1. Mục tiêu: Về kiến thức: Hiểu được các hình thái biểu hiện của giá trị trong lịch sử, nguồn gốc và bản chất của tiền Hiểu và lấy ví dụ được về các chức năng của tiền Phân tích được quy luật lưu thông tiền tệ và lạm phát. Về kỹ năng: Phân biệt được các chức năng của tiền trong thực tế Có khả năng nhận biết được các quy luật của sản xuất hàng hóa trong thực tế. Về thái độ: Sau khi học xong có cái nhìn tổng quan hơn về tiền. Có thái độ tích cực trước các quy luật sản xuất hàng hóa trong thực tế. Tích cực, tự giác, chủ động nghiên cứu giáo trình, đọc tài liệu và tham gia xây dựng bài giảng; nắm được nội dung cốt lõi của bài học. 2. Nội dung trọng tâm: Nguồn gốc và bản chất của tiền Quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ và lạm phát 3. Phương pháp, phương tiện dạy học: Sử dụng phương pháp thuyết trình, hỏi đáp, nếu ví dụ. Phương tiện: phấn, bản, máy chiếu, mic.
Trang 1GIÁO ÁN SỐ 1 Chương IV Học thuyết giá trị
III Tiền tệ
A Mục tiêu:
1 Mục tiêu:
* Về kiến thức:
- Hiểu được các hình thái biểu hiện của giá trị trong lịch sử, nguồn gốc
và bản chất của tiền
- Hiểu và lấy ví dụ được về các chức năng của tiền
- Phân tích được quy luật lưu thông tiền tệ và lạm phát
* Về kỹ năng:
- Phân biệt được các chức năng của tiền trong thực tế
- Có khả năng nhận biết được các quy luật của sản xuất hàng hóa trong thực tế
* Về thái độ:
- Sau khi học xong có cái nhìn tổng quan hơn về tiền
- Có thái độ tích cực trước các quy luật sản xuất hàng hóa trong thực tế
- Tích cực, tự giác, chủ động nghiên cứu giáo trình, đọc tài liệu và
tham gia xây dựng bài giảng; nắm được nội dung cốt lõi của bài học
2 Nội dung trọng tâm:
- Nguồn gốc và bản chất của tiền
- Quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ và lạm phát
3 Phương pháp, phương tiện dạy học:
- Sử dụng phương pháp thuyết trình, hỏi đáp, nếu ví dụ
- Phương tiện: phấn, bản, máy chiếu, mic
4 Tài liệu tham khảo:
- Giáo trình Kinh tế chính trị học Mác – Lênin, Hội đồng lý luận trung ương, NXB Chính trị quốc gia
- Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin, Bộ giáo dục và đào tạo,
5 Các bước lên lớp cơ bản
- Ổn định tổ chức lớp
- Tổ chức giảng bài mới
- Tổng kết bài giảng
B Nội dung bài giảng:
Trang 2Nội dung cơ bản Hoạt động dạy –
1.1 Hình thái giản đơn
hay ngẫu nhiên của giá
trị:
- Hình thái này xuất hiện khi
xã hội nguyên thủy tan rã,
mang tính ngẫu nhiên và
trực tiếp và thường chỉ gặp
ở những mầm mống đầu
tiên của trao đổi, khi mà các
sản phẩm của lao động chỉ
biến thành hàng hóa trong
những hành vi đơn nhất,
ngẫu nhiên
- VD: Cùng với 20kg thóc = 15 kg gạo; = 1 mét vải = 2 kg chè…
- Ta có thể khái quát thành công thức chung như sau:
1 hàng hóa A = 2 hàng hóa B
= 3 hàng hóa C
= 4 hàng hóa D
= …
- VD: Tôi có 10 quyển
vở, bạn B có 5kg gạo, bạn C có 5kg muối
Tôi thì cần gạo còn bạn B cần vở như vậy bạn B mang đổi gạo lấy vở của tôi Cũng như vậy, tôi cần muối, bạn C cần vở vì thế bạn C lại mang đổi muối lấy vở của tôi
Trong trường hợp này, giá trị 10 quyển vở của tôi có được được biểu hiện bằng 5kg gạo và 5kg muối của bạn B và C
- Với hình thái này, giá trị của 1 hàng hóa được biểu hiện bằng nhiều giá trị sử dụng của các hàng hóa
5’
Trang 3khác nhau có tác dụng làm vật ngang giá Trong hình thái trao đổi này, vật mang giá trị không còn trao đổi ngẫu nhiên nữa mà do lao động quy định, vì khi mang ra trao đổi thì người làm ra sản phẩm đã tính đến mục đích là để mang đi trao đổi, vì vậy khi trao đổi, người ta cần chú ý đến hao phí lao động đã mất để sản xuất ra sản phẩm đó
để tính toán trao đổi VD: 20kg thóc = 15 kg gạo
Ở đây, giá trị của thóc
và gạo là tương đương nhau khi mà cả thóc
và gạo cùng có thời gian lao động bằng nhau, được đem ra trao đổi, mua bán theo nhu cầu của con người, đây là quan hệ trực tiếp hàng lấy hàng mà không qua bất cứ một thứ trung gian nào mà ở đó, giá trị của thóc được biểu hiện ở gạo, còn gạo là hình thái biểu hiện giá trị của thóc Như vậy trong trường hợp này,
Trang 41.2 Hình thái đầy đủ hay
mở rộng của giá trị:
- Việc trao đổi hàng lấy hàng
ngẫu nhiên trong xã hội trở
nên phổ biến, khi trao đổi
mua bán phát triển thì tiến
lên một hình thái cao hơn
Một vật có thể đổi được
nhiều vật khác nhau với
điều kiện chúng có cùng giá
trị như nhau
- Hình thái trao đổi này được
hiểu đơn giản là giá trị của
một vật bằng một hoặc
nhiều giá trị sử dụng của
các vật khác cộng lại
- Tuy nhiên đây mới chỉ là
hình thái trao đổi hàng lấy
hàng, tuy đã có sự quy định
của xã hội nhưng các hàng
hóa được mang ra trao đổi
chưa được quy về một vật
cụ thể mà trao đổi vẫn hoàn
toàn mang tính tự nhiên
Tuy nhiên, sản xuất ngày
phát triển việc trao đổi hàng
hóa ngày diễn ra một nhiều
hơn thì yêu cầu cần có một
vật ngang giá chung cho
các vật mang đi trao đổi Từ
đó hình thành nên hình thái
giá trị sử dụng của hàng hóa này đã trở thành hình thức biểu hiện giá trị của hàng hóa kia
- Một hàng hóa mà giá trị của nó chỉ được biểu hiện ở hàng hóa khác thì ở vào hình thái giá trị tương đối Còn hàng hóa mà giá trị sử dụng của nó biểu hiện giá trị của hàng hóa khác thỉ ở vào hình thái vật ngang giá Trong ví dụ trên thì thóc là hình thái giá trị tương đối, còn gạo là ở hình thái vật ngang giá
VD: 1 quyển vở = 2 cái bút
ở đây, giá trị của quyển vở được biểu hiện ra bằng 2 cái bút, giá trị của quyển vở bằng 2 cái bút – không nhiều hơn cũng không ít hơn 2 cái bút biểu hiện là vật ngang giá trong trong hình thức trao đổi này
- Việc trao đổi hàng lấy hàng hay trao đổi ngẫu nhiên này diễn
ra ngày một nhanh, trở thành một quy
5’
Trang 5thứ 3
1.3 Hình thái chung của
giá trị:
- Khi mà sản xuất phát triển,
hàng hóa có được nhiều
hơn, trao đổi diễn ra thường
xuyên hơn thì việc lấy một
vật trao đổi lấy một vật hay
một vật trao đổi với nhiều
vật đã không còn phù hợp
nữa, ngược lại còn gây cản
trở cho việc trao đổi mua
bán trong quá trình sản
xuất Do trong quá trình trao
đổi, người này cần vật A
nhưng người kia không có
vật A mà có vật B nên quá
trình trao đổi bị chững lại,
gây cản trở cho quá trình
trao đổi, vì vậy người ta đã
hình thành nên một vật có
thể trao đổi ngang bằng với
các vật khác hay nhiều vật
có thể trao đổi với nhiều vật
khác, miễn sao chúng tương
đương nhau về giá trị Từ
đây hình thái chung của giá
trị ra đời
- Ở hình thái này, giá trị của
một hàng hóa được biểu
hiện ở một hàng hóa đóng
vai trò là vật ngang giá
chung – vật ngang giá phổ
biến Các vật đều đổi thành
vật ngang giá chung rồi mới
đổi lấy hàng hóa cần dùng
Tại đây, vật ngang giá
chung trở thành môi giới
trình trong xã hội, thúc đẩy sản xuất hàng hóa ra đời và phát triển
- Hình thái giản đơn là hình thái mầm mống phôi thai của hình thái tiền; và hàng hóa đóng vai trò là vật ngang giá là hình thái phôi thai của tiền tệ
- VD: 5 mét vải hoặc 5 cái áo hoặc 10kg gạo
= 3kg muối…
Ở đây, vật ngang giá
5’
Trang 61.4 Hình thái tiền:
- Như chúng ta đã biết, ở
các giai đoạn trước khi mà
trao đổi hàng hóa xuất hiện
đến khi phát triển cao hơn,
cần có một vật ngang giá cố
định để có thể làm vật trao
đổi thuận tiện hơn trong quá
trình trao đổi, mua bán Khi
vật ngang giá chung được
cố định lại ở một hàng hóa
độc tôn và phổ biến thì hình
thái tiền tệ của giá trị xuất
hiện
- Từ khi tiền tệ xuất hiện và
trở thành vật ngang giá
chung thì có nhiều loại hàng
hóa đóng vai trò của tiền tệ
như vỏ sò càng về sau, tiền
tệ được cố định lại bởi
những kim loại quý như:
vàng, bạc và vật cuối cùng
được chọn cố định, độc tôn
là vàng Người ta sử dụng
vàng trong các cuộc trao đổi
mua bán, do vàng cũng là
một loại hàng hóa để trao
đổi tuy nhiên nó lại có giá trị
cao hơn tất cả các hàng hóa
thông thường khác, do hao
phí lao động để tạo ra thành
một lượng vàng tốn rất
nhiều thời gian và công sức
- Ta có khái niệm tiền tệ như
sau: Tiền tệ là hàng hóa đặc
biệt được tách ra làm vật
ngang giá chung cho tất cả
hàng hóa, nó thể hiện lao
chung là 3kg muối, các vật còn lại như vải, vì muối có thể trao đổi được với nhiều vật khác nhau Sau khi lấy được muối người ta tiếp tục đi đổi lấy hàng hóa cần thiết
- Tuy nhiên ở hình thái này thì vật ngang giá không thống nhất, mỗi giai đoạn lại có một vật ngang giá khác nhau nên vẫn gây cản trở cho việc trao đổi hàng hóa Nhưng sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển, trao đổi mua bán cũng dần phát triển thì việc trao đổi hàng không có vật chung cố định đã mang đến những phiền toái cho người trao đổi, đặc biệt là trao đổi giữa các vùng khác nhau Một yêu cầu mới đặt ra đó chính là cần có một vật ngang giá chung
cố định để có thể tiến hành trao đổi, mua bán thuận tiện hơn không chỉ trong 1 vùng mà còn giữa nhiều vùng khác
5’
Trang 7động xã hội và biểu hiện
quan hệ giữa những người
sản xuất hàng hóa Đó là
bản chất của tiền tệ
- Tiền tệ xuất hiện, thế giơi
chia làm 2 cực:
+ Một cực là hàng hóa
thông thường đại biểu cho
giá trị sử dụng VD: vàng,
bạc được làm đồ trang sức,
làm nguyên liệu trong công
nghiệp
+ Một cực khác là hàng hóa
đóng vai trò tiền tệ, đại biểu
cho giá trị VD: vàng, bạc
cũng do con người khai
thác, do lao động xã hội
trừu tượng kết tinh trong nó,
nó cũng được đo bằng thời
gian lao động cần thiết để
khai thác, sản xuất vàng,
bạc
- Khi đóng vai trò là tiền tệ,
vàng, bạc có giá trị sử dụng
đực biệt – là vật ngang giá
chung, đo lường được giá trị
của hàng hóa khác do chức
năng xã hội riêng của nó
sản sinh ra Từ đây cũng
xuất hiện sự sùng bái tiền,
coi tiền là vạn năng Điều
này đã cho thấy một mặt
trái của tiền tệ khi mà nhiều
người quá coi trọng tiền mà
quên đi những thứ quan
trọng xung quanh Và điều
này được thể hiện một cách
rõ nhất trong kinh tế thị
trường hiện nay, khi mà
nhiều người vì tiền mà đánh
đổi nhiều thứ để rồi cuối
cùng phải hối hận vì việc
nhau Từ đó hình thái vật ngang giá chung cao nhất ra đời: hình thái tiền
- VD: bạn mất 6 tiếng
để làm được 1 lượng vàng, nhưng trong 6 tiếng người khác may được 6 cái áo, như vậy hao phí lao động để tạo ra vàng và áo là khác nhau, hay hao phí lao động để làm ra được vàng cao hơn nhiều so với hao phí lao động khác
- Với các đặc tính như thuần nhất, dễ chia nhỏ, không hư hỏng,
dễ bảo quản và một thể tích nhỏ nhưng giá trị cao thì bạc và vàng
là hai hàng hóa thích hợp để trở thành tiền
tệ
- Tiền tệ xuất hiện là kết quả của sự giải quyết liên tục những mâu thuẫn trong quá trình trao đổi và sản xuất hàng hóa Điều
đó thể hiện ở chỗ khi
có nhiều vật được cho
là vật ngang giá chung khiến cho sự trao đổi ngày một
Trang 8mình đã làm
phức tạp, gây đến hỗn loạn và khó chịu cho người trao đổi từ khi bắt đầu xuất hiện hàng hóa đến khi cao hơn Cần một vật chung nhất để có thể dùng vật chung nhất
đó làm vật ngang giá
cố định, các hàng hóa khác phải chịu sự trao đổi theo vật ngang giá
đó
- VD: 20 kg thóc = 0.5 lượng vàng
5 mét vải = 0.5 lượng vàng
10 bao chè = 0.5 lượng vàng
Tất cả hàng hóa trên đều được quy về bằng
1 lượng vàng nhất định
2 Chức năng của tiền tệ
2.1 Thước đo giá trị:
- Như đã nói ở phần trước,
giá trị của vàng, bạc cao
hơn nhiều so với các hàng
hóa khác, do hao phí lao
động xã hội để khai thác
sản xuất vàng, bạc chiếm
nhiều thời gian hơn
- Với chức năng là thước đo
giá trị, tiền được dùng để
biểu hiện và đo lường giá trị
của các hàng hóa Tiền cũng
có giá trị nên no làm được
chức năng giá trị Khi tiền
VD: Bạn phải mất 1 lượng vàng để mua 50kg gạo vậy 50kg gạo hao 1 lượng vàng
để mua thì 1 lượng vàng ở đây được gọi là giá cả của 50kg gạo hay 50kg có giá cả là
1 lượng vàng
5’
Trang 9làm chức năng thước đo giá
trị thì không cần phải có tiền
mặt trong tay mà chỉ cần
tiền trong tưởng tượng Vì
giá trị của tiền và giá trị của
hàng hóa trong thực tế xã
hội đã được quy định rõ
ràng, theo một tỷ lệ nhất
định Điều này được quy
định bởi thời gian lao động
xã hội cần thiết để sản xuất
ra chúng
- Giá trị của hàng hóa được
biểu hiện bằng tiền gọi là
giá cả hàng hóa, nên giá cả
là hình thức tiền hay biểu
hiện bằng tiền của giá trị
hàng hóa Hay có thể hiểu
đơn giản, một hàng hóa
được mua bằng một số tiền
nào đó thì tổng số tiền mua
hàng hóa đó được coi là giá
cả của hàng hóa đó
- Giá cả hàng hóa do các
nhân tố sau đây quyết định:
+ Giá trị hàng hóa: với
những hàng hóa có giá trị
càng cao thì giá cả để mua
hàng hóa đó càng cao, nếu
giá trị của hàng hóa thấp thì
giá cả bỏ ra mua hàng hóa
đó thấp, điều này phụ thuộc
vào thời gian lao động xã
hội cần thiết để tạo ra hàng
hóa đó
+ Giá trị tiền tệ: để có thể
làm chức năng thước đo giá
trị thì chính bản thân tiền
cũng cần phải đươc đo
lường, ở mỗi quốc gia khác
nhau lại có một cách đơn vị
VD: thời kỳ khủng hoảng của nền kinh tế thế giới đã khiến cho các nền kinh tế sụp đổ hoặc hứng chịu hậu quả nặng nề Nếu trước đây 1 gr vàng người ta có thể mua 1
ổ bánh mì thì giờ đây cần 1 lượng vàng mới
có thể mua được 1 ổ bánh mì Tuy nhiên, sự thay đổi giá trị của
Trang 10đo khác nhau và tên gọi
cũng khác nhau Đơn vị tiền
tệ và các phần chia nhỏ của
nó là tiêu chuẩn giá cả Là
thước đo giá trị, tiền đo
lường giá trị của các hàng
hóa khác; là tiêu chuẩn giá
cả, tiền tệ đo lường số lượng
bản thân kin loại dùng để
làm tiền tệ Tiền mà ở đây là
vàng không phải lúc nào
cũng giữ nguyên giá trị của
nó, trong những trường hợp
bị khủng hoảng kinh tế tiền
rơi vào tình trạng mất giá
+ Quan hệ cung cầu của
hàng hóa Hàng hóa có được
sản xuất, đem ra
trao đổi mua bán hay không
là do nhu cầu của mọi người
trong xã hội, gọi tắt là cầu
Khi nắm bắt được nhu cầu
của mọi người trong xã hội
nhà sản xuất bắt đầu tiền
tiền tệ không ảnh hưởng gì đến chức năng tiêu chuẩn giá
cả của nó
VD: bạn đang cần mua tivi loại mới ra nhưng so sản xuất chưa nhiều, người mua đông nên giá cả của chiếc tivi đó bị đẩy lên cao, do cung không đủ cầu Nhưng sau một thời gian, cũng vẫn chiếc tivi đó, giá cả lại thấp hơn trước nhiều do lúc này, nhiều người đã mua, nhà sản xuất sản xuất ra nhiều tivi hơn nhưng thị hiếu người mua lại dần chuyển sang một cái khác mới hơn thì lúc này cung > cầu thì giá
cả của chiếc tivi đó sẽ giẩm xuống