Nhiều loại hình sinh kế cũ đã mất đi, thay vào đó là những phương thức mưu sinh mới được hình thành, vậy làm thế nào để hoạt động sinh kế của người Sán Dìu có thể phát triển bền vững ở v
Trang 1i
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
NGUYỄN XUÂN HÒA
SINH KẾ CỦA NGƯỜI SÁN DÌU Ở VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH
Trang 2ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nội dung trình bày, các số liệu, kết quả nghiên cứu hoàn toàn trung thực, các giải pháp đƣa ra dựa trên những nghiên cứu, phân tích chi tiết tại địa bàn nghiên cứu Nếu có gì gian dối, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Xuân Hoà
Trang 3iii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án tiến sĩ Sinh kế của người Sán Dìu ở vùng đệm Vườn Quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc tôi đã nhận được sự giúp
đỡ nhiệt tình của một số cơ quan, tập thể và cá nhân
Trước hết, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến PGS TS Phạm Quang Hoan và PGS.TS Nguyễn Thị Song Hà – hai giáo viên hướng dẫn khoa học đã tận tình tư vấn, hướng dẫn tôi từ việc sử dụng cơ sở lý thuyết, phương pháp, các nội dung nghiên cứu đến thiết kế bộ câu hỏi phỏng vấn, điều tra tại khu vực nghiên cứu, chỉnh sửa, góp ý để tôi hoàn thiện được bản luận án này
Tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn đến:
- Khoa Dân tộc học và Nhân học, Ban Giám đốc, phòng quản lý khoa học – Học viện Khoa học xã hội đã giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi hoàn thành chương trình học tập, nghiên cứu và bảo vệ luận án
- Viện Địa lí nhân văn – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, nơi tôi đang công tác đã tạo điều kiện cho tôi đi học chương trình nghiên cứu sinh và giúp tôi về nhân lực, vật lực thực hiện các nghiên cứu của mình tại địa bàn
- Văn phòng Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc, UBND huyện Tam Đảo, UBND
xã Đạo Trù và Văn phòng Vườn quốc gia Tam Đảo đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thu thập tư liệu, điều tra, phỏng vấn tại địa phương
- Cảm ơn gia đình, quý thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp đã quan tâm, khích lệ, động viên tôi trong việc thực hiện và hoàn thành luận án
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Xuân Hoà
Trang 4iv
MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH vi
DANH MỤC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của luận án 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2
2.1 Mục đích nghiên cứu 2
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 3
4.1 Phương pháp luận 3
4.2 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 5
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 6
6.1 Ý nghĩa lý luận 6
6.2 Ý nghĩa thực tiễn 6
7 Cơ cấu của luận án 6
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 7
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7
1.2 Cơ sở lý luận 18
1.3 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 27
Tiểu kết chương 1 49
CHƯƠNG 2 SINH KẾ CỦA NGƯỜI SÁN DÌU TRƯỚC KHI THÀNH LẬP 51
VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO 51
2.1 Các nguồn lực sinh kế 51
2.2 Các hoạt động sinh kế nông nghiệp 61
2.3 Các hoạt động sinh kế phi nông nghiệp 67
2.4 Chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế 73
Tiểu kết chương 2 78
CHƯƠNG 3 BIẾN ĐỔI SINH KẾ CỦA NGƯỜI SÁN DÌU TỪ SAU KHI THÀNH LẬP VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO 80
3.1 Biến đổi các nguồn vốn sinh kế 80
3.2 Biến đổi các hoạt động sinh kế nông nghiệp 93
3.3 Biến đổi hoạt động sinh kế phi nông nghiệp 97
3.4 Biến đổi sử dụng đất ở xã Đạo Trù trước và sau khi thành lập VQG Tam Đảo 106
3.5 Biến đổi chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế 114
Tiểu kết chương 3 119
CHƯƠNG 4 NGUYÊN NHÂN BIẾN ĐỔI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI SINH KẾ BỀN VỮNG CỦA NGƯỜI SÁN DÌU 121
4.1 Nguyên nhân biến đổi sinh kế ở người Sán Dìu vùng đệm VQG Tam Đảo 121
4.2 Những vấn đề đặt ra đối với phát triển sinh kế của người Sán Dìu trong bối cảnh hiện nay… 124
4.3 Một số giải pháp phát triển sinh kế bền vững cho người Sán Dìu 136
Tiểu kết chương 4 144
KẾT LUẬN 146
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 149
TÀI LIỆU THAM KHẢO 150
Trang 5Bộ phát triển quốc tế Anh
Hệ thống thông tin địa lý Giao thông nông thôn Hội đồng nhân dân Hợp tác xã
Khoa học kỹ thuật Kinh tế - xã hội Lâm sản ngoài gỗ Mục tiêu đại hội
MTTQ:
NCS:
NHCSXH : NHNN:
Nông thôn mới Phỏng vấn sâu Thể dục thể thao Thương binh – Liệt sỹ Trung học phổ thông Trung học cơ sở
Ủy ban nhân dân
Uỷ ban mặt trận tổ quốc Vườn quốc gia
Xã hội chủ nghĩa
Trang 6vi
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Khung sinh kế bền vững của DFID (1999) 23
Hình 2.2 Biểu đồ hiện trạng sử dụng đất xã Đạo Trù năm 1991 56
Hình 3.3 Biểu đồ sử dụng đất các thời kỳ xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo 109
Hình 3.4 Cơ cấu các ngành kinh tế xã Đạo Trù năm 2015 115
Trang 7vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Khí hậu vùng Tam Đảo 29
Bảng 1.2 Cơ sở hạ tầng một số thôn của xã Đạo Trù 40
Bảng 1.3 Trình độ văn hóa của một số thôn xã Đạo Trù 48
Bảng 2.4 Số liệu hiện trạng sử dụng đất năm 1991 xã Đạo Trù 55
Bảng 2.5 Cách thức trao đổi mua bán của người Sán Dìu thời kỳ trước năm1996 60
Bảng 2.6 Thu nhập hàng năm từ đánh bắt cá của hộ gia đình Sán Dìu 69
Bảng 2.7 Một số thông tin săn bắt, hái lượm của người Sán Dìu 71
Bảng 2.8 Loại hình canh tác ở 5 thôn - xã Đạo Trù 74
Bảng 2.9 Thu nhập hàng năm từ trồng trọt của một hộ gia đình Sán Dìu 75
Bảng 2.10 Chăn nuôi truyền thống gia súc, gia cầm ở 5 thôn – xã Đạo Trù 76
Bảng 2.11 Thu nhập hàng năm từ chăn nuôi của hộ gia đình Sán Dìu 76
Bảng 2.12 Thu nhập hàng năm của một hộ gia đình Sán Dìu 77
Bảng 2.13 Mức chi tiêu hàng năm trong gia đình người Sán Dìu* 77
Bảng 3.14 Tỷ lệ nhân khẩu trong một hộ gia đình người Sán Dìu 80
Bảng 3.15 Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng tới đời sống người dân Sán Dìu 88
Bảng 3.16 Hình thức vay vốn của các hộ gia đình Sán Dìu 92
Bảng 3.17 Loại hình canh tác ở 5 thôn - xã Đạo Trù 94
Bảng 3.18 Thu nhập từ các loại cây trồng của một hộ gia đình Sán Dìu 95
Bảng 3.19 Chăn nuôi ở 5 thôn xã Đạo Trù 96
Bảng 3.20 Thống kê số lượng trang trại ở các thôn 97
Bảng 3.21 Các sản phẩm thường bán cho khách du lịch 101
Bảng 3.22 Các loại bệnh do người Sán Dìu chữa trị 104
Bảng 3.23 Số liệu hiện trạng sử dụng đất năm 2005 xã Đạo Trù 107
Bảng 3.24 Số liệu hiện trạng sử dụng đất năm 2015 xã Đạo Trù 108
Bảng 3.25 Biến đổi thu nhập hàng năm của hộ gia đình Sán Dìu trước và sau khi thành lập VQG Tam Đảo 116
Bảng 3.26 Hạng mục chi tiêu hàng năm của hộ gia đình gia đình Sán Dìu 118
Bảng 4.27 Quan hệ cộng đồng dân tộc Sán Dìu – xã Đạo Trù 125
Bảng 4.28 Biến đổi tổ chức xã hội ở xã Đạo Trù 127
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
VQG Tam Đảo nằm trên dãy núi Tam Đảo được thành lập theo Quyết định 136/TTg, ngày 6 tháng 3 năm 1996 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Dự án khả thi đầu tư xây dựng VQG Tam Đảo trên cơ sở nâng cấp và mở rộng rừng cấm quốc gia Tam Đảo được thành lập theo Quyết định số 41/TTg ngày
24 tháng 1 năm 1977 của Thủ tướng Chính phủ Theo đó, VQG Tam Đảo có tổng diện tích tự nhiên là 36.883 ha và diện tích vùng đệm là 15.515 ha
Người dân sinh sống lâu đời ở vùng đệm VQG Tam Đảo thuộc thành phần 7 dân tộc: Kinh, Sán Dìu, Sán Chay, Dao, Tày, Nùng, và Hoa Trong thời gian từ 1996 trở về trước (trước khi có quyết định thành lập VQG Tam Đảo), người dân ở đây thường xuyên vào rừng khai thác các sản phẩm như: măng, tổ kiến, mật ong, củi Đồng bào các dân tộc sinh sống ở đây cho rằng "mọi thứ đều do rừng đẻ ra" nên gặp gì khai thác nấy
Từ sau khi thành lập VQG, người dân không được phép vào rừng khai thác nữa, do chính sách quản lý và kiểm soát lâm sản chặt chẽ Người dân thị trấn Tam Đảo cho biết, dân địa phương nếu ai làm nhà thì phải làm đơn xin phép Sở Nông nghiệp và kiểm lâm và cũng chỉ được phép khai thác khoảng từ
2 đến 3 m3
gỗ Tuy nhiên, việc khai thác gỗ để làm nhà đã bị cấm hoàn toàn trong thời gian gần đây; số lượng động vật hoang dã ngày càng ít nên việc săn bắt đã giảm nhiều [143]
Người Sán Dìu ở vùng đệm VQG Tam Đảo (đặc biệt là khu vực tỉnh Vĩnh Phúc) ngoài sản xuất nông nghiệp họ phải tự tìm kiếm việc làm hoặc đi làm thuê Diện tích đất canh tác sụt giảm trầm trọng so với trước đây, bình quân cho một nhân khẩu là: 776m2 Con số này rất thấp so với diện tích đất nông nghiệp bình quân cho đầu người trên cả nước: 1.400m2 Sản xuất nông nghiệp trong vùng còn gặp rất nhiều khó khăn, đất canh tác lại manh mún bạc màu, nên sản lượng lương thực qui thóc bình quân đầu người ở mức rất thấp [143] Người Sán Dìu ở đây vẫn “lén lút” khai thác các tài nguyên từ rừng, đặc
Trang 92
biệt là bắt côn trùng quý như: bướm, xén tóc để bán cho khách nước ngoài để tăng thêm thu nhập cho gia đình, điều này góp phần ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính đa dạng sinh học của VQG Tam Đảo
Kể từ sau khi thành lập VQG Tam Đảo, hoạt động sinh kế của người Sán Dìu ở đây đã có nhiều thay đổi để phù hợp hơn với cuộc sống thực tại Nhiều loại hình sinh kế cũ đã mất đi, thay vào đó là những phương thức mưu sinh mới được hình thành, vậy làm thế nào để hoạt động sinh kế của người Sán Dìu có thể phát triển bền vững ở vùng đệm VQG Tam Đảo, đặc biệt là khu vực tỉnh Vĩnh Phúc thì cần phải có những nghiên cứu cụ thể, rõ ràng và chuyên sâu dưới góc độ Nhân học để có thể hiểu rõ sự thích ứng của họ trước những biến đổi, đồng thời để giúp chính quyền địa phương và người Sán Dìu ở đây có những chiến lược, chính sách và giải pháp về sinh kế tối ưu Chính vì vậy, NCS quyết
định lựa chọn đề tài: Sinh kế của người Sán Dìu ở vùng đệm Vườn quốc gia
Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Nhân học,
- Luận án đề xuất một số giải pháp nhằm tạo ra những thay đổi về sinh kế cho người dân Sán Dìu ở vùng đệm VQG Tam Đảo, hướng tới sinh kế bền vững
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Điều tra, nhận diện, phân tích các hoạt động sản xuất, đời sống sinh hoạt của người Sán Dìu ở vùng đệm VQG Tam Đảo thuộc tỉnh Vĩnh Phúc
- Tìm hiểu các điều kiện tự nhiên và yếu tố văn hóa tộc người có liên quan đến hoạt động sinh kế của người Sán Dìu ở vùng đệm VQG Tam Đảo thuộc tỉnh Vĩnh Phúc
- Đề xuất các giải pháp nhằm ổn định sinh kế theo hướng bền vững của người Sán Dìu xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 103
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là sinh kế người Sán Dìu ở vùng đệm VQG Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc trước và sau khi thành lập VQG Tam Đảo
3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi thời gian: Quá trình sinh sống của người Sán Dìu trước và sau khi thành lập VQG Tam Đảo (1996) Các quá trình này được trình bày thành hai giai đoạn:
1 Từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến thời điểm thành lập VQG Tam Đảo (1996)
2 Từ sau khi thành lập VQG Tam Đảo đến thời điểm hiện nay
+ Phạm vi không gian: Địa bàn nghiên cứu của luận án là xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc; là nơi cộng đồng dân tộc Sán Dìu có số dân đông nhất so với các xã thuộc vùng đệm VQG Tam Đảo
+ Phạm vi nội dung: Các hoạt động sinh kế của người Sán Dìu trước khi thành lập VQG Tam Đảo và từ khi có VQG Tam Đảo đến nay; các nguồn vốn sinh
kế và sự biến đổi sinh kế của người Sán Dìu, những yếu tố tác động đến sự biến đổi
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Trang 114
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp điền dã Dân tộc học/ Nhân học
Phương pháp điền dã Dân tộc học/Nhân học là phương pháp nghiên cứu chủ đạo để tác giả hoàn thành luận án Trong quá trình điền dã Dân tộc học/Nhân học, tác giả luận án đã thảo luận với chính quyền địa phương, sử dụng các công cụ như: quan sát, chụp ảnh, vẽ sơ đồ, biểu đồ, phỏng vấn sâu các đối tượng có liên quan trực tiếp đến luận án cụ thể: (xem ảnh 17 – 20, tr.184-185)
+ Phỏng vấn sâu: tác giả thực hiện 25 cuộc phỏng vấn sâu đối với các
trưởng/phó của 5 thôn trải đều theo diện tích của xã có các mức sống khác nhau
và có 100% hộ gia đình là người dân tộc Sán Dìu Tiến hành phỏng vấn 20 đối tượng là người cao tuổi trong thôn và điều tra 100 hộ gia đình dân tộc Sán Dìu sinh sống ở đây Chủ đề các cuộc phỏng vấn hướng vào tìm hiểu ý kiến của người dân về các nguồn vốn đã và đang hiện có, về các hình thức mưu sinh trước kia và hiện nay, những khó khăn đang hiện hữu đối với gia đình và cộng đồng trong việc đảm bảo sinh kế…
+ Thảo luận nhóm: tác giả luận án đã thực hiện 5 cuộc thảo luận nhóm đối
với cấp chính quyền địa phương huyện Tam Đảo và xã Đạo Trù, 5 cuộc thảo luận nhóm được tổ chức ở 5 thôn có các thành phần tham dự như trưởng thôn, hội người cao tuổi, hội nông dân, hội phụ nữ, người dân Sán Dìu để thu thập các thông tin liên quan đến văn hóa, sinh kế truyền thống của người Sán Dìu, những biến đổi về sinh
kế và các phương thức mưu sinh hiện nay Tổ chức 3 cuộc thảo luận nhóm đối với cán bộ quản lý và hạt kiểm lâm VQG Tam Đảo để thu thập thông tin về tình hình khai thác, bảo vệ các nguồn lợi từ rừng của người dân Sán Dìu xã Đạo Trù
4.2.2 Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu thứ cấp
Trong quá trình nghiên cứu, luận án đã sử dụng các tài liệu liên quan đến nghiên cứu về VQG Tam Đảo và vùng đệm của các cơ quan hữu quan, chính quyền địa phương; các công trình nghiên cứu về sinh kế; các công trình nghiên cứu về văn hóa, dân cư, dân tộc Sán Dìu đã được công bố Những tài liệu này
có giá trị cho tác giả luận án kế thừa, phát triển nhằm hoàn thành luận án
Trang 125
4.2.3 Phương pháp so sánh
Luận án sử dụng phương pháp này nhằm làm sáng rõ hoạt động sinh kế của người Sán Dìu trong lịch đại/đồng đại để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong sinh kế của người dân Sán Dìu trước và sau khi thành lập VQG Tam Đảo
4.2.4 Phương pháp Bản đồ Viễn Thám và GIS
Đây là phương pháp cần thiết trong quá trình nghiên cứu có liên quan đến tổ chức lãnh thổ Bản đồ được sử dụng chủ yếu theo hướng chuyên ngành
để phân tích, đánh giá tiềm năng và điều kiện có liên quan khi ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của người Sán Dìu tại điểm nghiên cứu
4.2.5 Phương pháp phân tích tổng hợp và phân tích hệ thống
Đây là phương pháp cơ bản được sử dụng phổ biến trong hầu hết các nghiên cứu khoa học, áp dụng phương pháp này sau khi đã tập hợp các tư liệu, tài liệu, số liệu, nhằm phục vụ các mục tiêu mà đề tài đã đặt ra, vì vậy phương pháp này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình nghiên cứu của đề tài này
4.2.6 Phương pháp chuyên gia
Để thực hiện luận án này, tác giả đã tham khảo ý kiến của một số chuyên gia nghiên cứu về sinh kế, văn hóa tộc người, một số nhà quản lý, hoạch định chính sách nhằm góp phần hoàn thiện luận án
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống, tương đối toàn diện và chuyên sâu dưới góc độ Nhân học về sinh kế của người Sán Dìu ở vùng đệm VQG Tam Đảo từ trước và sau khi thành lập VQG
- Trên cơ sở tư liệu có được, luận án cho thấy sự biến đổi hoạt động sinh kế của người Sán Dìu, những ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa,
xã hội đến hoạt động sinh kế của người dân Sán Dìu vùng đệm VQG Tam Đảo
- Luận án bước đầu phân tích làm rõ được những thuận lợi, khó khăn, thách thức trong sinh kế của người dân Sán Dìu ở vùng đệm VQG Tam Đảo để
từ đó đưa ra một số giải pháp góp phần giúp người dân Sán Dìu có hoạt động sinh kế phát triển bền vững
Trang 136.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận án cung cấp cơ sở khoa học một cách toàn diện về hoạt động sinh
kế của người dân Sán Dìu ở xã Đạo Trù (một xã thuộc vùng đệm của VQG Tam Đảo) trước và sau khi thành lập VQG Tam Đảo Kết quả của luận án là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho những ai quan tâm đến nghiên cứu sinh
kế tộc người, đồng thời sẽ giúp cho chính quyền địa phương và người dân Sán Dìu có thêm thông tin để đưa ra chính sách phù hợp nhằm phát triển đời sống của người dân Sán Dìu nói riêng, các tộc người cư trú tại vùng đệm VQG Tam Đảo nói chung đồng thời phục vụ công cuộc xây dựng NTM ở địa phương
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận án gồm có 5 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về địa bàn nghiên cứu
Chương 2 Sinh kế của người Sán Dìu trước khi thành lập Vườn quốc gia Tam Đảo
Chương 3 Biến đổi sinh kế của người Sán Dìu từ sau khi thành lập Vườn quốc gia Tam Đảo
Chương 4 Nguyên nhân biến đổi sinh kế và những vấn đề đặt ra đối với sinh kế bền vững của người Sán Dìu
Trang 147
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ
KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước về sinh kế tộc người
Từ lâu vấn đề sinh kế đã được nhiều học giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu và đưa ra các quan niệm rất khác nhau về sinh kế tộc người Sinh kế theo nghĩa thông thường là những cách thức mà con người kiếm sống và đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người như: ăn, ở, mặc, sinh hoạt tinh thần… Dưới góc độ Nhân học, ý tưởng về sinh kế đã được đề cập trong các tác phẩm nghiên cứu của R.Chamber những năm 1980 Về sau, khái niệm này xuất hiện nhiều hơn trong các nghiên cứu của F.Ellis, Barrett và Reardon, Morrison, Dorward,… Có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về sinh kế, tuy nhiên có sự nhất trí rằng, khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân hay hộ gia đình
Năm 1987 trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” (Our Common
Future), Ủy ban Quốc tế về Môi trường và Phát triển lần đầu tiên đã đưa ra ý tưởng về sinh kế bền vững: đặt con người và các nhu cầu của con người vào vị trí trung tâm; sự liên kết, phối hợp các nhân tố kinh tế, xã hội và sinh thái có vai trò quan trọng trong các chính sách phát triển Những nhân tố này được khẳng định và mở rộng tại Hội thảo của Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển (UNCED) vào năm 1992, đặc biệt trong bối cảnh chương trình nghị sự 21, sinh kế bền vững đã trở thành một mục tiêu quan trọng và giải quyết đồng thời các nhân tố phát triển, quản lý tài nguyên bền vững và xóa nghèo đói
Năm 1992, trong báo cáo “Sinh kế nông thôn bền vững: Các quan niệm thực tiễn cho thế kỷ XXI, Robert Chambers và Gordon Conway đã nhấn mạnh 3
nhân tố chính của sinh kế bền vững:
Trang 158
i) Nâng cao năng lực: giúp con người ứng phó linh hoạt với những thay đổi và những tác động không báo trước, đồng thời có thể dễ dàng tiếp cận tới các nguồn lực và cơ hội khác nhau [152, tr 296]
ii) Thúc đẩy tính công bằng: có chính sách ưu tiên cho người nghèo, đặc biệt là những người dễ bị tổn thương như: dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa
và phụ nữ [152, tr 296]
iii) Tăng cường tính bền vững xã hội: quan tâm và giảm đến mức tối thiểu tính dễ bị tổn thương của người nghèo thông qua giảm các chấn động và áp lực từ bên ngoài, đồng thời cung cấp các mạng lưới an toàn cho họ [152, tr 296]
Đặc biệt trong năm 1999, Bộ Phát triển Quốc tế Anh quốc (DFID) đã đưa
ra mô hình khung sinh kế bền vững trong công trình: Tài liệu hướng dẫn sinh kế bền vững [153] Đây là khung sinh kế được sử dụng nhiều nhất hiện nay và trở
thành một công cụ phổ biến trong các nghiên cứu phát triển, cũng như các chính sách và kế hoạch phát triển Khung sinh kế bền vững, chủ yếu lấy con người làm trung tâm và bao gồm 4 yếu tố: (1) bối cảnh dễ bị tổn thương; (2) một hình ngũ giác thể hiện các nguồn vốn sinh kế; (3) thể chế - chính sách; (4) các chiến lược sinh kế Các yếu tố này có mối quan hệ tương hỗ với nhau để tạo ra các hiệu quả sinh kế bền vững Kết quả sinh kế sẽ phản ánh hướng lựa chọn phát triển của từng lĩnh vực cụ thể Có thể thấy, đây là một công cụ để các nhà quản lý và những người dân cùng nghiên cứu, đánh giá nhằm tìm ra một giải pháp hợp lý, vừa thỏa mãn được yêu cầu của sự phát triển với việc nhấn mạnh sự tham gia của người dân, đặt con người làm trung tâm của hoạt động phát triển và coi giảm nghèo là kết quả chính, đảm bảo an sinh xã hội
Nghiên cứu sinh kế của người dân, đặc biệt những dân tộc sống cạnh các khu rừng đặc dụng thường phát sinh các xung đột đối với hệ thống quản lý rừng đặc dụng Các xung đột này đã được tác giả M M Skutsch của trường đại học Twente, Hà Lan đề cập tới trong các nghiên cứu của mình [163] Ông cho rằng: quản lý xung đột được chấp nhận là một vấn đề cần quan tâm đặc biệt trong thập
kỷ hiện tại, làm thế nào để giải quyết xung đột cùng với lâm nghiệp cộng đồng đã bắt đầu xuất hiện từ 1994; quản lý xung đột cũng được nhắc đến trong quản lý
Trang 169
rừng bền vững Đây cũng là một yếu tố góp phần vào các thành tựu của công bằng
xã hội và phân phối lại Sự tham gia vào lâm nghiệp cộng đồng của người dân đã được đẩy mạnh trong ít nhất 20 năm qua và với một mong ước là họ sẽ có những
ý kiến đóng góp khác nhau, những lợi ích khác nhau Xung đột là không thể tránh được trong lâm nghiệp cộng đồng và là một yếu tố gây ra thất bại của nhiều dự án lâm nghiệp cộng đồng Việc quản lý xung đột được chia thành các bộ phận cấu thành và sử dụng một vài phương pháp sẵn có để đối phó với việc xác định xung đột, phân tích và đưa ra các giải pháp giải quyết
Bên cạnh các nghiên cứu về sinh kế thì không thể thiếu được các nghiên cứu về biến đổi xã hội Theo các nhà nghiên cứu xã hội, tất cả xã hội đều tồn tại một quá trình vận động phát triển hoặc suy thoái Trong quá trình này luôn diễn ra
sự biến đổi xã hội Nhà xã hội học người Mỹ, Talcott Parsons trong nghiên cứu học thuyết cơ cấu xã hội đã giải thích sự biến đổi xã hội xuất phát từ hai nguồn gốc tác động từ bên ngoài hoặc ngay bên trong hệ thống xã hội Trong cách tiếp cận nhân học, biến đổi xã hội phải đề cập tới không chỉ là các dạng thức biến đổi
mà còn cả những “đơn vị” của biến đổi và tiềm năng cho con người hành động như là “tác nhân” của biến đổi Trong biến đổi xã hội, các tác nhân khách thể của biến đổi có thể cũng là chủ thể của biến đổi [156, tr.629 - 645]
Quá trình cư trú của người dân ở vùng đệm các khu rừng đặc dụng thì việc tham gia của người dân trong lâm nghiệp cộng đồng là thực sự cần thiết, nhất là sự tham gia của các cộng đồng dân tộc thiểu số cũng được đề cập tới trong các nghiên cứu của một số tác giả Việt Nam và nước ngoài [158], [159], [164] Những nỗ lực hợp tác giữa các dân tộc bản địa và chính quyền ở các VQG và khu bảo tồn thiên nhiên cho thấy rằng, sự tham gia của các dân tộc bản địa là thành công hơn ở những nơi được quy hoạch thành VQG và nơi mà cải cách kinh tế - xã hội và chính trị đang được triển khai Các dân tộc bản địa thường xung đột với các cơ quan quản lý VQG nơi mà họ không được tham gia Nếu không nỗ lực thực hiện để giải quyết vấn đề sinh kế của người dân bản địa sinh sống trong và xung quanh các khu vực bảo vệ, thì việc quản lý VQG, bảo vệ động vật hoang dã, phát triển rừng sẽ hiếm khi thành công
Trang 1710
Quản lý VQG có sự tham gia của cộng đồng dân tộc bản địa đã phần nào giải quyết vấn đề sinh kế của họ, từ đó họ mới có nỗ lực bảo vệ rừng, động vật hoang dã và khai thác hợp lý các sản vật từ rừng
Trong việc quản lý các khu rừng đặc dụng, việc sử dụng các công nghệ mới trong việc quản lý tài nguyên, trong đó có công nghệ GIS ngày càng được nhiều cơ quan quản lý áp dụng Năm 2010, các tác giả Yuji Murayama và Dương Đăng Khôi đã nghiên cứu và đưa ra dự báo của mình về những khu vực
dễ bị tác động do quá trình biến động rừng thông qua phương pháp bản đồ viễn thám và GIS, dự báo các khu vực dễ bị tổn thương để chuyển đổi rừng ở VQG Tam Đảo, Việt Nam [155] Biến đổi rừng do các nguyên nhân khai thác phi pháp và mở rộng đất sản xuất nông nghiệp là tác nhân chính nguy hại cho các
nỗ lực bảo tồn đa dạng sinh học Thoái hóa đất canh tác đã được ghi nhận là một trong những nguyên nhân chính đe dọa mất ổn định ở vùng đệm của các khu bảo tồn ở Việt Nam Đặc biệt, diện tích đất thoái hóa ngày càng mở rộng tại các khu bảo tồn đang tạo ra sức ép lớn lên nỗ lực bảo tồn đa dạng sinh học [160], [165] Vấn đề thoái hóa này là kết quả của việc quản lý lỏng lẻo, việc sử dụng đất thường chưa phù hợp với các đặc điểm vốn có của đất Phân tích không gian phân bố các khu vực thích hợp với đất canh tác rất cần thiết đối với việc sử dụng đất bền vững cũng đã được khuyến nghị
1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước
1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu về sinh kế của dân tộc thiểu số và sinh kế của người dân vùng đệm các VQG và khu BTTN ở Việt Nam
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các dân tộc thiểu số ở miền núi Việt Nam có các loại hình sinh kế khác nhau để đảm bảo nhu cầu cuộc sống của
mình, tựu chung lại đều có sự thống nhất ở các loại hình sinh kế; Trồng trọt:
Đây là hoạt động quan trọng và then chốt, đảm bảo nguồn lương thực, thực phẩm chủ yếu cho các hộ gia đình Sinh kế trồng trọt gồm nương rẫy, ruộng và
vườn Chăn nuôi: là loại hình sinh kế quan trọng thứ hai nhưng chỉ mang tính
bổ trợ, đảm bảo lương thực, đảm bảo cho các hoạt động nghi lễ, tín ngưỡng
Trang 1811
Nghề thủ công: ít hình thành làng thủ công, phần lớn chỉ là nghề thủ công tryền
thống gia đình, có quy mô nhỏ Các loại hình nghề thủ công thường thấy: đan
lát, dệt, rèn… Trao đổi mua bán: là loại hình kinh tế ít phát triển ở các tộc
người thiểu số miền núi với hình thức trao đổi hàng – hàng trong làng hoặc hàng – tiền – hàng ở các phiên chợ [16], [27], [34], [53] Ngoài ra, tác giả Trần
Bình trong cuốn sách Tập quán mưu sinh của các dân tộc thiểu số ở Đông Bắc Việt Nam [16]; Các tộc người ở miền núi phía Bắc Việt Nam và môi trường
[22] của tác giả Hoàng Hữu Bình; Phạm Quang Linh trong luận án tiến sĩ Nhân
học Sinh kế của người Thái tái định cư thuỷ điện Sơn La [70]; Koos Neefjes với Môi trường và sinh kế - các chiến lược phát triển bền vững [66] cho rằng
còn một loại hình sinh kế nữa được người dân hay sử dụng đó là loại hình kinh
tế chiếm đoạt hay nền kinh tế dựa vào việc khai thác các nguồn lợi tự nhiên Vai trò hoạt động của từng loại hình sinh kế có sự khác nhau, mức độ và tỉ lệ đảm bảo cuộc sống cũng có sự khác nhau phụ thuộc vào các yếu tố dân tộc, địa
lý, văn hóa, sinh thái của các vùng, miền khác nhau
Một số công trình nghiên cứu về sinh kế của người dân sống ở vùng đệm
các VQG và Khu BTTN của Việt Nam như: Quan hệ đồng tác trên cơ sở cộng đồng trong vùng đệm các Khu BTTN [1] của Lê Quí An, Đánh giá thực trạng
và đề xuất các giải pháp sinh kế bền vững cho cộng đồng ở Khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hoá [79] của Vũ Thị Ngọc, Về vấn đề quản lý vùng đệm ở Việt Nam – những kinh nghiệm bước đầu [94] của Võ Quí, Tri thức địa phương của người dân sống trong VQG và Khu BTTN [109] của Nguyễn Ngọc Thanh, Tác động của dự án duy trì và phát triển bền vững đến sinh kế của người dân vùng đệm VQG Tam Đảo khu vực Vĩnh Phúc [110] của Đặng Văn Thanh đều
đề cập tới cộng đồng các dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng đệm của các VQG
và khu BTTN thường khai thác các nguồn lợi từ tự nhiên và coi đây là một nguồn sinh kế thứ hai của họ sau trồng trọt và chăn nuôi Trải qua nhiều thế hệ sinh sống ở nơi này, họ thường vào rừng khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên như gỗ, tre, nứa, lá… các sản vật như: măng, các loại củ quả, cây thuốc, mật ong…cho đến các hoạt động săn bắn, bẫy thú rừng
Trang 1912
Các công trình nghiên cứu: Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên [33], Tam Đảo – VQG thứ 10 của Việt Nam ra đời [116], Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp sinh kế bền vững cho cộng đồng ở khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hoá [79], Sinh kế của người dân và công tác quản lý bảo vệ rừng: Nghiên cứu trường hợp ở thôn Ka Nôn 1 và Ban quản lý rừng phòng hộ A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế [128], luận án tiến sĩ Nhân học Sinh kế của người Mạ ở vườn quốc gia Cát Tiên của NCS Nguyễn Đăng Hiệp Phố [84] chỉ ra loại hình sinh kế dựa vào
khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên đã làm tổn hại đến các VQG và khu BTTN, làm cho chất lượng rừng giảm sút một cách nhanh chóng; nguồn lợi động, thực vật ngày càng khan hiếm, các sản vật từ rừng bị khai thác cạn kiệt, không còn khả năng tự phục hồi; nhiều loài động, thực vật cũng như một số loài cây thuốc đặc hữu đã hoàn toàn không còn xuất hiện hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng
Thách thức được đặt ra hiện nay đối với các VQG và khu BTTN là làm cách nào để không tạo thêm những đối lập giữa nhân dân địa phương và Ban quản
lý của các rừng đặc dụng nói trên, mà phải cộng tác với họ một cách chặt chẽ, chấp nhận những yêu cầu chính đáng của họ, điều quan trọng là họ được hưởng những lợi ích trực tiếp từ những khu rừng này, cho họ thấy được lợi ích khi tham gia bảo vệ các VQG và Khu BTTN từ đó có thể giảm sức ép vào khu bảo tồn giúp
họ tham gia tích cực vào việc bảo vệ lợi ích thiết thực của bản thân họ
Dân tộc Sán Dìu cư trú chủ yếu ở khu vực Tam Đảo, nơi đây đã được định hướng thành một khu du lịch nghỉ dưỡng cho Hà Nội và khu vực lân cận
Vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về phát triển du lịch sinh thái ở đây
như: Phát triển du lịch sinh thái VQG Tam Đảo trong bảo tồn đa dạng sinh học [25], Đánh giá điều kiện địa lý và tài nguyên phục vụ tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Vĩnh Phúc [67], Đến năm 2010-2020 Tam Đảo trở thành huyện du lịch trọng điểm của cả nước, tạo động lực phát triển kinh tế của cả tỉnh, khu vực [124], Một số hoạt động du lịch đã được tổ chức tại VQG Tam Đảo [147]…
VQG Tam Đảo có 5 kiểu rừng chính: rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới, rừng lùn trên đỉnh núi, rừng tre nứa
và rừng phục hồi sau nương rẫy; trong Vườn có tới 307 loài động vật hoang dã
Trang 2013
với 6 loài đặc hữu và 904 loài thực vật các loại, trong đó có 42 loài đặc hữu của VQG Tam Đảo [55], [57] Một số hoạt động du lịch đã được tổ chức tại đây như: đi bộ khám phá rừng và trải nghiệm văn hóa bản địa; thăm quan VQG và Trung tâm cứu hộ gấu; du lịch ngắm rừng – vượt Thác Bạc Bên cạnh đó yếu
tố văn hóa của các dân tộc cũng là một dạng tài nguyên du lịch, đặc biệt là các làng thuần túy người Sán Dìu như ở xã Đạo Trù hay làn điệu hát đối – đáp,
giao duyên Soọng Cô của họ [45], [63], [75], [78], [104]
Vấn đề sinh kế của người dân vùng đệm VQG Tam Đảo cũng đã được đề
cập đến trong một số dự án và công trình nghiên cứu: Tác động của dự án duy trì và phát triển bền vững đến sinh kế của người dân vùng đệm VQG Tam Đảo khu vực Vĩnh Phúc [110], Các giải pháp xoá đói giảm nghèo cho người dân vùng đệm VQG Tam Đảo khu vực Thái Nguyên [114], Thực trạng và giải pháp phát triển sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư vùng đệm VQG Tam Đảo, khu vực Vĩnh Phúc [131] Nhiều hoạt động nhằm phát triển kinh tế hộ gia đình
như: tập huấn trồng giống lúa mới, sản xuất rau an toàn, thành lập câu lạc bộ phụ nữ chăn nuôi, nuôi ong, xây dựng vườn ươm cây lâm nghiệp… đã được
triển khai Các công trình nghiên cứu: Nghiên cứu kiến thức bản địa gây trồng
và phát triển nguồn lâm sản ngoài gỗ tại vùng đệm VQG Tam Đảo [72], Thực trạng và giải pháp phát triển lâm sản ngoài gỗ tại xã Hồ Sơn và Đại Đình thuộc vùng đệm VQG Tam Đảo [74], Nghiên cứu giải pháp cho phát triển các loài cây lâm sản ngoài gỗ phục vụ nhu cầu sinh kế và thu nhập của người dân vùng đệm VQG Tam Đảo [105] cũng đã đưa ra nhiều phương án cho người dân
sống ở vùng đệm VQG Tam Đảo bằng cách bảo tồn và phát triển các loại lâm sản ngoài gỗ, hoặc dựa vào đặc điểm sinh học của VQG Tam Đảo và tập quán của người dân sống ở vùng đệm của VQG về việc khai thác và gây trồng cây
thuốc dùng để chữa bệnh cho người và gia súc trong các công trình: Sử dụng và gây trồng cây thuốc tại hộ gia đình ở VQG Tam Đảo [29], Điều tra cây thuốc của người Sán Dìu xã Đạo Trù (vùng đệm VQG Tam Đảo) [58], Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững một số loài cây thuốc quí hiếm và nguy cấp tại VQG Tam Đảo [126]
Trang 2114
1.1.2.2 Nghiên cứu về dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam và sinh kế của họ
Theo ý kiến của một số tác giả như Ma Khánh Bằng với công trình
Người Sán Dìu ở Việt Nam [15], Diệp Trung Bình với Phong tục và nghi lễ chu
kỳ đời người của người dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam [18], Lâm Quang Hùng trong nghiên cứu về Người Sán Dìu ở Vĩnh Phúc [62] thì dân tộc Sán Dìu vốn
là tộc người nhỏ bé, sinh sống ở miền Nam Trung Quốc Trong lịch sử, vì không chịu nổi sự đàn áp, bóc lột tàn ác của chế độ phong kiến Trung Quốc, nhiều người Sán Dìu đã vượt qua biên giới Việt – Trung vào Việt Nam sinh sống khoảng trên dưới 300 năm nay (thế kỷ XVII) Người Sán Dìu có truyện thơ bằng chữ Hán là “Vũ Nhi”, truyền thuyết “ Vua Cóc” (Khảm suy vong) để chứng minh cho nguồn gốc, lịch sử tộc người của mình Truyền thuyết “Vua Cóc” này được miêu tả bằng một truyện thơ dài hơn 800 câu, mỗi câu 7 chữ, lưu truyền rộng rãi trong tộc người Sán Dìu với cốt chuyện nhiều lần nhắc tới địa danh Tân Châu, Linh Sơn, Hà Nam (Trung Quốc)
Từ Trung Quốc vào Việt Nam, người Sán Dìu đã qua Hoàng Chúc, Cao Sơn tới Hà Cối, Tiên Yên rồi tỏa theo dọc bờ biển để sang Đầm Hà vào Móng Cái và xuống Hoành Bồ, Mạo Khê, Đông Triều (Quảng Ninh) Một nhóm nhỏ
rẽ sang vùng Chí Linh (Hải Dương), còn đại bộ phận đã vượt qua dãy núi Yên
Tử vào Lục Ngạn, Lục Nam, Lạng Giang, Yên Thế (Bắc Giang) rồi từ đó chuyển sang Thái Nguyên, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc
Theo số liệu của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 thì dân tộc Sán Dìu có 146.821 người, cư trú chủ yếu ở vùng trung du các tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Giang, Quảng Ninh
- Các nghiên cứu về văn hóa vật chất
Người Sán Dìu từ khi du nhập vào Việt Nam đã có những hoạt động sinh
kế nổi bật như: trồng trọt, chăn nuôi, khai thác tự nhiên và làm một số nghề thủ công gia đình, các loại hình sinh kế này đã được các tác giả đề cập tới trong các
ấn phẩm như: Vị trí nương đồi và soi, bãi trong đời sống của người Sán Dìu [14], Người Sán Dìu ở Việt Nam [15], Văn hoá ẩm thực người Sán Dìu [20],
Trang 2215
Tìm về cội rễ: tập quán săn bắn và hái lượm truyền thống của người Sán Dìu [59], Một số tri thức dân gian liên quan đến trồng trọt của người Sán Dìu [60]
và Người Sán Dìu ở Vĩnh Phúc [62] Thông qua các công trình ấy, người đọc
có thể thấy được sinh kế truyền thống khá gắn bó với môi trường tự nhiên, gắn liền với phong tục và văn hoá của người Sán Dìu
Các tác giả Ma Khánh Bằng [15], Lâm Hùng [59], Diệp Trung Bình [20]
đã chỉ ra rằng: việc khai thác lâm thổ sản, săn bắn không phải là công việc thường xuyên, mà theo mùa hoặc những lúc công việc đồng áng nhàn rỗi Nguồn lâm thổ sản dồi dào như: gỗ, tre, nứa, lá, các loại củ có thể ăn được, các loại nấm, cây có tinh dầu và khá nhiều cây dược liệu [58] Lâm thổ sản ngoài việc tự cung tự cấp còn là nguồn thu nhập quan trọng của gia đình Ở một số nơi có đường giao thông thuận lợi, khoản thu nhập này chiếm đến một nửa tổng thu nhập của gia đình [15] Người Sán Dìu thường tổ chức săn bắn vào những tháng khô ráo sau vụ gặt mùa hoặc vào những ngày đầu xuân, vừa để giải trí, vừa kiếm thức ăn và cũng là một biện pháp bảo vệ mùa màng
Nhà ở của người Sán Dìu có qui mô nhỏ, 3 hoặc 5 gian 2 chái (kiêng làm nhà chẵn 2 hoặc 4 gian) Bộ sườn, cột, vì kèo đơn giản bằng tre hoặc gỗ không được bào trục trau chuốt Gian bên trong thường nhô ra phía trước tạo thành một cái hiên nhỏ ở gian chính giữa [62] Đặc biệt hai bên nhà chính nhất thiết phải có hai nhà phụ để làm bếp nấu ăn, kho chứa và làm chuồng trại gia súc Ngày nay, các thôn đều được mở rộng to hơn, các nhà cũ đều được thay mới giống nhà của người Kinh với các vật liệu được thay thế bằng gạch, vôi, xi măng, đổ mái bằng
hoặc lợp ngói được nói tới trong các nghiên cứu Người Sán Dìu ở Việt Nam [15], Phong tục và nghi lễ chu kỳ đời người của người Sán Dìu [18], Bước đầu tìm hiểu tập quán cưới xin truyền thống của người Sán Dìu [82]
Tổ chức xã hội của cộng đồng người Sán Dìu được đề cập tới trong các
tác phẩm Các dân tộc thiểu số ở Vĩnh Phúc [5], Vài nét về dân tộc Sán Dìu [13], Tri thức dân gian trong chu kỳ đời người Sán Dìu [21], Người Sán Dìu ở Vĩnh Phúc [62], Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc trong bối cảnh ngày nay [86], họ thường sống thành từng làng xóm
Trang 2316
nhỏ (khoảng 15 nóc nhà), làng to có tới 200 – 300 hộ như ở xã Đạo Trù, Tam Đảo, Vĩnh Phúc Trong quan hệ xã hội và sinh hoạt, họ vẫn lấy tình đoàn kết tương thân tương ái làm gốc, nên họ dễ dàng xuê xoa, bỏ qua những hiềm khích nhỏ Xã hội tộc người Sán Dìu có các giai cấp theo phân tầng của xã hội nông nghiệp: bần, cố, trung nông, phú nông, địa chủ Tất nhiên số lượng địa chủ không nhiều Ngoài ra còn có một tầng lớp người không giàu nhưng có nhiều ảnh hưởng tới nhân dân, đó là những người làm nghề thầy cúng, thầy bói, thầy thuốc Một điểm đặc biệt là người Sán Dìu chưa có tầng lớp thương nhân Khối lượng sản phẩm đưa vào lưu thông không đáng kể, những người buôn bán cũng chính là những người sản xuất ra chúng [15], [92], [123]
- Các nghiên cứu về văn hóa tinh thần
Trang phục của người Sán Dìu rất đơn giản Nam giới thường mặc áo ngắn, kiểu áo năm thân, màu nâu và thân cụt, ở trong thân có 1 túi đựng thuốc lào, giấy
tờ hoặc tiền bạc… Quần thường là màu nâu hoặc màu trắng, cắt theo kiểu chân què, cạp lá hoa, thắt lưng màu chàm, xanh Phụ nữ thường là mặc váy lá, áo ba mảnh, chân quấn xà cạp, đầu vấn tóc, đội khăn chàm vuông [82] Vào các dịp lễ hội và tết nguyên đán, đàn ông thường mặc áo dài màu đen, quần trong màu trắng,
áo năm thân và có hò cài khuy bên phải, ống tay hẹp, áo chỉ dài quá gối một chút Phụ nữ thường mặc trang phục truyền thống gồm có: khăn đội đầu, áo ngắn, áo dài, dây lưng, yếm, xà cạp Áo ngắn và áo dài cùng kiểu chỉ khác nhau về độ dài,
áo thường mặc thành từng cặp, áo ngoài bao giờ cũng là màu chàm, áo trong có thể là màu trắng Phụ nữ Sán Dìu thường mang một kiểu váy rất độc đáo, đó là kiểu váy không khâu, gồm hai hoặc bốn mảnh vải cùng đính trên một cạp, mảnh này chờm nên mảnh kia từ 15 – 20 cm Nếu là váy hai mảnh thì mảnh có từ ba đến bốn bức can lại với nhau [15], [20], [62]
Thường ngày, người Sán Dìu có hai bữa chính, bữa trưa và bữa tối; ngoài ra có thể còn có thêm 2 bữa phụ Thành phần thực phẩm thường rất đơn giản, chủ yếu là cơm tẻ, rau xanh, cà muối, tương, cá và họ rất ít khi ăn thịt Đặc biệt, một tập quán truyền thống của người Sán Dìu đó là họ thường ăn cháo loãng với cà nghém mỗi khi đi làm lao động về [20], [68] Ngoài ra, họ
Trang 2417
còn một số loại bánh trái đặc trưng riêng của dân tộc mình như: Bánh chưng
gù, bánh tro, bánh trứng kiến…[20], [62], [73]
Người Sán Dìu lấy việc thờ cúng tổ tiên là chính, đồng thời có thờ một số
vị thần trong vạn thần miếu của Phật giáo, Lão giáo và Khổng giáo Ngoài ra, họ còn tin ở một số thần, ma khác nữa, sâu đậm nhất phải là Đạo giáo [15], [18] Trong cung thờ, điện thờ, họ thường thờ phụng Thái thượng Lão quân và Tam Thanh (Ngọc Thanh, Thượng Thanh và Thái Thanh) Những người thừa hành là những ông thầy Tào Những người mà được họ chữa khỏi bệnh bằng phù phép trừ tà ma thì tự coi mình là con nuôi của thầy, là tín đồ của đạo Người Sán Dìu không có chùa chiền nhưng một số người có thờ Phật bà quan âm trong nhà và coi phật như là một thứ “cúi” (thần thánh) rất linh thiêng Những ma được thờ trong nhà là ma Mụ giống như bà Mụ của người Việt, mẹ Hoa của người Tày, Nùng Ngoài ra họ cũng thờ Táo Quân, ma thổ công giữ của không cho các ma
dữ vào trong nhà, ma thổ địa bảo vệ gia súc [13], [18], [92], [123]
Trong cộng đồng người Sán Dìu vẫn còn lưu giữ nhiều nghi lễ, phong tục, tập quán liên quan đến chu kỳ đời người kể từ khi sinh đẻ, trưởng thành, xây dựng gia đình cho đến khi chết đi và các nghi lễ lễ cúng áo quan, lễ đưa tang, lễ 100 ngày và đoạn tang…[15], [18], [62]
Dân tộc Sán Dìu có nhiều ngày tết trong năm như: tết Nguyên Đán được chuẩn bị đầy đủ và chu đáo nhất từ trước tết 16 ngày và sau tết 16 ngày; tết Thanh Minh thường diễn ra vào dịp tháng 3 âm lịch để người Sán Dìu răn dạy con cháu gìn giữ mồ mả tổ tiên, vào dịp này họ thường đi theo các dòng họ thăm viếng các mộ của dòng họ; tết Đoan Ngọ (tết mồng năm tháng năm) hay còn gọi
là tết giết sâu bọ để cho mùa màng được bội thu, đây cũng là dịp đi tìm kiếm thuốc nam về chữa bệnh, là ngày tết lớn thứ hai sau tết Nguyên Đán; tết 14 tháng
7 âm lịch, tết cơm mới diễn ra vào khoảng tháng 8 âm lịch với ý nghĩa dâng lên
tổ tiên và thổ thần cơm mới, gạo mới được thu hoạch; và tết Đông Chí [62]
Tóm lại, thông qua tổng quan tình hình nghiên cứu có thể nhận thấy rằng các công trình nghiên cứu về sinh kế, sinh kế tộc người có rất nhiều và đã nêu
ra được những khó khăn, thách thức của tộc người trong công cuộc mưu sinh
Trang 2518
Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu chuyên sâu nào về sinh kế của dân tộc Sán
Dìu ở vùng đệm VQG Tam Đảo khu vực tỉnh Vĩnh Phúc Do đó, luận án Sinh
kế của người Sán Dìu vùng đệm VQG Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc là một công
trình nghiên cứu tương đối toàn diện về sinh kế của người dân Sán Dìu ở hai thời điểm trước và sau khi thành lập VQG Tam Đảo Luận án kế thừa những nghiên cứu trước đó về văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần và các phân tích về chu kỳ đời người, tri thức dân gian của người Sán Dìu… cũng như một số nghiên cứu về phát triển du lịch tại VQG Tam Đảo, phát triển cây lâm sản ngoài gỗ… để làm cơ sở cho các nghiên cứu cụ thể về sinh kế của người Sán Dìu ở xã Đạo Trù dưới khía cạnh Nhân học, và định hướng một số nghiên cứu
về Nhân học kinh tế, Nhân học du lịch cho phát triển sinh kế bền vững nơi đây
Bằng các phương pháp nghiên cứu thực tế dựa trên những cơ sở dữ liệu thu thập được kết hợp với sự hỗ trợ phân tích dữ liệu không gian, dữ liệu thuộc tính của công nghệ GIS, phân tích xử lý các bảng điều tra, phỏng vấn bằng các phần mềm xác suất thống kê… để đưa ra được các kết quả phân tích khách quan, định lượng cho thấy sự biến đổi hoạt động sinh kế của người Sán Dìu trước và sau khi thành lập VQG, thấy được những ảnh hưởng của môi trường
tự nhiên tới sinh kế, đặc biệt là nguồn tài nguyên đất có tác động rất lớn tới sinh kế của người dân sống ở vùng đệm các khu BTTN và VQG nói chung cũng như người dân Sán Dìu nói riêng
Từ những kết quả nghiên cứu xác đáng, luận án đưa ra những giải pháp thích hợp cho việc phát triển sinh kế bền vững của người Sán Dìu, đóng góp thêm tư liệu tham khảo cho địa phương và cộng đồng dân tộc Sán Dìu nơi đây
Trang 26Khái niệm sinh kế cũng được giải thích trong Từ điển tiếng Việt với ý nghĩa “ sinh kế là việc làm, làm để kiếm ăn, kiếm sống” [80].
Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận án này, NCS sử dụng định nghĩa của Bộ phát triển quốc tế Anh (DFID) về sinh kế và đã được chấp thuận rộng rãi
như sau: sinh kế bao gồm khả năng, nguồn lực (gồm các nguồn lực vật chất và
xã hội) cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người [153]
Theo tác giả Chambers và Conway, một sinh kế được xem là bền vững khi
nó phải phát huy được hết tiềm năng con người để từ đó sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của họ Nó phải có khả năng đương đầu và vượt qua áp lực cũng như thay đổi bất ngờ Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai [70, tr 29]
- Phương thức mưu sinh
Theo nhiều tài liệu, phương thức mưu sinh là cụm từ được ghép bởi 2 từ là phương thức và mưu sinh Trong từ điển Cambridge của trường Đại học
Cambridge của Vương Quốc Anh cho rằng: Phương thức mưu sinh là một cách
cụ thể để làm điều gì đó cho con người hoặc tổ chức tiếp tục sống hoặc tồn tại
Từ điển tiếng Việt do Viện Ngôn Ngữ - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt
Nam ấn hành thì phương thức có nghĩa là cách thức và phương pháp tiến hành, còn mưu sinh là tìm cách để sinh sống Còn trong từ điển tiếng Việt do nhà xuất
Trang 2720
bản Từ điển bách khoa định nghĩa: Phương thức có nghĩa là phương pháp, cách thức, còn mưu sinh là làm ăn, làm việc để sống; như vậy, tựu chung lại phương thức mưu sinh là cách thức làm ăn, làm việc cụ thể, rõ ràng của con người để có
thể tiếp tục sống và tồn tại
- Biến đổi sinh kế
Biến đổi được hiểu là quá trình vận động, phát triển của tất cả các xã hội
(biến đổi xã hội) Biến đổi có tư cách như là sự thích nghi khi các thay đổi phụ
thuộc bối cảnh xuất hiện ở dạng biểu lộ của các biến thể riêng biệt mà không thay thế chính thức cho các mối quan hệ chức năng giữa các biến thể và bối
cảnh bộc lộ Biến đổi có tư cách như là chuyển đổi khi các mối quan hệ giữa
các biến thể thay thế cho những biến đổi định tính suy ra trong cấu trúc đồng
bộ như một tổng thể Những biến đổi thích nghi không chắc là để tiếp tục tồn tại nếu các tình huống trở về với một hiện trạng trước đó hoặc thay đổi lại một lần nữa Các biến đổi chuyển đổi thì có vẻ là để tồn tại trong các hoàn cảnh bị biến đổi và chắc chắn là để cung cấp một cơ sở nền tảng cho các phản ứng thích nghi mới với những tình huống nảy sinh [156]
Dưới góc độ rộng hơn, theo biến đổi xã hội thì biến đổi sinh kế có thể được hiểu là những thay thế đối với các hệ thống sinh kế hoặc sản xuất sẽ luôn luôn chứa đựng sự thay thế cho một hoặc nhiều về kích cỡ và kết cấu của nhóm công việc, và việc lên kế hoạch đối với các nhiệm vụ theo thời gian và không gian [156] Vì vậy, biến đổi sinh kế không thể không xảy ra dưới tác động của quá trình giao lưu, hội nhập và phát triển
- Văn hoá
Theo định nghĩa của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc (UNESCO) “Văn hoá có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội” UNESCO quan niệm có 2 loại di sản văn hoá, một là, di sản văn hoá vật thể như là các đình, chùa, lăng, mộ… hai là, di sản văn hoá phi vật thể bao gồm các biểu hiện tượng trưng của văn hoá được lưu truyền, biến đổi theo thời gian và có thể được trùng tu, tái tạo… Mối quan hệ,
Trang 2821
ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội là mối quan hệ nhiều chiều, mối quan hệ thích nghi, không thích nghi, biến đổi Chính kết quả của các quá trình này tác động tới việc hình thành những nét đặc thù của một bản sắc văn hoá, ứng xử đối với môi trường của một tộc người [149]
- Vườn quốc gia
Tại quyết định số 62/2005/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ngày 12 tháng 10 năm 2005 về việc ban hành Bản quy định về tiêu
chí phân loại rừng đặc dụng như sau:
Vườn quốc gia là một khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc có hợp phần đất ngập nước/biển, có diện tích đủ lớn để thực hiện mục đích bảo tồn một hay nhiều hệ sinh thái đặc trưng hoặc đại diện khỏi bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít; bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc bị đe dọa cho các thế hệ hôm nay
và mai sau
Vai trò, chức năng của VQG: a Bảo tồn và duy trì trong tình trạng tự nhiên các hệ sinh thái đặc trưng, đại diện, các quần xã sinh vật, các loài, nguồn gen; các đặc tính địa mạo, giá trị tinh thần và thẩm mỹ; b Phục vụ nghiên cứu khoa học về sinh thái, sinh học và bảo tồn; c Tham quan vì mục đích giáo dục, văn hóa, giải trí, tinh thần và du lịch sinh thái; d Tạo điều kiện cải thiện chất lượng đời sống của người dân sống trong và xung quanh VQG
Tiêu chí phân loại của VQG: a Khu vực bảo tồn bao gồm một hay nhiều mẫu đại diện cho các vùng sinh thái chủ yếu, có các loài sinh vật, các hiện tượng địa chất có giá trị đặc biệt về khoa học, giáo dục, tinh thần, giải trí hay phục hồi sức khoẻ cấp quốc gia hoặc/và quốc tế; b Mỗi VQG phải có ít nhất 2 loài sinh vật đặc hữu hoặc trên 10 loài ghi trong Sách đỏ của Việt nam; c Diện tích của VQG cần đủ rộng để duy trì sự bền vững về mặt sinh thái học, diện tích tối thiểu trên 7.000 ha (VQG trên đất liền), trên 5.000ha (VQG trên biển),
và trên 3.000ha (VQG đất ngập nước), trong đó còn ít nhất 70% diện tích là các
hệ sinh thái tự nhiên có giá trị đa dạng sinh học cao Tỉ lệ diện tích đất nông nghiệp và đất thổ cư so với diện tích VQG phải nhỏ hơn 5% Trong VQG
Trang 29- Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt
Là khu vực được bảo toàn nguyên vẹn, được quản lý, bảo vệ chặt chẽ để theo dõi diễn biến tự nhiên của rừng [Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004]
- Phân khu phục hồi sinh thái
Là khu vực được quản lý, bảo vệ chặt chẽ để rừng phục hồi, tái sinh tự nhiên [Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004]
- Phân khu dịch vụ - hành chính
Là khu vực để xây dựng các công trình làm việc và sinh hoạt của Ban quản lý rừng đặc dụng, các cơ sở nghiên cứu - thí nghiệm, dịch vụ du lịch, vui chơi, giải trí [Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004]
Như vậy, có thể nhận thấy được các khái niệm sinh kế và phương thức mưu sinh đều dẫn đến một ý niệm chung là sự sống và tồn tại của con người và các tộc người Phương thức mưu sinh chỉ rõ cách thức, phương pháp hành động cụ thể để sinh sống, còn sinh kế có nghĩa rộng hơn bao hàm các tiềm năng, nội lực, ngoại lực để con người hay các tộc người có thể dựa vào đó tìm cách sinh sống Một sinh kế hoặc phương thức mưu sinh chỉ có thể bền vững khi nó không gây ra nhiều tổn hại tới nguồn lực tự nhiên, xã hội, môi trường ở hiện tại và tương lai
1.2.2 Cơ sở lý thuyết
1.2.2.1 Khung sinh kế bền vững
Luận án sử dụng khung sinh kế bền vững của DFID – Bộ Phát triển Quốc
tế Vương quốc Anh để tiến hành nghiên cứu về sinh kế của người dân Sán Dìu
ở vùng đệm VQG Tam Đảo Có rất nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu thực hiện ở Việt Nam khi tiếp cận vấn đề sinh kế, sinh kế bền vững hay áp dụng
Trang 3023
khung sinh kế này và nó cũng trở thành một công cụ phổ biến và hữu hiệu được các quốc gia trên thế giới sử dụng trong các nghiên cứu phát triển, cũng như các chính sách và kế hoạch phát triển
Hình 1.1 Khung sinh kế bền vững của DFID (1999)
Tại Việt Nam, khi nghiên cứu về sinh kế thì khung sinh kế bền vững đã được đưa ra thảo luận, áp dụng trong nhiều nghiên cứu về nông thôn, xoá đói
giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa
Như vậy có thể thấy rằng, khung sinh kế bền vững nêu trên có thể áp dụng rộng rãi cho bất cứ đối tượng nào và ở nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng đặc biệt hiệu quả khi áp dụng trong phát triển nông thôn, lâm nghiệp, vùng đệm VQG và khu BTTN Khung sinh kế được phân tích thông qua việc tìm hiểu những vấn đề kinh tế - xã hội và quản lý các nguồn tài nguyên cơ bản trong sự phát triển của con người/các tộc người Cần có những phân tích cụ thể đối với từng loại rừng và khu bảo tồn thiên nhiên sao cho phù hợp với bối cảnh xã hội
và trình độ của người dân, cũng như năng lực đáp ứng các nguồn lực hỗ trợ để đảm bảo mục tiêu chung của công tác bảo tồn và sinh kế Khi tiến hành phân
H
N
S
H (Human capital): Nguồn vốn con người
S (Social capital): Nguồn vốn xã hội
N (Natural capital): Nguồn vốn tự nhiên
P (Physical capital): Nguồn vốn vật chất
F: (Financial capital): Nguồn vốn tài chính
KẾT QUẢ SINH KẾ
- Tăng thu nhập
- Tăng sự ổn định
- Giảm rủi ro
- Nâng cao an toàn lương thực
- Sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên
TÀI SẢN SINH KẾ
CHIẾN LƯỢC SINH KẾ
- Đơn vị tư nhân
Trang 3124
tích khung sinh kế bền vững cần xác định rõ những tác nhân chính ảnh hưởng đến sinh kế: những nguồn lực quan trọng đối với sinh kế địa phương; chất lượng những nguồn lực; ai sử dụng và có quyền quyết định những nguồn lực này; đánh giá những rủi ro, biến động của phương thức sinh kế; đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu của các dự án phát triển ở cả ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường địa phương
Khung sinh kế bền vững có 5 nguồn vốn sinh kế chính:
+ Vốn con người: Kỹ năng, kiến thức, khả năng và tiềm năng lao động, sức khỏe tốt, tất cả tạo cho con người/tộc người khả năng theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau
+ Vốn xã hội: Các nguồn lực xã hội mà con người/tộc người khai thác để theo đuổi các mục tiêu sinh kế, bao gồm các mạng lưới, thành viên các nhóm
và mối quan hệ tin cậy
+ Vốn tự nhiên: Các kho dự trữ tài nguyên thiên nhiên nơi bắt nguồn các nguồn lực là cần thiết cho sinh kế
+ Vốn vật chất: Cơ sở hạ tầng và hàng sản xuất để hỗ trợ sinh kế
+ Vốn tài chính: Những nguồn tài chính có sẵn để con người/tộc người tiếp tục sinh kế, bao gồm cả tiết kiệm và tín dụng
về một thế giới tốt đẹp hơn Phát triển bền vững là một sự phát triển thoả mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại nhưng không làm tổn hại tới khả năng đáp
Trang 3225
ứng những nhu cầu của thế hệ tương lai Hội nghị này đã đề ra 27 nguyên tắc phát triển bền vững với trọng tâm gắn quyền lợi và trách nhiệm của mỗi quốc gia trong việc bảo vệ môi trường, phát triển dựa trên phương thức kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo, công bằng xã hội, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, coi con người là trung tâm của những mối quan
hệ về sự phát triển lâu dài [111]
Luận án hướng tới giải pháp phát triển sinh kế bền vững thì không thể thiếu được các nghiên cứu, phân tích dựa trên lý thuyết về phát triển bền vững Trên cơ sở này, luận án mong muốn sẽ đưa ra giải pháp hướng tới một cuộc sống ổn định và bền vững cho người Sán Dìu vùng đệm VQG Tam Đảo
1.2.2.3 Lý thuyết sinh thái nhân văn
Để có thể hiểu rõ được bản chất vấn đề thì không thể thiếu được cơ sở lý thuyết sinh thái nhân văn trong việc nghiên cứu nguồn gốc, tập quán, sinh hoạt cũng như các nhu cầu cá nhân của tộc người mà tác giả Gorges Oliver đưa ra năm 1992 Sinh thái nhân văn là một khoa học nghiên cứu sự tương tác giữa môi trường và con người hoặc nghiên cứu về sự phân bố của loài người Sinh thái học bao hàm cả những đặc trưng xã hội tác động tới phân bố cũng như mức độ phong phú của sinh vật, sinh thái nhân văn ra đời góp phần nghiên cứu cụ thể hành vi của con người với môi trường [161]
Tác giả Lê Trọng Cúc và Terry Rambo (1995) đưa ra nhận định sinh thái nhân văn dựa trên mối quan hệ tương hỗ của hai hệ thống: một là, hệ sinh thái (là một hệ thống gồm có các nhân tố vô sinh và sinh vật tác động lẫn nhau tạo thành một hệ sinh thái thống nhất) và hệ xã hội (hệ thống hình thành dựa trên các yếu
tố dân số, văn hoá – xã hội, phong tục – tập quán, khoa học – kỹ thuật) [31]
Con người trong thực tế luôn luôn tác động tới mọi hệ sinh thái chứa nó Con người có khả năng bảo tồn, phát triển tài nguyên, môi trường thiên nhiên nhưng cũng có khả năng làm cạn kiện, suy thoái các nhân tố này
Trong khuôn khổ luận án, lý thuyết sinh thái nhân văn được áp dụng vào cộng đồng dân tộc Sán Dìu cư trú và mưu sinh và những ứng xử của họ với môi trường thiên nhiên, tài nguyên sẵn có ở vùng chân núi Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 3326
1.2.2.4 Lý thuyết về giao lưu tiếp biến văn hóa
Lý thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa hay văn hóa hỗn dung điển hình hoặc thuyết khuếch tán văn hóa đã được các tác giả như: F Rasel, L Frobenius, F Giabner, W.Schimidt… nói đến Họ quan niệm rằng giao lưu và tiếp biến văn hóa là hiện tượng xảy ra khi những nhóm người (cộng đồng, dân tộc) có văn hóa khác nhau giao lưu tiếp xúc với nhau tạo nên sự dung hợp, tổng hợp và tích hợp văn hóa ở các cộng đồng Ở đó có sự kết hợp giữa các yếu tố
“nội sinh” với các yếu tố “ngoại sinh” tạo nên sự phát triển văn hóa phong phú,
đa dạng và tiến bộ hơn Quá trình này luôn đòi hỏi mỗi tộc người phải xử lí tốt mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh, hai yếu tố này luôn có khả năng chuyển hóa cho nhau và rất khó tách biệt trong một thực thể văn hóa [149] Đối với dân tộc chủ thể, sự tiếp nhận các yếu tố ngoại sinh cũng có hai dạng thể hiện: một là tự nguyện tiếp nhận; hai là bị cưỡng bức tiếp nhận Mức độ của sự tiếp nhận trong giao lưu cũng khác nhau: có sự tiếp nhận đơn thuần và sự tiếp nhận sáng tạo Yếu tố ngoại sinh từ nền văn hóa bên ngoài, yếu tố nội sinh thuộc nền văn hóa chủ thể, có yếu tố ở giai đoạn này là ngoại sinh nhưng đến một giai đoạn nào đó nó bị mờ nhạt và trở thành nội sinh
Sự tương tác giữa hai yếu tố này thường diễn ra theo hai trạng thái: một là yếu
tố ngoại sinh lấn át, triệt tiêu yếu tố nội sinh; hai là có sự cộng hưởng lẫn nhau, yếu tố ngoại sinh dần dần trở thành yếu tố nội sinh Trạng thái thứ hai này có thể nhận thấy được trong văn hóa của người dân tộc Sán Dìu ở xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
Quan hệ biện chứng giữa yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh chính là sự thử thách đối với dân tộc chủ thể, đối với nội lực của chính nó, tức là đối với bản sắc và truyền thống văn hóa của tộc người tiếp nhận Như vậy, quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa là quy luật phát triển của văn hóa, quy luật tất yếu của đời sống tộc người
Trang 3427
1.3 Khái quát về địa bàn nghiên cứu
1.3.1 Quá trình hình thành Vườn quốc gia Tam Đảo
Dãy núi Tam Đảo là phần kết thúc của dải núi vòng cung Sông Gâm chạy dài từ Hà Giang đến Tam Đảo, thuộc về vùng núi Đông Bắc của Việt Nam Dãy núi này có đỉnh cao nhất là đỉnh Tam Đảo Bắc nằm trên đường ranh giới giữa 3 tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên và Vĩnh Phúc Người dân địa phương cho biết gọi là Tam Đảo vì trên dãy núi này có 3 đỉnh núi cao nhô lên giữa biển mây là đỉnh Thạch Bàn, Thiên Thị và Phù Nghĩa Ở trên dãy núi này
là khu rừng cấm quốc gia Tam Đảo với nhiều kiểu loại rừng khác nhau và có mức độ đa dạng sinh học rất cao, thuộc vào loại hàng đầu của Việt Nam
Ngày 6/3/1996 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Dự án khả thi đầu tư xây dựng, mở rộng và nâng cấp rừng cấm quốc gia Tam Đảo thành VQG Tam Đảo với tổng diện tích tự nhiên là 36.883 ha và diện tích vùng đệm là 15.515 ha theo Quyết định 136/TTg Vùng đệm VQG Tam Đảo bao gồm 23 xã, thị trấn thuộc 4 huyện của 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang, trong đó
có 6 xã, 1 thị trấn thuộc huyện Tam Đảo, 1 xã thuộc huyện Bình Xuyên (tỉnh Vĩnh Phúc), 10 xã thuộc huyện Đại Từ (tỉnh Thái Nguyên) và 5 xã thuộc huyện Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang)
1.3.2 Đặc điểm/điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
VQG Tam Đảo nằm trải dài từ 21o21’- 21o42’ độ vĩ Bắc và từ 105o23’-
105o44’ độ kinh Đông, nằm trên địa phận của 3 tỉnh: Vĩnh Phúc, Thái Nguyên
và Tuyên Quang Đây là dãy núi lớn dài 80 km, chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Ranh giới của VQG Tam Đảo được xác định: phía Đông giáp huyện Đại Từ (tỉnh Thái Nguyên); phía Tây giáp huyện Bình Xuyên và Tam Đảo (tỉnh Vĩnh Phúc); phía Nam và Đông Nam giáp huyện Phổ Yên (Thái Nguyên),Thị xã Phúc Yên (tỉnh Vĩnh Phúc); phía Bắc giáp huyện Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang) Phía Đông Bắc khu Tam Đảo giới hạn bởi quốc lộ 13A, từ ranh giới huyện Phổ Yên - Đại Từ (Thái Nguyên) đến Đèo Khế (Tuyên Quang) Phía Tây Nam là đường ô tô mới mở kéo dài từ quốc lộ 13A chỗ gần
Trang 35Tam Đảo là phần cuối của dãy núi cánh cung thượng nguồn sông Chảy Đặc điểm địa hình sườn Tam Đảo là các dãy núi nhọn, sườn rất dốc, độ chia cắt sâu và dày bởi nhiều dông phụ hầu như vuông góc ở dông chính Các suối ở vùng Đông Bắc đều đổ vào sông Công tạo nên vùng bồn địa Đại Từ Bên sườn Tây Nam, các lưu vực suối đều đổ vào sông Phó Đáy
Núi Tam Đảo chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, gồm trên 20 đỉnh núi được nối với nhau bằng đường dông sắc, nhọn, như một bức bình phong chắn gió mùa Đông Bắc cho vùng đồng bằng Các đỉnh có độ cao trên dưới 1000 m Đỉnh cao nhất là Tam Đảo Bắc (ranh giới giữa 3 tỉnh) cao 1.592m Ba đỉnh núi nổi tiếng của Tam Đảo là Thiên Thị (1.375m), Thạch Bàn (1.388m) và Phù Nghĩa (1.300m) Chiều ngang của khối núi rộng 10 – 15 km, sườn rất dốc và chia cắt mạnh Độ dốc bình quân từ 160
-35o, nhiều nơi độ dốc trên 35o Độ cao của núi giảm nhanh về phía Đông Bắc xuống lòng chảo Đại
Từ tạo nên những mái dông đứng; hướng Đông Nam có xu hướng giảm dần đến giáp địa phận Hà Nội [55] (xem bản đồ 3 tr.167)
Trang 3629
Tam Đảo được chia thành 4 kiểu địa hình chính:
Thung lũng giữa núi và đồng bằng ven sông suối có độ cao tuyệt đối dưới 100m, độ cao tương đối trên 10m Độ dốc dưới 7o Đây là vùng dưới chân núi và ven sông, suối
Đồi cao trung bình có độ cao tuyệt đối 100 - 400m, độ cao tương đối trên 25m Độ dốc từ cấp hai trở lên, phân bố chung quanh núi, tiếp giáp với đồng bằng
Núi thấp có độ cao tuyệt đối từ 400 - 700m, độ cao tương đối trên 400m Độ dốc trên cấp 3, phân bố giữa địa hình đồi núi cao đồi cao và trung bình
Núi trung bình có độ cao tương đối trên 700m, phân bố ở phần trên của khối núi, các đỉnh dông núi đều sắc nhọn và hiểm trở [57]
- Khí hậu, thủy văn
Tam Đảo nằm trong vùng khí hậu ẩm nhiệt đới gió mùa Điều kiện khí tượng thuỷ văn ở mỗi khu vực có sự khác biệt Có thể coi trạm khí tượng Tuyên Quang và Vĩnh Yên đặc trưng cho khí hậu sườn phía Tây, trạm Đại Từ đặc trưng cho sườn phía Đông, trạm Thị trấn Tam Đảo ở độ cao 900 m đặc trưng cho khí hậu vùng cao Lượng mưa trung bình hàng năm đạt đến 2.800 mm và tập trung trong mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 với khoảng 90% tổng lượng mưa của năm Các số liệu đo được tại các trạm được thể hiện trong bảng 1.1:
Bảng 1.1 Khí hậu vùng Tam Đảo Trạm
Yếu tố
Tuyên Quang Đại Từ Vĩnh Yên Tam
Đảo
Nhiệt độ bình quân năm (0oc) 22,9 22,9 23,7 18,0 Nhiệt độ tối cao tương đối 41,4 41,3 41,5 33,1
Lượng mưa bình quân năm (mm) 1.641,4 1.906,2 1.603,5 2.630,3
Trang 3730
Trạm
Yếu tố
Tuyên Quang Đại Từ Vĩnh Yên Tam
Nguồn: Số liệu Giới thiệu VQG Tam Đảo, năm 2010
VQG Tam Đảo nằm trong vùng phân thuỷ của hai con sông chính: ở phía Đông Bắc của khối núi là lưu vực sông Công, trong khi phía Tây Nam của khối núi nằm trong đường phân thủy của sông Phó Đáy
Hầu hết các sông, suối bên trong VQG đều dốc và chảy xiết, mạng lưới sông, suối hai sườn Tam Đảo dồn xuống chân núi với lưu lượng nước lớn Khi xuống tới các chân núi, suối thường chảy dọc theo các chân thung lũng dài và hẹp trước khi đổ ra vùng đồi và vùng đồng bằng Sông, suối trong vùng không
có khả năng vận chuyển thuỷ, chỉ có khả năng làm thuỷ điện nhỏ Việc đắp đập tạo hồ được thực hiện ở nhiều nơi quanh chân núi để phục vụ sản xuất
- Đa dạng sinh học
Theo Hiệp hội các VQG và khu BTTN (2008), đa dạng sinh học ở VQG Tam Đảo gồm có:
Đa dạng hệ thực vật
VQG Tam Đảo có 5 kiểu rừng chính:
Một là, rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới phân bố ở độ cao dưới 800m
Do ảnh hưởng của độ dốc nên kiểu rừng này còn thấy trên độ cao 900-1000m Trong
đó có nhiều loài gỗ quí có giá trị kinh tế: chò chỉ, dổi, re và trường mật
Hai là, rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới trên núi thấp phân bố ở
độ cao từ 800m trở lên Thực vật bao gồm các loài thuộc họ: re, giẻ, chè, mộc
Trang 3831
lan và sau sau Độ ẩm không khí ở đây luôn luôn cao nên rất thuận lợi cho rêu
và địa y phát triển Ở độ cao trên 1000m thường gặp các loài thuộc ngành thực vật hạt trần: thông nàng, thông tre, pơmu và sam bông
Ba là, rừng lùn trên đỉnh núi là kiểu hệ sinh thái phụ (rừng) đặc thù của
hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp Kiểu rừng này được hình thành trên đỉnh dông dốc hay các đỉnh núi cao, đất xương xẩu, tránh nắng gió và có mây mù thường xuyên bao phủ Ở kiểu rừng này cây gỗ thường
có kích thước bé nhỏ với thân xoắn, vặn Đất dưới tán rừng mỏng nhưng có tầng thảm thực vật dày có khi tới một mét như ở đỉnh Rùng Rình (Phù Nghĩa) Thực vật gồm giổi nhung, hồi núi, gối thuốc và các loài cây thuộc họ đỗ quyên
Bốn là, rừng tre nứa là loại rừng phục hồi sau nương rẫy hoặc khai thác Tre nứa mọc xen vào rừng cây gỗ đã bị chặt phá, nhiều nơi tre nứa mọc át các loài cây gỗ nhỏ trở thành rừng thuần tre, nứa; mật độ cao dưới 500m thường là nứa, 500-800 thường là giang và từ 800 trở lên chủ yếu là vầu và sặt gai
Năm là, rừng phục hồi sau nương rẫy thường gồm các loài cây gỗ ưa sáng, mọc nhanh: ba bét, ba soi, bồ cu vẽ, thẩu tấu, dền, dung và màng tang VQG Tam Đảo đã xác định được 904 loài thuộc 478 chi, 213 họ thực vật bậc cao Trong đó: Ngành Thông đất: 2 loài, 1 chi, 1 họ; Ngành Tháp bút: 1 loài, 1 chi, 1 họ; Ngành Dương xỉ: 57 loài; 27 chi, 22 họ; Ngành thực vật hạt trần: 12 loài, 7 chi, 7 họ; Ngành thực vật hạt kín: 832 loài, 442 chi, 182 họ
Theo sách đỏ Việt Nam (phần thực vật, 1996), VQG Tam Đảo có 64 loài
có tên trong danh sách các loài quí hiếm Trong đó: 7 loài ở mức đang nguy cấp (E); 9 loài ở mức sẽ nguy cấp (V); 23 loài hiếm (R); 11 loài ở mức bị đe doạ (T); 14 loài chưa biết rõ mức nguy cấp (K)
VQG Tam Đảo có 42 loài thực vật được coi là đặc hữu của vườn cần được bảo tồn và bảo vệ như: Dẻ tùng sọc trắng, Hoàng thảo, Trà hoa dài, Trà hoa vàng, Hoa tiên, Cỏ nhung…[57]
Đa dạng hệ động vật
Khu hệ động vật hoang dã VQG gia Tam Đảo gồm 307 loài Trong đó có: Thú: 64 loài thuộc 48 giống; Chim: 239 loài thuộc 140 giống; Bò sát: 76
Trang 39Những loài động vật quí hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam, 1992 gặp
ở VQG Tam Đảo gồm 56 loài Trong đó: Thú: 22 loài; Chim: 9 loài; Bò sát: 17 loài; Lưỡng cư: 7 loài; Côn trùng: 1 loài; trong đó: Mức đang nguy cấp (E): 5 loài thú, 1 loài bò sát, 1 lưỡng cư và 1 côn trùng; Mức sẽ nguy cấp (V): 12 loài thú, 4 bò sát và 1 lưỡng cư; Mức Hiếm (R): 4 loài thú, 2 loài chim, 5 bò sát và
2 loài lưỡng cư; Mức bị đe doạ (T): 1 loài thú, 7 loài chim, 7 loài bò sát và 3 loài lưỡng cư [57]
1.3.3 Vùng đệm vườn quốc gia Tam Đảo
Vùng đệm của VQG Tam Đảo trải dài xung quanh chân núi Tam Đảo thuộc ba tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang và Vĩnh Phúc có diện tích là 15.515
ha Trong đó, vùng đệm thuộc khu vực tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay là huyện Tam Đảo với một thị trấn và 8 xã, có 7 dân tộc anh em cùng chung sống và dân tộc Sán Dìu chiếm số lượng dân cư đông nhất trong cộng đồng các dân tộc thiểu số
ở đây Một số xã có đông người Sán Dìu sinh sống như Minh Quang:6.469 người, Hợp Châu: 2.902 người, Đại Đình: 2.848 người và tập trung đông nhất ở
xã Đạo Trù: 8.762 người Vùng đệm cũng mang đầy đủ những yếu tố về đặc điểm tự nhiên của VQG Tam Đảo như đã phân tích ở trên [57]
Ranh giới phân định giữa VQG và khu vực vùng đệm lấy đường đồng mức 400m trở xuống Tại khu vực giao nhau với VQG, người dân trồng rừng là chính với các loại cây như bạch đàn trắng, bạch đàn “rau rền”, keo tai tượng, keo
lá tràm Xuôi xuống dưới thấp hơn, người dân trồng các loại cây ăn quả như vãi, nhãn, chuối, dưa… xen lẫn là các bản làng và cánh đồng luá dưới chân núi
Dân số vùng đệm khu vực tỉnh Vĩnh Phúc phân bố không đồng đều, tập trung chủ yếu tại khu vực hành chính của huyện tại xã Hợp Châu với mật độ
Trang 4033
dân số lên đến 840 người/km2, sau đó là các xã có vị trí địa lý thuận lợi gần các trục đường giao thông và khu công nghiệp Xã Đạo Trù có mật độ dân số thấp nhất trong các xã vùng đệm, chỉ có 195 người/km2 Cơ cấu kinh tế chủ đạo của vùng vẫn là Nông, Lâm nghiệp khi lực lượng lao động làm trong lĩnh vực này
là 37.250 người; trong khi đó số người lao động làm trong lĩnh vực phi nông nghiệp chỉ là 3.821 người [137]
Ở vùng đệm, đất lâm nghiệp chiếm diện tích lớn nhất trong các loại đất canh tác với 68% tổng diện tích đất tự nhiên, đất nông nghiệp có rất ít, manh mún chỉ chiếm 22% tổng diện tích đất tự nhiên đã gây ra nhiều khó khăn cho người dân ở vùng này khi cây lương thực chính vẫn là cây lúa nước Trong những năm gần đây, mặc dù đã áp dụng nhiều giống lúa mới có năng suất cao, thâm canh cây lúa từ 1 vụ lên 2 vụ hoặc 3 vụ/năm, nhưng năng suất thu được vẫn rất thấp chỉ khoảng 35 – 40 tạ/năm, không đủ cung cấp lương thực cho các gia đình Họ phải sống dựa vào các nguồn thu nhập khác từ làm thuê, trồng màu, chăn nuôi gia súc và vào rừng săn bắn, khai thác trộm gỗ, củi, măng… bán lấy tiền phục vụ sinh hoạt của gia đình
Những năm gần đây, VQG Tam Đảo quản lý chặt chẽ tài nguyên rừng do vậy nạn săn bắn và khai thác gỗ, củi trái phép giảm đi nhiều, đồng thời huyện Tam Đảo mạnh dạn đưa vào nhiều mô hình kinh tế mới nhằm đa dạng các thành phần kinh tế như kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại, phát triển tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ du lịch cũng đã giúp cho đời sống của người dân được
ổn định và nâng cao hơn
Đạo Trù là Xã vùng đệm của VQG Tam Đảo thuộc huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc Hệ thống giao thông của Xã gồm có một đường liên tỉnh 302 nối với quốc lộ 2C qua huyện Lập Thạch, ba đường giao thông kết nối các xã khác; đường liên xã thứ nhất nối quốc lộ 2B và chạy qua trung tâm xã đi huyện Sơn Dương, Tuyên Quang; đường liên xã thứ hai đi xã Bồ Lý qua Bến Trang thông
ra quốc lộ 2C; đường liên xã thứ ba đi xã Yên Dương, huyện Tam Đảo (xem bản đồ 1, tr 165)