Trong lịch sử triết học phương Đông, triết học Trung Quốc thời kì cổ, trung đại có một vị trí rất quan trọng. Các trường phái triết học Trung Quốcxuất hiện vào thời Xuân Thu Chiến Quốc phát triển mạnh mẽ và đạt đượcnhững thành tựu hết sức rực rỡ. Sử sách Trung Quốc gọi thời kì này là thời kì“Bách gia chư tử”, “Bách gia tranh minh”, thời kì vàng son của triết họcTrung Quốc. Chính trong thời kì này đã sản sinh ra các nhà tư tưởng lớn vàhình thành nên các trường phái triết học khá hoàn chỉnh. Đặc điểm của cáctrường phái này là luôn lấy con người và xã hội làm trung tâm của sự nghiêncứu, có xu hướng chung là giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị đạođức của xã hội. Tiêu biểu trong các trường phái triết học Trung Quốc cổ,trung đại là Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Danh gia,
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN THỊ NHƯ QUỲNH
TƯ TƯỞNG VÔ VI CỦA LÃO TỬ, Ý NGHĨA CỦA NÓ
ĐỐI VỚI THỜI ĐẠI NGÀY NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: CHÍNH TRỊ HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN THỊ NHƯ QUỲNH
TƯ TƯỞNG VÔ VI CỦA LÃO TỬ, Ý NGHĨA CỦA NÓ
ĐỐI VỚI THỜI ĐẠI NGÀY NAY
Ngành : Chính trị học
Chuyên ngành : Giáo dục lý luận chính trị
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: TS Nguyễn Vân Hạnh
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Khóaluận được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị VânHạnh Tài liệu và số liệu trích dẫn trong khóa luận là hoàn toàn trung thực vàđáng tin cậy Kết quả trong bài không trùng lặp với những công trình đã đượccông bố trước đây.
Hà Nội, ngày 11 tháng 5 năm 2018
TÁC GIẢ KHÓA LUẬN
Nguyễn Thị Như Quỳnh
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
7 Kết cấu của khóa luận
Chương 1 7
KHÁI QUÁT VỀ LÃO TỬ VÀ TRƯỜNG PHÁI ĐẠO GIA 7
1.1 Tiền đề kinh tế chính trị- xã hội cho việc hình thành tư tưởng vô vi của Lão Tử
1.1.1 Tiền đề kinh tế 8
1.1.2 Tiền đề chính trị 11
1.1.3 Tiền đề xã hội 15
1.2 Sơ lược về Lão Tử và trường phái đạo gia
1.2.1.Cuộc đời và sự nghiệp của Lão Tử 17
1.2.2 Nội dung cơ bản của triết học Lão Tử và trường phái đạo gia 20
Chương 2 28
NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HỌC THUYẾT VÔ VI CỦA LÃO TỬ 28
2.1 Khái niệm vô vi trong triết học của Lão Tử
2.2 Xã hội lí tưởng theo thuyết vô vi của Lão Tử
2.4 Vô vi trong phương châm xử thế 39
Chương 3 43
Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG VÔ VI CỦA LÃO TỬ 43
TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY 43
Trang 63.1.1 Tư tưởng vô vi của Lão Tử chưa đựng hạt nhân biện chứng sơ
khai 43
3.1.2 Tư tưởng vô vi của Lão Tử chứa đựng giá trị nhân văn sâu sắc .48 3.1.3 Tư tưởng vô vi của Lão Tử đề xuất một lối sống tôn trọng tự nhiên .50
3.2 Một số hạn chế trong tư tưởng vô vi của Lão Tử
3.2.1 Tư tưởng vô vi còn mang yếu tố duy tâm, siêu hình 55
3.2.2 Tuyệt đối hóa chủ nghĩa vô vi 57
3.2.3 Chưa nhận thức đúng vai trò của kinh nghiệm và hoạt động thực tiễn trong lí luận nhận thức 59
KẾT LUẬN 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử triết học phương Đông, triết học Trung Quốc thời kì cổ,trung đại có một vị trí rất quan trọng Các trường phái triết học TrungQuốcxuất hiện vào thời Xuân Thu - Chiến Quốc phát triển mạnh mẽ và đạtđượcnhững thành tựu hết sức rực rỡ Sử sách Trung Quốc gọi thời kì này làthời kì“Bách gia chư tử”, “Bách gia tranh minh”, thời kì vàng son của triếthọcTrung Quốc Chính trong thời kì này đã sản sinh ra các nhà tư tưởng lớnvàhình thành nên các trường phái triết học khá hoàn chỉnh Đặc điểm củacáctrường phái này là luôn lấy con người và xã hội làm trung tâm của sựnghiêncứu, có xu hướng chung là giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị -đạođức của xã hội Tiêu biểu trong các trường phái triết học Trung Quốccổ,trung đại là Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Danh gia, Âm dương gia, Phápgia.Trong số sáu trường phái triết học lớn này, Đạo gia do Lão Tử sáng lập ra
là một trong những trường phái triết học học giữ vai trò quan trọng và có ảnh
hưởng rất lớn đến đời sống,văn hóa, tư tưởng của dân tộc Trung Quốc.Lão Tử
là một trong những triết gia tiêu biểu của Trung Hoa Cổ đại nói riêng và triếthọc thế giới nói chung, Đạo Đức Kinh là một tác phẩm lớn của triết học cổđại Trung Hoa, là một hệ thống tư tưởng, nhân sinh quan của Lão Tử “Vô vi”
là tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt tác phẩm, “vô vi” trong cách sống, cách hành
xử, cũng như trong phép trị nước
Lão Tử được cho là người đầu tiên thuyết về vũ trụ, ông để lại câu:
“Đạo khả Đạo phi thường Đạo” với ngụ ý Đạo nếu định nghĩa được thì khôngcòn là Đạo Ông để lại nhiều câu khiến người đời và hậu thế phải nghiêngmình khâm phục Quan điểm triết học của Lão Tử tuy còn sơ khai nhưng tưtưởng của ông đã phản ánh rất đúng bản chất của thế giới khách quan Thếgiới đó tồn tại tự nhiên, không phụ thuộc vào một lực lượng siêu nhiên nào
Nó không đứng yên, mà luôn vận động, biến đổi theo những quy luật vốn có
Trang 8vă do nguyín nhđn ở chính bản thđn nó, do sự vận động, chuyển hoâ của câcmặt đối lập bín trong vạn vật Ông luôn nhìn thế giới ở cả hai mặt chứ khôngphiến diện, cứng nhắc Đó thực sự lă nền tảng khoa học cho những phươngphâp hănh động cũng rất hợp lý của con người trong mọi quan hệ xê hội mẵng đê chỉ ra trong đường lối vô vi của mình Đầu thế kỷ 19, chđu Đu bắt đầunghiín cứu “Đạo Đức Kinh”, câc triết gia như Hegel, Heiderger, đại văn hăoTolstoy đều rất tôn sùng Lêo Tử Tiến sỹ người Anh Needham, người hai lầnđoạt giải Nobel viết trong tâc phẩm nổi tiếng “Lịch sử khoa học kỹ thuậtTrung Quốc” của ông rằng: “Trong tính câch người Trung Quốc có rất nhiềunhđn tố hấp dẫn nhất, đều có nguồn gốc từ tư tưởng của Đạo gia Trung Quốcnếu không có tư tưởng Đạo gia, thì cũng giống như một cđy đại thụ có rễ sđu
bị mục nât Cđy đại thụ năy đến nay vẫn bừng bừng sức sống”.Thời bâch giachư tử trong lịch sử Trung Quốc lă thời kỳ được đânh dấu bằng chiến tranh văloạn ly, nhưng cũng được xem lă thời kỳ văng son của nhiều nhă tư tưởngTrung Quốc tìm câch giải hóa vấn đề an dđn lập quốc Tư tưởng của Lêo Tửdựa văo quy luật phât triển của vạn vật để chỉ ra rằng, trị quốc nín bắt đầu từlúc trước khi bạo loạn, như cđy to trưởng thănh từ một ngọn nhỏ, thâp caochín tầng hình thănh từ những giỏ bùn nhỏ đắp nín, hănh trình nghìn dặmcũng bắt đầu từ một bước chđn Mặt khâc, tư tưởng vô vi của Lêo Tử có tầmquan trọng của đức hạnh con người vă tích đức đối với tu luyện vă lăm người
Mặc dù vậy, do hạn chế về lịch sử xê hội, ông đê không trânh khỏinhững lối nói thâi quâ hoặc diễn đạt quâ ngắn gọn khiến cho người ta khóhiểu đúng bản ý của ông Từ đó đê gđy không ít tranh cêi trong lịch sử triếthọc từ trước tới nay
Việt Nam lă một đất nước phương Đông Nhă nước Việt Nam phải cónhững nĩt đặc thù của một Nhă nước phương Đông, tiếp thu được những lýthuyết hiện đại về quản lý Nhă nước đồng thời kết hợp với câc hạt nhđn hợp
lý tư tưởng của Lêo Tử, tư tưởng chính trị vă triết học Trung Quốc cổ đại nói
Trang 9chung và học thuyết vô vi của Lão Tử nói riêng là một yếu tố rất thiết thực, có
ý nghĩa quan trọng trong việc vận dụng vào đời sống ở Việt Nam hiện nay
Để hiểu sâu hơn, đi vào tìm hiểu những quan điểm triết học của Lão
Tử, tôi chọn đề tài “Tư tưởng vô vi của Lão Tử, ý nghĩa của nó đối với thời đại ngày nay” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan
* Các công trình nghiên cứu về lịch sử - xã hội - chính trị và học thuật của Trung Hoa cổ đại
- Một công trình nghiên cứu về Lịch sử triết học xuất hiện khá sớm của
Trung Quốc và cũng sớm được dịch ra tiếng Việt của tập thể tác giả HồngTiềm, Nhiệm Hoa, Uông Tử Tung, Trương Thế Anh, Trần Tú Mai, Chu Bá
Côn là cuốn Lịch sử triết học Trung Quốc do Lê Vũ Lang dịch (Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1957)
- Ở nước ta, Nguyễn Hiến Lê là một trong những người đi đầu trongnghiên cứu lịch sử tư tưởng nói chung và triết học Trung Hoa cổ đại nói riêng
Trước tiên là công trình lịch sử nổi tiếng của Trung Quốc, cuốn Sử ký
của Tư Mã Thiên do Phan Ngọc dịch (Nxb Thời đại, Hà Nội, 2010), trong đó
Tư Mã Thiên bộc bạch phương pháp thực hiện việc làm sử là “Chỉ thuật lại
chuyện xưa, sắp đặt lại chuyện chứ không sáng tác”[18, tr.17] Bộ sử nhắc
đến hàng nghìn nhân vật, do đó những cái tên được nhắc đến trong “Sử ký”
phải là điển hình
Tác giả Lê Giảng có cuốn Các triều đại Trung Hoa (Nxb Từ điển Bách
khoa, 2010) Trong sách, những nhân vật, sự kiện được miêu tả thông quanhững câu chuyện, qua bảng đối chiếu các niên đại Thời Xuân thu – Chiến
quốc trong các thiên: Ngũ bá tranh hùng; Vương triều Tần; Sự phát triển của
Tần và biến Pháp Thương Ưởng; Văn hóa Tần; Một số học giả; Tần Chinh phục lục quốc; Tác phẩm cùng các cứ liệu lịch sử khác, sẽ là những căn cứ
Trang 10quan trọng giúp những nhận định, đánh giá về vai trò của Đạo gia trong lịch
sử được thỏa đáng hơn
Có thể nói, những tư liệu sử học, mà tiêu biểu là cuốn “Sử ký” của Tư
Mã Thiên là công cụ rất quan trọng để nghiên cứu về Pháp gia, bởi lẽ người ta
tìm đến với “Sử ký” như tài liệu để thẩm định khoa học do tính chân thực của
nó Hơn nữa, những công trình này sẽ trực tiếp giúp chúng tôi hoàn thành cơ
sở lý luận và thực tiễn cho sự ra đời, phát triển và ảnh hưởng của trường pháiĐạo gia gia trong lịch sử tư tưởng Trung Hoa cổ đại
* Các công trình nghiên cứu về nguồn gốc, sự hình thành trường phái Đạo gia
Trước hết là cuốn Lịch sử triết học (tập 1) – Triết học cổ đại của Trung
tâm KHXH&NV Quốc gia – Viện KHXH tại TP.HCM được Nxb KHXH,xuất bản năm 2002 Cuốn sách là công trình khoa học phản ánh sự chín muồi
trong nghiên cứu Lịch sử triết học của tác giả Nguyễn Thế Nghĩa, Doãn
Chính, bởi tài liệu viện dẫn hầu hết là những sản phẩm nghiên cứu đã đượccông bố của chính các tác giả này
Tiếp đến, một công trình có chung đối tượng nghiên cứu với công trình
trên là cuốn Lịch sử triết học phương Đông (Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội,
2006) của Nguyễn Đăng Thục Tuy nhiên, điểm đặc biệt ở công trình này làchỉ đi sâu vào hai nền triết học lớn: Trung Hoa và Ấn Độ
Cuốn Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu của học
giả Cao Xuân Huy (Nxb Văn học, Hà Nội, 1995
Lã Trấn Vũ được biết đến là một trong những học giả nổi tiếng tronglĩnh vực nghiên cứu lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội của Đạo gia gia với
công trình Lịch sử tư tưởng chính trị Trung Quốc do Trần Văn Tấn dịch (Nxb,
Sự thật, Hà Nội, 1964)
Cuốn sách Nho giáo Trung Quốc của Nguyễn Tôn Nhan được Nxb Văn
hóa Thông tin, Hà Nội biên dịch và xuất bản năm 2005 Mặc dù tiêu đề là
Trang 11Nho giáo, nhưng nội dung của nó đã bàn đến vai trò của trường phái Đạo giatrong lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội Trung Quốc thời kỳ phong kiến
Ngoài ra còn có các công trình tiêu biểu của Doãn Chính viết về Đại
cương triết học Trung Quốc nội dung của nó đã bàn đến vai trò của
trường phái Đạo gia trong lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội Trung Quốcthời kỳ phong kiến
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu tư tưởng vô vi của Lão Tử Từ đó rút ra ý nghĩa đối với thờiđại ngày nay
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là: Khái quát về Lão Tử và phái đạo gia
Hai là: Tìm hiểu rõ nội dung của tư tưởng vô vi
Ba là Từ đó rút ra ý nghĩa đối với thời đại ngày nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu tư tưởng vô vi của Lão Tử 4.2.Phạm vi nghiên cứu
- Khảo sát tác phẩm Đạo đức kinh của Lão Tử là chủ yếu, ngoài ra khảosát thêm một số tác phẩm khác của Lão Tử
Tác phẩm ra đời ở Trung Quốc thời Xuân Thu- Chiến Quốc, do vậy cầnkhảo sát các tư liệu lịch sử liên quan đến thời kì này
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 12+ Lược thuật tài liệu
+ Phân tích và tổng thuật tài liệu
+ Đọc và nghiên cứu tài liệu liên quan đến riết học, lịch sử, Chủ nghĩa xãhội khoa học, Sử học, Xã hội học, Tâm lý học, kinh tế học …
7 Kết cấu của khóa luận
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo Tiểu luận có kếtcấu gồm 3 chương 8 tiết:
Trang 13Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ LÃO TỬ VÀ TRƯỜNG PHÁI ĐẠO GIA
1.1 Tiền đề kinh tế chính trị- xã hội cho việc hình thành tư tưởng
vô vi của Lão Tử
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, xét đến cùng thì sự vậnđộng và phát triển của xã hội tuân theo quy luật tồn tại xã hội quyết định ýthức xã hội Vì thế, khi nghiên cứu sự xuất hiện tư tưởng chính trị - xã hội cầnphải xuất phát từ chính nội bối cảnh xã hội đó Khi mâu thuẫn giai cấp xuấthiện, xung đột về tư tưởng xảy ra trong xã hội là sự phản ánh về cách thức sảnxuất, kết cấu và tổ chức dân cư tương ứng với điều kiện tự nhiên không cònphù hợp nữa Đó là cơ sở để một nhà nước mới ra đời với những thể chế, thiếtchế phù hợp với lợi ích của người cầm quyền Trung Hoa cổ đại không thểnằm ngoài quy luật đó
Trung Hoa cổ đại là một quốc gia rộng lớn, có lịch sử lâu đời từ cuốithiên niên kỷ III Tr.CN kéo dài tới tận thế kỷ III Tr.CN Trong hơn 2000 năm
đó, lịch sử Trung Hoa được phân chia làm 2 thời kỳ lớn: Từ thế kỷ IX Tr.CNtrở về trước và từ thế kỷ VIII Tr.CN đến cuối thế kỷ III Tr.CN Tuy nhiên, dophạm vi nghiên cứu, luận án này chỉ tập trung khảo cứu vai trò và vị thế củaPháp gia thời Xuân Thu – Chiến Quốc (770 – 221 Tr.CN), đây là thời kỳ đánhdấu chế độ lãnh chúa mang tính chất nô lệ chuyển sang chế độ phong kiến sơ
kỳ Kể từ đây nhà Chu chỉ tồn tại về danh nghĩa, trên thực tế Thiên tử bị cácchư hầu lấn át, họ xưng bá, xưng vương ở khắp nơi, một cảnh tượng Bách giachư tử bao phủ suốt mấy trăm năm, lịch sử còn gọi là thời Xuân Thu - ChiếnQuốc Cục diện này chỉ kết thúc vào năm 221 Tr.CN khi Tần Thủy Hoàngthống nhất Trung Hoa cổ đại
Trong bối cảnh đó, nếu làm rõ được tình hình kinh tế, chính trị - xã hộicủa Trung Hoa thời Xuân Thu - Chiến Quốc, sẽ lý giải được vì sao phong trào
Trang 14Bách gia tranh minh xuất hiện, được xem là cội nguồn của các học thuyếtchính trị - xã hội, trong đó Pháp gia và Nho gia là những trường phái tiêubiểu, đóng vai trò chủ đạo cho sự phát triển của xã hội Trung Hoa thời kỳ này.
1.1.1 Tiền đề kinh tế
Vào thời Xuân Thu chiến quốc, sự phát triển của triết học cổ đại bước
vào giai đoạn rực rỡ nhất, đây là thời kì tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ vàchế độ phong kiến sơ kì đang lên
Theo quan niệm của triết học mácxít: chính trị là sự biểu hiện tập trungcủa kinh tế, cho nên phác họa bức tranh tổng thể về kinh tế thời Xuân Thu –Chiến Quốc sẽ trả lời được câu hỏi vì sao Pháp gia xuất hiện trên vũ đài tưtưởng chính trị Trung Hoa cổ đại là một tất yếu của lịch sử
Xuân Thu – Chiến Quốc là thời kỳ có sự thay đổi mau lẹ về công cụsản xuất với cuộc cách mạng chuyển từ đồ đồng sang đồ sắt gắn liền với sứckéo bằng trâu, bò thay thế sức người Từ kỹ thuật sản xuất thay đổi, kéo theo
sự thay đổi về cách thức tổ chức lao động
Trước hết, đó là vấn đề sở hữu ruộng đất, lúc này ruộng đất công khôngcòn được chia theo chế độ“tỉnh điền” nữa, [“tỉnh điền” vốn được áp dụng từthời nhà Thương với phương thức sở hữu vừa tư vừa công, theo đó trong mộtđơn vị ruộng đất được chia làm 9 phần (theo hình chữ “tỉnh”), nhà nước giaocho nông dân 8 mảnh, còn phần đất ở giữa là đất công, các hộ có sở hữu xungquanh có trách nhiệm cùng nhau cày cấy và nộp sản phẩm làm ra từ mảnhruộng này để nộp cho nhà nước (gọi là phép “trợ”)] Ruộng đất công đượcgiao cho các gia đình nông nô canh tác lâu dài, người nông dân nhờ đó có thểluân canh ổn định trên mảnh đất của mình, hay còn gọi là chế độ “tư điền”[“tư điền” là hình thức sau khi giao ruộng đất cho nông dân, nhà nước đánhthuế trên từng mẫu ruộng (gọi là thuế “sơ mẫu”)] Cũng do nhu cầu sản xuấtnông nghiệp, chiến tranh mà các nghề sắt, rèn, đúc trở nên hưng thịnh Nhữngvật dụng như: lưỡi cày, liềm, cuốc, rìu, dao; những vũ khí phục vụ cho chiến
Trang 15tranh được luyện từ sắt… được sử dụng phổ biến Sử nước Lỗ ghi chép: Cuốithời Xuân Thu, nước Ngô dựng lò luyện sắt lớn đến 300 người thụt bễ, đổthan Nước Tấn trưng thu sắt để đúc đỉnh hình… [13, tr.242]
Chính sách sở hữu thay đổi, công cụ sắc bén đã giúp cho việc khaihoang nhân rộng, làm cho ruộng đất tư ngày một nhiều, bọn quý tộc cũng nhờ
đó mà tìm cách chiếm dần đất công để biến thành đất tư
Cùng với sự phát triển nông nghiệp và thủ công nghiệp, các ngànhthương nghiệp cũng phát triển theo, làm cơ sở cho sự hình thành một tầng lớpquý tộc mới, đó là hạng thương nhân giàu có và ngày càng có thế lực, có thể
kể đến một số đại biểu như: Bão Thúc Nha - Quản Trọng (nước Tề), HuyềnCao (nước Trịnh), Tử Cống (vốn là học trò Khổng Tử ở nước Lỗ), … nhữngngười này kết giao với các chư hầu, đại phu, hoặc chuyển hẳn sang hoạt độngchính trị nên họ có thanh thế trong xã hội đương thời
Sự xuất hiện giao thương đã đem lại cho xã hội hệ quả mang cả ý nghĩatích cực và tiêu cực: thứ nhất, hình thành nên hệ thống các trung tâmthương nghiệp với số lượng và chủng loại hàng hoá ngày càng nhiều; thứhai, trong sự biến chuyển đó đã đánh dấu sự lên ngôi của một tầng lớp mớitrên vũ đài chính trị, nó có tầm ảnh hưởng ngày càng mạnh và đang có xuhướng leo lên tranh giành quyền lực với tầng lớp quý tộc cũ, đặc biệt là đầuthời Chiến Quốc
Chế độ chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc đã tồn taị và phát triển từ triềuđại nhà Hạ, qua nhà Thương, đến cuối thời Tây Chu thì bước qua thời kìkhủng hoảng và càng ngày càng đi tới suy tàn Xã hội Trung Quốc bước vàothời kì giao thời, từ chế độ tông tộc chuyển sang chế độ gia trưởng, giá trị tưtưởng đạo đức của xã hội cũ bị băng hoại, nhưng các giá trị tư tưởng mới cònmanh nha và đang trên con đường xác lập Sự biến đổi toàn diện về kinh tế,chính trị xã hội thời đại này đã tạo nên tiền đề cho sự giải phóng con người,
Trang 16thoát khỏi thế giới quan thần thoại tôn giáo, thần bí truyền thống, ảnh hưởngsâu sắc đến quá trình phát triển của tư tưởng triết học
Ở thời Xuân Thu, nền kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ thời đại đồđồng sang thời đại đồ sắt Việc dùng bò kéo cày đã trở nên phổ biến Phátminh mới về kĩ thuật khai thác và sử dụng đồ sắt đã đem lại những tiến bộmới trong việc cải tiến công cụ và kĩ thuật sản xuất nông nghiệp Thời kì này
hệ thống thủy lợi đã rải khắp khu vực Trường Giang Diện tích đất đai canhtác nhờ đó được mở rộng Kĩ thuật trồng trọt cũng được cải tiến, tạo điều kiệntăng năng suất trong lao động nông nghiệp Từ đó người ta thấy không cầnthiết phải chia lại ruông đất theo định kì căn cứ vào đất tốt hay đất xấu nhưtrước nữa Giờ đây công xã đã giao hẳn đất công cho những người nông nô,cày cấy trong thời hạn lâu dài Vì vậy, nông dân có thể dùng phương pháp lưucanh hay luân canh để tăng năng suất cây trồng Mặt khác nhờ công cụ bằngsắt xuất hiện và thủy lợi mở mang, ruộng đất do nông nô vỡ hoang biến thànhruộng tư ngày một nhiều Bọn quý tộc có quyền thế cũng chiếm dần ruộngcủa công xã làm ruộng tư Chế độ tịch điền dần tan rã
Trên cơ sở phát triển sản xuất thủ công nghiệp, việc mở rộng quan hệtrao đổi sản phẩm lao động,sự phân công trong sản xuất thủ công nghiệp cũng
đã đạt được mức chuyên nghiệp cao hơn, thúc đẩy một loạt các ngành thủcông nghiệp phát triển, như nghề luyện sắt, nghề rèn, nghề đúc, nghề mộc,nghề làm đồ gốm
Thưong nghiệp cũng phát triển hơn trước Trong xã hội đã xuất hiện vàhình thành một tầng lớp thương nhân giàu có ngày càng có thế lực như HuyềnCao nước Trịnh, Tử cống vốn là học trò của Khổng Tử Thương nhân đã cóngười kết giao với chư hầu và công khanh đại phu, gây nhiều ảnh hưởng đếnchính trị đương thời Tuy nhiên, do tình trạng xã hội đang rối ren, phương tiệngiao thông thô sơ, lãnh thổ chia năm xẻ baỷ do nạn chư hầu cát cứ đi lại rấtkhó khăn, nên việc kinh doanh đòi hỏi phải do những người tháo vát có đầu
Trang 17óc thông minh và lòng quả cảm đảm đương Hơn thế buôn bán ở Trung Quốcthời bây giờ bị coi là rẻ mạt nhất, theo quan điểm “nông bản thương mạt”, nên
nó cũng chưa thực sự phát triển Nhưng sự trưởng thành của thương nghiệpbuôn bán đã tạo ra trong cơ cấu giai cấp xã hội một tầng lớp mới Từ tầng lớpnày dần dần xuất hiện một loại quý tộc mới với thế lực ngày càng mạnh, tìmcách leo lên tranh giành quyền lực
1.1.2 Tiền đề chính trị
Ở thời điểm đó Trung Quốc vẫn chưa được coi là một đế quốc Và tớitận khi vị hoàng đế đầu tiên của nhà Tần, và cũng là vị hoàng đế đầu tiên củaTrung Quốc lên ngôi thì nước này mới bắt đầu giai đoạn phong kiến Dướithời nhà Chu, trung tâm của quyền lực nằm trong tay (hay được cho là nhưvậy) vị vua nhà Chu
Cần lưu ý rằng vua và hoàng đế không phải hoàn toàn như nhau Vị vuanhà Chu nhận được đồ cống nạp từ các quý tộc cai trị tại những vùng đất mà
họ được thừa kế từ tổ tiên Các vị tổ tiên được phong làm quý tộc hay côngtước tại các nước chư hầu thường là các quan chức có công lao lớn đối vớinhà vua và triều đình cai trị, trong trường hợp này là nhà Chu Vị vua nhà Chukhông trực tiếp kiểm soát các tiểu quốc chư hầu của mình Thay vào đó, sựtrung thành chung của các quận công và quý tộc tạo nên quyền lực cho ông ta.Khi lòng trung thành giảm đi, quyền lực của nhà vua cũng giảm sút Vị hoàng
đế đầu tiên của Trung Quốc thấy rằng hệ thống phong kiến cuối cùng sẽ dẫntới một vị vua ít quyền lực và một tình thế hỗn loạn Vì vậy, ông đã dựng lênmột Trung Quốc với một thể chế tập trung mạnh mẽ không dựa vào lòngtrung thành của các quận công địa phương
Sau khi kinh đô bị các bộ tộc rợ phía tây cướp bóc, Chu Bình chạy sangphía Đông Trong khi rút chạy từ thủ đô phía tây về phía đông, vị vua Chu nhờcác vị vương hầu ở gần đó là Tần, Trịnh và Tấn bảo vệ khỏi các rợ và các vịvương hầu phản loạn Ông dời đô thành của Chu từ Cảo Kinh (nay thuộc ThiểmTây)đến Lạc Ấp (nay thuộc Lạc Dương) ở châu thổ sông Hoàng Hà
Trang 18Vị vua trốn chạy nhà Chu không có được vị trí chắc chắn trên vùnglãnh thổ phía đông; thậm chí cả lễ lên ngôi của thế tử cũng phải nhờ sự trợgiúp của các vị vương hầu trên mới diễn ra được Với sự sút giảm lớn về đấtđai, chỉ còn giới hạn ở Lạc Dương và các vùng xung quanh, triều đình Chukhông còn có thể duy trì sáu đội quân thường trực Các vị vua nhà Chu tiếpsau cần sự trợ giúp của các chư hầu hùng mạnh xung quanh để bảo vệ họ khỏicác cuộc cướp bóc và để giải quyết các cuộc tranh giành quyền lực bên trong.Triều đình nhà Chu không bao giờ còn lấy lại được quyền lực trước đó củahọ; họ chỉ còn đơn thuần là một triều đình bù nhìn của các chư hầu phongkiến Mặc dù nhà Chu trên danh nghĩa vẫn đang nắm Thiên Mệnh, danh hiệukhông hề có quyền lực.
Vị quý tộc đầu tiên giúp đỡ các vua nhà Chu là Trịnh Trang Công (ởngôi 743 TCN - 701 TCN) Ông là người đầu tiên lập lên một hệ thống bá chủvới ý định giữ lại hệ thống phong kiến cũ Các nhà sử học xưa biện hộ rằng hệthống mới là một phương tiện để bảo vệ các chư hầu văn minh yếu hơn vàtriều đình nhà Chu khỏi phải chịu sự cướp phá của các bộ tộc “rợ” nằm baoquanh (mà người Trung Hoa thường gọi miệt thị là Bắc Địch; Nam Man, TâyNhung, Đông Di
Tuy nhiên, tất cả các chư hầu được cho là “văn minh” thực tế gồm mộtphần pha trộn đáng kể các tộc người; vì thế không có đường biên giới rõ rànggiữa các chư hầu “văn minh” và các “rợ” Tuy nhiên các bộ tộc với sự khácbiệt về dân tộc và văn hoá đó lại có một nền văn minh duy nhất của họ ở một
số vùng Một số nhóm dân tộc về thực chất lại có sức mạnh và được văn minhhoá theo các tiêu chuẩn Trung Quốc tới mức những thực thể chính trị của họ,gồm cả Ngô và Việt, thậm chí được gộp trong một số liên minh của Ngũ Bá
Các chư hầu hùng mạnh mới nổi lên thực lòng muốn giữ sự ưu tiêndòng dõi quý tộc hơn hệ tư tưởng truyền thống là giúp đỡ các nước yếu hơn ở
Trang 19thời hỗn loạn, điều này vốn đã từng được truyền bá rộng rãi ở thời đế quốcTrung Quốc để củng cố quyền lực vào tay gia đình cai trị.
Các vị chư hầu Tề Hoàn Công (ở ngôi 685 TCN -643 TCN) và Tấn VănCông (ở ngôi 636 TCN - 628 TCN) còn đi xa hơn trong việc thiết lập hệ thốngcai trị lãnh chúa, nó mang lại sự ổn định nhưng chỉ trong những khoảng thờigian ngắn so với trước kia Các vụ sáp nhập tăng lên, mang lại lợi ích chonhững chư hầu hùng mạnh nhất gồm Tần, Tấn, Tề và Sở Vai trò của lãnhchúa ngày càng có chiều hướng rời xa khỏi mục đích ban đầu là bảo vệ cácchư hầu nhỏ hơn; cuối cùng lãnh chúa đã trở thành một hệ thống quyền báchủ của các chư hầu lớn đối với các nước vệ tinh yếu hơn ở Trung Quốc vàđối với cả những vùng có nguồn gốc “rợ” Các chư hầu lớn thường lợi dụng
lý do giúp đỡ và bảo vệ để can thiệp và kiếm lợi từ các nước chư hầu nhỏ khixảy ra xung đột nội bộ ở các nước đó Đa phần các vị bá thời sau này đều bắtnguồn từ các chư hầu lớn thời đó Họ tự tuyên bố mình là vị chúa tể trên lãnhthổ của họ, thậm chí còn không cần công nhận tính tượng trưng nhỏ mọn củanhà Chu Việc thiết lập hệ thống hành chính địa phương (châu và quận), vớicác quan chức được chỉ định bởi chính phủ, tạo cho các chư hầu khả năngkiểm soát lớn hơn với lãnh địa của mình Việc thu thuế nông nghiệp vàthương mại cũng dễ dàng hơn so với kiểu phong kiến trước đó
Ba nước Tần, Tấn và Tề không chỉ tự tăng cường sức mạnh của mình
mà còn đẩy lùi chư hầu ở phía nam là Sở, các vị lãnh chúa ở đó tự phongmình làm vua Quân đội Sở dần dần xâm nhập vào lưu vực sông Hoàng Hà.Việc coi Sở như là “rợ phương nam” (Sở Man), đơn giản là một lý do để cảnhbáo Sở không được can thiệp vào tầm ảnh hưởng riêng của họ Những sự xâmnhập của Sở nhiều lần bị chống trả với ba trận đánh lớn ngày càng tăng vềmức độ bạo lực - trận Thành Bộc (632 TCN), trận Bi (595 TCN) và trận YênLăng (575 TCN); điều này dẫn tới sự hồi phục của các chư hầu Trần và Thái
Trang 20Ở thời này một hệ thống quan hệ phức tạp giữa các chư hầu được pháttriển Một phần nó được cấu trúc theo hệ thống phong kiến của Tây Chunhưng các yếu tố thực dụng được tăng cường Một sự tập hợp các tiêu chuẩn
và giá trị thông thường của các chư hầu, có thể gọi một cách không chính xáclắm là Luật quốc tế đã xuất hiện Khi các vùng ảnh hưởng và vùng văn hoácủa các chư hầu mở rộng và giao nhau, các cuộc chạm trán ngoại giao cũngtăng lên
Sau một giai đoạn tăng trưởng chiến tranh ở mọi góc độ, Tề, Tần, Tấn
và Sở cuối cùng đã gặp gỡ ở một hội nghị giải giáp vũ khí năm 579 TCN, cácnước khác hầu như trở thành các nước vệ tinh (nước phụ dung) Năm 546TCN, Tấn và Sở đồng ý ngừng chiến với nhau
Sau một thời gian tương đối yên ổn trong thế kỷ thứ 6, hai nước chưhầu ven biển ở vùng Triết Giang ngày nay là Ngô và Việt, dần dần mạnh lên.Sau khi đánh bại và trục xuất vua Phù Sai nước Ngô, vua Câu Tiễn nước Việt(kh 496 TCN-465 TCN) trở thành vị bá chủ cuối cùng được công nhận
Thời kỳ hoà bình này chỉ là một sự mở đầu cho một tình trạng rối loạncủa Thời chiến quốc Bốn chư hầu mạnh đang ở giữa cuộc tranh giành quyềnlực Sáu họ chiếm hữu đất đai lớn ở Tấn tiến hành đánh lẫn nhau Họ Trầnđang loại trừ các đối thủ chính trị ở Tề Tính chính thống của những kẻ cai trịthường không được thừa nhận trong các cuộc nội chiến với sự tham gia củanhiều thành viên thuộc gia đình hoàng gia ở Tần và Sở Một lần nữa những kẻtranh giành đó lại củng cố vững chắc vị trí của mình tại lãnh thổ riêng, sựchém giết giữa các nước tiếp tục trong Thời chiến quốc Thời Chiến Quốcchính thức bắt đầu vào năm 403 TCN khi ba họ lớn nhất ở Tấn là Triệu, Nguỵ
và Hàn phân chia đất nước; triều đình bất lực nhà Chu bắt buộc phải côngnhận quyền lực của họ.Từ đây hình thành các phái triết gia khác nhau, họ cóquan điểm khác nhau về tự nhiên và xã hội, học thuyết vô vi của Lão Tử cũngđược hình thành từ đây
Trang 211.1.3 Tiền đề xã hội
Nếu như thời Tây Chu (từ thế kỷ XI – VIII Tr.CN), chế độ tông pháp
“phong hầu kiến địa” vừa có ý nghĩa ràng buộc về kinh tế, vừa có ý nghĩaràng buộc về huyết thống, tức “Thiên tử” có quyền phân phong đất đai, chứctước cho anh em, họ hàng và công thần làm chư hầu để duy trì cơ nghiệp, thìđến thời Xuân Thu chế độ này không còn được tôn trọng, Thiên tử nhà Chukhông còn các quyền phán xét về việc xâm lấn, thôn tính lẫn nhau giữa cácchý hầu Khổng Tử phải thốt lên rằng: bồi thần, lễ, nhạc, chinh phạt… khôngcòn ban ra từ Thiên tử mà ban ra từ các nước chư hầu
Trong xã hội cảnh tôi giết vua, cha con hại nhau, vợ chồng chia lìathường xuyên xảy ra, tới mức vua nước Tề là Tề Cảnh Công đã phải cay đắngthừa nhận: Nếu như vua chẳng ra vua, tôi chẳng ra tôi, cha chẳng ra cha, conchẳng ra con, dẫu ta có lúa (đầy kho), ta có thể ngồi mà ăn được chăng? [10,tr.483-484]
Sự suy đồi của tầng lớp quí tộc trong xã hội như trên chứng tỏ hệ tưtưởng dựa trên nền tảng của Chu Lễ mà người sáng lập Nho gia là Khổng Tử,chủ trương của Nho là “Ngô tòng Chu” đang ngày càng trở nên bất cập,không còn đủ sức duy trì trật tự xã hội, đồng thời đòi hỏi phải có một hệ lýtưởng mới có đủ khả năng quản lý và điều hành xã hội
Xuân Thu cũng là thời kỳ mà người dân phải gánh nhiều nghĩa vụ: sưuthuế, phu phen, lao dịch nặng nề Đây cũng là thời kỳ mà nạn cướp bóc nổilên khắp mọi nơi khiến đời sống nhân dân càng thêm cực khổ Lao dịch, cướpbóc, chiến tranh… khiến dân lưu vong, đồng ruộng bỏ hoang, tạo ra mộtkhung cảnh xã hội điêu đứng, người người phẫn uất Trong khi đó, các vươnghầu, lãnh chúa quý tộc lại sống rất xa hoa Họ xây cất cung điện nguy nga,như cung Bồng Đế của vua Tấn rộng đến mấy dặm, trong cung chen chúccung nữ (Tả truyện, Chiêu Công năm thứ ba) Hai bức tranh đối lập xuất hiệntrong xã hội, một bên là thế lực cầm quyền với quyền hành vô độ và ăn chơi
Trang 22sa đoạ, một bên là cảnh cùng cực của dân chúng, điều đó càng thúc đẩy mâuthuẫn xã hội nhanh chóng đạt tới đỉnh điểm
Thêm vào đó, bao phủ thời Xuân Thu - Chiến Quốc là khung cảnhchiến tranh Thời Xuân Thu có khoảng 242 năm (770 – 475 Tr.CN) thì sửnước Lỗ ghi được tới 483 cuộc chiến tranh lớn nhỏ, trung bình cứ mỗi nămdiễn ra hai cuộc sát chiến lẫn nhau Tốc độ thôn tính giữa các nước cũng rấtnhanh, nếu như đầu thời Tây Chu có hàng nghìn nước thì sang thời Xuân Thuchỉ còn hơn một trăm nước (chỉ trong khoảng 2 thế kỷ) Nếu năm 403 Tr.CN,mới chỉ có Hàn, Triệu, Ngụy là các chư hầu thay nhau mượn danh thiên tử đểthảo phạt nước khác với mục đích tranh dành ảnh hưởng và mở rộng đất đai,
để bá chủ thiên hạ thì đến cuối thời Xuân Thu đã hình thành nên cục diện
“thất hùng” Tiền thân của “Thất hùng” là “Ngũ bá” gồm: Hoàn Công nước
Tề, Văn Công nước Tấn, Mục Công nước Tần, Trang Vương nước Sở Về sau
có thêm Ngô Vương Phù Sai và Việt Vương Câu Tiễn, lúc này chính thức tạonên “Thất hùng” phân phong cương vực Ở phía Tây Hàm Cốc Quan có nướcTần, phía Đông có 6 nước là Tề, Tấn, Sở, Tống, Ngô, Việt thường gây chiếntranh với quy mô lớn và tàn khốc hơn thời Xuân Thu, thay nhau làm bá chủthiên hạ Sở dĩ họ mạnh lên là nhờ đã dùng phép trị nước theo “bá đạo”, tứcđạo của các nước chư hầu, dùng sức mạnh bạo lực, áp bức Đây là chính sáchcai trị trái ngược hẳn với lễ giáo nhà Chu là “vương đạo”, lấy đạo đức nhânnghĩa để thu phục và cảm hóa lòng người Như vậy, xét về tiến bộ lịch sử thìnhững lãnh chúa trên đã rất thức thời, họ biết kết hợp đường lối cai trị vớiphát triển kinh tế và quân sự để có nước hùng, quân mạnh Điều này càngđược thể hiện rõ ở cuối thời Chiến Quốc, họ đã phát triển đất nước mìnhthành các quốc gia độc lập
Khi cục diện Chiến Quốc hình thành, những thủ đoạn và chính sáchngoại giao về quân sự để đối phó lẫn nhau cũng được ra đời, đó là thế “hợptung” và “liên hoành” Trong đó, Tô Tần (Thế kỷ IV Tr.CN, người Lạc
Trang 23Dương) đã đề xuất thế “hợp tung”, tức hợp nhiều nước yếu để đánh nướcmạnh và Trương Nghi (Thế kỷ IV Tr.CN, người nước Ngụy) đề xuất thuật
“liên hoành”, tôn trọng một nước mạnh để đánh nước yếu Với chính sáchquân sự này, nước Tần là một trong các “thất hùng” có uy tín lớn nhất
Nguyên nhân để dẫn tới nước Tần hùng mạnh và có uy tín nhất được lýgiải là vào năm 362 Tr.CN, Tần Hiếu Công lên ngôi, vị vua này đã được sựtrợ giúp của nhà cải cách Thương Ưởng (trong khoảng thời gian từ 359 – 349Tr.CN) Tần Hiếu Công làm cuộc cách mạng trên các lĩnh vực: kinh tế, tổchức hành chính, pháp luật, tiền tệ, thuế khoá, chế độ khen thưởng, quan hệgia trưởng… cuộc cách mạng này đã đập tan cơ cấu xã hội theo kiểu công xãnông thôn ở nước Tần Thêm vào đó với đề xuất “hợp tung”, nước Tần đãnhận được sự trợ giúp của các nước yếu
Như vậy, nhờ những cải cách xã hội hợp lý mà vua Tần có được thiên
hạ, đồng thời chấm dứt cảnh hỗn chiến suốt mấy trăm năm Sự thống nhấttoàn Trung Hoa khi đó đã đánh dấu chuyển biến xã hội từ cát cứ phân phongsang phong kiến sơ kỳ theo hướng trung ương tập quyền, kiến tạo nên mộtchế độ quân chủ chuyên chế đầu tiên ở Trung Hoa Biến cố lịch sử này cũng
đã đánh dấu sự thay đổi lớn trong lịch sử tư tưởng chính trị Trung Quốc Nógắn liền với một hệ tư tưởng mang màu sắc triết học có ảnh hưởng lớn thờibấy giờ là Đạo gia
1.2 Sơ lược về Lão Tử và trường phái đạo gia
1.2.1.Cuộc đời và sự nghiệp của Lão Tử
Từ lâu, các sử gia đã lọc những sự kiện thực tế ẩn sau sau sự phát triểncủa đạo Lão họ đã thống nhất một số quan điểm về nguồn gốc khởi thuỷ vàvai trò của những người sáng lập nền tảng của Lão học Mặc dù vậy, do sựkhác biệt trong cách nhận thức của con người về các sự kiện lịch sử cũng như
do chính bản chất vi diệu của Đạo, nhiều vấn đề của đạo Lão vẫn chưa đượclàm sáng tỏ
Trang 24Theo sử ký Tư Mã Thiên, Lão Tử họ Lý, tên Nhĩ, tự là Đam., ngườilàng Khúc Nhân, hương Lệ, huyện Hỗ nước Sở Ông có thời làm quan sử, giữkho chứa sách của nhà Chu Với cương vị ấy, Lão Tử có cơ hội tiếp xúc vớicác bản văn cổ cũng như các tác phẩm vĩ đại đương thời, xây dựng vốn hiểubiết uyên thâm đối với kho tàng tri thức từ thời Hoàng Đế (2697 TCN) chođến thời của ông Lão Tử trao dồi đạo đức, học thuyết của ông cốt ở chỗ giấumình, ẩn danh.
Theo Sử kí, Lão Tử là người sống cùng thời với Khổng Tử Khi Khổng
Tử qua Chu, đã hỏi Lão Tử về lễ Lão Tử ở nước Chu đã lâu, thấy nhà Chusuy, bèn bỏ đi Đến cửa quan, viên quan coi cửa là Doãn Hi bảo: “ông sắp đi
ẩn, rán vì tôi mà viết sách để lại” Thế là Lão Tử viết một cuốn gồm hai thiênthượng và hạ, nói về ý nghĩa của “Đạo” và “Đức”, được trên năm ngàn chữ.Không ai biết chết ra sao, ở đâu Lão Tử là một triết gia lớn, ở thời nào cũngđược dân tộc Trung Hoa tôn trọng Vậy mà chúng ta không biết gì chắc chắn
về đời ông, cả về tác phẩm bất hủ mang tên ông nữa Nhưng thiết nghĩ điều
đó cũng không thật sự quan trọng Bởi việc chúng ta cố công tìm ra Lão Tử là
ai, sống ở thời nào, thọ bao nhiêu tuổi, làm gì… cũng sẽ không làm thay đổigiá trị tác phẩm của ông Đối với hậu thế, Lão Tử mãi mãi là một triết gia lớn,con người đáng kính trọng vì giá trị tư tưởng mà ông để lại cho nhân loại
Về mặt học thuyết, Lão Tử cho rằng Đạo là bản thể của vũ trụ, là nguồngốc của muôn sự sinh thành và tạo hoá Đạo là thực tại tuyệt đối và huyềndiệu, có từ trước khi khai thiên lập địa, nằm ngoài mọi danh sắc và hình tướng
Đạo Đức Kinh chứa đựng nhiều tư tưởng sâu xa, chứa đựng triết lýtinh hoa của Đạo gia Kinh được viết theo thể thơ tự do, tiết điệu phóngkhoáng, ý tưởng như phát thẳng từ tâm mà ra, câu cú đối nhau vanh vách Có
lẽ do tư tưởng trong kinh quá uyên thâm, văn từ cổ kính và rất hàm súc nênmỗi nhà chú dịch Đạo Đức Kinh đều tìm thấy cách diễn giải của riêng mình.Mặc dù vậy, những nguyên lý của Đạo huyền, thông qua những lời kinh thâm
Trang 25thuý vẫn tác động sâu sắc đến nhận thức của người đọc thuộc nhiều thế hệ vànhiều nền văn minh khác nhau Đạo Đức Kinh gồm 2 quyển, khoảng 5000 từ,tổng cộng 81 chương, chia làm 2 thiên, trình bày 2 chủ đề lớn: • Thượng thiênnói về Đạo, cái gốc của muôn sự tạo hoá, quy luật vận hành của vạn vật • Hạthiên nói về Đức, năng lực vận hành và thành tựu của Trong Đạo Đức Kinhchỉ có khoảng 50 chương độ 3000 chữ là quan trọng, còn những chương kiahoặc lặp lại, hoặc diễn thêm ý trong các chương trước Các chương lại sắp đặtrất lộn xộn, vậy mà học thuyết của Lão Tử lại được coi là một triết thuyếthoàn chỉnh nhất, có hệ thống nhất thời Tiên Tân Đạo Đức Kinh không phải làmột tác phẩm có kết cấu logic của một thế giới quan mà chỉ là tập hợp củanhững câu triết lý rời rạc Tuy vậy nó cũng thể hiện một quan điểm rõ ràng về
tư tưởng triết học của một trường phái và có giá trị nhất định Đạo Đức Kinhđược viết theo hình thức câu dài ngắn khác nhau, rất súc tích, ngắn gọn, dễnhớ nhưng không dễ hiểu Nhiều câu trong tác phẩm tối nghĩa, mỗi người cóthể chấm câu một khác, hiểu một khác Đọc Đạo Đức Kinh không nên căn cứvào chữ nghĩa, nó chỉ là những gợi ý và mỗi người hội ý theo “trực giác linhcảm” của mình Toàn bộ tư tưởng của Lão Tử được trình bày cô đọng trongtác phẩm Đạo Đức Kinh, nổi bật nhất là những vấn đề: học thuyết về đạo, tưtưởng về phép biện chứng và học thuyết vô vi hay những vấn đề đạo đức –nhân sinh, chính trị xã hội Dưới đây, chúng ta sẽ lần lượt đi tìm hiểu những
tư tưởng triết học đó trong Đạo Đạo
Đạo Đức Kinh chỉ ra nguyên lý vận hành của Đạo và cách ứng dụng nó
để thực hiện một cuộc sống toàn mãn Tất cả được trình bày qua những vầnthơ có khả năng đánh thức tâm đạo của người đọc, bất chấp tính nghịch luận
và ngôn từ hàm súc của chúng Lão Tử không chọn cách lý giải các khái niệmqua những ngôn từ xác định Theo ông, ngôn từ “không chở nổi” Đạo, bảnchất nội tại của sự vật vốn nằm ngoài khả năng diễn đạt của ngôn từ (Đạo khảđạophi thường đạo, Danh khả danh phi thường danh) Cho nên Đạo Đức
Trang 26Kinh không phải là một tác phẩm có kết cấu logic của một thế giới quan mà
nó chỉ là một tập hợp của những câu triết lý rời rạc Tuy vậy, nó cũng thể hiệnmột quan điểm rõ ràng về tư tưởng triết học của một trường phái và có mộtgiá trị nhất định
1.2.2 Nội dung cơ bản của triết học Lão Tử và trường phái đạo gia
Thế giới quan trong triết học của Lão Tử
Lão Tử nhận thấy trong vũ trụ, sinh vật nào càng nhỏ bé thì cơ thể, đờisống càng đơn giản, chất phác Cũng như loài người, thời thượng cổ tính tìnhchất phác, đời sống` giản dị, tổ chức xã hội đơn sơ, cuộc sống thuần hậu; càngngày con người càng hóa mưu mô, xảo quyệt, gian trá, đời sống càng phứctạp, tổ chức xã hội càng rắc rối mà sinh ra loạn lạc, chiến tranh, loài người chỉkhổ thêm Do đó, Lão Tử cho rằng, con ngưởi cũng như vạn vật do Đạo sinh
ra, đều phải giữ tính cách “Phác” mới hợp với Đạo, mới có hạnh phúc Bởi vìtheo ông, Phác chính là một tính cách, một trạng thái của Đạo Lão Tử nói:
"Có một sự pha trộn của sự vật, sinh ra bẩm sinh." Thân thực của "Đạo" tồntại không chỉ trước sự hình thành trời đất, mà còn là sự sáng tạo của trời đất.Trong các chương sau, tất cả chúng ta đều hiểu rằng "Đạo" là nguồn gốc củaviệc tạo ra tất cả mọi thứ trên thế giới:
Không, tên của sự khởi đầu của trời và đất, ở đó, mẹ của mọi sự
“Con đường cũ đã được sinh ra, gia súc của Đức, giống dài, chất độccủa gian hàng, và sự tu luyện của nó [18;tr56]
Lão Tử tin rằng "Đạo" là gốc rễ của tất cả sự tồn tại ("tông phái củamọi thứ") và cũng là nguồn gốc của mọi sự tồn tại "Đạo" là người khởixướng ban đầu,trong tự nhiên, nó có tiềm năng vô hạn và sự sáng tạo Sự pháttriển mạnh mẽ của tất cả mọi thứ là một biểu hiện của việc tạo ra liên tục tiềmnăng của "Đạo" Từ sự phát triển ngày càng tăng và thịnh vượng của mọi thứ,chúng ta có thể thấy rằng "Đạo" có một sức sống vô hạn
Trang 27“Lão Tử nĩi: "Một Đạo sĩ, một trong cuộc đời của ơng, hai người trongcuộc đời của ơng, và ba người trong cuộc đời ơng." "Một", hai "và" ba ", nhưđược sử dụng ở đây, mơ tả quá trình tạo ra mọi thứ trong" Đạo " Lớp xuống
để thực hiện và tạo mọi thứ Sau khi Dao tạo ra mọi thứ, nĩ cũng phải nuơidưỡng mọi thứ và làm cho mọi thứ đều chín chắn để mọi thứ cĩ thể được gieotrồng ("họ sẽ giáo dục chúng, các chất độc của nhà chứa (trở nên quen thuộc),
và nuơi chúng") Từ quan điểm này, "Đạo" khơng chỉ tạo ra mọi thứ và sau đĩ
nĩ được hồn thành, nĩ cũng phải được gắn bĩ với mọi thứ, để nuơi chúng vàgây giống chúng” [8;tr231]
Lão Tử tin rằng "Đạo" là trước tất cả mọi thứ về mặt khẩu vị và thờigian Nĩ khơng bị giới hạn bởi thời gian và khơng gian, nĩ sẽ khơng bị ảnhhưởng bởi những thay đổi trong sự ra đời và cái chết của những thứ khác Từnhững quan điểm này, "Đạo" là siêu việt Xét từ sự tăng trưởng, tu luyện vàchăn thả của nĩ, "Đạo" cũng nằm trong mọi thứ
Tất cả mọi thứ trên trời và đất đều do Đạo tạo ra Trong chương đầutiên, Lão Tử nĩi: "Khơng, đầu trời và đất, cĩ mẹ của tất cả mọi thứ." Trongchương bốn mươi, ơng nĩi: "Tất cả mọi thứ trên thế giới đều được sanh ra vàsanh ra." "Cĩ" dùng để chỉ "Đạo." Ở đây, "khơng cĩ gì" và "cĩ" là nhữngdanh từ chính xác của triết học của Lão Tử "Khơng cĩ gì" và "sự hiện diện"
cĩ vẻ ngược lại, nhưng chúng cũng liên tục "Khơng cĩ gì" cĩ chứa sức sống
ẩn giấu khơng được biểu hiện trong vơ hạn "Khơng cĩ gì" ngụ ý vơ hạn "cĩ".Lão Tử đã sử dụng bí danh của "khơng cĩ gì" và "cĩ" để đại diện cho một quytrình khi "Đạo" trong mẫu đơn rơi xuống và sản xuất mọi thứ
Tư tưởng biện chứng về thế giới
Trung tâm trọng lực trong tư duy của Lã Tử và ý nghĩa lịch sử quantrọng nhất là tất nhiên là các ý nghĩ xã hội của ơng, đĩ là lý tưởng của ơng đểquan sát, phê bình và cải tổ xã hội vào thời đĩ Tuy nhiên, Lão Tử là mộttrong những nhà tư tưởng sâu sắc nhất ở Trung Quốc cổ đại, ơng đã hấp thu
Trang 28hầu hết các nền văn hoá cổ đại, vì thế đôi mắt của ông không chỉ giới hạntrong các hiện tượng xã hội, mà còn cả về bản chất Ông đã thực hiện mộtnghiên cứu so sánh về tự nhiên và xã hội trong một nỗ lực để tìm ra mộtnguyên tắc cơ bản trong tự nhiên mà ông chỉ trích và định hình lại hệ thống xãhội mà ông coi là bất hợp lý Nguyên tắc này là triết lý của ông, cụ thể là vũtrụ học một chiều của ông và phương pháp biện chứng
Lần đầu tiên trong lịch sử của hệ tư tưởng Trung Quốc, một người rõràng đưa ra một cái nhìn một chiều của vũ trụ và sử dụng có ý thức phươngpháp luận để kiểm tra vấn đề được coi là Lão Tử và chỉ có Lão Tử
Trước Lão Tử, về những hiện tượng của vũ trụ và thành phần của nó,một số nhận thức có giá trị.Nó là đa nguyên tượng trưng cho thiên đường, đất,núi, sấm sét, gió, nước và lửa là "tám tin đồn" và đại diện cho các yếu tố tạonên vũ trụ Nước, lửa, gỗ, vàng, và đất đại diện cho nguyên nhân gốc rễ củahiện tượng tự nhiên) Chỉ lần đầu tiên, Lão Tử đã có một lập trường rõ ràng
về vấn đề khám phá nguồn cội của vũ trụ Từ quan điểm của Lão Tử, mặc dùmọi thứ trong vũ trụ là khác biệt và phức tạp, và sự đa dạng của nó rất khácnhau, nguồn gốc của nó cũng giống nhau
Cái gọi là "không có gì", "vô danh", "Xuân Thu" "hay" Nhị "đều là bídanh của" đạo " Rõ ràng, theo quan điểm của Lão Tử, "Đạo" là gốc rễ củamọi thứ trong vũ trụ, như thể Thales nói rằng nước là nguồn gốc của tất cảmọi thứ và bản thể học của vũ trụ Tuy nhiên, "nước" là cái gì đó có thể đượcnhìn thấy và xúc động bởi các giác quan
"Con đường là một điều, nhưng bạn là người duy nhất, nhưng có mộtcái gì đó như thế này, và có một điều trong đó, đó là bản chất, và bản chất làđúng Theo tên, bạn không thể nhìn thấy tên, bạn không thể nghe nó, bạnkhông thể đặt tên nó, và bạn không thể làm cho nó được biết đến Chiếc dâykhông được đặt tên, nó không trở lại được, nó là một hình thức dửng dưng, và
Trang 29không có vật gì như một hình ảnh Chúng ta không nhìn thấy nó trước, vàchúng ta không nhìn thấy đuôi của nó "[2,tr324]
Tất cả mọi thứ là tự nhiên và nó không quan trọng, nó là phù hợp với
"Đạo." Loại suy nghĩ này, nếu được đưa ra chống lại các quan điểm tôn giáo
cổ xưa (nghĩa là tất cả các hiện tượng trong vũ trụ hay thiên nhiên được tạo rabởi nhiều vị thần hoặc một vị thần) là một cải tiến lớn và gần với chủ nghĩaduy vật Bởi vì ý tưởng này nhận ra rằng bản chất là như vậy và không có sựcan thiệp của con người, nó cũng phủ nhận sự can thiệp của thần thánh Vàtheo quan điểm của Lão Tử, thần thánh cũng dùng từ "Đạo", nghĩa là đưa nóvào thiên nhiên Tuy nhiên, nếu chúng ta đơn giản coi bản chất là "trái ngượcvới" con người tạo ra, chúng ta nghĩ rằng bản chất chỉ là nó Ý nghĩa tự nhiên,
đó là cái gọi là thiên nhiên đã trở thành trừu tượng thuần túy mà không có bất
kỳ nội dung nào thực sự Luật tự nhiên khách quan thật sự không nằm trong
"tính tự nhiên" trừu tượng của nó, nhưng chính nó là một biểu hiện cụ thể củanhững thay đổi riêng của nó trong sự chuyển động của tự nhiên Do đó, luậtnày trước tiên phải thừa nhận sự tồn tại khách quan của vật liệu tựnhiên Không có chất, không có luật về vận động và thay đổi chút nào Tuy nhiên, Lão Tử tin rằng "Đạo" của ông tồn tại độc lập với các nguyên vậtliệu tự nhiên và tự nhiên Ví dụ, ông nói: "Nếu có gì đó hỗn hợp, sinh ratrước, độc lập và không thay đổi, và nó không phải là vụng về, nó có thể là
mẹ của cả thế giới Tôi không biết tên hay từ" Điều này rõ ràng là nói rằng
"Đạo" không phải là Có một sự tồn tại độc lập của trời và đất Nó tồn tại ởđâu? Không cần phải nói, đó là trong sự trống không tinh khiết Do đó, Lão
Tử sử dụng "không có gì" để đại diện cho "Đạo", và đưa ra một số ví dụ về
"ảo" và "không có gì" để giải thích ý nghĩa của chữ "Đạo" Nói: "Trời và đất,
nó vẫn còn gần như tưởng tượng và kiên cường, di chuyển và ra ngoài." "Bamươi tổng số trung tâm được sử dụng khi không có gì, và có một chiếc xehơi.Điện thoại được sử dụng như là một thiết bị.Khi nó không được sử dụng,
Trang 30có một thiết bị được sử dụng.Mã mô hình tiện ích được sử dụng để tạo ra mộtcăn phòng.Khi nó trống, nó có một phòng để sử dụng Không có gì để sửdụng " Sự giải thích về vai trò của "tánh không" này là khá thông minh và nócũng chứa đựng một số sự thật
Từ đó, chúng ta có thể hiểu rằng mặc dù Lão Tử đã thiết lập quan điểmmột chiều của vũ trụ, ông nói rằng mọi thứ trong vũ trụ bắt nguồn từ "Đạo" vàđược lấy từ "Đạo" Tuy nhiên, "Đạo" của ông là trừu tượng và không tưởng, đó làsiêu vật chất “"Đạo" của Lão Tử bằng "Chân lý của Chân lý" trong "Lý thuyếtban đầu" Phật giáo Đó là vấn đề tâm linh khách quan Nó là tốt Trên thực tế,
"đaọ" của Lão Tử không chỉ tương đương với "True" như trong thuyết tintưởng Những "ý tưởng" của Plato và "tinh thần tuyệt đối" của Hegel thuộc vềcùng loại với "Đạo" của Lão Tử, cả hai đều là sự tồn tại tưởng tượng và ảotưởng.”[7, tr178]
Nội dung triết học cơ bản của trường phái Đạo gia
Lão Tử là nhà triết học lớn với học thuyết về “đạo” nổi tiếng ở TrungQuốc cổ đại Ông là người sáng lập ra trường phái triết học Đạo gia, mộttrong ba trường phái lớn nhất thời Xuân thu – Chiến quốc Cuộc đời và sựnghiệp của ông mang đầy huyền thoại, cũng thấp thóang, mập mờ, nửa hư,nửa thực như triết lý của ông, nên người ta khó xác định được một cách chínhxác Đa số các tài liệu đều cho rằng Lão Tử có thể sống đồng thời với Khổng
Tử và có dạy lễ cho Khổng Tử Quan điểm này chủ yếu dựa vào hai thiên
“Khổng Tử thế gia” và “Lão Tử liệt truyện” trong cuốn Sử ký của Tư MãThiên nói với Khổng Tử đã từng gặp Lão Tử ở Chu để hỏi về lễ
Nhưng một vài tài liệu khác lại cho rằng Lão Tử có thể sống sau Khổng
Tử hàng trăm năm, vào thời Chiến quốc Chẳng hạn như Vũ Đồng, trong cuốnĐại cương triết học sử Trung Quốc, dựa vào tư tưởng của cuốn Đạo đức kinh,đóan rằng Lão Tử sinh trước Mặc Tử và Dương Chu Cụ thể hơn, ông căn cứvào niên đại các thế hệ con cháu của Lão Tử được Tư Mã Thiên chép trong
Trang 31Sử ký, tính ngược lên mà cho rằng có lẽ Lão Tử sinh vào khỏang năm 430trước Công nguyên.
Triết học của Lão Tử như một kim tự tháp lớn trong triết học TrungQuốc, cùng với nho giáo, nó như cái bóng bao trùm và dẫn dắt quá trình tưtưởng của Trung Hoa Với cách diễn đạt vắn tắt, thâm trầm, gợi mở bằngnhững châm ngôn, ngạn ngữ có tính ẩn dụ, Lão Tử đã trình bày ba vấn đề triếthọc căn bản là: “Học thuyết về “đạo”, tư tưởng về phép biện chứng và họcthuyết “vô vi”
Trong hệ thống triết học Lão Tử, học thuyết về “đạo” có một vị trí cực
kì quan trọng Nó là nền tảng chi phối xuyên suốt các vấn đề trong triết họccủa ông và hầu hết các quan điểm về vũ trụ, nhân sinh của người Trung Hoa
cổ đại Thuật ngữ “đạo” có lẽ được sử dụng từ thời trước Lão Tử Các văn bản
cổ của Trung Hoa như Thượng thư, Kinh thi …thường nói đến “đạo” vớinhiều ý nghĩa khác nhau, như “thiên đạo”, “nhân đạo”, “đại đạo”, v.v Tuynhiên, đến Lão Tử “đạo” trở thành một khái niệm có nội dung sâu sắc và hệthốnh hơn Nó được coi là một phạm trù triết học cơ bản trong triết học củaông Xét về mặt bản thể luận, “đạo” được Lão Tử trình bày theo ba mặt, đó làthể, tướng và dụng
Nó cũng không hòan tòan giống với quan điểm của Đạo học đời Tống Minh coi thể là phần trường tồn, bất biến của sự vật Thể của Lão Tử là để chỉnguồn gốc tối sơ, nguyên thủy của vũ trụ vạn vật Nó là cái “tổng nguyên lý”chi phối sự hình thành và biến hóa của trời đất, là cái cực diệu cực huyền chovạn vật noi theo Vì thế mà Lão Tử đã viết: “Có vật gì hỗn độn mà nên, sinh
-ra trước trời đất, vừa trống không vừa lặng yên, đứng một mình không thayđổi, lưu hành khắp mọi nơi mà không mỏi, là mẹ cả thiên hạ”[18;tr97]
Đạo giáo là tôn giáo hình thành qua một quá trình dài và thâu nhậpnhiều trào lưu thượng cổ khác nhau Nhưng nhìn chung, qua rất nhiều tư liệucủa các nhà nghiên cứu thì Đạo giáo được hình thành trên cơ sử lí luận của
Trang 32Đạo gia - là học thuyết do Lão Tử khởi xướng và được Trang Tử hoàn thiệnvào khoảng thế kỉ II sau CN Lịch sử ra đời của Đạo giáo được ghi lại trong
sử sách Trung Quốc khá phức tạp và nhiều khi mâu thuẫn nhau về nhân vật,quan hệ truyền thừa và thời điểm Nói chung, Đạo giáo được hình thành trongphong trào nông dân khởi nghĩa vào giữa thời Đông Hán Lúc đầu, Đạo giáo
có hai tổ chức chính là Ngũ Đấu Mễ Đạo của Trương Lăng vào năm 141 vànăm 184 xuất hiện Thái Bình Đạo của Trương Giác Sau hai tổ chức này bịphân hóa, một bộ phận vẫn lưu truyền trong dân gian, còn bộ phận khác thìthâm nhập lên tầng lớp trên và trở thành Đạo giáo chính thống Đạo giáo cóhai phái: Đạo giáo phù thủy dùng các pháp thuật trừ tà trị bệnh, chủ yếu giúpcho dân thường khỏe mạnh; Đạo giáo thần tiên dạy tu luyện, luyện đan, dànhcho các quý tộc cầu trường sinh bất tử Kinh điển của Đạo giáo gọi là ĐạoTạng kinh, ngoài sách về giáo lý, nghi lễ, Đạo Tạng còn gồm cả các sáchthuốc, dưỡng sinh bói toán, tướng số, thơ văn, bút kí Đạo giáo thờ “Đạo” vàtôn Lão Tử làm giáo chủ, gọi là “Thái Thượng Lão Quân”, coi ông là “Đạo”giáng xuống cõi trần Đạo được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, Lão Tử coiĐạo là phạm trù triết học cao nhất, là căn nguyên chung của thế giới vạn vật,
có trước trời đất, là cơ sở vật chất đầu tiên của thế giới Hay có thể hiểu Đạo
là con đường đi, là cái để chỉ quy luật vận động khách quan, sự biến hóa củavạn vật, là bản thể của vũ trụ… Khái niệm về Đạo không chỉ dừng lại ở đây,
nó còn được với những nghĩa khác nhưng cũng không nhiều lắm Tóm lại,thuật ngữ Đạo nói trên không có nghĩa tôn giáo hay tín ngưỡng, nó chỉ cónghĩa triết học, chính trị học và xã hội học Tư tưởng của Lão Tử có ảnhhưởng rất nhiều tới đời sống xã hội của người Trung Quốc, tới tư tưởng họcthuật, chính trị, phong tục tập quán … Không chỉ tồn tại ở Trung Hoa mà cònlan rộng trên tất cả các nước xung quanh, trong đó có Việt Nam Đạo giáo từmột học thuyết trở thành một tôn giáo, sau khi ra đời ở Trung Quốc nó đã
Trang 33được truyền vào nước ta theo chân các nhà cai trị, trí thức cùng thuật số, phùthủy Trung Quốc
cố niềm tin của nhân dân đối với các đấng thần linh Vai trò của đạo giáo trongđời sống người Việt Đạo giáo có ảnh hưởng sâu đậm trong nhân dân ta, từ xưacho đến nay, từ bình dân cho đến vua chúa, từ người thất học cho đến trí thức.Mặc dù thời nay tôn giáo mang tên Đạo giáo không còn tồn tại ở Việt Nam nữasong những ảnh hưởng của nó vẫn còn tác động mạnh mẽ trong đời sống xã hội
và những vai trò mà nó mang lại là không thể phủ nhận
Trang 34Chương 2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HỌC THUYẾT VÔ VI CỦA LÃO TỬ
2.1 Khái niệm vô vi trong triết học của Lão Tử
Khái niệm vô vi trong Đạo Đức kinh thường được hiểu lầm là khôngnên làm gì cả, nhưng thật ra Lão Tử khuyên rằng làm mà như không làm, vàkhông làm những điều không nên làm Ông cũng viết rằng nước tuy mềm mạiuyển chuyển nhưng có thể chảy đến bất cứ nơi nào, và với một khối lượng lớnthì có thể làm lở cả đất đá Như vậy vô vi có thể ví von với cách hành xử củanước Quan niệm vô vi của ông được đề cập với nhiều lĩnh vực mà ta sẽ bắtgặp trong Đạo Đức kinh
Vô Vi là một khái niệm tối quan trọng của Đạo gia Lão tử đã rất nhiềulần nhắc đến nó Ông có nói: " Đạo thường không làm, nhưng không gì khônglàm"; "Nếu làm theo cách vô vi, ắt không có gì là không thành công".[18;tr89]
Vô Vi là sống đúng cách, phù hợp với tự nhiên, không làm gì trái với tựnhiên Nhiều người hiểu "Vô Vi" là " Không Làm Gì Cả" nhưng nó là mộtquan niệm hết sức sai lầm Vô Vi không phải như vậy, nó là không dùng tưtâm mà xen vào việc của người khác, không dùng lòng tham cá nhân mà xenvào mọi việc Hành sự hợp lẽ, thuận theo quy luật của tự nhiên Lão tử cònkhẳng định: " Làm như không làm, như thế có đặng không"[18, tr36] Ông chorằng nước mềm mại uyển chuyển nhưng có thể chảy đến bất kỳ nơi nào, vàvới một khối lượng lớn thì có thể làm lở cả đất đá, san phẳng cả núi đồi Nhưvậy chính nước cũng nhờ cái Vô Vi mà có được sức mạnh, mặc dù nó là cáimềm yếu, luôn bị đánh giá coi thường khi xem nó với sắt, đồng.Còn đối vớicác nhà trị nước Lão tử đưa ra biện pháp:" lấy Vô Vi mà xử sự, lấy bất ngôn
mà dạy đời" Để lập quân bình trong xã hội phải trừ xử những "thái quá" nâng
đỡ cái " bất cập" Lấy nhu nhược thắng cương thường", "lấy yếu thắng
Trang 35mạnh"," tri túc" không cạnh tranh bạo động", "công thành thân thoái", " dĩđức báo oán".[4;tr78]
Tự nhiên không hành động" là khái niệm quan trọng nhất của triết họcLão Tử Lão Tử tin rằng mọi thứ nên được phát triển phù hợp với hoàn cảnhcủa nó, mà không cần phải tham gia vào ý chí của thế giới bên ngoài để hạnchế nó Những điều bản thân họ có tiềm năng và khả năng rằng họ không phảiđược thêm vào Do đó, Lão Tử đề xuất khái niệm "tự nhiên" để minh họa chotrạng thái tự do mở rộng mà không cần thêm một thành phần Khái niệm
"không hành động" có nghĩa là tự nó lấy đi và không phải là nhân tạo "Nhântạo" được đề cập ở đây chứa các hành động không cần thiết, và thậm chí cóthể có hành động mạnh mẽ
Lão Tử nói: "Một người đàn ông là một luật, một người đàn ông trênthiên đường, một luật của thiên đường, và một người đàn ông của Đạogiáo”[3;tr168] Ở đây không chỉ nói rằng" Đạo giáo "phải là" tự nhiên " Trênthực tế, trời đất, và những gì con người muốn thi đua là" tự nhiên " Cái gọi là
"Đạo có nghĩa là "Đạo giáo" dựa trên điều kiện riêng của nó, và các nguyênnhân nội tại của nó xác định sự tồn tại và vận động của nó mà không phải dựavào các lý do bên ngoài Có thể thấy rằng từ "tự nhiên" không phải là danh từ
mà là động từ Nói cách khác, "tự nhiên" không đề cập đến một sự tồn tại cụthể, mà là một trạng thái mô tả "chính nó"
Trong các văn bản được trích dẫn ở trên, tất cả việc sử dụng thuật ngữ
"tự nhiên" không đề cập đến sự tồn tại khách quan của tự nhiên, nhưng đề cậpđến một trạng thái không đáp ứng và tính tự nhiên
Cụm từ "tất cả mọi người gọi tôi là tự nhiên" trong chương 17 là mộtlời giải thích rằng hành động của chính phủ không ảnh hưởng đến người dânnhư là chính sách tốt nhất.Nhiệm vụ của chính phủ là giúp đỡ người dân vàlàm cho công việc của người dân hoạt động tốt hơn.Những người không cảmthấy sự tồn tại của quyền lực của chính phủ, mà là cảm thấy tự phát triển Kết
Trang 36quả Trong trường hợp không có sự can thiệp của chính phủ từ mọi người,mọi người cảm thấy rất tự do
Chương 51 cho thấy rõ ràng rằng lý do tại sao Đạo được tôn trọng là nórất quý giá vì nó không can thiệp và nó làm cho mọi việc trở nên tự nhiên.Chúng ta có thể biết khái niệm "Bản chất" của Lão Tử nhằm giải quyết nhữngtrở ngại của các lực lượng bên ngoài, ngoại trừ sự can thiệp của ý chí bênngoài, và ủng hộ mọi thứ cần đi theo xu hướng có thể có để hoạt động
Lão tử nói: "Trời và đất không tin, và mọi thứ đều là con chó chua, cácthánh đồ thờ ơ, và con người là những con câm" [18;tr126] Điều này cónghĩa trời và đất không thiên vị và để mọi thứ phát triển tự nhiên, "hiền nhân"không thiên vị., để cho người dân phát triển bản thân Đây là lời giải thích của
ý tưởng về "sự không hành động tự nhiên." "Thiên nhiên" thường được nói vềtình trạng đang chạy của trời đất "Không hoạt động" thường nói về các hoạtđộng của con người “Ý tưởng "không làm gì cả" có thể được mô tả như làmột bài viết "tự nhiên" Hai thuật ngữ "tự nhiên" và "không hành động" có thểđược gọi là hai-trong-một” [8;tr36]
Lão Tử nói: "Đạo thường không làm gì cả và không có gì" Đây là một
"làm" tự nhiên của "không làm gì cả" Lão Tử đã đưa nó từ góc độ siêu hìnhđến cấp độ chính trị Ngoại trừ việc mô tả về "Đạo" với "không hành động" ởChương 37, những nơi khác ở Lão Tử nói về "không làm gì cả" được đưa ra
từ quan điểm chính trị
Động lực thúc đẩy "không hành động" của Lão Tử là do tình hình "đầyhứa hẹn" Từ "hứa hẹn" đã được ban hành chống lại nhà cai trị đề cập đến sựphản đối của Lão Tử đối với chính trị "đầy hứa hẹn" và động cơ cho chính trị
"không làm gì" Ông nói: "Lão Tử chống lại chính trị và những người ủng hộBất cứ triết lý chính trị nào ủng hộ hoạt động không hiệu quả là phản ứng củachính sách can thiệp Bởi vì khả năng sử dụng các chính sách can thiệp củachính phủ, nhưng không can thiệp vào, càng có nhiều can thiệp thì càng trở
Trang 37nên tồi tệ hơn Trong thế kỷ 18, các nhà kinh tế học và các nhà khoa họcchính trị ở châu Âu nhấn mạnh đến sự tự do báo trước rằng nó đã quá thamnhũng và không hiệu quả cho chính phủ thời bấy giờ và không xứng đáng canthiệp vào các hoạt động của nhân dân Bởi vì vào lúc đó, chính phủ khôngđược trang bị mọi thứ, và nó cần phải có hiệu quả, nó không xứng đáng với sựcan thiệp và nó là cần thiết để can thiệp, công cụ của người dân mạnh hơn vàđất nước mờ nhạt, luật lệ đã được khuyến khích và kẻ trộm có rất nhiều.")
Ông cũng nói: "Sự đói khát của người dân bị đói khát bởi thực tế là họ
có nhiều thuế thực phẩm, sự bất khả thi của người dân, và tính ưu việt của họ
là khó chữa Có rất nhiều điều cấm và người ta đang phải chịu đựng những gìphải làm; Việc tra tấn tra tấn, cùng với việc tìm kiếm các khoản thuế nặng nề,
đã làm cho người dân sống trong nghèo đói.”[18;tr35]
Lão Tử có thể nói mà không thốt lên: "Không đủ năng lực!" Nhữngngười cầm quyền có vũ trang, và sự cưỡng ép là miễn cưỡng Ai có thể dámphàn nàn về người dân trên bờ vực đói nghèo? Trong trường hợp này, Lão Tửnhìn vào mắt mình, không thắc mắc rằng ông sẽ đau khổ một cách giận dữ:
"Đây chỉ đơn giản là đầu của tên cướp!"
Lão Tử nói: "Nếu người dân không sợ người hùng mạnh, họ sẽ không
hề sợ hãi." Các nhà cai trị giả vờ được ban phước và áp bức người dân Đếncực đoan, sự ép buộc sẽ gây ra một phản ứng Lão Tử cũng nói: "Người dânkhông sợ cái chết, nhưng làm thế nào để sợ cái chết."[18;tr43] Nếu người dân
bị buộc phải vào tình huống cực đoan này, nó sẽ chỉ có nguy cơ Vào lúc này,ngay cả khi cái chết được sử dụng để hăm dọa người khác, chúng ta đã có mộtkết thúc chết.Làm thế nào chúng ta có thể có một hiệu lực ngăn chặn?
Lão Tử ở độ tuổi này, biết sâu sắc về những người tin rằng mình làngười cai trị vận mệnh của người khác, và những người tin rằng họ có đủ tiêuchuẩn cho lý tưởng và quyết định của người khác là gốc rễ của họ trongnguyên nhân của sự bất công và tàn nhẫn Lão Tử đã chứng kiến rằng các nhà
Trang 38cai trị ở thời điểm đó không đủ để tạo ra sự khác biệt, nhưng họ thích hành
xử Kết quả là đủ để tạo thành thảm hoạ cho người dân Trong trường hợpnày, Lão Tử đã mạnh mẽ kêu gọi hành động không hành động chính trị Theoông, đây là cách duy nhất để có được mức lương Chúng ta có thể nói rằngđộng lực lớn nhất và mục đích của việc viết sách của Lão Tử là để suy nghĩ
"không hành động" của mình Ngay cả những siêu hình học của ông đã đượctạo ra bởi các gen trong suy nghĩ "không hoạt động" Ý tưởng "không làm gìcả" nằm rải rác khắp quyển sách, và chương 57 nói về "không làm gì cả":
Trên thực tế, "sự thanh thản tốt", "hư vô" và "hư vô" là những tác phẩmcủa tư duy "không hành động" "không làm gì" và để mọi người tự giáo dục,phát triển và đạt được bản thân thì mọi người sẽ tự nhiên có thể sống tronghòa bình và thịnh vượng, và xã hội sẽ tự nhiên có thể duy trì sự hài hòa và ổnđịnh Ý tưởng "không làm gì cả" đã tạo ra sự tự do báo chí tự do hoàn toàn tự
do Lão Tử cho rằng sự tự phát triển của tầng lớp cầm quyền là đủ để đe doạ
sự tự do và yên bình của người dân, do đó, ông đề xuất khái niệm "không làm
gì cả" để xua tan tính chất bắt buộc và can thiệp của nhà cai trị Trong xã hộicủa Lão Tử, mặc dù nó không thể đi kèm với khái niệm "dân chủ", không khíđược tự do
Tóm lại, "Không làm gì" của Lão Tử không phải là không làm gì,không phải vì nó không có ý nghĩa, nhưng nó không có nghĩa là nó Ý nghĩ
"không hành động" đã tạo ra rất nhiều hiểu lầm, đặc biệt là câu nói "Không có
gì nhưng không có gì" "Không hành động" là một thái độ và phương pháp làmviệc "Tất cả" có nghĩa là "không làm gì cả" (không xứng đáng) ảnh hưởngđược tạo ra Điều này phù hợp với ý nghĩa của "không có gì nhưng vô nghĩa"như đã nêu trong Chương 3 của Lão Tử "Nếu bạn không làm bất cứ điều gìcho 'không có gì', bạn có nghĩa là không có những điều như đối phó với cácvấn đề của thế giới với một" không làm gì "thái độ "Làm việc" không hànhđộng "có nghĩa là" làm "với thái độ" không làm gì cả " Có thể thấy rằng Lão
Trang 39Tử không phản đối những nỗ lực của con người Ông vẫn muốn mọi người
"làm" Lão Tử cũng nói: "Vì lợi ích của sự không báng bổ" "Vì không chiếnđấu" Ông khuyến khích mọi người "làm", làm gì, để chủ động chủ động vàđóng góp sức mạnh của mình, đồng thời yêu cầu mọi người không kiểmsoát, không tranh giành, không muốn tự mình nỗ lực để đạt kết quả côngviệc khó khăn
2.2 Xã hội lí tưởng theo thuyết vô vi của Lão Tử
Quốc gia lý tưởng trong nhãn quan của Lão Tử là một quốc gia nhỏ màtrong đó nhân dân sống thuận với thiên nhiên, biết vừa đủ mà không ham biếtnhiều, không muốn tư dục, không ganh đua bề ngoài, mà chỉ sống theo đạo vô
vi Trong quốc gia lý tưởng này, người dân sống chất phác, hiền lành, thuầnphục với thiên nhiên; bởi vì hài lòng với cuộc sống thiên nhiên, con ngườikhông lìa xa nơi sinh trưởng, không có lòng tham để tranh giành quyền lợi.Con người không tranh giành quyền lợi thì thiên hạ không có chiến tranh chonên quốc gia dẫu có xe cộ, thuyền bè, binh giáp cũng không dùng đến Khingười dân có đời sống thái hòa gần gũi với thiên nhiên thì lãnh tụ quốc gia cóthể “giũ áo, chắp tay, không làm (vô vi)” mà thiên hạ cũng được thái bình
Khác với Khổng Tử, bao giờ cũng cho rằng cần phải “làm” nhiều chodân… Lão Tử tin rằng càng ít “làm” chừng nào càng tốt, và không làm gì cả,nếu có thể được, lại càng hay Là vì theo ông, càng dùng cái trị để mà trị nướcthì dễ loạn, càng không dùng đến cái trị để mà trị nước thì nước càng dễ trị.Chương 57 sách Đạo Đức Kinh có câu:
“Dĩ chính trị quốc Dĩ kỳ dụng binh Dĩ vô sự thủ thiên hạ… Thiên hạ
đa kỵ húy, nhi dân di bần; dân đa lợi khí, quốc gia tư hôn Nhơn đa kỹ xảo, kỳvật tư khởi Pháp lệnh tư chương, đạo tặc đa hữu”[18;tr67]
Thời kì Lão tử sống đang có sự biến đổi rất lớn trong xã hội TrungQuốc Đời sống chính trị có nhiều biến đổi, thời thế loạn lạc, dân chúng lầmthan, đói khổ Là một nhà tư tưởng lỗi lạc Lão tử luôn canh cánh trong lòng
Trang 40nỗi ưu tư, làm sao để chính quyền đem lại hạnh phúc cho dân, thoát khỏi cảnh
" triều đình ô uế, đồng ruộng hoang vu, kho lẫm thật trống rỗng mà họ vận áogấm thêu đeo kiếm sắc, ăn uống thừa mứa, của cải thừa thãi" Từ đó mà tathấy trong Đạo gia xuất hiện quan niệm con người chỉ hạnh phúc khi sốngtrong chính bản tính tự nhiên vốn có của mình Đạo gia đề xướng xây dựngmột chính quyền vì dân, đem lại hạnh phúc cho dân và chính quyền như thếcần phải biết tôn trọng các quy tắc tự nhiên của cuộc sống con người Thời
đó, Trang tử phản đối việc đặt ra các quy tắc trái tự nhiên, xâm phạm vào tự
do tự nhiên của con người Còn Lão tử phản đối việc đó qua hình tượng: "trịnước lớn như nấu cá nhỏ" Nấu cá nhỏ mà lật đi lật lại liên tục thì cá sẽ nát.Chính quyền can thiệp quá sâu vào đời sống tự do của dân thì càng làm chodân nghèo đói, thậm chí trở nên chống đối Việc vận dụng vào chính trị chính
là ở cái vô vi của Đạo gia Nước biết dùng vô vi để trị thì trị nước ắt thành.Triết lý vô vi hướng tới một mối quan hệ đặc biệt giữa nhà nước và ngườidân Từ quan niệm Đạo sinh ra vạn vật mà không cho rằng đó là công dụngcủa mình, theo đó mà Lão tử đặt nó trong quan hệ chính trị, ông cho rằng,thánh nhân trị nước cũng vậy, đem lại sự thái bình cho nhân dân nhưng khôngnhận đó là công của mình: " thánh nhân làm mà không cậy khéo, việc thành
mà không quan tâm tới, không biểu hiện Đức của mình ra…"; hiệu quả củanhà nước là tự nhiên mà nhà nước không tự nhận " Vua công thành, việcxong rồi mà trăm họ đều bảo: Tự Nhiên mình được vậy" Ông nói: "Một quốcgia nhỏ dưới một nước lớn sẽ chiếm một quốc gia nhỏ, một quốc gia nhỏ dướimột nước lớn sẽ chiếm một đất nước lớn" Tại sao? Bởi vì "yếu thắngmạnh." Cái gọi là chiến thắng mềm là mạnh mẽ và mâu thuẫn với sự kiệnlịch sử của thời đại Hai thế kỷ của lịch sử vào mùa xuân và mùa thu chứngminh rằng sự mạnh mẽ chinh phục các cường quốc yếu và các cường quốcnuốt nước nhỏ Nếu bạn không có sức mạnh, đừng chiến đấu một cách tuyệtvọng, và tất cả sự khiêm nhường hoặc nhượng bộ của bạn, bạn chỉ có thể làm