1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với vấn đề công bằng xã hội tại tỉnh thái nguyên

125 145 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây chính là vấn đề phức tạp đang đặt ra cho đất nước ta đúng như Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã chỉ rõ: “Lý luận chưa giải quyết được một số vấn đề của thực tiễn đổi

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN NHẬT MINH

MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

VỚI VẤN ĐỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI

TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ

Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Người hướng dẫn khoa học: GS.,TS VŨ VĂN HÓA

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độclập của tôi Các số liệu, tài liệu sử dụng trong đề tài là hoàn toàn trung thực và cónguồn dẫn rõ ràng

Học viên

Nguyễn Nhật Minh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến GS.TS VŨ VĂNHÓA, người thầy đã nhiệt tình hướng dẫn, giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợicho tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn

Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy, cô trong trường Đại học Kinh tế Quản trị kinh doanh Thái Nguyên đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi có thêm kiếnthức mới, những hiểu biết sâu sắc hơn về chuyên ngành quản lý kinh tế

-Xin chân thành cảm ơn phòng Đào tạo trường Đại học Kinh tế - Quản trịkinh doanh Thái Nguyên đã tổ chức đào tạo và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trongsuốt thời gian học tập tại trường

Xin cảm ơn tập thể lãnh đạo và chuyên viên Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnhThái Nguyên đã tạo mọi điều kiện về thời gian và công tác chuyên môn để tôi hoànthành chương trình đào tạo thạc sỹ; xin cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè tôi đãluôn giúp đỡ tôi trong thời gian vừa qua

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 6

6 Kết cấu của luận văn 6

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI VẤN ĐỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI 7

1.1 Cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội 7

1.1.1 Tăng trưởng kinh tế .7

1.1.2 Công bằng xã hội 13

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế .18

1.1.4 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với vấn đề công bằng xã hội 21

1.1.5 Vai trò của quản lý nhà nước giải quyết mối quan hệ tăng trường kinh tế với vấn đề công bằng xã hội 27

1.2 Cơ sở thực tiễn về giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với vấn đề công bằng xã hội trong và ngoài nước 31

1.2.1 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới 31

1.2.2 Kinh nghiệm một số địa phương ở Việt Nam .37

1.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Tỉnh Thái Nguyên 41

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 43

Trang 5

2.2 Phương pháp nghiên cứu 43

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin: thu thập thông tin thứ cấp 43

2.2.2 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 43

2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 43

2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 45

2.3.1 Về kinh tế 45

2.3.2 Về văn hoá - xã hội - giáo dục - y tế 46

2.2.3 Các thước đo đánh giá sự bất bình đẳng và công bằng xã hội 48

Chương 3: THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI VẤN ĐỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN .51

3.1 Tổng quan về kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên 51

3.1.1 Về vị trí địa lý, tài nguyên 51

3.1.2 Về xã hội 51

3.1.3 Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội cơ bản của tỉnh Thái Nguyên 52

3.2 Quản lý nhà nước về kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội tại tỉnh Thái Nguyên 53

3.2.1 Các hoạt động quản lý nhà nước về kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội tại tỉnh Thái Nguyên 53

3.2.2 Kết quả đạt được về tăng trưởng kinh tế của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015 57

3.2.3 Tác động của tăng trưởng kinh tế đến công bằng xã hội ở tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015 58

3.2.4 Hiệu quả quản lý nhà nước về kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội tại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015 .67

3.3 Những bất cập trong quản lý nhà nước về kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội tại tỉnh Thái Nguyên 69

3.3.1 Xây dựng chính sách 69

3.3.2 Lập kế hoạch, đề án, chương trình 70

3.3.3 Triển khai thực hiện 70

3.3.4 Kiểm tra, đánh giá 73

Trang 6

3.3.5 Nguyên nhân của những bất cập 73

Chương 4: CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI VẤN ĐỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN 75

4.1 Quan điểm của Đảng về kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội và vai trò của nhà nước trong điều tiết mối quan hệ tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội 75

4.2 Những quan điểm và định hướng về kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội của chính quyền tỉnh Thái Nguyên .79

4.1.1 Quan điểm phát triển của tỉnh Thái Nguyên 79

4.1.2 Định hướng và mục tiêu của tỉnh Thái Nguyên về tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội giai đoạn 2016 - 2020 80

4.3 Những giải pháp quản lý nhà nước giải quyết mối quan hệ tăng trưởng kinh tế với vấn đề công bằng xã hội tại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016-2020 81

4.3.1 Xây dựng chính sách hợp lý dựa trên quy định của nhà nước 81

4.3.2 Lập kế hoạch, đề án, chương trình 82

4.3.3 Thực hiện chính sách tăng trưởng kinh tế bền vững gắn với công bằng xã hội 82

4.3.4 Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra đánh giá 95

4.4 Một số điều kiện nhằm thực hiện các giải pháp 97

4.4.1 Các chính sách kinh tế vĩ mô về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội 97

4.4.2 Vai trò của các Bộ, ngành liên quan 99

KẾT LUẬN 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

PHỤ LỤC 108

Trang 8

XH của Tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015 68

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Ba mặt của sự phát triển bền vững 9

Hình 1.2: Mô hình chữ U ngược 25

Hình 2.1: Đường cong Lorenz 49

Hình 3.1: Đường cong Lorenz tỉnh Thái Nguyên năm 2010 và 2014 64

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công cuộc đổi mới ở nước ta trong hơn hai thập kỷ qua đã đem lại nhữngthành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, trong đó tốc độ tăng trưởng kinh tế thuộc loạikhá cao so với mức tăng trưởng của các nước trong khu vực và trên thế giới Tốc độtăng trưởng kinh tế cao hơn thì đồng thời những đòi hỏi về công bằng xã hội cũnglớn hơn Đây chính là vấn đề phức tạp đang đặt ra cho đất nước ta đúng như Văn

kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã chỉ rõ: “Lý luận chưa giải quyết được

một số vấn đề của thực tiễn đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đặc biệt là trong việc giải quyết các mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và chất lượng phát triển; giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội”[14].

Thật vậy, giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xãhội không phải là một vấn đề đơn giản Tăng trưởng thường làm gia tăng tình trạngbất bình đẳng và không công bằng vì những người giàu sẽ được hưởng nhiều lợi íchhơn do tăng trưởng đem lại Nếu lấy kết quả tăng trưởng để giải quyết vấn đề côngbằng xã hội do chính tăng trưởng gây ra có thể sẽ làm giảm hoặc triệt tiêu các yếu

tố kích thích tăng trưởng Nhưng ngược lại, nếu không giải quyết vấn đề công bằng

xã hội thì xã hội sẽ không ổn định và như vậy sẽ không thể có tăng trưởng bềnvững Sự lựa chọn khó khăn giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội đã được

Đảng ta khẳng định trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X: “Thực

hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển” và “ Kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, địa phương” [14].

Để kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội, chúng ta phải giảiquyết hai vấn đề mấu chốt sau đây: Một là, làm thế nào để tận dụng những cơ hội

do tăng trưởng kinh tế đem lại nhằm thực hiện công bằng xã hội?; Hai là, làm thếnào để việc thực hiện công bằng xã hội sẽ tạo điều kiện tăng trưởng kinh tế cao vàbền vững? Việc đưa ra các giải pháp cụ thể và phù hợp với cơ cấu đặc thù riêng củanước ta phải xuất phát từ thực tiễn sinh động ở từng địa phương, từ những kinhnghiệm đã có, những mô hình, lý thuyết và nghiên cứu khoa học về mối quan hệ

Trang 11

giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Vì vậy, việc nhận thức đúng bản chấtmối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội không chỉ có ý nghĩa vềmặt nhận thức luận, về cơ sở khoa học thực tiễn mà vấn đề quan trọng hơn là tìmcho được những giải pháp phù hợp nhằm kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng

xã hội trong tình hình hiện nay ở nước ta nói chung và ở mỗi địa phương nói riêng.Lực lượng nòng cốt để thực hiện sự “kết hợp” ấy chính là nhà nước Muốn thànhcông, một mặt, chúng ta phải có quan niệm đúng đắn, khách quan trên quan điểmlịch sử cụ thể về công bằng xã hội; mặt khác, các chính sách, biện pháp giải quyếtcác vấn đề xã hội, thực hiện công bằng xã hội của nhà nước phải hướng vào sự pháttriển kinh tế, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế

Được xác định là trung tâm phát triển kinh tế, văn hóa, thể dục thể thao, giáodục, khoa học kỹ thuật, y tế, du lịch, dịch vụ của vùng Trung du và miền núi phíaBắc; là vùng cửa ngõ chuyển tiếp giữa vùng thủ đô Hà Nội với vùng Trung du vàmiền núi phía Bắc, những năm vừa qua Thái Nguyên đã triển khai xây dựng kếhoạch và tập trung thực hiện thu hút được một khối lượng lớn các nguồn vốn đầu tưphát triển, GRDP và GRDP bình quân đầu người tăng cao, hệ thống kết cấu hạ tầngkinh tế - xã hội được cải thiện đáng kể, năng lực sản xuất tăng nhanh, tạo tiền đềthúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo, cảithiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân

Bên cạnh đó, Thái Nguyên cũng còn gặp nhiều khó khăn trong việc khai tháccác tiềm năng thế mạnh của tỉnh Kinh tế phát triển chưa bền vững; chất lượng, hiệuquả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp; cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịchnhanh, nhưng chủ yếu phụ thuộc vào nguồn vốn đầu tư nước ngoài, khu vực doanhnghiệp trong nước gặp nhiều khó khăn; thực hiện công bằng xã hội nhìn chung cònbất cập và độ bao phủ chưa rộng; chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn làđiểm yếu cản trở sự phát triển Cải cách hành chính còn nhiều hạn chế, trình độ củađội ngũ cán bộ công chức tuy có cải thiện nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đổimới, hội nhập

Đề tài “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với vấn đề công bằng xã hội

tại tỉnh Thái Nguyên” được tác giả lựa chọn nhằm đưa ra những phân tích về thực

Trang 12

trạng quản lý kinh tế, việc thực hiện các vấn đề công bằng xã hội tại tỉnh TháiNguyên và các chính sách quản lý hiện tại của chính quyền tỉnh Thái Nguyên đểgiải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội và đề xuấtnhững kiến nghị chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Đề tài tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội đã có nhiều công trình nghiêncứu, nhiều lý thuyết và mô hình về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và côngbằng xã hội, nhiều bài báo, hội thảo khoa học v.v… đề cập đến vấn đề này ở cáckhía cạnh cũng như cách tiếp cận khác nhau

Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu ở Việt Nam hiện nay như:Đề tài cấp

bộ “Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ở Việt Nam với côngbằng xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới – Vấn đề và giải pháp” của TS NguyễnThị Nga (2006) đã xem xét mối quan hệ tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hộitrong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các mô hình kết hợp trênthế giới, đánh giá xu hướng phát triển ở Việt Nam và đề xuất một số giải pháp cơbản kết hợp tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thời kỳ đổi mới [26]

TS Bùi Đại Dũng và Ths Phạm Thu Phương (2009), “Tăng trưởng kinh tế

và công bằng xã hội”, cung cấp một số minh chứng định lượng về quan hệ tăngtrưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam [8]

PGS.TS Nguyễn Sinh Cúc (2011), ”Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế vớithực hiện tiến bộ, công bằng xã hội” giai đoạn 2001 - 2010”, phân tích một số vấn

đề phát sinh trong thực tế triển khai các chủ trương và chính sách lớn xử lý mốiquan hệ giữa tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội trong 10 năm2001-2010 và đề xuất các giải pháp cho chiến lược 2011-2020 [5]

Đánh giá về vai trò của nhà nước trong việc kết hợp tăng trưởng kinh tế vớicông bằng xã hội cũng có nhiều nghiên cứu như:

PGS.TS Trần Thành (2006) “Vai trò của nhà nước trong việc kết hợp tăngtrưởng kinh tế với công bằng xã hội ở nước ta hiện nay”, đi sâu vào phân tích cơ sở

lý luận và thực tiễn về vai trò của nhà nước trong việc kết hợp tăng trưởng kinh tế

Trang 13

với công bằng xã hội và đưa ra một số giải pháp cũng như yêu cầu đối với các chủtrương, chính sách, biện pháp của nhà nước để không rơi vào ảo tưởng, chủ quanduy ý chí khi giải quyết các vấn đề xã hội như trước đây [36]

Nguyễn Thị Nga (2006), Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xãhội ở nước ta hiện nay Những quan điểm cơ bản của Đảng, tập trung phân tích vàluận chứng những quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệgiữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở nước ta hiện nay Cụ thể là: 1/ Tăngtrưởng kinh tế và công bằng xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự pháttriển xã hội; 2/ Để công bằng xã hội trở thành động lực phát triển, cần phải gắnquyền lợi với nghĩa vụ, cống hiến với hưởng thụ; 3/ Thực hiện mục tiêu tăng trưởngkinh tế và công bằng xã hội trên phạm vi cả nước, ở mọi lĩnh vực, ngay trong từngbước và từng chính sách phát triển; 4/ Bảo đảm sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh

tế và công bằng xã hội nhằm phát triển con người, phát huy nhân tố con người; 5/Phát huy vai trò của nhà nước và đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động xã hội [26]

Đi sâu vào nghiên cứu vai trò của chính quyền địa phương trong việc pháttriển kinh tế xã hội nói chung và cụ thể đối với việc điều chỉnh mối quan hệ tăngtrưởng kinh tế và công bằng xã hội có một số nghiên cứu sau:

Lê Anh Tuấn (2010), Đảm bảo công bằng xã hội trong quá trình tăng trưởngkinh tế ở Hàn Quốc - Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, đã phân tích kinh nghiệmbảo đảm công bằng xã hội trong quá trình theo đuổi chiến lược tăng trưởng kinh tế

ở Hàn Quốc nhằm rút ra những bài học hữu ích cho Việt Nam; Hệ thống hoá cácquan điểm bàn luận về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội,đặc biệt đối với các nước đang phát triển; Phân tích thực tiễn tăng trưởng kinh tế vàgiải quyết vấn đề công bằng xã hội ở Hàn Quốc trong quá trình này thời kỳ HànQuốc thực hiện công nghiệp hoá; Khái quát và rút ra những bài học kinh nghiệm từthực tiễn giải quyết vấn đề công bằng xã hội trong tăng trưởng kinh tế ở Hàn Quốccho Việt Nam [40]

Mai Văn Nghĩa (2010), Tăng trưởng kinh tế với vấn đề công bằng xã hội tạithị xã Bà Rịa” đã tổng hợp các lý luận cơ bản về kết hợp tăng trưởng kinh tế vớicông bằng xã hội và thực hiện phân tích và đánh giá về thực trạng kết hợp giữa tăngtrưởng kinh tế với công bằng xã hội tại thị xã Bà Rịa giai đoạn 1995-2009 [25]

Trang 14

Sền Thị Hiền (2015), Hà Nội gắn kết tăng trưởng kinh tế với phát triển vănhóa và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, đã đánh giá những thành tựu và nhữnghạn chế trong quá trình gắn kết tăng trưởng kinh tế với vấn đề công bằng xã hội tạithủ đô Hà Nội [17]

Các nghiên cứu trên đây đã cung cấp những cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn

đề tăng trường kinh tế, công bằng xã hội và kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế vớicông bằng xã hội; vai trò của nhà nước đối với việc điều chỉnh mối quan hệ giữatăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội; quản lý nhà nước cấp địa phương đối vớicác vấn đề kinh tế xã hội Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nàonghiên cứu một cách hoàn chỉnh và toàn diện về vấn đề quản lý nhà nước kết hợpgiữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ở cấp tỉnh, thành phố nói chung và ởtỉnh Thái Nguyên nói riêng với những số liệu, tài liệu được cập nhật đến năm 2015

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

3.2 Mục tiêu cụ thể

- Khái quát cơ sở lý luận và các tiêu chí đo lường tăng trưởng kinh tế và

công bằng xã hội, hoạt động quản lý nhà nước tác động lên mối quan hệ giữa tăngtrưởng kinh tế với vấn đề công bằng xã hội

- Phân tích thực trạng và đánh giá những thành tựu đạt được, những mặt hạnchế và những vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước giải quyết mối quan hệ giữa tăngtrưởng kinh tế với công bằng xã hội tại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 - 2015

- Đề nghị các định hướng, giải pháp phù hợp trong quản lý nhà nước giảiquyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội tại tỉnh TháiNguyên trong giai đoạn 2018 - 2020

Trang 15

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tếvới vấn đề công bằng xã hội tại tỉnh Thái Nguyên và hoạt động quản lý nhà nướcđối với việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội tại tỉnh TháiNguyên

Phạm vi về nội dung: Một số chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế và công bằng xãhội chỉ được tính toán ở cấp quốc gia nên thực tế, đề tài chỉ tập trung nghiên cứucác vấn đề về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với vấn đề công bằng xã hộidựa trên các chỉ tiêu có thể được tính toán ở phạm vi đơn vị hành chính cấp Tỉnh

Phạm vi về thời gian: Đề tài thu thập dữ liệu trong giai đoạn 2011 - 2015.Một số bảng biểu trong luận văn cập nhật số liệu năm 2016

Phạm vi về không gian: tỉnh Thái Nguyên

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Y nghĩa khoa học

+ Luận văn tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước để phân tích rõ mốiquan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với vấn đề công bằng xã hội; làm rõ những vấn đềkết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

+ Luận văn đưa ra các bài học kinh nghiệm về quản lý mối quan hệ giữa tăngtrưởng kinh tế với vấn đề công bằng xã hội ở một số nước và tỉnh tại Việt Nam đểrút ra bài học cho quản lý mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với vấn đề côngbằng xã hội tại tỉnh Thái Nguyên

Y nghĩa thực tiễn

+ Luận văn đề xuất các giải pháp quản lý mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh

tế và công bằng xã hội phù hợp với điều kiện thực tiễn tại tỉnh Thái Nguyên

+ Luận văn có thể là tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, học tập cho sinh

viên chuyên ngành quản lý kinh tế, kinh tế chính trị và kinh tế phát triển.

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo;nộidung chính của luận văn bao gồm bốn chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tếvới vấn đề công bằng xã hội

- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

- Chương 3: Thực trạng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với vấn đềcông bằng xã hội tại tỉnh Thái Nguyên

- Chương 4: Các giải pháp quản lý nhà nước giải quyết mối quan hệ giữatăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội tại tỉnh Thái Nguyên

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG

KINH TẾ VỚI VẤN ĐỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI

1.1 Cơ sơ ly luận về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

1.1.1 Tăng trưởng kinh tế

1.1.1.1 Tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế va phát triển bền vững

* Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là vấn đề trọng tâm của kinh tế vĩ mô có ý nghĩa cực kỳquan trọng đến sự thịnh suy của một quốc gia Vì vậy trong lịch sử nghiên cứu,dưới nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà nghiên cứu ở các quốc gia đã đưa

ra nhiều khái niệm về tăng trưởng kinh tế:

Theo Simon Kuznets (1966) cho rằng “Tăng trưởng kinh tế của một nước là

sự tăng lâu dài về khả năng cung cấp ngày càng tăng các mặt hàng kinh tế đa dạngcho số dân của mình, khả năng ngày càng tăng này dựa trên công nghệ tiên tiến vànhững điều chỉnh về thể chế và hệ tư tưởng mà nó đòi hỏi ….” [46]

Theo Paul Athony Samuelson cho rằng “Tăng trưởng kinh tế là sự mở rộngtổng sản phẩm quốc nội (GDP) hay sản lượng tiềm năng của một nước Nói cáchkhác, tăng trưởng diễn ra khi đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) của một nướcdịch chuyển ra phía ngoài” [44]

Có thể thấy hầu hết các tác giả đều thống nhất ở định nghĩa chung nhất về

tăng trưởng kinh tế như sau: “Tăng trưởng kinh tế la sự gia tăng thu nhập thực tế hay sự gia tăng về qui mô sản lượng của toan bộ nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định” (Phan Thúc Huân, 2006) [22].

Trong kinh tế học hiện đại, các nhà nghiên cứu xem xét khái niệm tăng

trưởng kinh tế bền vững, tăng trưởng kinh tế bền vững là khái niệm hiện đại để xác

định mục tiêu và các nhân tố tốt cho một nền kinh tế nhờ tăng trưởng bền vững.Theo đó, tăng trưởng không chỉ hiểu đơn thuần là tăng thu nhập bình quân đầungười, mà phải gắn với phát triển bền vững, chú trọng tới cả ba nhân tố: kinh tế, xãhội và môi trường

Trang 17

Khái niệm Tăng trưởng kinh tế được nhiều tác giả đề cập với nhiều cáchkhác nhau, song hầu hết các tác giả đều thống nhất ở định nghĩa chung nhất về tăng

trưởng kinh tế như sau: “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập thực tế hay

sự gia tăng về qui mô sản lượng của toàn bộ nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)”.

Như vậy, Tăng trưởng kinh tế là khái niệm chỉ diễn tả động thái biến đổi về

số lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của toàn bộ nền kinh tế theo thời gian,nhưng chưa đề cập đến mối quan hệ của nó với xã hội

* Phát triển kinh tế

Phát triển kinh tế bao hàm nhiều ý nghĩa rộng hơn Trước hết, phát triển cần

phải được hiểu như một quá trình nhiều mặt liên quan đến việc tái tổ chức và tái

định hướng toàn bộ các hệ thống kinh tế và xã hội Vì vậy, phát triển kinh tế là một

nhận thức toàn diện bao gồm các khía cạnh tinh thần và vật chất Trong khi tăngtrưởng kinh tế chỉ thuần tuý là sự gia tăng vật chất thì phát triển kinh tế là sự hoànthiện của hai vấn đề về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia

Có thể nói khái quát: “phát triển kinh tế la quá trình tăng tiến của nền kinh

tế trên các mặt, bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng, tiến bộ về cơ cấu kinh tế va sự tiến bộ xã hội” (Phan Thúc Huân, 2006) [22].

* Phát triển bền vững

Kinh tế thế giới phát triển ngày càng phải đối mặt với những thách thức mới

từ môi trường, vì vậy thuật ngữ phát triển kinh tế chưa thể mô tả đầy đủ các mụctiêu phát triển của một quốc gia, địa phương Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuấthiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công

bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN)với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tớiphát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tácđộng đến môi trường sinh thái học".Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm

1987 nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủyban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) [41].Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là "sự phát triển có thể đáp ứng được những

Trang 18

nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầucủa các thế hệ tương lai " 1 Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có

sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ

Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổchức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vựcchính: kinh tế - xã hội - môi trường

Hình 1.1: Ba mặt của sự phát triển bền vững

(Nguồn: báo cáo của Ủy ban Môi trường va Phát triển Thế giới - WCED) [41]

Cụ thể hơn, phát triển bền vững được hiểu là quá trình phát triển có sự kết

hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, gồm có:(1) phát triển kinh tế (nền tảng là tăng trưởng kinh tế), (2) phát triển xã hội (mục tiêu là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và (3) bảo vệ

môi trường (mục tiêu là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng

môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiếtkiệm tài nguyên thiên nhiên)

Phát triển bền vững có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các nước đang

phát triển Do vậy, vấn đề tăng trưởng - công bằng đã được đặt ra: làm thế nào kinh

tế không những tăng trưởng mà công bằng xã hội cũng được thực hiện

1.1.1.2 Các tiêu chi đo lường tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế được hiểu khá thống nhất là sự tăng sản lượng thực tếcủa một nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định Thước đo phổ biến làmức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một năm hoặc mức tăng GDP bình

Trang 19

quân đầu người trong một năm Một số nước sử dụng các chỉ số khác để xác địnhmức tăng trưởng kinh tế như: GNP (tổng sản phẩm quốc gia); GNI (tổng thu nhậpquốc gia); NNP (sản phẩm quốc gia ròng) hoặc NNI (thu nhập quốc gia ròng) Cácchỉ số trên thường được tính trong một năm và đều có thể sử dụng theo tiêu chí bìnhquân trên đầu người

a Tốc độ tăng trưởng GDP

Việc đánh giá tăng trưởng kinh tế dựa theo chỉ số GDP, công thức tính chỉ sốnày như sau: Là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng đượcsản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian nhất định(thường là một năm tài chính) Có nhiều cách tính GDP như sau: Phương pháp tínhtheo thu nhập Theo phương pháp này nếu trong nền kinh tế giản đơn thì GDP đượctính bằng cách cộng tất cả các thu nhập mà khu vực xí nghiệp phân phối cho các hộgia đình dưới hình thức tiền lương, tiền lãi, tiền thuê và lợi nhuận

GDP = Y = Tiền lương + tiền lãi + tiền thuê + lợi nhuận.

Việc tính GDP theo thu nhập còn gọi là GDP tính theo giá yếu tố vì nhữngkhoản này các xí nghiệp chi trả cho việc sử dụng nguồn lực phục vụ cho sản xuất.Nếu nền kinh tế không có chính phủ thì việc tính GDP theo giá thị trường hoặc theogiá yếu tố sẽ cho cùng một kết quả Nhưng khi có chính phủ thì cần có những điềuchỉnh để GDP tính theo thu nhập giống với GDP tính theo giá thị trường Điều

thuế gián thu, tức các khoản thuế đánh vào dịch vụ và hàng hoá bán trên thị trường,trong đó trợ cấp của chính phủ cho sản xuất được coi là một khoản thuế gián thu

âm Điều chỉnh thứ hai là cộng khoản khấu hao vào cùng với các khoản thu nhập.Bởi vì, khi tính GDP theo giá thị trường thì khấu hao đã được tính ở chi tiêu đầu tư,còn tính GDP theo thu nhập thì không bao gồm khấu hao Do đó, công thức tínhGDP khi có chính phủ:

GDP = Tổng thu nhập = Lương + Lãi + Tiền thuê + Lợi nhuận + Thuế gián thu + khấu hao

Phương pháp tính theo giá trị gia tăng Phương pháp tính theo giá trị gia

tăng là tổng cộng tất cả giá trị gia tăng của nền kinh tế trong một thời kỳ

Trang 20

Tổng sản phẩm quốc nội = Giá trị tăng thêm + thuế nhập khẩu

Hoặc GDP = Giá trị sản xuất - chi phí trung gian + thuế nhập khẩu

Giá trị tăng thêm của toàn bộ ngành kinh tế được xác định cho cả nước vàcho từng vùng lãnh thổ và bằng tổng giá trị tăng thêm của các ngành kinh tế vàthành phần kinh tế Giá trị tăng thêm của từng ngành kinh tế bao gồm: Thu nhậpcủa người sản xuất như tiền lương, tiền công (kể cả bằng tiền hay bằng hiện vật vàcác khoản trả có tính chất lương), trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, nộpcông đoàn cấp trên, thu nhập khác ngoài lương, tiền công; Thuế sản xuất bao gồm:Thuế hàng hoá (không bao gồm thuế nhập khẩu) thuế sản xuất và chi phí khác.Thuế sản xuất không bao gồm thuế trực thu như thuế thu nhập, thuế thu nhập doanhnghiệp Khấu hao tài sản cố định; Giá trị thặng dư; Thu nhập hỗn hợp Giá trị giatăng của một xí nghiệp là chênh lệch giữa giá trị sản lượng của xí nghiệp và giá trị

Phương pháp tính theo chi tiêu Phương pháp này người ta tính bằng cách

cộng các chi tiêu lại: GDP = Y = C + I + G + NX

Trong đó: Chi tiêu tiêu dùng (C): Bao gồm tất cả các chi tiêu cho sản phẩm

và dịch vụ do các xí nghiệp sản xuất ra và bán cho các hộ gia đình Chi tiêu đầu tư(I) là tổng vốn đầu tư phát triển xã hội trong kỳ, bao gồm: Vốn đầu tư xây dựng cơbản bao gồm vốn xây lắp, vốn mua sắm thiết bị, vốn xây dựng cơ bản khác, vật nuôi

để kéo cày, làm giống…, vốn tăng tài sản lưu động trong kỳ như tăng tồn kho giữacuối kỳ và đầu kỳ về nguyên nhiên vật liệu, thành phẩm, hàng hoá trong lưu thông,sản phẩm sản xuất trong hộ gia đình nông nghiệp, phi nông nghiệp, kho dự trữ nhànước Chi tiêu của chính phủ về những sản phẩm và dịch vụ (G) bao gồm các chitiêu của chính quyền trung ương và địa phương Đây là các chi phí cho giáo dụcquốc phòng, hành chánh, y tế, toà án, chi phí để duy trì trật tự công cộng, công trìnhcông cộng, xây dựng kết cấu hạ tầng… Xuất khẩu ròng (NX) là chênh lệch giữaxuất khẩu và nhập khẩu của nền kinh tế Đây là một chi tiêu phản ánh mối quan hệkinh tế đối với nước ngoài của một quốc gia GDP tính theo phương pháp chi tiêu làGDP tính theo giá thị trường vì chi tiêu được thanh toán theo giá thị trường

Nhìn chung tăng trưởng kinh tế được tính bằng phần trăm thay đổi của mứcsản lượng quốc dân Cho thấy xu hướng của quy mô sản lượng tăng lên hay giảm đi

và nếu tăng thì tăng nhanh hay chậm qua các thời kỳ khác nhau

Trang 21

∆Y : mức gia tăng GDP hoặc GNP giữa hai thời điểm

Sự tích lũy tốc độ tăng trưởng cao của GDP liên tục trong nhiều năm (tăngtrưởng kép) có thể dẫn tới một kết quả ngoạn mục (còn gọi là phép màu của tăng

trưởng kép) theo “quy tắc 70, nghĩa là, nếu một biến số nào đó tăng với tỷ lệ x % một năm, thì nó sẽ tăng gấp đôi trong vòng 70 / x năm”.

b GDP bình quân đầu người (GDP/người)

GDP bình quân đầu người là chỉ tiêu phản ánh một cách tổng quan mức sốngdân cư và được tính bằng tỉ lệ giữa tổng sản phẩm trong nước với tổng dân số trungbình trong năm Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người có thể tính theogiá thực tế, giá so sánh, tính theo nội tệ hoặc theo ngoại tệ

Sự gia tăng liên tục với tốc độ ngày càng cao của chỉ tiêu này là dấu hiệu thểhiện sự tăng trưởng bền vững và nó còn được sử dụng trong việc so sánh mức sốngdân cư giữa các quốc gia hoặc giữa các tỉnh, thành phố trong cả nước với nhau.Ngân hàng Thế giới - WB (năm 2006) đã phân chia các nhóm quốc gia theo thunhập bình quân đầu người, cụ thể là:

Nhóm nước thu nhập cao ≥ 11.116USD/người/năm

Nhóm nước thu nhập trung bình từ 906 đến 11.115USD/người/năm

Nhóm nước thu nhập thấp ≤ 905 USD/người/năm [24]

Theo số liệu xếp hạng các quốc gia trên thế giới của WB (năm 2014), GDPbình quân đầu người của Việt Nam năm 2014 là 2.052 USD, vượt qua ngưỡngnhóm nước có thu nhập thấp, đứng thứ 132/183 quốc gia [53]

Tuy nhiên, GDP bình quân đầu người chỉ cho chúng ta biết những gì xảy rađối với một người trung bình, còn đằng sau giá trị bình quân đó có rất nhiều sự khácbiệt giữa các cá nhân với nhau Thu nhập không phải là tất cả cuộc sống con người

Trang 22

Tình trạng bất bình đẳng xã hội diễn ra trên nhiều khía cạnh như: khía cạnhthu nhập hay tiêu thụ, khía cạnh địa lý, khía cạnh giới tính, sức khỏe, năng lực, uythế xã hội, dân tộc…Trong đó, bất bình đẳng về phương diện kinh tế có ảnh hưởnglớn lao đến sự ổn định xã hội và sự tồn tại của cả một cơ cấu xã hội hay một thể chếchính trị, mà biểu hiện rõ nét nhất là bất bình đẳng về phân phối thu nhập, nghĩa làthành quả của tăng trưởng kinh tế không được san sẻ đồng đều cho mọi tầng lớpdân chúng Phân phối thu nhập càng bị sai lệch nhiều thì mức độ bất bình đẳng xãhội càng cao Vì vậy, xu hướng gia tăng bất bình đẳng trong thu nhập là một tháchthức lớn của các quốc gia hiện nay, mà nguyên nhân chủ yếu của xu hướng nàychính là vấn đề công bằng xã hội.

* Công bằng xã hội

Công bằng xã hội là một khái niệm có tính lịch sử cụ thể, nó có nội hàm khácnhau trong những hoàn cảnh, điều kiện khác nhau Công bằng xã hội không phải làvấn đề cá nhân, mà là mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội (giữa cá nhân với cánhân, cá nhân với tập thể, với cộng đồng xã hội, giữa công dân với nhà nước, giữacác nhóm xã hội…) Khái niệm về công bằng xã hội, vì vậy, có nhiều ý kiến khácnhau tuỳ thuộc vào quan điểm của mỗi xã hội nên mang tính chủ quan, tương đối và

đa diện Có thể nêu ra một vài quan niệm khác nhau về công bằng xã hội sau đây:

- Theo tác giả Trần Văn Thọ, “Công bằng trước hết phải được hiểu là sự bìnhđẳng trong cơ hội, cơ hội làm việc, cơ hội đầu tư; nghĩa là bình đẳng trong việc tiếp

Trang 23

cận những cơ hội mà với cố gắng và năng lực con người có thể đạt đến một mứcsống cao hơn hiện nay” [37]

- Theo các nhà kinh tế hiện nay, công bằng xã hội được phân biệt thành công

bằng ngang và công bằng dọc: Công bằng ngang là đối xử như nhau với người có đóng góp như nhau; Công bằng dọc là đối xử khác nhau với người có khác biệt bẩm

sinh hoặc có các điều kiện, hoàn cảnh kinh tế - xã hội khác nhau (do khả năng và kĩnăng lao động khác nhau; cường độ làm việc khác nhau; sự khác nhau về nghềnghiệp; sự khác nhau về giáo dục đào tạo; được hưởng thừa kế và chiếm hữu tài sảnkhác nhau; hoặc gánh chịu rủi ro khác nhau) Nếu như công bằng ngang được thựchiện bởi cơ chế thị trường thì công bằng dọc cần có sự điều tiết của chính phủ nhằmthu hẹp khoảng cách bất bình đẳng xã hội Việc phân định và kết hợp công bằngdọc và ngang sẽ đảm bảo công bằng xã hội thực sự

Tóm lại, "Công bằng xã hội la một tình trạng ma trong đó mọi người trong một xã hội hay một nhóm cụ thể nao đó có địa vị, tình trạng pháp lý tương tự như nhau ở những khía cạnh nhất định, thường bao gồm các q uyền dân s ự , do tự ngôn luận, quyền sở hư ̃ u va tiếp cận bình đẳng đối với hang hóa va dịch vụ xã hội.” [42] 1.1.2.2 Các tiêu chi đo lường công bằng xã hội

* Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập

Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập được thể hiện qua đường congLorenz và hệ số Gini

Đường cong Lorenz: là một loại đồ thị được phát triển từ năm 1905 bởi Max

Otto Lorenz (1880 - 1962), nhà thống kê người Mỹ Trên đồ thị này ta thấy: tỷ lệ

phần trăm cộng dồn số hộ gia đình được thể hiện trên trục hoành, và tỷ lệ phần trămcộng dồn thu nhập thể hiện trên trục tung Đường chéo 45° gọi là đường bình đẳngtuyệt đối (vì mỗi điểm trên đường này thể hiện tỷ lệ phần trăm số hộ gia đìnhđúng bằng tỷ lệ phần trăm thu nhập)

Khoảng cách giữa đường chéo 45và đường cong Lorenz là một dấu hiệu chobiết mức độ bất bình đẳng, nó càng lõm thì mức độ bất bình đẳng trong phân phốithu nhập càng cao, nghĩa là phần trăm thu nhập người nghèo nhận được sẽ giảm đi.Đường cong Lorenz là cách biểu hiện trực quan của sự bất bình đẳng trong phân

Trang 24

phối thu nhập, nhưng nó không phải là cách đánh giá định lượng về bất bình đẳngtrong phân phối thu nhập Vì vậy, người ta thường sử dụng hệ số Gini

Hệ số Gini: được phát triển bởi Corrado Gini (1884-1965), nhà thống kê học

người Ý Hệ số Gini là một hệ số được tính từ đường cong Lorenz dùng để chỉ ramức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập

Trong thực tế, không có nước nào đạt được hệ số Gini bằng 0 hoặc 1 TheoBáo cáo phát triển con người toàn cầu của UNDP, hệ số Gini của Việt Nam năm

2010 là 0,43 [21]

* Phân phối thu nhập theo đầu người hoặc các nhóm dân cư

Phương pháp tính là người ta chia dân số thành 5 nhóm người, mỗi nhóm có20% dân số, sau đó xếp theo thứ tự từ thấp đến cao về thu nhập Qua đó, có thể thấymức độ công bằng xã hội thông qua việc so sánh nhóm giàu nhất và nhóm nghèonhất Nếu khoảng cách chênh lệch này ngày càng giãn ra trong khi kinh tế đất nướcvẫn có tốc độ tăng trưởng khá, song mức độ cải thiện thu nhập của lớp người nghèokhông được bao nhiêu, thì đây là một vấn đề rất đáng được báo động

Để xác định mức nghèo khổ, người ta phải đưa ra chuẩn nghèo Hiện nay,

WB đưa ra chuẩn nghèo là 1,25 USD/người/ngày (theo sức mua tương đương PPP) đối với các nước Theo số liệu của WB thì năm 2012 trên toàn thế giới có

-902 triệu người (tương ứng với 12,8% dân số thế giới) thu nhập dưới 1,25USD/người/ngày (PPP) Ước tính năm 2015, số người này giảm còn 700 triệu người(tức 9,5% dân số thế giới)

Ở Việt Nam, theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

ngày 30/1/2011 về việc ban hanh chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011- 2015 thì ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ

Trang 25

400.000 đồng/người/tháng (4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo; ởkhu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng(dưới 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo Với chuẩn này, tính đếnhết năm 2015, Việt Nam có khoảng hơn 1,05 triệu hộ nghèo, chiếm 4,45% tổng số

hộ dân cả nước, tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn

Đến ngày 19/11/2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số59/2015/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giaiđoạn 2016-2020; trong đó quy định chuẩn nghèo ở nông thôn với hộ gia đình có thunhập dưới 700.000 đồng/người/tháng, ở thành thị là 900.000 đồng/người/tháng.Đồng thời chuẩn nghèo đa chiều còn tính toán đến mức độ thiếu hụt tiếp cận cácdịch vụ xã hội là y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin.Áp dụngchuẩn nghèo mới này, số hộ nghèo của Việt Nam đến hết năm 2015 là gần 2,34triệu hộ, chiếm tỷ lệ 9,88% số hộ trên cả nước

* Chỉ số phát triển con người

Không phải lúc nào thu nhập cũng là thước đo tốt nhất phản ánh những gì

hình thành nên cuộc sống con người Theo quan điểm của Liên hiệp quốc, phát triển con người la một quá trình nhằm mở rộng khả năng lựa chọn của dân chúng

(bao gồm sự tự do về kinh tế, xã hội, chính trị) để con người có được các cơ hội trởthành người lao động sáng tạo, có năng suất, được tôn trọng cá nhân và được bảođảm quyền con người Do đó, một thước đo tóm lược tình trạng phúc lợi của con

người được Liên Hiệp Quốc dùng là chỉ số phát triển con người - HDI (Human

Development Index) HDI là một chỉ số tổng hợp đo lường thành tựu trung bình ởmột quốc gia về ba phương diện cơ bản của phát triển con người: một cuộc đời khỏemạnh và lâu dài; tiếp cận tới tri thức; và mức sống hợp lý Ba phương diện cơ bảnnày được đo bằng:

+ Chỉ số tuổi thọ (LI - Life Expectancy Index): tinh từ lúc sinh

Tuoithotrungbinh- 25

Trang 26

LI =

85 - 25(Trong đó, 25 là tuổi thọ trung bình của quốc gia được xếp hạng thấp nhấttrên thế giới; và 85 là tuổi thọ trung bình của quốc gia được xếp hạng cao nhất trênthế giới)

Trang 27

+ Chỉ số giáo dục (EI -Education Index): sự biết đọc biết viết ở người lớn va

tổng tỷ lệ đi học tiểu học, trung học va đại học:

+ Chỉ số thu nhập (YI - Income Index): tổng sản phẩm trong nước bình

quân đầu người (tính bằng USD theo ngang giá sức mua - PPP)

YI = Y - Y min

Ymax - Ymin

Trong đó, Y: GDP/người của quốc gia được đánh giá (tính theo PPP)

Như vậy:

Trang 28

HDI =

LI + EI + YI

3Mọi quốc gia trong HDI được xếp vào một trong ba nhóm:

+ Phát triển con người thấp: HDI dưới 0,500

+ Phát triển con người trung bình: HDI từ 0,500-0,799

+ Phát triển con người cao: HDI từ 0,800 trở lên

Theo Báo cáo phát triển con người năm 2015 của UNDP, chỉ số về sự pháttriển con người (HDI) của Việt Nam năm 2015 là 0,666, đứng thứ 116/188 quốcgia, được đánh giá ở mức trung bình trên thế giới Theo số liệu xếp hạng này, quốcgia có chỉ số HDI lớn nhất là Na Uy (0,944), quốc gia có chỉ số HDI thấp nhất làCộng hòa Niger (0,348) [51]

Đối với nước ta, việc tính toán cũng như tính ứng dụng và tính so sánh quốc

tế của chỉ số HDI đang tồn tại rất nhiều bất cập Hơn nữa, trong thống kê hàng năm

ở cấp tỉnh không có đủ dữ liệu cần thiết nên không thể tính toán chỉ số HDI ở tỉnh

được Thay vào đó, Luận văn nay sẽ đánh giá tác động của tăng trưởng kinh tế đến công bằng xã hội của tỉnh trên các phương diện: giải quyết việc lam, giáo dục,

Trang 29

chăm sóc sức khỏe, xoá đói giảm nghèo,hệ số GINI, an sinh xã hội va việc đầu tư, xây dựng các cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội với các dữ liệu sẵn có trong Niên giám

thống kê hằng năm của tỉnh theo quy định hiện hành của ngành Thống kê Việt Nam

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế chịu tác động của nhiều nhân tố, bao gồm nhân tố kinh

tế và nhân tố phi kinh tế

1.1.3.1 Các nhân tố kinh tế

Các nhân tố kinh tế tác động tăng trưởng kinh tế là những nhân tố có tácđộng trực tiếp đến các yếu tố đầu vào và đầu ra của nền kinh tế, bao gồm vốn, laođộng, tiến bộ công nghệ và tài nguyên

- Vốn là yếu tố vật chất đầu vào quan trọng, có tác động trực tiếp đến tăng

trưởng kinh tế Vốn sản xuất có liên quan trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế đượchiểu vốn vật chất chứ không phải dưới dạng tiền (giá trị) Nó là toàn bộ tư liệu vậtchất được tích lũy lại của nền kinh tế, bao gồm: nhà máy, thiết bị, máy móc, nhàxưởng và các trang thiết bị được sử dụng như những yếu tố đầu vào trong sản xuất.Vai trò của vốn đối với tăng trưởng kinh tế được các nhà kinh tế trường phái Keynesđánh giá rất cao Cụ thể, nó được lượng hóa thông qua mô hình Harrod-Domar

- Lao động là yếu tố đầu vào không thể thiếu của sản xuất Trước đây, người

ta chỉ quan niệm lao động là yếu tố vật chất giống như vốn và được xác định bằng

số lượng lao động của mỗi quốc gia (có thể tính bằng đầu người hay thời gian laođộng) Những mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại gần đây đã nhấn mạnh đến khíacạnh phi vật chất của lao động là vốn nhân lực, đó là lao động có kỹ năng sản xuất,lao động có thể vận hành máy móc thiết bị phức tạp, lao động có sáng kiến vàphương pháp mới trong hoạt động kinh tế… Hiện nay tăng trưởng kinh tế của cácnước đang phát triển được đóng góp bởi quy mô (số lượng) lao động, còn vốn nhânlực có vị trí chưa cao do trình độ và chất lượng nguồn nhân lực của các nước nàycòn thấp

- Tiến bộ công nghệ là nhân tố tác động ngày càng mạnh đến tăng trưởng

ở các nền kinh tế ngày nay Yếu tố công nghệ cần được hiểu đầy đủ theo hai dạng:

Thứ nhất, đó là những thành tựu kiến thức, tức là nắm bắt kiến thức khoa

học, nghiên cứu đưa ra những nguyên lý, thử nghiệm và cải tiến sản ph ẩ m , quy

Trang 30

trình công nghệ hay thiết bị kỹ thuật; Thứ hai, là sự áp dụng phổ biến các kết quả

nghiên cứu, thử nghiệm vào thực tế nhằm nâng cao trình độ phát triển chung củasản xuất Vai trò của công nghệ đã được nhiều nhà kinh tế nổi tiếng đánh giá caođối với tăng trưởng như Solow (1956) Solow (1956) cho rằng “toàn bộ tăng trưởngbình quân đầu người trong dài hạn đều thu được nhờ tiến bộ kỹ thuật” [49]

- Tài nguyên bao gồm đất đai và các nguồn lực sẵn có trong tự nhiên.

Các nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, phong phú được khai thác tạo điều kiệntăng sản lượng đầu ra một cách nhanh chóng, nhất là đối với các nước đang pháttriển Song, nguồn tài nguyên thì có hạn, không thể tái tạo được, hoặc nếu tái tạođược phải mất nhiều thời gian, sức lực và chi phí Do đó, tài nguyên được đưa vào

sử dụng để tạo ra sản phẩm cho xã hội càng nhiều càng tốt nhưng phải đảm bảochúng được sử dụng có hiệu quả, không lãng phí Việc sử dụng tài nguyên là vấn đề

có tính chiến lược, lựa chọn công nghệ để có thể sử dụng hiệu quả và tiết kiệmtài nguyên của quốc gia là vấn đề sống còn của phát triển Sử dụng lãng phí tàinguyên có thể được xem như sự hủy hoại môi trường, làm cạn kiệt tài nguyên Hiệnnay, các mô hình tăng trưởng hiện đại thường không nói đến nhân tố tài nguyên với

tư cách là biến số của hàm tăng trưởng kinh tế Họ cho rằng tài nguyên là yếu tố

cố định, vai trò của chúng có xu hướng giảm dần, hoặc tài nguyên có thể được quy

về vốn sản xuất

Như vậy, có thể thấy nguồn gốc của tăng trưởng do nhiều yếu tố hợpthành, vai trò tương đối của chúng phụ thuộc vào hoàn cảnh và thời kỳ phát triểncủa mỗi quốc gia Đối với các nước nghèo, vốn vật chất, lao động rẻ và tài nguyênthiên nhiên đóng vai trò quan trọng Ngược lại đối với các nước công nghiệp thì vaitrò của vốn nhân lực và tiến bộ công nghệ quan trọng hơn Các công trình nghiêncứu về nguồn gốc tăng trưởng của Romer (1986) [45] cho rằng, trong bối cảnhchuyển đổi nền kinh tế từ hậu công nghiệp sang kinh tế tri thức, thì vốn nhân lực vàkhoa học công nghệ có vai trò vượt trội hơn các yếu tố truyền thống khác đối vớităng trưởng kinh tế

1.1.3.2 Các nhân tố phi kinh tế

Khác với các nhân tố kinh tế, các nhân tố phi kinh tế, có tác động gián tiếp

và rất khó lượng hóa cụ thể mức độ tác động của chúng đến tăng trưởng kinh tế

Trang 31

Một số nhân tố phi kinh tế tác động đến tăng trưởng như: vai trò của nhà nước, yếu

tố văn hóa - xã hội, thể chế, cơ cấu dân tộc tôn giáo và sự tham gia của cộng đồng

Ngày nay nhà nước là yếu tố vật chất thực sự cho quá trình tăng trưởng,

và mọi quốc gia không thể coi nhẹ vấn đề này Nhà nước và khuôn khổ pháp lýkhông chỉ là yếu tố đầu vào mà còn là yếu tố của cả đầu ra trong quá trình sản xuất

Rõ ràng cơ chế chính sách có thể có sức mạnh kinh tế thực sự, bởi chính sách đúng

có thể sinh ra vốn, tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng Ngược lại, nhà nước đưa racác quyết sách sai, điều hành kém, cơ chế chính sách không hợp lý sẽ gây tổn hạicho nền kinh tế, kìm hãm tăng trưởng cả về mặt số lượng và chất lượng Stiglitz(2008) [31] cho rằng thị trường hiệu quả chỉ có được dưới các điều kiện nhất định

Do đó trong nhiều trường hợp, một sự phân bổ hiệu quả các nguồn lực và kết quảđầu ra sẽ khó đạt được nếu không có sự can thiệp của chính phủ

Văn hóa - xã hội là nhân tố quan trọng, tác động nhiều tới quá trình phát triểncủa mỗi quốc gia Nhân tố văn hóa - xã hội bao trùm nhiều mặt, từ tri thứcphổ thông đến những tích lũy tinh hoa của văn minh nhân loại về khoa học, côngnghệ, văn học, lối sống, phong tục tập quán… Trình độ văn hóa cao đồng nghĩa vớitrình độ văn minh cao và sự phát triển cao của mỗi quốc gia Nhìn chung trình độvăn hóa của mỗi dân tộc là nhân tố cơ bản để tạo ra các yếu tố về chất lượng laođộng, kỹ thuật, trình độ quản lý Xét trên khía cạnh kinh tế hiện đại thì nó là nhân tố

cơ bản của mọi nhân tố dẫn đến quá trình phát triển

Thể chế được hiểu là các ràng buộc do con người tạo ra nhằm quy địnhcấu trúc tương tác giữa người với người Các thể chế chính trị - xã hội được thừanhận có tác động đến quá trình phát triển đất nước, đặc biệt thông qua việc tạo dựnghành lang pháp lý và môi trường đầu tư

Vì nền tảng của kinh tế thị trường là dựa trên trao đổi giữa các cá nhân vàcác nhóm người với nhau, bởi vậy nếu không có thể chế thì các hoạt động nàykhông thể diễn ra bởi vì người này không thể tương tác với người kia mà không cóchế tài nào đó ngăn cản người kia hành động Tùy tiện và ngược lại với thoả thuận

Theo các tác giả Knack và Keefer (1995), để đánh giá chất lượng của thể chế

có thể sử dụng bốn tiêu chí để đo lường: (1) Tham nhũng, (2) Chất lượng bộ máyhành chính, (3) Tuân thủ pháp luật, và (4) Bảo vệ quyền tài sản [43]

Trang 32

Về nhân tố dân tộc và tôn giáo: Nhìn chung một nước càng đa dạng vềcác thành phần tôn giáo và sắc tộc thì đất nước đó càng tiềm ẩn bất ổn về chính trị

và xung đột trong nước Những xung đột và bất ổn chính trị trong nước này có thểdẫn đến các xung đột bạo lực và thậm chí là các cuộc nội chiến, dẫn tới tình trạnglãng phí các nguồn lực quý giá đáng ra phải sử dụng để thúc đẩy các mục tiêu pháttriển khác Chẳng hạn như cuộc chiến ở Afganistan, Sri Lanca, các xung đột ởIndonesia, Thái Lan… Ngược lại, một đất nước càng đồng nhất thì càng có điềukiện đạt được các mục tiêu phát triển của mình, chẳng hạn như Hàn Quốc, HồngKông hay Đài Loan

1.1.4 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với vấn đề công bằng xã hội

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là những cái đích cầnhướng tới của các quốc gia hiện nay Tuy nhiên, việc nhìn nhận mối quan hệ giữatăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở những quốc gia khác nhau là không giốngnhau; vì vậy, cách giải quyết vấn đề cũng đi theo những xu hướng khác nhau

1.1.4.1 Tăng trưởng kinh tế la động lực cơ bản thúc đẩy phát triển, la nhân tố quan trọng hang đầu va điều kiện vật chất để thực hiện công bằng xã hội

Tăng trưởng theo chiều rộng, tức là chủ yếu dựa vào tăng số lượng các yếu tố

“đầu vào”, như lao động giản đơn giá rẻ, vốn, đất đai, công nghệ thấp thì khôngthể phát triển bền vững và cũng khó thực hiện tốt các chính sách xã hội Nghĩa làtăng trưởng dựa vào xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên, sử dụng công nghệ lạc hậu,lao động giản đơn giá rẻ , đến một lúc nào đó tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt;không đủ tài chính để đổi mới công nghệ và thiết bị; thu nhập thấp, nhưng lại không

có điều kiện được đào tạo để nâng cao trình độ, không thể sử dụng công nghệ mớinên bị thất nghiệp, khiến người lao động bất bình Những hiện tượng ấy trở thànhlực cản quá trình phát triển tiếp theo

Phát triển bền vững đòi hỏi phải tăng trưởng theo chiều sâu, chủ yếu dựa vàocác nhân tố tăng sức sản xuất của lao động xã hội, như nâng cao trình độ của ngườilao động, ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến, cải tiến tổ chức và quản lý sảnxuất, tăng hiệu suất của tư liệu lao động và tận dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên

Trang 33

thiên nhiên gắn với bảo vệ môi trường Nhờ đó tăng năng suất lao động xã hội tăngnhanh giá trị gia tăng, nên có nhiều sản phẩm và dịch vụ để nâng cao mức sống củanhân dân.

Tăng trưởng kinh tế có tác động hai mặt đến việc thực hiện các chính sách xãhội Một mặt, nó làm biến đổi cơ cấu ngành kinh tế, hình thành nhiều ngành mới,tạo ra nhiều việc làm Mặt khác, do ứng dụng công nghệ tiên tiến, tăng nhu cầu vềnhân lực chất lượng cao, nếu giáo dục đào tạo không đáp ứng kịp sẽ dẫn đến tìnhtrạng dư thừa nhiều lao động giản đơn, tăng thất nghiệp nhưng lại thiếu lao độnglành nghề Hoặc là, tăng trưởng kinh tế theo cơ chế thị trường, diễn ra cạnh tranhgay gắt, vừa thúc đẩy sản xuất, vừa dẫn đến phân hóa hai cực: những người chiếnthắng thu lợi nhuận cao sẽ giàu lên, những người thua cuộc sẽ nghèo đi, thậm chí bịphá sản, nảy sinh khoảng chênh lệch lớn về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, đòihỏi nhà nước phải có sự điều tiết thu nhập để giảm bớt bất bình đẳng xã hội

1.1.4.2 Công bằng xã hội vừa la mục tiêu, vừa la điều kiện quan trọng nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế va phát triển bền vững

CBXH là tấm gương phản chiếu sự phân bổ lợi ích thu được từ tăng trưởng

và từ đó tác động ngược lại tăng trưởng.

Công bằng xã hội là một trong những động lực phát triển kinh tế - xã hội vì

nó là yếu tố tác động trực tiếp đến lợi ích của chủ thể hoạt động, nó kích thích tínhnăng động, sáng tạo và nhiệt tình của mọi thành viên trong xã hội

Việc thực hiện công bằng xã hội phải tạo ra động lực để tăng trưởng kinh tếchứ không phải là nguyên nhân kìm hãm tăng trưởng kinh tế Công bằng xã hội làmột trong những điều kiện không thể thiếu được để có tăng trưởng kinh tế cao vàbền vững Rõ ràng, công bằng xã hội không đối lập với tăng trưởng kinh tế, ngượclại, công bằng xã hội là một động lực quan trọng nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế

và phát triển bền vững

1.1.4.3 Sự phù hợp của TTKT va CBXH

Trong thế giới hiện đại, quan niệm về mối quan hệ giữa TTKT và tiến bộ,CBXH thể hiện qua các mặt sau: Đó là mối quan hệ thống nhất trên cơ sở lấy pháttriển

Trang 34

con người làm trung tâm của sự phát triển; Phát triển bền vững là xu hướng chung,tiến bộ của xã hội trên phạm vi toàn cầu trong đó, TTKT, tiến bộ CBXH cùng vớibảo vệ môi trường là ba trụ cột quan trọng nhất (Nguyễn Hữu Dũng , 2011) [9].

Sự kết hợp hài hòa giữa TTKT và CBXH là điều kiện cơ bản để ổn định kinh

tế xã hội, đảm bảo cho phát triển bền vững

TTKT cao sẽ tạo điều kiện cho thực hiện CBXH tốt hơn Báo cáo của Ngânhàng thế giới từ những năm 1991 đã chỉ ra rằng ”không có chứng cứ nào cho thâytăng trưởng có mối quan hệ tích cực với bất bình đẳng về thu nhập hoặc bất bìnhđẳng về thu nhập dẫn đến tăng trưởng cao hơn Nếu có, thì là bất bình đẳng thường

đi liên với mức tăng trưởng thấp hơn” [26] Trong một xã hội bình đẳng trong đócon người được chăm sóc đầy đủ về sức khỏe, được hưởng phú lợi xã hội phù hợpvới mức độ tăng trưởng thì sẽ phát huy được tiềm năng, tính năng động sáng tạo củamọi người, do vây, xã hội sẽ phát triển hài hòa hơn, tệ nạn xã hội ít hơn, do đó sự

ổn định và an toàn xã hội cũng cao hơn

Ngược lại, trong các giai đoạn tăng trưởng thấp, lợi ích thu được từ tăngtrưởng còn ít ỏi TTKT và CBXH có những mâu thuẫn khó giải quyết nhất định: Ápdụng thành tựu khoa học kỹ thuật, sử dụng công nghệ hiện đại, một mặt sẽ tăngnăng suất lao động, tổng khối lượng sản phẩm và lợi nhuận, mặt khác lại làm giatăng thất nghiệp, mà thất nghiệp là nguồn gốc đói nghèo, bất bình đẳng, tệ nạn xãhội và bất bình đẳng xã hội Chạy theo mục tiêu tăng trưởng thuần túy, không có cáinhìn lâu dài thì việc thực hiện CBXH bị coi là gánh năng của TTKT, sẽ chỉ đượcgiải quyết cầm chừng; TTKT không đồng đều các vùng dẫn đến phát triển mất cânđối giữa các vùng, và do đó ảnh hưởng đến đời sống xã hội khác biệt ở các vùngkhác nhau

1.1.4.4 Các mô hình lựa chọn giữa tăng trưởng kinh tế va công bằng xã hội

Việc lựa chọn và xử lý mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xãhội hiện còn nhiều ý kiến khác nhau Tăng trưởng kinh tế tự nó không thể tạo racông bằng xã hội, mà còn làm cho bất bình đẳng xã hội ngày càng tăng vì ngườigiàu thường hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế nhiều hơn người nghèo Tuy nhiên,nếu khắc phục bất bình đẳng để mang lại nhiều công bằng hơn thì sẽ có nguy cơdẫn đến giảm hiệu quả - động lực của tăng trưởng

Trang 35

Ngược lại, nếu không giải quyết vấn đề bất bình đẳng và công bằng xã hộithì ổn định xã hội sẽ bị đe dọa và như vậy sẽ không thể có tăng trưởng bền vững.Đây chính là vấn đề phức tạp và khó khăn trong việc lựa chọn giữa tăng trưởng kinh

tế và công bằng xã hội, song tựu trung lại hiện có 3 mô hình được bàn luận nhiều nhất Đó la mô hình “Công bằng trước - Tăng trưởng sau”; mô hình “Tăng trưởng trước - Công bằng sau” va mô hình “Tăng trưởng đi đôi với Công bằng” Cụ thể là:

* Mô hình “Công bằng trước - Tăng trưởng sau”

Mô hình này nhấn mạnh và đặt công bằng lên trên, đi trước và là cơ sở vìcho rằng mục tiêu của phát triển là nâng cao đời sống dân cư, xóa bỏ khoảng cáchgiàu nghèo và bất bình đẳng trong phân phối thu nhập Chính sách làm giảm sự bấtbình đẳng trong phân phối thu nhập, tăng phúc lợi cho các tầng lớp dân cư đượcthực hiện bằng cách “tước đoạt lại của những kẻ tước đoạt” trên cơ sở công hữu hóacác nguồn lực chủ yếu của phát triển kinh tế Đặc biệt, phân phối thu nhập, giáodục, văn hóa, y tế được quan tâm và thực hiện theo phương thức dàn đều, bình quâncho mọi tầng lớp dân cư

Kết quả bước đầu là quốc gia đạt tới những chỉ tiêu tiến bộ xã hội khá tốt,nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế không cao vì cơ chế phân phối bình quân đã làmhạn chế động lực của tăng trưởng “Công bằng” được thực hiện nhưng không thúcđẩy được tăng trưởng bền vững, thu nhập và mức sống của dân cư thấp (Đinh Phi

Hồ, 2006) [21] Xét trên quan điểm triết học thì mô hình này hàm chứa nhiều yếu tốphi duy vật Vận dụng mô hình này khi điều kiện vật chất, trình độ văn minh chưa

đủ độ chín muồi, có thể tạo nguy cơ hủy hoại động lực phát triển, kiềm chế, đẩy lùi

sự phát triển của lịch sử (Nguyễn Công Nghiệp, 2006) [28] Những quốc gia cónền kinh tế xã hội chủ nghĩa đã thực hiện mô hình này nhưng không thành công(trong đó có Việt Nam)

Giải quyết công bằng xã hội mà không dựa trên những thành quả của tăngtrưởng kinh tế chẳng những không tạo ra động lực trong việc thúc đẩy tăng trưởngkinh tế mà còn dẫn đến suy giảm kinh tế và mất ổn định chính trị Công bằng xã hộinếu không có tăng trưởng kinh tế, hoặc chỉ có tăng trưởng kinh tế thấp thì đó chỉ là

sự công bằng trong nghèo khổ và mong manh Nếu không có tăng trưởng kinh tế thìkhông có công bằng xã hội lâu dài và vì vậy không thể phát triển bền vững được

Trang 36

* Mô hình “Tăng trương trước - Công bằng sau”

Theo Simon Smith Kuznets (1901 - 1985), nhà kinh tế và nhân khẩu học

người Mỹ, đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm và đưa ra giả thiết cho rằng cácnước đang phát triển có xu hướng diễn ra tình trạng bất bình đẳng ở mức độ cao hơncác nước phát triển vì hệ số Gini của một nước lúc đầu thấp nhưng từ từ tăng lêntrong quá trình tăng trưởng Nói cách khác, bất bình đẳng sẽ tăng ở giai đoạn banđầu, sau khi đạt đỉnh cao thì bất bình đẳng sẽ giảm khi lợi ích của sự tăng trưởngđược lan tỏa rộng rãi hơn Nếu biểu diễn mối quan hệ trên đồ thị sẽ có dạng chữ Ungược [46]

Để kiểm định giả thuyết này (mô hình chữ U ngược), đã có nhiều nghiên cứu

khi so sánh các nước ở nhiều trình độ phát triển khác nhau và khẳng định: sự bất công về thu nhập sẽ tăng lên từ nước có thu nhập thấp - tới nước có thu nhập vừa;

va giảm từ nước có thu nhập vừa - tới nước có thu nhập cao.

Gini

Trang 37

- Trước tăng

trưởng Giai đoạn đầu tăng trưởng Sau tăng trưởng

GDP/người Hình 1.2: Mô hình chữ U ngược

(Nguồn: [tr 35, 24])

Như vậy, bất bình đẳng vừa là kết quả của tăng trưởng kinh tế, vừa là điềukiện cần thiết để tăng trưởng Bất bình đẳng là điều kiện để người giàu tăng tíchlũy, tăng đầu tư, do đó sẽ thúc đẩy tăng trưởng Các cố gắng để phân phối lại thunhập “một cách hấp tấp, vội vã” sẽ dẫn đến nguy cơ bóp nghẹt tăng trưởng kinh

tế [tr 142-145, 32]

Trang 38

Giả thuyết của Kuznets cho rằng trạng thái bất bình đẳng trong phân phối thunhập là khó tránh khỏi trong quá trình tăng trưởng kinh tế Thực hiện theo mô hìnhnày, nhiều nước đã đặt ưu tiên cho tăng trưởng kinh tế trước, rồi mới giải quyết vấn

đề công bằng xã hội sau, đôi khi còn hy sinh cả công bằng xã hội Kinh tế càng pháttriển, càng có điều kiện để thực thi các chính sách công bằng xã hội, chỉ có hiệu quảkinh tế mới tạo ra tăng trưởng và như vậy là tạo ra tiềm lực kinh tế giúp đất nước cónguồn lực để giảm bớt tình trạng bất bình đẳng

Tiếc thay, tăng trưởng kinh tế tự nó không thể đem đến công bằng xã hộiđược Thực tiễn tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước đã cho thấy bất bìnhđẳng trongphân phối thu nhập đã không giảm mà còn tạo ra nhiều vấn đề bức xúc cần phải tậptrung giải quyết như: phân hóa giàu - nghèo, dốt nát, bệnh tật, ô nhiễm môi trường,

ùn tắc giao thông, tham nhũng ngày càng tăng, trong khi các giá trị truyền thống lạisuy giảm Chính những hạn chế này đã tạo ra lực cản cho sự tăng trưởng kinh tế ởgiai đoạn phát triển kế tiếp như đã xảy ra ở các nước như Brazil, Mehico,Philippines, Malaysia và Indonesia

* Mô hình “Tăng trương đi đôi với Công bằng”

Theo Harry T.Oshima, nhà kinh tế Nhật Bản, có thể hạn chế sự bất bình đẳng

ngay từ giai đoạn đầu của tăng trưởng kinh tế, bằng cách tập trung cải thiện thunhập ở khu vực nông nghiệp như mở rộng và phát triển ngành nghề nhằm tạo ranhiều việc làm cho thời gian nhàn rỗi Sau đó, tiến hành đa dạng hóa nông nghiệp,tăng việc làm phi nông nghiệp (như chế biến lương thực, thực phẩm, đồ gỗ, đồ thủcông mỹ nghệ và các hoạt động dịch vụ) làm cho lao động được dịch chuyển từ khuvực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng lên, nhờ vậy tiền lươngthực tế tăng lên, tạo cơ hội mở rộng thị trường cho các ngành công nghiệp, dịch vụ

và khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị dần dần được cải thiện Nhưvậy, tăng trưởng kinh tế có thể đi đôi với công bằng xã hội được

Theo Ngân hang thế giới (WB), tăng trưởng kinh tế đi đôi với bình đẳng

trong phân phối thu nhập có thể thực hiện được với điều kiện nguồn lợi thu được từtăng trưởng kinh tế cần được phân phối lại sao cho cùng với thời gian thực hiệntăng trưởng, phân phối thu nhập dần được cải thiện hoặc ít nhất là không xấu đitrong khi quá trình tăng trưởng vẫn tiến lên Điều này tùy thuộc vào nhiều yếu tố,

Trang 39

trong đó sự lựa chọn các giải pháp chính sách phân phối lại được xem là quan trọng.

Nó bao gồm chính sách phân phối lại tài sản (của cải) và chính sách phân phối lại từtăng trưởng Chính sách phân phối lại tài sản nhằm khắc phục sự bất bình đẳngtrong vấn đề sở hữu tài sản và được áp dụng phổ biến ở các nước đang phát triểnnhư chính sách cải cách ruộng đất ở Hàn Quốc, Đài Loan Chính sách phân phối lại

từ tăng trưởng như chính sách nhằm tăng cường cơ hội giáo dục cho nhiều người [tr142-145, 32]

Nhìn chung, mô hình “Tăng trưởng đi đôi với Công bằng” là mô hình có tínhkhả thi Theo mô hình này, Chính phủ của các nước đã đưa ra các chính sách thúcđẩy tăng trưởng nhanh, đồng thời đặt ra vấn đề bình đẳng, công bằng xã hội và nângcao chất lượng cuộc sống dân cư dựa trên cơ sở phát triển kinh tế tư nhân, khuyếnkhích dân cư làm giàu và thực hiện phân phối thu nhập theo sự đóng góp của cácnguồn lực

1.1.5 Vai trò của quản lý nhà nước giải quyết mối quan hệ tăng trường kinh tế với vấn đề công bằng xã hội

Tác động qua lại giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là biện chứngkhách quan của sự phát triển, tiến bộ xã hội trong thời đại hiện nay Kết hợp hài hoàgiữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là một trong những nguyên tắc chủyếu trong tiến trình phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước tahiện nay: “tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hộingay trong từng bước phát triển”( Văn kiện đ ại hội IX, t 8 8) [ 13] Lực lượng nòngcốt để thực hiện sự “kết hợp” ấy chính là nhà nước

1.1.5.1 Vai trò của quản lý nha nước cấp Trung ương

Muốn thành công, một mặt, chúng ta phải có quan niệm đúng đắn, kháchquan trên quan điểm lịch sử cụ thể về công bằng xã hội; mặt khác, các chính sách,biện pháp giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện công bằng xã hội của nhà nướcphải hướng vào sự phát triển kinh tế, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế

Nha nước xây dựng quan niệm đúng đắn, khách quan trên quan điểm lịch sử

cụ thể về công bằng xã hội.

Công bằng xã hội là khát vọng, là mục tiêu đấu tranh của nhân loại tiến bộ từbao đời nay Trong thực tế lịch sử nhân loại, công bằng xã hội biểu hiện như một xuhướng, một quá trình lịch sử phát triển tiến bộ Công bằng xã hội là một phạm trù

Trang 40

mang tính lịch sử, nó không chỉ phụ thuộc vào bản chất của chế độ xã hội, mà còndựa trên những tiền đề hiện thực, như thực lực kinh tế, mức độ phát triển kinh tế…

mà xã hội đã đạt được Công bằng xã hội và bình đẳng xã hội là hai khái niệmkhông hoàn toàn đồng nhất

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, sự công bằng xã hội mà con người đạtđược trong mỗi thời kỳ lịch sử nhất định là những nấc thang để tiến dần tới bìnhđẳng xã hội Bình đẳng xã hội hoàn toàn chỉ đạt được dưới chủ nghĩa cộng sản – xãhội có đủ điều kiện để thực hiện nguyên tắc phân phối: “Làm theo năng lực, hưởngtheo nhu cầu” Do vậy, công bằng xã hội trong điều kiện nước ta hiện nay khôngphải là được hiểu theo nghĩa bình đẳng lý tưởng, bình đẳng xã hội một cách hoàntoàn, cũng không phải theo nghĩa giản đơn, ấu trĩ như trước đây là cào bằng, bìnhquân, làm cho mọi người trở nên ngang bằng nhau trong mọi lĩnh vực của đời sốngkinh tế - xã hội Công bằng xã hội trong bất kỳ thời đại nào cũng đều là động lựcthúc đẩy xã hội phát triển tiến bộ, bao giờ cũng là mục tiêu đấu tranh của các lựclượng xã hội tiến bộ, nhưng nó chỉ thực thi và có tác dụng tích cực đối với sự pháttriển kinh tế - xã hội khi phù hợp với điều kiện lịch sử - cụ thể của thời đại, của đấtnước

Hiện nay, nước ta đang ở trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tếthị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.Quan niệm về công bằng xã hội, cũng như những chủ trương, chính sách, biệnpháp… của nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện công bằng xã hộiphải phù hợp với cơ sở kinh tế và định hướng chính trị đó Mặc dù không phải làduy nhất, song cần phải thấy rằng, công bằng trong phân phối là cốt lõi của côngbằng xã hội Nhấn mạnh nội dung này, Đại hội lần thứ IX của Đảng khẳng định:chúng ta cần “thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh

tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất,kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội” nhằm “tạo động lực mạnh mẽ phát triểnsản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xãhội” Đây là một nguyên tắc phân phối công bằng, phù hợp với điều kiện nước tahiện nay và do đó, mọi chính sách, biện pháp thực hiện đều phải dựa trên nguyêntắc đó mới có tính khả thi, đảm bảo đúng định hướng và kích thích được sự pháttriển kinh tế, tiến bộ xã hội [13]

Ngày đăng: 16/11/2018, 03:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Thành Tự Anh (2008), “ Trung Quốc : Từ tăng trưởng bằng mọi giá tới phát triển hai hòa”, http://tiasan g .c o m . v n / -khoi-n g hiep/tr u n g - q uoc-tu-tang- truong-bang-moi-gia-toi-phat-trien-hai-hoa-1637 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Trung Quốc : Từ tăng trưởng bằng mọi giá tớiphát triển hai hòa”
Tác giả: Vũ Thành Tự Anh
Năm: 2008
2. Vũ Đình Bách - Trần Minh Đạo (đồng chủ biên) (2006), Đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng của nền kinhtế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Đình Bách - Trần Minh Đạo (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
3. Chương trình Việt Nam, Đại học Harvard (2008), “Lựa chọn thành công - Bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai của ViệtNam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lựa chọn thành công - Bàihọc từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai của ViệtNam
Tác giả: Chương trình Việt Nam, Đại học Harvard
Năm: 2008
4. Cơ quan đại diện Liên hợp quốc tại Việt Nam. Đưa các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ đến với người dân. Hà Nội, 2002, tr.1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đưa các mục tiêu phát triểnThiên niên kỷ đến với người dân
5. Nguyễn Sinh Cúc (2011), "Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội” giai đoạn 2001 - 2010”, tạp chi Kinh tế & phát triển, trang 41-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiệntiến bộ, công bằng xã hội” giai đoạn 2001 - 2010
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Năm: 2011
6. Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên, Niên giám thông kê 2010; 2011; 2012; 2013;2014; 2015; 2016; Số liệu thống kê tỉnh Thái Nguyên 5 năm 2011-2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thông kê 2010; 2011; 2012; 2013
7. David Begg (2007), Kinh tế học vĩ mô, (bản dịch) Nxb. Thống kê, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học vĩ mô
Tác giả: David Begg
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 2007
9. Nguyễn Hữu Dũng (2011), "Bảo đảm gắn kết chặt chẽ tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội trong chiến lược phát triển ở nước ta đến năm 2020", Tạp chi Kinh tế va phát triển, Số 163, Tr. 9 - 14, năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm gắn kết chặt chẽ tăng trưởng kinh tế vớitiến bộ và công bằng xã hội trong chiến lược phát triển ở nước ta đến năm2020
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Năm: 2011
10. Phạm Mỹ Duyên (2006), Tăng trưởng kinh tế với vấn đề công bằng xã hội tại Thanh phố Hồ Chi Minh, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, chuyên ngành Kinh tế - chính trị, Khoa Kinh tế - Đại học quốc gia Tp. Hồ ChíMinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng kinh tế với vấn đề công bằng xã hội tạiThanh phố Hồ Chi Minh
Tác giả: Phạm Mỹ Duyên
Năm: 2006
13. Đảng Cộng sảnViệt Nam(2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toan quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toan quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sảnViệt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
14. Đảng Cộng sảnViệt Nam(2006),Văn kiện Đại hội đại biểu toan quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toan quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sảnViệt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Đại hội đại biểu toan quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toan quốc lần thứXI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2008
16. Vũ Văn Hóa & Vũ Quốc Dũng (2006), “Thị Trường Tài Chính”- NXB Tài Chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thị Trường Tài Chính”-
Tác giả: Vũ Văn Hóa & Vũ Quốc Dũng
Nhà XB: NXB Tài Chính
Năm: 2006
17. Sền Thị Hiền (2015), Ha Nội gắn kết tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa va bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, Tạp chí Lý luận chính trị số 10-2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ha Nội gắn kết tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóava bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội
Tác giả: Sền Thị Hiền
Năm: 2015
18. Vũ Văn Hóa & Lê Xuân Nghĩa (2010),“Một số vấn đề cơ bản về tai Chinh - Tiền tệ Việt Nam giai đoạn 2006 –2010”, Đề tài cấp Nhà Nước, MS: ĐTĐL - 2005/25G. Bộ KH & CN Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số vấn đề cơ bản về tai Chinh -Tiền tệ Việt Nam giai đoạn 2006 –2010”
Tác giả: Vũ Văn Hóa & Lê Xuân Nghĩa
Năm: 2010
19. Vũ Văn Hóa & Lê Văn Hưng (2010), “Giáo trình Tai Chinh công ” - Đại Học KD & CN Hà Nội - 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tai Chinh công
Tác giả: Vũ Văn Hóa & Lê Văn Hưng
Năm: 2010
20. Vũ Văn Hóa (1999), Chiến lược tai chinh giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế va công bằng xã hội, Thời báo Tài chính Việt Nam, Số 27 - 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược tai chinh giải quyết mối quan hệ giữa tăngtrưởng kinh tế va công bằng xã hội
Tác giả: Vũ Văn Hóa
Năm: 1999
21. Đinh Phi Hổ (2006), Kinh tế phát triển, Nxb Thống kê, Thành phố Hồ Chí Minh, tr 214 - 215 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế phát triển
Tác giả: Đinh Phi Hổ
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2006
22. Phan Thúc Huân (2006), Giáo trình Kinh tế phát triển, NXB Thống kê Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế phát triển
Tác giả: Phan Thúc Huân
Nhà XB: NXB Thống kê Tp HồChí Minh
Năm: 2006
23. Michael P.Todaro (1998), Kinh tế học cho thế giới thứ ba, bản dịch Nxb.Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học cho thế giới thứ ba
Tác giả: Michael P.Todaro
Nhà XB: Nxb.Giáo dục
Năm: 1998

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w