1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý dịch vụ công ích đô thị tại thành phố bắc kạn

121 428 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 2,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những yêu cầu của thực tiễn nêu trên, đề tài “Quản lý dịch vụ công ích đô thị tại thành phố Bắc Kạn” được đặt ra nhằm mục đích tìm ra các mặt tích cực và hạn chế của công tác quản lý

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN THỊ NHUNG

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi trực tiếp thực hiện

cùng với sự hướng dẫn của TS TRẦN THỊ NHUNG - Trường Đại học Kinh

tế và Quản trị kinh doanh Các số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực

và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác Các thôngtin, trích dẫn trong luận văn được chỉ dẫn nguồn gốc và nghiên cứu đầy đủ.Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

Thái Nguyên, ngày 16 tháng 7 năm 2018

Tác giả luận văn

Âu Thị Vui

Trang 4

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, các khoa,phòng của Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh đã tạo điều kiệngiúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luậnvăn này.

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn

TS Trần Thị Nhung

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn được sự giúp đỡ của bạn bè,đồng nghiệp và gia đình về mọi mặt để tôi hoàn thành nghiên cứu này

Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với sự giúp đỡ quý báu đó

Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 16 tháng 7 năm 2018

Tác giả luận văn

Âu Thị Vui

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

i LỜI CẢM ƠN .ii MỤC LỤC .iii DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài

1 2 Mục tiêu nghiên cứu

2 3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Những đóng góp chủ yếu của Luận văn 4

5 Kết cấu của luận văn

4 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ DỊCH VỤ CÔNG ÍCH ĐÔ THỊ

5 1.1 Cơ sở lý luận về dịch vụ công ích đô thị và quản lý dịch vụ công ích đô thị

5 1.1.1 Cơ sở lý luận về dịch vụ công ích đô thị 5

1.1.2 Cơ sở lý luận về quản lý dịch vụ công ích đô thị 12

1.2 Kinh nghiệm thực tiễn về quản lý dịch vụ công ích đô thị 27

1.2.1 Kinh nghiệm quản lý dịch vụ công ích đô thị tại một số tỉnh 27

Trang 6

41.2.2 Bài học kinh nghiệm về quản lý dịch vụ vệ sinh môi trường đối với

Trang 7

2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 362.3 Hệ thống chỉ tiêu phân tích 372.3.1 Chỉ tiêu tổng hợp 372.3.2 Chỉ tiêu chi tiết

lý dịch vụ công ích đô thị tại thành phố Bắc Kạn

81

Chương 4: CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ DỊCH VỤ CÔNG ÍCH ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ BẮC

KẠN 86

Trang 8

64.1 Quan điểm, mục tiêu và định hướng nâng cao công tác quản lý dịch vụ công ích đô thị tại thành phố Bắc Kạn

Trang 9

4.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm quản lý hoạt động dịch vụ công ích đô thị

tại thành phố Bắc Kạn 89

4.2.1 Giải pháp về mô hình quản lý hoạt động dịch vụ công ích .89

4.2.2 Giải pháp về quy trình thực hiện dịch vụ công ích 90

4.2.3 Giải pháp về công tác xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động dịch vụ công ích 91

4.2.4 Giải pháp về Công tác tổ chức thực hiện quản lý hoạt động dịch vụ công ích 92

4.2.5 Một số giải pháp khác .93

4.3 Điều kiện thực hiện các giải pháp quản lý dịch vụ công ích .95

4.3.1 Đẩy mạnh cải cách hành chính 95

4.3.2 Xây dựng cơ chế chính sách .95

4.3.3 Sự chỉ đạo các cấp chính quyền địa phương 96

4.3.4 Tăng cường trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị có liên quan .97

4.4 Một số Kiến nghị .97

4.4.1 Kiến nghị với Quốc hội, chính phủ 97

4.4.2 Kiến nghị với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và đầu tư 98

4.4.3 Kiến nghị với cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương 98

KẾT LUẬN 100

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .101

PHỤ LỤC 103

Trang 10

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Chữ viết đấy đủ

DVCI Dịch vụ công ích đô thị

Quyết định UBND Ủy

ban nhân dân

HĐND Hội đồng nhân dân

QCVN Quy chuẩn việt nam

BTNMT Bộ tài nguyên và môi trường

NM Nhà máy

CP MTĐT Cổ phần môi trường đô thị

TP Thành phố

Trang 11

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bàng 3.1: Khối lượng duy trì cây xanh tại thành phố Bắc Kạn 52

Bảng 3.2: Ước tính khối lượng rác thu gom tại các phường, xã Thành phố Bắc Kạn 65

Bảng 3.3: Thành phần chủ yếu của rác thải sinh hoạt thành phố Bắc Kạn 66

Bảng 3.4: Lượng rác thải phát sinh tại các hộ dân ở các phường, xã thành phố Bắc Kạn 67

Bảng 3.5: Hiện trạng phương tiện vận chuyển rác thải sinh hoạt của Công ty Môi trường và Công trình đô thị Bắc Kạn 70

Bảng 3.6: Tổng hợp thực trạng thu gom rác thải ở các phường thành phố Bắc Kạn 71

Bảng 3.7: Tổng hợp thực trạng thu gom rác thải sinh hoạt tại các xã Thành phố Bắc Kạn 71

Bảng 3.8: Tổng số chuyến và lượng rác thu gom được trong 4 tháng đầu năm 2018 tại các phường, xã ở thành phố Bắc Kạn 72

Bảng 3.9: Mức thu phí thu gom rác thải ở thành phố Bắc Kạn 76

Bảng 3.10: Bảng thống kê mô tả các biến 79

Sơ đồ 3.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Kạn 45

Sơ đồ 3.2: Cơ cấu tổ chức bộ máy chính quyền của UBND Thành phố Bắc Kạn 50

Sơ đồ 3.3: Sơ đồ cung ứng các DVCI đô thị tại thành phố Bắc Kạn 51

Sơ đồ 3.4: Mô hình quản lý dịch vụ vệ sinh môi trường đô thị 57

Hình 3.1: Quy trình thu gom rác thải sinh hoạt 69

Trang 12

Trong xu thế hội nhập, đẩy mạnh công cuộc kiến thiết, công nghiệp hoá

và hiện đại hoá trên phạm vi cả nước, cũng giống nhiều đô thị khác, thànhphố Bắc Kạn cần phải là một trọng điểm năng động, nhanh chóng thay đổi, đểtrở thành hạt nhân, tạo động lực lan toả, thúc đẩy kinh tế toàn tỉnh phát triểnvới nhịp độ cao, nhanh chóng thu hẹp khoảng cách thu nhập so với các vùnglãnh thổ phát triển trong nước; tạo diện mạo mới không những cho riêngthành phố mà cho cả tỉnh Bắc Kạn

Để thực hiện được vai trò và trọng trách của mình đối với toàn tỉnh, đòihỏi thành phố Bắc Kạn phải được mở rộng, xây dựng mới và hiện đại hoá cáccông trình hạ tầng kinh tế - xã hội và đô thị, đáp ứng nhu cầu phát triển vàchất lượng sống ngày càng cao của nhân dân các dân tộc Sau hơn 20 năm đầu

tư xây dựng và phát triển, thành phố Bắc Kạn đã có nhiều thay đổi vượt bậc,

có nhiều yếu tố thuận lợi mới; cơ cấu kinh tế ngày càng thay đổi theo xuhướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ gắn với việc phát triển văn hóa, xãhội, bảo vệ tài nguyên môi trường; Cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hộiđược nâng cấp, đầu tư xây dựng từng bước đồng bộ Chất lượng cuộc sốngcủa người dân được nâng cao; đã khẳng định được vị trí trung tâm chính trị,kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông – anninh – quốc phòng, giao lưu trong vùng tỉnh, vùng liên tỉnh

Song song với việc phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của Thành phố

về kinh tế xã hội, cơ sở hạ tầng, đời sống xã hội ngày càng được nâng cao,quy mô dân cư ngày càng được mở rộng thì các yêu cầu cấp thiết về các dịch

Trang 13

vụ công ích (DVCI) đô thị ngày càng đòi hỏi mở rộng về quy mô, số lượngđồng thời yêu cầu về chất lượng các DVCI đô thị ngày càng đòi hỏi phải đượcnâng cao Một trong những vấn đề quan tâm và giải quyết bức xúc của tỉnh uỷ

và Uỷ ban nhân dân tỉnh là vấn đề vệ sinh môi trường đô thị Đây cũng là mộtvấn đề quan trọng, liên quan trực tiếp đến đời sống hàng ngày của hàng trămnghìn dân cư

Thành phố Bắc Kạn có 8 phường xã với những đặc điểm về tự nhiên,văn hóa, kinh tế xã hội riêng Nhưng có đặc điểm chung đó là đang trong quátrình phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bên cạnh đó dân số ngày mộttăng, dẫn đến lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ngày càng nhiều Do đócông tác quản lý rác thải là vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển nhằmđảm bảo được mục tiêu về kinh tế, môi trường và được sự quan tâm của Đảng

và nhà nước và nhân dân trong nhiều năm qua Trước tình hình cấp thiết trên

và nhằm đánh giá về công tác quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại khu đôthị thành phố Bắc Kạn, đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm góp phần bảo

vệ môi trường của thành phố Bắc Kạn và của toàn tỉnh

Từ những yêu cầu của thực tiễn nêu trên, đề tài “Quản lý dịch vụ công ích đô thị tại thành phố Bắc Kạn” được đặt ra nhằm mục đích tìm ra các mặt

tích cực và hạn chế của công tác quản lý các hoạt động DVCI đô thị tại thànhphố Bắc Kạn nói chung và tập trung vào đánh giá thực trạng công tác quản

lý vệ sinh môi trường (VSMT) trong thời gian qua, từ đó tìm ra các giải pháp,

đề xuất xây dựng một số mô hình tổ chức và cơ chế chính sách phù hợp đểquản lý VSMT tại thành phố Bắc Kạn

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Dựa trên cơ sở phân tích thực trạng công tác quản lý DVCI đô thị để từ

đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý dịch vụ công ích đô thị(cụ thể là dịch vụ vệ sinh môi trường) tại thành phố Bắc Kạn

Trang 14

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt độngdịch vụ công ích đô thị, dịch vụ vệ sinh môi trường, cụ thể quản lý hoạt độngthu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt;

- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dịch vụ công ích đôthị (cụ thể là dịch vụ vệ sinh môi trường) tại thành phố Bắc Kạn;

- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng công tác quản lý dịch vụ công ích đôthị (cụ thể là dịch vụ vệ sinh môi trường) tại thành phố Bắc Kạn;

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý dịch vụcông ích đô thị (cụ thể là dịch vụ vệ sinh môi trường) tại thành phố Bắc Kạn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động quản lý dịch vụ côngích tại thành phố Bắc Kạn, cụ thể đề tài tập trung vào nghiên cứu, phân tíchcông tác dịch vụ vệ sinh môi trường, bao gồm hoạt động thu gom, xử lý chấtthải rắn sinh hoạt tại thành phố Bắc Kạn

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian nghiên cứu: Tác giả tập trung thu thập thông tin, phântích số liệu và khảo sát tại các đơn vị trên địa bàn thành phố Bắc Kạn: Ủy ban

Nhân dân thành phố Bắc Kạn (Ban quản lý dịch vụ công ích thành phố Bắc

Kạn, phòng quản lý đô thị thành phố Bắc Kạn, phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Bắc Kạn, Phòng Tài chính - Kế hoạch thành phố Bắc Kạn),

Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Bắc Kạn và một số đơn vịkhác có liên quan

- Về thời gian nghiên cứu:

+ Số liệu thứ cấp: Thông tin phục vụ cho đề tài từ năm 2 013 đếnnăm 2017

+ Số liệu sơ cấp: Tháng 1-5/2018

- Về nội dung nghiên cứu:

+ Thực trạng quản lý các dịch vụ công ích đô thị, dịch vụ vệ sinh môitrường: Quét, thu gom vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bànthành phố Bắc Kạn

Trang 15

+ Các giải pháp, đề xuất xây dựng một số mô hình tổ chức và cơ chếchính sách phù hợp để quản lý dịch vụ vệ sinh môi trường: Quét, thu gom vậnchuyển và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Bắc Kạn.

+ Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý dịch vụ VSMT và thựctrạng các yếu tố ảnh hưởng đó trên địa bàn thành phố Bắc Kạn

4 Những đóng góp chủ yếu của Luận văn

- Góp phần hệ thống hóa và hoàn thiện lý luận về quản lý dịch vụ côngích, dịch vụ vệ sinh môi trường

- Đánh giá đúng về thực trạng quản lý dịch vụ công ích đô thị nóichung và dịch vụ vệ sinh môi trường nói riêng tại địa bàn thành phố Bắc Kạn

và chỉ ra những tồn tại, bất cập trong công tác quản lý dịch vụ công ích đô thị,dịch vụ vệ sinh môi trường tại địa bàn thành phố Bắc Kạn

- Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý dịch vụ công ích

đô thị và thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đó trên địa bàn thành phố Bắc Kạn

- Đưa ra các giải pháp nâng cao công tác quản lý dịch vụ công ích đôthị, cụ thể là các giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý dịch vụ vệ sinhmôi trường tại thành phố Bắc Kạn nhằm tăng cường xã hội hóa, giảm chingân sách hàng năm cho lĩnh vực này đồng thời tạo ra một cơ chế quan lý mớinăng động hơn từ đó ngày càng nâng cao năng lực phục vụ công cộng, phục

vụ người dân

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văngồm 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý dịch vụ công ích đô thị

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng quản lý dịch vụ công ích đô thị tại thành phố Bắc Kạn Chương 4: Giải pháp tăng cường quản lý dịch vụ công ích đô thị tại thành phố Bắc Kạn

Trang 16

1 Là sản phẩm, dịch vụ thiết yếu đối với đời sống kinh tế - xã hộicủa đất nước, cộng đồng dân cư của một khu vực lãnh thổ hoặc bảo đảmquốc phòng, an ninh.

2 Việc sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ này theo cơ chế thịtrường khó có khả năng bù đắp chi phí

3 Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt giao kế hoạch, đấu thầutheo giá hoặc phí do nhà nước quy định

DVCI đô thị là một loại hình cụ thể của DVCI trong đó tập trung cungcấp các dịch vụ cơ bản, thiết yếu cho người dân và cộng đồng tại các khu vực

đô thị như: Vệ sinh môi trường, xử lý rác thải, cấp nước sạch, xử lý nước thải,quản lý hệ thống cây xanh đô thị, quản lý công viên quảng trường, quản lývận hành hệ thống chiếu sáng đô thị, vận tải công cộng đô thị

b) Dịch vụ vệ sinh môi trường

Môi trường có vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triểncủa con người nhưng ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh

tế, dân số tăng nhanh, môi trường sống của chúng ta đã và đang đe dạo, nhất

là ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên

Trang 17

Dịch vụ vệ sinh môi trường là loại dịch vụ hết sức cần thiết đối với đờisống xã hội Đó là loại dịch vụ nhằm làm đẹp môi trường, bao gồm thu gomrác thải, chất thải rắn ở các khu dân cư, các cơ quan nhà nước, trường học,bệnh viện, khu vui chơi giải trí, dịch vụ làm sạch các hệ thống nước thải, xử

lý chất thải

Dịch vụ vệ sinh môi trường là loại dịch vụ mang tính công ích, mộtloại dịch vụ thuộc trách nhiệm cung ứng của Nhà nước với các đặc điểmchủ yếu sau:

1.1.1.2 Các loại dịch vụ công ích đô thị

Các hoạt động DVCI đô thị hầu hết đều được cung ứng theo hình thứcnhà nước đứng ra tổ chức cung ứng dịch vụ theo hình thức nhà nước trực tiếpcung ứng hoặc giao cho một đơn vị thay mặt nhà nước cung ứng dịch vụ dưới

sự điều hành của nhà nước và nhà nước chủ động và cung cấp toàn bộ tàichính để duy trì các hoạt động này thông qua các hợp đồng giữa nhà nướchoặc các cơ quan giúp việc của nhà nước có thẩm quyền với đơn vị cung ứngdịch vụ

- Nhóm các hoạt động DVCI đô thị thường xuyên: Bao gồm các DVCI

đô thị thiết yếu diễn ra hàng ngày và được ký hợp đồng với đơn vị thực hiệntheo năm và thực hiện theo quy trình bao gồm:

+ Các dịch vụ về vệ sinh môi trường: Quét, thu gom vận chuyển và xử lýrác thải sinh hoạt, tưới nước rửa đường chống bụi, quét dải phân cách

+ Các dịch vụ về duy trì chăm sóc cây xanh, tiểu cảnh, quản lý côngviên, quảng trường, đài tưởng niệm

+ Xử lý nước thải sinh hoạt

+ Quản lý vận hành hệ thống điện chiếu sáng công cộng

- Nhóm các hoạt động DVCI phát sinh: Là nhóm các hoạt động DVCInhỏ lẻ phát sinh theo thời điểm chủ yếu để thực hiện công tác nạo vét cốngrãnh trước mùa mưa bão, thực hiện trang trí tuyên truyền vào các dịp lễ, tết,

Trang 18

các sự kiện chính trị, khắc phục hậu quả thiên tai Nhóm dịch vụ này thựchiện và vận hành như một hợp đồng riêng biệt.

1.1.1.3 Các hình thức cung ứng dịch vụ công ích

Tuỳ theo tính chất và loại hình, DVCI đô thị có thể do các cơ quan nhànước trực tiếp thực hiện hoặc có thể được chuyển giao cho khu vực phi nhànước Có thể thấy rõ rằng, theo thời gian, vai trò của nhà nước và các tác nhânkhác trong cung ứng DVCI có sự biến đổi đáng kể dẫn đến các dạng thứccung ứng dịch vụ công khác nhau Hiện nay, việc cung ứng DVCI ở hầu hếtcác nước thông thường được tiến hành theo các hình thức sau:

- Các cơ quan nhà nước trực tiếp cung ứng DVCI đô thị: Theo hình thức

này, nhà nước chịu trách nhiệm trực tiếp cung ứng DVCI Nhà nước với vaitrò chủ đạo của mình, cũng trực tiếp cung ứng các loại dịch vụ thuộc các lĩnhvực và địa bàn không thuận lợi đầu tư mà thị trường không thể hoặc khôngmuốn tham gia do chi phí quá lớn hay không có lợi nhuận

- Nhà nước chuyển một phần hoạt động cung ứng DVCI đô thị cho thịtrường dưới các hình thức:

+ Ủy quyền cho các công ty tư nhân hoặc tổ chức phi chính phủ cungứng một số DVCI mà nhà nước có trách nhiệm bảo đảm và thường có nguồnkinh phí từ ngân sách nhà nước như vệ sinh môi trường, thu gom và xử lý rácthải, xây dựng và xử lý hệ thống cống thoát nước v.v…Công ty tư nhân hoặc

tổ chức phi chính phủ được uỷ quyền phải tuân thủ những điều kiện do nhànước quy định và được nhà nước cấp kinh phí (loại dịch vụ nào có thu tiềncủa người thụ hưởng thì chỉ được nhà nước cấp một phần kinh phí)

+ Liên doanh cung ứng DVCI giữa nhà nước và một số đối tác trên cơ sởđóng góp nguồn lực, chia sẻ rủi ro và cùng phân chia lợi nhuận Hình thứcnày cho phép nhà nước giảm phần đầu tư từ ngân sách cho DVCI mà vẫntham gia quản lý trực tiếp và thường xuyên các dịch vụ này nhằm đảm bảo lợiích chung

Trang 19

+ Tư nhân hoá DVCI, trong đó nhà nước bán phương tiện và quyền chiphối của mình đối với dịch vụ nào đó cho tư nhân song vẫn giám sát và đảmbảo lợi ích công bằng pháp luật.

+ Mua DVCI từ khu vực tư nhân đối với các dịch vụ mà tư nhân cóthể làm tốt và giảm được số người làm dịch vụ trong cơ quan nhà nước,như bảo dưỡng phương tiện phòng cháy, chữa cháy, các phương tiện tinhọc, đáp ứng nhu cầu về phương tiện đi lại, làm vệ sinh và công việc phục

vụ trong cơ quan…

1.1.1.4 Đặc điểm của dịch vụ công ích đô thị

Ngoài những đặc điểm chung vốn có của dịch vụ công và DVCI thì hoạtđộng DVCI đô thị còn có một số đặc điểm riêng như sau:

- Các hoạt động DVCI đô thị của từng đô thị thì phụ thuộc vào điềukiện hạ tầng cơ sở, quy mô dân số của từng đô thị và mang đặc điểm riêngcủa từng đô thị

- Các hoạt động DVCI đô thị thường do nhà nước đảm nhận việc cungcấp dịch vụ và cung cấp nguồn tài chính để duy trì hoạt động mà không thuphí của người sử dụng

- Các hoạt động DVCI đô thị thường là các dịch vụ thiết yếu không thểthiếu trong việc duy trì và phát triển của bất kỳ đô thị nào và đòi hỏi dịch vụphải được cung cấp thường xuyên, liên tục

- Các hoạt động DVCI đô thị luôn vận động và phát triển cùng sự pháttriển của đô thị theo hướng mở rộng về quy mô, khối lượng, loại hình dịch vụđồng thời đòi hỏi ngày càng nâng cao chất lượng dịch vụ

1.1.1.5 Tác dụng của dịch vụ công ích đô thị trong tiến trình phát triển và vai trò quản lý, điều tiết của nhà nước trong cung ứng dịch vụ công ích đô thị

* Tác dụng của dịch vụ công ích đô thị trong phát triển kinh tế- xã hội

Tính ưu việt của một xã hội được phản chiếu một cách rõ ràng qua chấtlượng cung ứng dịch vụ công, bởi vì dịch vụ công ích là những hoạt động

Trang 20

phục vụ các lợi ích tối cần thiết của xã hội, đảm bảo cho xã hội phát triển bềnvững và có kỷ cương, trật tự Mọi xã hội đều có những vấn đề chung, liênquan đến cuộc sống của tất cả mọi người Đó là các vấn đề như trật tự trị an,phân hóa giàu nghèo, giáo dục, y tế, dân số, môi trường, tài nguyên,… Để giảiquyết thành công các vấn đề này, cần có sự góp sức của cả nhà nước, cộngđồng và các tổ chức xã hội thông qua việc cung ứng các dịch vụ công Nếucác dịch vụ công bị ngừng cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ, chất lượngthấp thì sẽ dẫn đến những rối loạn trong xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đếnđời sống của mỗi người dân, đồng thời tác động tiêu cực đến sự phát triển củamỗi quốc gia.

Nhìn chung, dịch vụ công đáp ứng những nhu cầu chung của xã hội vềcác lĩnh vực sau đây:

- Duy trì trật tự công cộng và an toàn xã hội như quốc phòng, an ninh,ngoại giao

- Bảo vệ trật tự kinh tế, trật tự mua bán trên thị trường thông qua việcxây dựng và thực thi thể chế kinh tế thị trường

- Cung cấp các tiện ích công cộng cho to àn thể thành viên trong xãhội như bảo vệ sức khỏe, giáo dục đào tạo, giao thông công cộng, thôngtin, thư viện công cộng

- Quản lý tài nguyên và tài sản công cộng như: quản lý tài sản nhà nước,bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên

- Bảo vệ quyền công dân, quyền con người

Đề cập sâu hơn tới tác dụng của việc cung ứng dịch vụ công, chúng ta cóthể lấy thí dụ trong lĩnh vực hành chính công Hành chính công có liên quanđến mức độ thoả mãn các nhu cầu công cộng của xã hội, liên quan đến tiến bộkinh tế, xã hội của một quốc gia Theo các nhà nghiên cứu Trung quốc1, tácdụng của hành chính công chủ yếu là tác dụng dẫn đường, tác dụng quản chế,

Trang 21

tác dụng phục vụ và tác dụng giúp đỡ Nói về tác dụng quản chế, tức là nhànước phát huy năng lực quản lý công cộng mang tính quyền uy, cưỡng chế để

xử lý, điều hòa các quan hệ xã hội và lợi ích xã hội, đảm bảo cho xã hội vậnhành tốt; còn về tác dụng giúp đỡ, đó chính là sự giúp đỡ của nhà nước đốivới các địa phương nghèo, những người có hoàn cảnh khó khăn, như giúp đỡngười nghèo, cứu tế xã hội, phúc lợi xã hội, bảo hiểm xã hội, y tế,… Việccung ứng dịch vụ hành chính công còn có tác dụng trực tiếp đến sự phát triểnkinh tế -xã hội của đất nước Khi cung cấp các dịch vụ này, nhà nước sử dụngquyền lực công để tạo ra dịch vụ như cấp các loại giấy phép, đăng ký, chứngthực, thị thực Tuy xét về mặt hình thức, sản phẩm của các dịch vụ này chỉ làcác loại văn bản giấy tờ, nhưng chúng lại có tác dụng chi phối quan trọng đếncác hoạt động kinh tế- xã hội của đất nước Chẳng hạn, giấy đăng ký kinhdoanh của doanh nghiệp thể hiện việc nhà nước công nhận doanh nghiệp đó

ra đời và đi vào hoạt động, điều này dẫn đến những tác động và kết quả đáng

kể về mặt kinh tế - xã hội Ngoài ra, thông qua việc cung ứng dịch vụ công,nhà nước sử dụng quyền lực của mình để đảm bảo quyền dân chủ và cácquyền hợp pháp khác của công dân

Nguyên tắc nhà nước phải chịu trách nhiệm cao nhất và cũng là tráchnhiệm cuối cùng đối với việc cung ứng đầy đủ về số lượng, chất lượng, cóhiệu quả dịch vụ công cho dù là nhà nước tiến hành thực hiện trực tiếp haythông qua các tổ chức và cá nhân khác là một lá chắn bảo vệ an toàn cho cuộcsống của mỗi người dân Với việc nhà nước bảo đảm sự công bằng, bình đẳngcho công dân, nhất là nhóm dân cư dễ bị tổn thương, trong việc tiếp cận vàhưởng thụ các dịch vụ công thiết yếu liên quan trực tiếp tới đời sống như y tế,giáo dục, an sinh xã hội…, người dân được hưởng các quyền sống cơ bản củamình, trên cơ sở đó học tập, làm việc nâng cao mức sống của bản thân vàđóng góp nhiều hơn cho xã hội Như vậy, dịch vụ công có tác dụng cực kỳ to

Trang 22

lớn đối với sự phát triển của đất nước và từng người dân, và là yếu tố quantrọng góp phần ổn định xã hội.

* Vai trò quản lý và điều tiết của nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công ích đô thị

Chúng ta đều biết rằng, nhà nước của bất kỳ chế độ nào cũng bao gồmhai chức năng cơ bản: chức năng quản lý (hay còn gọi là chức năng cai trị) vàchức năng phục vụ (hay còn gọi là chức năng cung cấp dịch vụ cho xã hội).Hai chức năng này thâm nhập vào nhau, trong đó chức năng phục vụ là chủyếu, chức năng quản lý xét đến cùng cũng nhằm phục vụ Với chức năng phục

vụ, như đã phân tích ở các phần trên, nhà nước có trách nhiệm cung ứng cácdịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội Bên cạnh đó, với chức năng quản lý,nhà nước phải thực hiện vai trò quản lý và điều tiết xã hội nói chung, trong đó

có vấn đề dịch vụ công ích Nhà nước bằng quyền lực của mình, thông quacác công cụ quản lý vĩ mô như pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, đểquản lý và điều tiết hoạt động cung ứng dịch vụ công, qua đó làm tăng hiệuquả cung ứng dịch vụ công ích trong toàn xã hội

- Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chứcphi chính phủ, các tổ chức tự quản của cộng đồng tham gia cung ứng dịch vụcông ích

Vai trò này vượt ra khỏi phạm vi quản lý nhà nước thuần túy, xuất phát

từ việc xác định trách nhiệm cao nhất và đến cùng của nhà nước trong lĩnhvực dịch vụ công không có nghĩa là nhà nước phải trực tiếp cung ứng toàn bộcác dịch vụ này Thực hiện vai trò này, nhà nước cần hoàn thiện cơ chế, chínhsách khuyến khích tư nhân, các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội của ngườidân tham gia cung ứng dịch vụ công Cơ chế, chính sách ấy bao gồm: vạch rõnhững lĩnh vực dịch vụ cần khuyến khích sự tham gia của khu vực phi nhànước, chính sách hỗ trợ tài chính, chính sách thuế, các điều kiện vật chất, cácchính sách đào tạo, kiểm tra và kiểm soát, Nhà nước cần tạo ra một môi

Trang 23

trường pháp lý chung cho tất cả các đơn vị cung ứng dịch vụ công, đảm bảomột sân chơi bình đẳng cho tất cả các nhà cung ứng dịch vụ công.

- Nhà nước quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ sở ngoàinhà nước cung ứng dịch vụ công ích

Xét cho cùng, nhà nước vẫn là người chịu trách nhiệm cuối cùng trước xã hội

về số lượng cũng như chất lượng dịch vụ công, kể cả các dịch vụ công đượcthực hiện bởi các công ty tư nhân hay các tổ chức kinh tế-xã hội Trong khi

đó, đối với các công ty tư nhân, các tổ chức, cá nhân đảm nhận các dịch vụcông, lợi ích của chính bản thân họ không phải bao giờ cũng thống nhất vớilợi ích của nhà nước, của xã hội Vì vậy, nhà nước phải tạo ra cơ chế để cáctác nhân bên ngoài nhà nước khi đảm nhận các dịch vụ công thực hiện mụctiêu xã hội Xây dựng hệ thống chỉ tiêu chất lượng dịch vụ công để đánh giáhoạt động của các đơn vị cung cấp, giám sát và kiểm tra hoạt động của các cơ

sở này Nhà nước cần định hướng phát triển đối với khu vực tư nhân, hướngkhu vực tư nhân vào những lĩnh vực mà tư nhân hoạt động hiệu quả, đồngthời tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm không ngừng cải tiến việccung ứng dịch vụ công cho xã hội Điều cốt lõi là nhà nước phải cân nhắc,tính toán và giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa lợi ích của nhà nước, của

xã hội với lợi ích của tổ chức và cá nhân tham gia cung ứng dịch vụ công

1.1.2 Cơ sở lý luận về quản lý dịch vụ công ích đô thị

1.1.2.1 Khái niệm

- Theo Nghị định 130/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của chính phủ vềsản xuất và cưng ứng sản phẩm DVCI thì “Sản phẩm, DVCI” được xác định

là sản phẩm, dịch vụ khi đồng thời đáp ứng các tiêu chí sau đây:

a) Là sản phẩm, dịch vụ thiết yếu đối với đời sống kinh tế - xã hội củađất nước, cộng đồng dân cư của một khu vực lãnh thổ mà Nhà nước cần bảođảm vì lợi ích chung hoặc bảo đảm quốc phòng, an ninh;

Trang 24

b) Việc sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ này theo cơ chế thịtrường khó có khả năng bù đắp chi phí;

c) Được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đặt hàng, giao kế hoạch, tổchức đấu thầu theo giá hoặc phí do Nhà nước quy định

- Theo Luật Doanh nghiệp (2014) thì DVCI là: dịch vụ thiết yếu đối vớiđời sống, kinh tế, xã hội của đất nước, cộng đồng dân cư của một khu vựclãnh thổ hoặc bảo đảm quốc phòng, an ninh mà việc sản xuất, cung cấp theo

cơ chế thị trường thì khó có khả năng bù đắp chi phí đối với doanh nghiệp sảnxuất, cung ứng dịch vụ này, do đó được Nhà nước đặt hàng, giao kế hoạch,đấu thầu theo giá hoặc phí do Nhà nước quy định Cách định nghĩa này đượccác nhà làm chính sách nước ta đưa ra chỉ để tiện cho việc chi tiêu Ngân sáchnhưng lại không hội nhập với thông lệ quốc tế

- Theo kinh tế học công cộng, dịch vụ công ích là hàng hoá công cộng(public goods) Hàng hoá công cộng là những hàng hoá mà việc một cá nhânnày đang hưởng thụ lợi ích do hàng hoá đó tạo ra không ngăn cản nhữngngười khác cùng đồng thời hưởng thụ lợi ích của nó Hàng hoá công cộng cóhai thuộc tính cơ bản là:

+ Không có tính cạnh tranh (non-rivalrous) trong tiêu dùng, tức là khi cóthêm một người tiêu dùng thì cũng không làm giảm lợi ích của những ngườiđang tiêu dùng, chẳng hạn xem truyền hình;

+ Không có tính loại trừ (non- excludable) trong tiêu dùng, tức là khôngthể loại trừ, hoặc muốn loại trừ thì rất tốn kém, những cá nhân từ chối trả tiềncho dịch vụ đó, chẳng hạn kẻ trốn đóng phụ phí nước thải vẫn có thể hưởngdịch vụ thoát nước mưa và nước thải

Tuy vậy chỉ có hàng hoá công cộng thuần túy (pure public goods) mới cóđầy đủ hai thuộc tính đó, còn trong thực tế đa số hàng hoá công cộng là khôngthuần tuý (impure public goods) chỉ có phần nào các thuộc tính trên

Trang 25

Trong số các hàng hoá công cộng có những loại mà người ta cho rằng aicũng cần được tiêu dùng, bất kể thu nhập của họ là bao nhiêu, chẳng hạn giáodục tiểu học, tiêm chủng, nước sạch Hàng hoá công cộng đó gọi là hàng hoákhuyến dụng (merit goods).

- Theo ông Phạm Quang Lê trong sách “Dịch vụ công và xã hội hoá dịch

vụ công- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn “(Chu văn Thành chủ biên Nhà

XB Chính trị quốc gia Hà Nội.2004) thì DVCI là các hoạt động có tính chất

kinh tế hàng hoá do các doanh nghiệp công ích thực hiện theo yêu cầu của Nhà nước, không nhằm mục tiêu lợi nhuận để phục vụ nhân dân như cung cấp điện, nước, kết cấu hạ tầng, vệ sinh môi trường, phòng chống các dịch bệnh, vận tải công cộng, khuyến nông…

- Ngoài ra theo cách hiểu thông thường thì DVCI Là các hoạt động cungcấp các hàng hoá, dịch vụ cơ bản, thiết yếu cho người dân và cộng đồng như:

vệ sinh môi trường, xử lý rác thải, cấp nước sạch, vận tải công cộng đô thị,phòng chống thiên tai…chủ yếu do các doanh nghiệp nhà nước thực hiện Cómột số hoạt động ở địa bàn cơ sở do khu vực tư nhân đứng ra đảm nhiệm như

vệ sinh môi trường, thu gom vận chuyển rác thải ở một số đô thị nhỏ, cungứng nước sạch ở một số vùng nông thôn

Quản lý dịch vụ công ích là việc quản lý các hoạt động vệ sinh môitrường, xử lý rác thải, cấp nước sạch…nhằm đạt mục tiêu các chất gây ônhiễm môi trường không lan truyền ra khí quyển, thủy quyển, thạch quyển

1.1.2.2 Các đặc điểm quản lý dịch vụ công ích

- Dịch vụ công ích có tính xã hội, với mục tiêu chính là phục vụ lợi íchcộng đồng đáp ứng nhu cầu của tất cả công dân, không phân biệt giai cấp, địa

vị xã hội và bảo đảm công bằng và ổn định xã hội, mang tính quần chúngrộng rãi Mọi người đều có quyền ngang nhau trong việc tiếp cận các DVCIvới tư cách là đối tượng phục vụ của nhà nước Từ đó có thể thấy tính kinh tế,lợi nhuận không phải là điều kiện tiên quyết chi phối hoạt động DVCI

Trang 26

- DVCI cung ứng loại “hàng hóa” không phải bình thường mà là hànghóa đặc biệt do nhà nước cung ứng hoặc ủy nhiệm cho tổ chức, cá nhân thựchiện, đáp ứng nhu cầu toàn xã hội, bất kể các sản phẩm được tạo ra có hìnhthái hiện vật hay phi hiện vật.

- Việc trao đổi DVCI không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ Thôngthường, người sử dụng DVCI không trực tiếp trả tiền, hay đúng hơn là đã trảtiền dưới hình thức đóng thuế vào ngân sách nhà nước Cũng có những DVCI

mà người sử dụng vẫn phải trả một phần hoặc toàn bộ kinh phí; song nhànước vẫn có trách nhiệm đảm bảo cung ứng các dịch vụ này không nhằm mụctiêu lợi nhuận

- Từ góc độ kinh tế học, DVCI là các hoạt động cung ứng cho xã h ộimột loại hàng hoá công cộng Loại hàng hóa này mang lại lợi ích khôngchỉ cho những người mua nó, mà cho cả những người không phải trả tiềncho hàng hóa này

Với sự đa dạng của các loại DVCI , của các hình thức cung ứng DVCI ,

và những đặc điểm của DVCI , có thể thấy rằng cung ứng loại dịch vụ nàymột cách có hiệu quả không phải là một vấn đề đơn giản Nhà nước phải xácđịnh rõ loại dịch vụ nào nhà nước cần giữ vai trò cung ứng chủ đạo, loại dịch

vụ nào cần chuyển giao cho khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội, loại dịch

vụ nào nhà nước và khu vực tư nhân có thể phối hợp cung ứng và vai trò điềutiết, quản lý của nhà nước về vấn đề này như thế nào Kinh nghiệm của nhiềunước những năm qua cho thấy rằng, trong cung ứng DVCI , nhà nước chỉ trựctiếp thực hiện những loại dịch vụ công mà khu vực phi nhà nước không thểlàm được và không muốn làm Nếu nhà nước không chuyển giao việc cungứng dịch vụ công ở các lĩnh vực thích hợp cho khu vực phi nhà nước và cảicách việc cung ứng dịch vụ công của các cơ quan nhà nước, thì hiệu quả cungứng dịch vụ công về tổng thể sẽ bị giảm sút, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sốngcủa người dân và sự phát triển chung của toàn xã hội

Trang 27

1.1.2.3 Nội dung quản lý dịch vụ công ích

Theo như nghiên cứu ở phần trên, có rất nhiều loại dịch vụ công ích đôthị, mỗi loại sẽ có phương thức, quy trình quản lý khác nhau, trong phạm vi đềtài nghiên cứu tại trang 9 tác giả chỉ tập trung tìm hiểu quản lý dịch vụ vệ sinhmôi trường

- Các cơ quan nhà nước trực tiếp cung ứng DVCI Theo hình thức này,

nhà nước chịu trách nhiệm trực tiếp cung ứng DVCI Nhà nước với vai tròchủ đạo của mình, cũng trực tiếp cung ứng các loại dịch vụ thuộc các lĩnh vực

và địa bàn không thuận lợi đầu tư mà thị trường không thể hoặc không muốntham gia do chi phí quá lớn hay không có lợi nhuận

- Nhà nước chuyển một phần hoạt động cung ứng DVCI cho thị trường

dưới các hình thức:

+ Ủy quyền cho các công ty tư nhân hoặc tổ chức phi chính phủ cungứng một số DVCI mà nhà nước có trách nhiệm bảo đảm và thường có nguồnkinh phí từ ngân sách nhà nước như vệ sinh môi trường, thu gom và xử lý rácthải, xây dựng và xử lý hệ thống cống thoát nước v.v…Công ty tư nhân hoặc

tổ chức phi chính phủ được uỷ quyền phải tuân thủ những điều kiện do nhànước quy định và được nhà nước cấp kinh phí (loại dịch vụ nào có thu tiềncủa người thụ hưởng thì chỉ được nhà nước cấp một phần kinh phí)

Trang 28

+ Liên doanh cung ứng DVCI ích giữa nhà nước và một số đối tác trên

cơ sở đóng góp nguồn lực, chia sẻ rủi ro và cùng phân chia lợi nhuận Hìnhthức này cho phép nhà nước giảm phần đầu tư từ ngân sách cho DVCI mà vẫntham gia quản lý trực tiếp và thường xuyên các dịch vụ này nhằm đảm bảo lợiích chung

+ Tư nhân hoá DVCI , trong đó nhà nước bán phương tiện và quyền chiphối của mình đối với dịch vụ nào đó cho tư nhân song vẫn giám sát và đảmbảo lợi ích công bằng pháp luật

+ Mua DVCI từ khu vực tư nhân đối với các dịch vụ mà tư nhân cóthể làm tốt và giảm được số người làm dịch vụ trong cơ quan nhà nước,như bảo dưỡng phương tiện phòng cháy, chữa cháy, các phương tiện tinhọc, đáp ứng nhu cầu về phương tiện đi lại, làm vệ sinh và công việc phục

vụ trong cơ quan…

b Quá trình thực hiện hoạt động quản lý dịch vụ công ích

* Quy trình quản lý dịch vụ công ích:

Theo Nghị định 130/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của chính phủ về sảnxuất và cưng ứng sản phẩm DVCI thì

- Quy trình quản lý hoạt động dịch vụ cung ứng được thực hiện theotrình tự cung ứng dịch vụ công ích như sau:

+ Đấu thầu: trên cơ sở dự toán chi ngân sách nhà nước do tỉnh được tổchức triển khai đấu thầu lựa chọn đơn vị thực hiện sản xuất và cung ứng sảnphẩm, dịch vụ công ích theo quy định

Ngoài ra, việc tổ chức đấu thầu thực hiện sản xuất và cung ứng sảnphẩm, dịch vụ công ích được thực hiện khi có đủ các điều kiện như: Kế hoạchlựa chọn nhà thầu được phê duyệt; hồ sơ mời thầu đã được phê duyệt; thôngtin về đấu thầu đã được đăng tải theo quy định của pháp luật về đấu thầu Nhà thầu tham gia đấu thầu thực hiện sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụcông ích phải có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật hiện hành vềđấu thầu

Trang 29

Đấu thầu cung cấp dịch vụ sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước thựchiện theo quy định của Luật Đấu thầu và Nghị định số 6 3 / 2 01 4/ N Đ-CP n gày

26 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều củaLuật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu Quy trình lựa chọn nhà thầu

- Chuẩn bị lựa chọn nhà thầu;

+ Giao kế hoạch: Công tác lựa chọn nhà sản xuất và cung ứng sảnphẩm, dịch vụ công ích bằng phương thức giao kế hoạch được thực hiện theoquy định tại Nghị định số 130/2013/NĐ-CP

Việc tạm ứng, thanh toán, quyết toán thực hiện theo quy định của LuậtNgân sách nhà nước, Nghị định số 1 3 0 /2 0 13 / N Đ-CP và các văn bản hướngdẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước

Trang 30

+ Các nhà sản xuất và cung ứng sản phẩm, DVCI khác thực hiện theophương thức đặt hàng;

+ Trường hợp cung ứng sản phẩm, DVCI xây dựng được đơn giá, giácủa sản phẩm, DVCI và được cung ứng theo giá do Nhà nước quy định thìthực hiện theo phương thức đặt hàng Trường hợp cung ứng sản phẩm, DVCIchủ yếu phải thực hiện theo khối lượng hoặc chi phí hợp lý sản xuất và cungứng sản phẩm, DVCI , có thu phí, lệ phí theo quy định của pháp luật về phí và

lệ phí thì thực hiện theo phương thức giao kế hoạch

- Phương thức cung ứng các sản phẩm, DVCI quy định tại Danh mục BPhụ lục ban hành kèm theo Nghị định này do các nhà sản xuất và cung ứngsản phẩm, DVCI thực hiện theo phương thức đấu thầu hoặc đặt hàng Trườnghợp cung ứng sản phẩm, DVCI đáp ứng các điều kiện theo quy định tạiChương II Nghị định này thì thực hiện theo phương thức đấu thầu

- Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi chung

là Bộ quản lý ngành) và Ủyban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương (sau đây gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) có trách nhiệm xây dựng

và ban hành các quy định về quản lý sản phẩm, DVCI trong phạm vi chứcnăng, nhiệm vụ được giao, trong đó phải quy định về chất lượng, quy cách,định mức thực hiện, giá, đơn giá theo quy định của Nhà nước để chủ yếuthực hiện theo phương thức đấu thầu, đặt hàng

c Công tác xây dựng kế hoạch quản lý dịch vụ công ích đô thị

Công tác xây dựng kế hoạch quản lý dịch vụ công ích đô thị, cụ thể ởđây theo nghiên cứu của đề tài là dịch vụ VSMT được triển khai ở từng địaphương, căn cứ vào nhu cầu của địa phương đó trong từng giai đoạn cụ thể.Các chỉ tiêu kế hoạch về sản xuất và cung ứng các sản phẩm, DVCI đôthị của từng địa phương (tính đến cấp huyện) sẽ do UBND cấp huyện xâydựng kế hoạch hàng năm dựa trện:

Trang 31

- Dự toán thu, chi ngân sách do Nhà nước giao cho các cơ quan, tổ chức

có thẩm quyền về sản xuất và cung ứng sản phẩm, DVCI ;

- Kế hoạch thu phí và lệ phí (hoặc số tiền phí được để lại);

- Dự toán về chi phí hợp lý sản xuất và cung ứng sản phẩm, DVCI

Trên cơ sở kế hoạch DVCI được lập và xác định thì UBND cùng cấptrình HĐND cùng cấp xem xét thông qua làm cơ sở để triển khai thực hiệncho năm tiếp theo

d Công tác tổ chức thực hiện quản lý dịch vụ công ích đô thị

Quản lý dịch vụ công ích đô thị có vai trò quan trọng trong sự pháttriển của nền kinh tế nói chung và cuộc sống nói riêng của người dân BắcKạn Để công tác tổ chức quản lý dịch vụ công ích độ thị được thực hiện tốtthì cần phải quản lý tốt các hoạt động như: thu gom rác thải sinh hoạt; vậnchuyển và xử lý rác thải; hoạt động tưới nước rửa đường chống bụi và quéthút dải phân cách cứng đường giao thông

* Hoạt động thu gom rác thải sinh hoạt

- Hình thức thu gom: Thu gom bằng thủ công do công nhân thu gom ráctrực tiếp thực hiện

- Quy trình thu gom: Theo quy trình thực hiện đối với công tác này hàngngày công nhân thu gom rác đẩy xe gom dọc tuyến ngõ cần thu gom đồngthời gõ kẻng để thông báo để người dân trong khu vực mang rác ra đổ Côngnhân thu gom rác khi gõ kẻng thì bố trí dừng xe gom rác đợi người dân mangrác đổ lên xe gom và vận chuyển về nơi quy định Trong quá trình đẩy xegom dọc các tuyến ngõ để thu gom ngoài việc gõ kẻng thông báo vào đợingười dân ra đổ rác công nhân thu gom rác phải xúc d ọn toàn bộ những

mô rác trên đường, các túi bóng rác và các thùng rác của người dân đểbên đường Sau khi thu gom toàn bộ rác thì đẩy xe gom rác về nơi tập kếtrác tập trung che phủ vệ sinh trước khi chờ xe ép rác đến vận chuyển vềbãi xử lý Tần xuất thực hiện trung bình 2 lần/ ngày và phù hợp với quyluật sinh hoạt của người dân

Trang 32

* Hoạt động vận chuyển và xử lý rác thải

- Quy trình thực hiện

+ Công tác vận chuyển rác: Căn cứ vào sơ đồ và cung đường vận chuyểncủa các điểm tập kết rác hàng ngày xe ép rác di chuyển đến tất cả các điểmtập kết rác tập trung do thành phố phê duyệt và các điểm rác khác của các cơquan nhà hàng khách sạn để tổ chức vận chuyển toàn bộ khối lượng rác đãđược thu gom về điểm tập kết rác tập trung Tại mỗi điểm tập kết rác côngnhân vận hành xe ép rác kết hợp công nhân thu gom để đưa tất các các xegom rác vào vị trí thuận lợi để xe ép rác ép toàn bộ rác từ xe gom lên xe ép.Sau khi chuyển toàn bộ rác từ xe gom sang xe ép, công nhân thu gom có tráchnhiệm vệ sinh điểm rác, xắp xếp các xe gom vào đúng vị trí đảm bảo ngănnắp gọn gàng

+ Yêu cầu đối với công tác vận chuyển rác: Yêu cầu vận chuyển hết ráctrong ngày của tất các điểm rác và vận chuyển hết rác trước 23h đêm và 7hsáng hôm sau Trong qua trình vận chuyển rác đảm bảo vệ sinh, không pháttán mùi, không để rác thải rơi vãi ra đường, không để nước rác chảy ra đường

* Hoạt động tưới nước rửa đường chống bụi

- Hình thức thực hiện: Thực hiện bằng xe téc có vòi phun áp lực Áp suấtphun tại vòi phun yêu cầu 5kg/cm2, vận tốc xe khi phun từ 20 -25 km/h

- Quy trình thực hiện: Di chuyển xe téc đến lấy nước đúng tuyến quyđịnh, kiểm tra van khoá trước khi hớng nước Để miệng téc đúng họng nước,khi téc đầy khoá van họng nước, đậy nắp téc, khoá chặt Tiến hành phun tướinước rửa đường, dập bụi đúng theo lộ trình quy định Rửa đường: rửa sạch 2làn đường (rửa từ mép bó vỉa ra lòng đường bình quân 2m) Thời gian làmviệc từ 22 giờ và kết thúc vào 6 giờ sáng hôm sau

Yêu cầu về chất lượng: Đường rửa phải sạch sẽ, xe rửa di chuyển phảiđảm bảo đúng tốc độ quy định; nước rửa đường phải sử dụng nước ngọt vàđảm bảo tiêu chuẩn theo quy định; khối lượng rửa đường phải nghiệm thu xácnhận thợc tế

Trang 33

* Hoạt động quét hút dải phân cách cứng đường giao thông

- Hình thức cung úng dịch vụ: Thực hiện bằng xe chuyên dụng

- Quy trình thực hiện: Di chuyển xe ô tô quét hút tới địa điểm cần quét;Quét hút sát dải phân cách có chiều rộng mỗi bên là 1,5m Bật đèn công tác,kiểm tra các thông số trước khi cho xe vận hành; đảm bảo an toàn giao thôngtrong quá trình thực hiện nhiệm vụ Vận hành ô tô quét với tốc đô quy định.Khi rác đầy thì tiến hành đổ phế thải đúng nơi quy định Thời gian làm việc từ

18 giờ đến 22 giờ và kết thúc vào 6 giờ

Yêu cầu về chất lượng: Dải phân cách thường xuyên phải sạch sẽ, hútquét sạch cát; phương tiện vận hành phải đảm bảo tốc đô quy định Đổ phếthải đúng nơi quy định Đảm bảo an toàn giao thông khi thực hiện nhiệm vụ.Vận chuyển rác ra khỏi thành phố đúng thời gian quy định Phương tiện phảiđược vệ sinh sạch sẽ

e Công tác kiểm tra, giám sát dịch vụ công ích đô thị

Giám sát công tác quản lý nhà nước trong tổ chức thực hiện sản xuất,cung ứng sản phẩm và dịch vụ DV VSMT trên địa bàn là một công việc quantrọng góp phần vào nâng cao chất lượng dịch vụ công ích Công tác giám sát,kiểm tra và thanh tra đối với hoạt động này; việc chấp hành các quy định củanhà nước trong quá trình sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ DV VSMTcủa các công ty, đơn vị; tình hình khiếu nại, tố cáo; giải quyết khiếu nại, tốcáo trong hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ DV VSMT là các nội dungtrong khâu kiểm tra, giám sát việc quản lý hoạt động dịch vụ công ích Bêncạnh đó, tiến hành giám sát tình hình thực hiện các quy định của pháp luật vềsản xuất, cung ứng và sử dụng một số sản phẩm, dịch vụ DV VSMT cụ thểnhư: cấp, thoát nước đô thị; cấp nước sạch khu vực nông thôn; cấp điện, chiếusáng đô thị; dịch vụ tang lễ, nghĩa trang đô thị của các công ty, đơn vị cungứng các dịch vụ DV VSMT trên địa bàn tỉnh…

Bộ Xây dựng ban hành Thông tư số 14/TT-BXD ngày 28/12/2017,hướng dẫn xác định và quản lý chi phí dịch vụ dịch vụ công ích nói chung và

Trang 34

dịch vụ vệ sinh môi trường nói riêng Theo đó việc xác định và quản lý chiphí dịch vụ DV VSMT sẽ phù hợp hơn với thực tiễn, với quy mô đô thị vàtính chất của từng loại dịch vụ Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày15/2/2018, thay thế Thông tư số 06/2008/TT-BXD ngày 20/3/2008 hướng dẫnquản lý chi phí dịch vụ DV VSMT.

Thông tư 14/TT-BXD gồm 4 chương (9 điều), 2 phụ lục Trong đó, nộidung chương I gồm 3 điều quy định về phạm vi điều chỉnh (phù hợp với chứcnăng, nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Xây dựng được Chính phủ quy định tạiNghị định số 81/2017/NĐ-CP ngày 17/7/2017 và Nghị định số 130/2013/NĐ-

CP ngày 16/10/2013 về sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích),đối tượng áp dụng, nguyên tắc xác định và quản lý chi phí dịch vụ công ích

đô thị

Nội dung chương II, hướng dẫn xác định chi phí dịch vụ công ích đô thị,các yếu tố cấu thành của dự toán: Chi phí trực tiếp (chi phí vật liệu, chi phínhân công, chi phí sử dụng xe, máy, thiết bị thi công), chi phí quản lý chung(quy định theo từng loại dịch vụ công ích và từng loại đô thị), lợi nhuận địnhmức và thuế giá trị gia tăng (nếu có)

Nội dung chương III quy định các nội dung quản lý chi phí dịch vụ vệsinh môi trường: Quản lý định mức dự toán dịch vụ vệ sinh môi trường, quản

lý chi phí dịch vụ vệ sinh môi trường, giao trách nhiệm cho UBND các tỉnh,thành phố trực thuộc TƯ trong xây dựng đơn giá, xác định dự toán, thẩmđịnh, phê duyệt dự toán các chi phí phục vụ công tác quản lý dịch vụ vệ sinhmôi trường, chỉ đạo các doanh nghiệp sắp xếp lại tổ chức, tinh giản bộ máy,hoàn thiện phương thức tổ chức, nhằm nâng cao năng suất, tiết kiệm chi phí.Nội dung chương IV quy định các nội dung về xử lý chuyển tiếp và hiệulực thi hành

Theo đó, việc xác định chi phí trực tiếp (gồm chi phí vật liệu, chi phínhân công và chi phí sử dụng xe, máy, thiết bị thi công) được hướng dẫnnhư sau:

Trang 35

Chi phí trực tiếp = Σ Khối lượng của từng loại công tác dịch vụ vệ sinhmôi trường x Đơn giá của từng loại công tác dịch vụ vệ sinh môi trường

Trong đó: Khối lượng của từng loại công tác dịch vụ vệ sinh môi trườngđược xác định trên cơ sở kế hoạch theo định kỳ hoặc nhiệm vụ do cơ quannhà nước có thẩm quyền giao

- Đơn giá của từng loại công tác dịch vụ vệ sinh môi trường bao gồmđơn giá vật liệu; đơn giá nhân công; đơn giá sử dụng xe, máy, thiết bị thi công(xem chi tiết tại khoản 2 của phụ lục 2)

1.1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý dịch vụ công ích đô thị

1.1.2.4.1 Những yếu tố thuộc về người dân

a) Nhu cầu – tâm lý của người dân

Nhu cầu được hưởng không khí sạch, có nước uống, thức ăn và chỗ ởđảm bảo cuộc sống của cá nhân và gia đình, đồng thời yếu tố tâm lý chỉ cần

“sạch nhà mình” đã chi phối đến hành vi bảo vệ môi trường của mỗi cá nhân

b) Nhận thức của người dân

Những người nhận thức được tầm quan trọng của mình trong hoạt độngquản lý dịch vụ VSMT sẽ có xu hướng tham gia và vận động những ngườikhác trong cộng đồng cùng tham gia tích cực hơn trong các hoạt động này.Một phát hiện khác được đưa ra là không phải những người dân nhận thứcđúng sẽ có hành vi đúng Biểu hiện là nhiều người nhận thấy những khó khăncủa công tác quản lý rác thải do thiếu nguồn tài chính nhưng lại e ngại vàkhông muốn đóng thêm phí Rõ ràng, tồn tại khoảng cách giữa nhận thức vàhành vi của người dân

c) Đặc điểm xã hội của người dân

Đặc điểm xã hội của người dân có ảnh hưởng đến hoạt động quản lýdịch vụ công ích đô thị Một số đặc điểm xã hội như giới tính, định kiến vềgiới có ảnh hưởng đến hoạt động liên quan đến rác thải và quét dọn vệ sinh tạigia đình hay nơi công cộng Hay như nhóm tuổi, trình độ học vấn cũng sẽ cóảnh hưởng đến hoạt động vệ sinh môi trường đô thị, từ đó ảnh hưởng đến hoạtđộng quản lý này

Trang 36

1.1.2.4.2 Sự tham gia của các bên liên quan trong hoạt động quản lý dịch vụVSMT

a) Nhóm công nhân vệ sinh môi trường

Nhóm công nhân vệ sinh môi trường có ảnh hưởng đến hoạt động quản

lý dịch vụ VSMT theo 2 hướng Thứ nhất là công nhân vệ sinh môi trườngcàng tích cực tham gia bao nhiêu thì người dân sẽ tích cực tham gia bấy nhiêu,thứ hai là công nhân vệ sinh môi trường càng tích cực thì người dân càngkhông tích cực bấy nhiêu

b) Nhóm tự quản ở cơ sở: trưởng thôn/tổ trưởng tổ dân phố

Nhóm tự quản cũng có ảnh hưởng đến hoạt động quản lý dịch vụ côngích Sự ảnh hưởng này cũng theo hai hướng, ảnh hưởng tích cực hoặc ảnhhưởng tiêu cực đến hoạt động thu gom rác thải Nếu phân tích số liệu cho ảnhhưởng quan hệ thuận chiều giữa mức độ tham gia của người dân và của tổtrưởng tổ dân phố/trưởng thôn trong hoạt động thu gom rác thải Điều này đãảnh hưởng đến tính tích cực và ý thức của người dân hai thôn trong hoạt độngthu gom rác thải nói riêng và bảo vệ môi trường nói chung và ngược lại

c) Đoàn thể xã hội

Đoàn thể xã hội có vai trò động viên người dân thực hiện các quy định

về phân loại (nếu có) và thu gom rác Trong các đoàn thể xã hội tại cộngđồng, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh và Mặt trận Tổ quốc là những đoàn thểtham gia tích cực, trong khi đó Đoàn Thanh niên chưa thể hiện được vai tròđoàn thể thúc đẩy và huy động người dân tham gia quản lý rác thải tại khudân cư

d) Nhóm người thu mua phế liệu

Một trong các cách phân loại rác thải trong việc vệ sinh môi trườngđược nhiều người dân lựa chọn là lọc ra những chai lọ nhựa, báo bìa để đembán cho người thu mua phế liệu Câu hỏi đặt ra là nếu không có nhóm thumua phế liệu thì người dân có lọc ra những loại rác có thể tái chế không? Vànếu lọc ra rồi thì họ sẽ xử lý như thế nào tiếp theo? Rõ ràng, nhóm thu mua

Trang 37

phế liệu không chính thức này không chỉ có vai trò quan trọng trong cả hệthống quản lý rác thải mà còn có những ảnh hưởng nhất định đến hành viphân loại rác thải của người dân đô thị hiện nay.

e) Chính quyền cơ quan quản lý

Vai trò của chính quyền được thể hiện trước hết ở việc thông qua chingân sách của địa phương cho hoạt động quản lý dịch vụ VSMT tại các cơ sở

và định hướng chỉ đạo việc thực hiện hoạt động này Nếu có ý kiến trái chiềucủa người dân về hiệu quả hoạt động của chính quyền và tính minh bạch,công khai của chính quyền trong các hoạt động phân chia tài chính cũng nhưgiải đáp thắc mắc của người dân thì kết quả là không tạo được niềm tin và uytín trong cộng đồng dân cư, ảnh hưởng đến mức độ tham gia tích cực củangười dân trong các hoạt động quản lý dịch vụ VSMT tại địa phương vàngược lại

1.1.2.4.3 Những yếu tố xã hội

a) Các chính sách

Việc lồng ghép tiêu chí vệ sinh môi trường trong việc đánh giá “Giađình văn hóa” và “xây dựng nông thôn mới” sẽ thúc đẩy cho quá trình đảmbảo vệ sinh môi trường tại các khu dân cư Tuy nhiên, xuất hiện một thực tế làcác chính sách khi triển khai chưa đạt hiệu quả cao Bên cạnh đó, một sốchính sách và quy định quản lý vẫn có những hiệu ứng phụ, hạn chế sự thamgia của người dân Ví dụ như việc nam giới là người tham gia họp dântrong khi nữ giới là người thực hiện nhiều hơn các công việc liên quan đếnmôi trường và quản lý rác thải Một số chính sách không hợp lý, hoặc việcphổ biến chính sách, thông tin chưa đầy đủ cũng hạn chế sự tham gia củangười dân trong hoạt động này hoặc việc người dân thiếu thông tin về quyđịnh xử phạt những người có hành vi gây ô nhiễm môi trường, trong đó cóhành vi xả rác bừa bãi và không thu gom đúng địa điểm Ngoài ra, cácchính sách khen thưởng chưa được triển khai ở khu dân cư cũng hạn chế mức

độ tham gia của người dân

Trang 38

b) Các yếu tố văn hóa – xã hội

Trước đây cách thức thu gom, xử lý rác thải ở các vùng nông thôn cònmang nhiều tính tự phát và chưa có hệ thống Khi bắt đầu có những nhân tốmới, làm thay đổi thói quen này thì họ lại chưa kịp thích ứng, cả về nhậnthức, quan niệm và hành vi Do vậy, vẫn có một bộ phận người dân chưathực hiện thu gom rác thải đúng quy định, xử lý bằng cách đem đốt một cách

tự phát, gây ô nhiễm môi trường Bên cạnh đó, hành vi của tập thể và cộngđồng cũng chi phối đến hành vi của cá nhân Điều này được thể hiện khá rõtrong các cuộc thảo luận, bàn bạc lấy ý kiến người dân hay hành vi đổ ráctrong khu dân cư (thường theo ý kiến/ hành động của số đông)

c) Tuyên truyền

Hiệu quả của tuyên truyền qua một số đánh giá của người dân chưathực sự cao, còn mang nặng hình thức và chưa có những chương trình đánhgiá về hiệu quả của tuyên truyềnđến hành vi của người dân, đặc biệt là tuyêntruyềnqua hệ thống loa phát thanh của khu dân cư

1.2 Kinh nghiệm thực tiễn về quản lý dịch vụ công ích đô thị

1.2.1 Kinh nghiệm quản lý dịch vụ công ích đô thị tại một số tỉnh

Một chức năng của nhà nước là phải tổ chức cung ứng dịch vụ côngích như chiếu sáng, công viên, vệ sinh môi trường, xử lý rác thải, cấp vàthoát nước…Về nguyên tắc là 100% kinh phí phải lấy từ ngân sách nhànước Khi đô thị phát triển, nhu cầu về dịch vụ công ích càng tăng cao Ởnhững thành phố như TPHCM, Hà Nội, Đà Nẵng… càng phát triển thì nhucầu dịch vụ công ích càng lớn Hà Nội đang chi từ 4-5 nghìn tỷ đồng ngânsách mỗi năm cho dịch vụ công ích Những tỉnh như Bắc Ninh, Bắc Giang,

Hà Nam… hằng năm cũng chi khoảng vài trăm tỷ đồng cho các dịch vụ này.Phần lớn cho đến nay việc cung ứng dịch vụ công ích vẫn theo cơ chế baocấp như cấp phát, xin-cho Và cũng vì vậy nên rất kém hiệu quả vì không cócạnh tranh và rất kém minh bạch Trong khi đây là dịch vụ ảnh hưởng rất lớnđến cuộc sống của hàng chục triệu người tại đô thị

Trang 39

a) Kinh nghiệm của thành phố Hà Nội

Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Hà Nội, việc cơ giới hó atrong thu gom, xử lý rác thải đã được đẩy mạnh Công ty đã tiến hành thay

xe gom, trang bị thêm hàng chục xe quét hút Tại 4 quận nội thành cũ, chấtlượng vệ sinh môi trường (VSMT) đã được nâng cao khi đơn vị triển khai cơgiới hóa việc quét đường, quét hè bằng xe quét hút, thu gom, vận chuyển rácbằng xe cơ giới, Nhờ vậy, đến nay, đơn vị đã giảm được 287 điểm cẩu, 261

xe gom, tiết kiệm nhân công và chi phí sản xuất Qua đợt khảo sát của Ban

Đô thị cũng cho thấy, các đơn vị đồng tình cao với chỉ đạo của TP về việctăng cường cơ giới hóa các dịch vụ, giảm lao động thủ công, nâng cao hiệusuất, giảm chi phí Tuy vậy, quá trình thực hiện đã bộc lộ một số bất cập.Đáng lưu ý là TP chưa ban hành quy trình, định mức, đơn giá cho các hạngmục bằng cơ giới nên hiện vẫn thanh toán theo đơn giá duy trì thủ công.Theo Phó Giám đốc Công ty CP Dịch vụ môi trường Thăng Long NguyễnMạnh Tiến, từ 1/3/2017, Công ty thực hiện các gói thầu duy trì VSMT tạicác quận, huyện: Hoàng Mai, Phú Xuyên, Thanh Oai, Thường Tín Công ty

đã triển khai cơ giới hóa công tác duy trì VSMT, nhưng do chưa có quy trình,định mức cơ giới, dẫn đến khó khăn, chậm thanh quyết toán Tương tự, Công

ty TNHH MTV Môi trường đô thị Hà Nội cũng được giao đảm nhận duy trìVSMT tại 11 quận, huyện và đại lộ Thăng Long, đường Võ Nguyên Giáphiện vẫn thanh toán theo đơn giá duy trì thủ công như trước đây

TP đã áp dụng rộng rãi hình thức đấu thầu thay vì cơ chế đặt hàng các

DN như trước kia Cùng với việc đẩy mạnh cơ giới hóa, cách làm này bướcđầu đã giúp tăng cường tính minh bạch, cạnh tranh của việc cung ứng cácsản phẩm DVCI, tiết kiệm chi cho ngân sách Trên thực tế, để đảm bảo tínhđồng bộ, hợp lý với việc tổ chức đấu thầu, đặt hàng, trong năm 2016, SởXây dựng đã phối hợp rà soát, xây dựng quy trình, định mức kinh tế kỹ thuật

và đơn giá các lĩnh vực DVCI Kết quả trong lĩnh vực duy trì VSMT, kinh

Trang 40

phí tiết giảm (so với khối lượng thực hiện năm 2015) là 262 tỷ đồng, tươngứng giảm 29,21% Đối với công tác duy trì công viên, cây xanh, kinh phí tiếtgiảm 174 tỷ đồng, tương ứng giảm bình quân 40,15%.

b) Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng

Thực hiện chủ trương tăng cường công tác quản lý nhà nước, lập lạitrật tự kỷ cương trong lĩnh vực quản lý đô thị, thời gian qua, UBND thànhphố đã thành lập bộ phận theo dõi trực tuyến công tác quản lý đô thị trên địabàn Đà Nẵng tại phòng Quản lý Đô thị - Văn phòng UBND thành phố.Trong những năm qua, thành phố luôn chú trọng triển khai, giám sát côngtác sửa chữa cầu đường, hệ thống hạ tầng giao thông cơ bản nhằm đáp ứngnhu cầu đi làm của người dân Tuy nhiên hiện nay, nhiều tuyến đường trênđịa bàn thành phố vẫn còn tình trạng hư hỏng, bong tróc mặt đường, ổ gà, hệthống biển báo, hướng dẫn giao thông chưa hoàn thiện,… làm ảnh hưởngkhông nhỏ đến công tác an toàn giao thông Để khắc phục tình trạng này,UBND các quận, huyện phối hợp Công ty Quản lý cầu đường thường xuyên

tổ chức kiểm tra thực tế hiện trường, nhanh chóng có biện pháp sửa chữa,khắc phục hư hỏng các công trình giao thông công cộng; đồng thời tập trungchỉ đạo công tác tuyên truyền luật giao thông như: không uống rượu bia khitham gia giao thông; đi đúng làn đường, phần đường quy định; đội mũ bảohiểm đảm bảo chất lượng khi tham gia giao thông;… nhằm hưởng ứng năm

An toàn giao thông Có 11 lĩnh vực do 11 chuyên viên trực tiếp phụ tráchbao gồm: quản lý cá hạng mục rác thải, nhà vệ sinh công cộng, vệ sinh môitrường, khoáng sản; quản lý các dự án lớn đầu tư trong nước và ngoài nước;điện chiếu sáng, điện trang trí, bảng quảng cáo; công viên cây xanh và cảnhquan đô thị; điện sinh hoạt, điện sản xuất, điện cho các khu công nghiệp;duy tu sửa chữa cầu đường; quản lý các bãi biển, trật tự du lịch; tiến độ xâydựng, quản lý sử dụng và bố trí chung cư; cấp nước; quản lý các dựa án đầu

tư trong và ngoài nước (ngoài ngân sách); lĩnh vực thoát nước, nước thải,

Ngày đăng: 16/11/2018, 03:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Đoàn Thị Thu Hà (2003), "Dịch vụ công và vai trò của Nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ công", Kinh tế và phát triển, (69), tr. 39-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch vụ công và vai trò của Nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ công
Tác giả: Đoàn Thị Thu Hà
Năm: 2003
9. Hà Anh (2005), "Xã hội hóa công tác vệ sinh môi trường để Thủ đô xanh, sạch, đẹp" Báo Kinh tế & đô thị, 35(1119), ngày 6/4, tr. 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội hóa công tác vệ sinh môi trường để Thủ đô xanh,sạch, đẹp
Tác giả: Hà Anh
Năm: 2005
10. Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), Phân tích nghiên cứu dữ liệu với SPSS, Nhà xuất bản Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích nghiên cứu dữliệu với SPSS
Tác giả: Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức
Năm: 2008
16. Nghị định số 15/2015/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức đối tác công tư 17. Nguyễn Hoàng Anh (2008), Hiệu quả quản lý đầu tư công tại thành phốHồ Chí Minh: vấn đề và giải pháp, Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 15/2015/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức đối tác công tư"17. Nguyễn Hoàng Anh (2008)", Hiệu quả quản lý đầu tư công tại thành phố"Hồ Chí Minh: vấn đề và giải pháp
Tác giả: Nghị định số 15/2015/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức đối tác công tư 17. Nguyễn Hoàng Anh
Năm: 2008
18. Nguyễn Đình Tài (2010), “Nâng cao hiệu quả đầu tư công ở Việt Nam”, Tạp chí Tài chính, số 546, tr. 21-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả đầu tư công ở Việt Nam”,"Tạp chí Tài chính
Tác giả: Nguyễn Đình Tài
Năm: 2010
19. Nguyễn Đình Phan - Trần Kim Hào (2004), "Đổi mới quản lý hoạt động công ích", Kinh tế và dự báo, 4(372), tr. 3-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới quản lý hoạt độngcông ích
Tác giả: Nguyễn Đình Phan - Trần Kim Hào
Năm: 2004
20. Nguyễn Đình Phan - Trần Kim Hào (2004), "Đổi mới hoạt động công ích", Kinh tế và phát triển, (84), tr. 13-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới hoạt động côngích
Tác giả: Nguyễn Đình Phan - Trần Kim Hào
Năm: 2004
24. Trần Đình Ty (2005), Đổi mới cơ chế quản lý đầu từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước, Nhà xuất bản Lao Động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới cơ chế quản lý đầu từ nguồn vốn ngânsách Nhà nước
Tác giả: Trần Đình Ty
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao Động
Năm: 2005
5. Đề án xã hội hóa nguồn lực chỉnh trang đô thị và vệ sinh môi trường thành phố Bắc Kạn Khác
6. Đề án Các hình thức thu gom rác sinh hoạt trên địa bàn thành phố Bắc Kạn – Thực trạng và đề xuất Khác
7. Đề án Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Bắc Kạn đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 Khác
11. Nghị định số 13 0 /20 1 3 / N Đ -CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ về sản xuất và cung ứng sản phẩm DV VSMT Khác
12. Nghị định số 8 0/ 2 01 4/ NĐ-CP n gày 06/8/2014 của Chính phủ về thoát nước và xử lý nước thải Khác
13. Nghị định số 38 / 201 5/ N Đ -CP n gày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu Khác
14. Nghị định số 79 / 200 9/ N Đ -CP n gày 28/9/2009 của Chính phủ về quản lý chiếu sáng đô thị Khác
15. Nghị định số 64 / 201 0/ N Đ -CP n gày 11/6/2010 của Chính phủ về quản lý cây xanh Khác
21. Quyết định số 3598/QĐ-UBND ngày 12/11/2009 của UBND tỉnh Bắc Kạn về Quản lý chi phí DVCI đô thị trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn Khác
22. Quyết định số 4300/QĐ-UBND ngày 31/12/2015 về công bố bộ đơn giá DVCI đô thị trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn Khác
23. Quy hoạch BVMT thành phố Bắc Kạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Khác
25. Thông tư số 14/2017/TT-BXD ngày 28/12/2017 Hướng dẫn xác định và quản lý chi phí dịch vụ công ích đô thị Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w