1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Luận văn quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở trên địa bàn huyện phù ninh, tỉnh phú thọ

142 182 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nhưng bên cạnh đó hiệu quả công tác giáo dục đạo đức học sinh còn có nhiều hạn chế và tồn tại như: Giáo dục đạo đức học sinh chưa được tiến hành thường xuyên liên tục, chưa được thực hiệ

Trang 1

NGUYỄN THÀNH CHUNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

NGUYỄN THÀNH CHUNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 8 14 01 14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS TRẦN TRUNG

HÀ NỘI, 2018

Trang 3

Đặc biệt, tác giả xin trân trọng bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc

đến PGS.TS Trần Trung đã nhiệt tình, tận tụy hướng dẫn thực hiện đề tài

nghiên cứu khoa học này

Trong suốt thời gian học tập và làm đề tài nghiên cứu mặc dù đã rất cố gắng song do khả năng nghiên cứu có hạn, kinh nghiệm trong công tác và nghiên cứu khoa học còn ít nên chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu xót Kính mong thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp đóng góp, giúp đỡ để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 6 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thành Chung

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi số liệu sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ

ràng, kết quả của đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh

trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ” là công trình

nghiên cứu của cá nhân tôi và chƣa từng đƣợc công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

Ngày 10 tháng 6 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thành Chung

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC SƠ ĐỒ ix

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 4

4 Phạm vi nghiên cứu 4

5 Giả thuyết khoa học 5

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

7 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Cấu trúc luận văn 6

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 7

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7

1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước 7

1.1.2 Nghiên cứu trong nước 9

1.2 Một số khái niệm cơ bản 13

1.2.1 Quản lý, quản lý nhà trường 13

1.2.2 Đạo đức, giáo dục đạo đức, giáo dục đạo đức học sinh 16

1.2.3 Hoạt động giáo dục đạo đức 23

1.2.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức 24

1.2.5 Công cụ 25

1.3 Giáo dục đạo đức cho học sinh THCS 25

1.3.1 Vị trí vai trò của giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở 25

Trang 6

1.3.2 Mục tiêu, nhiệm vụ và các con đường giáo dục đạo đức cho học

sinh trung học cơ sở 26

1.3.3 Đặc điểm học sinh trung học cơ sở 28

1.3.4 Nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở 30

1.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THCS 32

1.4.1 Xây dựng kế hoạch quản lý dựa trên đặc điểm địa phương của trường THCS 32

1.4.2 Tổ chức thực hiện các hoạt động theo kế hoạch 34

1.4.3 Phối hợp các lực lượng tham gia quản lý các hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở 35

1.4.4 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch 36

1.4.5 Đánh giá kết quả giáo dục đạo đức 37

1.4.6 Quản lí cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ các hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh 38

1.5 Những yếu tố tác động quản lý giáo dục đạo đức cho HS THCS 39

1.5.1 Yếu tố tự giáo dục của bản thân học sinh 39

1.5.2 Tính kế hoạch hóa trong quản lý hoạt động giáo dục đạo đức 39

1.5.3 Chất lượng đội ngũ giáo viên tham gia giáo dục đạo đức 40

1.5.4 Mức độ xã hội hóa giáo dục trong lĩnh vực giáo dục đạo đức 41

1.5.5 Hoạt động của Đoàn - Đội 42

1.5.6 Điều kiện cơ sở vật chất, tài chính 42

Tiểu kết chương 1 44

Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ 45

2.1 Khái quát về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa và giáo dục ở huyện Phù Ninh - Phú Thọ 45

Trang 7

2.1.1 Vị trí địa lý 45

2.1.2 Kinh tế xã hội 45

2.1.3 Hoạt động giáo dục 46

2.2 Tổ chức nghiên cứu khảo sát thực trạng 47

2.2.1 Mục đích nghiên cứu khảo sát thực trạng 47

2.2.2 Nội dung nghiên cứu khảo sát thực trạng 47

2.2.3 Đối tượng khảo sát và địa bàn khảo sát 47

2.2.4 Phương pháp khảo sát 48

2.3 Kết quả khảo sát 48

2.3.1 Thực trạng đạo đức của học sinh ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ 48

2.3.2 Thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ 53

2.3.3 Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ 63

2.4 Đánh giá chung về thực trạng 72

2.4.1 Những mặt mạnh 72

2.4.2 Những mặt hạn chế 73

2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 74

Tiểu kết chương 2 76

Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ 77

3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 77

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 77

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 77

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 77

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 78

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 78

Trang 8

3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho HS THCS trên

địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 79

3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường về tầm quan trọng của hoạt động GDĐĐ cho HS THCS 79

3.2.2 Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS 82

3.2.3 Biện pháp 3: Đa dạng hóa các hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh 85

3.2.4 Biện pháp 4: Đẩy mạnh sự phối hợp giữa Gia đình - Nhà trường - Xã hội trong hoạt động GDĐĐ cho HS 89

3.2.5 Biện pháp 5: Tăng cường đầu tư CSVC- thiết bị, tài chính cho hoạt động GDĐĐ của nhà trường 96

3.2.6 Biện pháp 6: Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh 97

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 102

3.4 Khảo sát tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất 103

Kết luận chương 3 106

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 107

1 Kết luận 107

2 Kiến nghị 108

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Các từ viết tắt Nguyên nghĩa

CNH HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Kết quả xếp loại hạnh kiểm của HS các trường THCS huyện

Phù Ninh trong 4 năm học 49 Bảng 2.2: Đánh giá của CBQL, GV và HS các hành vi vi phạm đạo đức

của HS ở các trường THCS trên địa bàn huyện Phù Ninh 51 Bảng 2.3: Đánh giá của HS về việc thực hiện các nội dung GDĐĐ của

nhà trường 544 Bảng 2.4: Đánh giá của HS về việc thực hiện các hình thức GDĐĐ

cho HS 588 Bảng 2.5: Đánh giá của HS về việc thực hiện các phương pháp GDĐĐ

cho HS 611 Bảng 2.6: Đánh giá của CBQL, GV về việc xây dựng kế hoạch 644 Bảng 2.7: Đánh giá của CBQL, GV về công tác chỉ đạo thực hiện 688 Bảng 2.8: Đánh giá của CBQL, GV về công tác kiểm tra, đánh giá việc

thực hiện GDĐĐ cho HS ở các trường THCS huyện Phù Ninh 70 Bảng 3.1: Đánh giá của cán bộ quản lí và giáo viên về tính cấp thiết và

tính khả thi của các biện pháp đề xuất 1033

Trang 11

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Đánh giá của CBQL, GV và HS về hiệu quả hoạt động 633

Sơ đồ 2.2 Đánh giá của CBQL và GV về hiệu quả công tác quản lý

GDĐĐ HS của BGH 711

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, cả xã hội đang quan tâm đặc biệt tới vấn đề giáo dục và đào tạo, đây là một trong những vấn đề nóng hổi và được mọi người quan tâm, đối với ngành gaios dục việc đổi mới tư duy, đổi mới phương pháp, nội dung chương trình dạy học phù hợp với sự phát triển chung của thế giới là mục tiêu mũi nhọn nhằm phát triển kinh tế, chính trị và xã hội của đất nước, tiến vào hội nhập quốc tế Việc đầu tư, quan tâm đến chiến lược, cách thức, giải pháp xây dựng đội ngũ, phát triển chất lượng giáo dục theo hướng hiện đại hóa, mà vẫn luôn giữ gìn bản sắc văn hóa thuần phong mỹ tục, bên cạnh đó nhằm phát triển con người đầy đủ các yếu tố đức - trí - thể - mỹ đáp ứng yêu cầu của xã hội, mà trong đó yếu tố giáo dục đạo đức là mục tiêu trọng yếu hiện nay

Nghị quyết số 29 của Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt

Nam khoá XI ngày 23/11/2013 về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã đặt ra yêu cầu cấp bách cho giáo dục đạo đức hiện nay là: “Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin và

tư tưởng Hồ Chí Minh Tăng cường giáo dục thể chất, kiến thức quốc phòng,

an ninh và hướng nghiệp” [3]

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI khẳng định: Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thẩm, mĩ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề Đổi mới giáo dục theo định hướng tin giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân Tập trung vào những giá

Trang 13

trị cơ bản của văn hóa truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hao văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh [18, Tr.5]

Để phát triển nhân cách cho con người mới, hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, cần đẩy mạnh hoạt động dạy học nhằm cung cấp cho học sinh những tri thức khoa học cơ bản và đảm bảo tính hệ thống, sáng tạo Đẩy mạnh hoạt động giáo dục nhằm hình thành cho học sinh niềm tin, có thái độ ứng xử chuẩn mực trong xã hội, có kỹ năng sống phong phú ứng phó tốt với những đổi thay về giá trị, đạo đức trong cuộc sống, giúp học sinh bổ sung và rèn luyện những tri thức đã tiếp thu được ở trên lớp

Trước những đổi thay nhanh về những giá trị cốt lõi của nhân cách ở bộ phận không nhỏ thế hệ trẻ đang trong sự đổi thay về thuần phong mỹ tục, trong thời kỳ kinh tế thị trường Tỉ lệ bạo lực học đường ở học sinh vẫn còn diễn ra nhiều, thường xuyên; cách ứng xử giữa học sinh với học sinh, trò và thầy, giữa học sinh với cha mẹ và hàng xóm đang là vấn ngại của cả xã hội; học sinh nói dối cha mẹ, lừa gạt thầy cô là điều cảnh báo đối với giáo dục nước nhà; phong cách học đường cả về trang phục và mái tóc,… đã cho thấy

sự đổi thay không nhỏ trong thế hệ học sinh ngày nay Điều này như tiếng chuông cảnh tỉnh cho các nhà giáo dục và quản lý giáo dục có những biện pháp quản lý đạo đức học sinh ở các trường, tất cả các bậc học hiện nay Đây

đã trở thành vấn đề cần thiết và cấp bách hơn bao giờ hết

Để công tác giáo dục đạo đức đạt hiệu quả cao, vai trò của công tác quản

lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh phải được đề cao Tuy nhiên công tác ở GDĐT cho HS các trường đặc biệt trường THCS vẫn tồn tại nhiều những hạn chế nhất định Thực tế trong các trường THCS trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ trong những năm vừa qua đã có nhiều chuyển biến trong các mặt giáo dục như các chỉ tiêu về học sinh tốt nghiệp, chỉ tiêu học

Trang 14

sinh giỏi, học sinh tiên tiến nhưng bên cạnh đó hiệu quả công tác giáo dục đạo đức học sinh còn có nhiều hạn chế và tồn tại như: Giáo dục đạo đức học sinh chưa được tiến hành thường xuyên liên tục, chưa được thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc; còn thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và gia đình, các cấp uỷ Đảng chính quyền, các ban ngành hữu quan, các tổ chức chính trị xã hội và quần chúng nhân dân; giáo viên lên lớp còn nặng dạy kến thức, chưa chú trọng đến vấn đề dạy người, môn giáo dục công dân nhiều giáo viên và học sinh còn coi là “môn phụ’’, nặng lí luận thiếu sự đầu tư nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên; một bộ phận cán bộ giáo viên còn né tránh, thậm trí còn làm ngơ trước những hành vi vi phạm đạo đức của học sinh Đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp còn một bộ phận không nhỏ chưa có nhiều kinh nghiệm, chưa thực sự tâm huyết với nghề, chưa có sự quan tâm đến công tác giáo dục đạo đức học sinh

Nghiên cứu về giáo dục đạo đức đã có nhiều tác giả tìm tòi và đưa ra những đề tài nghiên cứu như: “Nguyễn Thị Thi - Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THCS thành phố Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục”,

“Phạm Minh Hạc - Về phát triển toàn diện con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, “Trần Diệu Hương - Quản lý hoạt động giáo dục đọa đức cho học sinh trong các trường THCS trên đại bàn huyện Nam Trực tỉnh Nam Định”,… Tuy nhiên chưa có đề tài nghiên cứu thực tế về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trên địa bàn huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ

Trên địa bàn tỉnh Phú Thọ nói chung và địa bàn huyện Phù Ninh nói riêng, giáo dục đạo đức đã được coi trọng và tiến hành thường xuyên trong suốt gần một thập kỉ qua, đã đạt được một số kết quả nhưng vẫn chưa có tình thuyết phục và triệt để Học sinh ở bậc THPT nói riêng và bậc THPT nói chung vẫn tường xuyên xảy ra những tiêu cực trong lối sống văn hóa đạo đức

Trang 15

ở học sinh Mặc dù số lượng các em bị lệch lạc nghiêm trọng về đạo đức không nhiều nhưng hệ quả của những em học sinh này là rất lướn, đó là sự kéo theo những bạn cùng lớp, cùng trường, cùng khối tham gia những việc dẫn tới suy dồi đạo đức ở thế hệ trẻ trẻ nên cấp thiết Số học sinh vi phạ đọa đức chiếm tỉ lệ đông ở học sinh bậc THCS Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới mặt bằng giáo dục chung của huyện và tỉnh, dẫn tới tỉ lệ học sinh lưu bản, đuổi học vẫn thường xuyên xẩy ra Từ thức tế đó cho thấy nhà quản cần xây dựng những bộ công cụ quản lý và nâng cao giáo dục đạo đức cho học sinh hơn nữa để nhằm cải thiện chất lượng giáo dục và đào tạo của huyện và tỉnh

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Quản lý hoạt

động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ” làm đề tài cho luận thạc sĩ của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, luận văn đề xuất các giải pháp quản lý giáo dục đạo đức góp phần giáo dục toàn diện cho học sinh trường trung học cơ sở trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay

3 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ

4 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trên địa bàn huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ

Trang 16

Đề tài nghiên cứu trong khoảng phạm vi thời gian từ năm học 2014-2015 đến nay, được tiến hành trên tất cả các khối, lớp

Giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh, cán bộ quản lý trường trung học cơ

sở Tiên Du, An Đạo, Bình Bộ trên địa bàn huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ

5 Giả thuyết khoa học

Chất lượng giáo dục đạo đức học sinh trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ còn nhiều vấn đề cần giải quyết và chịu sự tác động của nhiều nhân tố kinh tế - xã hội khác nhau Tuy nhiên trường trung học cơ sở nếu tìm và áp dụng một cách đồng bộ một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh thì chất lượng giáo dục đạo đức có thể được nâng cao, góp phần giáo dục toàn diện đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở

- Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh

ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ

- Đề xuất các giải pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay

- Tổ chức khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp

đề xuất

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá các tri thức chủ yếu trong các công trình nghiên cứu, các tác phẩm kinh điển trong và ngoài nước, văn kiện của Đảng và Nhà nước liên quan đến đề tài để xây dựng cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

Trang 17

7.2 Phương pháp điều tra xã hội học bằng phiếu câu hỏi

Được sử dụng để thu thập ý kiến của các loại đối tượng cần thiết, liên quan đến luận văn, đặc biệt là cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên, học sinh nhằm khảo sát thực trạng đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng các phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, nội dung luận văn được cấu thành bởi 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở

Chương 2: Thực trạng giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở Trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước

Đạo đức là một hình thái ý thức XH, được hình thành và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của XH loài người, có vai trò quan trọng trong bất kỳ XH nào từ trước đến nay Do đó, từ xa xưa con người đã rất quan tâm nghiên cứu đạo đức, xem nó như động lực tinh thần để hoàn thiện nhân cách con người trong từng giai đoạn lịch sử nhất định

Trong lịch sử phát triển của XH, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những quan điểm khác nhau về đạo đức, GDĐĐ, quản lý GDĐĐ: Ở phương Tây, Aristote (384-322 TCN) nhà Bác học Hy Lạp thời thượng cổ đã nói câu chí lý:

“Trước tiên học đạo đức rồi sau đó học tri thức, không có đạo đức, tri thức khó thành đạt” Thời cổ đại, nhà triết học Socrate (469-399 TCN) cho rằng cái gốc của đạo đức là tính thiện “Bản tính con người vốn thiện, nếu tính thiện ấy được lan toả thì con người sẽ có hạnh phúc” Muốn xác định được chuẩn mực đạo đức, theo Socrate phải bằng nhận thức lý tính với phương pháp nhận thức khoa học [0, tr.34] Hônbách (1723 - 1789) người đã khái quát và hệ thống hoá tư tưởng tiên tiến của chủ nghĩa duy vật Pháp, ông cho rằng: “nhiệm vụ chính của đạo đức là vạch cho được những điều kiện trong đó lợi ích cá nhân là cơ sở tất yếu của hành vi con người có thể dung hợp với lợi ích XH”

Ở phương đông, Khổng Tử (551-479 TCN) là nhà hiền triết nổi tiếng của Trung Quốc Ông xây dựng học thuyết “Nhân - Lễ - Chính danh”, trong đó,

“Nhân” - Lòng thương người - là yếu tố hạt nhân, là đạo đức cơ bản nhất của con người Đứng trên lập trường coi trọng giáo dục đạo đức, Ông có câu nói nổi tiếng truyền lại đến ngày nay “Tiên học lễ, hậu học văn”

Trang 19

Thế kỷ XVII, Komenxky - Nhà giáo dục học vĩ đại Tiệp Khắc đã có nhiều đóng góp cho công tác GDĐĐ qua tác phẩm “Khoa sư phạm vĩ đại” Komenxky đã chú trọng phối hợp môi trường bên trong và bên ngoài để GDĐĐ cho HS Ông kêu gọi các bậc cha mẹ, các nhà giáo và tất cả những ai làm nghề nuôi dạy trẻ “Hãy mãi mãi là một tấm gương trong đời sống, trong mọi sinh hoạt để trẻ em noi theo và bắt chước mà vào đời một cách chân chính…” [28, tr.9] Theo ông, “con người sinh ra mà không được học, không được sự giáo dục của nhà trường và xã hội thì lớn lên chẳng khác nào những cây mọc hoang dại, sẽ không có khả năng hành động theo đúng mục tiêu của lẽ sống, sẽ không nhìn rõ cái thiện và dễ xa vào cái ác, cái tội lỗi…” [28, tr.39] Thế kỷ XX, A.X Macarenco (1888-1939) nhà giáo dục nổi tiếng của Xô Viết cũng nghiên cứu về GDĐĐ học sinh, ông nêu lên nguyên tắc giáo dục tập thể và thông qua tập thể Trong tác phẩm “Bài ca sư phạm” ông đặc biệt nhấn mạnh vai trò của giáo dục đạo đức Nghiên cứu của ông đã đặt nền tảng cho việc GDĐĐ tạo ra những con người mới trong giai đoạn xây dựng CNXH

ở Liên Xô Ông khẳng định “Nhà giáo dục hiểu biết HS không phải trong quá trình nghiên cứu HS một cách thờ ơ mà trong chính quá trình làm việc với HS

và trong chính sự giúp đỡ HS một cách tích cực Nhà giáo dục phải xem xét

HS không phải như là đối tượng nghiên cứu mà là đối tượng giáo dục [31, tr.91] Những trẻ em có những biểu hiện yếu kém về đạo đức, đặc biệt là không có nhu cầu XH lành mạnh, sống thiếu niềm tin, kém ý chí, thiếu sự quan tâm của cha mẹ thì thường rơi vào tình trạng học tập yếu kém Macarenco đã từng nhắc nhở các nhà sư phạm: “Dù sao chúng vẫn là con người phải đối xử với chúng với tư cách là con người hướng về tương lai Với giả thuyết lạc quan và phải dứt bỏ quá khứ, những tiền sử không lấy gì làm tốt đẹp của chúng trong đầu các nhà sư phạm, những cái đó không có lợi cho trẻ nhỏ đang sống và đang được giáo dục hiện tại”

Trang 20

Theo học thuyết Mác - Lênin, đạo đức là một hình thái ý thức XH có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng XH, nó phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại XH Nếu tồn tại xã hội thay đổi thì đạo đức cũng thay đổi theo Do vậy đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc Đạo đức có vai trò rất lớn trong đời sống XH, trong đời sống của con người, đạo đức là vấn đề thường xuyên được đặt ra và giải quyết nhằm đảm bảo cho các cá nhân và cộng đồng tồn tại phát triển: “Đạo đức đã trở thành mục tiêu, đồng thời cũng là động lực để phát triển XH” [13, tr.47], và “Đạo đức cũng như ý thức đã là sản phẩm XH và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại” [13, tr.21]

1.1.2 Nghiên cứu trong nước

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà chính trị văn hoá kiệt xuất, người đã để lại

di sản vô giá về “đạo đức - giáo dục đạo đức” qua những lời bàn, sự chỉ dẫn thực tiễn về giáo dục Việt Nam từ trạng thái chịu ảnh hưởng nặng nề của thực dân phong kiến thành nền giáo dục cách mạng góp phần đắc lực vào công cuộc giải phóng dân tộc và kiến thiết đất nước trong kỉ nguyên mới Chủ tịch

Hồ Chí Minh coi đạo đức là nền tảng của người cách mạng Nội dung cơ bản trong quan điểm đạo đức cách mạng là: Trung với nước, hiếu với dân; cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư; yêu thương con người; tinh thần quốc tế trong sáng Quan điểm của Người về đạo đức là những quan điểm thật sự khoa học, biện chứng, Mác-xít, phù hợp với sự tiến hoá của XH loài người

Để có được đạo đức cách mạng mỗi người phải chăm lo tu dưỡng, kiên trì bền

bỉ suốt đời: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời xa xuống, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố, cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” [16, tr.10]

Trong bức thư cuối cùng gửi ngành giáo dục (15/10/1968) khi cả nước đang tiến hành cuộc kháng chiến anh dũng chống lại sự xâm lược tàn bạo của

Trang 21

đế quốc Mĩ, Hồ Chí Minh kêu gọi: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục dạy tốt và học tốt Trên nền tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo tư tưởng tốt, phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hoá và chuyên môn nhằm thiết thực giải quyết các vấn đề do Cách mạng nước ta đề ra và trong một thời gian không xa đạt những đỉnh cao của khoa học kĩ thuật” [31, tr.402]

Thấm nhuần tư tưởng của Hồ Chí Minh, trong phần nhiệm vụ - giải pháp của Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa

XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đã nêu: “Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Tăng cường giáo dục thể chất, kiến thức quốc phòng, an ninh và hướng nghiệp Dạy ngoại ngữ và tin học theo hướng chuẩn hóa, thiết thực, bảo đảm năng lực sử dụng của người học Quan tâm dạy tiếng nói và chữ viết của các dân tộc thiểu số; dạy tiếng Việt và truyền bá văn hóa dân tộc cho người Việt Nam ở nước ngoài” [18]

Tư tưởng của Người tiếp tục được thể hiện trong Nghị Quyết Hội Nghị lần thứ IX Ban Chấp hành Trung ương khoá XI: “định hướng xây dựng và phát triển văn hoá, con người” với mục tiêu chung: “Xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Văn hoá thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục

Trang 22

tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [3, tr.46] Và xác định nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện: xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức lối sống và nhân cách Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, mọi người Việt Nam đều hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hoá dân tộc Hướng các hoạt động văn hoá, giáo dục, khoa học vào việc xây dựng con người có thế giới quan khoa học, hướng tới chân - thiện - mỹ Gắn việc xây dựng, rèn luyện đạo đức với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Nâng cao trí lực, bồi dưỡng tri thức cho người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế, của kinh tế tri thức

và XH học tập Đúc kết và xây dựng hệ giá trị chuẩn của con người Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế [3, tr.49]

Trong những năm gần đây, nhiều giáo trình đạo đức được biên soạn Tiêu biểu như giáo trình Đạo đức học của Trần Hậu Kiểm (1997); giáo trình Đạo đức học của Phạm Khắc Chương - Hà Nhật Thăng (2001); Giáo trình đạo đức học do Nguyễn Ngọc Long chủ biên (2000); Giáo trình đạo đức học Mác

- Lênin do Vũ Trọng Dung chủ biên, (2005),…

Vấn đề GDĐĐ cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu: nghiên cứu đặc trưng của đạo đức và phương pháp GDĐĐ của Hoàng An (1982); GDĐĐ trong nhà trường của Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt (1988); Các nhiệm

vụ GDĐĐ của Nguyễn Sinh Huy (1995); Tìm hiểu định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường do Thái Duy Tuyên chủ biên (1994); Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức nhân văn của Hà Nhật Thăng (1998); Một số vấn đề về lối sống đạo đức, chuẩn giá trị XH của Huỳnh Khải Vinh (2001); Giáo dục giá trị truyền thống cho HS, sinh viên của Phạm Minh Hạc (1997); Vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường của Lê Văn Khoa (2003); Một số nguyên tắc giáo dục nhân cách có hiệu quả trong nhà trường phổ thông của Nguyễn Thị Kim Dung (2005),…

Trang 23

Khi nghiên cứu về vấn đề GDĐĐ các tác giả đã đề cập đến mục tiêu, nội dung, phương pháp GDĐĐ và một số vấn đề về quản lý công tác GDĐĐ

Về mục tiêu GDĐĐ, tác giả Phạm Minh Hạc đã nêu rõ: “Trang bị cho mọi người những tri thức cần thiết về tư tưởng chính trị, đạo đức nhân văn, kiến thức pháp luật và văn hoá XH Hình thành ở mọi công dân thái độ đúng đắn, tình cảm, niềm tin ĐĐ trong sáng đối với bản thân, mọi người, với sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc và với mọi hiện tượng xảy ra xung quanh Tổ chức tốt GD giới trẻ; rèn luyện để mọi người tự giác thực hiện những chuẩn mực ĐĐXH, có thói quen chấp hành quy định của pháp luật, nỗ lực học tập và rèn luyện, tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước” [24, tr.168]

Đồng thời tác giả Phạm Minh Hạc cũng nêu lên các định hướng giá trị đạo đức con người Việt Nam trong thời kì CNH, HĐH đất nước và nêu lên 6 giải pháp cơ bản GDĐĐ cho con người Việt Nam thời kì CNH, HĐH: “Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức GDĐĐ trong các trường học, củng cố ý tưởng giáo dục ở gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với giáo dục nhà trường trong việc GDĐĐ cho con người, kết hợp chặt chẽ GDĐĐ với việc thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp của các cơ quan thi hành pháp luật; tổ chức thống nhất các phong trào thi đua yêu nước và các phong trào rèn luyện đạo đức, lối sống cho toàn dân, trước hết cho cán bộ đảng viên, cho thầy cô các trường học; xây dựng một cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống nhất toàn xã hội về GDĐĐ, nâng cao nhận thức cho mọi người” [23, tr.171- 176]

Để nâng cao chất lượng GDĐĐ trong thời kỳ đổi mới đã có một số nhà khoa học nghiên cứu về quản lý công tác GDĐĐ Tuy số lượng các nghiên cứu trong lĩnh vực này còn ít nhưng có thể kể đến:

Nguyễn Văn Trung với đề tài luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục: “Công tác quản lý của Hiệu trưởng trong việc tổ chức GDĐĐ cho HS ở các trường

Trang 24

THPT huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp” (2006); Lê Quang Tuấn với đề tài luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục: “Một số giải pháp công tác quản lý GDĐĐ cho HS ở các trường THPT huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh” (2008); Nguyễn Hoàng Phong với đề tài luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục: “Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho HS ở các trường trung học phổ thông huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long” (2009); Phạm Thị Minh Huệ với đề tài luận văn thạc sỹ: “Quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS trường THPT thành phố Thái Bình” (2011); Lê Thị Thanh Bình với đề tài luận văn thạc sỹ: “Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục GDĐĐ HS trường THPT Lý Thái Tổ, Cầu Giấy Hà Nội” (2012)

Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu trên đi sâu vào việc xác định các nội dung GDĐĐ, định hướng các giá trị đạo đức, các giải pháp GDĐĐ cho HS Đặc biệt, hiện nay chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ HS ở các trường THCS huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ Vì vậy chúng tôi chọn đề tài này với hy vọng nêu ra các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THCS, nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho HS các trường THCS trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho HS đáp ứng yêu cầu phát triển của XH

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý, quản lý nhà trường

1.2.1.1 Quản lý

Quản lý xuất hiện khi con người hình thành hoạt động nhóm Qua lao động, để duy trì sự sống đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa các cá nhân con người Hoạt động quản lý là một hiện tương tất yếu phát triển cùng sự phát triển của xã hội loài người nhằm đoàn kết nhau lại tạo lên sức mạnh tập thể, thống nhất thực hiện một mục đích chung

Trang 25

Theo Các Mác: “Bất cứ một lao động mang tính xã hội trực tiếp hay lao động cùng nhau, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần đến mức

độ nhiều hay ít sự quản lý, nhằm thiết lập sự phối hợp giữ những công việc

cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ vận động của toàn

bộ cơ chế sản xuất, khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của nó Một người chơi vĩ cầm riêng lẻ tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần người chỉ huy” [13, tr342] Các Mác nói lên bản chất của quản lý là một hoạt động lao động để điều khiển quá trình lao động, một hoạt động tất yếu của

xã hội loài người

Theo F Taylor: “Quản lý là biết rõ ràng, chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành tốt công việc như thế nào, bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất” [16, tr.89]

Ở Việt Nam, theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn, quản lý là sự tác động có tổ chức, có tính hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường [40]

Hai tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí cho rằng: “Quản

lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [30, tr.9] Như vậy có thể hiểu: Quản lý là một quá trình tác động có định hướng,

có tổ chức, có kế hoạch và hệ thống của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý dựa trên những thông tin về tình trạng của đối tượng nhằm đạt được mục tiêu

đã đề ra

Dù có rất nhiều khái niệm khác nhau nhưng trong đó đều thể hiện rất rõ các thành tố quản lý đó là: chủ thể quản lý; đối tượng quản lý; mục tiêu quản lý; công cụ quản lý; phương pháp quản lý

1.2.1.2 Quản lý giáo dục

Trang 26

Quản lý giáo dục là một bộ phận trong quản lý nhà nước XHCN Việt Nam Cũng như bất kì một hoạt động xã hội, hoạt động giáo dục cần được tổ chức và quản lý với các cấp độ khác nhau nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước và nhân loại Theo tác giả Trần Kiểm, Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thề quản lý ở mọi cấp khác nhau đến tất các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo

sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở quy luật của quá trình giáo dục về phát triển thể lực, trí lực, tâm lực của HS [26]

Xét theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có tính hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính “trồi” của hệ thống, sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống tới mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện đảm bảo sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn biến động

Ở các cơ sở giáo dục thì quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể HS, cha mẹ HS và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện của hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường

1.2.1.3 Quản lý nhà trường

Nhận định vai trò của quản lý nhà trường, tác giả Đặng Quốc Bảo viết:

“Quản lý kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá lấy tiêu điểm là quản lý giáo dục thì quản lý giáo dục phải lấy nhà trường làm căn bản” [4, tr.95]

Quản lý nhà trường là hoạt động của chủ thể quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác,

Trang 27

cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đạo tạo trong nhà trường

1.2.2 Đạo đức, giáo dục đạo đức, giáo dục đạo đức học sinh

1.2.2.1 Khái niệm về đạo đức

Con người trong xã hội cần phải có những mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với người khác và xã hội Các mối quan hệ đó vô cùng phúc tạp, đòi hỏi con người phải có những điều chỉnh trong giao tiếp, ứng xử sao cho phù hợp đảm bảo lợi ích chung Trong bối cảnh đó con người được xem là có đạo đức Mặt khác, những cá nhân thể hiện hành vi vì lợi ích riêng của bản thân làm ảnh hưởng lợi ích chung của cộng đồng, xã hội, bị xã hội lên án, phê phán thì những cá nhân đó bị xem là vô đạo đức

Theo Từ điển Tiếng Việt thì: “Đạo đức là những tiêu chuẩn, những nguyên tắc quy định hành vi quan hệ của con người đối với nhau và đối với

xã hội Đạo đức là những phẩm chất tốt đẹp của con người theo những tiêu chuẩn đạo đức của một giai cấp nhất định” [34]

Theo tác giả Trần Hậu Kiểm: “Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc chuẩn mực xã hội nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình vì lợi ích xã hội, hạnh phúc của con người trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và tập thể hay toàn xã hội” [27, tr.31] Theo tác giả Lê Văn Hồng: “Đạo đức là hệ thống những chuẩn mực biểu hiện thái độ đánh giá quan hệ giũa lợi ích của bản thân với lợi ích của người khác và của xã hội” [25, tr.156]

Như vậy, đạo đức là một hiện tượng xã hội, là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt phản ánh các mối quan hệ xã hội loài người Đạo đức được nảy sinh từ nhu cầu xã hội thống nhất lợi ích chung của toàn xã hội với lợi ích riêng của mỗi cá nhân nhằm đảm bảo trật tự xã hội, thúc đẩy cá nhân, xã hội cùng đi lên Để giải quyết các mâu thuẫn đó, xã hội đề ra những yêu cầu chuẩn mực giá trị được mọi người công nhận và được củng cố bằng sức mạnh của tập quán, của dư luận xã hội, của lương tâm mỗi con người

Trang 28

Bàn về đạo đức đã có nhiều định nghĩa từ nhiều góc độ khác nhau, như định nghĩa đạo đức từ các góc độ xã hội, tập thể, cá nhân Tuy nhiên, tựu trung lại chúng ta có thể xem xét các định nghĩa này dưới hai góc độ:

Dưới góc độ xã hội: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ nó con người ta có thể tự điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội Trong quan hệ con người với con người, giữa cá nhân và xã hội ” [21, tr.4]

Dưới góc độ cá nhân: “Đạo đức chính là những phẩm chất, nhân cách của con người, phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử của họ trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với XH, giữa bản thân họ với người khác và với chính bản thân mình” [5, tr 85]

Quá trình hình thành và phát triển đạo đức của mỗi con người là quá trình tác động qua lại giữa XH với cá nhân để chuyển hoá những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực giá trị đạo đức - XH thành những phẩm chất đạo đức cá nhân, làm cho cá nhân đó trưởng thành về mặt đạo đức, đáp ứng được yêu cầu của XH

Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau, song theo chúng tôi, có thể đưa ra quan niệm chung về đạo đức như sau: Đạo đức là một hình thái ý thức XH, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực XH nhằm thực hiện chức năng điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh vực XH, được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận XH

Như vậy, đạo đức mang tính bổn phận, mọi người tự giác thực hiện Nó được giám sát bởi mọi thành viên trong XH Nó được dư luận đánh giá bằng hình thức khen chê, tán thành hay phản đối So sánh “Đạo đức" với “Pháp luật" có thể thấy, mặc dù cả hai cùng chung một mục đích là duy trì trật tự

XH và thúc đẩy XH phát triển nhưng pháp luật mang tính cưỡng chế, được

Trang 29

kiểm tra giám sát bởi các cơ quan pháp luật, được đánh giá theo chuẩn đúng sai, tốt xấu bằng các cơ quan chức năng của nhà nước Trong thực tế, nhiều trường hợp pháp luật không trừng phạt nhưng lại bị đạo đức lên án Thang bậc đánh giá của pháp luật theo khuôn từ thấp đến cao, còn thang bậc đánh giá đạo đức rộng hơn rất nhiều Có thể nói: “Pháp luật là đạo đức tối thiểu, đạo đức là pháp luật tối đa” [22, tr.15]

Vì đạo đức là một hình thái ý thức XH phản ánh những quan hệ XH hiện thực được hình thành trên cơ sở kinh tế Mỗi một hình thái kinh tế - XH hay mỗi một giai đoạn lịch sử đều định hình những chuẩn mực đạo đức tương ứng “Từ dân tộc này tới dân tộc khác, từ thời đại này tới thời đại khác, nhiều

ý niệm về cái thiện cái ác rất khác nhau đến nỗi trái ngược nhau…” [28, tr.160], “Chúng ta khẳng định rằng chung quy thì mọi thuyết đạo đức đã có từ trước tới nay đều là sản phẩm tình hình kinh tế XH lúc bấy giờ…” [28, tr.162] Như vậy, bản chất của đạo đức mang tính lịch sử, XH, tính dân tộc, tính giai cấp và tính thời đại

Truyền thống của dân tộc Việt Nam luôn coi trọng đạo đức Phẩm giá đạo đức của mỗi con người được đặt lên hàng đầu: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” hay “Hình thức con người không bằng cái tốt về nội tâm, tính cách con người” Ông cha ta thường khuyên: “Nghèo cho sạch, rách cho thơm” hay

“Giấy rách giữ lấy lề”, “Tôn sư, trọng đạo”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Có tài mà không có đức thì là người vô dụng” Người coi trọng mục tiêu, nội dung GDĐĐ trong các nhà trường như:

“Đoàn kết tốt”, “Kỷ luật tốt”, “Khiêm tốn, thật thà dũng cảm”, “Con người cần có bốn đức: cần - kiệm - liêm - chính, mà nếu thiếu một đức thì không thành người”

Ngày nay, Đảng và nhà nước ta luôn rất quan tâm vấn đề tư tưởng, đạo đức Giá trị đạo đức trong XH ta hiện nay là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa

Trang 30

truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với xu thế tiến bộ của thời đại Nguồn gốc của mọi giá trị đạo đức là sự sáng tạo, cần cù trong lao động, có ý nghĩa chỉ đạo trong sự giáo dục và tự GDĐĐ của con người hiện nay Tình yêu quê hương đất nước gắn chặt với yêu CNXH, thực hiện nghĩa vụ của người công dân, sống và làm việc theo pháp luật, đấu tranh không mệt mỏi vì hoà bình, có tính cộng đồng và tinh thần quốc tế là giá trị đạo đức cao của con người Việt Nam Giá trị đạo đức XHCN thể hiện ở tinh thần nhân đạo XHCN… Thực hiện nếp sống văn minh, ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ thiên nhiên

Còn thể hiện rõ trong nhiệm vụ “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện” của Nghị Quyết Hội Nghị lần thứ IX Ban chấp hành Trung Ương khoá XI về xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, đã nêu: “Xây dựng và phát triển lối sống “Mỗi người vì mọi người”; xây dựng lối sống ý thức tự trọng, tự chủ, tuân thủ các quy định của Hiến pháp và pháp luật, giữ gìn

và bảo vệ môi trường; kết hợp hài hoà giữa cá nhân và tập thể; đề cao trách nhiệm cá nhân đối với bản thân, gia đình và XH Khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân văn” [19, tr.50]

1.2.2.2 Khái niệm giáo dục đạo đức

Xuất phát từ quan niệm về đạo đức được trình bày ở trên, trong đề tài này chúng tôi dựa trên khái niệm GDĐĐ, theo đó “GDĐĐ là quá trình tác động tới HS để hình thành cho họ một ý thức, tình cảm và một niềm tin đạo đức, đích cuối cùng quan trọng nhất của GDĐĐ là tạo lập những thói quen hành vi đạo đức” [35, tr.85]

Quá trình GDĐĐ là một hoạt động có tổ chức, có mục đích và kế hoạch nhằm biến những chuẩn mực đạo đức từ bên ngoài XH với cá nhân thành

Trang 31

những mong muốn của cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục Quá trình này giúp cho mỗi cá nhân nhận thức đúng các giá trị đạo đức, hành động theo công bằng và nhân đạo, sống nhân đạo vì mọi người, tôn vinh những giá trị văn hóa dân tộc để hình thành thói quen đạo đức

Mối quan hệ giữa giáo dục tư tưởng và giáo dục đạo đức nhằm hình thành thế giới quan khoa học theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hành động đạo đức

Bên cạnh đó, GDĐĐ còn quan hệ mất thiết với việc giáo dục pháp luật, đồng thời giúp cho người học nắm được chuẩn mực của pháp luật, các quyền

và nghĩa vụ của công dân Việt Nam Trong luật pháp có các yếu tố đạo đức

Do đó, những phẩm chất đạo đức chân chính là việc tự giác thực hiện pháp luật góp phần vào cuộc sống bình yên của XH

Như vậy có thể nói, GDĐĐ là một nhiệm vụ bao trùm và xuyên suốt toàn

bộ hoạt động giữa gia đình, nhà trường và XH để hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh Trong chiến lược phát triển giáo dục đào tạo, GDĐĐ trở thành mối quan tâm, mục tiêu phát triển con người và phát triển XH

1.2.2.3 Khái niệm giáo dục đạo đức học sinh

Trong mục tiêu quản lý GDĐĐ, thì GDĐĐ HS là sự chuyển hóa những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức XH thành những phẩm chất đạo đức, nhân cách cho HS, hình thành ở HS thái độ đúng đắn trong giao tiếp, ý thức tự giác thực hiện các chuẩn mực của XH, thói quen chấp hành các quy định của pháp luật

Mục tiêu GD - ĐT đã được khẳng định trong luật giáo dục cho các cấp học Trong đó nhấn mạnh mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN

Mục tiêu GDĐĐ là giúp cho mỗi cá nhân nhận thức đúng các giá trị đạo

Trang 32

đức, biết hành động theo lẽ phải, biết sống vì mọi người, trở thành một công dân tốt, xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước

Nhà trường phải trang bị cho HS những tri thức cần thiết về chính trị, tư tưởng đạo đức, lối sống đúng đắn, kiến thức pháp luật, văn hoá XH “Nâng cao nhận thức chính trị, hiểu rõ các yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Nắm vững những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển con người toàn diện, gắn liền với sự nghiệp đổi mới của nước nhà, có nhân sinh quan trong sáng, có quan điểm rõ ràng về lối sống, thích ứng với những yêu cầu của giai đoạn mới” [34, tr.13]

Hình thành ở HS thói quen, hành vi đạo đức đúng đắn, trong sáng với bản thân, mọi người trong XH và sự nghiệp cách mạng XHCN của Việt Nam Rèn luyện ở HS ý thức tự giác thực hiện những chuẩn mực đạo đức

XH, chấp hành nghiêm pháp luật, ý thức tổ chức kỷ luật lao động, yêu lao động, yêu khoa học và những thành tựu, giá trị văn hoá tiến bộ của loài người và không ngừng phát huy những truyền thống cao đẹp của dân tộc Việt Nam Giáo dục cho HS THPT tình yêu tổ quốc Việt Nam XHCN, gắn với tinh thần quốc tế vô sản

Giáo dục được thực hiện chủ yếu qua hai con đường: Hoạt động dạy học trên lớp; hoạt động ngoài giờ lên lớp

Thông qua việc dạy các môn học, làm cho học sinh chiếm lĩnh được một cách có hệ thống những khái niệm đạo đức, những nhận thức khoa học, hình thành ý thức đạo đức, thực hành, rèn luyện đạo đức trong đời sống hàng ngày

để hình thành và củng cố những kỹ năng, chuẩn mực đạo đức, hướng dẫn hành vi đạo đức trong cuộc sống giữa người với người Các môn khoa học tự nhiên có lợi thế trực tiếp giáo dục các em tư duy khoa học, chính xác, lôgíc, trong việc khám phá thế giới Nó có tác dụng giúp các em hình thành các

Trang 33

phẩm chất: Tư duy hợp lý, coi trọng nhân quả, cần cù chịu khó, khát vọng sáng tạo Biết tôn trọng chân lý, qui luật khách quan, khiêm tốn, trung thực

Đó chính là các phẩm chất đạo đức cần hình thành cho HS Các môn khoa học xã hội nhân văn có ưu thế nổi trội trong việc GDĐĐ cho HS Thông qua các môn học này: bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn cho HS Giáo dục thái độ cư

xử, hành vi đạo đức trong XH Các môn nghệ thuật và thể dục tạo cơ hội cho

HS phát triển thẩm mỹ, óc sáng tạo, sức khoẻ thể hiện sự xúc cảm và trải nghiệm của mình Đặc biệt môn GDCD có một vị trí cực kỳ quan trọng đối với việc trang bị cho người học những hiểu biết cơ bản về phẩm chất bổn phận của giáo dục công dân

Nhìn chung thông qua hoạt động học tập, chất lượng học tập ngày càng nâng cao HS không những tiếp thu giá trị mà còn góp phần sáng tạo ra các giá trị mới Từ việc tiếp thu tri thức các môn học HS có những quan niệm đúng về tự nhiên, XH và bản thân, hình thành một nhân sinh quan, một thế giới quan khoa học Đó là cốt lõi của nhân cách mà nhờ đó học sinh THPT biết cách ứng xử, cách quan hệ với mọi người Từ đó các em có hành vi đạo đức đúng đắn

Giáo dục đạo đức thông qua lao động: Thông qua con đường này giáo dục cho HS có nhận thức đúng đắn vè mối qua hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa lao động trí óc và lao động chân tay Qua đó giáo dục lòng yêu lao động,

sự trân trọng thành quả lao động

Giáo dục đạo đức thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp: Các hoạt động ngoài giờ lên lớp như: sinh hoạt đoàn đội và các hoạt động văn nghệ, văn hoá, thể thao, du lịch, các buổi ngoại khoá về các hoạt động XH, bảo vệ môi trường, góp phần chống tệ nạn XH, các chủ đề uống nước nhớ nguồn, tìm hiểu truyền thống dân tộc…Thông qua các hoạt động đó giáo dục được tinh thần tập thể, tinh thần trách nhiệm, sự tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, tạo nên nếp

Trang 34

sống đoàn kết thân ái, đồng thời rèn luyện năng lực hoạt động XH của mỗi cá nhân cũng qua đó uốn nắn những lệch lạc giúp cho các em nắm được những chuẩn mực mà XH yêu cầu ở các em

Giáo dục đạo đức bằng hình thức tự tu dưỡng, tự rèn luyện hoàn thiện mình: Đây là nhân tố quyết định trực tiếp đến trình độ đạo đức của mỗi HS

Sự phát triển đạo đức đòi hỏi có sự tác động bên ngoài và những động lực bên trong Đó chính là giáo dục và tự giáo dục Tự giáo dục cũng mang yếu tố quyết định đến việc rèn luyện đạo đức

Giáo dục đạo đức thông qua sự gương mẫu của người thầy: Người thầy giáo luôn là tấm gương sáng cho HS noi theo Nhân cách của người thầy có một ảnh hưởng rất lớn đến quá trình giáo dục cho HS

Tóm lại: Quản lý GDĐĐ trong nhà trường là hướng tới sự phát trển toàn diện nhân cách cho người học, làm cho quá trình GDĐĐ vận hành đồng bộ, hiệu quả để nâng cao chất lượng Điều quan trọng nhất của việc quản lý GDĐĐ là làm sao cho quá trình GDĐĐ tác động tới HS để hình thành cho họ

ý thức, tình cảm, niềm tin đạo đức, tạo lập những thói quen hành vi đạo đức

1.2.3 Hoạt động giáo dục đạo đức

- Giáo dục đạo đức là quá trình hình thành và phát triển ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen đạo đức của học sinh dưới những tác động có mục đích, có kế hoạch được lựa chọn về nội dung phương pháp, phương tiện phù hợp với đối tượng giáo dục và sự phát triển kinh tế xã hội nhất định

- Giáo dục đạo đức trong nhà trường THCS là một quá trình giáo dục bộ phận trong tổng thể cả quá trình giáo dục có quan hệ biện chứng với các bộ phận giáo dục khác như: giáo dục trí tuệ, thẩm mỹ, thể chất, giáo dục lao động và hướng nghiệp, giúp học sinh hình thành và phát triển nhân cách toàn diện Quá trình giáo dục đạo đức giống như các quá trình giáo dục khác là có

sự tham gia của chủ thể giáo dục và đối tượng giáo dục

Trang 35

Như vậy, chúng ta có thể định nghĩa công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý bằng các biện pháp hiệu quả nhất nhằm đưa hoạt động giáo dục đạo đức đạt tới kết quả mong muốn

1.2.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức

Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạo đức đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất

Về bản chất, quản lý hoạt động giáo dục đạo đức là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu quản lý giáo dục đạo đức

Như vậy, quản lý hoạt động giáo dục đạo đức là hoạt động điều hành việc quản lý giáo dục đạo đức để đạo đức vừa là yêu cầu vừa là mục tiêu của nền giáo dục Do đó, quá trình này cũng có các thành tố sau: mục tiêu, nội dung, phương pháp, cụ thể là:

Mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục đạo đức:

Quản lý hoạt động GDĐĐ trong nhà trường là hướng tới việc phát triển toàn diện nhân cách cho người học Mục tiêu của quản lý hoạt động GDĐĐ là làm cho quá trình giáo dục đạo đức vận hành đồng bộ, nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức Mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục đạo đức bao gồm: + Về nhận thức: Giúp cho mọi người, mọi ngành, mọi cấp, mọi tổ chức trong xã hội có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc quản lý giáo dục đạo đức, nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển con người toàn diện

+ Về thái độ: Giúp mọi người ủng hộ những việc làm đúng, đấu tranh với cái sai, những việc làm trái pháp luật, có thái độ đúng đắn đối với hành vi của bản thân, đối với công tác quản lý giáo dục đạo đức

+ Về hành vi: Tích cực tham gia quản lý GDĐĐ, hoạt động tập thể, hoạt động xã hội Tự rèn luyện tu dưỡng theo chuẩn mực đạo đức chung của xã hội

Trang 36

Điều quan trọng nhất của việc quản lý hoạt động GDĐĐ là làm cho quá trình giáo dục đạo đức tác động đến người học để hình thành cho họ ý thức, tình cảm và niềm tin đạo đức, tạo lập những thói quen, hành vi đạo đức thể hiện thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày

1.2.5 Công cụ

Có nhiều cách hiểu, cách đánh giá khác nhau về công cụ, có quan điểm cho rằng công cụ là những vật dụng cần thiết để qua đó con người dùng làm thay đổi một sự vật nào đó theo ý muốn của mình; mặt khác có quan niệm cho rằng công cụ là những vật liệu tham gia vào quá trình sản xuất nhằm tạo ra những sản phẩm đáp ứng yêu cầu

Như vậy, theo ý hiểu của tác giả thì công cụ là những định hướng nhằm xác định ra phương hướng để chủ thể hành động đưa ra một hướng đi phù hợp cho một hoạt động nào đó trên cơ sở cân nhắc kỹ khả năng, tài chính của từng đối tượng và hoàn cảnh khác quan và chủ quan của chủ thể

1.3 Giáo dục đạo đức cho học sinh THCS

1.3.1 Vị trí vai trò của giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở

Phát triển giáo dục sao cho chất lượng, hiệu quả, đào tạo thế hệ trẻ đảm bảo về chất lượng và đủ về số lượng để gánh vác trọng trách là yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước Giáo dục đạo đức là một trong những yếu tố góp phần thực hiện mục tiêu đó Với đặc trưng của độ tuổi THCS, học sinh bước vào thời kỳ mang tính bất ổn cao, có nhiều chuyển biến vì vậy giáo dục đạo đức có vai trò quan trọng giúp học sinh định hướng những phẩm chất đúng đắn, giáo dục đạo đức có vai trò:

- Giúp học sinh có những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, với cộng đồng - xã hội, với lao động, với tự nhiên

- Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc

và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

Trang 37

- Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung Có tinh thần hy sinh cao cả, lòng vị tha - nhân ái

- Định hướng lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái Mỗi cá nhân không ngừng tự tu dưỡng rèn luyện, thực hành những chuẩn mực xã hội, cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư, biết lắng nghe và điều chỉnh hành vi đạo đức nhằm hoàn thiện mình Đồng thời có ý thức tôn trọng, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái

vì cuộc sống cộng đồng

- Rèn luyện bản thân, lao động chăm chỉ, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội Việc giáo dục cho mọi người, nhất là thế hệ trẻ lao động sáng tạo có ý thức, có tổ chức kỷ luật, có năng suất cao, chất lượng và hiệu quả là cực kỳ quan trọng; lao động phải gắn lương tâm, trách nhiệm của mình với công việc, với nhiệm vụ, với sản phẩm của mình làm ra; lao động gắn lợi ích quốc gia, dân tộc, vì sự phát triển của đất nước

- Tăng cường rèn luyện học tập, nâng cao hiểu biết trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực Đây là đức tính đầu tiên nhưng lại là phẩm chất xuyên suốt.Yêu nước phải gắn với mục tiêu, lý tưởng xây dựng chủ nghĩa xã hội

Lập luận và vai trò của giáo dục đạo đức vừa nêu là mục tiêu nhà trường đang hướng tới Con người Việt Nam mới, nhất là thế hệ trẻ phải kế thừa và phát triển về nhân cách, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức với năng lực tổng hợp và kỹ thuật lao động tiên tiến, đưa dân tộc Việt Nam lên một tầm cao mới, đủ sức làm chủ và bảo đảm sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi

1.3.2 Mục tiêu, nhiệm vụ và các con đường giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở

1.3.2.1 Mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh THCS

Trang 38

- Mục tiêu chung: Trang bị cho học sinh những tri thức cần thiết về đạo đức nhân văn, văn hóa xã hội, tri thức về cuộc sống, giao tiếp ứng xử, học tập, lao động, hoạt động xã hội Thông qua hoạt động giáo dục này để hình thành

ở học sinh thái độ đúng đắn, tình cảm, niềm tin đạo đức trong sáng đối với bản thân, mọi người xung quanh, hình thành thói quen tự giác thực hiện những chuẩn mực đạo đức xã hội, chấp hành quy định của pháp luật, nỗ lực học tập rèn luyện, tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ vào sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước

- Mục tiêu cụ thể giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS:

+ Trang bị cho học sinh đạo đức của xã hội đối với cá nhân, các yêu cầu biểu thị dưới dạng các chuẩn mực đạo đức, các quy tắc đạo đức, các khái niệm đạo đức, các nguyên tắc đạo đức, các lý tưởng đạo đức để giúp cho học sinh ý thức được ý nghĩa, tính đúng đắn, giá trị của các hành vi đạo đức phù hợp với các yêu cầu để ứng xử đúng đắn trong các tình huống đạo đức + Hình thành cho học sinh kinh nghiệm đạo đức, thói quen đạo đức thông qua việc tổ chức cho các em tập dượt trong các hoạt động Thói quen hành vi đạo đức chỉ được hình thành và trở nên bền vững thông qua hoạt động, mối quan hệ đa dạng với những người khác, trẻ em tự khẳng định, tự tin, đó là điều quan trọng trong việc ứng xử đạo đức

+ Bồi dưỡng cho học sinh ý thức, thái độ, hành vi đối với phẩm giá của con người trong quan hệ đối với người khác

+ Chuyển hóa những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội thành phẩm chất đạo đức nhân cách cho học sinh, hình thành ở học sinh thái độ đúng đắn trong giao tiếp, ý thức tự giác thực hiện các chuẩn mực của xã hội, thói quen chấp hành các qui định của pháp luật

Nói tóm lại, mục tiêu của hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS là làm sao cho quá trình giáo dục đạo đức tác động trực tiếp đến

Trang 39

người học để hình thành ý thức tình cảm và niềm tin đạo đức, tạo lập được những thói quen hành vi đạo đức

1.3.2.2 Các con đường giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở

Đạo đức tồn tại trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống con người Với tư cách là một mặt hoạt động xã hội, đạo đức bao gồm các hành vi đạo đức Dù đạo đức tồn tại dưới hình thái nào, nếu được cá nhân ý thức đầy đủ

và có định hướng đúng, biết thể hiện, vận dụng vào các quan hệ đạo đức để có tác động đến sự hình thành mặt đạo đức của con người Từ sự tồn tại của đạo đức như vậy, việc giáo dục đạo đức cho học sinh có thể thực hiện bằng hai con đường cơ bản như sau:

+ Nâng cao nhận thức đạo đức bằng cách tìm tòi học hỏi, phát triển ý thức công dân ở học sinh thông qua dạy học, nhất là các bộ môn có liên quan như giáo dục công dân, văn học, lịch sử, sinh học

+ Xây dựng những hành vi, thói quen đạo đức thông qua tổ chức đời sống, các hoạt động và giao lưu để thực hiện các mối quan hệ, tích luỹ kinh nghiệm đạo đức như: Lao động vệ sinh trường sở, hướng nghiệp; hoạt động văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí; hoạt động tham quan, du lịch, cắm trại; hoạt động chính trị -xã hội, nhân đạo

1.3.3 Đặc điểm học sinh trung học cơ sở

Lứa tuổi học sinh THCS (lứa tuổi thiếu niên) là một giai đoạn chuyển tiếp trong sự phát triển của con người diễn ra giữa giai đoạn trẻ em và tuổi trưởng thành Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lần tinh thần, tạo ra

sự khác biệt mới về mọi mặt: thể chất, trí tuệ, giao tiếp, tình cảm, đạo đức… của các em Bởi vậy, các nhà giáo dục cần nắm được vị trí của giai đoạn phát triển tâm lý thiếu niên, những khó khăn, thuận lợi trong quá trình phát triển tâm - sinh lý của học sinh THCS để giảng dạy, giáo dục HS

Lứa tuổi THCS bao gồm những em có độ tuổi từ 11 - 15 tuổi, tương ứng

Trang 40

các em học từ lớp 6 đến lớp 9 trường THCS Lứa tuổi này còn gọi là lứa tuổi thiếu niên và nó có một vị trí đặc biệt trong quá trình phát triển của các em Tuối thiếu niên có vị trí và ý nghĩa đặc biệt trong quá trình phát triển của

cả đời người, được thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất: đây là thời kỳ quá độ từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành, thời

kỳ trẻ đang ở “ngã ba đường” của sự phát triển Trong đó có rất nhiều khả năng, nhiều phương án, nhiều con đường để mỗi trẻ em trở thành một cá nhân Trong thời kỳ, nếu sự phát triển được định hướng đúng, được tạo thuận lợi thì em sẽ trở thành công dân tốt Ngược lại, nếu không được định hướng đúng, bị tác động bởi yếu tố tiêu cực thì sẽ xuất hiện hàng loạt các nguy cơ dẫn đến trẻ em bên bờ của sự phát triển lệch lạc về nhận thức, thái độ, hành vi

và nhân cách

Thứ hai: thời kỳ mà tính tích cực xã hội của trẻ em được phát triển mạnh

mẽ, đặc biệt trong việc thiết lập các quan hệ bình đẳng với người lớn và bạn ngang hàng, trong việc lĩnh hội các chuẩn mực và giá trị xã hội, thiết kế tương lai của mình và những hành động cá nhân tương ứng

Thứ ba: Trong suốt thời kỳ thiếu niên đều diễn ra sự cấu tạo lại, cải tổ lại, hình thành các cấu trúc mới về thể chất, sinh lý, về hoạt động, tương tác

xã hội và tâm lý, nhân cách, xuất hiện những yếu tố mới của sự trưởng thành

Từ đó hình thành cơ sở nền tảng và vạch chiều hướng cho sự trưởng thành thực thụ của cá nhân, tạo nên đặc thù riêng của lứa tuổi

Thứ tư: tuổi thiếu niên là giai đoạn khó khăn, phức tạp và đầy mâu thuẫn trong quá trình phát triển.Ngay các tên gọi của thời kỳ này: thời kỳ “quá độ”,

“tuổi khó khăn”, “tuổi khủng hoảng”… đã nói lên tính phức tạp và quan trọng của những quá trình phát triển diễn ra trong lứa tuổi thiếu niên Sự phức tạp thể hiện qua tính hai mặt của hoàn cảnh phát triển của trẻ Một mặt có những yếu tố thúc đẩy phát triển tính cách của người lớn Mặt khác, hoàn cảnh sống

Ngày đăng: 16/11/2018, 11:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Thị Lan Anh (2015), Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THCS huyện Gia Lâm - thành phố Hà Nội, Học viện Quản lí giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THCS huyện Gia Lâm - thành phố Hà Nội
Tác giả: Vũ Thị Lan Anh
Năm: 2015
3. Ban chấp hành TW Đảng (2013), Nghị quyết số 29 “Về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thì trường và hội nhập quốc tế” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 29 “Về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thì trường và hội nhập quốc tế
Tác giả: Ban chấp hành TW Đảng
Năm: 2013
5. Bộ Chính trị (2009), Thông báo kết luận về tiếp tục thực hiện nghị quyết trung ương 2 (khóa VIII), phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo kết luận về tiếp tục thực hiện nghị quyết trung ương 2 (khóa VIII)
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2009
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1995), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên năm 1995 - 1996 môn Triết học lớp 12 Ban Khoa học xã hội, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên năm 1995 -1996 môn Triết học lớp 12 Ban Khoa học xã hội
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 1995
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), Giáo trình phần III quản lý giáo dục và đào tạo, Trường Cán bộ quản lý Giáo dục - Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phần III quản lý giáo dục và đào tạo
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2002
14. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc(2010), Đại cương khoa học quản lý, Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương khoa học quản lý
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 2010
15. Phạm Khắc Chương (2004), Bài giảng quản lý giáo dục đại cương, Nhà xuất bản ĐHSP Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng quản lý giáo dục đại cương
Tác giả: Phạm Khắc Chương
Nhà XB: Nhà xuất bản ĐHSP Hà Nội
Năm: 2004
17. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội, đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội, đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2011
18. Đảng cộng sản Việt Nam (2013), Văn kiện Hội Nghị lần thứ 8 BCH TW khoá 11, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội Nghị lần thứ 8 BCH TW khoá 11
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2013
19. Đảng cộng sản Việt Nam (2014), Văn kiện Hội Nghị lần thứ 9 BCH TW khoá 11, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội Nghị lần thứ 9 BCH TW khoá 11
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2014
23. Phạm Minh Hạc (2001), Phát triển con người toàn diện thời kỳ Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển con người toàn diện thời kỳ Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2001
24. Phạm Minh Hạc (2002), Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2002
25. Lê Văn Hồng (1999), Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
27. Trần Hậu Kiểm (1997), Đạo đức học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức học
Tác giả: Trần Hậu Kiểm
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1997
28. L.P. Ăng ghen (1960), Chống đuybinh, Nhà xuất bản sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chống đuybinh
Tác giả: L.P. Ăng ghen
Nhà XB: Nhà xuất bản sự thật
Năm: 1960
29. Macarenco (1983), Tuyển tập, tài liệu dịch từ tiếng Nga Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: Macarenco
Năm: 1983
30. Hồ Chí Minh (1983), Về Đạo đức, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về Đạo đức
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1983
32. Hồ Chí Minh (2010), Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2010
33. Hồ Chí Minh (1997), Vấn đề về Đạo đức, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề về Đạo đức
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1997
35. Nguyễn Ngọc Quang (1992), Những vấn đề cơ bản về lý luận quản lý giáo dục, Trường Cán bộ quản lý Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về lý luận quản lý giáo dục
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Năm: 1992

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w