi bút tình cảm Ngô Tất Tố” (Tạp chí
-văn học, số 1, năm 1994 của tác giả Vương Trí Nhàn), “Cây bút sắt sắc bén của một
nhà nho” (báo Văn nghệ, số 1, ra ngày 1.1.1994, do nhà văn Vũ Tú Nam viết), “Ngô Tất Tố sống mãi trong lòng cách mạng” (trong Ngô Tất Tố toàn tập, tập 1, Nhà xuất
bản Giáo dục, năm 1996 của Phan Cự Đệ), “Ngô Tất Tố - cây bút cựu học giữa thời
tân văn” (Nghiên cứu Văn học, số 3, năm 2006 của nhà nghiên cứu Vũ Tuấn Anh)…
Trang 8Ngô Tất Tố là một trong bảy mươi chín nhà văn Việt Nam thời hiện đại được
Vũ Ngọc Phan chọn lọc giới thiệu Ông được gọi là “một tay kì cựu trong làng văn,
làng báo Việt Nam”, “có phê bình, có tư tưởng mới” Vũ Ngọc Phan còn nhấn mạnh:
“ về đường văn nghệ ông đã theo kịp cả những nhà văn thuộc phái tân học xuất sắc
nhất Ngô Tất Tố là một nhà nho mà viết được những thiên phóng sự và những thiên tiểu thuyết theo nghệ thuật Tây phương và ông đã viết bằng ngòi bút đanh thép, làm cho phái tân học khen ngợi” [42, tr.132] Nhận xét của Vũ Ngọc Phan đã nhấn mạnh
tư tưởng mới mẻ, tiến bộ và tài năng nghệ thuật của Ngô Tất Tố - người có điểm xuấtphát là Nho học
Trong bài viết “Cây bút sắt sắc bén của một nhà nho”, nhà văn Vũ Tú Nam chorằng: “ông trước sau vẫn giữ phong cách của một nhà nho - nhưng là một nhà nho vớibản lĩnh và cá tính đặc biệt, vừa nghiêm túc vui tươi, sâu sắc mà hoạt bát, trí tuệ vàtâm tư luôn năng động, chân thành gắn bó với những con người và sự vật xung quanh,cũng có nghĩa với vận mệnh đất nước” [27, tr.185] Ở đây, tác giả bài viết đã khẳngđịnh tính tích cực của Nho giáo trong lối sống, tư tưởng của Ngô Tất Tố
Đặt Ngô Tất Tố vào bối cảnh văn hoá thời đại, nhà nghiên cứu Vũ Tuấn Anh đãchỉ ra dấu vết “cựu học” còn được bảo lưu trong tư tưởng cũng như lối viết của NgôTất Tố cũng như những biểu hiện của “tân văn” về thể loại mà Ngô Tất Tố lựa chọn
sáng tác Đánh giá tiểu thuyết Lều chõng, nhà nghiên cứu cho rằng đó là: “cuộc chia
tay không ít lưu luyến của nhà văn với quá khứ của chính ông, và ở tầm vĩ mô, của vănhóa mới với văn hóa Nho giáo”, và “Vốn hiểu biết phong phú về Khổng giáo, về sinh
hoạt trường ốc thi cử của một người thông hiểu Tứ thư, Ngũ kinh và đã từng nghiệm
sinh một thời lều chõng đã tạo nên những trang viết giàu tính tư liệu của một nhà khảocứu và giàu tính sinh động của một cây bút phóng sự”1
Bên cạnh những quan tâm đến vấn đề Nho giáo trong sáng tác của Ngô Tất Tốcủa các học giả Việt Nam còn có nhà nghiên cứu người Trung Quốc là Hoàng Khải
1 Vũ Tuấn Anh (2006), “Ngô Tất Tố - cây bút cựu học giữa thời tân văn”, Nghiên cứu Văn học, số 3,
tr.13-20.
Trang 9Hưng Ông cho rằng: “Trong lịch sử văn học Việt Nam những năm 30, 40 của thế kỉ
XX, ngoài Ngô Tất Tố cũng còn có rất nhiều tác giả lấy đề tài từ văn hóa Nho giáo
như Chu Thiên với cuốn Bút nghiên (1942), cuốn Nho giáo (in năm 1943), Nguyễn Công Hoan với cuốn Thanh đạm Nhưng trong các tác phẩm có đề tài Nho giáo, Ngô
Tất Tố không những có số lượng sáng tác nhiều nhất, đề tài phong phú nhất mà tưtưởng cũng sâu sắc hơn Các tác phẩm của ông ( ) đều thể hiện không gian đậm đàvăn hóa Nho giáo của xã hội Việt Nam từ nhiều góc độ khác nhau” Sau đó, HoàngKhải Hưng đi đến kết luận: “Ngô Tất Tố dành nhiều tâm huyết trong nghiên cứu vănhóa Nho giáo, và trong những tác phẩm của ông, bất kể là tiểu thuyết hiện thực, tiểuthuyết lịch sử hay ký sự đều mang đậm dấu ấn văn hóa Nho giáo, thể hiện tình cảmđặc biệt đối với văn hóa Nho giáo của tác giả” [23]
Như vậy, nhiều nhà nghiên cứu bằng những góc độ tiếp cận khác nhau đều chỉ
ra hình bóng Nho học trong tác phẩm của Ngô Tất Tố, trong đó Phan Cự Đệ là nhànghiên cứu sớm nhất đã đi sâu vào vấn đề này (phần viết “Ngô Tất Tố và Nho giáo”
trong Văn học Việt Nam 1930-19451 Các nghiên cứu đã chỉ ra sự hiện diện của Nhogiáo trong vốn tri thức, con đường đi, và những dấu vết của nó trong lối viết của nhàvăn Một số nghiên cứu đã chỉ ra sự tỉnh táo (hay có thể gọi là tính “đa thanh”) trongứng xử của Ngô Tất Tố với Nho giáo, ông vừa trân trọng vừa phê phán
2.2 Lịch sử nghiên cứu về sự nghiệp của Chu Thiên và đề tài Nho giáo trong di sản của ông
So với Ngô Tất Tố, những nghiên cứu về Chu Thiên có số lượng khiêm tốn hơnrất nhiều Qua khảo sát, chúng tôi thống kê được một số công trình và bài viết nghiêncứu về Chu Thiên và các tác phẩm viết về đề tài Nho học của ông như sau:
1 Năm 1993, Nhà xuất bản Văn học cho in “Tuyển tập Ngô Tất Tố” (2 tập) do Phan Cư Đệ sưu tầm
tuyển chọn, Trương Chính viết lời giới thiệu Trong lời giới thiệu về Ngô Tất Tố, Trương Chính cũng đồng tình với quan điểm của Phan Cư Đệ cho rằng Ngô Tất Tố đã vượt qua mọi sự ràng buộc của tư tưởng Nho giáo, là một người có tư tưởng độc lập, không chịu nhắm mắt theo những thành kiến của cổ
Trang 10Bút nghiên của Chu Thiên lúc đầu xuất hiện dưới dạng từng truyện ngắn trên Tri tân Sau khi in thành sách, trên Tri tân lại đăng bài phê bình của Tiên Đàm Nguyễn
Tường Phượng, trong đó có đoạn: "Có người bàn rằng lúc này là lúc vận hội khaithông, sao còn đem những chuyện cổ hủ ấy, những chuyện cũ rích ấy ra làm gì! Nhưngthiên kiến tôi chính lúc này lại cần có một quyển sách nói rõ về "nhà nho" để phân biệtthế nào là "chân nho" và "ngụy nho" Ý kiến của một người xuất thân từ Khổng sânTrình như Tiên Đàm rất xác đáng bởi vấn đề "chân nho" và "ngụy nho" mà Chu Thiênđặt ra rất có ý nghĩa đối với đương thời [dẫn theo 2]
Cho đến nay, người có những nhận xét chi tiết nhất về Chu Thiên là Vũ Ngọc
Phan trong trong Nhà văn hiện đại Về Bút nghiên, Vũ Ngọc Phan cho rằng “Chu
Thiên không chú trọng vào cách lựa chọn nhân tài như “Lều chõng”; “Bút nghiên”cũng lại không cho ta biết rõ tính tình cùng tư tưởng những“nhân tài” nước ta thuởxưa: Bút nghiên - như tên của nó - chỉ chú trọng riêng vào việc học Ngày xưa ông chachúng ta phải học như thế nào để thi đỗ? Thơ phú phải làm theo những lề lối thế nào?”[42, tr.375] Ông cũng nhận xét: “Về đường nghệ thuật - nếu xét về phương diện tiểuthuyết –“Bút nghiên” không bằng được quyển “Lều chõng” của Ngô Tất Tố, nhưng vềmặt khảo cứu về những cách học hành của ông cha chúng ta thuở xưa thì “Bút nghiên”
cũng khá đầy đủ” [42, tr.382] Đồng thời, theo Vũ Ngọc Phan, “Bút nghiên” của ông
tuy là đề tài về tiểu thuyết trơn, nhưng có thể coi như là một tập kí sự về cái lối đi học
đi thi của ông cha chúng ta thuở xưa, hay đặt nó vào loại tiểu thuyết phóng sự cũngđược….” [42, tr.944]
Ngoài ra, chúng tôi cũng tìm hiểu được một số bài viết khác có tính chất giới
thiệu về tác giả về Chu Thiên, chẳng hạn: Tác giả Hoài Anh trong bài viết: Chu Thiên,
gương sáng nhà nho chân chính đã bày tỏ lòng ngưỡng phục của mình với tài năng
cũng như sự nghiệp của tác giả Chu Thiên: “Đáng phục làm sao khối vốn sống đồ sộcủa nhà văn về sinh hoạt Nho học thời xưa cũng như kiến thức lịch sử uyên thâm củaông Tác phẩm có nhiều chi tiết phong phú đến nỗi thành ra dàn trải, lê thê…nhưngđối với tôi thì không hề chi vì ngoài hứng thú đọc tiểu thuyết tôi còn muốn tìm hiểu vềlối sống Việt Nam qua những tư liệu dân tộc học, xã hội học la liệt trong sách” [2].Hoài Anh cũng chỉ ra giá trị tư tưởng của những tiểu thuyết phóng sự ấy là ở chỗ: Nhà
Trang 11văn thông qua những tấm gương tôn sư trọng đạo, tiết tháo liêm khiết của người xưa
để truyền cho người đọc những tinh hoa trong tư tưởng, tình cảm, tâm lý của conngười Việt Nam, đánh thức hồn dân tộc đã ngủ thiếp trong lòng một số đông ngườiđang sống dưới ách thống trị của thực dân Pháp, cam tâm làm nô lệ cho chúng đồngthời giới thiệu lại những tinh hoa của ông cha giúp cho con cháu sau này không đếnnỗi mất gốc Cũng trong bài viết này, Hoài Anh còn cung cấp thêm những thông tin cótính chất lịch sử để lý giải về màu sắc Nho giáo đậm đặc trong tác phẩm của ChuThiên đó là do nhà văn đã tắm mình trong không khí cửa Khổng sân Trình từ nhỏ, môitrường Nho học đã tạo nên tư tưởng nhân cách và cả tài năng văn học của ông
Có thể thấy, với Bút nghiên và Nhà nho, Chu Thiên đã quay về với những
chuyện xưa, làm sống lại nét đẹp của đời sống khoa cử một thời Như vậy, cùng viết
về một đề tài là Nho học ở thời điểm Nho học đã là quá vãng, cùng với những trảinghiệm Nho học, song Ngô Tất Tố và Chu Thiên lại không đồng nhất về phong cáchviết, về điểm nhìn; nói cách khác, mỗi nhà văn có khuynh hướng riêng
Việc điểm lại các nghiên cứu về vấn đề Nho học trong sáng tác của Ngô Tất Tố
và Chu Thiên cũng cho thấy đã có những nghiên cứu, bình luận mang tính so sánh vềcách viết của hai nhà văn này khi đề cập đến Nho học, song đặt vấn đề một cách trựcdiện và tìm hiểu chuyên sâu thì chưa có công trình nào Luận văn của chúng tôi, vì thế
là một sự kế thừa và cố gắng bổ khuyết cho hướng nhìn này về sáng tác của hai nhàvăn
3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nho học là một phương diện của Nho giáo, chỉ phương thức đào luyện tri thứccủa người đi học (kẻ sĩ) theo quy định của Nho giáo Trong luận văn này, Nho học sẽđược xem xét từ 3 vấn đề: việc học và thi; lối học Nho giáo và kiểu thi cử Nho giáo;bên cạnh đó, người theo đuổi việc học theo Nho giáo đó – tức nho sinh/nhà nho cũngđược tìm hiểu trong phạm vi những ứng xử của họ với tư cách những quy ước sốngtheo lễ nghi Nho giáo Đây là những quan tâm của cả Ngô Tất Tố và Chu Thiên khi
cầm bút sáng tác văn chương, đặc biệt là trong 3 tiểu thuyết: Lều chõng, Bút nghiên và
Nhà nho.
Trang 12Nho giáo thời trung đại để tìm hiểu ý nghĩa của việc các trí thức cựu học phục dựng
Trang 13những trải nghiệm của chính họ; cùng với đó là giá trị văn học, như phương thức biểu
tả, hình ảnh nghệ thuật của các tác phẩm văn chương hiện đại khi viết về Nho học
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo sát, phân tích và làm rõ các biểu hiện của hình ảnh Nho học trong
ba tác phẩm
- Phân tích, đánh giá các biểu hiện của hình ảnh Nho học trong ba tác phẩm (Lều
chõng, Bút nghiên và Nhà nho) ở phương diện giá trị văn hoá và nghệ thuật viết văn.
- Đánh giá và phân tích ý nghĩa của việc viết về Nho học trong bối cảnh ViệtNam đầu thế kỉ XX
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp văn học sử: Theo chúng tôi, muốn chiếm lĩnh được những kiến
thức nội dung cơ bản, phải đặt đối tượng trong bối cảnh lịch sử, trong mối quan hệ vớicuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Vì vậy đây là phương pháp được chúngtôi sử dụng trong suốt luận văn
Phương pháp so sánh: Phương pháp so sánh sẽ giúp chúng tôi có cơ sở nhận
diện những nét tương đồng, nét khác biệt trên tất cả các phương diện về nội dung,nghệ thuật của Ngô Tất Tố và Chu Thiên
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Vấn đề về hình ảnh Nho học liên quan
nhiều đến lĩnh vực khoa học khác như: Lịch sử, Tư tưởng, Xã hội Do đó, chúng tôivận dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành để các vấn đề cần nghiên cứu được làmsáng tỏ và có sức thuyết phục
Ba phương pháp trên sẽ được chúng tôi kết hợp hoặc cụ thể hoá cùng các thaotác, như: phân tích, tổng hợp
5 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi tư liệu:
Luận văn khảo sát 3 tác phẩm chính: Lều chõng (1939) của Ngô Tất Tố, Bút
nghiên (1942) và Nhà nho (1943) của Chu Thiên Những tác phẩm khác của hai nhà
Trang 14Phạm vi vấn đề:
Về khái niệm “Nho học”: Đã có nhiều diễn giải khác nhau về khái niệm này.Các ý kiến căn bản thống nhất với nội hàm đại thể của Nho học là dạy và học theoNho giáo, và trước thuật của nho gia Tuy nhiên, ở luận văn này, chúng tôi chỉ tậptrung vào việc dạy-học theo Nho giáo mà không đề cập đến vấn đề trước thuật, bởimối quan tâm của Ngô Tất Tố và Chu Thiên trong ba tác phẩm chỉ tập trung vào vấn
đề dạy - học theo Nho giáo và người học Bên cạnh đó, luận văn tự đặt thêm nhiệm vụtìm hiểu hình ảnh “nếp sống nhà nho” (Chương 3), vì nhà nho là “chủ thể” của Nhohọc và nhân vật cũng là một khái niệm quan trọng của tác phẩm văn chương Nói cáchkhác, theo chúng tôi, tìm hiểu về nhà nho là cách “đọc” gián tiếp về Nho học nhưngphù hợp với đặc thù tài liệu là tác phẩm văn chương
Chọn đề tài là tìm hiểu hình ảnh Nho học trong các tác phẩm của hai tác giảChu Thiên và Ngô Tất Tố, nên luận văn, thông qua việc mô tả và tái hiện lại chế độkhoa cử Việt Nam thời phong kiến trong ba tác phẩm được lựa chọn để làm rõ hìnhảnh Nho học trong nghệ thuật của các sáng tác văn chương ở hai tác giả này
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Phần Nội dung của luận
văn gồm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung
Chương 2: Nho học trong cách nhìn của Ngô Tất Tố và Chu Thiên
Chương 3: Nếp sống của nhà nho qua ngòi bút của Ngô Tất Tố và Chu Thiên
7 Đóng góp của luận văn
Với đề tài này người viết muốn làm rõ hình ảnh Nho học trong các tác phẩmcủa Chu Thiên và Ngô Tất Tố, đồng thời góp phần làm sáng tỏ thêm văn hóa khoa cử,văn hoá Nho giáo thời trung đại từ cách chiếm lĩnh về nội dung và nghệ thuật của cácnhà văn những năm 1930, 1940
Kết quả nghiên cứu của luận văn cũng sẽ giúp người đọc có thêm hiểu biết vềcác nhà văn đã quen thuộc và có thêm căn cứ để khẳng định mối quan hệ mật thiếtgiữa văn hóa và văn học
Trang 15Mặt khác, chúng tôi cũng muốn tìm hiểu thêm khả năng và bản chất nỗ lựccanh tân tư tưởng, đổi mới văn chương của Việt Nam những năm 30, 40 của thế kỷ
XX mà Ngô Tất Tố và Chu Thiên là hai trường hợp điển hình cho sự canh tân của thế
hệ cựu học
Trang 16Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Nho học trong văn hóa Việt Nam thời trung đại
Như đã giới thuyết ở phần MỞ ĐẦU, Nho học là phương thức đào luyện tri
thức của người đi học (kẻ sĩ) theo quy định của Nho giáo Hệ tư tưởng có tuổi đời vàohàng sớm nhất và có sức sống bền bỉ trong lịch sử tri thức nhân loại này đã xây dựngmột thiết chế giáo dục quy củ, bao gồm phương thức đào tạo, khoa cử Ra đời ở Trung
Hoa, Nho giáo và Nho học du nhập vào Việt Nam khá sớm Sử Trung Hoa, Hậu hán
thư đã ghi lại việc vào đầu công nguyên, hai viên thái thú quận Giao Chỉ và Cửu Chân
là Tích Quang và Nhâm Diên đã tích cực “dựng học hiệu” để dạy lễ nghĩa Và đâyđược coi là một dấu mốc quan trọng đánh dấu sự hình thành chính thức của Nho giáo
và Nho học ở Việt Nam Sử gia Việt Nam, trong Đại Việt sử ký nhắc đến thái thú Sĩ
Nhiếp là người thông hiểu kinh sách và tích cực truyền bá Nho giáo và Đạo giáo vàoViệt Nam nên được phong “Nam Giao học tổ” Là học giả hiện đại Việt Nam đầu tiênkhảo cứu sâu về Nho giáo, Lệ Thần Trần Trọng Kim cho rằng, Nho học ở Việt Namkhoảng cuối đời Đông Hán, tức là ngay trong thời kỳ Bắc thuộc, đã thịnh trị, chứng cứ
là đã có những người như Lý Tiến, Lý Cầm, Trương Trọng đậu đạt và được bổ quan ởTrung Hoa [29, tr.723] Sau ngày giành độc lập, trải qua ba triều đại Ngô, Đinh vàTiền Lê do vẫn còn phải bình định các vùng nên không lưu tâm đến việc học; nhưng từnhà Lý thì việc học có nền tảng vững chắc, và "Nho học từ đó mỗi ngày mộtthịnh" [29, tr.723] Thi cử được tổ chức theo lối "dùng văn chương mà lấy kẻ sĩ, vậynên văn học ở nước ta từ đó về sau rất thịnh" [29, tr.724] Nhưng Trần Trọng Kimcũng cho rằng "Từ đời nhà Lê về sau, trải qua nhà Mạc, nhà Hậu Lê trung hưng và nhàNguyễn, sự Nho học ở Việt Nam tuy thật là thịnh, nhưng học giả trong nước thường cócái sở đoản rất lớn, là phần nhiều chỉ học lối khoa cử, vụ lấy văn chương đề cầu sự đỗđạt, chứ không có mấy người học đến chỗ uyên thâm của Nho giáo, để tìm thấy cáiđạo lý cao xa, hoặc là đề xướng lên cái học thuyết nào thật có giá trị Đó thật là chỗkém của học giả nước ta" [29, tr.724-25], còn "trong đời nhà Lý và nhà Trần, thì sựhọc của ta theo lối huấn hỗ của Hán nho và Đường nho, rồi từ đời Lê về sau, thì theo
Trang 17học của Tống nho, lấy Trình Chu làm tiêu chuẩn, ta chỉ quanh quẩn ở trong cái phạm
vi hai lối học ấy" [29, tr.735] Tổng kết về chế độ khoa cử của Nho giáo, nhà nghiêncứu Trần Đình Hượu nhận xét: “Từ năm 1374 đến năm 1442, thể chế khoa cử đượcxác định dần theo hướng thi tiến sĩ Thể chế đó ổn định cho đến đầu thế kỷ XX, vớinhững thay đổi không quan trọng.” [26, tr.124]
Thực ra, trong lịch sử Nho học Việt Nam không phải không có những cố gắngcanh tân Tư liệu lịch sử từng nhắc đến Hồ Quý Ly, tiếc là cứ liệu cho sự canh cải củaông hầu như không còn Đến giữa thế kỷ XIX có một nỗ lực theo hướng đó được ghi
lại Lời tựa do chính tác giả sách Khải đồng thuyết ước là Phạm Vọng cho biết từ 1853
đã có sự thay đổi trong cách giáo dục ở Việt Nam: "Tôi lúc còn bé, được cha tôi theo
thói thường: trước hết cho đọc sách Tam tự kinh, cùng các sử đời Tam hoàng, rồi đọc các sách kinh, truyện Tập làm lối văn thi cử thời đó, mong sao cho đúng cách thức đi
thi, chiếm được mũ xanh áo đẹp thì thôi Còn đến như, trên thì thiên văn, dưới thì địalý, giữa thì nhân sự, cùng là các đời trước sau trong sử nước ta thì chưa hề giảng đếnbao giờ cả May nhờ cha tôi dạy bảo, nhờ phúc đức tổ tiên, năm Thiệu Trị thứ nhất tôi được trúng thi hương Sau được lạm làm tri huyện Nam Chân, may được chuyểnhuyện nhỏ dân thưa, công đường ít việc, tôi sưu tập nhiều sách, xem được ít nhiều, bèntrích lấy những điều đại lược về thiên văn, địa lý, thế thứ các đời, biên thành một
tập, đặt tên gọi là Khải đồng thuyết ước khiến cho con cháu trong nhà học tập" [17,
tr.271] Tuy nhiên, cuốn sách học này của chỉ lưu hành trong gia tộc mà thôi
Tóm lại, sử liệu và các công trình nghiên cứu về Nho giáo đã cho thấy Nho học
có mặt ở Việt Nam rất sớm, và có một lịch sử phát triển lâu dài Trải qua nhiều hoàncảnh lịch sử khác nhau, Nho học Việt Nam không có những thay đổi lớn Đó là môhình giáo dục duy nhất đào tạo trí thức, đào tạo đội ngũ quan lại Tính tích cực và hạnchế của Nho học Việt Nam cũng từ đây mà nảy sinh: “gây ra trong xã hội phong khíhiếu học Nhưng mặt khác, nó cũng làm người đi học chạy theo công danh, học để làmquan, không chủ ý mục tiêu tu dưỡng và tìm kiếm tri thức Thi tiến sĩ đòi hỏi thí sinhtrình bày đạo lý kinh điển bằng hình thức thơ, phú, biền văn,… hướng người đọc vàonhớ kinh điển và trau dồi từ chương mà ít quan tâm đến tìm tòi chân lý” [26, tr.124]
Trang 181.2 Những cải cách giáo dục của thực dân Pháp ở Việt Nam đầu thế kỷ XX
Những năm cuối thế kỷ XIX biến cố lịch sử thực dân Pháp xâm chiếm, ViệtNam từng bước thành thuộc địa dưới sự cai trị của Pháp đã trở thành một cuộc thửthách không cân sức cho Nho giáo với tư cách hệ tư tưởng nền tảng của thiết chế xãhội Bất lực trong cuộc chiến bảo vệ “vương thổ”, cả thế hệ nhà nho đau xót, phẫn uất
Và đã có những người cất tiếng phê phán sự vô dụng của sách vở, của lối học, chế giễu
sự vô dụng của nhà nho mà Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương là hai tác giả tiêu biểu.Nhưng cho đến trước khi kỳ thi Nho học cuối cùng diễn ra vào năm 1915, học vấn vàthi cử Nho giáo chiếm vị trí độc tôn trong xã hội Bắc Kỳ
Tình hình này đã dần thay đổi, theo những chủ trương về giáo dục của chínhquyền thực dân Theo nghiên cứu của một chuyên gia về giáo dục Việt Nam thời Phápthuộc, Trần Thị Phương Hoa, thì “Paul Bert, tổng trú sứ đầu tiên của Bắc Kỳ và Trung
kỳ đã quan tâm đến việc phát triển giáo dục từ trước khi bộ máy hành chính Liên bangĐông Dương chính thức được thiết lập Năm 1886, Dumoutier đã được cử làm nhà tổchức và thanh tra về giáo dục Pháp-An Nam Vốn là một chuyên gia về văn hóaphương Đông, là một nhà Trung Quốc học, Dumoutier đã rút kinh nghiệm từ việc xóa
bỏ các trường dạy chữ Nho ở Nam Kỳ và chủ trương tiếp tục duy trì những trường bản
xứ dạy chữ Nho ở Bắc Kỳ, đồng thời tiến hành cải cách các trường Nho giáo đểchuyển dần sang giáo dục Pháp-An Nam, nhằm hoàn thiện một nền giáo dục mà ông tacoi là có tầm quan trọng đặc biệt… Tuy nhiên, quyết định này đã không được thựchiện ngay mà phải 11 năm sau mới được đưa vào thực tiễn” [21] Có hai lý do dẫn đến
sự trì hoãn này, đó là chiến tranh và vì bản thân giới cầm quyền thực dân đã nhận ra sựníu kéo của tâm lý trong nền học vấn cũ vẫn còn nặng nề, đặc biệt là tại Bắc Kỳ
Mặt khác, truyền thống hiếu học, coi trọng khoa cử của người Việt cũng đượccác nhà cai trị tận dụng theo cách “điều hòa”, mềm mỏng hoá” các chủ trương giáodục Dẫn chứng là việc Paul Doumer, sau khi tới dự lễ xướng danh kỳ thi Hương năm
1897 ở Nam Định, chứng kiến tinh thần hiếu học và lòng quyết tâm của các sĩ tử Bắc
Kỳ, năm 1898 đã ra quyết định đưa chữ quốc ngữ, chữ Pháp vào kỳ thi Hương vì “Ở
kỳ thi Hương Nam Định có khoảng 10 ngàn người tham dự Nếu cứ 1 người có mặt tại
Trang 19cuộc thi, có ít nhất 3 người khác theo học thì tổng số người học là 40 ngàn Nếu ta đưatiếng Pháp và Quốc ngữ vào trường thi thì nghiễm nhiên ta có 40 ngàn người phải họctiếng Pháp và Quốc ngữ, mà ngân sách lại không phải chịu gánh nặng Hiệu quả đốivới nền hành chính và chính trị sẽ là vô giá” [dẫn theo 21].
Ngày 27 tháng 4 năm 1904, Chính phủ Bảo hộ ra Nghị định 1331 về tổ chức lạigiáo dục công ở Bắc Kỳ, gồm năm phần do Paul Beau ký Theo Nghị định này, cáctrường học công gồm hai loại: trường dành cho người Âu và trường dành cho ngườibản xứ … Mục tiêu của người Pháp là xây dựng một nền giáo dục có sự hòa trộn giữacác yếu tố Pháp với các yếu tố Việt Nam, thông qua các nhà trường Pháp-Việt Trongbối cảnh các trường Nho giáo vẫn đóng vai trò chủ đạo, nhiệm vụ đầu tiên mà thựcdân Pháp đặt ra là phải cải cách các trường này và dần chuyển sang nhà trường kiểumới Năm 1906, Paul Beau cho thành lập Hội đồng Hoàn thiện Giáo dục Bản xứ nhằmbàn bạc về việc tiến hành cải cách các trường bản xứ và đưa các trường bản xứ vào hệthống giáo dục công lập dưới quyền của Nha Học chính Hội đồng nhóm họp lần đầutiên vào tháng 4 năm 1906 với sự có mặt của Vua Thành Thái và Toàn quyền PaulBeau Ngày 16 tháng 5 năm 1906, Toàn quyền Paul Beau ra Nghị định quy định chứcnăng của Hội đồng, trong đó có việc bàn các biện pháp tuyển dụng và đào tạo giáoviên cho các trường bản xứ mới, nghiên cứu các tác phẩm văn học, triết học, lịch sửbằng tiếng bản xứ, hiệu đính lại để lấy làm tài liệu nhà trường Sau một tháng bàn bạcthảo luận, Hội đồng đã soạn ra bản quy chế giáo dục … Khác biệt quan trọng nhất củatrường bản xứ cải cách là ngoài học chữ Hán phải học thêm chữ Quốc ngữ, chữ Pháp(không bắt buộc), toán và một số môn khoa học [21]
Ngày 16 tháng 3 năm 1916, Sở Học chính Bắc Kỳ đã trình một báo cáo dài 15trang lên Toàn quyền Đông Dương về việc tổ chức giáo dục bản xứ ở Bắc Kỳ sau khihủy bỏ các kỳ thi Nho giáo Hội đồng nhận định rằng trong hai kỳ thi Hương 1909 và
1912, các thí sinh đã thi thêm một số môn cần thiết như tiếng Pháp, quốc ngữ để chuẩn
bị tinh thần cho một nền giáo dục kiểu mới Sau kỳ thi Hương cuối cùng năm 1915,nền giáo dục bản xứ gồm hai cấp học, đặt dưới sự quản lý của Sở Học chính Bắc Kỳ làbậc Ấu học và Tiểu học Tiếp đó, với việc ban hành bộ Học chính tổng quy vào ngày
Trang 2021 tháng 12 năm 1917 và được hiện thực hóa từ năm 1918, tất cả các trường Tổngtrong hệ thống bản xứ đều chuyển thành các trường Sơ học nhà nước trong hệ giáo dụcPháp-Việt1 Đây chính là thời điểm mà cuối cùng người Pháp đã thực hiện được áp đặtlên thuộc địa quyền lực của họ vốn được khẳng định từ những năm cuối thế kỷ XIX
“Điều cần phải được phát biểu một cách công khai là, trong thực tế, các chủng tộc ưuviệt có quyền hạn trên các chủng tộc hạ đẳng” [12, trích diễn văn của Jules Ferry(1832-1893) đọc vào những tháng khởi đầu của nhiệm kỳ thủ tướng lần thứ nhì củaông ta] Bản chất thực sự của việc “gánh vác sự mệnh khai hoá cho các dân tộc dãman” này lại tiếp tục được Pierre Pasquier - Toàn Quyền Đông Dương thuộc Pháp –
1 Nhiều nghiên cứu khác về chính sáhc giáo dục của Pháp tại Việt nam những năm đầu thế kỷ XX cũng khẳng định: toàn quyền Paul Beau (1902-1906) đã tiến hành một chính sách giáo dục mới Nền giáo dục của Việt Nam trong thời gian này đã có một bước tiến bộ đáng kể Chính sách giáo dục của Paul Beau tập trung vào 6 nhiệm vụ sau: 1) tăng lương cho giáo viên, 2) tạo điều kiện cho các giáo viên trường tư có cơ hội được giảng dạy trong các trường công lập, 3) mở các trường sư phạm và mở 1 khoa sư phạm trong trường Đại học Hà Nội, 4) xuất bản các sách giáo khoa viết bằng tiếng Pháp, chữ quốc ngữ và chữ Hán, 5) thành lập Ủy ban Hoàn thiện nền Giáo dục bản địa, 6) tổ chức tốt hơn các kỳ thi Chính sách giáo dục này trước tiên được áp dụng ở Bắc kỳ và Trung kỳ, rồi sau mới phổ biến ở Nam kỳ kể từ năm 1909 trở đi Cũng trong năm này, Paul Beau đã mở trường Đại học đầu tiên ở Hà nội, đó là trường Đại học Đông Dương, có nhiệm vụ giúp giai cấp thượng lưu bản xứ làm quen với tư tưởng Pháp.
Chính sách giáo dục do Paul Beau khởi xướng đã tác động vào những đối tượng chính sau đây: (1) Hệ thống trường Việt truyền thống (học chữ Hán của giáo dục Nho giáo), (2) Hệ thống trường Pháp – Việt, (3) Hệ thống các trường chuyên nghiệp, (4) Hệ thống trường Việt Hệ thống trường Việt bao gồm 3 cấp Cấp I là trường Ấu học, cấp II là trường Tiểu học và cấp III là Trung học.
Chuyển sang thời Toàn quyền Klobukowsky (nhiệm kỳ 1908-1910), chế độ quản lý của người Pháp chú trọng đến chính sách giáo dục theo chiều rộng, tức là hạn chế giáo dục Cao đẳng và Đại học,
và chỉ chú trọng phát triển giáo dục tiểu học và đào tạo kỹ thuật Dưới thời Albert Sarraut (1911 – 1919) nền học vấn ở Việt Nam được tổ chức lại như sau: Sarraut đã cho bãi bỏ kỳ thi hương ở Bắc kỳ vào năm 1915 và ở Trung kỳ vào năm 1918, thay vào đó bằng một sự phổ biến chương trình học bằng tiếng Pháp Trường trung học ở Hà Nội được mở cho học sinh người Việt, và Đại học Hà Nội hoạt động lại kể từ năm 1917 Chính sách giáo dục của Albert Sarraut đánh dấu bằng sự ra đời của bộ Học chính tổng quy áp dụng cho cả nước.
Dưới thời Toàn quyền Alexandre Varenne (nhiệm kỳ 1925-1928), chính quyền thuộc địa lại
cố gắng phục hồi các trường học ở các xã và điều chỉnh chương trình học cho phù hợp với từng dân tộc và ngôn ngữ Varenne cũng tập trung vào việc nâng cao khả năng giảng dạy của giáo viên, đồng thời cố gắng thu hút các giáo viên giỏi hơn đến từ Pháp và tăng lương cho giáo viên Varenne dành nhiều chỗ hơn cho việc dạy và học chữ Hán.
Trang 21công khai một lần nữa trong bài phát biểu ngày 15 tháng Mười năm 1930: “Chúng taphải làm việc để đạt các mục đích … nước Pháp sẽ nhìn thấy trên mảnh đất Á Châunày sự đâm chồi nảy lộc của một trong những cành cây xinh đẹp nhất mọc ra từ tinhthần của nó [tức nước Pháp, chú của người dịch] và những mục đích mà trong sự hòahợp và thống nhất mọi con dân của nó sẽ chứng thực cho tính chất bền bỉ của sự hiệndiện của nó…” [31].
Như vậy, kể từ năm 1906, cùng với việc thành lập Hội đồng hoàn thiện giáodục bản xứ, hệ thống các trường công bản xứ đã được đổi mới nhằm mục tiêu cuốicùng là cung cấp nguồn nhân lực chuẩn bị cho sự phát triển của các trường Pháp-Việt.Ngoài các trường tư Nho giáo là các trường thầy đồ ở làng xã, các trường công bản xứbao gồm trường Ấu học, Tiểu học và Trung học Chương trình của các trường đều cóthêm phần chữ quốc ngữ, một số môn khoa học như toán, sử, địa, đặc biệt còn có thêmphần tiếng Pháp tự chọn Ngoài việc lập các trường bản xứ công lập (nằm dưới sựgiám sát của Nha Học chính), hệ thống thi cử bản xứ cũng có nhiều thay đổi Để tốtnghiệp các trường bản xứ, học sinh phải thi qua các kỳ tuyển, khảo khóa, hạch (tươngứng với ba bậc Ấu học, Tiểu học, Trung học) Đặc biệt, kể từ kỳ thi Hương năm 1909,ngoài kỳ thi văn sách và luận chữ Hán còn có thêm các kỳ thi luận quốc ngữ, toán,khoa học, và tiếng Pháp (tự chọn) Trong kỳ thi Hương cuối cùng năm 1915, thí sinhbắt buộc phải thi tiếng Pháp Năm 1918, các trường bản xứ chuyển thành trường Pháp-Việt, giáo dục bản xứ không còn thuộc hệ thống trường công và không trực thuộc sựquản lý của Sở Học chính Bắc Kỳ [21]
Nhìn chung, tình hình giáo dục của Việt Nam từ những ngày đầu thực dân Phápxâm lược cho đến những năm 1930, 1940 là một chuỗi những điều chỉnh, tươngnhượng để cuối cùng có một chuyển đổi từ nền giáo dục truyền thống sang nền giáodục của phương Tây Chính quyền thực dân đương nhiên thực thi chủ trương phát triểngiáo dục này không ngoài mục đích cai trị và khai thác nguồn lợi ở thuộc địa Tuynhiên, với việc hủy bỏ hoàn toàn nền giáo dục truyền thống, một nền giáo dục đượcxem là văn minh, hiện đại của phương Tây đã có không gian để cắm rễ; và việc
Trang 22chuyển giao (từ phía thực dân), tiếp biến (từ phía trí thức dân tộc) nền giáo dục mới đãgóp phần tạo dựng, phát triển một nền giáo dục Việt Nam hiện đại.
1.3 Cấu trúc tầng lớp trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX
Sơ lược bối cảnh giáo dục – một phân nhỏ của bối cảnh lịch sử, văn hoá – trìnhbày ở trên cho thấy, vào những năm đầu thế kỷ XX tại Việt Nam đã diễn ra nhữngbước chuyển đổi dần dần nhưng căn bản nền giáo dục Việt Nam Bối cảnh cụ thể đó
đã tác động trực tiếp đến cấu trúc trí thức Việt Nam giai đoạn này
Không khó để nhận ra rằng tương ứng với hai mô hình giáo dục là hai nhóm tríthức mà tự họ khi ấy đã định danh cho mình là cựu học, tân học Và ở giữa hai địnhdanh có thể coi là đối lập ấy lại có những trạng thái giao thoa hết sức phong phú: tríthức cựu học cố gắng chuyển mình theo tư tưởng mới, họ được gọi là thế hệ nhà nhoduy tân mà đại diện là Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và phong trào Đông kinhnghĩa thục tại Bắc Kỳ năm 1907, hoặc được đào tạo cả cựu học và tân học với đại diệnPhạm Quỳnh; còn bên phía kia là trí thức Âu học, nhưng lại muốn quay về truyềnthống Sự phân chia cựu-tân như vậy rõ ràng chỉ mang tính chất tương đối, và do tìnhtrạng nhượng bộ của quá trình chuyển đổi mô hình giáo dục như đã nói ở trên, cấu trúctrí thức Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX càng trở nên phức tạp
Có thể kiểm chứng tính phức tạp này qua thái độ của các thế hệ trí thức nhữngnăm đầu thế kỷ XX đối với Nho giáo, Nho học Như đã nói ở trên, đây là thời kỳ của
sự đụng độ của hai luồng tư tưởng, hệ văn hóa đối lập: đông - tây, kim - cổ Sau gần
1000 năm thống trị ở Việt Nam với tư cách hệ tư tưởng chính thống, Nho giáo nóichung, Nho học nói riêng bước vào giai đoạn suy tàn Chưa bao giờ vấn đề “công tội”của Nho giáo, cái “ao sách ruộng nghiên” của những anh khóa lại bị đem ra cân đong,phán xét nhiều như thế Tìm trong tư liệu lịch sử, không khó để những phê bình gaygắt của giới học giả duy tân bấy giờ dành cho cổ học Phan Bội Châu (1867-1940) viết
trong Việt Nam quốc sử khảo: "Trung quốc bỏ Khoa cử từ năm Canh Tý (1900), Triều
Tiên bỏ từ năm Giáp Ngọ (1894), đó là một việc nhơ nhớp, duy chỉ nước ta còn có màthôi " và " người ta mửa ra, mình lại nuốt vào" [36] Phan Kế Bính (1875-1921) cũngthở than: “Than ôi, học là để mở trí khôn cho loài người mà chỗ hương thôn lại là gốc
Trang 23của xã hội Cứ như lối học của ta thuở trước thì chẳng những làm chậm đường tiến hóacho dân mà còn làm hại cho tính thông minh của người ta nữa” [4, tr.162] Đây là cáchnhìn được Ngô Tất Tố ít nhiều chia sẻ Nhưng bên cạnh đó, lại cũng có không ít nhữngnỗi luyến nhớ nền giáo dục được bảo lưu các triều đại phong kiến, gắn với những tinhhoa dân tộc, hoặc đoái nhìn lại nó với những ngậm ngùi về vàng son một thuở, nhưcách Chu Thiên thể hiện trong sáng tác của mình.
Trong công trình chuyên sâu về trí thức Việt Nam, Ba thế hệ trí thức người Việt
(1862-1954), từ góc độ liên ngành xã hội học lịch sử, tác giả Trịnh Văn Thảo đã cho
rằng trong khoảng thời gian đó có ba thế hệ1: thế hệ năm 1962: Trí thức cổ điển; thế hệ1907: Trí thức của hai thế giới; thế hệ 1925: Trí thức Âu hoá [45, tr.27-31] Dù chỉ đặcđịnh cho thế hệ 1907 là thế hệ trải qua những thoả hiệp cũ-mới2, truyền thống và hiện
1 Khái niệm “thế hệ” được Trịnh Văn Thảo mượn từ định nghĩa của G Noiriel: “chỉ một tập hợp các
cá nhân có chung những trải nghiệm sáng lập và hiểu biết về cùng những hình thái ban đầu của việc xã hội hoá” [dẫn theo 45, tr.27]
2 Trong một hướng quan tâm khác, Lê Phương Duy đã có những khảo sát cụ thể về sự tự phân hoá trong tầng lớp nhà nho những năm đầu thế kỷ XX như sau:
* Theo Trúc Hà trong bài Nhà Nho có lẽ chịu sầu? (Nam Phong tạp chí, số 130, năm 1928),
lớp nhà nho đương thời tách thành “ba bè bảy đảng” với hai nhóm chính: “có đảng chứa chan những
hy vọng cao xa, đương hăng hái trên con đường tân học” và “có đảng còn đang yên vị trong nho trường mà than dài, mà thở vắn” Đối với lớp trước thì ông khen ngợi “có cái tâm chí cao thượng ấy,
thật đáng kính phục thay” Còn đối với lớp sau, ông bày tỏ “nghĩ cũng ái ngại xót xa thay”.
* Theo Nguyễn Đôn Phục, trong bài Phái nhà Nho khoảng ba mươi năm nay đối với sự học cũ (Nam Phong tạp chí, số 195, năm 1934): Giai đoạn này, đội ngũ nhà Nho thành 3 phái: phái duy tân,
phái lười biếng, bạc nhược và phái a dua Phái duy tân: “Phái này thì nhờ về cái tinh hoa của Khổng giáo, biết đạo minh đức, biết nghĩa tùy thời Kịp khi gặp có phong trào duy tân của Trung Quốc, tỉnh ngộ ra rằng lối khoa cử là hủ bại, không đủ ứng tiếp với thời đại đua chen, cực lực hô hào công kích lối cũ, hoan nghênh lối mới, để làm tai làm mắt, hướng đạo cho quốc dân” Ông ca ngợi phái
này “thực cũng có can đảm đứng giữa trần ai, không bị sóng gió của thời thế cuốn đi” Tuy nhiên,
nhược điểm của phái duy tân này là bởi sự cực đoan: “Nhất thiết lối học cũ đều cho là hủ bại hay là nhi hí Thậm chí có danh từ là thủ cựu quỉ để chê những kẻ nhà nho không biết duy tân Trong khi hô
hào đó không khỏi có lời thiên lệch quá đáng” Phái lười biếng, bạc nhược: “Tuy là danh hiệu nhà
nho, nhưng kỳ thực cũng không phải là chí khí nhà nho Cái thân phận các ông ấy chỉ theo phong trào của thời đại mà lên xuống Thời đại dùng chữ Nho thì các ông ấy túa lên như mây, thời đại không dùng chữ Nho thì các ông ấy cái tinh thần chết hẳn Hoặc là đủng đỉnh trong ngõ cúc tùng, hoặc là tiêu
Trang 24đại [45, tr.28-30], nhưng thực tế đây là trạng thái còn kéo dài sang cả thế hệ sau Nhưnhận định của Trịnh Văn Thảo, thế hệ “Trí thức Âu hoá” 1925 đã gạt đội ngũ trí thứccũ “sang nghiệp viết lách và hoạt động chính trị, cách mạng” [45, tr.30], và ở phạm vivăn hoá, cũng “có hai quỹ đạo riêng rẽ: một nhóm Âu hoá, gồm những người viết văn(như nhóm các nhà văn nổi tiếng của Tự lực văn đoàn từ năm 1930 đến năm 1940) vàcác nhà nghiên cứu khoa học xã hội (dân tộc học, sử học, khảo cổ học)… và một nhómtrí thức chủ yếu là những “người kế thừa” gắn bó với truyền thống gia đình…” [45,tr.31] Đặc biệt, Trịnh Văn Thảo cũng khẳng định: Giữ a hai t h á i cự c nà y l u ôn tồ n tạ
i m ộ t m é p lề trung g i an, linh hoạ t và sống độ n g, thu nhậ n lầ n lư ợt cá c lự a chọn và khẩ u hiệ u đối n g hịch, là n ạ n nhân và đ ồng t h ời là tòng phạ m của sự th
a y đ ổi xã hộ i ” [45, tr.31; học viên nhấn mạnh] Mặc dù đây là nhận định rút ra từmột nghiên cứu thế hệ từ góc nhìn xã hội học lịch sử nhưng chúng tôi vẫn thấy nhiềuđiểm gợi dẫn thú vị cho việc tìm hiểu thế hệ các nhà nho (tức trí thức cựu học) buộcphải xuôi theo thời đại canh tân trong phạm vi nghề viết những năm 1930, 1940 tạiViệt Nam mà Ngô Tất Tố
và Chu Thiên là hai trường hợp cụ thể
thực” Phái a dua: “Chỉ biết theo đời mà không biết vãn cứu cho đời Phái ấy thường có cái kỹ dạng
nghênh hợp phong trào, và cái tâm lý sách ẩn hành quái Nên chi ở thời đại nào cũng cũng mở mang miệng lưỡi, vẽ vời văn chương” Phái này trong buổi đầu“đương lúc dân trí còn chửa khai, vạn sự còn
ê trệ, phái ấy hô hào duy tân, công kích thủ cựu” Tuy nhiên, “kịp khi hai chữ duy tân đã thành hủ
sáo”, thì phái này chỉ biết “hô hào với cổ động suông” Cái tội của phái này được quy kết là “a dua thời thế”, không biết tìm cách “giàng buộc tiếp nối cái dây cựu học sắp đứt” mà lại còn “toan cầm dao cắt đứt đi”.
* Phạm Quỳnh (trong bài Nhà Nho, Nam Phong tạp chí, số 172, năm 1927) đồng quan điểm
với với Nguyễn Đôn Phục khi chia lớp trí thức cũ thành hai phái duy tân và a dua Ông thể hiện cái nhìn khá bi quan về hiện trạng của Nho sĩ đương thời với sự “tiến thoái lưỡng nan”, không thể duy tân song cũng khó lòng “duy cựu”: “Nay nhà Nho ta, từ khi thấy thời thế thay đổi, tự xét mình không đắc dụng với đời nữa, sinh ra chán nản, trước sau chỉ biết giữ một cái thái độ tiêu cực Thảng hoặc cũng có kẻ hăng hái, không muốn cam tâm chịu tiêu cực nữa, thì lớp trước kia hô hào cải cách, rủ nhau xuất dương rồi mà sở chí sở sự không thành, kết cục đến kẻ bôn ba nơi hải ngoại, người ủ dột chốn lao lung, còn ai sống sót thì cũng là đem cái thân tàn mà ngậm ngùi với nước non bạc bẽo, nghĩ càng thêm
cảm lại thêm thương”.
[Lược khảo nội dung bàn về Nhà Nho Việt Nam đầu thế kỷ XX trong một số bài viết trên tạp chí Nam
Phong,
truy cập tại h tt p : / / hu c edu .v n /l uo c - k ha o - no i - dung - ban -v e - nh a - nh o -v i e t - na m - da u - t he -k i - x x - qu a - m o t -
so-bai-viet-quoc-ngu-tren-nam-phong-tap-chi-1779-vi.htm]
Trang 251.4 Học vấn và những tác phẩm của Ngô Tất Tố, Chu Thiên về Nho giáo
1.4.1 Học vấn của Ngô Tất Tố và tác phẩm “Lều chõng”
Ngô Tất Tố (1893-1954) sinh ra tại làng Lộc Hà, tổng Hội Phụ, phủ TừSơn, Bắc Ninh (nay là huyện Đông Anh, Hà Nội) và được được thụ hưởng một nềngiáo dục Nho học ngay từ nhỏ Ngô Tất Tố được ông nội dạy vỡ lòng chữ Hán ở quê,sau đó ông theo học với một số thầy đồ trong vùng Sau khi đỗ kỳ sát hạch, Ngô Tất
Tố ứng thí kỳ thi hương nhưng bị hỏng ở kỳ đệ nhất Năm 1915, ông đỗ đầu kỳ khảohạch toàn tỉnh Bắc Ninh, nên được gọi là đầu xứ Tố, rồi thi hương lần thứ hai Ôngqua được kỳ đệ nhất, nhưng bị hỏng ở kỳ đệ nhị Đây cũng là khoa thi cuối cùng tạiBắc Kỳ
Năm 1926, Ngô Tất Tố ra Hà Nội làm báo, bắt đầu với tờ An Nam tạp chí Khi
tờ báo phải tự đình bản vì thiếu tiền, Ngô Tất Tố vào Sài Gòn Ở Sài Gòn gần ba năm,
Ngô Tất Tố trở ra Hà Nội Ông tiếp tục sinh sống bằng cách viết bài cho các báo: An
Nam tạp chí, Thần chung, Phổ thông, Đông Dương, Hải Phòng tuần báo, Thực nghiệp, Con ong, Việt nữ, Tiểu thuyết thứ ba, Tương lai, Công dân, Đông Pháp thời báo, Thời vụ, Hà Nội tân văn với 29 bút danh khác nhau Năm 1945, khi Cách mạng
tháng Tám nổ ra, Ngô Tất Tố tham gia vào ủy ban giải phóng ở quê nhà, xã Lộc Hà.Năm 1946, ông gia nhập Hội văn hóa cứu quốc và lên Việt Bắc tham gia kháng chiếnchống Pháp với tư cách một người viết báo và viết văn Ông qua đời ngày 20 tháng 4năm 1954 tại Yên Thế, Bắc Giang
Có thể thấy, Ngô Tất Tố đã được trang bị vốn tri thức Nho giáo trọn vẹn nhưmọi kẻ sĩ truyền thống, nhưng trong hoàn cảnh xã hội đổi thay, con đường tiến thânbằng khoa cử bị ngáng trở, ông đã có một lối rẽ sang một nghề nghiệp mới xa lạ vớinho sĩ là làm báo và viết văn Ngô Tất Tố làm báo trước khi thử làm một người sángtác văn chương, và di sản báo chí của ông cũng đồ sộ hơn lượng tác phẩm văn chươngrất nhiều Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra sự gặp gỡ giữa ký giả Ngô Tất Tố và nhà vănNgô Tất Tố là hiện thực tăm tối của xã hội Việt Nam những năm 1930-1040, trong đónhững cảnh sống khốn cùng của tầng lớp dưới đáy xã hội làng xã giữa sự o ép củathiết chế thực dân-phong kiến cùng những tập tục hủ lậu được ông đặc biệt chú ý Bên
Trang 26cạnh đó, có một mảng đời sống khác là sinh hoạt nho học đã được Ngô Tất Tố miêu tả
hết sức thành công qua một số tác phẩm văn chương, tiêu biểu là Lều chõng.
Bối cảnh Lều chõng bắt đầu từ năm Minh Mệnh thứ 12 đến năm Kiến Phúc
(1884) Thời gian đó thực dân Pháp đang tiến hành nhiều hoạt động quân sự đe dọanền độc lập nước nhà nưng triều đình phong kiến vẫn cổ hủ trong quy cách thi cử lạchậu.Thí sinh muốn thi đỗ đạt thì phải dùi mài kinh sử ở xứ Bắc mà Nam sử lại chỉ làthứ yếu Họ chỉ cần nhai lại các giáo lí và tuân thủ nguyên tắc “tôn Khổng, sùng Nho,chuyên kinh, phục cổ”, những nguyên tắc giáo dục mà Khổng Tử đã đề ra cho môn đệcủa mình hai ngàn năm trước
Tác phẩm đã dựng lại một cách sinh động, chân thật bức tranh vừa bi thảm vừa
khôi hài của chế độ giáo dục và khoa cử mục nát dưới triều Nguyễn Viết Lều chõng,
Ngô Tất Tố cũng dành phần thiện cảm rõ rệt cho những nhà nho như Đào Vân Hạc,Hải Âu, cụ bảng Tiên Kiều, cụ nghè Quỳnh Liên… Qua họ, ông muốn gửi gắm mộtphần tâm sự của chính mình và những người trí thức tiểu tư sản bi quan bất lực từ sau
1930, gợi ra một con đường thoát li mang vẻ “thi vị ngày xưa” của những tâm hồn nho
sĩ tài hoa lỡ vận
Với Lều chõng, Ngô Tất Tố muốn làm nổi bật lên những nét chính của cái sự
học và lối thi cử thời phong kiến với tất cả mọi sự thối nát của nó Vì vậy, nhiềunghiên cứu đã cho rằng tác phẩm thực sự là bản án đanh thép đối với chế độ giáo dụckhoa cử truyền thống Việt Nam
Tóm lại, Lều chõng đã miêu tả tấn bi kịch của những nhà nho có tài trong xã hội
phong kiến và được coi là lời chỉ trích sâu sắc những tồn tại của nền văn hóa cũ: "Tácphẩm của Ngô Tất Tố như một lời cải chính, hơn thế, một bản tố cáo chế độ khoa cửlỗi thời và thấp thoáng sau mỗi chương, mỗi hàng chữ là một nụ cười chế giễu, có khi
là tiếng cười ra nước mắt" (Lời giới thiệu Lều chõng, bản in 2002 của Nhà xuất bản
Văn học)
Trang 271.4.2 Học vấn của Chu Thiên và tác phẩm “Bút nghiên”, “Nhà nho”
Chu Thiên (1913-1992) tên thật Hoàng Minh Giám, khi trước tác, còn có thêmbút danh khác là Dương Hoàng Chu Thiên sinh ra trong một gia đình có truyền thốngNho học tại thôn Đô Hoàng, xã Yên Thành, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Trước năm
1945, ông dạy học cho các trường tư và viết văn ở Hà Nội Đây cũng là thời kỳ ChuThiên viết nhiều tiểu thuyết lịch sử, dã sử và nghiên cứu lịch sử Thời kỳ kháng chiến
chống Pháp, ông vừa dạy học vừa viết cho các báo Nam Định, Kháng chiến, Cứu quốc
Thủ đô, và Cứu quốc tại vùng chiến khu kháng chiến Hòa bình lập lại (1954), ông lần
lượt đảm nhận các công việc như Hiệu trưởng trường Trung học thị xã Phủ Lý, tổtrưởng tổ phiên dịch trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, giảng viên lịch sử cận hiện đại
và cổ trung đại Việt Nam của Đại học Tổng hợp Hà Nội Thời gian này, ông hoàn
thành bộ sách Bóng nước Hồ Gươm (2 tập, 1970) lấy bối cảnh những năm đầu thực
dân Pháp chiếm đóng thủ đô Ngoài ra ông còn viết giáo trình và sách nghiên cứu vềlịch sử và văn học
Theo thống kê chưa đầy đủ của cá nhà nghiên cứu, Chu Thiên để lại nhiều tiểu
thuyết lịch sử như: Lê Thái Tổ (1941), Bà Quận Mỹ (1942), Cháy cung Chương
võ (1942), Thoát cung vua Mạc (1942), Trúc mai sum họp (1942), Mợ Tú Tần (1942), Bút nghiên (1942), Nhà nho (1943), Biến đổi (1944), Bóng nước Hồ Gươm (1970)…
hay các sách nghiên cứu văn học và lịch sử như: Lê Thánh Tông (1943), Tuyết Giang
phu tử (1943), Văn Thiên Tường (1944), Hồ Quý Ly (1945), Khí tiết (1946), Giá trị Cách mạng Phan Bội Châu (1946), Chống quân Nguyên (1957), Hùng khí Thăng Long (1960), Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX (soạn chung).
Có thể thấy, vốn sống sâu rộng của nhà văn về lịch sử đã trở thành những tưliệu quý giúp nhà văn nhào lặn lên những tác phẩm văn học có giá trị về nhiều mặt Bên cạnh nội dung lịch sử nổi bật, độc giả còn có thể thấy tác phẩm của Chu Thiêncòn được xếp vào khuynh hướng “phục cổ” do có một số tiểu thuyết phục dựng đời
sống Nho học, tiêu biểu là Bút nghiên (1942) và Nhà nho (1943).
Bút nghiên lúc đầu xuất hiện dưới dạng từng truyện đăng nhiều kỳ trên báo Tri tân Ngay khi đó, Tiên Đàm Nguyễn Tường Phượng đã có bài phê bình, trong đó có
Trang 28đoạn: Có người bàn rằng lúc này là lúc vận hội khai thông, sao còn đem những chuyện
cổ hủ ấy, những chuyện cũ rích ấy ra làm gì! Nhưng thiên kiến tôi chính lúc này lạicần có một quyển sách nói rõ về "nhà nho" để phân biệt thế nào là "chân nho" và
"ngụy nho" Dưới ngòi bút chắc chắn và linh hoạt của Chu Thiên, ta thấy phơi ranhững hoàn cảnh, những hành vi của nhà nho, nhắc lại những bổn phận mà ngày nay ít
ai nghĩ đến: "phận sự học trò đối với thầy" Và, cái tình sư đệ ngày xưa cao lắm nênquý lắm, kẻ đệ tử một khi ở nhà thầy đào tạo mà theo được hết điều nghĩa lý củaThánh Hiền dạy bảo là yên trí sẽ thành người đủ tài để giúp vua giúp nước Hơn nữa,các ông thầy khi xưa lại là những "nhà nho" biết "tu thân" mình trước rồi mới thiếttrường dạy học, "năm nắm nơm nớp" bao giờ cũng lo làm sáng đạo Thánh Hiền và duytrì lễ giáo" Với câu văn cuối cùng này, Chu Thiên đã dự báo cuộc cách mạng sắp sửa
nổ ra [dẫn theo 2]
Còn tác phẩm Nhà nho (viết tiếp về cuộc đời sau khi vinh hiển của nhân vật chính trong Bút nghiên, Nguyễn Đức Tâm), tuy cùng miêu tả cuộc sống của kẻ sĩ dưới thời phong kiến, gần giống bối cảnh Lều chõng của Ngô Tất Tố, nhưng Chu Thiên đã
vẽ nên một bức tranh tươi sáng, hơi khác với bức tranh khá ảm đạm của Ngô Tất Tố
Đó là cảnh những trẻ em đi học, với những trò chơi liên quan đến chữ nghĩa như "Hồxách khố, cố đấm lưng", "thi đôi ăn đấm", "đố chữ" Đó là cảnh những người có họchành: người thi đỗ làm quan, người ở nhà làm thầy đồ, "kẻ xuất cũng như kẻ xử", đượcngười đời trọng vọng Người buông bút đi làm kinh tế thì trở nên giàu có, vì "sĩ kiêmbách nghệ, sĩ khả bách vi" Học trò kính nể thầy dạy Đó là cảnh những học trò đến tếtnhà thầy theo lệ "mồng hai nhà vợ, mồng ba nhà thầy", những người đi xin chữ, xincâu đối, cảnh tế lễ ở văn chỉ, ở các đám tang Có cả một tình yêu êm đềm thơ mộnggiữa anh học trò nghèo và con gái của thầy… Tóm lại đó là một xã hội lý tưởng, vàthuần khiết
Nhìn lại thời điểm sáng tác ba tác phẩm (lần lượt là 1939, 1942, 1943), độc giả
có thể đặt câu hỏi: vì sao lại có một xu hướng chung như vậy? Khảo sát của Trịnh VănThảo về các hoạt động của trí thức thời kỳ này có thể gợi ý cho chúng ta một lời giải.Theo nhà nghiên cứu, sau 1925, lớp trí thức Âu học phải đối đầu với sai lầm của mô
Trang 29hình giáo dục Pháp-Việt, và thất vọng trong những tham vọng xã hội, họ “chuyểnhướng sang lĩnh vực hoạt động văn hoá chính trị [45, tr.315] Theo đó, hoạt động Nho giáo nảy sinh cùng lúc với phong trào chấn hưng Phật giáo [45, tr.364-374].
Riêng với hoạt động khôi phục Nho giáo, Trịnh Văn Thảo cho biết: Trước sứctấn công quyết liệt của phái chống Nho giáo mà Nguyễn An Ninh, đặc biệt là PhanKhôi là hai đại diện tiêu biểu, “giới trí thức Khổng giáo đã tự tổ chức lại” [45, tr.370],
và Trần Trọng Kim “là người đóng góp quyết định cho phong trào cải cách Khổng
giáo Việt Nam với tác phẩm Nho giáo” [45, tr.370] Vẫn theo phân tích của Trịnh Văn
Thảo, “Điều hấp dẫn đầu tiên của cuốn sách là từ bản thân con người tác giả TrầnTrọng Kim được đào tạo cổ học từ khi còn nhỏ, sau đó tốt nghiệp trường Thông ngôn
và nhận được học bổng sang Pháp Sau khi tốt nghiệp trở về Trần Trọng Kim đượcđiều làm thanh tra giáo dục tiểu học khi về lại Bắc Kỳ Từ đây, ông đã viết một số sách
giáo khoa có giá trị văn học và sư phạm lớn như Việt Nam sử lược trước khi tập trung nghiên cứu học thuyết Khổng giáo và công trình Nho giáo là thành quả của cả quá
trình đó Tá c phẩ m m a ng d ấ u ấ n của cả hai q u á trình đ à o tạ o của tá c giả ” [45,tr.370-
371, học viên nhấn mạnh] Sự xuất hiện của Nho giáo được coi là “một sự kiện trọng
đại trong đời sống tri thức và tư tưởng những năm 1930” [45, tr.370], và ngay lập tứccuốn hai phái ủng hộ-chống đối vào cuộc tranh luận Ngô Tất Tố thuộc nhóm Hán họcbiểu lộ thái độ khâm phục với quan điểm của Trần Trọng Kim khi cho rằng cần tôntrọng những phần đóng góp của các nhà nho lớn trong từng thời kỳ [45, tr.371], chorằng hệ tư tưởng này đã “góp phần nhiều hơn so với Phật giáo và Đạo giáo trong việcxây dựng nền tảng chính trị, xã hội Việt Nam [45, tr.372]1 Như vậy có thể thấy Nhogiáo đã thành một câu chuyện sôi động trên báo chí, trong đời sống học thuật ViệtNam những năm 1920-1930
Tương tự, Nho giáo, Nho học cũng là chủ đề của nhiều tác phẩm văn chươngthời kỳ này Một cách khái lược nhất, có thể nhắc đến sáng tác của nhóm Tự lực vănđoàn Chính thức ra mắt vào năm 1934, Tự lực văn đoàn đưa ra tôn chỉ gồm 10 điểm,
và 2 trong số đó liên quan trực tiếp đến Nho giáo (Trọng tự do cá nhân, Làm cho
Trang 30người ta biết rằng đạo Khổng không hợp thời nữa) Rồi, cũng trong những năm Ngô
Tất Tố viết Lều chõng, Chu Thiên viết Bút nghiên, Nhà nho, Nguyễn Công Hoan có
Thanh đạm (1942) Và thực tế, có thể coi đây là sự tiếp nối và được nhìn nhận một
cách sâu sắc, triệt để hơn những tự phán của nhà nho kể từ Cao Bá Quát, qua NguyễnKhuyến, Trần Tế Xương
Tiểu kết
Trải qua gần 1.000 năm tồn tại ở Việt Nam, bước vào những năm đầu thế kỷ
XX, Nho học (và Nho giáo nói chung) mất đi vai trò và vị trí của mình trong đời sống.Nhà nước thực dân bước vào công cuộc khai thác thuộc địa đã thiết lập các thiết chếvăn hoá xã hội, trong đó có giáo dục Hệ công cụ của giáo dục truyền thống, từ nộidung học đến lối học từng bước bị thay đổi Nho học cho đến những năm 1917, 1918
về căn bản kết thúc sự tồn tại của mình
Sự thay đổi hai mô hình giáo dục cũ-mới đó (Nho học sang nhà trường Việt) cũng đồng thời tạo nên cuộc chuyển hoá và chuyển giao khá phức tạp trong cấutrúc trí thức Việt Nam bấy giờ Trí thức Nho học dần nhường chỗ cho trí thức Âu học,bên cạnh đó bản thân trí thức nho học cũng tự đổi thay để thích ứng với môi trường xãhội mới Và phương thức tồn tại thuận tiện hơn cả với nhà nho là viết văn
Pháp-Bị luận tội bởi chính các nhà nho và bị luận tội trước công luận về việc mấtnước, rồi bị thay thế bởi mô hình giáo dục thực dân, Nho học bị coi như một dị tật cầnphê phán, cắt bỏ trong đời sống tinh thần của Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX.Như vậy, không chỉ liên quan chặt chẽ đến vấn đề chính trị, Nho học còn là câuchuyện của văn hoá xã hội Chủ đề Nho học trong sáng tác văn chương ra đời trongmột bối cảnh như vậy Tham gia vào cuộc “tiễn đưa xã hội cũ” này, bên cạnh trí thức
Âu học, còn có sự hưởng ứng rất mạnh mẽ của các nhà nho canh tân, Âu hoá Thậmchí có thể nói rằng, với trải nghiệm sống, các nhà nho viết về Nho học thời kỳ nàykhông chỉ đông đảo mà còn để lại nhiều tác phẩm sâu sắc, sinh động và có ý nghĩa vềnhiều mặt
Trong dàn những cây bút đó, Ngô Tất Tố và Chu Thiên được cho là hăng hái,nhiệt huyết với mảng sáng tác ấy Trên một đề tài chung, hai tác giả đã đi sâu vào
Trang 31những khía cạnh khác nhau và thể hiện thái độ ít nhiều khác nhau đối với Nho học
đương thời Đúng như nhan đề tác phẩm, Bút nghiên đi sâu miêu tả hành trình học tập
từ một anh khóa đến một ông cử, Lều chõng chú trọng việc tái hiện trường thi và quy tắc khoa bảng, còn Nhà nho lại quan tâm nhiều hơn đến đời sống xã hội và những sinh
hoạt văn hóa của tầng lớp nho sĩ
Trang 32Chương 2 NHO HỌC TRONG CÁCH NHÌN CỦA NGÔ TẤT TỐ VÀ CHU THIÊN 2.1 Nội dung học của môn sinh Việt Nam thời trung đại
Chương trình, nội dung học là yếu tố cơ bản nhất của nền giáo dục, nó phản ánhbản chất của nền giáo dục ấy, đồng thời, góp phần quan trọng hình thành tri thức vàphẩm cách con người Quá trình học tập là nấc thang chuẩn bị dài hơi - “thập niênđăng hoả” - trước khi sĩ tử lều chõng đi thi
Ba tiểu thuyết Bút nghiên, Lều chõng và Nhà nho đều miêu tả con đường học
hành, thi cử, tiến thân của các nhân vật cụ thể (Nguyễn Đức Tâm, Đào Vân Hạc, khoáTuấn), qua đó khái quát diện mạo giáo dục và khoa bảng nước nhà, đặt trong bối cảnh
thời gian là triều Nguyễn Trong bộ ba ấy, Bút nghiên tái hiện rõ nét nhất bức tranh
trường lớp Nho học bởi tác phẩm bắt đầu từ khi nhân vật chính theo học vỡ lòng Trong
khi đó, cả Đào Vân Hạc (Lều chõng) và khóa Tuấn (Nhà nho) đều bước vào trang sách
khi đã qua tuổi thiếu niên, có vốn liếng chữ nghĩa, thậm chí đã thể hiện tư chất nổi trội.Chặng đường dùi mài kinh sử trên chiếu học của họ không được tác giả đi sâu miêu tảnữa Tất nhiên, thông qua các mẩu chuyện giữa đám sĩ tử, các cuộc thăm viếng môn đệ(như Vân Hạc đến thăm trường học của Khắc Mẫn), ta vẫn có thể thu lượm được nhữngthông tin đáng kể về nội dung và lề lối học hành của học trò thời Nguyễn
2.1.1 Chương trình khai tâm
Khai tâm (hay Sơ học) là chương trình đầu tiên dành cho trẻ bắt đầu chạm tayvào bút sách Hầu hết các lớp học này đều do các thầy đồ trường làng truyền dạy Họctrò bé mới cắp sách đến trường bắt đầu là học “chữ Nho” với các nét cơ bản, những lờirăn dạy mang tính “tuyên ngôn” để làm lòng suốt quá trình theo đuổi sự nghiệp bút
nghiên như: Thiên tính thông minh/ Thánh phù công dụng hay Thượng đại nhân, thánh
ất dĩ, hóa tam thiên thất thập sĩ/ Nhĩ tiểu sinh, bát cửu tử, giai tác nhân, khả tri lễ giã… Nội dung học nằm trong những sách cho trẻ em như Tam tự kinh, Tam thiên tự,
Sơ học vấn tâm
Trang 33Khi đã thạo chữ, nắm được quy luật về nghĩa, về thanh, hiểu được “chữ nặng”(là những chữ chỉ người, chỉ vật), “chữ nhẹ” (là hư từ trong câu như chi, hồ, giả, dã),
“chữ không nặng không nhẹ” (chỉ việc làm), biết luật bằng, trắc thì thầy trò bắt đầu rènđến kỹ năng làm câu đối, rồi làm thơ, từ thơ nôm đơn giản đến thơ chữ cầu kỳ, thâmthúy
2.1.2 Chương trình tiểu tập
Bước sang giai đoạn hai của hành trình học tập, việc học chữ, giải nghĩa đã coi
là kỹ năng tất yếu Học trò theo học đều phải là những người đã tập làm bài văn đốiđáp Ở trường tiểu tập của đồ Tri, “học đã chia ra từng lớp, bài văn lại chia ra từng kỳ:tập làm phú, tập làm văn sách, tập làm thơ” [56, tr.128]
Sau khi thành thạo thơ, phú, văn sách, bắt đầu học đến Kinh nghĩa và Tứ lục
Làm kinh nghĩa là thay lời cổ nhân mà thích rộng một câu trong sách cổ ra thành một bài Đây là lối “bát cổ” rất thông dụng trong trường thi Tứ lục lại là lối văn trên bốn dưới sáu hay trên sáu dưới bốn bao gồm chiếu, biểu, chế, sắc.
Để rèn luyện kỹ năng, học trò thường bắt đầu bằng việc nghe giảng giải, đọccác bài mẫu, chép và học thuộc lòng để bắt chước theo Bài tập về nhà hàng ngày làlàm văn để nộp quyển xin chấm Mỗi kỳ ôn, thầy đồ lại tổ chức bình văn giúp mỗingười nhận ra cái tài của người xưa, cái hay cái dở của mình và bạn học để rút kinhnghiệm Tầm quan trọng của việc bình văn được quan Nghè Phạm Xá nhấn mạnh:
“Văn hay phải biết bình mới được Không biết bình lấy, để người khác bình nhiều khingười ta làm sai cả cái hay của mình” [56, tr.207]
Như vậy, dừng lại ở lớp tiểu tập, học trò đã nắm được cơ bản hệ thống kinhsách và các kỹ năng viết bài phổ biến để ứng thí
2.1.3 Chương trình đại tập
Không phải học trò nào cũng đặt chân được vào trường đại tập và không phải aicũng có ý chí để theo đuổi đến nấc thang ấy Đã đi học đại tập, mục đích của học tròkhông phải để mở mang hiểu biết nữa mà đều hướng đến sự thi cử tiến thân Chươngtrình đại tập vì vậy mà thiên về mở rộng, ôn luyện các dạng văn bài đã học ở các lớp
Trang 34thầy giáo định hướng học ôn cho trúng Ví dụ, trước kỳ thi Hạch khoa Mão (gọi là thitrường nhất – kỳ thi đầu tiên chọn người dự thi Hương), thầy chú trọng kinh nghĩa bởi:
“Kinh nghĩa ở ngay trường nhất là một kỳ khó hơn và cần hơn cả Mười phần thìtrường nhất bị loại đến sáu, bảy phần Bởi vậy tôi phải thêm kinh nghĩa lên ba kỳ mỗitháng” [56, tr.188]
Bên cạnh việc ôn tập, ở chương trình đại tập, người ta cũng mở rộng vốn kiến
thức cho học trò với những lề lối mà có thể ở trường dưới chưa được học Bút nghiên
của Chu Thiên kể lại những ngày đầu đồ Tri dẫn trò Nguyễn Đức Tâm đến học quanNghè Phạm Xá, Tâm được biết đến một lối văn mới mà trước kia, thầy mình chưa từngdạy Vì ít tuổi, đa nghi nên Tâm đã đem lòng nghi kỵ, cho rằng, một là đồ Tri giấunghề, hai là đồ Tri nông cạn Điều đó làm cậu buồn bực mấy ngày, làm tổn thươngtình cảm hai thầy trò Sau đó, đồ Tri phải giải thích cặn kẽ, đưa cả lý do tại sao ở lớpdưới học trò chưa nên học, mới trút đi gánh nặng trong lòng Tâm Đây là những chitiết khá sinh động, vừa giúp Chu Thiên thuyết minh về 10 lối làm kinh nghĩa, vừa tạokịch tính, miêu tả được tâm lý, tính cách nhân vật Tuy nhiên, lời giảng của đồ Tritrong đoạn này dài dòng, đậm lối liệt kê, không thực sự phù hợp với văn cảnh giaotiếp Đây là hạn chế chung của Chu Thiên trong cả hai tiểu thuyết mà Ngô Tất Tố đãkhắc phục được
Có thể thấy, về cơ bản, chương trình đại tập lấy sự thi cử làm trọng yếu, nộidung học tập thiên về rèn luyện kỹ năng và sự trưởng thành của học trò được đánh giábằng những kỳ sát hạch Trường đại tập là cửa ngõ của những kỳ thi trọng đại
Những gì được Ngô Tất Tố và Chu Thiên miêu tả trong ba tác phẩm, đặc biệt là
trong Bút nghiên đều tương ứng với các nguồn sử liệu về Nho học và phù hợp với đúc
kết của các nhà nghiên cứu sau này, như tổng kết của nhà nghiên cứu người Pháp,
Poisson Emmanuel trong Quan và lại ở miền Bắc Việt Nam1 Điều đó chứng tỏ cả hai
1 “Thông thường, một khóa học kéo dài mười năm - “thập niên đăng hỏa” - “mười năm đèn sách” Thời nhà Nguyễn, chương trình phổ biến gồm 4 cấp học:
- Lớp khai tâm (vỡ lòng) kéo dài 4 năm Trẻ em được cha mẹ gửi gắm cho một thầy đồ trong làng, thường là những người đã đỗ nhất, nhị trường tại các kỳ thi Hương Nội dung của lớp khai tâm là học
Trang 35tác giả đã dùng lối viết chân thực, và chi tiết theo kiểu khảo tả, nhất là Chu Thiên, gần với kiểu biên khảo.
2.2 Lối học Nho giáo trong tác phẩm của Ngô Tất Tố và Chu Thiên
Trong ba tác phẩm của Ngô Tất Tố và Chu Thiên, Bút nghiên và Lều chõng thể
hiện rõ nhất nội dung này
2.2.1 Cách tổ chức học thể hiện qua mô hình trường lớp và quy tắc học.
Mô hình trường lớp: Theo khảo sát của các nhà nghiên cứu về giáo dục Việt
Nam thời thuộc địa (đầu thế kỷ XX), có hai loại trường Nho học: công và tư Trườngcông bao gồm các trường cấp huyện (đứng đầu là huấn đạo), phủ (đứng đầu là giáothụ) và cấp tỉnh (đứng đầu là đốc học) Các trường tư do các thầy đồ đảm nhiệm,thường làng nào ở Bắc Kỳ cũng có [21] Học sinh có thể học ở trường công hoặctrường tư Tuy nhiên, trong tác phẩm của Chu Thiên và Ngô Tất Tố, chúng ta chủ yếuthấy mô hình trường tư và là mô hình trường học ở Bắc Kỳ Trong công trình về văn
hoá dân tộc Bản sắc văn hóa Việt Nam, nhà nghiên cứu Phan Ngọc cho biết: “Một gia
đình có ăn, nghĩa là không đến nỗi đứt bữa không lo gì hơn là cấp cho con dăm chữ để
ít nhất cũng có thể khấn ông bà tổ tiên bằng chữ Hán (…), đọc được gia phả, biết cáchứng xử lễ độ với họ hàng Nếu người con khá hơn, anh ta có thể làm một chức vụtrong làng xã, khá hơn nữa thì đi thi, nếu đỗ có thể làm quan, không đỗ có thể làm,thầy cúng, thầy thuốc thầy địa lý hay thầy dạy học Một nhà có máu mặt như vậy thếnào cũng mời một thầy đồ về nhà mình Người ta gọi là nuôi thầy, tức là cho thầy ănuống Anh ta thế nào cũng hợp tác với một số nhà xung quanh gửi con tới học Đó là
thuộc liên tiếp bốn sách giáo khoa cơ bản của Tàu hay Việt: Tam tự kinh, các sách Sơ học vấn tâm viết dưới dạng câu 4 chữ, Ấu học ngũ ngôn thi viết dưới dạng câu 5 chữ, Minh tâm bảo giám.
- Trường tiểu tập: chia làm nhiều lớp theo các thể loại: thơ, phú, văn sách.
Học sinh tập làm các bài văn ngắn nhưng không bình luận Có đầu bài rồi học sinh về làm từ ba đến mười hai bài tập mỗi tháng và thầy chữa ngay tại lớp Chữa xong rồi thầy cho trò nào giỏi hùng biện,
có giọng tốt đọc các bài hay nhất cho cả lớp nghe.
- Trường trung tập: Học sinh phải học để nắm vững cách làm các thể loại.Lớp học ở trường trung tập
do các bậc tú tài hay cử nhân giảng dạy Học sinh học xong được gọi là khóa sinh hay thí sinh chuẩn
bị đi thi.
- Trường đại tập trực tiếp đào tạo các sĩ tử dự thi hương hoặc về kinh đô ứng thí.[dẫn theo 21]
Trang 36mầm mống của một trường tư” [40, tr.240] Trong các tác phẩm của Ngô Tất Tố vàChu Thiên độc giả có thể thấy rất nhiều chi tiết về những ngôi trường như vậy.
Theo thứ tự, trước hết trẻ vỡ lòng sau lễ tạ Khổng Tử sẽ vào học trường hoặclớp của thầy giáo làng Lớp học có thể mở tại nhà thầy giáo hoặc do một phụ huynh là
người có điều kiện đứng ra mở (trường của ông cựu Mẫn, Bút nghiên) Cũng có gia
đình thuê gia sư riêng cho con, tạo thành mô hình trường học đặc biệt một thầy dạy
hai, ba trò nhỏ (Nhà nho) Sau khi thạo về chữ nghĩa, học trò lần lượt được học trường
tiểu tập rồi đến đại tập Nếu như làng nào cũng có thầy đồ thì vài làng mới có mộttrường tiểu tập, cả vùng may ra lại có một trường đại tập do một vị danh nho có tiếngđứng lớp Học trò giỏi thì sẽ tìm đến những trường lớn, theo chân thầy giỏi và thử sứcmình với những cuộc ứng thí càng cao
Trường làng của ông đồ nơi Tâm trong Bút nghiên học vỡ lòng mở tại nhà cựu
Mẫn, cựu Lý trưởng: “Nhà trường là một cái nhà gỗ lợp gianh dài năm gian… Gianbên trái kê một cái giường trải chiếu hoa, trên để cái tráp sơn đen bóng, một đĩa son,một ống sứ đựng bút, một cái gối, một cái khay chén, một ấm nước, một cái roi mâydài thườn thượt nằm ngang trên giường: đấy là chỗ ông đồ ngồi Ở gian bên, một dãyphản kê liền nhau sát tận vách, chạy suốt từ cửa sổ trước đến cửa sổ sau, để cho học
trò ngồi” [56, tr.13] Hình ảnh lớp sơ học của thầy đồ làng trong Bút nghiên có nét giống với lớp học của thầy đồ Nguyễn Khắc Mẫn trong Lều chõng của Ngô Tất Tố:
cũng là những cây roi, cái thước, những cậu học trò tóc tơ để chỏm, những bài học đầuđời, những buổi trả bài mà lũ trò nhỏ xúm xít nuốt từng lời thầy giáo như “con ếchnuốt bông hoa mướp” [50, tr.15] Tuy nhiên, với dụng ý nghệ thuật của mình, Ngô Tất
Tố đã dùng biện pháp có phần hài hước: “Sẵn cây roi mây nằm chờ trên án, Khắc Mẫnkhông kịp phân xử, phạt luôn mỗi cậu mấy roi Cái roi như cũng thích ra oai với lũ trẻcon, mỗi lần được giáng hạ vào đầu vào cổ hai kẻ bị tội, nó lại kêu một tiếng đánh
"vút" Hai cậu bé con so vai, rụt cổ, van như tế sao, vẻ mặt không còn sắc máu” [50,tr.16] Hình ảnh này khác hẳn với không khí nghiêm trang, mẫu mực của lớp học trong
Bút nghiên Sự khác nhau này sẽ còn tiếp diễn ở nhiều trường đoạn khác, khi mà Chu
Trang 37Thiên cố gắng lý tưởng hóa nghiệp học, trong khi đó, nhà văn họ Ngô lại thẳng thắnchỉ ra nhưng điểm bất cập, những chỗ trái khoáy của lối học này.
Quy tắc học tập: Kỷ luật lớp học được thống nhất giữa thầy giáo và phụ
huynh, thầy đồ và nhà chủ Bên cạnh quy tắc liên quan đến quyền lợi của thầy giáo,hầu hết là các nguyên tắc nhằm rèn rũa ý thức học tập của học trò, duy trì tình cảm vàbổn phận trong mối quan hệ thầy trò, đồng môn ngay cả sau khi người học thành đạt.Dưới đây, chúng tôi chỉ đi sâu vào hai quy tắc, đó là quy tắc đánh giá sức học (bình, phê chấm) và thưởng phạt
Trong quá trình học từ bậc sơ học đến đại tập, khâu phê chấm luôn được đề cao.Thông thường, xen giữa các buổi học mới bao giờ cũng có ngày ôn, buổi học luônđược đánh giá là “náo nhiệt hơn hẳn ngày thường” Lệ chấm bài áp dụng theo nguyêntắc thống nhất Đối với các lớp nhỏ, hình ảnh quen thuộc là học trò quây kín bên thầy,
ai nấy cầm sách bút, chờ đến lượt mình được phê và hồi hộp nhìn kết quả của ngườikhác: “Đứa cầm sách lách ra, đứa len vào Như thế quanh giường ông đồ thưa dần,thưa dần cho đến khi chấm hết” [56, tr.67] Đối với lớp lớn, bên cạnh việc phê trựctiếp còn thực hiện bình văn, nghĩa là dùng lời để tán tụng hoặc phê một câu đối, câuthơ, bài kinh nghĩa… Người ta có thể để học trò tự bình văn của mình, bình văn củađồng môn hoặc thầy giáo đứng ra bình Bình không chỉ là cách nhận xét mà còn thểhiện năng lực của người học
Sự phê chấm là một hình thức đánh giá và cũng được xem là công cụ thểkhuyến khích hay răn đe người học:
“Cụ nghè Quỳnh Lâm cầm quyển của Đào Vân Hạc chìa hỏi cụ Bảng:
- Quyển này chúng tôi đã phê ưu cả, sao bác lại đánh xuống “bình”?
Cụ Bảng rẽ ràng đáp:
- “Bình” là phải! Các bác cho ưu cũng khí quá đáng Vả lại hắn còn ít tuổi, phảicần mài rũa cái tính hiếu thắng Nếu như kỳ nào cũng ưu, e rằng hắn sẽ coi mình làthành trạng, không chịu học hành, ấy là hại cho hắn”
Trang 38Cùng với việc nhận xét, hình thức thưởng phạt cũng rất quan trọng đối với họctrò, nhất là các trò nhỏ Trường sơ học, tiểu tập áp dụng cách thưởng bằng hiện vậtnhư ngọn bút, thoi mực hoặc một vài chục giấy Ở cấp học cao hơn, khi người ta đã ýthức được về danh dự và lòng sĩ diện thì phần thưởng không cần phải là hiện vật nữa.Đôi khi, lời ghi nhận, tán dương của thầy dạy đối với học trò trước mặt môn sinh có ýnghĩa lớn lao không gì đổi được Nó khiến anh học trò sung sướng mà hăng say họchành cho khỏi phụ sự tin tưởng của thầy, cũng có thể làm cho học trò trong lớp nểphục nhau, hoặc tỵ nạnh nhau.
Hình thức phạt đa dạng và sinh động hơn Có thể dễ dàng nhận ra rằng học trò
đi học bị phạt nhiều hơn là được thưởng Phạt bằng cách đánh là phổ biến nhất, vì vậy,chiếc roi thành một trong những vật không thể thiếu của nhiều ông thầy Nó ngay ngắnnằm trên trường kỷ để uốn nắn đám trò nhỏ ngay từ ngày đầu tiên nhập trường Nhữngbài văn phê liệt luôn đi kèm với roi vọt và người đánh đôi khi không phải ông đồ màchính là những học trò nhận được điểm “ưu”: “Những roi vọt mỗi lúc một mạnh thêm,một cay ác, một gớm ghê! Bởi vậy đứa nào cũng sợ kỳ ôn mà chăm chăm học lấyđược” [56, tr.74]
Ngoài trừng phạt bằng đòn roi, còn có cách phạt bằng cách quét nhà và luồnkhố Đây là những hình thức đánh vào danh dự, khiến học trò xấu hổ mà tự răn mình:
“những đứa không thuộc bài bị phạt luồn khố Một đứa thứ nhất đứng dạng cẳng, ởdây lưng buộc thõng xuống hai quả sung hay hai quả cà Đứa bị phạt phải ngồi xuốngngẩng mồm đớp hai quả, rồi chui đầu sang bên kia, trong khi đứa thứ nhất vụt mạnhvào lưng và đít hỏi: “Từ rày mày có thuộc bài không”… Thực là nhục nhã, thực là xấu
hổ Đi học mà như vậy thà chết quách đi, học làm gì”
[56, tr.23]
2.2.2 Lề lối học
Lối học Nho giáo không chỉ biểu hiện ở những yếu tố vật chất hữu hình như môhình trường lớp, quy tắc học, mà quan trọng hơn, nó biểu hiện ở những yếu tố vô hình,
Trang 39như quan niệm học và cách dạy của thầy, cách học của trò Qua ba tác phẩm đượcnghiên cứu, chúng tôi có thể khái quát một vài đặc trưng của lối học lúc đó như sau:
“Khổ học” vì những sứ mệnh lớn lao
Trong xã hội Việt Nam thời kỳ phong kiến, dưới ảnh hưởng của Nho giáo, việchọc được coi trọng Kẻ sĩ - sản phẩm của Nho học - luôn đứng ở vị trí hàng đầu trongbảng xếp hạng tứ dân: Sĩ – Nông – Công – Thương Mặt khác, con đường duy nhất mở
ra cho người đi học lúc này đậu đạt và tiến thân bằng hoạn lộ Vì vậy, một trong nhữngyếu tố làm nên phẩm cách một nam nhi chính là chí học hành Khi mới ra đời, người tadùng bút, nghiên, cung, kiếm để tiên lượng tương lai đứa trẻ; cậu bé tóc còn để chỏm
đã lo chuyện tìm thầy tìm lớp, lớn lên lại lấy sự đỗ đạt, tài thơ phú mà đo mức độtrưởng thành Người ta tin rằng, học hành là con đường tốt nhất để tiến thân, đem lại
cơ hội cho bản thân và mở mày mở mặt cho gia tộc Chẳng thế mà trước khi cậu béNguyễn Đức Tâm làm lễ Tế Khổng Tử, cả thầy, cả bác đều động viên: “Cố học đicháu ạ, cố học giật lấy cái cử nhân để rồi làm Tiên chỉ làng này mà ăn thủ lợn”, “Họcthi đỗ làm quan, tước lộc vua ban thầy cũng được nhờ” [56, tr.11] Cuộc đời củaNguyễn Đức Tâm, Đào Vân Hạc là minh chứng cho sức mạnh của việc học đối với giátrị con người, đặc biệt là người đàn ông trong xã hội bấy giờ
Chính bởi ngay từ buổi tế Khổng Tử vào lớp vỡ lòng, cậu bé học trò đã nhận
được lời răn dạy “Học để làm quan, tước lộc vua ban thầy cũng được nhờ”, nên ý chí
học để thi, để đỗ, để vinh thân phì gia khắc vào tâm khảm người học Cái ý niệm học
để biết, để hiểu đời, thỏa mãn nhu cầu tự thân một cách tự nguyện dường như rất mờnhạt Và vì thế, lối học Nho giáo giống như một cuộc khổ luyện vì mục đích tiến thânhay ít nhất là vì thể diện với người khác Nguyễn Thị Chân Quỳnh chỉ rõ, tâm lý họccốt để làm quan, để cầu danh vọng là nguyên nhân gốc rễ tạo ra những bất cập khác,gây “tiếng ác” cho khoa cử: “Khoa cử đã bị bãi bỏ, chương trình cải cách đã được ápdụng, tại sao hai vị còn chưa vừa lòng ? - Ấy là vì cả hai đều nhận ra cái cái óc học đểlàm quan của ta vẫn còn, và cái óc ấy không hẳn là " độc quyền " của Hán học vàKhoa cử Người ta thích làm quan để được giàu sang, trọng vọng Xưa kia các bà, các
cô có phải chỉ tham "cái bút, cái nghiên" xuông đâu? Tham là tham một bước lên quan
Trang 40khi "anh Đồ" thi đỗ đấy chứ Bởi thế khi khoa cử tàn, các cô bèn "xếp bút nghiên" lại,không phải để " lên đường tranh đấu " mà là để tuyên bố "Phi Cao đẳng bất thành phuphụ!" [46].
Người ta không quan tâm nhiều đến việc dạy sao cho hay, cho hấp dẫn để họctrò lấy học làm vui Họ ngầm định muốn thông tuệ giỏi giang, chữ đầy một bụng thìphải “nấu sử sôi kinh”, “văn ôn võ luyện” như một kiểu lò luyện linh đan Đạo giáo.Danh tiếng của thầy giáo cũng được làm nên bởi bởi ôn trúng, luyện sát với đề: “Sĩ tửBắc hà hầu hết đều là học trò cụ, bởi ai cũng truyền nhau học trường cụ dễ đỗ…Thậtvậy, văn bài ở trường cụ rèn luyện theo quy tắc trường thi, dựa theo bài thi các khoátrước lại có các quan Đốc học tỉnh Nam và các quan Huấn Đạo, giáo thụ tại chứcthường đến chơi dạy giúp và chấm bài nên học trò được nhiều kinh nghiệm ở trườngthi và thấu rõ giọng văn khoa cử, vào nơi văn đàn trận bút rất có tên chiếm bảng vàng”[56, tr.166]
Trong các lớp vỡ lòng, cái “khổ học” của lũ trẻ thể hiện qua giọng đọc đồngthanh ê a trăm đứa như một, qua việc tìm mọi cách để “nhớ lấy được” (kể cả nhữngthứ đầy mông lung đối với một đứa trẻ), qua những buổi trả bài mà đứa nào đứa ấyxanh xám mặt mày trước đòn roi và uy quyền của ông thầy: “Rồi ông sai ba đứa họctrò lớn lôi thằng Bân vào nọc căng xác ra Một thằng đè đầu, một thằng kéo hai chân,một thằng giữ quặt hai tay lên lưng Bân nằm như con ếch ở dưới đất, mông đít trật ra
để nhận lấy những roi: Vút! Vút! Roi cứ luôn luôn vút xuống đít, những cái lằn roi nổilên như những con đỉa đui!” [56, tr.20] Ngô Tất Tố dù không dành nhiều trang viếtmiêu tả học trò nhỏ đi học, song ông cũng lột tả rõ áp lực khổ sở của người học khi đốidiện với thầy giáo, với bài học, đến nỗi, mỗi câu thơ thoát ra từ miệng giống như mộtgánh nặng được cởi bỏ:
“Vừa dứt hai tiếng "âm dương", cậu ấy sung sướng như đã trút được gánh nặngtrên vai, liền kết một câu gọn tách:
- Thưa thầy xin hết