ỨNG DỤNG KỸ THUẬT MICROSATTELITE DNA TRONG CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH BỆNH LOẠN DƯỠNG CƠ DUCHENNE Đinh Thuý Linh, Trần Huy Thịnh, Trần Vân Khánh, Nguyễn Đức Hinh Trường Đại học Y Hà Nội Loạn
Trang 1ỨNG DỤNG KỸ THUẬT MICROSATTELITE DNA
TRONG CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH BỆNH LOẠN DƯỠNG CƠ
DUCHENNE Đinh Thuý Linh, Trần Huy Thịnh, Trần Vân Khánh, Nguyễn Đức Hinh
Trường Đại học Y Hà Nội Loạn dưỡng cơ Duchenne là bệnh lý di truyền thần kinh cơ hay gặp nhất trong nhóm bệnh lý loạn dưỡng cơ do đột biến gen dystrophin trên nhiễm sắc thể X Chẩn đoán trước sinh các bà mẹ mang thai có nguy cơ sinh con bị bệnh giúp phát hiện các trường hợp thai mắc loạn dưỡng cơ Duchenne Ứng dung kỹ thuật Microsatellite DNA trong chẩn đoán trước sinh bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne 05 thai phụ mang thai từ 17 - 22 tuần được xác định là người mang gen Tách chiết DNA từ tế bào ối, máu ngoại vi của bệnh nhân và thai phụ, hoàn thiện và ứng dụng kỹ thuật Microsatellite - DNA để chẩn đoán trước sinh và
so sánh kết quả với kỹ thuật phát hiện đột biến gen trực tiếp Kỹ thuật xác định đột biến trực tiếp và kỹ thuật Microsatellite - DNA có kết quả trùng khớp nhau cho thấy đã hoàn thiện được kỹ thuật Microsatellite
- DNA 1/5 thai nhi được chẩn đoán mắc bệnh, thai phụ được tư vấn và đình chỉ thai nghén 4/5 thai nhi được chẩn đoán bình thường, tiếp tục theo dõi thai
Từ khoá: loạn dưỡng cơ Duchenne, chẩn đoán trước sinh, Microsatellite DNA
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne (DMD) là
bệnh lý di truyền thần kinh cơ hay gặp nhất
trong nhóm bệnh lý loạn dưỡng cơ với tần
suất 1/3500 trẻ trai, nguyên nhân là đột biến
gen dystrophin trên nhiễm sắc thể giới tính X
Bệnh đặc trưng bởi sự yếu cơ tiến triển, phì
đại bắp chân, tăng sinh các tổ chức trong cơ
và chậm phát triển trí tuệ Bệnh nhân thường
mất khả năng đi ở lứa tuổi 11 - 12 và tử vong
ở lứa tuổi 20 do các biến chứng của bệnh
[1 - 3]
Hiện nay vẫn chưa có phương pháp điều
trị đặc hiệu, vì vậy sàng lọc người mang gen
bệnh và chẩn đoán trước sinh bệnh loạn
dưỡng cơ Duchenne vẫn đóng một vai trò
quan trọng nhằm đưa ra lời khuyên di truyền
cho sản phụ và gia đình, giảm tỉ lệ sinh con mắc bệnh Trong các kỹ thuật di truyền phân
tử hiện nay đang được áp dụng để phát hiện đột biến gen dystrophin, kỹ thuật MLPA đã bộc lộ những ưu điểm với khả năng khảo sát
cả 79 exon của gen dystrophin, phát hiện được cả đột biến xóa đoạn và lặp đoạn, chiếm khoảng 60 - 65%, trong thời gian 3 - 7 ngày [4; 5] Tuy nhiên, còn khoảng 35 - 40% cần phải áp dụng kỹ thuật giải trình tự gen 79 exon để phát hiện đột biến điểm, kỹ thuật giải trình tự gen thường cần nhiều thời gian và giá thành cao Việc chẩn đoán trước sinh thường được thực hiện bằng kỹ thuật phát hiện đột biến trực tiếp trên gen dystrophin dựa vào đột biến chỉ điểm của bệnh nhân [6] Tuy nhiên, trong một số trường hợp không phát hiện thấy đột biến hoặc việc phát hiện đột biến gặp khó khăn do cấu trúc gen lớn hoặc một số gia đình bệnh nhân không có điều kiện kinh tế, kỹ thuật phân tích gián tiếp có thể được áp dụng dựa vào xác định allele đột biến (Linkage analysis)
Địa chỉ liên hệ: Đinh Thúy Linh, Trường Đại học Y Hà Nội
Email: drdinhlinhobgyn@gmail.com
Ngày nhận: 25/12/2017
Ngày được chấp thuận: 18/3/2018
Trang 2với giá thành rẻ hơn và thời gian nhanh chóng
hơn [7] gTrong nghiên cứu này, tiến hành
hoàn thiện kỹ thuật Microsatellite - DNA và áp
dụng kỹ thuật này để chẩn đoán trước sinh
thông qua việc khuếch đại các vùng trình tự
lặp lại STR (short tandem repeat) và so sánh
với kết quả phát hiện đột biến bằng kỹ thuật
MLPA và giải trình tự gen [8 - 10] Nghiên cứu
được tiến hành với mục tiêu ứng dụng kỹ
thuật Microsatellite DNA trong chẩn đoán
trước sinh bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne cho
các thai phụ được xác định là người mang
gen bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1 Đối tượng
- Nhóm chứng: gồm 5 người nam và 5
người nữ bình thường, không có tiền sử gia
đình mắc bệnh di truyền
- Nhóm nghiên cứu: 5 gia đình của 5 thai
phụ mang thai từ 17 tuần – 22 tuần, có con
trai hoặc anh, em trai mắc bệnh loạn dưỡng
cơ Duchenne, 5 thai phụ này đã được phân
tích gen và xác đinh là người mang gen
dystrophin đột biến giống con trai hoặc anh,
em trai mình
2 Phương pháp
2.1 Chọc hút dịch ối
Tiến hành vào tuần thứ 17 - 22 của thai kỳ
dưới hướng dẫn của siêu âm, tại Bệnh viện
Phụ sản Trung ương hoặc Bệnh viện Phụ sản
Hà Nội
2.2 Xác định đột biến gen gây bệnh
loạn dưỡng cơ Duchenne bằng kỹ thuật
MLPA
Nguyên lý của kỹ thuật là sử dụng 79 đoạn
dò gen dystrophin Mỗi DNA lai (probe) gồm
hai chuỗi oligonucleotid lai đặc hiệu với 79 exon Kết quả điện di cho 79 đỉnh có kích thước tương ứng 79 probe đặc hiệu với 79 exon:
- Với đột biến xoá đoạn, exon bị xoá đoạn khi đỉnh exon không phát hiện được
- Với đột biến lặp đoạn, kết quả được tính toán dựa vào tỉ lệ RPA (Relative Peak Area) tương ứng với từng exon so với mẫu chứng của người bình thường, exon lặp đoạn khi mà
tỉ lệ RPA lớn hơn 1,5
Quy trình kỹ thuật: cho 5 µl DNA cần phân tích vào 1 ống PCR, biến tính ở 98oC/5 phút
Nhiệt độ được chuyển về 2oC trước khi cho 3
µl hỗn hợp chứa các đoạn oligonucleotid của các probe Hỗn hợp được ủ ở 60oC/16 giờ, 2 đoạn lai của 2 phân tử oligonucleotid sẽ gắn với exon đích đặc hiệu ở vị trí sát nhau Thêm
32 µl hỗn hợp ligase buffer, ủ ở 54oC/15 phút, enzym ligase nối 2 đoạn oligonucleotid của probe với nhau Phản ứng nối chấm dứt khi tăng nhiệt độ lên 98oC/5 phút, hỗn hợp được giữ ở 4oC Khuếch đại sản phẩm lai: Thêm 10
µl sản phẩm lai vào 30 µl hỗn hợp PCR buffer, giữ ở 60oC, thêm 10 µl hỗn hợp PCR master, thực hiện chu trình nhiệt: [95oC/30 giây,
60oC/30 giây, 72oC/1 phút] x 35 chu kỳ,
72oC/20 phút Sản phẩm khuếch đại probe được điện di mao quản huỳnh quang trên máy giải trình tự để phân tích kết quả
2.3 Kỹ thuật Microsatellite DNA
Xác định các marker dị hợp tử và alen bệnh mà người mẹ có thể truyền cho con bằng kỹ thuật microsatellite DNA và xác định, kiểu gen và kiểu hình của thai nhi bằng kỹ thuật microsatellite DNA Kỹ thuật microsatellite DNA sử dụng các cặp mồi có gắn huỳnh quang để khuếch đại các các vùng trình tự lặp
Trang 3lại này và phân tích kích thước của chúng
thông qua điện di mao quản trên máy giải trình
tự gen (automated DNA sequencer) Đối với
gia đình loạn dưỡng cơ Duchenne cần khuếch
đại 20 vùng trình tự lặp lại đặc hiệu để xác
định ít nhất 2 - 3 marker dị hợp tử trên mẫu
mẹ (informatic marker) Sử dụng các cặp mồi
đã xác định marker dị hợp tử từ đó xác định
kiểu gen và kiểu hình thai nhi
Thành phần của phản ứng: 1X đệm PCR;
2,5mM dNTP; 0,2µl mồi xuôi và ngược;
0,5unit Taq polymerase; 20ng DNA và H2O,
tổng thể tích 20µl Chu kỳ nhiệt phản ứng
PCR: 94oC/5 phút; {94oC/30 giây, 59oC/60
giây, 72oC/45 giây} x 40 chu kỳ; 72oC/5 phút
Sản phẩm khuếch đại PCR được điện di trên
hệ thống sequencing - Beckman coulter Kết
quả được phân tích bằng phần mềm
GeneMapper v3.2 software
2.4 Kỹ thuật nuôi cấy tế bào ối
Nuôi cấy theo phương pháp hở tủ ấm 37°C
với 5% CO2 và 95% không khí cùng nguồn
ẩm Thời gian trung bình nuôi cấy là từ 7 - 15
ngày
Các tế bào ối thai nhi thu được với số
lượng tương đối sau khi nuôi cấy được tách
DNA theo phương pháp phenol - chloroform
và phân tích gen
Tế bào ối cũng được sử dụng để nhuộm
băng G và phân tích karyotype của thai
3 Đạo đức trong nghiên cứu
Những gia đình có bệnh nhân được chẩn
đoán mắc bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne sẽ
được đưa vào nghiên cứu khi đồng ý tự
nguyện tham gia Gia đình và bệnh nhân sẽ
được tư vấn và giải thích cụ thể về ý nghĩa,
mục đích, qui trình nghiên cứu, quyền được tự
do rút khỏi nghiên cứu, quyền được đảm bảo
bí mật cá nhân trong quá trình nghiên cứu và
về kết quả nghiên cứu Các thông tin về bệnh nhân, người nhà bệnh nhân và kết quả chẩn đoán hoàn toàn được giữ bí mật, đặc biệt đối với thông tin về giới tính của thai nhi
III KẾT QUẢ
1 Kết quả xác định đột biến gen dystrophin đối với bệnh nhân loạn dưỡng
cơ Dunchenne
Hình ảnh phân tích MLPA tại probe tương ứng với các exon 14 - 43 của mẫu ối cho thấy cường độ tín hiệu của đỉnh cao hơn nhiều so với mẫu người bình thường Sau khi phân tích dựa trên RPA ta có tỉ lệ RPA tại các exon từ 14 đến 43 của bệnh nhân so với chứng lớn hơn 1,5 trong khi của các exon khác chỉ giao động xung quanh 1 Như vậy cho thấy bệnh nhân có đột biến lặp đoạn các exon từ 14 đến 43
2 Kết quả xác định marker dị hợp tử, alen bệnh người mẹ truyền cho con và kết quả chẩn đoán trước sinh bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne cho thai nhi bằng kỹ thuật microsatellite DNA
Loạn dưỡng cơ Duchenne là bệnh lý di truyền lặn liên kết nhiễm sắc thể X Nếu người
mẹ là người mang gen bệnh sẽ có khả năng truyền gen bệnh cho con trai với tỷ lệ 50%
Để xác định alen đột biến (allele bệnh -Xb), cần tiến hành kỹ thuật single PCR khuếch đại
20 vùng STR đặc hiệu trên mẫu máu thai phụ
và mẫu máu bệnh nhân loạn dưỡng cơ Duchenne (là em trai hoặc con trai của thai phụ), lựa chọn ít nhất 2 marker dị hợp tử:
- Kết quả 2 mẫu có các đỉnh có kích thước tương đương nhau thể hiện alen đột biến (Xb) Kết quả 2 mẫu có các đỉnh không tương đương nhau thể hiện alen bình thường (XB)
Trang 4Hình 1 Hình ảnh MLPA (A) và kết quả tính toán (Relative Peak Area) bằng phần mềm
coffalyser (B) của mẫu người bình thường và mẫu ối của thai bị bệnh
Hình 2 Kỹ thuật Microsatellite trong chẩn đoán trước sinh bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne
Hình 2 là hình ảnh kết quả kỹ thuật Microsatellite ở gia đình bệnh nhân loạn dưỡng cơ
Duchenne 1 2 marker dị hợp tử được tìm thấy là DSTR 44 và DSTR49
Trang 5Với marker DSTR 44, ở thai phụ xuất hiện
2 đỉnh có kích thước 181bp và 185bp (hình B),
tương ứng với 2 alen nằm trên 2 nhiễm sắc
thể X (XBXb) Ở mẹ thai phụ chỉ xuất hiện 1
đỉnh có kích thước 180bp cho thấy đây là alen
đồng hợp tử Ở em trai của thai phụ (là bệnh
nhân loạn dưỡng cơ Duchenne) cũng chỉ có 1
đỉnh kích thước 180bp tương ứng với 1 alen
trên nhiễm sắc thể X (XbY), trùng khớp với
kích thước 1 đỉnh ở mẫu mẹ thai phụ và thai
phụ Từ kết quả hình ảnh của mẹ thai phụ,
thai phụ và em trai thai phụ cho thấy đỉnh kích
thước 180bp là đỉnh alen bệnh
Với marker DDTR49, đỉnh mang kích thước 172bp là đỉnh trùng khớp ở mẹ thai phụ, thai phụ và em trai thai phụ (bệnh nhân loạn dưỡng cơ Duchenne), cho thấy đây cũng
là đỉnh alen bệnh
Phân tích kết quả mẫu ối của thai nhi: Marker DSTR44 chỉ xuất hiện 1 đỉnh có kích thước 180bp là alen bệnh, marker DSTR49 chỉ xuất hiện 1 đỉnh có kích thước 180bp là alen bệnh Kết quả này có thể khẳng định đây
là trường hợp thai nam bị bệnh loạn dưỡng
cơ Duchenne Kết quả nghiên cứu trên 5 gia đình loạn dưỡng cơ Duchenne:
Bảng 1 Kết quả chẩn đoán trước sinh
3 DMD13 c.3022A > T (p.Cys1008Stop) Bình thường
Kết quả chẩn đoán trước sinh: 1/5 thai nhi được chẩn đoán là thai nhi bệnh lý, 4/5 thai nhi được chẩn đoán là bình thường Kết quả này tương đồng với kết quả của kỹ thuật phân tích xác định đột biến trực tiếp
Trường hợp thai được chẩn đoán là mắc bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne sau khi được tư vấn kết quả, bệnh nhân quyết định đình chỉ thai nghén 4 trường hợp thai bình thường được tư vấn giữ thai
IV BÀN LUẬN
Loạn dưỡng cơ Duchenne là một bệnh có
tỉ lệ mắc cao nhất trong các bệnh lý di truyền
thần kinh cơ với bệnh cảnh lâm sàng nặng nề
Hiện nay có rất nhiều kỹ thuật sinh học phân
tử được áp dụng để phát hiện các đột biến
gen dystrophin Trong phát hiện người lành
mang gen bệnh, kỹ thuật MLPA ra đời vào năm 2002 đã bộc lộ những ưu điểm vượt trội
so với kỹ thuật di truyền khác với độ chính xác cao khi chỉ cần dùng một cặp primer duy nhất (so với kỹ thuật Multiplex PCR đòi hỏi nhiều cặp primer, dễ thất bại khi điều kiện phản ứng
bị thay đổi dù rất nhỏ); khả năng khảo sát cả
Trang 679 exon so với kỹ thuật Multiplex PCR chỉ
khảo sát được 25 exon nằm trong hai vùng
“hot spot” sẽ phát hiện cả những đột biến xóa
đoạn nằm ngoài khả năng phát hiện của kỹ
thuật PCR
Tuy nhiên các kỹ thuật như Multiplex PCR
hay MLPA chỉ tập trung phát hiện các đột biến
xóa đoạn, còn đột biến điểm chiếm tỉ lệ 25
-30% lại nằm ngoài khả năng phát hiện của
các kỹ thuật này Chính vì vậy, trong chẩn
đoán trước sinh, nếu người mẹ mang đột biến
điểm gen dystrophin thì sẽ không thể phát
hiện được thai nhi có nhận gen bệnh từ mẹ
hay không khi sử dụng các kỹ thuật trên Với
kỹ thuật Microsatellite DNA, không những có
khả năng phát hiện cả những trường hợp thai
nhi mang nhiễm sắc thể có chứa gen
dystrop-hin có đột biến điểm từ mẹ mà còn đáp ứng
được những yêu cầu của chẩn đoán trước
sinh với thời gian trả lời kết quả nhanh và
chính xác (chỉ sau 48 – 72h) so với kỹ thuật
Southern blotting hay kỹ thuật giải trình tự gen
phải mất đến hàng tuần Các đoạn
microsate-llite DNA có tính đa hình cao và dễ dàng
khuếch đại (nồng độ DNA chỉ cần khoảng
7pg) được sử dụng sau đó để xác định alen
bệnh có thể di truyền cho con Đồng thời chi
phí cho xét nghiệm thấp giúp giảm gánh nặng
kinh tế cho bệnh nhân
Trong kỹ thuật Microsatellite DNA, mỗi
bệnh nhân nên được lựa chọn ít nhất 2 - 3
marker dị hợp tử (informatic marker) do trong
một số trường hợp có thể xảy ra tình trạng
khuếch đại thất bại Với các trường hợp đó,
việc phân tích kết quả của các marker dị hợp
tử còn lại sẽ chẩn đoán xác định được thai nhi
có hay không mắc loạn dưỡng cơ Duchenne
Từ các kết quả này cho thấy việc xây dựng
quy trình chẩn đoán trước sinh cho các gia
đình có đột biến gen gây bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne là rất cần thiết, từ đó có thể phát hiện một cách chính xác trong thời gian nhanh nhất các trường hợp thai nhi mắc bệnh để có
tư vấn cụ thể cho từng gia đình thai phụ
Hiện nay các bất thường di truyền, đặc biệt
là các bất thường nhiễm sắc thể là một trong các nguyên nhân chính gây đa dị tật về hình thái của thai nhi Trong các bất thường di truyền hiện nay thì hội chứng Down (3 nhiễm sắc thể 21), hội chứng Edwards (3 nhiễm sắc thể 18) hay hội chứng Patau (3 nhiễm sắc thể 13) là các hội chứng hay gặp nhất Vì vậy, khi chọc hút nước ối, cần lấy nước ối để chẩn đoán các bất thường nhiễm sắc thể ở thai nhi song song cùng với việc chẩn đoán bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne ở thai nhi
V KẾT LUẬN
Kỹ thuật Microsatellite - DNA được ứng dụng thành công trong chẩn đoán trước sinh bệnh DMD: 1/5 thai nhi được chẩn đoán là thai nhi bệnh lý, thai phụ đã được tư vấn và quyết định đình chỉ thai nghén, 4/5 thai nhi được chẩn đoán là bình thường
Lời cám ơn
Nhóm nghiên cứu xin trân trọng cảm ơn Trung tâm Nghiên cứu Gen-protein - Trường Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đã giúp đỡ nhóm trong quá trình nghiên cứu
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bushby, K (2010) Diagnosis and
management of Duchenne muscular dystrophy, part 2: implementation of
multidisciplinary care Lancet Neurol, 9(2), 177
- 189
Trang 72 Kneppers, A L., Ginjaar, I B and
Bakker, E (2004) Duchenne and Becker
muscular dystrophy Methods Mol Med, 92,
311 - 341
3 Mendell R.J., Griggs C.R (1991)
“Muscular dystrophin”, Harrison’s principles of
internal medicine, 12th edition, 2112 - 2118
4 Hwa H.L., Chang Y.Y., Chen C.H et al
(2007) Multiplex Ligation-dependent Probe
Amplification identification of deletions and
duplications of the Duchenne muscular
dystro-phy gene in Taiwanese subjects J Formos
Med Assoc, 106, 339 - 346
5 Lai K.K., Lo I.F., Tong T.M et al (2006)
Detecting exon deletions and duplications of
the DMD gene using Multiplex
Ligation-dependent Probe Amplification (MLPA) Clin
Biochem, 39, 367 - 372
6 Prior TW, Bridgeman SJ (2005)
Ex-perience and Strategy for the Molecular
Test-ing of Duchenne Muscular Dystrophin JMD, 7 (3), 317 - 325
7 Ta MH, Tran TH, Do NH et al (2013)
Rapid method for targeted prenatal diagnosis
of Duchenne muscular dystrophy in Vietnam
Taiwan J Obstet Gynecol, 52(4), 534 - 539
8 Matsuo M (2002) Duchenne and
Becker muscular dystrophy: from molecular
diagnosis to gene therapy IUBMB Life, 53,
147 - 152
9 Hussey N.D., Donggui H., Froiland D.A., Hussey D.J et al (1999) Analysis of five
Duchenne muscular dystrophy exons and gen-der determination using conventional duplex
polymerase chain reaction on single cells Mol
Hum Reprod, 5(11), 1089 - 1094
10 NguyễnThị Băng Sương, Trần Vân Khánh, Nguyễn Thị Hà, Tạ Thành Văn
Chẩn đoán trước sinh bệnh loạn dưỡng cơ
Duchenne Tạp chí Nghiên cứu Y học, 66(1),
29 - 35
Summary APPLICATION OF MICROSATTELITE DNA FOR PRENATAL
DIAGNOSIS OF DUCHENNE MUSCULAR DYSTROPHY
Duchenne Muscular Dystrophy (DMD) is caused by the mutation of the dystrophin gene on the
X chromosome It is the most common genetical neuromuscular disease among muscular dystrophy diseases affecting 1/3500 of male children Prenatal diagnosis on pregnant women carrying the gene will provide a chance to diagnose DMD among fetus Applying Microsattelite DNA technique in DMD prenatal diagnosis 05 pregnant gene-carrier women at 17 - 22 weeks of gestation were tested DNA from the amniococco cells and peripheral blood of the patients and pregnant women were extracted and analyzed by Microsatellite-DNA technique and prenatal diagnosis technique through amplifying short tandem repeat sections; the results are then compared with those obtained from the direct mutation diagnosis technique Since the direct mutation diagnosis analysis technique and the Microsatellite-DNA technique provided the same results, we are confident that Microsatellite-DNA technique for DMD prenatal diagnosis had been perfected 1/5 fetus was diagnosed with the disease, and pregnancy was suspended 4/5 fetus were diagnosed to be normal and the pregnancy was continued Microsatellite DNA has proven to be a promising and effective technique in DMD prenatal screening in Vietnam
Keywords: Duchenne muscular dystrophy, prenatal diagnosis, Microsattelite DNA