Để giúp học sinh có thể giao tiếp tốt bằng Tiếng Anh, đối với giáo viên, ngoài việc dạy tốt các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết thì việc dạy cấu trúc ngữ pháp đóng một vai trò vô cùng quan trọng bởi học sinh có nắm chắc được cấu trúc ngữ pháp, chúng mới dễ dàng nghe, nói, đọc và viết tốt được
Trang 1Ý KIẾN NHẬN XÉT VÀ Đ Á NH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG
1 CẤP TRƯỜNG:
* Nhận xét :
………
………
* Xếp Loại :
2 CẤP PHÒNG: * Nhận xét :
………
* Xếp Loại :
Trang 2SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI: “MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY CẤU TRÚC NGỮ PHÁP 6, 7 GIÚP HỌC SINH ĐẠT KẾT QUẢ CAO TRONG HỌC TẬP VÀ BIẾT VẬN DỤNG KIẾN THỨC ĐÃ HỌC VÀO CUỘC SỐNG THỰC TẾ”
GIÁO VIÊN : TRÂN HUỆ MINH
ĐƠN VỊ : TRƯỜNG THCS TRƯNG VƯƠNG- TP BMT
I PHẦN MỞ ĐẦU:
I.1.Lý do chọn đề tài :
Trong thời đại xã hội đang trên đà phát triển mạnh mẽ như hiện nay, conngười giữa các nước trên thế giới cần liên tục trao đổi, nắm bắt thông tin vềkhoa học, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội … thì Tiếng Anh càng trở nên thôngdụng và đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta vì
nó chính là phương tiện để giao tiếp Việc học tiếng Anh ngày nay đã và đang
có xu hướng ngày càng phát triển, nó trở nên phổ biến đến mức không chỉ ở cáctrường tiểu học, trung học mà thậm chí cả ở lớp mẫu giáo học sinh cũng đã đượclàm quen với tiếng Anh Hơn thế nữa, hiện nay, nước ta cũng đang xây dựng đề
án ngoại ngữ 2020 Để giúp học sinh có thể giao tiếp tốt bằng Tiếng Anh, đốivới giáo viên, ngoài việc dạy tốt các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết thì việc dạy cấutrúc ngữ pháp đóng một vai trò vô cùng quan trọng bởi học sinh có nắm chắc đượccấu trúc ngữ pháp, chúng mới dễ dàng nghe, nói, đọc và viết tốt được Ngược lại,nếu chúng ta không tìm tòi ra những phương pháp dạy cấu trúc hiệu quả thì ngay
cả việc giúp học sinh ghi nhớ kiến thức ngôn ngữ và rèn luyện các kĩ năng khácđều rất khó khăn Là một giáo viên Tiếng Anh cấp THCS, tôi nhận thấy cái khó
Trang 3khăn chung của giáo viên Tiếng Anh là làm thế nào để học sinh có thể nắm vữngkhông chỉ về cấu trúc ngữ pháp mà còn biết ứng dụng chúng vào trong thực tế giao
tiếp nữa Điều này đã thôi thúc tôi thực hiện đề tài: “Một số kinh nghiệm dạy
cấu trúc ngữ pháp 6, 7 giúp học sinh đạt kết quả cao trong học tập và biết vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống thực tế”.
Trường THCS Trưng Vương
I.2.Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:
Giúp học sinh khối 6, 7 đạt kết quả cao trong học tập bộ môn Tiếng Anh, vàbiết vận dụng những kiến thức đã học vào giao tiếp trong cuộc sống thực tếthông qua một số phương pháp dạy cấu trúc ngữ pháp
I.3 Đối tượng nghiên cứu :
Được phân công giảng dạy bộ môn tiếng Anh các khối lớp 6, 7 (năm học2012-2013), tôi chọn các khối lớp này để nghiên cứu đề tài
Tác giả SKKN (GV Trần Huệ Minh- Tổ Ngoại Ngữ)
Trang 4I.4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
Đề tài này có thể áp dụng cho các học sinh khối 6, 7 bậc Trung học cơ sở
I.5 Phương pháp nghiên cứu :
lớp; tham dự các chuyên đề về chuyên môn; tham khảo ý kiến từ đồng nghiệp;tham khảo các loại sách thiết kế bài giảng; kết hợp với sự quan sát đánh giá kếtquả học tập của học sinh
II PHẦN NỘI DUNG
II.1 Cơ sở lý luận :
Để chuẩn bị cho học sinh bước sang lớp 8, 9 học riêng từng kĩ năng nghe,nói, đọc, viết thì từ khi ở lớp 6, 7 các em phải nắm chắc được các cấu trúc câuthì mới bổ trợ cho từng kĩ năng đó Giáo viên muốn học sinh áp dụng cấu trúcngữ pháp đã học vào giao tiếp thực tế thì đòi hỏi giáo viên phải nghiên cứu, sưutầm và sử dụng nhiều hình thức luyện tập cho phong phú, phù hợp với điều kiện
cơ sở vật chất của nhà trường để nâng cao trình độ tiếng Anh cho học sinh.Không giống như ở chương trình Tiếng Anh 8, 9 chỉ có tiết đầu tiên của mỗi đơn vịbài học là dạy cấu trúc câu, chương trình Tiếng Anh 6, 7 hầu hết các tiết học đều cómẫu câu mới, vì vậy người giáo viên phải luôn tìm tòi và thay đổi các phương phápdạy cấu trúc khác nhau, tùy thuộc từng bài mà có cách truyền đạt phù hợp nhất đểtránh nhàm chán cho học sinh Học sinh có hiểu mẫu câu thì mới nghe, nói, đọc,viết tốt được Nếu giáo viên không biết kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp thìtiết dạy cấu trúc sẽ dễ rơi vào tiết dạy nặng về ngữ pháp Một tiết học theo phươngpháp tích cực tuy rất sôi động với cả thầy và trò, song sẽ không đủ thời gian để làmbài tập và như vậy khi thực hành nói xong các em sẽ không nhớ được trọng tâmngữ pháp Vui, sinh động nhưng sẽ không thể đạt được hiệu quả cao nếu lượngkiến thức cho mỗi bài học quá nhiều mà không bố trí hợp lý thời gian trong tiết họcdành cho luyện tập và làm bài tập Học sinh có giao tiếp tốt được hay không phụthuộc rất nhiều vào cách dạy cấu trúc ngữ pháp của giáo viên
Trong đề tài này tôi muốn đưa ra một số phương pháp để luyện mẫu câu chohọc sinh lớp 6, 7 nhằm giúp các em đạt kết quả cao trong học tập và vận dụngđược các kiến thức đã học vào cuộc sống thực tế
Trang 5và học hỏi đồng nghiệp, dự đầy đủ các lớp tập huấn cũng như các tiết chuyên đềcủa trường THCS Trưng Vương và Phòng GD&ĐT TP Buôn Ma Thuột để ápdụng vào các tiết dạy Kết quả cho thấy học sinh học tích cực hơn, nhất là thểhiện ở các bài kiểm tra 1 tiết, bài kháo sát định kì và bài thi học kì Từ đó, tôiluôn chú ý tăng cường phát huy thêm những ưu điểm và hiệu quả tích cực màcác phương pháp dạy cấu trúc ngữ pháp mang lại, đồng thời khắc phục dầnnhững mặt còn hạn chế bằng những kinh nghiệm rút ra qua thực tế dạy học hàngngày Bên cạnh đó, trong quá trình công tác tại trường THCS Trưng Vương,nhiều năm liền tôi được Ban Giám Hiệu nhà trường và Tổ chuyên môn độngviên tham gia thi giáo viên dạy giỏi cấp Thành phố (các năm học: 2008-2009,2011-2012, 2013-2014), điều này cũng giúp ích cho tôi rất nhiều vì tôi có cơ hộiđược học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm và những phương pháp giảng dạy hay từgiáo viên trong trường, đồng nghiệp ở các trường mà tôi tham gia dự thi, cácthầy cô trong Ban giám khảo vv Ngoài ra, tôi cũng có cơ hội được gặp gỡ tìmhiểu và giảng dạy các em học sinh ở nhiều trường khác nhau … vì vậy bản thântôi đã tích lũy được một số kinh nghiệm trong công tác chuyên môn để phục vụcho quá trình giảng dạy, làm thế nào để khi dạy mẫu câu mới, học sinh vừa tiếpthu bài tốt, đạt kết quả cao, vừa vận dụng được kiến thức đó vào trong thực tếgiao tiếp
* Khó khăn:
- Chương trình Tiếng Anh lớp 6, 7 không có hẳn các tiết dạy kĩ năng nói- đọc- viết riêng rẽ như ở lớp 8, 9, vì vậy giáo viên phải dạy xen kẽ, lồngghép các kĩ năng giảng dạy một cách thuần thục
Trang 6nghe Về phía học sinh, việc phát triển các kĩ năng còn rất nhiều hạn chế, các emthường nhớ từ vựng nhưng không nói được thành câu Nguyên nhân chính là
do các em không nắm được mẫu câu (cấu trúc ngữ pháp) Điều này cũng đồngnghĩa với việc các em không thể vận dụng kiến thức đã học vào thực tế giaotiếp
- Nhiều học sinh chưa có ý thức tự học và soạn bài ở nhà nên việc tiếp nhậnkiến thức bài học gặp nhiều khó khăn và kết quả mang lại không cao Họcsinh thường lúng túng khi giao tiếp hoặc ngại nghe và nói bằng tiếng Anh vì sợ
bị mắc lỗi, cảm thấy thiếu tự tin từ chính bản thân mình Trong tiết dạy hàngngày, tôi cho các em thực hành theo cặp, nhóm thì chỉ những em học khá giỏimới làm việc còn những em học yếu thường không làm việc
- Thêm vào đó, tiết dạy ngoại ngữ rất cần các kênh hình để minh họa cho bàidạy và nghe âm thanh phải chuẩn mà ở trường chưa có phòng học tiếng Anhmang tính đặc trưng riêng của bộ môn, làm cho học sinh chưa phát huy hết khảnăng của mình trong quá trình học bài và rèn luyện kỹ năng
Từ những thực trạng trên, cùng với tầm quan trọng của việc dạy cấu trúc mớicho học sinh và kinh nghiệm giảng dạy của bản thân, tôi đã mạnh dạn đưa ramột vài kinh nghiệm trong việc dạy cấu trúc ngữ pháp 6, 7 nhằm giúp học sinhhiểu bài dễ dàng hơn, đem lại kết quả học tập ngày một cao hơn
b Thành công- hạn chế:
* Thành công:
Sau khi tôi áp dụng một số phương pháp và kỹ năng để dạy mẫu câu mới chohọc sinh, giúp các em dễ dàng hiểu bài hơn, tôi nhận thấy hầu hết các đối tượnghọc sinh ở những lớp mà tôi phụ trách giảng dạy đã đạt được kết quả học tậpngày một cao hơn, đồng thời các em cũng đã biết vận dụng những kiến thức đãhọc vào giao tiếp thể hiện trong quá trình thực hành cặp, nhóm, giao tiếp thực tế
Trang 7* Hạn chế:
Trường THCS Trưng Vương còn nhiều học sinh có học lực yếu kém, ý thứchọc tập chưa cao, một phần do đầu vào trường Trưng Vương phải tiếp nhận họcsinh mọi đối tượng thuộc địa bàn phường Thành Công, nên khi học các em cònrất thụ động trong việc lĩnh hội kiến thức Do đó các em không có đủ kiếnthức, sự tự tin và thói quen giao tiếp bằng Tiếng Anh với người khác Bêncạnh đó, tỉ lệ đạt chuẩn B2 theo dự án Ngoại ngữ 2020 của đội ngũ giáo viêngiảng dạy trực tiếp 4 khối lớp của trường Trưng Vương chưa cao, còn đangtrong thời gian thực hiện Đó chính là những mặt hạn chế nhất định đang tồntại
c Các nguyên nhân, các yếu tố tác động:
Tiếng Anh là một môn tương đối khó đối với học sinh, nó đòi hỏi các emphải có lòng say mê học bộ môn, yêu thích và có hứng thú học Tiếng Anh Ởcấp tiểu học các em đã được làm quen với Tiếng Anh, lĩnh hội kiến thức thôngqua nội dung của từng bài học, nhằm phát huy vai trò tích cực của học sinh, pháttriển năng lực học ngoại ngữ Vì vậy, tiếp đến khi lên bậc THCS, việc tiếp tụcrèn kỹ năng, kỹ xảo học ngoại ngữ cho học sinh là rất cần thiết Đòi hỏi giáoviên phải phối hợp đầy đủ các kỹ năng trong các tiết học để tạo điều kiện chohọc sinh phát huy hết khả năng ngôn ngữ của mình Trong đó, kỹ năng dạy cấu trúcngữ pháp Tiếng Anh để giúp các em có thể vận dụng, thực hành tốt là điều quantrọng và cơ bản nhất, nhằm nâng cao chất lượng học tập và phát triển một cách toàndiện cho học sinh Mặt khác, chương trình Tiếng Anh lớp 6, 7 lại không có cáctiết dạy riêng rẽ từng kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, vì vậy giáo viên phải dạyxen kẽ, lồng ghép các kĩ năng một cách thuần thục để đáp ứng yêu cầu củatiết học Về phía học sinh, việc phát triển các kĩ năng, nhất là kỹ năng nắm bắtcác mẫu câu mới còn rất nhiều hạn chế Các em thường nhớ được từ vựngnhưng không nói được thành câu do các em còn học máy móc, thiếu tính năngđộng, sáng tạo Hơn nữa, do nhiều học sinh chưa có ý thức tự học, lười nhác,đối phó và không có thói quen chuẩn bị bài ở nhà nên rất thụ động trong cáctiết học Từ chỗ không nắm được mẫu câu, không thể diễn đạt được câu màmình muốn nói cho nên các em có cảm giác không tự tin, e dè, ngại ngùngkhi giao tiếp hoặc nghe và nói bằng Tiếng Anh vì sợ bị mắc lỗi Trong khi thựchành theo cặp, nhóm thì phần lớn là những em học khá giỏi làm việc còn những
em học yếu thường ngồi chơi, ngồi góp mặt cho có, hoặc tham gia chiếu lệ, qualoa
Trang 8Chính từ nguyên nhân không nắm được cấu trúc ngữ pháp dẫn đến nhiều họcsinh làm bài kiểm tra bị điểm thấp, không vận dụng được mẫu câu đã học vàogiao tiếp Từ đó chất lượng bộ môn Tiếng Anh giảm sút.
Từ những thực trạng trên, cùng với tầm quan trọng của việc dạy cấu trúcmới cho học sinh và kinh nghiệm giảng dạy của bản thân, tôi đã mạnh dạn đưa
ra một vài kinh nghiệm trong việc luyện mẫu câu Tiếng Anh ở lớp 6, 7 nhằmgiúp học sinh hiểu bài dễ dàng hơn, đem lại kết quả học tập ngày một cao hơn
II.3 Giải pháp, biện pháp:
a Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
Các giải pháp của tôi đưa ra áp dụng nhằm giúp các em học sinh lớp 6, 7 tiếpthu những cấu trúc ngữ pháp mới một cách dễ dàng và khắc sâu nhất có thể Hạnchế và khắc phục tình trạng học sinh không nắm bắt hoặc nắm bắt mơ hồ khihọc cấu trúc mới trong mỗi tiết học Hình thành cho học sinh kỹ năng học cấutrúc ngữ pháp Tiếng Anh thật tốt khi học các tiết học có mẫu câu mới
b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:
Học sinh không nắm bắt hoặc nắm bắt mơ hồ khi học cấu trúc ngữ pháp mớitrong mỗi tiết học là một tồn tại khách quan Một phần do giáo viên chưa quantâm đúng mức, chưa giúp đỡ kịp thời để các em có được phương pháp học tậpthích hợp, Một phần là do các em đã không biết cách học lại chưa thực sự cốgắng, dẫn đến sức học của những em này ngày một sa sút đi so với những emhọc tốt trong lớp Việc tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến hậu quả của học sinhkhông biết cách nắm bắt kiến thức trong các tiết học về cấu trúc ngữ pháp làviệc làm thật sự cần thiết, từ đó tìm ra các phương pháp thích hợp để giúp đỡcác em Tuy nhiên để làm được điều này, ngoài việc tìm tòi ra những phươngpháp để giúp học sinh, thì đòi hỏi người giáo viên phải trang bị cho mình một kỹnăng sư phạm chuẩn mực trong việc truyền đạt nội dung bài giảng, đồng thờingười giáo viên phải đạt được một trình độ chuyên môn nhất định và sau cùng lànhững kinh nghiệm và lòng nhiệt tình để có thể đưa được những phương pháphữu hiệu nhất giúp học sinh học tốt các cấu trúc ngữ pháp trong từng tiết dạy
Để thực hiện thành công mục tiêu của đề tài nghiên cứu này, theo tôi đòi hỏiphải có sự kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng từ nhiều phía
* Về phía giáo viên:
Theo tôi, đã tham gia quá trình học tập thì đòi hỏi người học sinh phải tiếp thuđược nội dung kiến thức đã quy định trong từng tiết học Cho nên người dạy cầnchú trọng và đầu tư nhiều ở khâu thiết kế bài giảng và phương pháp truyền đạt
Trang 9để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho học sinh trong quá trình các em chủ độnglĩnh hội kiến thức Chính vì vậy khi thiết kế một tiết dạy cấu trúc ngữ pháp,người giáo viên cần thực hiện theo tiến trình như sau:
1 Trước khi thiết kế:
+ Xác định rõ mục tiêu trong tiết dạy:
Dạy cấu trúc ngữ pháp (mẫu câu) cho học sinh
+ Xác định tác dụng của cấu trúc ngữ pháp đối với quá trình học tập bộ môn Tiếng Anh của học sinh:
Có tác dụng giúp các em có thể diễn đạt được một câu trọn vẹn, đầy đủ ýnghĩa và đúng ngữ pháp, nhờ đó các em sẽ tự tin hơn để giao tiếp bằng TiếngAnh Khi nắm vững cấu trúc ngữ pháp, kết hợp với học từ vựng, các em làm bàikiểm tra sẽ tốt hơn rất nhiều Vì thế các em sẽ đạt kết quả cao học tập bộ mônTiếng Anh
+ Xác định các bước cơ bản của một bài dạy cấu trúc:
Trong một bài dạy cấu trúc câu, thông thường bao gồm các bước sau:
1/ Warm-up (Lead in)
2/ New words
3/ Listen and repeat - Listen and read: - Set the scene
- Predict
- Listen and check
- Listen and repeat
2 Trong khi thiết kế:
Mặc dù có rất nhiều thủ thuật (techniques) để lồng ghép vừa ôn lại bài cũ vừa dẫn vào bài mới (Warm-up) và phương pháp dạy từ mới (New words) khác
nhau để thu hút và tránh nhàm chán cho học sinh Nhưng trong giới hạn của đềtài nghiên cứu này, tôi xin đi sâu ở phần dạy và luyện mẫu câu Tức là làm thếnào để đưa ra được mẫu câu thông qua các hội thoại, tình huống trong bài vàgiúp học sinh luyện tập chúng như thế nào Điều này phụ thuộc vào sự xử lý tinh
tế của giáo viên, như thế nào là đúng, là phù hợp, đem lại hiệu quả cao nhất choviệc tiếp thu nội dung bài học của học sinh Vì vậy tôi sẽ đề cập đến bốn phần:
Trang 10a Đưa ra mẫu câu (Elicit model sentence)
b Kiểm tra mức độ hiểu của học sinh (Concept check)
c Luyện tập mẫu câu (Practice)
d Củng cố (Further practice- Production)
2 Present Progressive
Form: (+) S + am/is/are + V-ing
(-) S + am/is/are + not +V-ing (?)Am/Is/Are + S + V-ing Yes, S + am/is/are
No, S+ am/ is/are + not
Use: To talk about something that is happening at
the time of speaking.
Period 49: Grammar practice
Minh/ride his bike
2a
Giải pháp 1 : Đưa ra mẫu câu (Elicit model sentence)
Trong tiết dạy ngữ liệu mới, phần này là phần khó nhất đối với giáo viên bởilàm thế nào để “elicit” ra được mẫu câu để học sinh dễ hiểu mà không gây nhàmchán cho học sinh hoặc không làm cho học sinh cảm thấy phức tạp Muốn vậy,người dạy phải trăn trở để tìm ra cách tối ưu nhất phù hợp với các đối tượng họcsinh Trong quá trình giảng dạy hàng ngày, tôi thường sử dụng các bước sau đây
và thấy rất có hiệu quả, học sinh thường tự tìm ra mẫu câu mới mà giáo viên cầndạy:
a Hỏi, gợi mở (Questions and Answers):
Giáo viên dẫn dắt một cách nhẹ nhàng qua các câu hỏi, học sinh tự tìm rađược mẫu câu mà không hay biết Đây là cách hay nhất bởi qua đó học sinh cóthể hiểu sâu, nắm chắc nội dung của hội thoại hơn Đặc biệt phương pháp nàyphù hợp với tất cả các đối tượng học sinh
* Ví dụ 1 (Unit 5 - Anh 6):
Trang 11Nga: When do we have history?
Ba : We have it on Tuesday and Thursday.
Nga : When do we have math?
Ba : We have it on Monday, Wednesday and Friday.
Nga : Does Lan have math on Friday?
Ba : No, she doesn’t.
Với một bài hội thoại như trên và mẫu câu mới trong bài là “When do we
have history?” , giáo viên hỏi học sinh:
Giáo viên : Do Nga and Ba have history on Tuesday and Thursday? Học sinh : Yes.
Giáo viên : Why do you know?
Học sinh : Because Nga asked “When do we have history?” and “Ba answered: “We have it on Tuesday and Thursday.”
Giáo viên: This is our model sentence.
Lan: No, thanks I’m fine.
Hoa: Ok Come and see my room.
Lan: What a bright room! And what nice colors! Pink and white Pink is
my favorite color Can I see the rest of the house?
Hoa: Of course.
Mẫu câu mới trong bài là câu cảm thán, qua tình huống trong bài giáo viên
có thể hỏi học sinh như sau:
Giáo viên : Hoa said it’s cold that’s mean the weather is nice or bad? Học sinh : The weather is bad.
Giáo viên : Does she like the cold day?
Học sinh : No, she doesn’t
Giáo viên : Does she complain about the weather?
Học sinh : Yes
Giaó viên : Which sentence tells you this?
Học sinh : What an awful day!
Trang 12Giáo viên : Good, this is our model sentence.
Giáo viên : Does Lan like the colors of Hoa’s room?
Học sinh : Yes.
Giáo viên : Why do you know?
Học sinh : The sentence “Pink is my favorite color.” tells me this.
Giáo viên : What else?
Học sinh : What nice colors!
Giáo viên : This is our model sentence.
b Sử dụng tranh hoặc hình vẽ minh họa:
Khi soạn giáo án, tôi thường sử dụng phương án khai thác tối đa những tranh ảnh
có trong sách giáo khoa Nếu trong sách giáo khoa không có, tôi thường sưu tầmtranh ảnh bên ngoài để gợi mở cho học sinh, học sinh phải suy nghĩ tìm ra mẫu câuthì các em sẽ nhớ rất lâu Tôi thường sử dụng phương pháp này khi trong bài họckhông có các hội thoại cho sẵn
* Ví dụ 1 ( Unit 12- Anh 6):
thể dùng tranh để “elicit”:
Trang 13Giáo viên : Look at picture a), what activity?
Học sinh : Go to the movies
Giáo viên : And picture b)?
Học sinh : Watch TV
Giáo viên : When do you often do these activities?
Học sinh : In free time
Giáo viên : So to make question for the answer “I go to the movies in my free time”
Học sinh : What do you do in your free time?
2b
Giải pháp 2 : Kiểm tra mức độ hiểu ( Concept check):
Trong phần “Concept check”, giáo viên phải làm đúng theo các bước: Checkmeaning, check use, check form and check intonation Nếu giáo viên tuân thủtheo đầy đủ các bước này học sinh sẽ hiểu bài và từ đó học sinh có thể tự rút ra
“form” của mẫu câu
* Ví dụ 1( Unit 13 - Anh 7):
Model sentences:
He is a good soccer player.
He plays well.
Check meaning: How do you say in Vietnamese?
Check use: When do you use it?
Check form: What comes before the noun “soccer player”?
“Good”
- Is it an adjective?
-> Adjective comes before a noun
- What comes after subject?
“Verb”
- Is it an ordinary verb?
- What comes after the ordinary verb?
Trang 14“Adverb”
-> Adverbs come after the ordinary verb.
Check intonation: Can I say “She is a good soccer player” or “She is agood soccer player”?
Trang 15* Ví dụ 2 ( Unit 7- Anh 6):
Model sentences:
How do you go to school?
I go to school by bike.
Check meaning: How do you say in Vietnamese?
Check use: When do you use it? -> Ask for transports
Check form: Can I say “What do you go to school?” Why?
Can I say I go to school on bike?/ in bike?
Check intonation: Can I say “How do you go to school?” or “How do you
go to school?”
* Ví dụ 3 (Unit 3 - Anh 7):
Model sentences:
What an awful day!
What nice colors!
Check meaning: How do you say in Vietnamese?
Check use: When do you use it?-> Complaints or Compliments
Check form: Can I say “What does an awful day!”
Can I say “What are nice colors!”
Check intonation: Can I say “What an awful day!” or “What an awful day!”
2c
Giải pháp 3 : Luyện tập mẫu câu (Practice)
Sau khi học sinh đã hiểu ngữ liệu mới, học sinh phải được luyện ngay ở trên lớp
Có như vậy học sinh mới nắm chắc ngữ liệu và vận dụng vào kỹ năng viết và nói vìphần này học sinh chủ yếu thực hành cá nhân hoặc theo cặp Sau đó, gọi vài học sinhlên bảng viết, giáo viên sẽ kiểm tra được kỹ năng viết của học sinh
Có nhiều thủ thuật để luyện mẫu câu cho học sinh như:
+ Substitution drill
Trang 16+ Word cue drill
+ Realia drill
+ Picture drill
+ True / Fasle repeatation drill.
Wednesday, January 6 th, 2014 Present simple tense
( Thì hiện tại đơn)
1 Khẳng Định:
I/ We/ You/ They + V
He/ She/ It + V ( s/es )
2 Phủ Định:
I/ We/ You/ They + don’t + V
He/ She/ It + doesn’t + V
3 Câu Hỏi:
Do + ( I/ We/ You/ They )+ V…?
- Yes, + S + do/ No, + S + don’t.
Does +( He/ She/ It ) + V….?
- Yes, + S + does/ No, + S + doesn’t
get get
get
b/ have
• What time(1) …… you(2) …… breakfast ?
• - I(3) ………breakfast at six twenty
• What time (4)…… .she (5) …….breakfast ?
- She (6)…… breakfast at seven
• What time (7)……they (8) …… breakfast?
-They (9) ………breakfast at nine
do
has do have
have
have
have
has does
Giáo viên phải lựa chọn thủ thuật cho phù hợp với từng bài dạy Phần nàychủ yếu giáo viên nên cho học sinh làm việc theo cặp (pairwork), sau đó gọi vàihọc sinh lên bảng viết để kiểm tra được kĩ năng viết của học sinh
* Ví dụ 1 ( Unit 5- Anh 6): Luyện mẫu câu động từ chia ở thì hiện tại đơn.
Every morning I go to school
She goes
+ Substitution drill: