HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM BÙI THỊ THU THÀNH PHẦN LOÀI RUỒI ĐỤC QUẢ HẠI CÂY ĂN QUẢ CÓ MÚI, ĐẶC ĐIỂM GÂY HẠI CỦA LOÀI RUỒI ĐỤC QUẢ PHƯƠNG ĐÔNG BACTROCERA DORSALIS HENDEL VÀ MỘT S
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
BÙI THỊ THU
THÀNH PHẦN LOÀI RUỒI ĐỤC QUẢ HẠI CÂY ĂN QUẢ
CÓ MÚI, ĐẶC ĐIỂM GÂY HẠI CỦA LOÀI RUỒI ĐỤC QUẢ
PHƯƠNG ĐÔNG BACTROCERA DORSALIS HENDEL VÀ
MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ TRÊN CÂY BƯỞI
TẠI TÂN LẠC, HÒA BÌNH NĂM 2015
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Kim Oanh
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này được hoàn thành bằng sự nhận thức chính xác của bản thân
Các số liệu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Bùi Thị Thu
Trang 3Tôi xin chân thành cám ơn các thầy giáo, cô giáo bộ môn Côn trùng đã tạo điều kiện góp ý, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cám ơn cán bộ, đồng nghiệp công tác tại bộ môn Côn trùng, Viện Bảo vệ thực vật, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hòa Bình, Trạm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật các huyện Tân Lạc, Cao Phong, Kim Bôi đã tạo điều kiện
và hỗ trợ tôi trong quá trình điều tra, phân tích và thu thập số liệu
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành tới gia đình, đồng nghiệp và bạn
bè những người đã luôn bên tôi, động viên, giúp đỡ tôi về vật chất cũng như tinh thần trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Bùi Thị Thu
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý Nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.2 Những nghiên cứu ở ngoài nước 5
2.2.1 Thành phần loài, sự phân bố và ý nghĩa kinh tế của ruồi đục quả 5
2.2.2 Tập tính của ruồi đục quả 6
2.2.3 Biện pháp phòng chống ruồi đục quả 9
2.3 Nghiên cứu ở trong nước 14
2.3.1 Nghiên cứu thành phần loài, phân bố của ruồi đục quả 14
2.3.2 Tình hình gây hại của ruồi đục quả 15
2.3.3 Các biện pháp phòng chống ruồi đục quả 16
Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 18
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 18
3.2 Đối tượng, vật liệu và dụng cụ nghiên cứu 18
Trang 53.2.1 Đối tượng nghiên cứu 18
3.2.2 Vật liệu nghiên cứu 18
3.2.3 Dụng cụ nghiên cứu 18
3.3 Nội dung nghiên cứu 18
3.4 Phương pháp nghiên cứu 19
3.4.1 Nghiên cứu tình hình sản xuất cây ăn quả có múi và cây bưởi huyện Tân Lạc, Hòa Bình 19
3.4.2 Nghiên cứu thành phần loài ruồi đục quả bằng bẫy dẫn dụ ME (Methyl eugenol) 19
3.4.3 Phương pháp nghiên cứu hình thái các pha phát dục của ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel và ký chủ của chúng 20
3.4.4 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến sự phát sinh và gây hại của ruồi đục quả Phương Đông B.dorsalis 22
3.4.5 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm gây hại của loài ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel 24
3.4.6 Phương pháp nghiên cứu các biện pháp phòng trừ ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel 25
3.5 Công thức tính toán số liệu 27
Phần 4 Kết quả và thảo luận 29
4.1 Thực trạng sản xuất và biện pháp phòng chống sâu bệnh hại bưởi ở Tân Lạc, Hòa Bình 29
4.1.1 Thực trạng thâm canh cây bưởi tại Tân Lạc, Hòa Bình 29
4.1.2 Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tại vùng canh tác bưởi Tân Lạc, Hòa Bình 30
4.2 Thành phần, tỷ lệ xuất hiện và đặc điểm hình thái trưởng thành các loài của ruồi đục quả giống Bactrocera vùng cây ăn quả có múi tại hòa bình và vùng trồng bưởi Tân Lạc 32
4.2.1 Thành phần loài ruồi đục quả thu thập được từ bẫy ME tại Hòa Bình năm 2015 32
4.2.2 Tỷ lệ xuất hiện các loài ruồi đục quả được thu thập từ bẫy ME tại vùng trồng bưởi huyện Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 33
4.2.3 Một số đặc điểm hình thái trưởng thành phân biệt các loài ruồi đục quả thu thập được từ bẫy ME 35
Trang 64.3 Đặc điểm hình thái và thành phần cây ký chủ của loài Bactrocera
dorsalis Hendel 37
4.3.1 Đặc điểm hình thái các pha phát dục của loài B dorsalis 37
4.3.2 Thành phần cây ký chủ của ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis tại Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 39
4.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự gây hại của ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel 41
4.4.1 Ảnh hưởng của các giống bưởi đến sự gây hại ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel tại vùng bưởi Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 41
4.4.2 Ảnh hưởng của biện pháp canh tác đến sự gây hại ruồi đục quả B dorsalis tại vùng bưởi Tân Lạc 43
4.5 Tác hại của ruồi đục quả phương đông B dorsalis 44
4.5.1 Triệu chứng gây hại của ruồi đục quả Phương Đông B.dorsalis 44
4.5.2 Tập tính gây hại của ruồi đục quả B dorsalis 46
4.5.3 Tỷ lệ gây hại của loài ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis qua các kỳ theo dõi trên bưởi đỏ Tân Lạc 46
4.6 Một số biện pháp phòng trừ ruồi đục quả phương đông B dorsalis tại tân lạc, hòa bình năm 2015 48
4.6.1 Phòng trừ ruồi đục quả B.dorsalis trên bưởi bằng biện pháp bao quả tại vùng trồng bưởi Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 48
4.6.2 Tính hiệu quả kinh tế của biện pháp bao quả phòng chống ruồi đục quả tại vùng trồng bưởi Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 49
4.6.3 Phòng trừ ruồi đục quả Phương Đông bằng bả Ento-pro 150DD trên bưởi tại vùng bưởi Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 50
4.6.4 Hiệu quả kinh tế của biện pháp phun bả Ento - pro 150DD phòng chống ruồi đục quả Phương Đông tại vùng trồng bưởi Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 52
4.7 Phần thảo luận 53
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 56
5.1 Kết luận 56
5.2 Kiến nghị 57
Tài liệu tham khảo 58
Phụ lục 64
Trang 7Nghĩa tiếng Việt
Bảo vệ thực vật Cây ăn quả Giai đoạn sinh trưởng Hình thành
Methyl engenol Phát triển Ruồi đục quả
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Thực trạng thâm canh cây bưởi tại Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 29 Bảng 4.2 Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong canh tác bưởi của nông hộ tại Tân
Lạc, Hòa Bình năm 2015 31 Bảng 4.3 Thành phần mức độ phổ biến của các loài ruồi đục quả trên cây ăn quả
có múi Hòa Bình năm 2015 thu được từ bẫy ME 33 Bảng 4.4 Tỷ lệ các loài ruồi đục quả thu được từ bẫy ME tại vườn bưởi Tân Lạc,
Hòa Bình năm 2015 34 Bảng 4.5 Một số đặc điểm về hình thái của trưởng thành các loài ruồi đục quả ở
tại Tân Lạc, Hòa Bình 36
Bảng 4.6 Đặc điểm hình thái các pha phát dục của ruồi đục quả B dorsalis từ
quả bị hại 37
Bảng 4.7 Thành phần cây ký chủ của ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis tại
Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 39
Bảng 4.8 Diễn biến mật độ ruồi đục quả vào bẫy Vizubon - D trên các giống bưởi
trồng tại Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 41 Bảng 4.9 Tỷ lệ hại của ruồi đục quả B dorsalis trên các giống bưởi tại Tân Lạc,
Hòa Bình năm 2015 42 Bảng 4.10 Ảnh hưởng của các biện pháp canh tác đến sự gây hại ruồi đục quả
B dorsalis tại Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 43 Bảng 4.11 Tỷ lệ quả bị ruồi đục quả Phương Đông hại, bị rụng trên bưởi đỏ Tân
Lạc qua các đợt điều tra năm 2015 47
Bảng 4.12 Kết quả phòng chống ruồi đục quả B dorsalis trên bưởi bằng biện
pháp bao quả tại Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 49 Bảng 4.13 Hạch toán kinh tế của biện pháp bao quả phòng chống ruồi đục quả
Phương Đông tại vùng trồng bưởi Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 50 Bảng 4.14 Trưởng thành ruồi đục quả Phương Đông vào bẫy kết hợp phun bả
Ento - pro 150 DD tại vườn bưởi đỏ Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 51 Bảng 4.15 Tỷ lệ quả bị hại khi phun thí nghiệm bả Ento-Pro 150 DD tại vùng
bưởi Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 51 Bảng 4.16 Hạch toán kinh tế biện pháp phun bả Ento-pro 150DD phòng chống
ruồi đục quả Phương Đông tại vùng trồng bưởi Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 52
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Phương pháp đặt bẫy ME thu thập ruồi đục quả trên CAQ 20
Hình 3.2 Thu mẫu ruồi đục quả đem về phòng thí nghiệm giám định 20
Hình 3.3 Thu hái quả bưởi bị hại về phòng thí nghiệm 21
Hình 3.4 Theo dõi sâu non các tuổi trong phòng thí nghiệm 21
Hình 3.5 Treo bẫy Vizubon - D thu hút trưởng thành ruồi đục quả trên các giống bưởi tại Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 23
Hình 3.6 Tiến hành treo thẻ trên quả để theo dõi mức độ hại 25
Hình 3.7 Bố trí thí nghiệm bao quả 26
Hình 3.8 Bố trí thí nghiệm phun bả Ento-Pro 150DD 27
Hình 4.1 Tỷ lệ các loài ruồi đục quả thu được từ bẫy ME tại vườn bưởi Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 35
Hình 4.2 Trưởng thành các loài ruồi đục quả giống Bactrocera 36
Hình 4.3 Các pha phát dục của ruồi đục quả Phương Đông Bactocera dorsalis Hendel 38
Hình 4.4 Triệu chứng ruồi đục quả hại trên các loại cây ăn quả 40
Hình 4.5 Vườn bưởi có trồng xen ổi, thanh long 40
Hình 4.6 Diễn biến mật độ của ruồi đục quả vào bẫy Vizubon-D trên các giống bưởi trồng tại Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 41
Hình 4.7 Tỷ lệ hại của ruồi đục quả trên các giống bưởi trồng tại Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 43
Hình 4.8 Tỷ lệ hại của ruồi đục quả B dorsalis trên các biện pháp canh tác tại Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 44
Hình 4.9 Triệu chứng ruồi đục quả Phương Đông B.dorsalis gây hại 45
Hình 4.10 Tỷ lệ quả bị ruồi đục quả Phương Đông hại, bị rụng trên bưởi đỏ Tân Lạc qua các đợt điều tra 47
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Bùi Thị Thu
Tên luận văn: Thành phần loài ruồi đục quả hại vùng cây ăn quả có múi, đặc điểm
gây hại của loài ruồi đục quả Phương Đông Bactrocera dorsalis Hendel và một số
biện pháp phòng trừ trên cây bưởi tại Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015
Ngành: Bảo vệ thực vật Mã số: 60.62.01.12
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu thành phần ruồi đục quả hại cây ăn quả có múi, triệu chứng
gây hại của loài ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel trên cây bưởi tại Tân Lạc, Hòa
Bình và thử nghiệm các biện pháp quản lý làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp phòng chống chúng một cách hiệu quả
Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu gồm 4 nội dung: Thành phần loài ruồi đục quả giống Bactrocera spp
hại vùng trồng cây ăn quả có múi Hòa Bình Đặc điểm gây hại của loài ruồi đục quả
Bactrocera dorsalis Hendel trên cây bưởi Ảnh hưởng của các giống bưởi, các phương thức canh tác, chăm sóc đến sự gây hại của loài ruồi đục quả Bactrocera dorsalis
Hendel và thử nghiệm một số biện pháp phòng chống như biện pháp bao quả, biện pháp phun bả protein Ento-pro 150DD
Vật liệu nghiên cứu bao gồm: Cây ăn quả có múi Citrus bao gồm cam,
chanh, quýt, bưởi; các giống bưởi: bưởi đào, bưởi da xanh, bưởi diễn Thuốc bảo vệ thực vật: Regent 800WG; Bẫy Vizubon-D; Bả protein Ento - Pro 150DD, chất dẫn
dụ Methyl eugenol (ME) nhập ngoại
Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng kiểu bẫy Steiner với chất dẫn dụ là Methyl eugenol (ME), treo bẫy dưới tán cây, tránh ánh sáng trực xạ, cách mặt đất 1,5-2m,
cứ 2 tháng thay mồi một lần, định kỳ 7 ngày/lần đổ mẫu để đếm và phân loại thành
phần loài ruồi đục quả giống Bactrocera spp hại cây ăn quả có múi
Nghiên cứu đặc điểm gây hại của loài ruồi đục quả Phương Đông Bactrocera
dorsalis Hendel bằng phương pháp treo thẻ, thẻ làm bằng bìa catton cứng, có đánh
số quả bưởi theo dõi Thời gian tiến hành treo thẻ từ lúc đậu quả đến khi thu hoạch hoặc bị rụng
Phương pháp nghiên cứu hình thái của các pha phát dục, ảnh hưởng của một số yếu tố về giống và phương thức canh tác tới sự gây hại của ruồi đục quả Phương Đông
Bactrocera dorsalis Hendel Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ như bao quả và phun bả Ento-pro 150DD
Trang 11Kết quả chính và kết luận:
1 Thành phần ruồi đục quả hại cây ăn quả có múi tại Tân Lạc, Hòa Bình năm
2015 bao gồm 3 loài: Bactrocera dorsalis Hendel, Bactrocera correcta Bezzi, Bactrocera
curvifera Walker, trong đó loài B dorsalis và B corecta là 2 loài gây hại chủ yếu
2 Đã xác định được có 6 loại quả là thức ăn của sâu non ruồi đục quả Phương
Đông B.dorsalis tại Tân Lạc, Hòa Bình bao gồm bưởi, cam, quýt, khế, ổi, thanh long Ở
các giai đoạn phát triển quả bưởi, theo dõi thời gian từ cuối tháng 8 - đầu tháng 9, tỷ lệ quả bị châm hại và tỷ lệ quả bị rụng cho thấy ở giai đoạn phát triển quả - quả già đạt cao nhất 21,1%; tỷ lệ quả bị rụng đạt cao nhất 13,2% số quả vào giai đoạn quả bưởi chín sinh lý - thu hoạch (khoảng thời gian cuối tháng 10 - trung tuần tháng 11)
3 Ruồi đục quả B dorsalis xuất hiện và gây hại trên tất cả các giống bưởi được
trồng tại vùng Tân Lạc, Hòa Bình Trong giai đoạn quả già tương đương trong khoảng thời gian từ 09/8 đến 20/9/2015 số lượng ruồi trưởng thành vào bẫy Vizubon-D đạt cao
nhất trên giống bưởi Đỏ Tỷ lệ quả bị ruồi đục quả B dorsalis hại ở giai đoạn quả bưởi
đã già, cao nhất là 9,64% số quả trên giống bưởi Đỏ
Ở vườn bưởi trồng thuần, cây được tạo cành tỉa tán, vệ sinh vườn, thu gom chôn lấp quả rụng sau thu hoạch tỷ lệ quả bị ruồi hại cao nhất là 6,07% trong đó ở vườn bưởi trồng tạp, không làm các biện pháp kỹ thuật trên tỷ lệ quả bị hại đạt 14,04% Như vậy, phương thức canh tác không tỉa cành tạo tán, thu gom quả rụng, vệ sinh vườn là nơi tích tụ nguồn
ruồi đục quả B dorsalis gây hại cho vườn trồng vào năm sau
4 Phòng trừ ruồi đục quả B dorsalis bằng phương pháp thủ công bao quả tỷ
lệ quả bị ruồi hại đạt 1,2%, trong đó quả bưởi không được bao tỷ lệ bị ruồi hại đạt 11,2% Phun bả Ento - pro 150DD có tác dụng giảm tỷ lệ quả bị hại còn 3,2% trong khi vườn đối chứng không phun bả là 9,38% Đồng thời, biện pháp bao quả, phun bả Ento-pro150 DD làm cho sản phẩm có mẫu mã đẹp hơn, vỏ quả sáng, hiệu quả kinh
tế cao, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 12THESIS ABSTRACT
Author: Bui Thi Thu
Thesis title: Composition damage fruit flies of citrus fruit tree areas, damaging
characteristics of fruit flies orient Bactrocera dorsalis Hendel and some control
measures on grapefruit in Tan Lac, Hoa Binh 2015
Major: Plant Protection Code: 60.62.01.12
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Research Objectives
Research project component of fruit fly damage in citrus fruit, damage
symptoms of fruit flies Bactrocera dorsalis Hendel on grapefruit in Tan Lac, Hoa Binh
and test management measures as a basis for proposing measures to prevent them effectively
Research topics include 4 content: Composition same fruit flies Bactrocera spp the damage citrus crops Peace Harmful characteristics of fruit flies Bactrocera dorsalis
Hendel on grapefruit Effects of grapefruit varieties, cultivation methods, tending to the
harm of fruit flies Bactrocera dorsalis Hendel and test some prevention measures such
measures bags fruit, measures Ento-pro protein bait spray 150DD
Materials and Methods: Citrus Fruit including oranges, lemons, tangerines, grapefruit;
grapefruit varieties: pink grapefruit, green grapefruit, grapefruit Plant protection products: Regent 800WG; Vizubon-D trap; Ento Protein Baits - Pro 150DD, Methyl eugenol lures (ME)
Use Steiner trap types with Methyl eugenol lures are hanging traps under trees, avoid exposed to light radiation, from the ground 1,5-2m, every 2 months rather bait once, periodically 7 days / times pour samples for counting and classification of species
varieties fruit flies Bactrocera spp Citrus fruit damage
Research damaging characteristics of fruit flies Bactrocera dorsalis Hendel
Orient method hanging cards, cards made of cardboard, with a serial number tracking grapefruit Duration of the card hanging from the fruit set until harvest or fell out
Morphological research methods of sexual maturity phase, the effects of some
factors on seeds and farming practices to the damaging of the fruit fly Bactrocera
dorsalis Hendel Testing some preventive measures such as bags fruit and spray pro 150DD baits
Ento-Main findings and conclusions
1 Composition of fruit fly damage in citrus fruit in Tan Lac, Hoa Binh 2015
includes three species: Bactrocera dorsalis Hendel, Bactrocera correcta Bezzi ,
Bactrocera curvifera Walker, in which species B dorsalis and B corecta 2 major pests
Trang 132 Identified 6 fruits eaten by fruit fly larvae in Tan Lac B.dorsalis Oriental, Peace include grapefruit, oranges, mandarins, star fruit, guava, dragon fruit In the development phase grapefruit, track time from late August - early September, the rate of damage results and ratios are lit falling out results showed that at the stage of fruit development - the highest age 21, first%; results in falling out ratio reached 13.2% of the fruits highest stage of maturity grapefruit - harvest (period end October - mid- November)
3 B dorsalis fruit flies appear and damage on all varieties of grapefruit in Tan
Lac, Hoa Binh In the period of ripe fruits period from 09/8/2015 to 20/9/2015 number
of adult flies into the trap Vizubon highest - on Red grapefruit varieties The rate fruit
were harmful by fruit fly B dorsalis is 9.64% of the highest in the fruit Red grapefruit
In monoculture grapefruit garden, tree prunings created canopy, garden sanitation, collection and burial of post-harvest drop fruit, the rate of fruit flies was highest at 6.07% of which grapefruit planting garden complex, not to technical measures, the ratio reached 14.04% damaged fruit Such as, farming practices do not create canopy pruning, collecting drop fruit, garden sanitation accumulate resources where B dorsalis by fruit fly harmful to plant next
4 Prevention B dorsalis fruit fly by manual methods bags fruit rate of 1.2%
damaged fruit, including grapefruits not bags ratio reached 11.2% damaged Entopro150DD bait spray is effective to reduce the ratio to 3.2% pod is damaged while untreated garden is 9.38% At the same time, measures bags fruit, spray baits Entopro150 DD makes products more beautiful sample code, bright fruit skin, high economic efficiency, ensure food safetyyear's garden
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cây ăn quả có múi (đặc biệt là cam, chanh, quýt, bưởi) được coi là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, trong quả có nhiều chất khoáng đặc biệt nhiều vitamin, nhất là vitamin A, C rất cần thiết cho cơ thể con người Trong thành phần thịt quả chứa 6-12% đường (chủ yếu là đường saccaroza - đường mía), hàm lượng vitamin C có từ 40 - 90 mg/100g quả tươi, các axit hữu cơ từ 0,4 - 1,2%, trong đó có nhiều chất có hoạt tính sinh học cao cùng với các chất khoáng và dầu thơm
Cam, bưởi có tính an thần, chống co thắt, gây ngủ nhẹ, lợi tiêu hóa, trừ giun,
hạ nhiệt, giảm biên độ co bóp tim Còn y học cổ truyền cho rằng cam có vị ngọt, tính mát, có tác dụng giải khát, tiêu đờm, lợi tiểu, giúp tiêu hóa
Hòa Bình là tỉnh miền núi, trung tâm tỉnh lỵ cách thủ đô Hà Nội 73km, điều kiện khí hậu và đất đai; nguồn lao động trong nông nghiệp khá dồi dào khoảng 392 ngàn người chiếm 71% lực lượng lao động của tỉnh, đây là nguồn lực quan trọng góp phần thúc đẩy ngành nông nghiệp nói chung và sản xuất cây
ăn quả có múi nói riêng Diện tích cây ăn quả có múi năm 2014 đạt 1.500 ha sản lượng đạt 22 ngàn tấn, đứng thứ nhất về diện tích cây có múi của khu vực Trung
du và miền núi Tây Bắc Theo quy hoạch của tỉnh, năm 2015 ước đạt 2.600 ha
với sản lượng khoảng hơn 27 nghìn tấn, đến năm 2020 đạt 5.800 ha với sản lượng ước đạt trên 80 nghìn tấn (UBND tỉnh Hòa Bình, 2013)
Cây ăn quả có múi nói chung và cây cam, bưởi nói riêng là loại cây trồng yêu cầu mức độ đầu tư, thâm canh cao hơn các loại cây trồng khác Nếu mức đầu
tư thấp hoặc chỉ dựa vào độ phì nhiêu của đất thì hiệu quả kinh tế rất thấp và chu
kỳ kinh tế ngắn, thậm chí cho kết quả ngược lại
Cây ăn quả có múi đặc biệt cây bưởi có nhiều đối tượng sâu bệnh hại, nhiều sâu bệnh hại dễ lây lan và rất khó phòng trừ, có đến 98% các hộ trồng cam, bưởi chủ yếu dựa vào biện pháp hóa học, phun thuốc với nồng độ cao, phun thường xuyên liên tục theo định kỳ và kinh nghiệm là chính Bên cạnh việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật thâm canh để nâng cao năng suất và sản lượng, người sản xuất phải đối mặt với những yêu cầu cao về chất lượng và sự an toàn của sản
Trang 15phẩm quả tươi Để đạt được những yêu cầu này đòi hỏi người sản xuất phải thực hiện tốt các giải pháp quản lý dịch hại theo hướng tổng hợp
Ruồi đục quả Phương Đông Bactrocera dorsalis Hendel là một dịch hại
nguy hiểm đối với cây ăn quả vì sâu non sinh sống và gây hại trong quả, ăn thịt quả, gây rụng quả hàng loạt dẫn đến làm giảm năng suất, thậm chí gây thất thu
Ngoài tác hại trực tiếp, ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis còn là đối tượng
kiểm dịch thực vật của nhiều nước nhập khẩu sản phẩm quả tươi từ Việt Nam
Để phòng trừ ruồi đục quả nói chung và ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis
nói riêng hiện nay chủ yếu dựa vào bẫy diệt trưởng thành đực và thuốc hoá học, nhưng hiệu quả phòng trừ không cao Các kết quả nghiên cứu về ruồi đục quả
Phương Đông B dorsalis đã có chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất cây ăn quả Việc quản lý ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis đang là cấp bách cho
sản xuất nông nghiệp và là thách thức cho hoạt động xuất khẩu quả tươi của Việt Nam
Xuất phát từ tình hình trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu thực hiện đề tài
là: “ Thành phần loài ruồi đục quả hại vùng cây ăn quả có múi, đặc điểm gây
hại của loài ruồi đục quả Phương Đông Bactrocera dorsalis Hendel và một số biện pháp phòng trừ trên cây bưởi tại Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015 ”
1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục đích
Nghiên cứu thành phần ruồi đục quả hại cây ăn quả có múi, triệu chứng,
mức độ gây hại của loài ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel và ảnh hưởng
của một số yếu tố sinh thái trên cây bưởi tại Tân Lạc, Hòa Bình và thử nghiệm các biện pháp quản lý làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp phòng chống chúng một cách hiệu quả
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Thu thập và giám định thành phần loài ruồi đục quả giống Bactrocera tại
vùng cây ăn quả có múi (cam, chanh, quýt, bưởi) Hòa Bình
- Xác định được đặc điểm gây hại loài ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel trên cây bưởi
- Xác định được diễn biến mật độ trưởng thành loài ruồi đục quả B dorsalis
vào bẫy gây hại trên cây bưởi dưới ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái
Trang 16- Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ ruồi đục quả từ đó xác định
được hiệu quả của một số biện pháp phòng trừ ruồi đục quả B dorsalis
1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần cung cấp dữ liệu khoa học về
thành phần loài ruồi đục quả giống Bactocera spp tại vùng trồng cây ăn quả có
múi (cam, quýt, bưởi) Hòa Bình
- Kết quả nghiên cứu đặc điểm gây hại và ảnh hưởng của một số yếu tố
sinh thái đến sự gây hại của ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel trên cây bưởi tại Tân Lạc, Hòa Bình
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đề xuất biện pháp phòng chống ruồi đục quả Phương Đông có hiệu quả,
an toàn đối với sản phẩm tươi và sức khỏe con người, thân thiện với môi trường
ở Tân Lạc, Hòa Bình và các vùng sản xuất cây căn quả có múi tập trung của tỉnh
Trang 17PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Từ khi thực hiện chủ trương đa dạng hóa cây trồng trong nông nghiệp, đặc biệt chú trọng đến những cây trồng có giá trị kinh tế cao ngoài cây lúa Trong những năm gần đây, cây có múi (cam, chanh, quýt, bưởi) là những loại cây ăn quả có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao, được xác định là một trong những cây ăn quả chủ lực trong việc phát triển nền nông nghiệp hàng hóa, phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu
Với những điều kiện thuận lợi từ các vùng, miền trên cả nước về điều kiện thời tiết khí hậu mang lại, diện tích trồng cây ăn quả có múi ở nước ta năm 2007 khoảng 140,9 nghìn hecta với sản lượng 1.059,3 nghìn tấn, trong đó cam, quýt có diện tích 86,2 nghìn hecta, sản lượng 654,7 nghìn tấn; bưởi 41,4 nghìn hecta, sản lượng 310,6 nghìn tấn và chanh 13,3 nghìn hecta, sản lượng 94,0 nghìn tấn Đến năm 2009 diện tích cây có múi ở nước ta tăng nhưng cũng chỉ đạt 142,46 nghìn hecta, trong đó diện tích cho sản phẩm khoảng 110,9 nghìn hecta và sản lượng khoảng 1.221,8 nghìn tấn Tuy diện tích tăng chậm nhưng năng suất luôn được cải thiện, sản lượng cũng được tăng đáng kể Số liệu sơ bộ năm 2010 cho thấy sản lượng quả có múi có thể đạt 1,3 triệu tấn
Hòa Bình, với điều kiện khí hậu và đất đai phong phú, nguồn nhân lực dồi
dào đã góp phần thúc đẩy ngành nông nghiệp nói chung và cây có múi nói riêng
Năm 2012 diện tích cam và cây có múi của tỉnh đạt khoảng 1.500 ha, sản lượng đạt 25 ngàn tấn, đứng thứ 1 về diện tích cây có múi của khu vực Trung du và miền núi Tây Bắc và trong quy hoạch vùng sản xuất cây ăn quả có múi an toàn, tập trung của tỉnh đến năm 2020 đạt 5.084 hecta, ước sản lượng đạt trên 80 nghìn tấn (UBND tỉnh Hòa Bình, 2013)
Ruồi đục quả họ Tephritidae có thành phần loài khá phong phú và có phổ
ký chủ rất đa dạng thuộc các họ thực vật khác nhau (Ian and Marlene, 1992) Tuy nhiên, thành phần loài ruồi đục quả thuộc họ Tephritidae ở các vùng sinh thái khác nhau rất không giống nhau, thay đổi chủ yếu phụ thuộc vào thành phần loài thực vật là cây ký chủ của chúng
Những hiểu biết về đặc điểm riêng sinh vật học và sinh thái học của ruồi đục quả là cơ sở khoa học chắc chắn để đề xuất biện pháp phòng chống chúng một cách hiệu quả
Sâu non (giòi) của các loài ruồi đục quả thuộc họ Tephritidae đều sinh
Trang 18sống và gây hại ở bên trong quả của các loại thực vật Do đó, việc nghiên cứu diễn biến số lượng của quần thể ruồi đục quả chỉ có thể thông qua theo dõi diến biến số lượng của pha trưởng thành vào các loại bẫy khác nhau
Với tập tính sống ở bên trong các loại quả nên các biện pháp (kể cả biện pháp
hóa học) phòng trừ sâu non của ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis thường
không cho hiệu quả cao Các nghiên cứu diễn biến số lượng trưởng thành của ruồi
đục quả Phương Đông B dorsalis là căn cứ quan trọng để đề xuất thời điểm áp
dụng các biện pháp tiêu diệt pha trưởng thành của ruồi đục quả Hiện nay, trong thực tiễn sản xuất tại Hòa Bình, chưa có biện pháp hữu hiệu nào được áp dụng để phòng trừ ruồi đục quả ngoài việc phải thu hoạch quả sớm hoặc sử dụng thuốc trừ sâu phun khắp vườn gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng sức khỏe con người và tiêu diệt
nhiều loài côn trùng có ích khác
2.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU Ở NGOÀI NƯỚC
2.2.1 Thành phần loài, sự phân bố và ý nghĩa kinh tế của ruồi đục quả
Trên thế giới có khoảng 4.500 loài ruồi đục quả (Diptera: Tephritidae) (Drew, 2001), trong đó có 50 loài được phân loại là loài dịch hại nguy hiểm chủ yếu đối với cây ăn quả và cây rau ăn quả và 30 loài khác được đánh giá là loài dịch hại thứ yếu (Allwood and Drew, 1997) Tại khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương chỉ riêng thuộc phân họ Dacinae đã ghi nhận có 642 loài ruồi đục quả (Drew and Romig, 1996) Ruồi đục quả ở khu vực Canada, Mỹ và miền núi phía Bắc Mêxicô
có khoảng 60 loài gọi là nhóm Nearctic Ruồi đục quả ở vùng Châu Mỹ là phân
nhóm Neotropical với khoảng 180 loài thuộc giống Anastrepha, một vài loài thuộc phức hợp loài ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis và Ceratitis capitata và 21 loài thuộc giống Rhagoletis Giống ruồi đục quả Bactrocera được ghi nhận là quan trọng
ở khu vực Thái Bình Dương và đa số các loài trong giống này thuộc nhóm kiểm
dịch thực vật của nhiều nước ở trên thế giới (Roger et al., 2012)
Loài ruồi đục quả Phương Đông nằm trong giống Bactrocera, thuộc nhóm
B dorsalis Loài ruồi đục quả này xuất hiện ở California, Florida vào năm 1987
và đã bị tiêu diệt, nhưng đến 1989 nó lại xuất hiện trở lại Loài ruồi đục quả này chưa ghi nhận có ở khu vực châu Âu Tại châu Á, loài ruồi đục quả Phương
Đông B dorsalis được ghi nhận có mặt ở Đài Loan từ năm 1912 Từ đó đến nay
loài này đã mở rộng phân bố tới nhiều vùng khác nhau thuộc khu vực châu Á và Thái Bình Dương như Ấn Độ, Paskistan, Nepan, Việt Nam, Lào, Thái Lan Ruồi
Trang 19đục quả Phương Đông là một trong năm loài ruồi đục quả quan trọng ở khu vực Đông Nam Á
Ruồi đục quả có ảnh hưởng nghiệm trọng đến kinh tế, chúng làm mất mùa, giảm xuất khẩu và làm tăng các yêu cầu, đòi hỏi trong công tác kiểm dịch thực vật Ruồi gây tổn hại đến cây trồng khi con trưởng thành cái chọc thủng lớp
vỏ quả và đẻ trứng trên quả, sâu non (giòi) ăn phần thịt quả và những tác hại đó khiến cho quả tiếp tục bị thối rữa bởi các loại vi sinh vật Ấu trùng ăn thịt quả là dạng hư hại nghiêm trọng nhất do nó khiến trái cây thối hỏng nhanh chóng và không thể tiêu thụ được (Mau and Matin, 1992)
Ở giai đoạn trước thu hoạch, tỉ lệ hại của loài ruồi đục quả Carpomya
vesuviana Costa trên quả táo đạt từ 10,4 % đến 47% Loài ruồi đục quả Địa
Trung Hải gây ra tỉ lệ quả bị hại là 20-25% trên cây cam quýt, 91% trên cây đào, 55% trên cây mơ và 15% cho cây mận ở Jordan (Allwood and Leblanc, 1996)
Một số ít các loài ruồi đục quả gây hại ngay khi quả vừa mới hình thành
Ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis là một trong những loài gây hại
nghiêm trọng cho nhiều loại quả của nhiều nhóm cây trồng, nhưng ít gặp gây hại quả của các cây họ bầu bí Theo Waterhouse (1993), loài ruồi đục quả này được xếp là một trong năm loài ruồi đục quả quan trọng ở khu vực Đông Nam Á
Giai đoạn sau thu hoạch, ruồi đục quả thuộc nhóm đối tượng kiểm dịch thực vật của nhiều nước ở trên thế giới Ruồi đục quả làm cản trở hoạt động xuất nhập khẩu rau quả do luật kiểm dịch thực vật của nhiều nước cấm nhập rau, quả từ những vùng có ruồi đục quả Tuỳ theo nước nhập khẩu sản phẩm nông nghiệp mà
có yêu cầu kiểm dịch về các loài ruồi đục quả Việc kiểm soát ruồi đục quả ở mỗi quốc gia được thực hiện dựa trên những qui ước quốc tế chung như hướng dẫn về phương pháp tiếp cận để quản lý những loài ruồi đục quả quan trọng (FAO, 2012), qui ước về xác định vùng dịch hại (FAO, 1998), v.v… Nhiều quốc gia trên thế giới phải chi kinh phí khá cao cho nghiên cứu nhằm kiểm soát ruồi đục quả Theo Allwood and Leblanc (1996) chính phủ New Zealand phải chi tới 6 triệu đô la New Zealand nhằm kiểm soát loài ruồi đục quả Địa Trung Hải vào năm 1986 Ở nước Australia, hàng năm mức chi cho phòng trừ ruồi đục quả lên tới 850 triệu đô la Australia mà tổn thất năng suất vẫn ước tính khoảng 100 triệu đô la Australia
2.2.2 Tập tính của ruồi đục quả
Hoạt động của ruồi đục quả Tephritidae có rất nhiều kiểu khác nhau và đã
Trang 20được nghiên cứu để các loài ruồi đục quả quan trọng có thể được hiểu, giám sát, điều khiển và quản lý hoặc loại bỏ Tập tính của một số loài ruồi thuộc họ
Tephritidae đã được nghiên cứu như là ruồi đục quả Queensland, ruồi đục quả
Phương Đông, ruồi đục quả Địa Trung Hải… do tầm quan trọng kinh tế của
chúng so với các loài khác (Prokopy et al., 1991) Hoạt động tìm kiếm ký chủ và
đẻ trứng của ruồi đục quả Tephritidae sẽ không diễn ra cho đến gần giai đoạn trước khi ruồi cái thực sự trưởng thành và người ta đã phát hiện ra loài chủ thể, đặc điểm hóa học và vật lý của chủ thể, thói quen trước đó của ruồi cái với sự chấp nhận quả ký chủ là những nhân tố chính tác động đến hoạt động tìm kiếm
và đẻ trứng (Prokopy et al., 1991) Theo dõi chi tiết của từng con cái loài ruồi B
dorsalis, B.tryoni…qua thời gian trên cây trồng đã phát hiện ra hoạt động tìm kiếm vị trí và đẻ trứng của ruồi đục quả Tephritidae cái có liên quan đến số lượng
và chất lượng và sự phân bố của ký chủ trên cây, tán lá của cây, tình trạng của
các con trưởng thành (Prokopy et al., 1991), giá trị của khứu giác nhận được ám
hiệu thị giác từ quả ký chủ và các điệu kiện môi trường (nhiệt độ và cường độ ánh sáng) Aluja (1989) cho rằng việc chấp nhận sự đẻ trứng của ruồi cái họ Tetephritidae vào quả ký chủ bị ảnh hưởng bởi hình dáng, kích cỡ, màu sắc của quả và một số các đặc điểm vật lý khác của quả như tính hóa lỏng trong quả, chất hóa học trên bề mặt quả
Sự ưu tiên lựa chọn quả ký chủ của ruồi cái Tephritidae cũng phụ thuộc vào các nhân tố như loại quả, độ chín của quả, vết thương trên quả và vết chích trước của các con cái khác Cả con cái ruồi Queensland và ruồi đục quả Phương Đông đều thích
đẻ trứng trong những vết đẻ trứng cũ và chúng đẻ trứng thường xuyên ở các vết mới đục hơn là trên các quả chưa bị đục lỗ Chúng cũng thường bị thu hút bởi các vết thương của quả do vết chích đẻ trứng của các con cái khác hoặc vết thương tự nhiên, đặc biệt là các vết thương còn mới từ 2 giờ đến 2 ngày (Liu and Huang, 1990) Stange (1999) cũng chứng minh rằng carbon dioxide là một chất hạn chế phạm vi hấp dẫn sự đẻ trứng của ruồi đục quả Sự gây hại quả của ruồi đục quả Phương Đông có tương quan cao với độ chín của quả và mùi thơm của quả Nghiên cứu về phản ứng của ruồi đục quả Phương Đông cái đối với mùi thơm của quả vải ở 3 độ chín trong phòng thí nghiệm chỉ ra rằng tốc độ sinh sản và số lượng trứng tăng cùng với mùi thơm và độ chín của quả Các đặc điểm hình thái của quả giống như bề mặt vỏ và màu sắc tươi có tác động rõ rệt đến sự lựa chọn của các con ruồi đục quả Phương Đông cái, trong khi hình dạng của quả không có một
Trang 21chút ảnh hưởng nào (Liu and Huang, 1990) cũng tuyên bố rằng các con cái ruồi đục quả Phương Đông thích ổi và cam quýt hơn cả Sự ưa thích quả ký chủ thường dẫn đến tỷ lệ tồn tại cao hơn và vòng đời ngắn hơn của loài dịch hại này
Các nghiên cứu về hoạt động sinh sản của ruồi đục quả Tephritidae bằng cách quan sát trong tự nhiên với các con ruồi trong lồng ở phòng thí nghiệm và ruồi nuôi ở trong lồng trang trại, đã chỉ ra rằng hầu hết chúng giao phối trong điểu kiện ánh sáng yếu và sự giao phối diễn ra chủ yếu trong tán cây (Drew and Lloyd, 1987) Các nghiên cứu về mô hình chung hoạt động hàng ngày của ruồi đục quả Phương Đông đã chỉ ra rằng sự thay đổi thất thường hằng ngày trong việc giao phối là do nhịp điệu sinh học và việc giao phối thường bắt đầu vào buổi tối, tăng nhanh trong vòng 2 giờ sau đó giảm dần Hoạt động chiếm ưu thế của con ruồi đục quả Phương Đông đực là bay qua bộ phận sinh dục cái của ruồi cái Nói chung, sự giao phối của các loài ruồi thuộc Tephritidae là một con đực có thể giao phối nhiều con cái Điều này liên quan đến khả năng của những con đực trong việc kết đôi riêng với những con cái Pheromon giới tính đực được tiết ra trong quá trình “tán tỉnh” và giao phối (Kuba and Koyama, 1985)
Việc hình thành chất dẫn dụ sinh học và xu hướng hoạt động của ruồi đục quả Tephritidae được thấy là bị tác động bởi một vài nhân tố vật lý và sinh học như là thời gian trong ngày, thức ăn của con trưởng thành và quả ký chủ, đặc biệt các loài Tephritidae thường có nhứng hoạt động mang nét đặc trưng tiêu biểu mà các con đực dựa vào các ấu trùng ký sinh trên quả là các phạm vi theo loài để
“tán tỉnh” và giao phối (Jang et al., 1994) Con đực của loài ruồi đục quả Phương
Đông thường bị hấp dẫn bởi chất có hoạt tính sinh học cao methyl eugenol Araki
et al (1984) chỉ ra rằng giai đoạn tiền giao phối của con đực loài ruồi đục quả Phương Đông là từ 11 đến 51 ngày, trong đó 80% các con trưởng thành có đôi,
có cặp
Trong tác động lên hoạt động của côn trùng, các tác nhân kích thích được
sử dụng trong quá trình chọn lựa ký chủ được phân loại là chất hấp dẫn, chất kích thích, chất xua đuổi và các chất gây ngán Các chất hấp dẫn ruồi đục quả như đặt mồi bả để phát hiện, quản lý, điều khiển và loài trừ các loài dịch hại Các chất hấp dẫn hóa học là tiêu điểm chính của các nghiên cứu hành vi ruồi đục quả, việc bẫy ruồi đực hoàn toàn hữu dụng đối với các chương trình phòng trừ ruồi đục quả Ví dụ, methyl eugenol (4- allyl- 1,2- dimethoxybenzene- carboxylate) hấp dẫn ruồi đục quả Phương Đông và một số loại khác có liên quan Các nhân tố
Trang 22môi trường như nhiệt độ, lượng mưa và độ chín của quả cùng ảnh hưởng đến độ hấp dẫn của ruồi đục quả Phương Đông đối với chất dẫn dụ là ME
Nghiên cứu phản ứng của các con ruồi trưởng thành về màu sắc, Stark and Vargas (1992) cho thấy con đực loài ruồi đục quả Phương Đông bị hấp dẫn mạnh bởi bẫy màu trắng và vàng, trong khi đó màu xanh, đỏ, đen ít hấp dẫn hơn và người ta cho rằng độ thu hút của bẫy chủ yếu là do mức độ phản xạ ánh sáng
2.2.3 Biện pháp phòng chống ruồi đục quả
Các phương pháp quản lý được phát triển để loại bỏ hoặc điều khiển ruồi đục quả đã được Allwood (1997) cân nhắc và tổng kết Những phương pháp này chia thành 3 mục chính: kiểm soát giai đoạn trước thu hoạch, sau thu hoạch và luật kiểm dịch thực vật Phương pháp kiểm soát đồng ruộng bao gồm: phun thuốc trừ sâu, bẫy bả, biện pháp cơ lý (bao quả), biện pháp canh tác kỹ thuật (vệ sinh đồng ruộng, thu hoạch sớm, sử dụng các giống kháng), biện pháp sinh học, biện pháp triệt sản, kiểm soát hoạt động của ruồi (sử dụng bẫy với các màu sắc, hình dạng và mùi hương khác nhau, bẫy diệt các con đực, bẫy bả protein) Xử lý sau thu hoạch phục vụ mục đích xuất khẩu tập trung vào việc tiêu diệt ấu trùng và trứng trong quả bằng các hóa chất (hun khói, xông hơi…) hoặc các kỹ thuật tác động vật lý (xử lý nhiệt, chiếu xạ…)
Hệ thống kiểm dịch tập trung vào chống sự lan truyền của ruồi đục quả từ một vùng này đến vùng khác hoặc từ nước này sang nước khác
Biện pháp kiểm dịch thực vật: Để có thể xuất khẩu được các loại quả tươi cần tiến hành các biện pháp nhằm tiêu diệt trứng hay sâu non ruồi đục quả có trong các loại quả cần xuất khẩu Một số hoá chất có thể dùng cho mục đích này như fenthion và dimethoate, thuốc xông hơi methyl bromide và ethylen dibromide Cũng có thể xử lý chiếu xạ quả, xử lý nhiệt (biện pháp dùng nước nóng, hơi nước nóng, khí nóng, xử lý lạnh) Việc ứng dụng biện pháp nào nêu trên phải dựa vào yêu cầu của nước nhập khẩu quả tươi Tuy nhiên, thường được
xử lý lạnh ở nhiệt độ 00C, 50C; 10C và 1,50C trong khoảng thời gian tương ứng là
11, 12 và 14 ngày đối với quả măng cụt tươi Cũng có thể xử lý diệt sâu non ruồi đục quả ở bên trong quả bằng hơi nước nóng ở 460C với thời gian xử lý dài ngắn khác nhau tuỳ thuộc kích cỡ quả, nhưng thường trong khoảng từ 65 đến 90 phút Hạn chế của những biện pháp này là gây ảnh hưởng đến chất lượng quả và có tác dụng phụ đến sức khoẻ người tiêu dùng Biện pháp xử lý nhiệt không sử dụng được đối với những quả nhiệt đới do dễ làm hỏng tế bào quả (dẫn theo Nguyễn Hữu Đạt, 2007)
Trang 23Nghiên cứu phòng chống ruồi đục quả bằng các biện pháp canh tác như thay đổi thời vụ sản xuất, vệ sinh đồng ruộng và thu hoạch quả sớm có thể cho hiệu quả nhất định phụ thuộc điều kiện áp dụng
Thời vụ: Nhiều nghiên cứu cho thấy ruồi đục quả xuất hiện quanh năm trên đồng ruộng với mật độ quần thể trong tự nhiên rất biến động, khi cao khi thấp Mật độ quần thể của chúng thường cao vào các tháng mùa nóng và giảm hoặc xuống rất thấp trong những tháng mùa đông Do đó, các nhà bảo vệ thực vật
đã khuyến cáo người dân ở Tonga và Fiji nên trồng tăng diện tích cây ớt, cà vào
những tháng mùa đông để tránh sự gây hại của ruồi đục quả loài Bactrocera
facialis Coquilett (Allwood, 1996)
Vệ sinh đồng ruộng: Biện pháp vệ sinh đồng ruộng được thực hiện dưới hình thức thu gom, xử lý quả rụng, quả bị ruồi đục quả gây hại còn ở trên cây và thu hái quả từ cây thức ăn khác của ruồi đục quả nhưng không là loại cây chính đang cần phòng trừ chúng Theo dõi ở Hawaii cho thấy quả quả đu đủ bị loài ruồi
đục quả Phương Đông B dorsalis và loài B cucurbitae gây hại liên tục trong 21
tháng Thực tế không phải lúc nào quả đu đủ cũng có trên cây Như vậy, rõ ràng
là các loài ruồi đục quả này đã tấn công ngay cả những quả đu đủ đã bị rụng Tỷ
lệ quả quất (Fortunella japonica Thunb) rụng xuống đất có ruồi đục quả loài B
passiflorae Froggat đạt là 35% Trong khi đó, những quả quất hái trên cây chỉ với
7% có ruồi đục quả loài B passiflorae (Allwood and Leblanc, 1996) Tuy nhiên,
nhiều ý kiến cho rằng nếu thực hiện đơn lẻ biện pháp này thì chỉ thu được kết quả nhất định, hiệu quả không cao Biện pháp này chỉ đem lại hiệu quả kinh tế nhất khi phối hợp với biện pháp phun bả Protein
Thu hoạch quả sớm: Biện pháp này được thực hiện trước khi quả bước vào giai đoạn mẫn cảm với ruồi đục quả Ví dụ, với quả đu đủ giống Eksotika (giống chuyên để xuất khẩu của Malaysia) được thu tại thời điểm vỏ quả có màu hơi vàng thì hoàn toàn có thể tránh được bị ruồi đục quả gây hại (Vijayseganran, 1996) Tuy nhiên, biện pháp này không có hiệu quả đối với những loài ruồi đục
quả có tập tính gây hại ở thời kỳ quả còn xanh như loài ruồi đục quả chuối B
musae (Tryon) (Allwood and Leblanc, 1996)
Biện pháp thủ công vật lý như bao gói quả, bẫy dẫn dụ, bẫy thức ăn được các tác giả nghiên cứu như:
Bao gói quả: Mục đích của các biện pháp này nhằm tạo ra rào cản ngăn
Trang 24không cho ruồi đục quả tiếp xúc trực tiếp với quả, ruồi đục quả không thể đẻ trứng vào quả được Đây là biện pháp bao bọc quả trước khi quả bước vào giai đoạn chín, giai đoạn mà quả mẫn cảm nhất với ruồi đục quả Biện pháp này được
áp dụng để trừ ruồi đục quả khế và quả hồng xiêm ở Malaysia cho kết quả tốt, tỷ
lệ quả bị ruồi đục quả gây hại giảm từ 100% xuống chỉ còn 15 - 20% Hạn chế của biện pháp này là chỉ thuận tiện dùng cho những loại quả có cuống dài, ở những nơi có giá trị công lao động rẻ và loại quả cần bảo vệ có giá trị kinh tế cao, thích hợp cho những nơi gần cư dân sinh sống (Allwood, 1996)
Sử dụng bẫy màu sắc: Một số loài ruồi đục quả bị hấp dẫn bởi một màu nhưng cũng có những loài bị nhiều loại màu hấp dẫn Loài ruồi đục quả Phương
Đông B dorsalis bị hấp dẫn bởi nhiều loại màu, nhưng số lượng ruồi đục quả bắt
trong bẫy màu vàng, mầu trắng nhiều hơn trong bẫy màu cam, đỏ, xanh nhạt,
xanh tối và màu đen (Roger et al., 1990)
Sử dụng bẫy dẫn dụ có thể xác định được sự hiện diện của ruồi đục quả tại vùng điều tra, hỗ trợ chương trình phòng trừ tổng hợp, triệt sản ruồi đục quả và phát hiện loài ruồi đục quả mới xâm nhập Các chất treo trong bẫy dẫn dụ là chất
có hoạt tính sinh học cao Các chất dẫn dụ này có sức hấp dẫn hơn cả thức ăn và
có thể có hiệu quả phán tán xa tám trăm mét Các chất có hoạt tính sinh học cao dùng làm chất mồi của bẫy thường được treo bên trong vỏ bẫy Các chất dẫn dụ này, khi sử dụng làm bẫy ruồi đục quả thường được trộn với một số loại thuốc hoá học gây chết đối với ruồi đục quả như thuốc 2,2- Dichlorovinyl dimethyl
phosphate, Naled và malathion (Clarke et al., 2005) Số lượng bẫy treo trên một
héc ta thường tuỳ thuộc vào loài ruồi đục quả cần tiêu diệt và địa hình vườn Ví dụ,
đối với ruồi đục quả loài Anastrepha suspensa Loew nên treo 45 bẫy cho một
hecta Tác giả Allwood (1996) khuyến cáo trên mỗi ki- lô- mét vuông có thể đặt
250 mồi và thay mồi 6-8 tuần một lần Chiều cao từ mặt đất lên điểm treo bẫy cũng tuỳ thuộc vào kiểu vườn, khoảng 2 mét đối với vườn cây ăn quả hoặc treo dưới tán cây nếu ở khu rừng Biện pháp treo bẫy dẫn dụ thường được phối hợp với các biện pháp khác trong phòng trừ ruồi đục quả như phun bả Protein, biện pháp triệt sản Hiệu quả của sự phối hợp này khá cao khi phòng trừ những loài ruồi đục
quả thuộc nhóm loài ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis Điểm lưu ý khi phối
hợp với các biện pháp khác là cần dùng sốlượng bẫy nhiều Ví dụ, trên diện tích 1 km² ở Mauritius đã đặt 1.000 bẫy nhằm giảm sức ép quần thể của ruồi đục quả Phương Đông trong chương trình phòng trừ bằng kỹ thuật triệt sản (Nagel and
Trang 25Peveling, 2005) Để làm tăng hiệu quả của việc dùng bẫy dẫn dụ, thường có sự phối hợp giữa kiểu dáng vỏ bẫy, màu sắc vỏ bẫy, mùi vị của bẫy Biện pháp bẫy dẫn dụ là sử dụng riêng lẻ hiệu quả rất kém Ví dụ, ở Hawaii đã áp dụng biện pháp
này để phòng trừ loài ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis hại quả đu đủ Kết
quả ở nơi sử dụng bẫy dẫn dụ vẫn có tỉ lệ quả bị hại đạt 44-48% (Sabine, 1992)
Do vậy, sử dụng bẫy dẫn dụ thường phải dùng số lượng bẫy nhiều và ở nơi cách ly
về địa lý thì mới mong giảm được quần thể của ruồi đục quả trên đồng ruộng
Sử dụng bẫy thức ăn: Đối với con cái của ruồi đục quả họ Tephritidae có nhu cầu cao bởi thức ăn có chứa protein Lợi dụng đặc tính này đã sử dụng bẫy thức ăn để tiêu diệt ruồi đục quả Cơ chế tác động của bả protein là do nhu cầu buộc phải ăn thêm protein của trưởng thành cái để trứng của chúng phát triển Trong bả có thuốc trừ sâu nên khi con cái ăn bả ở trên bề mặt tán lá cây, bị nhiễm thuốc sâu và chết Bả protein chỉ cần phun ở một điểm bất kỳ trên tán lá cây mà không cần phải phun phủ cả tán lá cây (Allwood and Drew, 1996) Tại Hawaii, bả
protein phun lên giá thể để phòng trừ ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis hại
quả đu đủ cho hiệu quả khá Hiệu quả phòng trừ ruồi ở vườn phun bả lên giá thể
đạt 54,5% và ở vườn phun bả protein lên lá đạt 45,4% (Pixnero et al., 2010)
Sử dụng bẫy bả thức ăn được xếp vào nhóm biện pháp bắt buộc đối với vùng chuyên canh cho xuất khẩu do có nhiều tính ưu việt hơn các biện pháp đã đề cập trước đó.Tuy nhiên, cũng có một vài hạn chế nhất định khi ứng dụng biện pháp này Thứ nhất, diện tích áp dụng nhỏ so với diện tích xung quanh không được phun bả sẽ dẫn đến việc vườn được phòng trừ dần dần sẽ bị ruồi đục quả từ vườn lân cận du nhập vào Thứ hai, do khi phun có trộn với thuốc hóa học vì vậy ít nhiều cũng có ảnh hưởng tới nhóm côn trùng có ích Tuy nhiên, lợi ích của biện pháp này là cho hiệu quả phòng trừ cao, chi phí thấp, ít gây độc hại cho môi trường
và giảm thiểu được hiện tượng dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong sản phẩm Do
đó, biện pháp này được sử dụng rộng rãi đặc biệt luôn là ưu tiên số một trong các chương trình IPM đối với ruồi đục quả ở khu vực Nam Thái Bình Dương
Nguyên lý của biện pháp triệt sản là sử dụng nguồn Côban 60 hoặc Cesium
137 chiếu vào nhộng đực trong một thời gian nhất định để gây bất dục đực Ở Thái Lan, nhộng ruồi đục quả Phương Đông được chiếu tia Gamma 220 ở liều chiếu 80
Gy hai ngày trước khi vũ hoá (Orankanok et al., 2011) Các nhộng đã được chiếu
xạ đem thả vào tự nhiên cho vũ hoá Ruồi đục quả trưởng thành vũ hoá từ nhộng triệt sản vẫn giữ được hoạt động sống và các chức năng sinh lý bình thường sẽ đi
Trang 26giao phối với con cái bình thường, nhưng trứng do những con cái này đẻ ra sẽ không nở Theo thời gian, quần thể ruồi đục quả ở những nơi này sẽ giảm đáng kể hoặc bị triệt tiêu hoàn toàn và hình thành vùng không có ruồi đục quả “free zone” Hiệu quả của biện pháp này khá tốt, ưu điểm của biện pháp triệt sản là vẫn giữ được cân bằng thái trong tự hiên, không sử dụng hoá chất trên đồng ruộng, quản lý được quần thể ruồi đục quả ở phạm vị rộng và phù hợp với vùng sản xuất lớn tập trung Tuy nhiên, biện pháp này có những hạn chế nhất định như chi phí đầu tư lớn, chỉ áp dụng khi mật độ quần thể của ruồi đục quả ở mức thấp Khi mật độ quần thể của ruồi đục quả ở mức cao biện pháp này không cho hiệu quả như mong muốn Thí dụ, ở California, đã dùng biện pháp triệt sản loài ruồi đục quả Phương
Đông B dorsalis gây hại quả đu đủ trên diện tích 63 hec ta Mặc dù quần thể của
ruồi đục quả Phương Đông trong tự nhiên đã giảm hơn 99%, nhưng tỉ lệ quả đu đủ
bị hại vẫn đạt tới 44 - 48% (Sabine, 1992)
Hiệu quả của biện pháp sử dụng thiên địch được ghi nhận thông qua tỷ lệ
ký sinh vật chủ khá cao Trong điều kiện lý tưởng và có ký chủ ưa thích (như ruồi đục quả Phương Đông) thì tỷ lệ ký sinh của loài ong F.arisanus có thể đạt tới
70% Tại Malaysia, ruồi đục quả Phương Đông bị ký sinh bởi Fopiis arisanus, F
vandenboschi, Diachasmimorpha longieaudata đạt tỷ lệ tương ứng là 24,0%; 8,7% và 3,3% (Waterhouse, 1993) Tuy nhiên, việc sử dụng ký sinh để phòng
chống ruồi đục quả nói chung và loài ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis nói
riêng còn gặp nhiều khó khăn Các khó khăn đó là thiếu những thông tin cơ bản
về loài ký sinh, chưa nhân nuôi được lượng lớn liên tục để có ký sinh thả ra ngoài
tự nhiên và việc vận chuyển các ký sinh này giữa các lãnh thổ/vùng miền còn vướng những quy định kiểm dịch thực vật (Peters, 1996) Cho đến nay có rất ít chương trình lớn đi riêng lẻ theo hướng biện pháp này mà thường phối hợp với trong chương trình phòng trừ ruồi đục quả theo hướng tổng hợp
Biện pháp hóa học: Theo thống kê của FAO (1986), việc sử dụng biện pháp hoá học phòng trừ ruồi đục quả là biện pháp khá phổ biến ở nhiều nước châu Á Thuốc hoá học được sử dụng chủ yếu theo phương pháp phun phủ toàn
bộ tán lá cây và , ruồi đục quả tiếp xúc với thuốc trên tán lá sẽ trúng độc và chết Một số loại thuốc có tác dụng thấm sâu thì diệt trứng và sâu non ở trong quả Mặt tích cực của biện pháp này là đem lại hiệu quả cao ngay lập tức Tuy nhiên, do phun vào giai đoạn quả chuẩn bị thu hoạch nên dễ để lại dư lượng thuốc hoặc khó đảm bảo thời gian cách ly Một số loại quả có nhiều vụ quả trong
Trang 27một năm (hồng xiêm, khế, ổi,…) thì lượng thuốc dùng sẽ nhiều lần, tiêu diệt luôn
cả ký sinh và côn trùng có lợi (Drew, 2010)
Biện pháp phòng trừ ruồi đục quả theo hướng tổng hợp trên diện rộng có khả năng quản lý quần thể của chúng một cách ổn định ở mức thấp nhất Vùng phòng trừ bao trùm tất cả các chủ sản xuất đơn lẻ có cùng một loại sản phẩm chính, hoặc có thể cả vùng địa lý có phổ ký chủ khác nhau của ruồi đục quả Biện pháp này hạn chế được sự xâm nhập vào vùng sản xuất thương mại của trưởng thành ruồi đục quả từ các cây ký chủ trồng xen, các vườn bỏ hoang không được phòng trừ hoặc các vườn riêng lẻ của hộ gia đình Phòng trừ ruồi đục quả theo hướng tổng hợp trên diện rộng được áp dụng rộng rãi ở Hawaii, Thái Lan Hiệu quả của biện pháp khá ổn định, ví dụ, ở Thái Lan quy mô áp dụng là 70 km² và thực hiện liên tục trong 4 năm cho tỷ lệ quả ổi bị hại giảm từ 82% ở năm 1997
xuống còn 4,2% vào năm 2004 (Orankanok et al., 2007; Vargas et al., 2008)
2.3 NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC
2.3.1 Nghiên cứu thành phần loài, phân bố của ruồi đục quả
Ruồi đục quả là loài dịch hại quan trọng, gây hại nguy hiểm cho các vùng sản xuất cây ăn quả và rau ăn quả Nhiều nước trên thế giới đã có những nghiên cứu chuyên sâu về đối tượng này Ở Việt Nam, nghiên cứu một cách hệ thống, khá đầy đủ về ruồi đục quả được bắt đầu từ năm 1999 và các dự án do Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO) và Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp quốc tế Úc (ACIAR) tài trợ Năm 1999 -2000 tổ chức FAO tài trợ
dự án “ quản lý ruồi hại quả ở Việt Nam”, các nhà khoa học Viện Bảo vệ thực vật đã phát hiện và giám định được 30 loài ruồi hại quả ở Việt Nam; bước đầu xác định được 7 loài ruồi hại quả quan trọng, trong đó có có 4 loài chủ yếu gây
hại trên các loài cây ăn quả: B dorsalis, B correcta, B pyrifoliae, B carambolae
và 3 loài gây hại trên rau ăn quả: B cucurbitae, B.tau, B latifrons Trong số các
loài ruồi hại quả thu được, có 12 loài chỉ thu được ở miền Bắc và 8 loài chỉ thu được ở Miền Nam Đã xác định phổ ký chủ ở miền Bắc là 29 loài thực vật, trong
đó có 14 loài cây ăn quả, 10 loài rau ăn quả và 5 loài cây dại (Drew và cs., 2001)
Theo Hà Minh Trung và cs., (2003), trong từng chủng loại quả thu được
cho thấy, có 5 loài ruồi gây hại trên các loại cây ăn quả ở miền Bắc: B dorsalis,
B correcta, B pyrifoliae, B carambolae và B tau trong đó loài ruồi B dorsalis gây hại rất nặng trên 12 loại cây ăn quả, loài B cucurbitae gây hại trên 7 loại
Trang 28quả, loài B tau gây hại trên 4 loại quả, loài B latifons gây hại chủ yếu trên cà và
ớt Ở phía Nam có 6 loài ruồi gây hại, chủ yếu là loài B dorsalis gây hại trên 8 loài cây ăn quả và loài B correcta gây hại trên 7 loài cây ăn quả
Kết quả thực hiện dự án TCP/VIE/8823 (A) “Quản lý ruồi hại quả ở Việt nam” và Dự án CS/1998/005 của ACIAR “Quản lý ruồi hại quả nhằm tăng cường sản xuất quả và rau ở Việt Nam” ghi nhận có 30 loài ruồi đục quả ở Việt Nam Trong đó, có 8 loài ruồi đục quả có ý nghĩa kinh tế Kết quả điều tra đến năm 2010 ghi nhận có 36 loài ruồi đục quả tại 5 vùng sinh thái nông nghiệp Vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ có 27 loài, Đồng Bằng sông Hồng có 18 loài, Bắc Trung Bộ có 14 loài, Đông Nam Bộ có 20 loài và vùng đồng bằng sông Cửu Long có 22 loài (Lê Đức Khánh và cs., 2010) Tại Bình Thuận có 15 loài ruồi
đục quả (Nguyễn Thị Thanh Hiền và cs., 2011)
2.3.2 Tình hình gây hại của ruồi đục quả
Ở Việt Nam, theo số liệu điều tra ban đầu (1996 -1997), (Hà Minh Trung và
cs, 1998), ruồi hại quả có ở tất cả các vùng từ trung du miền núi phía Bắc đến Đông Nam Bộ và đồng bằng Sông Cửu Long Chúng gây hại hầu hết trên các loài cây ăn quả: cam, quýt, bưởi, nhãn, vải, xoài, mận, mơ, đào, táo, thanh long, ổi… Nhiều nơi, 100% số quả bị hại và gây tổn thất lớn cho người sản xuất
Trong các loài côn trùng gây hại cây ăn quả, ruồi đục quả là một trong những đối tượng gây hại vào bậc nhất, nhì, thảm họa do chúng gây ra trên vườn cây ăn quả thật khó lường Mức độ thiệt hại của ruồi phụ thuộc vào thời gian gây hại chính của ruồi trên quả và giống của từng chủng loại cây ăn quả Một cuộc khảo sát đã được tiến hành năm 1999 và 2000 cho thấy, tỷ lệ hại của ruồi đục quả trên đào (Sa Pa, Lào Cai) tăng dần từ 6% lên 65% vào cuối vụ, trên quả cam (Cao Phong, Hòa Bình) tỷ lệ quả bị hại rất thấp, cao nhất là 6% vào đầu tháng 8, khi quả chín không có ruồi gây hại, trên
ổi (Thanh Liêm, Hà Nam) là 12% Theo kết quả điều tra của Viện Bảo vệ thực vật từ năm 2000-2002, trung bình một vụ quả, số lượng quả bị ruồi gây hại từ 30-35%, cao
từ 60-70%, thậm chí 100% trên đào ở Mộc Châu, Sơn La
Đánh giá ý nghĩa kinh tế của ruồi đục quả thông qua tỷ lệ quả bị ruồi đục quả gây hại Tỷ lệ quả bị hại do ruồi đục quả gây ra là rất lớn Tỷ lệ quả bị ruồi đục
quả gây hại trên cây táo (Ziziphus jujuba) là 40% vào cuối vụ sớm, trên cây đào (Prunus persicae) là 100% vào cuối vụ, trên cây sơ ri (Barbados cherry) vào cuối
vụ là 62%, trên cây hồng xiêm (Achras sapota) là 98%, (Lê Đức Khánh và cs.,
Trang 292004) Ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis là một trong ba loài ruồi đục quả
gây hại có ý nghĩa kinh tế quan trọng ở vùng trồng cây ăn quả của tỉnh Tiền Giang
2.3.3 Các biện pháp phòng chống ruồi đục quả
Ruồi đục quả là đối tượng gây hại rất nguy hiểm, việc phòng trừ đang còn là một vấn đề đối với người sản xuất rau quả tươi ở Việt Nam, việc phải thu hoạch sớm khi quả còn xanh để tránh ruồi hại quả phần nào giảm được thiệt hại do ruồi nhưng cũng làm giảm đáng kể năng suất và chất lượng quả Biện pháp truyền thống phòng trừ ruồi là sử dụng một số loại thuốc hóa học có phổ tác động rộng Tuy nhiên, biện pháp này cũng không đem lại hiệu quả cao vì giòi (ấu trùng của ruồi) sống và gây hại trong quả, không bị tác động bởi thuốc hóa học Mặt khác, việc sử dụng thuốc hóa học ở giai đoạn gần thu hoạch sẽ để lại tồn dư lượng thuốc trên quả, không an toàn cho người tiêu dùng và gây ô nhiễm môi trường
Biện pháp xử lý nhiệt nóng được xem là một cách xử lý tốt cho nhiều loại rau, quả vì không để lại dư lượng hóa chất độc hại Ưu điểm của biện pháp này là giá thành rẻ hơn so với xử lý bằng phóng xạ và không để lại dư lượng hóa chất Biện pháp được áp dụng tại Việt Nam đối với quả tươi xuất khẩu là xử lý bằng hơi nước nóng, chiếu xạ quả, xử lý nhiệt Xử lý ở nhiệt độ 46,50C trong 20 phút, các
giai đoạn phát triển khác nhau của ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis đã ghi
nhận không còn cá thể nào sống sót (Nguyễn Hữu Đạt, 2003) Hiện nay quả thanh long Bình Thuận của Việt Nam khi xuất khẩu sang Nhật, Hàn Quốc phải qua xử
lý hơi nước nóng hoặc chiếu xạ quả
Hiện nay, phòng trừ ruồi đục quả bằng bả protein đang được áp dụng rất
có hiệu quả và được cho là biện pháp mang lại hiệu quả tốt nhất, vừa kinh tế vừa đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Phun protein thủy phân kết hợp với một số loại thuốc hóa học gốc lân hoặc cúc tổng hợp dưới tán lá cây được xem là biện pháp khá hữu hiệu và an toàn (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000) Năm 2004, Viện Bảo
vệ thực vật và Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam thử nghiệm phòng trừ ruồi hại đào trên diện rộng tại Lóng Luông, Mộc Châu, Sơn La bằng bả protein cho hiệu quả phòng trừ rất cao Tỷ lệ thiệt hại do ruồi tại vùng thử nghiệm vào cuối
vụ là 5%, trong khi đó tại vùng không sử dụng bả thiệt hại do ruồi lên tới 100%
Thử nghiệm phòng trừ tổng hợp 2 loài ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis và loài B correcta gây hại quả sơ ri và thanh long tại tỉnh Tiền Giang cho hiệu quả
phòng trừ khá cao, hiệu quả đạt 80%-90% ( Nguyễn Minh Châu và cs., 2010; Lê Quốc Điền và cs., 2011; Lê Quốc Điền, 2013; Huỳnh Trí Đức và cs., 2003) Tại
Trang 30tỉnh Tiền Giang, số lượng ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis vào bẫy tại
vườn phun bả SOFRI protein® kết hợp dùng túi bao quả thấp hơn bốn lần so với
ở vườn không sử dụng SOFRI protein® và không bao quả Tỷ lệ quả xoài bị hại
ở vườn thí nghiệm chỉ là 2,4% và ở vườn đối chứng đạt tới 11,2% Tại tỉnh Bình Thuận phòng trừ tổng hợp ruồi đục quả thanh long trên diện rộng có tỷ lệ quả bị ruồi đục quả gây hại trong mô hình trung bình đạt dưới 3%, ở ngoài mô hình đạt 10% (Nguyễn Thị Thanh Hiền và cs., 2012) Vào mùa mưa bả protein được phun lên giá thể cũng cho kết quả tốt Tỷ lệ quả thanh long bị ruồi đục quả hại tại vườn thí nghiệm là 3,33% (Nguyễn Thị Thanh Hiền và cs., 2010)
Ở Việt Nam từ các loại quả đặc sản có tiềm năng xuất khẩu tốt của miền Nam như thanh long, bưởi Năm Roi, xoài Cát Chu, Vú sữa Lò Rèn, nhãn, đến những loại quả đặc sản của miền Bắc như đào, hồng, vải, ổi,…đang phải đối mặt với rào cản kỹ thuật do ruồi đục quả, trong đó có ruồi đục quả Phương Đông Để chủ động hơn trong phòng ngừa ruồi đục quả nói chung và ruồi đục quả Phương
Đông B dorsalis nói riêng ở điều kiện vùng cây ăn quả có múi của miền núi Hòa
Bình Vì vậy, chúng tôi sẽ quan tâm đến các nghiên cứu về khả năng gây hại và
phòng trừ của ruồi đục quả Phương Đông B dorsalis
Trang 31PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Địa điểm nghiên cứu
+ Điều tra ngoài đồng: tại huyện Tân Lạc và các vùng trồng cây ăn quả có múi Cao Phong, Kim Bôi, Lạc Thủy, Yên Thủy tỉnh Hòa Bình
+ Nghiên cứu trong phòng: Phòng thí nghiệm Chi cục Trồng trọt và Bảo
vệ thực vật Hòa Bình
Thời gian nghiên cứu: Đề tài được tiến hành trong năm 2015
3.2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ DỤNG CỤ NGHIÊN CỨU
3.2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các loài ruồi đục quả giống Bactocera tại vùng cây ăn quả có múi trong đó đi sâu nghiên cứu loài ruồi đục quả Phương Đông Bactrcera dorsalis Hendel hại cây bưởi
3.2.2 Vật liệu nghiên cứu
- Cây trồng: Cây ăn quả có múi Citrus bao gồm cam, chanh, quýt, bưởi;
các giống bưởi: bưởi đào Tân Lạc (giống địa phương), bưởi da xanh, bưởi diễn (được đưa về địa phương trồng)
- Thuốc bảo vệ thực vật: Regent 800WG; Bẫy Vizubon-D; Bả protein Ento - Pro 150DD
- Chất dẫn dụ có hoạt tính sinh học cao: Methyl eugenol (ME) nhập ngoại
3.2.3 Dụng cụ nghiên cứu
- Thước dây, thước gỗ điều tra, băng giấy dính, băng dính, dao, kéo cắt cành;
- Sổ ghi chép, bút viết, máy tính bỏ túi, túi nylon các cỡ, túi xách tay điều tra;
- Ống tuýp, hộp petri và hoá chất cần thiết (cồn 70o, Formol 5%, lọ độc…); trong phòng thí nghiệm phục vụ giám định và bảo quản mẫu
- Kính lúp soi nổi, kính lúp cầm tay, máy ảnh, đèn dẫn dụ ruồi đục quả, bình phun thuốc động cơ
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu thành phần loài ruồi đục quả giống Bactrocera hại vùng
trồng cây ăn quả có múi Hòa Bình
Trang 32- Nghiên cứu đặc điểm gây hại của loài ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel trên cây bưởi
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các giống bưởi, các kỹ thuật canh tác chăm
sóc đến sự gây hại của loài ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel
- Nghiên cứu một số biện pháp phòng chống ruồi đục quả Bactrocera
dorsalis Hendel như: biện pháp bao quả; biện pháp phun bả protein Ento-pro
150DD
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.4.1 Nghiên cứu tình hình sản xuất cây ăn quả có múi và cây bưởi huyện Tân Lạc, Hòa Bình
* Phương pháp nghiên cứu: Điều tra, đánh giá tình hình sản xuất bưởi và các biện pháp phòng trừ các đối tượng sâu hại chính tại Tân Lạc, Hòa Bình
* Phương pháp kế thừa: Kế thừa các tài liệu, số liệu liên quan về cây ăn quả
có múi của các cơ quan, đơn vị quản lý, chuyên môn như các Phòng NN&PTNT các huyện, Sở Nông nghiệp & PTNT Hòa Bình, Cục Thống kê
+ Áp dụng phương pháp điều tra nhanh nông thôn PRA có sự tham gia của người dân (Rapid Rural Apprusal)
+ Áp dụng phương pháp điều tra thu thập số liệu, phân tích đánh giá nông thôn theo phương pháp KIP (phỏng vấn người am hiểu công việc)
+ Xây dựng phiếu điều tra nông dân theo nội dung cần quan tâm, sau đó tiến hành phỏng vấn trực tiếp các hộ và điền vào mẫu phiếu điều tra, tiến hành thực hiện
30 phiếu điều tra một số hộ tại các xã trọng điểm trồng bưởi Sau khi hoàn thành các phiếu điều tra, tiến hành tổng hợp, phân tích và đánh giá các kết quả thu được
* Chỉ tiêu điều tra chính: Diện tích trồng bưởi, giống bưởi, tuổi cây, chân đất, kỹ thuật trồng và chăm sóc, mật độ trồng, cách trồng Chế độ bón phân, tưới nước: Các loại phân, lượng phân, thời gian và cách bón phân, tưới nước Chế độ tỉa cành, tạo tán, Tình hình sâu hại: Các đối tượng sâu hại hay xuất hiện trong năm, loại nào gây hại nặng, thời gian phá hại, loại thuốc phun, số lần phun thuốc trong năm Năng suất bình quân/cây, tổng sản lượng thu được
3.4.2 Nghiên cứu thành phần loài ruồi đục quả bằng bẫy dẫn dụ ME (Methyl eugenol)
Sử dụng kiểu bẫy Steiner với chất dẫn dụ là Methyl eugenol (sau đây gọi tắt
là bẫy ME) Chọn vườn cây ăn quả có múi (vườn cam, quýt, bưởi) là 3 cây trồng
Trang 33chủ yếu tại tỉnh, diện tích vườn tối thiểu 1000 m2, mỗi vườn treo 2 bẫy ME Treo bẫy dưới tán cây, tránh ánh sáng trực xạ, cách mặt đất 1,5-2m, cứ 2 tháng thay mồi một lần, định kỳ 7 ngày/lần đổ mẫu để đếm và phân loại
Đến kỳ thu mẫu, dùng bút lông gạt trưởng thành ruồi đục quả có trong bẫy vào giấy mềm, gói lại cho vào hộp giấy chữ nhật có kích thước cao 5cm x rộng 3,5 cm Điền các thông tin (địa điểm, ngày đổ) lên vỏ hộp
Mẫu thu được đem về phòng thí nghiệm Chi cục sấy khô phục vụ công tác giám định thành phần loài
+ Tên loài ruồi đục quả thuộc giống Bactrocera (Tephritidae: Diptera) (tên
Việt Nam và tên khoa học) theo phương pháp của Lawson et al., (2003) và dưới
sự giúp đỡ của Viện BVTV và bộ môn Côn trùng
+ Tần suất xuất hiện (%) của loài ruồi đục quả giống Bactrocera trong các
kỳ điều tra
+ Tỷ lệ (%) xuất hiện các loài ruồi đục quả Phương Đông thu được từ bẫy ME + Tỷ lệ (%) xuất hiện các loài ruồi đục quả thu được quả họ cây ăn quả có múi tại Tân Lạc, Hòa Bình
Hình 3.1 Phương pháp đặt bẫy ME
thu thập ruồi đục quả trên CAQ Hình 3.2 Thu mẫu ruồi đục quả đem về phòng thí nghiệm giám định
Người chụp: Bùi Thị Thu
3.4.3 Phương pháp nghiên cứu hình thái các pha phát dục của ruồi đục
quả Bactrocera dorsalis Hendel và ký chủ của chúng
Để theo dõi đặc điểm hình thái các pha phát dục của ruồi đục quả B.dorsalis
chúng tôi tiến hành các bước như sau:
Trang 34Bước 1: Thu hái những quả bưởi có triệu chứng bị ruồi đục quả hại đem về phòng thí nghiệm để thu nhộng
Bước 2: Dùng panh gắp nhộng vào hộp có mùn cưa ẩm (mùn cưa đã được khử trùng bằng hấp vô trùng để tránh nấm gây bệnh), sau đó dùng mùn cưa làm
ẩm bằng nước cất vô trùng phủ kín nhộng một lớp dày 1,5cm Theo dõi và phân
loại trưởng thành B dorsalis vũ hóa từ nhộng
Bước 3: Ghép 30 cá thể ruồi đục quả (tỷ lệ giới tính 1 đực : 1 cái = 15 cặp) vào lồng 50 x 50 x 50 cm Nuôi trưởng thành bằng cách bôi mật ong pha loãng (theo tỷ lệ 1 mật ong : 2 nước) lên vải màn phía đỉnh lồng
Bước 4: Tiến hành thu trứng bằng miếng aga (hình vuông các cạnh dài 3cm, dày 3cm) và rải trứng lên đĩa thức ăn, 30 trứng/đĩa; 0,3 gram thức ăn/trứng, đặt vào hộp nhựa vả đề đảm bảo tối hoàn toàn, điều kiện nhiệt độ phòng 26- 280C,
ẩm độ 60-80%
Bước 5: Khi thấy quả trứng đầu tiên nở thì ghi chép số liệu và theo dõi thường xuyên cho tới khi 30 trứng nở hoàn toàn Thức ăn nuôi sâu non được chế biến tại phòng thí nghiệm, trong 100gram thức ăn có 86 gram thịt quả cây, 10gram torula yeast, 3 gram đường và 1 gram nipagin Quả cây được xay nhỏ và dùng máy quấy trộn các thành phần nêu trên cho thật nhuyễn, để trong ngăn đá tủ lạnh sau 24h lấy cho rã đông Khi thức ăn rã đông hoàn toàn mới đem sử dụng cho nuôi sâu non ruồi đục quả
Bước 6: Theo dõi các tuổi của sâu non một lần/ngày và ghi chép
Hình 3.3 Thu hái quả bưởi bị hại về
phòng thí nghiệm Hình 3.4 Theo dõi sâu non các tuổi trong phòng thí nghiệm
Người chụp: Bùi Thị Thu
Trong quá trình đi điểu tra thực tế tại các khu vườn bố trí thí nghiệm cũng như các vườn trồng sản xuất của nông dân vùng trồng bưởi, chúng tôi theo dõi
Trang 35triệu chứng gây hại của ruồi đục quả không chỉ trên cây ăn quả có múi mà trên các loại cây trồng khác như thanh long, ổi, khế Chúng tôi ghi nhận lại làm khuyến cáo
để bố trí cơ cấu cây trồng xen với vùng chuyên canh bưởi của Tân Lạc
3.4.4 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến sự phát
sinh và gây hại của ruồi đục quả Phương Đông B.dorsalis
3.4.4.1 Tìm hiểu ảnh hưởng của các giống bưởi đến sự gây hại của ruồi đục quả Phương Đông B.dorsalis
- Chọn vườn đại diện, có cùng độ tuổi cây và chế độ canh tác tương đương nhau, diện tích 1000m2 cho 3 giống bưởi khác nhau là giống bưởi Đào, bưởi Da xanh, bưởi Diễn
- Treo 4 bẫy pheromon/vườn, có màu vàng, bên trong có tăm bông được tẩm thuốc dẫn dụ trộn thuốc trừ sâu Treo cao cách mặt đất 1,5m hoặc xung quanh hàng rào, thời điểm treo từ cuối tháng 3 đến tháng 11 (từ lúc đậu quả, quả non - quả già đến chín sinh lý, thu hoạch)
- Chất dẫn dụ: VIZUBON - D (là hỗn hợp gồm 2 thành phần: 1 Naled (chiếm 25% thành phẩm) là hoạt chất trừ sâu có tác dụng vị độc, tiếp xúc, xông hơi
và thấm sâu; 2 Methyl eugenol (chiếm 75% thành phẩm) là chất dẫn dụ giới tính + Mỗi mồi bả tẩm 3 ml hỗn hợp vào bông tăm
+ Thời gian thay mồi bả: 15 ngày/lần
+ Thời gian thu mẫu ruồi: 7 ngày/lần
- Đến kỳ thu mẫu, dùng bút lông gạt trưởng thành ruồi có trong bẫy vào giấy mềm, gói lại cho vào hộp giấy chữ nhật có kích thước cao 5cm x rộng 3,5
cm Điền các thông tin (địa điểm, ngày đổ) lên vỏ hộp
- Theo dõi các chỉ tiêu:
+ Diễn biến số lượng ruồi B dorsalis trên vườn bưởi với các giống khác nhau
+ Diễn biến tỷ lệ quả bị hại ở từng giai đoạn trên các giống bưởi khác nhau
Trang 36Hình 3.5 Treo bẫy Vizubon - D thu hút trưởng thành ruồi đục quả
trên các giống bưởi tại Tân Lạc, Hòa Bình năm 2015
Nguồn ảnh: Bùi Thị Thu
3.4.4.2 Tìm hiểu ảnh hưởng của biện pháp canh tác, chăm sóc sau thu hoạch đến sự gây hại của ruồi đục quả Phương Đông B.dorsalis
- Tại vùng thâm canh cây bưởi của Tân Lạc, với những vườn bưởi được trồng thuần, quy mô lớn từ vài nghìn mét vuông đến hàng vài hecta, vài chục hecta, sau mỗi vụ thu hoạch công tác chăm sóc đơn giản như tạo tán, cắt tỉa cành sâu bệnh, cành già cỗi, kết hợp vệ sinh vườn như thu gom quả rụng chôn lấp được các nhà vườn quan tâm thực hiện Bên cạnh đó, trên địa bàn các xã trọng điểm trồng bưởi cũng còn có các nhà vườn trồng bưởi nhưng chưa được đầu tư công sức cũng như tiền của sau mỗi vụ thu hoạch để làm công tác vệ sinh vườn, tạo cành tỉa tán
- Chọn vườn bưởi đỏ đại diện cho:
+ Phương thức canh tác trồng thuần, tạo cành, tỉa tán và vệ sinh vườn kết hợp thu gom quả rụng chôn lấp tiêu hủy
+ Phương thức canh tác trồng vườn tạp, không tạo cành, tỉa tán và vệ sinh vườn sau thu hoạch
- Diện tích mỗi vườn 1000m2
- Phương pháp điểu tra: Theo QCVN 01-119:2012/BNNPTNT Quy chuẩn
kỹ thuật quốc gia về phương pháp điểu tra phát hiện sinh vật hại trên cây ăn quả
có múi và QCVN 01-38:2010/BNNPTNT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điểu tra phát hiện dịch hại cây trồng
Trang 37+ Chọn 10 điểm ngẫu nhiên nằm cách mép vườn ít nhất 1 hàng cây
+ Số mẫu điểu tra của 1 điểm: Đối với sinh vật hại quả (vườn cây thời kỳ kinh doanh) mỗi điểm điểu tra 1 cây, trên mỗi cây chọn 4 hướng, mỗi hướng
chọn 1 cành nằm ở tầng giữa của tán cây để điểu tra
- Chỉ tiêu theo dõi: Tỷ lệ quả bị ruồi hại (%) và chỉ số hại (%) giữa 2 phương thức canh tác
3.4.5 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm gây hại của loài ruồi đục quả
Bactrocera dorsalis Hendel
- Tiến hành làm thẻ, thẻ làm bằng bìa catton cứng, có đánh số quả bưởi theo dõi
- Treo thẻ ngẫu nhiên 30 quả bưởi trên vườn bưởi đỏ, tiến hành treo 3 vườn tổng số quả theo dõi là 90 quả Thời gian treo từ 28/3 đến 07/11/2015 tương đương với các giai đoạn phát triển của quả bưởi được chia làm 3 đợt, treo đợt 1: từ lúc hình thành quả - quả non; treo đợt 2: giai đoạn phát triển quả - quả già và treo đợt 3: giai đoạn quả chín sinh lý và thu hoạch
- Điều tra định kỳ và trong thời gian cao điểm của loài ruồi đục quả gây hại để quan sát xác định thời điểm của ruồi trưởng thành đẻ trứng (qua vết châm hại còn mới) từ đó theo dõi triệu chứng gây hại bên ngoài vỏ quả và bên trong thịt quả
- Mô tả triệu chứng và tập tính gây hại của ruồi đục quả qua quan sát mẫu quả hại, khi tiến hành bổ quả bị châm, quả bị rụng và từ thực tế điều tra ngoài đồng ruộng
+ Các chỉ tiêu theo dõi:
- Số quả bưởi bị hại (có vết châm của ruồi đục quả)
- Tỷ lệ quả bị ruồi châm
- Số quả bị rụng do nguyên nhân ruồi hại
- Tỷ lệ quả bị rụng do ruồi gây hại
Trang 38Hình 3.6 Tiến hành treo thẻ trên quả để theo dõi mức độ hại
Nguồn ảnh: Bùi Thị Thu
3.4.6 Phương pháp nghiên cứu các biện pháp phòng trừ ruồi đục quả
Bactrocera dorsalis Hendel
3.4.6.1 Thí nghiệm biện pháp bao quả
- Cây trồng thử nghiệm: Cây bưởi đỏ; tuổi 5-7
- Địa điểm: Xã Thanh Hối, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình
- Phương pháp: Chọn vườn bưởi giống Đỏ, sử dụng túi nilon kích thước 40x 50cm (túi bao quả được chúng tôi mua tại Viện nghiên cứu rau quả sau thu hoạch) Diện tích cả vườn là 1.500m2 tiến hành chăng dây để chia đôi vườn thành
2 phần, một nửa vườn chọn ngẫu nhiên 500 quả để bao, đồng thời cũng đánh dấu
500 quả ở một nửa vườn còn lại nhưng không bao quả làm đối chứng
- Chỉ tiêu theo dõi:
+ Theo dõi ngoài vườn bố trí thí nghiệm: Tỷ lệ quả bị châm hại và tỷ lệ quả bị rụng trên 500 quả được bao và những quả đối chứng không bao
+ Theo dõi trong phòng thí nghiệm: Tiến hành thu mẫu là những quả bị rụng mang về phòng bổ quả để theo dõi tỷ lệ quả có sâu non (dòi) gây hại bên trong và mật độ sâu non của ruồi ở những quả được bao và không được bao Từ
đó so sánh và đánh giá mức độ gây hại của ruồi
+ Tính toán hiệu quả kinh tế: So sánh giá trị kinh tế giữa những quả được bao và không được bao Từ đó đánh giá hiệu quả kinh tế của biện pháp bao quả
Trang 39Hình 3.7 Bố trí thí nghiệm bao quả
Nguồn ảnh: Bùi Thị Thu
3.4.6.2 Thí nghiệm biện pháp phòng trừ ruồi đục quả bằng phun bả potein Ento- pro 150DD
- Cây trồng thử nghiệm: Cây bưởi đỏ tuổi 5-7
- Địa điểm tiến hành: Thị trấn Mường Khến, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình
- Chọn 02 vườn có diện tích: 1000m2; 01 vườn phun bả (không xử lý thuốc hóa học trong thời gian tiến hành phun bả); 01 vườn đối chứng không phun
bả (có phun 1 lần thuốc hóa học Regent 800WG liều lượng 1g/bình 12lit)
- Để xác định được mật độ trưởng thành ruồi đục quả vào bẫy, chúng tôi tiến hành điều tra số lượng ruồi vào bẫy trước mỗi lần phun bả protein Ento-pro150DD (vườn phun và không phun) Mỗi vườn đặt 3 bẫy với chất dẫn dụ với Vizubon-D
- Tiến hành phun bả từ ngày 02/8 đến 27/9/2015 với số lần phun là 9 lần (chia 3 đợt theo dõi tương đương với 3 giai đoạn phát triển của quả bưởi là giai đoạn phát triển quả; giai đoạn quả già và giai đoạn quả chín sinh lý)
- Liều lượng xử lý bả cho 1 ha: 2 lít Ento-pro 150DD + 2gr Regent 800WG + 18lít nước /1 lần phun
- Cách phun: Phun điểm, dạng hạt vào mặt dưới của lá cây, diện tích mỗi điểm phun là 1m2, phun 50ml dung dịch/điểm (tương đương 400 điểm ha) Phun định kỳ 7 ngày/lần và được tiến hành từ ngày 02/8/2015 đến ngày 27/9/2015 (9 lần phun)
- Chỉ tiêu theo dõi:
Trang 40+ Mật số trưởng thành ruồi đục quả vão bẫy tại vùng phun bả protein và vùng đối chứng không phun bả
+ Tỷ lệ hại: Tiến hành thu mẫu làm 3 đợt tại vườn sử dụng bả Ento - pro 150DD và vườn không sử dụng bả (n=30 quả) Đợt 1: Sau khi phun bả 3 tuần đầu tiên; đợt 2: thu mẫu khi vỏ quả xanh vàng (quả già) sau 3 tuần tiếp theo; đợt 3 khi quả chín sinh lý Mẫu quả được đưa về phòng thí nghiệm và theo dõi tỷ lệ hại
+ Tính toán hiệu quả kinh tế: So sánh sự chênh lệch về hiệu quả kinh tế giữa diện tích sử dụng bả và diện tích không sử dụng bả để đánh giá hiệu quả kinh tế của biện pháp sử dụng bả Ento- Pro 150DD trong phòng trừ ruồi đục quả
Hình 3.8 Bố trí thí nghiệm phun bả Ento- Pro 150DD
Nguồn ảnh: Bùi Thị Thu
3.5 CÔNG THỨC TÍNH TOÁN SỐ LIỆU
Tổng số quả điều tra
Tổng số sâu non thu được + Mật độ sâu non (con/quả bị châm) = Tổng số quả bị châm hại
Tổng số lần điều tra Tổng số lần bắt gặp TT