1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY MÔN BÓNG CHUYỀN GIỜ TỰ CHỌN CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP.HỒ CHÍ MINH

146 462 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 2,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sức khỏe là tài sản quý giá nhất của mỗi cá nhân, mỗi xã hội. Nó là hành trang cần thiết để con người bước vào cuộc sống. Vì vậy, chăm sóc và nâng cao sức khỏe là trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi người dân và toàn xã hội. Đây là vấn đề quan trọng trong chiến lược xây dựng phát huy nhân tố con người ở nước ta. Phát triển nền kinh tế tri thức là chủ đạo, những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang được ứng dụng một cách triệt để vào tất cả các lĩnh vực của đời sống.Đặc biệt, sau khi Việt Nam gia nhập WTO đã mang lại cho chúng ta những cơ hội lớn cùng với những thách thức không nhỏ. Nhu cầu xã hội đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ cao, tay nghề vững vàng và một thể chất cường tráng. Từ đó, chúng ta càng thấy rõ tầm quan trọng không thể thiếu được của giáo dục thể chất (GDTC) trong nhà trường. Vì GDTC là môn học góp phần tích cực vào việc đào tạo con người mới, phát triển toàn diện: Đức – trí – thể – mỹ, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giữ vững an ninh quốc phòng…Bộ giáo dục và đào tạo (GD ĐT) sớm đưa môn học GDTC vào chương trình chính khóa trong nhà trường từ năm 1957, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để các trường xây dựng và phát triển phong trào thể thao ngoại khóa sâu rộng. Ngày 2941993, Bộ GD ĐT đã ban hành quy chế quy định việc thực hiện công tác GDTC cho học sinh sinh viên. Đối với các trường Đại học và Cao đẳng, sinh viên học hết 5 học phần (tương đương 150 tiết) phải thi kiểm tra lấy chứng chỉ môn học GDTC là điều kiện bắt buộc để thi tốt nghiệp.Công tác giáo dục thể chất của trường ĐH Công Nghiệp Thực Phẩm TP. Hồ Chí Minh hiện nay còn rất nhiều hạn chế: Chương trình nội khóa, sinh viên chỉ được học 3 học phần giáo dục thể chất (tương đương 90 tiết) trong hai năm đầu, khi tham gia học giáo dục thể chất các sinh viên phải học tập theo quy định bắt buộc của nhà trường, học phần I: nội dung thể dục và điền kinh, học phần thứ II: nội dung bóng chuyền, bơi lội, học phần thứ III: nội dung võ, cầu lông. Khi tham gia học tập một số sinh viên thích được theo học nội dung bóng chuyền trong hai học phần liên tục nhưng không được đáp ứng. Các hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa và phong trào thể dục thể thao sinh viên cũng không được tổ chức thường xuyên… Với thực trạng đó, đã ít nhiều ảnh hưởng đến hiệu quả công tác giáo dục thể chất của nhà trường.Trước tình hình trên, ban lãnh đạo trường đã yêu cầu bộ môn GDTC cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học. Yêu cầu đưa ra được nội dung chương trình học môn GDTC tự chọn cho sinh viên nhằm đáp ứng được nhu cầu tập luyện, cũng như tạo điều kiện cho các em sinh viên hứng thú trong quá trình học tập. Từ đó điều chỉnh nội dung, phương pháp giảng dạy cho phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác GDTC của nhà trường hiện nay.TDTT trường học là một bộ phân rất quan trọng trong môi trường giáo dục không của riêng bất kì một quốc gia nào. Ở nước ta, TDTT trường học góp phần nâng cao sức khỏe, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, ý chí… cho thế hệ trẻ, góp phần phát triển con người toàn diện, đó là những chủ nhân tương lai của đất nước, những người sẽ đưa đất nước ta tiến lên sánh vai với các cường quốc khắp năm châu.Nhận thức được về tầm quan trọng của sức khỏe con người đối với vận mệnh đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng công sản Việt Nam đã luôn chú trọng đến việc tăng cường và mở rộng các hoạt động TDTT, đặc biệt là GDTC cho thanh thiếu niên. Môn học GDTC đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, trong Nghị quyết Trung Ương III năm 1961 đã bắt đầu đưa việc dạy thể dục và một số môn thể thao cần thiết vào chương trình học tập của các trường phổ thông, chuyên nghiệp và đại học.Ngày 02061969 Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị 48 TTGVG về việc giữ gìn và nâng cao sức khỏe của học sinh trong đó nhấn mạnh: “Ngành thể dục thể thao phải coi học sinh là một đối tượng phục vụ quan trọng của mình. Cần phối hợp chặt chẽ với ngành giáo dục để điều tra, nghiên cứu sức khỏe của học sinh, xây dựng những tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho thích hợp với các lứa tuổi để đẩy mạnh phong trào rèn luyện thân thể trong và ngoài trường học, đào tạo và bồi dưỡng giáo viên thể dục vệ sinh, tổ chức sản xuất các dụng cụ thể dục thể thao phục vụ trường học”,2, tr3... “Tăng cường công tác thể dục thể thao, nhất là thể dục trong các trường học, kết hợp chặt chẽ việc bảo đảm số giờ học thể dục thể thao trong chương trình với việc tổ chức cho học sinh rèn luyện thân thể ngoài lớp, gây thói quen tập thể dục hàng ngày trong học sinh và giáo viên”.Luật giáo dục 2005 được Quốc hội thông qua ngày 14062005, tại điều 2 đã chỉ rõ: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Mục tiêu, nhiệm vụ của thể dục, thể thao trường học giai đoạn 2010 2020 đã được Chính phủ đề ra: “Số trường phổ thông thực hiện đầy đủ chương trình giáo dục thể chất nội khóa đến năm 2015 đạt 100%. Số trường học phổ thông có câu lạc bộ thể dục, thể thao, có hệ thống cơ sở vật chất đủ phục vụ cho hoạt động thể dục, thể thao, có đủ giáo viên và hướng dẫn viên thể dục, thể thao, thực hiện tốt hoạt động thể thao ngoại khóa đến năm 2015 đạt 45% và đến năm 2020 đạt từ 55 60% tổng số trường. Số học sinh được đánh giá và phân loại thể lực theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể đến năm 2015 đạt 75% và đến năm 2020 đạt 85% 90% tổng số học sinh phổ thông các cấp”,13, tr 10.Những thành quả của TDTT nước ta từ năm 1976 đến nay nhất là những năm gần đây đã và đang góp phần quan trọng bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân, tăng cường nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm phong phú hơn đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân, tôn vinh dân tộc Việt Nam anh hùng, phục vụ tích cực công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước.Thể chất con người là vấn đề của xã hội, Bác Hồ từng nói: “Dân cường thì nước mạnh, con người là vốn quý của xã hội, sức khỏe là vốn quý của con người”. Những năm qua, Đảng và Nhà nước rất chú trọng tới việc phát triển thể chất cho sinh viên – học sinh. Các nghị quyết của Đảng và Nhà nước đã ghi rõ công tác GDTC cho thế hệ trẻ là một mặt quan trọng không thể thiếu được trong quá trình Giáo dục và Đào tạo con người toàn diện.Chương trình GDTC được Bộ GD ĐT ban hành theo quyết định số 203QĐ – TDTT ngày 23111989. Đã mở ra cho các trường có thể tự lựa chọn, xây dựng chương trình và đưa vào giảng dạy môn học tự chọn ở giai đoạn II phù hợp với điều kiện, cơ sở vật chất, sân bãi, phòng tập, khả năng giảng dạy, huấn luyện của đội ngũ giáo viên TDTT. Để nâng cao chất lượng GDTC cho sinh viên các trường Đại học và Cao đẳng, ngoài việc cải tiến xây dựng nội dung chương trình GDTC ở giai đoạn I (nội dung bắt buộc) thì ở giai đoạn II (nội dung môn học tự chọn) cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng. Đây là nội dung nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức và những kỹ năng tập luyện cơ bản các môn thể thao yêu thích. Liên quan quan đến môn thể thao tự chọn và ngoại khóa có một số công trình nghiên cứu như:Đỗ Phương Chơn (2012), với đề tài “ Nghiên cứu xây dựng chương trình giáo dục thể chất tự chọn môn bóng rổ tại trường ĐH Khoa Học Tự Nhiên ĐH Quốc Gia TP.HCM”.Huỳnh Thị Phương Duyên, năm 2009 với đề tài: “Nghiên cứu chương trình giảng dạy môn Karatedo vào giờ học thể dục tự chọn tại trường Trung học dân lập Công nghệ thông tin Sài Gòn”.Tác giả Nguyễn Văn Khánh – Trần Đình Thuận, năm 2005 với đề tài: “Đổi mới tổ chức dạy học môn thể thao tự chọn ở trường cao đẳng sư phạm Đà Lạt”.Bùi Hoàng Phúc, năm 1998 với đề tài: “Nghiên cứu hiệu quả của môn thể thao tự chọn cho nữ sinh viên đại học Huế”.Tác giả Nguyễn Ngọc Tiên (1995), với đề tài “Bước đầu nghiên cứu tiêu chuẩn thể hình, tố chất thể lực để tuyển chọn năng khiếu bóng chuyền nam Vĩnh Long”.Nguyễn Ngọc Việt, năm 2000 với đề tài: “Nghiên cứu xây dựng chương trình môn học tự chọn – khoa GDTC trường đại học sư phạm Vinh”.Đặng Đức Xuyên (1995), với đề tài “Đánh giá thực trạng huấn luyện thể lực của VĐV bóng chuyền trẻ khu vực phía nam”.Các công trình nghiên cứu trên đều phản ánh thực trạng công tác giáo dục thể chất của từng trường và chứng minh rằng việc học môn GDTC theo nhu cầu và sở thích là đều hết sức quan trọng trong việc phát triển thể chất cho sinh viên. Nhưng cho tới nay, ở trường ĐH Công Nghiệp Thực Phẩm vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về mảng đề tài này. Xuất phát từ những yêu cầu thực tế đó, tôi xin được chọn đề tài:“NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY MÔN BÓNG CHUYỀN GIỜ TỰ CHỌN CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP.HỒ CHÍ MINH”.

Trang 1

-oo0oo -DƯƠNG TẤN HÙNG

“NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH

GIẢNG DẠY MÔN BÓNG CHUYỀN GIỜ TỰ CHỌN CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”.

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

TP Hồ Chí Minh, năm 2016

Trang 2

-oo0oo -DƯƠNG TẤN HÙNG

“NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH

GIẢNG DẠY MÔN BÓNG CHUYỀN GIỜ TỰ CHỌN CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”.

Chuyên ngành : Giáo dục thể chất

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:

TS Đặng Hà Việt

TP Hồ Chí Minh, năm 2016

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kếtquả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳcông trình nào khác.

Tác giả

Dương Tấn Hùng

Trang 4

Với lòng biết ơn chân thành của mình, tôi xin trân trọng cảm ơn Bangiám hiệu, quý thầy cô giáo cùng toàn thể cán bộ công chức - viên chứctrường ĐH TDTT thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức lớp cao học 19 và tạothuận lợi cho tôi và các hoàn thành tốt khóa học này.

Tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy, cô giảng dạy cho lớp cao học

19, đã dành nhiều tâm huyết để truyền thụ cho chúng tôi những kiến thức quýbáu về công tác giáo dục thể chất, làm tiền đề cho việc nghiên cứu luận vănnày

Đặc biệt xin cảm ơn sâu sắc đối với thầy hướng dẫn: TS Đặng Hà Việt,người thầy đã tận tâm hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoànthành luận văn

Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu trường ĐH CNTP TP.Hồ Chí Minh đãcho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được đi học nâng cao trình độ

Tôi xin cảm ơn đến quý thầy, cô, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đãgiúp đỡ tôi hoàn thành khóa học này

Tp.Hồ Chí Minh, ngày tháng năm

Dương Tấn Hùng

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7

1.1 Quan điểm của Đảng, nhà nước về công tác GDTC 7

1.1.1 Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung GDTC trong trường đại học. .10

1.1.2 Tổng quan về chương trình GDTC bậc Đại học và Cao đẳng ở Việt Nam 12

1.1.3 Giáo dục thể chất ở một số nước 14

1.2 Cơ sở khoa học của giáo dục thể chất 17

1.2.1 Khái niệm giáo dục thể chất 17

1.2.2 Chất lượng giáo dục và giáo dục thể chất 20

1.2.3 Hiệu quả giáo dục, chất lượng dạy học và kết quả học tập 22

1.2.4 Giáo dục thể chất đối với sinh viên 23

1.3 Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng chương trình 25

1.3.1 Cấu trúc chương trình 25

1.3.2 Nguyên tắc biên soạn 26

1.4 Bóng chuyền và đặc điểm môn bóng chuyền 29

1.4.1 Tính đối kháng cao, tình huống thay đổi liên tục và bất ngờ 30

1.4.2 Sự đa dạng về kỹ - chiến thuật 31

1.4.3 Sự căng thẳng về cảm xúc và ý chí 31

1.4.4 Sự gắng sức về thể lực 32

1.4.5 Đặc điểm tố chất thể lực môn bóng chuyền 32

1.4.6 Các kỹ thuật của Bóng chuyền 34

1.5 Đặc điểm công tác GDTC của trường ĐH CNTP TP.HCM 35

Trang 6

dục thể chất ở trường ĐH CNTP TP.HCM 35

1.5.2 Chiến lược và định hướng phát triển môn thể dục của trường ĐH CNTP TP.HCM trong giai đoạn mới 37

1.6 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 39

CHƯƠNG 2 : PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 42

2.1 Phương pháp nghiên cứu 42

2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 42

2.1.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn 42

2.1.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm 42

2.1.4 Phương pháp nhân trắc 46

2.1.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 47

2.1.6 Phương pháp toán thống kê 48

2.2 Tổ chức nghiên cứu 50

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu………

50

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 50

2.2.3 Thời gian nghiên cứu 50

CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 51

3.1 Đánh giá thực trạng thể lực của sinh viên tại trường ĐH Công Nghiệp Thực Phẩm TP.Hồ Chí Minh 51

3.1.1 Đánh giá thực trạng thể lực của sinh viên Trường Đại học CNTP TP.HCM 51

3.1.2 Đánh giá xếp loại thể lực theo từng chỉ tiêu của nam và nữ SV Trường Đại học CNTP TP.HCM 53 3.1.3 Đánh giá thể lực chung của nam và nữ SV Trường Đại học

Trang 7

3.1.4 Bàn luận về việc đánh giá thực trạng thể lực sinh viên Trường Đại học CNTP TP.HCM 56 3.2 Xây dựng chương trình giảng dạy môn bóng chuyền giờ tự chọn cho sinh viên tại trường ĐH Công Nghiệp Thực Phẩm TP.Hồ Chí Minh 58 3.2.1 Nội dung chương trình giảng dạy môn bóng chuyền giờ tự chọn cho sinh viên trường ĐH CNTP TP.HCM 58 3.2.2 Phân phối chương trình giảng dạy 64 3.2.3 Phương pháp kiểm tra đánh giá 66 3.2.4 Thực nghiệm chương trình giảng dạy môn Bóng chuyền cho sinh viên trường ĐH CNTP TP.HCM 67 3.2.5 Bàn luận về việc xây dựng chương trình giảng dạy môn bóng chuyền giờ tự chọn cho sinh viên trường ĐH CNTP TP.HCM 67 3.3 Đánh giá hiệu quả chương trình giảng dạy đến sự phát triển thể lực của sinh viên tại trường ĐH Công Nghiệp Thực Phẩm TP.Hồ Chí Minh 71 3.3.1 Tổ chức ứng dụng chương trình 71

3.3.2 So sánh trình độ thể lực của 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng trước thực nghiệm.……… 72

3.3.3 So sánh trình độ thể lực của 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng sau thực nghiệm 74 3.3.4 Bàn luận về hiệu quả ứng dụng chương trình giảng dạy cơ bản môn Bóng chuyền được xây dựng cho SV trường Đại học CNTP TP.HCM 92 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94

A Kết luận 94

Trang 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

TT VIẾT TẮT THUẬT NGỮ TIẾNG VIỆT

Trang 10

BẢNG TÊN BẢNG TRANG

Bảng

1.1

Phân phối nội dung và thời gian học tập trong chương

Bảng

3.1

Thực trạng thể lực theo từng chỉ tiêu của nam, nữ SV

thông qua 6 chỉ tiêu của Bộ GD & ĐT (n = 100) 52Bảng

So sánh các chỉ tiêu đánh giá thể lực SV giữa Trường

ĐH CNTP TP.HCM với Trường ĐH Bách khoa

TP.HCM và Trường ĐH SPKT TP.HCM

57

Bảng

3.5

Kết quả phỏng vấn về việc lựa chọn các bài tập chuyên

môn Bóng chuyền cho nam, nữ sinh viên trường ĐH

CNTP TP.HCM

59

Bảng

3.6

Nội dung, tiến trình giảng dạy môn Bóng chuyền giờ tự

So sánh xếp loại thể lực theo từng chỉ tiêu của nam, nữ

SV giữa 2 nhóm TN và ĐC trước thực nghiệm 72Bảng

3.11

Bảng so sánh xếp loại thể lực chung của nam, nữ SV

Trang 11

3.13

So sánh thể lực của nữ SV theo từng chỉ tiêu ở nhóm đối

Bảng

3.14

So sánh thể lực ở nhóm ĐC của nam SV theo từng chỉ

Bảng

3.15

So sánh thể lực ở nhóm ĐC của nữ SV theo từng chỉ tiêu

Bảng

3.16

So sánh thể lực của nam SV theo từng chỉ tiêu ở nhóm

thực nghiệm trước và sau thực nghiệm (n=50) 81Bảng

3.17

So sánh thể lực của nữ SV theo từng chỉ tiêu ở nhóm

thực nghiệm trước và sau thực nghiệm (n=50) 82Bảng

3.18

So sánh thể lực ở nhóm TN của nam SV theo từng chỉ

Bảng

3.19

So sánh thể lực ở nhóm TN của nữ SV theo từng chỉ tiêu

Bảng

3.20

Đánh giá thể lực theo từng chỉ tiêu của nam SV giữa

nhóm thực nghiệm và đối chứng sau thực nghiệm thông

qua giá trị trung bình

87

Bảng

3.21

Đánh giá thể lực theo từng chỉ tiêu của nữ SV giữa nhóm

thực nghiệm và đối chứng sau thực nghiệm thông qua

giá trị trung bình

88

Bảng

3.22

So sánh nhịp tăng trưởng ở từng chỉ tiêu của nam, nữ SV

Bảng

3.23

So sánh xếp loại thể lực của nam, nữ SV theo từng chỉ

tiêu giữa 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng sau thực

nghiệm

90

Bảng

3.24

So sánh xếp loại thể lực chung của nam, nữ SV giữa 2

nhóm thực nghiệm và đối chứng sau thực nghiệm 91

Trang 13

TT

PHỤ

LỤC

TÊN PHỤ LỤC

1 Tiêu chuẩn đánh giá thể lực học sinh, sinh viên theo quyết địnhsố 53/2008/QĐ - BGDĐT.

2 Phiếu kiểm tra thể lực sinh viên trường ĐH CNTP TP.HCM

3 Phiếu phỏng vấn giáo viên GDTC 1 (môn Bóng chuyền)

4 Phiếu phỏng vấn giáo viên GDTC 2 (môn Bóng chuyền)

5 Giáo án bóng chuyền

6 Kết quả kiểm tra trình độ thể lực trước thực nghiệm của NamSV nhóm đối chứng Trường ĐH CNTP TP.HCM.

7 Kết quả kiểm tra trình độ thể lực sau thực nghiệm của Nam SVnhóm đối chứng Trường ĐH CNTP TP.HCM.

8 Kết quả kiểm tra trình độ thể lực trước thực nghiệm của Nữ SVnhóm đối chứng Trường ĐH CNTP TP.HCM.

9 Kết quả kiểm tra trình độ thể lực sau thực nghiệm của Nữ SVnhóm đối chứng Trường ĐH CNTP TP.HCM.

10 Kết quả kiểm tra trình độ thể lực trước thực nghiệm của NamSV nhóm thực nghiệm Trường ĐH CNTP TP.HCM.

11 Kết quả kiểm tra trình độ thể lực sau thực nghiệm của Nam SVnhóm thực nghiệm Trường ĐH CNTP TP.HCM.

12 Kết quả kiểm tra trình độ thể lực trước thực nghiệm của Nữ SVnhóm thực nghiệm Trường ĐH CNTP TP.HCM.

13 Kết quả kiểm tra trình độ thể lực sau thực nghiệm của Nữ SVnhóm thực nghiệm Trường ĐH CNTP TP.HCM.

Trang 14

PHẦN MỞ ĐẦU

Sức khỏe là tài sản quý giá nhất của mỗi cá nhân, mỗi xã hội Nó làhành trang cần thiết để con người bước vào cuộc sống Vì vậy, chăm sóc vànâng cao sức khỏe là trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi người dân và toàn xã hội.Đây là vấn đề quan trọng trong chiến lược xây dựng phát huy nhân tố conngười ở nước ta Phát triển nền kinh tế tri thức là chủ đạo, những thành tựucủa cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang được ứng dụng một cách triệt

để vào tất cả các lĩnh vực của đời sống

Đặc biệt, sau khi Việt Nam gia nhập WTO đã mang lại cho chúng tanhững cơ hội lớn cùng với những thách thức không nhỏ Nhu cầu xã hội đòihỏi nguồn nhân lực có trình độ cao, tay nghề vững vàng và một thể chấtcường tráng Từ đó, chúng ta càng thấy rõ tầm quan trọng không thể thiếuđược của giáo dục thể chất (GDTC) trong nhà trường Vì GDTC là môn họcgóp phần tích cực vào việc đào tạo con người mới, phát triển toàn diện: Đức –trí – thể – mỹ, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước, giữ vững an ninh quốc phòng…

Bộ giáo dục và đào tạo (GD & ĐT) sớm đưa môn học GDTC vàochương trình chính khóa trong nhà trường từ năm 1957, đồng thời tạo điềukiện thuận lợi để các trường xây dựng và phát triển phong trào thể thao ngoạikhóa sâu rộng Ngày 29/4/1993, Bộ GD & ĐT đã ban hành quy chế quy địnhviệc thực hiện công tác GDTC cho học sinh sinh viên Đối với các trường Đạihọc và Cao đẳng, sinh viên học hết 5 học phần (tương đương 150 tiết) phải thikiểm tra lấy chứng chỉ môn học GDTC là điều kiện bắt buộc để thi tốt nghiệp

Công tác giáo dục thể chất của trường ĐH Công Nghiệp Thực Phẩm

TP Hồ Chí Minh hiện nay còn rất nhiều hạn chế: Chương trình nội khóa, sinhviên chỉ được học 3 học phần giáo dục thể chất (tương đương 90 tiết) trong

Trang 15

hai năm đầu, khi tham gia học giáo dục thể chất các sinh viên phải học tậptheo quy định bắt buộc của nhà trường, học phần I: nội dung thể dục và điềnkinh, học phần thứ II: nội dung bóng chuyền, bơi lội, học phần thứ III: nộidung võ, cầu lông Khi tham gia học tập một số sinh viên thích được theo họcnội dung bóng chuyền trong hai học phần liên tục nhưng không được đápứng Các hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa và phong trào thể dục thểthao sinh viên cũng không được tổ chức thường xuyên… Với thực trạng đó,

đã ít nhiều ảnh hưởng đến hiệu quả công tác giáo dục thể chất của nhà trường

Trước tình hình trên, ban lãnh đạo trường đã yêu cầu bộ môn GDTC cầnđẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học Yêu cầu đưa ra được nội dungchương trình học môn GDTC tự chọn cho sinh viên nhằm đáp ứng được nhucầu tập luyện, cũng như tạo điều kiện cho các em sinh viên hứng thú trong quátrình học tập Từ đó điều chỉnh nội dung, phương pháp giảng dạy cho phù hợp,góp phần nâng cao hiệu quả của công tác GDTC của nhà trường hiện nay

TDTT trường học là một bộ phân rất quan trọng trong môi trường giáodục không của riêng bất kì một quốc gia nào Ở nước ta, TDTT trường họcgóp phần nâng cao sức khỏe, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, ý chí… cho thế

hệ trẻ, góp phần phát triển con người toàn diện, đó là những chủ nhân tươnglai của đất nước, những người sẽ đưa đất nước ta tiến lên sánh vai với cáccường quốc khắp năm châu

Nhận thức được về tầm quan trọng của sức khỏe con người đối với vậnmệnh đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng công sản Việt Nam đã luônchú trọng đến việc tăng cường và mở rộng các hoạt động TDTT, đặc biệt làGDTC cho thanh thiếu niên Môn học GDTC đã được Đảng và Nhà nước taquan tâm, trong Nghị quyết Trung Ương III năm 1961 đã bắt đầu đưa việcdạy thể dục và một số môn thể thao cần thiết vào chương trình học tập của cáctrường phổ thông, chuyên nghiệp và đại học

Trang 16

Ngày 02/06/1969 Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị 48 - TTG/VG vềviệc giữ gìn và nâng cao sức khỏe của học sinh trong đó nhấn mạnh: “Ngànhthể dục thể thao phải coi học sinh là một đối tượng phục vụ quan trọng củamình Cần phối hợp chặt chẽ với ngành giáo dục để điều tra, nghiên cứu sứckhỏe của học sinh, xây dựng những tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho thíchhợp với các lứa tuổi để đẩy mạnh phong trào rèn luyện thân thể trong và ngoàitrường học, đào tạo và bồi dưỡng giáo viên thể dục vệ sinh, tổ chức sản xuấtcác dụng cụ thể dục thể thao phục vụ trường học”,[2, tr3] “Tăng cườngcông tác thể dục thể thao, nhất là thể dục trong các trường học, kết hợp chặtchẽ việc bảo đảm số giờ học thể dục thể thao trong chương trình với việc tổchức cho học sinh rèn luyện thân thể ngoài lớp, gây thói quen tập thể dụchàng ngày trong học sinh và giáo viên”.

Luật giáo dục 2005 được Quốc hội thông qua ngày 14/06/2005, tại điều

2 đã chỉ rõ: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàndiện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với

lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhâncách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệpxây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Mục tiêu, nhiệm vụ của thể dục, thể thao trường học giai đoạn 2010

-2020 đã được Chính phủ đề ra: “Số trường phổ thông thực hiện đầy đủchương trình giáo dục thể chất nội khóa đến năm 2015 đạt 100% Số trườnghọc phổ thông có câu lạc bộ thể dục, thể thao, có hệ thống cơ sở vật chất đủphục vụ cho hoạt động thể dục, thể thao, có đủ giáo viên và hướng dẫn viênthể dục, thể thao, thực hiện tốt hoạt động thể thao ngoại khóa đến năm 2015đạt 45% và đến năm 2020 đạt từ 55 - 60% tổng số trường Số học sinh đượcđánh giá và phân loại thể lực theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể đến năm 2015đạt 75% và đến năm 2020 đạt 85% - 90% tổng số học sinh phổ thông các

Trang 17

cấp”,[13, tr 10].

Những thành quả của TDTT nước ta từ năm 1976 đến nay nhất lànhững năm gần đây đã và đang góp phần quan trọng bảo vệ và nâng cao sứckhỏe nhân dân, tăng cường nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước, làm phong phú hơn đời sống văn hóa tinh thần chonhân dân, tôn vinh dân tộc Việt Nam anh hùng, phục vụ tích cực công tác đốingoại của Đảng và Nhà nước

Thể chất con người là vấn đề của xã hội, Bác Hồ từng nói: “Dân cường thì nước mạnh, con người là vốn quý của xã hội, sức khỏe là vốn quý của con người” Những năm qua, Đảng và Nhà nước rất chú trọng tới việc phát triển

thể chất cho sinh viên – học sinh Các nghị quyết của Đảng và Nhà nước đãghi rõ công tác GDTC cho thế hệ trẻ là một mặt quan trọng không thể thiếuđược trong quá trình Giáo dục và Đào tạo con người toàn diện

Chương trình GDTC được Bộ GD & ĐT ban hành theo quyết định số203/QĐ – TDTT ngày 23/11/1989 Đã mở ra cho các trường có thể tự lựachọn, xây dựng chương trình và đưa vào giảng dạy môn học tự chọn ở giaiđoạn II phù hợp với điều kiện, cơ sở vật chất, sân bãi, phòng tập, khả nănggiảng dạy, huấn luyện của đội ngũ giáo viên TDTT

Để nâng cao chất lượng GDTC cho sinh viên các trường Đại học vàCao đẳng, ngoài việc cải tiến xây dựng nội dung chương trình GDTC ở giaiđoạn I (nội dung bắt buộc) thì ở giai đoạn II (nội dung môn học tự chọn) cũngđóng một vai trò hết sức quan trọng Đây là nội dung nhằm trang bị cho sinhviên những kiến thức và những kỹ năng tập luyện cơ bản các môn thể thaoyêu thích Liên quan quan đến môn thể thao tự chọn và ngoại khóa có một sốcông trình nghiên cứu như:

Đỗ Phương Chơn (2012), với đề tài “ Nghiên cứu xây dựng chương trình giáo dục thể chất tự chọn môn bóng rổ tại trường ĐH Khoa Học Tự

Trang 18

Nhiên - ĐH Quốc Gia TP.HCM”.

Huỳnh Thị Phương Duyên, năm 2009 với đề tài: “Nghiên cứu chương trình giảng dạy môn Karatedo vào giờ học thể dục tự chọn tại trường Trung học dân lập Công nghệ thông tin Sài Gòn”.

Tác giả Nguyễn Văn Khánh – Trần Đình Thuận, năm 2005 với đề tài:

“Đổi mới tổ chức dạy học môn thể thao tự chọn ở trường cao đẳng sư phạm

Nguyễn Ngọc Việt, năm 2000 với đề tài: “Nghiên cứu xây dựng chương trình môn học tự chọn – khoa GDTC trường đại học sư phạm Vinh”.

Đặng Đức Xuyên (1995), với đề tài “Đánh giá thực trạng huấn luyện thể lực của VĐV bóng chuyền trẻ khu vực phía nam”.

Các công trình nghiên cứu trên đều phản ánh thực trạng công tác giáodục thể chất của từng trường và chứng minh rằng việc học môn GDTC theonhu cầu và sở thích là đều hết sức quan trọng trong việc phát triển thể chấtcho sinh viên Nhưng cho tới nay, ở trường ĐH Công Nghiệp Thực Phẩm vẫnchưa có công trình nghiên cứu nào về mảng đề tài này Xuất phát từ nhữngyêu cầu thực tế đó, tôi xin được chọn đề tài:

“NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY MÔN BÓNG CHUYỀN GIỜ TỰ CHỌN CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC

CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP.HỒ CHÍ MINH”.

Trang 19

Đề tài được thực hiện với mục đích:

Xây dựng chương trình giảng dạy môn bóng chuyền giờ tự chọn chosinh viên tại trường ĐH Công Nghiệp Thực Phẩm TP.Hồ Chí Minh nhằmmục đích nâng cao thể lực cho các sinh viên

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, cần tiến hành giải quyết nhữngnhiệm vụ sau:

Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng thể lực của sinh viên tại trường ĐH

Công Nghiệp Thực Phẩm TP.Hồ Chí Minh

Nhiệm vụ 2: Xây dựng chương trình giảng dạy môn bóng chuyền giờ tự

chọn cho sinh viên tại trường ĐH Công Nghiệp Thực Phẩm TP.Hồ Chí Minh

Nhiệm vụ 3: Đánh giá hiệu quả chương trình giảng dạy đến sự phát triển

thể lực của sinh viên tại trường ĐH Công Nghiệp Thực Phẩm TP.Hồ Chí Minh

Trang 20

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Quan điểm của Đảng, nhà nước về công tác GDTC.

Nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của vai trò sức khoẻ con ngườiđối với vận mệnh đất nước, cũng như đối với sự nghiệp cách mạng giải phóngdân tộc, xây dựng Tổ quốc Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản ViệtNam đã luôn chú trọng đến việc tăng cường, mở rộng các hoạt động TDTT vàđặc biệt là công tác GDTC cho thanh niên

Trong lời kêu gọi toàn dân tập thể dục của Bác vào tháng 3 năm 1946,

Bác đã chỉ rõ “… Mỗi người dân khỏe mạnh tức là góp phần làm cho cả nước mạnh khỏe, mỗi người dân yếu ớt tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần, dân cường nước thịnh Tự tôi ngày nào cũng tập”[47].

Ngày 31/3/1960, Bác Hồ tự tay viết thư gửi Hội nghị cán bộ TDTT

toàn miền Bắc Trong thư, người dạy: “Muốn lao động sản xuất tốt, công tác

và học tập tốt thì cần có sức khỏe Muốn có sức khỏe thì nên thường xuyên tập luyện thể dục thể thao Vì vậy, chúng ta nên phát triển phong trào thể dục thể thao cho rộng khắp” Đồng thời, Bác cũng căn dặn: “Cán bộ thể dục thể thao phải học tập chính trị, nghiên cứu nghiệp vụ và hăng hái công tác”

nhằm phục vụ sức khỏe cho nhân dân Về vị trí TDTT trong xã hội, Bác Hồ

khẳng định “là một công tác trong những công tác cách mạng khác” [46] Vì

vậy, việc chăm lo cho công tác giáo dục thể chất trong trường học là một việclàm có tầm quan trọng đặc biệt trong sự nghiệp giáo dục đào tạo, nhằm chuẩn

bị con người cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trong chỉ thị của Ban bí thư Trung ương Đảng số 169/CT TW ngày

14/12/1969 ghi rõ: “Trường phổ thông cần có các biện pháp tích cực để nâng

Trang 21

cao chất lượng giáo dục lên một bước nhằm vào 3 mặt: tư tưởng đạo đức, kiến thức văn hoá và sức khỏe … tăng cường rèn luyện thân thể và công tác

vệ sinh phòng bệnh trong trường học, đảm bảo từng bước giữ gìn và nâng cao sức khoẻ học sinh” [14].

Hiến pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam quy định tại

điều 41 năm 1992 “Nhà nước và xã hội phát triển nền TDTT dân tộc, khoa học và nhân dân Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp TDTT, quy định chế

độ GDTC bắt buộc trong trường học, khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức TDTT tự nguyện của nhân dân, tạo các điều kiện cần thiết để không ngừng mở rộng các hoạt động TDTT quần chúng, chú trọng hoạt động thể thao chuyên nghiệp, bồi dưỡng các tài năng thể thao” [15].

Ngày 7/3/1995, Thủ tướng Chính Phủ ban hành Chỉ thị 133/TTg vềviệc xây dựng và quy hoạch phát triển ngành TDTT và Giáo dục đào tạo Về

GDTC trong trường học, Chỉ thị nêu rõ: “ Bộ Giáo dục và Đào tạo cần đặt biệt coi trọng việc GDTC trong nhà trường, cải tiến nội dung giảng dạy TDTT nội khóa, ngoại khóa, quy định tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho học sinh ở các cấp học, có quy chế bắt buộc đối với công tác GDTC trong nhà trường” [8].

Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII năm 1996 đã

khẳng định: “ Giáo dục đào tạo cùng với khoa học và công nghệ phải thực

sự trở thành quốc sách hàng đầu … chuẩn bị tốt hành trang cho thế hệ trẻ bước vào thế kỷ 21 …” Đồng thời, Đảng cũng khẳng định: “Sự cường tráng

về thể chất là nhu cầu của bản thân con người, đồng thời là vốn quí để tạo ra tài sản trí tuệ và vật chất cho xã hội, chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các đoàn thể …” [13].

Để cụ thể hóa các văn bản pháp luật có tính định hướng và chỉ đạo nói

trên, Bộ Giáo dục Đào tạo đã ban hành “Quy chế giáo dục thể chất trong nhà

Trang 22

trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân” [2], trong đó chỉ rõ:

- Giáo dục thể chất là nội dung bắt buộc đối với học sinh, sinh viên,được thực hiện trong hệ thống giáo dục quốc dân, từ mầm non đến đại học.GDTC là một bộ phận quan trọng để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện,góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêucầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

- Nhiệm vụ của GDTC là hình thành ở thế hệ trẻ nếp sống lành mạnh,

có tri thức, kỹ năng và phương pháp giữ gìn sức khỏe, phát triển thể lực, gópphần thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo

- Ngành giáo dục đào tạo phối hợp với ngành TDTT, y tế và các ngành

có liên quan, tạo điều kiện để tất cả các học sinh, sinh viên được học tập vàtham gia các hoạt động TDTT, tham gia các giải thi đấu thể thao

Nội dung của hoạt động thể chất bao gồm: dạy và học môn thể dục nộikhóa, hoạt động TDTT trong và ngoài nhà trường, tổ chức các hoạt độngngoại khóa để bảo vệ và tăng cường sức khỏe, vệ sinh cá nhân, môi trường vàdinh dưỡng

Dạy và học môn thể dục là hình thức GDTC cơ bản trong nhà trường,được tiến hành chủ yếu bằng giờ học nội khóa Nhà trường phải đảm bảo dạyđúng, đủ nội dung và thời gian môn học theo quy định của Bộ Nội dungchương trình GDTC nội khóa gồm phần bắt buộc và phần tự chọn Phần tựchọn bao gồm các môn thể thao phù hợp với điều kiện từng trường

Hoạt động ngoại khóa về TDTT bao gồm các hình thức: tự tập luyện,tập luyện có hướng dẫn, tập luyện trong và ngoài nhà trường, trong các CLBthể thao trường học

Tóm lại, qua những chỉ thị và Nghị quyết trên cho thấy: Đảng và Nhànước rất coi trọng việc tăng cường sức khỏe cho nhân dân, nhất là đối với tầnglớp học sinh, sinh viên Trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước của

Trang 23

thời đại hiện nay, việc giáo dục và phát triển thể chất là một trong những biệnpháp tích cực nhất góp phần tăng cường và bảo vệ sức khỏe, cải tạo nòi giống

1.1.1 Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung GDTC trong trường đại học.

Nâng cao năng lực thể lực và sức khỏe cho học sinh, sinh viên là mộttrong những mục tiêu chiến lược của Đảng, Nhà nước, của ngành Giáo dục vàĐào tạo nước ta trong giai đoạn hiện nay Để thực hiện mục tiêu giáo dục toàndiện ở tất cả các bậc học, nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóađất nước thì nhất thiết phải coi công tác Giáo dục thể chất trong trường học.Đặc biệt là khối đại học, cao đẳng chuyên nghiệp vì sinh viên là những nhân

tố lực lượng nồng cốt để phát triển đất nước

Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán: Về mục tiêu công tác giáo dụcthể chất và thể thao trường học nhằm góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo độingũ cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế và văn hóa xã hội, phát triển hàihòa, có thể chất cường tráng, đáp ứng yêu cầu chuyên môn, nghề nghiệp và

có khả năng tiếp cận với thực tiễn lao động sản xuất của nền kinh tế thịtrường theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa 17

Căn cứ vào mục tiêu nêu trên, giáo dục thể chất và thể thao trongtrường học phải giải quyết ba nhiệm vụ:

- Góp phần giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, rèn luyện tinh thần tập thể,

ý thức tổ chức kỷ luật, xây dựng niềm tin, lối sống lành mạnh, tinh thần tự giácrèn luyện thân thể, sẵn sàng phục vụ lao động sản xuất và bảo vệ Nước nhà

- Cung cấp cho sinh viên những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung

và phương pháp tập luyện thể dục thể thao, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơbản một số môn thể thao thích hợp Trên cơ sở đó, bồi dưỡng khả năng sửdụng các phương tiện để rèn luyện thân thể, tham gia tích cực vào việc tuyêntruyền và tổ chức các hoạt động thể dục thể thao của nhà trường và xã hội.Góp phần duy trì và cũng cố sức khỏe, nâng cao trình độ thể lực cho sinh

Trang 24

viên, phát triển cơ thể hài hòa, cân đối, rèn luyện thân thể, đạt những tiêuchuẩn thể lực qui định.

- Có thể thấy rằng, một trong những nhiệm vụ cơ bản quan trọng củagiáo dục thể chất là không ngừng nâng cao sức khỏe, nâng cao trình độ chuẩn

bị thể lực cho sinh viên, Noovicop A D, MatsVeep L P (1993), khẳng định:

“… thể lực còn là một trong những nhân tố quan trọng nhất, quyết định hiệuquả hoạt động của con người, trong đó những đặc điểm cơ bản, nổi bật củaquá trình giáo dục thể chất”

Nội dung chương trình: Quán triệt sâu sắc nội dung các nghị quyết, chỉthị của Đảng, Hiến pháp nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam, các văn bản phápluật của chính phủ về công tác TDTT trong tình hình mới, cũng tiếp tục khẳngđịnh, cần phải khắc phục thực trạng giảm sút thể lực của sinh viên hiện nay.Hai ngành Giáo dục - Đào tạo và TDTT đã thống nhất những nội dung, biệnpháp và hợp đồng trách nhiệm chỉ đạo, nhằm thúc đẩy nhanh và nâng cao chất

lượng GDTC cho sinh viên: “Hai ngành nhất trí xây dựng chương trình mục tiêu, cải tiến nâng cao chất lượng GDTC”.

Với nội dung phối hợp giữa hai ngành, Bộ GD & ĐT đã chỉ đạo cáccấp giảng dạy thể dục nội khóa, theo chương trình kế hoạch có nề nếp, đảmbảo thực hiện nghiêm túc các quy phạm đánh giá quá trình dạy – học thể dục,quy chế GDTC sinh viên Nghiên cứu và điều chỉnh chương trình thể dục cáccấp, thực hiện kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho sinh viên Từngbước áp dụng thống nhất giữa các vùng, khu vực trên toàn quốc Điều chỉnh

và ban hành tài liệu giảng dạy, sách giáo khoa cho từng cấp Đảm bảo cơ sởvật chất tối thiểu để phục vụ việc thực hiện chương trình ngoại khóa, phát

động phong trào rộng khắp trong nhà trường với mục tiêu: “Mỗi sinh viên biết chơi một môn thể thao”, chỉ đạo và cải tiến chương trình hình thức hoạt động

TDTT ngoại khóa, mở rộng mạng lưới câu lạc bộ TDTT sinh viên Tập trung

Trang 25

hỗ trợ về cán bộ, cơ sở vật chất để cũng cố, thành lập câu lạc bộ TDTT mới,thu hút nhiều sinh viên tham gia tập luyện.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành quy chế số 931/RLTC ngày

29/04/1993 về công tác GDTC trong nhà trường[9] là: “Các trường từ Mầm non đến Đại học phải đảm bảo thực hiện dạy môn thể dục theo quy định cho học sinh, sinh viên” GDTC bao gồm nhiều hình thức có liên quan chặt chẽ

với nhau Giờ học thể dục, tập luyện thể thao theo chương trình, giờ tự tậpcủa học sinh, sinh viên, giữ vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường Chương trìnhthể dục và các hình thức GDTC khác được sắp xếp phù hợp với trình độ sứckhỏe, giới tính và lứa tuổi Hàng năm, sinh viên tự tập luyện thể thao ngoạikhóa ở trường, ở nhà Nhà trường phải có kế hoạch hướng dẫn học sinh, sinhviên tập luyện thường xuyên, tổ chức các ngày hội thể thao của trường và xây

dựng thành nề nếp truyền thống “Kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo lứa tuổi và chỉ tiêu phát triển thể lực cho học sinh, sinh viên theo quy định của chương trình GDTC”.

1.1.2 Tổng quan về chương trình GDTC bậc Đại học và Cao đẳng

Chương trình gồm 150 tiết, với 5 học phần, tương ứng với 5 đơn vị họctrình TDTT Mỗi đơn vị học trình TDTT được học trong một học kì, như vậy,chương trình GDTC được tiến hành trong hai năm rưỡi đầu của chương trìnhhọc tập

Trang 26

Chương trình bao gồm hai phần: Phần lý thuyết 14 tiết, phần thực hành

136 tiết Phần lý luận, được học xen kẽ vào trong các học kỳ của giai đoạn 1.Phần thực hành, ngoài kiểm tra kỹ chiến thuật, còn phải kiểm tra lý thuyết củamôn học

Cuối mỗi năm học, ngoài kiểm tra lý thuyết, kỹ chiến thuật môn thểthao đã học, sinh viên phải kiểm tra tổng điểm trung bình thể lực theo quyđịnh của Bộ hay tiêu chuẩn của trường Sinh viên tích lũy điểm của 5 họcphần, trong đó có điểm “đạt” tiêu chuẩn rèn luyện thân thể (RLTT) mới đượccấp chứng chỉ môn học

Ngoại khóa là nội dung học tập bắt buộc của chương trình GDTC chosinh viên và đươc cán bộ giảng dạy TDTT quản lý

Có thể tóm lược chương trình GDTC trong các trường đại học hiện nayqua phân bổ thời gian (khung chương trình) cho các nội dung học tập nhưsau:

Bảng 1.1 Phân phối nội dung và thời gian học tập trong chương trình

GDTC của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

T

Tổng số giờ

162016

161622

68

610

(Bộ Giáo dục và Đào tạo, 1989).

Có thể nhận thấy: nội dung học tập chính khóa phong phú, song thời

Trang 27

gian học 2 tiết thể dục/một tuần lại quá ít, do đó, muốn đạt hiệu quả cao, cầnphải phối hợp tốt các hình thức GDTC với nhau, đặc biệt cần có nhiều biệnpháp hiệu quả GDTC ngoại khóa để nâng cao sức khỏe cho sinh viên.

1.1.3 Giáo dục thể chất ở một số nước.

Bên cạnh sự khác biệt do truyền thống lịch sử và do cơ cấu quản lý Nhànước và xã hội, chương trình giáo dục thể chất (GDTC) trong trường học ởnhiều nước có những yếu tố cấu trúc và tổ chức tương tự

Nội dung chương trình thường bao gồm:

Các bài tập phát triển chung, các môn bóng, trò chơi vận động, bơi….Gần đây các bài tập thể dục và nhảy múa cũng được phổ biến

Giờ học lý thuyết riêng được đưa vào chương trình không chỉ nhằm bồidưỡng kiến thức mà còn giáo dục sự ham thích, tính tự giác và kiên trì đối vớitập luyện

Thi đấu thể thao được các nhà khoa học coi là một trong yếu tố quantrọng của hệ thống giáo dục thể chất

Số giờ học thể dục ở mỗi nước khác nhau, nói chung quy định khoảng

3 – 4 giờ/tuần Nhưng trong một số trường hợp, giáo viên có thể tự quy định

số giờ học và thời gian mỗi buổi học

Sức khỏe là vốn quý của con người và con người là vốn quý của xã hội.Chăm lo cho con người, đầu tư cho con người thông qua công tác GDTC làchiến lược của mỗi một quốc gia trên thế giới 39 Nhằm so sánh với côngtác GDTC ở nước ta, chúng tôi khái lược lại nội dung, hình thức và phươngpháp tổ chức giáo dục thể chất một số nước có nền GDTC tiên tiến trên thếgiới 22

Giáo dục thể chất ở Liên Xô (trước đây).

Giáo dục thể chất trong trường đại học được thực hiện theo “Chươngtrình phức hợp về giáo dục thể chất”

Trang 28

Nhiệm vụ chủ yếu của chương trình:

- Giảng dạy những kỹ năng, kỹ xảo vận động quan trọng trong cuộcsống và ứng dụng chúng trong thực tiễn

- Tăng cường sức khỏe, phát triển các tố chất thể lực chủ yếu

- Trang bị những kiến thức về vệ sinh TDTT, y học TDTT, xã hội họcTDTT… với mục đích nâng cao ý thức gìn giữ và chăm sóc sức khỏe sẵnsàng lao động, bảo vệ tổ quốc, góp phần hình thành phẩm chất đạo đức lốisống, niềm tin, hình thành thói quen rèn luyện thân thể hằng ngày

Nội dung chương trình phức hợp gồm 4 phần:

- Phần 1: quy định các hoạt động TDTT trong chế độ sinh hoạt hằngngày ở trường: Thể dục trước giờ học, phút thể dục trong tiết học, bài tập vàtrò chơi trong giờ hành chính

- Phần 2: Quy định các tiết học TDTT cốt lõi của chương trình phứchợp, hình thức cơ bản của GDTC Nhiệm vụ chủ yếu là nâng cao thể lực, bồidưỡng kỹ năng, kiến thức, hình thành năng lực tổ chức tập luyện và tự tậpluyện, tạo tiền đề cho hình thức tập luyện ngoài giờ học

- Phần 3: Hình thức tập luyện ngoài trời học dựa trên tính tự quản củahọc sinh, dưới sự chỉ đạo của giáo viên

- Phần 4: Quy định các hình thức hoạt động TDTT quần chúng toàn trường.Đánh giá hiệu quả GDTC: Bằng việc đánh giá kết quả môn học thể dục

và thể thao, đánh giá mức độ hoàn thành tiêu chuẩn RLTT

Giáo dục thể chất ở Hoa Kỳ.

Ở Hoa Kỳ, không có chương trình GDTT thống nhất, các Bang, cáctrường học được tự do xác định nội dung GDTC cho phù hợp với điều kiệnthức tế và dựa trên những đặc điểm chung mà các Hiệp hội soạn thảo như:đánh giá kỹ năng và kỹ xão, các kiến thức cần thiết, các quan niệm cần hiểu,các thái độ cần hình thành, cũng như hệ thống các giá trị cần đạt được của

Trang 29

người tham gia GDTC.

Giáo dục thể chất ở Hungari.

Chương trình GDTC ở Hungari gồm chương trình bắt buộc chiếm 2/3chương trình chung, quy định những nội dung tối thiểu và 1/3 chương trình tựchọn, nhằm quy định những nội dung bổ sung sau khi thực hiện chương trìnhbắt buộc

Về hoạt động ngoại khóa, học sinh tham gia trong các nhóm, hội lớpchuyên TDTT

Tổ chức kiểm tra đánh giá: các câu hỏi lý thuyết, Luật thi đấu, các testđánh giá trình độ thể lực chung

Giáo dục thể chất ở Trung Quốc.

Thể dục thể thao nhà trường là cơ sở của Thể dục thể thao quốc dân, làtrọng điểm phát triển TDTT của Trung Quốc Tình hình TDTT trong trườnghọc là nội dung quan trọng nhất đánh giá trình độ phát triển TDTT của mộtquốc gia Đầu tiên, về mặt dân số, thanh thiếu niên chiếm 1/3 dân số cả nước

Về mặt sức khỏe, trong thời kỳ giáo dục cơ sở nếu làm tốt giáo dục thể chất sẽảnh hưởng đến việc tăng cường sức khỏe, thể chất, nhân cách và hình thànhthói quen tập luyện sau này Hầu như những nhà vô địch thế giới, những vậnđộng viên ưu tú đều xuất thân từ trường học Việc phổ cập kiến thức TDTT

và việc nâng cao sức khỏe, tố chất cho toàn dân tộc đều lấy nhà trường làm cơsở

Trên phạm vi thế giới, các Quốc gia phát triển về kinh tế đồng thờicũng là quốc gia phát triển về TDTT trường học Họ đều có cơ sở TDTTtrường học hùng hậu, có cơ sở vật chất kỹ thuật hoàn chỉnh Đầu tư choTDTT trường học chiếm trên 10% tổng số đầu tư cho giáo dục, lực lượnggiáo viên TDTT cũng đông đảo

Trang 30

Từ công tác GDTC ở một số nước tiêu biểu có thể rút ra những nhận xét:Công tác GDTC trường học đều nhằm mục đích nâng cao sức khỏe, thểlực cho thế hệ trẻ, xem đây là nhiệm vụ chiến lược của mỗi Quốc gia.

Hầu hết các nước đều coi trọng kiểm tra và đánh giá sức khỏe, thể lực

và kết quả môn học TDTT của học sinh, sinh viên

1.2 Cơ sở khoa học của giáo dục thể chất:

1.2.1 Khái niệm giáo dục thể chất.

Thể chất: thể chất là chỉ chất lượng thân thể con người Đó là những

đặc trưng tương đối ổn định về hình thái và chức năng của cơ thể, được hìnhthành và phát triển do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống (có giáo dục vàrèn luyện) Thể chất bao gồm thể hình, khả năng chức năng và khả năng thíchứng 38

Theo Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn: “ thể chất chỉ chất lượng thân thể con người Đó là những đặc trưng tương đối ổn định về hình thái và chức năng của cơ thể được hình thành và phát triển do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống ( bao gồm cả giáo dục và rèn luyện )” [38, tr 18].

Thể chất bao gồm hình thái (thể hình), chức năng và năng lực vậnđộng Trong đó, hình thái là cấu trúc, hình dáng bên ngoài của cơ thể Chứcnăng là khả năng hoạt động của các hệ thống, cơ quan trong cơ thể: thần kinh,tuần hoàn, hô hấp, vận động Năng lực vận động bao gồm thể lực và các kĩnăng vận động cơ bản như đi, chạy, nhảy

Giáo dục thể chất: Mátvêép L P, Nôvicốp A D khái niệm rằng “Giáo

dục thể chất là một quá trình giải quyết những nhiệm vụ giáo dục - giáo dưỡng nhất định mà đặc điểm của quá trình này là có tất cả các dấu hiệu chung của quá trình sư phạm, hoặc là được thực hiện dưới hình thức tự giáo dục”27.

Nguyễn Toán đã mô tả GDTC và khái niệm: “Giáo dục thể chất là một

Trang 31

bộ phận của thể dục thể thao Giáo dục thể chất còn là một trong những hoạt động cơ bản, có định hướng rõ của thể dục thể thao trong xã hội, một quá trình tổ chức để truyền thụ và tiếp thu những giá trị của TDTT trong hệ thống giáo dục – giáo dưỡng chung (chủ yếu là trong nhà trường)… Giáo dục thể chất là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người”38.

Vũ Đức Thu, Nguyễn Xuân Sinh, Lưu Quang Hiệp và một số tác giả

khác đưa ra khái niệm: Giáo dục thể chất làm một quá trình sư phạm, nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc và kéo dài tuổi thọ của con người 43, tr 10.

Về giáo dục thể chất, có nhiều khái niệm ở những góc độ, những gócnhìn khác nhau, song nói chung đều nêu lên hai mặt của một quá trình GDTC,giáo dục và giáo dưỡng [45]

Giáo dưỡng: là quá trình dạy học vận động hay giảng dạy động tác, qua đóhình thành kỹ năng vận động, kỹ xảo vận động và những hiểu biết liên quan

Giáo dục: là giáo dục các tố chất thể lực và phẩm chất ý chí con người

Trạng thái thể chất: chủ yếu nói về trạng thái cơ thể qua một số dấu

hiệu về thể trạng được xác định bằng các cách đo tương đối đơn giản nhưchiều cao, cân nặng, vòng ngực, chân, tay… trong một thời điểm nào đó 38

Phát triển thể chất: là quá trình biến đổi và hình thành các tính chất tự

nhiên về hình thái và chức năng cơ thể trong đời sống tự nhiên và xã hội Haynói cách khác, phát triển thể chất là một quá trình hình thành biến đổi tuần tựtheo quy luật trong cuộc đời từng người về hình thái, chức năng kể cả những

tố chất thể lực và năng lực vận động 38

Phát triển thể chất phụ thuộc nhiều vào yếu tố tạo thành và sự biến đổicủa nó diễn ra theo quy luật di truyền và các quy luật phát triển sinh học tựnhiên theo lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, phương pháp và biện pháp giáo

Trang 32

dục cũng như môi trường sống.

Hoàn thiện thể chất: Hoàn thiện thể chất là phát triển thể chất lên một

trình độ cao, nhằm đáp ứng một cách hợp lý các nhu cầu của hoạt động laođộng, xã hội, chiến đấu và kéo dài tuổi thọ sáng tạo của con người 45, tr 10

Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn cũng đưa ra khái niệm “Hoàn thiện thể chất là mức tối ưu (tương đối), với một giai đoạn lịch sử nhất định của trình độ chuẩn bị thể lực toàn diện và phát triển thể chất cân đối, đáp ứng đầy đủ những yêu cầu của lao động và những hoạt động cần thiết khác của đời sống, phát huy cao độ, đầy đủ những năng khiếu bẩm sinh về thể chất của từng người, phù hợp với những quy luật phát triển toàn diện nhân cách và giữ gìn, nâng cao sức khỏe để hoạt động tích cực, lâu bền và có hiệu quả”38.

Để nhấn mạnh tới phương hướng, mục đích của giáo dục thể chất trongtrường đại học, chuẩn bị thể lực được Vũ Đức Thu khái niệm như sau:

“Chuẩn bị thể lực là một nội dung của quá trình giáo dục thể chất, đây là hoạt động chuyên môn hóa nhằm chuẩn bị thể lực cho con người học tập, lao động và bảo vệ Tổ Quốc”42.

Thể lực: từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1996 của nhà xuất bản Từ

điển Đà Nẳng khái niệm, “Thể lực là sức lực của con người”[28.

Theo Nguyễn Mạnh Liên: “… thể lực là một nội dung nằm trong định nghĩa chung về sức khỏe” Tác giả cho rằng, để đánh giá thể lực, cần có các

chỉ tiêu về hình thái, giải phẫu và sinh lý con người trong đó có hai chỉ tiêu cơbản là chiều cao đứng và cân nặng 25 Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khái

niệm sức khỏe như sau: “sức khỏe là một trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải đơn thuần là không bệnh tật, cho phép mọi người thích ứng nhanh chóng với các biến đổi của môi trường, giữ được lâu dài khả năng lao động và lao động có kết quả”.Sức khỏe gồm có sức

Trang 33

khỏe cá nhân, sức khỏe gia đình, sức khỏe cộng đồng và sức khỏe xã hội Sứckhỏe phụ thuộc vào môi trường sống, quá trình nuôi dưỡng, quá trình rènluyện, những vấn đề chung của từng nước và cộng đồng thế giới… Như vậy,thể lực là một yếu tố tạo nên sức khỏe 24.

Như vậy, có thể nhận thấy ở những gốc độ khác nhau khái niệm thể lựcđược các tác giả đề cập đến không hoàn toàn giống nhau Từ các kết quả phân

tích trên đây có thể hiểu: Thể lực là năng lực tự nhiên của con người, được phát triển, hoàn thiện dưới tác động của lượng vận động và bộc lộ ra bên ngoài cơ thể cao hay thấp.

1.2.2 Chất lượng giáo dục và giáo dục thể chất.

Chất lượng giáo dục luôn luôn là một vấn đề được toàn xã hội quantâm, bởi lẽ, đây là sự phản ánh giá trị đích thực của một nền giáo dục và là cơ

sở, tiền đề cho sự phát triển của mỗi cá nhân và toàn xã hội Tuy nhiên, kháiniệm “chất lượng” nói chung và “chất lượng giáo dục” nói riêng là nhữngkhái niệm cơ bản, nhưng rất đa chiều, đa nghĩa, rất khó định danh chính xácbởi nội dung của nó rất rộng Vì vậy, đã có rất nhiều tác giả đề xuất các kháiniệm “chất lượng” khác nhau

Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng, “chất lượng” được hiểu là: "cáilàm nên phẩm chất, giá trị của sự vật" hoặc chất lượng được hiểu là "cái tạonên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia" [28]

Bộ Tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế ISO 9000 đã xác định "chấtlượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể, tạo cho thực thể đó có nhữngkhả năng thoả mãn những nhu cầu đã được công bố hoặc còn tiềm ẩn" [5]

Mục đích cuối cùng của giáo dục là nhằm phát triển cá nhân và đào tạonguồn nhân lực để kế thừa, cải tạo, phát triển chính xã hội đó Do đó, nếuđánh giá theo mục đích cuối cùng thì chất lượng giáo dục được giới hạn trongphạm vi đánh giá sự phát triển của cá nhân sau mỗi quá trình học tập và sự

Trang 34

phát triển xã hội khi họ tham gia vào các lĩnh vực hoạt động kinh tế, chính trị

- xã hội, văn hoá - thể thao Theo Nguyễn Văn Đản, mức độ kết quả học tậpđạt được so với mục tiêu cá nhân được gọi là chất lượng giáo dục ở cấp độnhân cách Nguồn nhân lực được đào tạo bao gồm các cá nhân được đào tạo.Mức độ kết quả đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng các yêu cầu xã hội đặt ra chogiáo dục được gọi là chất lượng giáo dục ở cấp độ xã hội

Ở những góc độ khác nhau, người ta có thể đưa ra những tiêu chí đánhgiá chất lượng học tập khác nhau: Giáo viên đánh giá chất lượng học tập bằngmức độ mà học sinh nắm vững các kiến thức, kỹ năng, phương pháp và thái

độ học tập của cá nhân Học sinh đánh giá chất lượng học tập bằng việc nắmvững và vận dụng kiến thức vào thực hành bài tập, bài kiểm tra, bài thi… Cha

mẹ học sinh và người sử dụng sản phẩm đào tạo lại có cách đánh giá chấtlượng đào tạo khác nhau

Như vậy, có thể xác định khái niệm “chất lượng” như sau:

Chất lượng là những thuộc tính bản chất vốn có của sự vật, hiện tượng,

là "cái" để phân biệt nó với sự vật, hiện tượng khác

Chất lượng là giá trị, mức độ thể hiện của sản phẩm với những chỉ tiêu,quy chuẩn đã định

Chất lượng là sự thoả mãn với những nhu cầu của người sử dụng

Chất lượng là sự phù hợp với những mục tiêu

“Chất lượng” được hiểu là "cái" tạo nên bản chất, phẩm chất, giá trị vàmức độ phù hợp với yêu cầu, mục tiêu đã định: chất lượng của sản phẩm vừa

có đặc tính chủ quan, vừa có đặc tính khách quan “Chất lượng” là "cái" tạonên bản chất, phẩm chất, giá trị Vì vậy, khi xem xét về chất lượng thì phảicăn cứ vào bản chất, phẩm chất, giá trị trong sản phẩm do nó tạo ra Đâychính là cơ sở khoa học và thực tiễn rất quan trọng cho việc "đo", “thẩmđịnh” và đánh giá chất lượng

Trang 35

Từ định nghĩa "chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu" ta có thể xác định:

“Chất lượng GDTC là sự phù hợp với mục tiêu GDTC”, là kết quả tổng hợp

của quá trình GDTC, phản ánh trong các phẩm chất và năng lực, đặc biệt làcác năng lực thể chất của người học, phù hợp với mục tiêu GDTC cho từngcấp học, bậc học và ngành nghề đào tạo

1.2.3 Hiệu quả giáo dục, chất lượng dạy học và kết quả học tập.

Tính hiệu quả: theo quan niệm chung, đó là sự thể hiện mối quan hệ

chung nhất giữa đầu tư công sức, nhân lực, vật lực với kết quả đạt được saumột giai đoạn nhất định, xét theo mục tiêu giáo dục trong những điều kiện cụthể

Đánh giá hiệu quả giáo dục là so sánh kết quả của các hoạt động giáodục đã đạt được với mục tiêu đã đề ra Mục tiêu của việc đánh giá hiệu quảgiáo dục, cũng là mục tiêu của quá trình giáo dục

Theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Đức Thuận và Lê Đức Phúc, hiệuquả giáo dục biểu hiện tập trung nhất ở nhân cách học sinh, đó là sự phát triển

về thể chất, trí tuệ, văn hoá, đạo đức, khả năng tự lập, thích ứng … [44]

Chất lượng dạy học: là một bộ phận hợp thành quan trọng của chất

lượng giáo dục và được xem như là kết quả giảng dạy và học tập xét cả vềmặt định lượng và định tính so với các mục tiêu bộ môn cũng như sự gópphần vào quá trình hình thành và phát triển nhân cách của học sinh

Chất lượng dạy học được đánh giá chủ yếu qua giờ học (hay quá trìnhdạy học), tuỳ thuộc vào những yêu cầu khác nhau Chất lượng hay kết quảhọc tập đích thực chỉ xuất hiện khi có những biến đổi tích cực trong nhậnthức, hành vi của người học

Kết quả học tập: đây là khái niệm thường được hiểu theo hai quan niệm

khác nhau Thứ nhất, đó là mức độ thành tích mà một chủ thể học tập đã đạtđược, được xem xét trong mối quan hệ với công sức, thời gian đã bỏ ra, với

Trang 36

mục tiêu đã xác định Như vậy, kết quả học tập được hiểu là mức độ thực hiệnnhững mục tiêu định trước Thứ hai, đó là mức thành tích đã đạt của một họcsinh so với các bạn học khác Quan niệm thứ hai, đó là mức thực hiện chuẩn.Tuy nhiên, nhiều người cho đó là quan niệm tâm lý sai biệt [44]

1.2.4 Giáo dục thể chất đối với sinh viên.

GDTC là một quá trình sư phạm nhằm hoàn thiện về mặt thể chất vàchức năng của cơ thể con người, nhằm hình thành và củng cố những kỹ năng

kỹ xảo vận động cơ bản trong đời sống, trong lao động GDTC là một bộphận của TDTT, là một trong những hình thái hoạt động cơ bản của địnhhướng rõ của TDTT trong xã hội Hay cụ thể nói cách khác GDTC là loạihình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động và phát triển cóchủ định các tố chất thể lực của con người

TDTT là một bộ phận của nền văn hóa xã hội, một loại hình hoạt động

mà phương tiện cơ bản là các bài tập thể lực (thể hiện cụ thể qua cách thứcrèn luyện thân thể) nhằm tăng cường thể chất cho con người, nâng cao thànhtích thể thao, góp phần làm phong phú sinh hoạt văn hóa và giáo dục conngười phát triển cân đối hợp lý

GDTC và thể thao trường học duy trì và cũng cố sức khỏe, nâng caotrình độ thể lực sinh viên, rèn luyện thân thể để đạt được tiêu chuẩn thể lựctheo quy định Trang bị cho sinh viên kiến thức lý luận cơ bản về những nộidung, phương pháp tập luyện TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật động tác

cơ bản một số môn thể thao Rèn luyện cho sinh viên có ý thức tổ chức kỷluật, tinh thần tập thể, xây dựng lối sống lành mạnh, tinh thần tự giác rènluyện thân thể Đồng thời, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các trường xây dựng

và rèn luyện phong trào thể thao mạnh mẽ và sâu rộng: “Thực hiện GDTC trong tất cả các trường học, làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hằng ngày của hầu hết sinh viên…” [39, tr 420.

Trang 37

GDTC trong các trường đại học góp phần quan trọng trong việc “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài…”39, xây dựng những

lớp người chủ nhân tương lai cho đất nước

Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, nền TDTT nước nhà ngàycàng một phát triển mạnh sâu rộng, đã đạt được một số thứ hạng cao trongkhu vực và một số môn thể thao đã đạt được thành tích thế giới Trong đó, coitrọng công tác GDTC, coi như là một mặt trong mục tiêu giáo dục con ngườiphát triển toàn diện, nhằm phát triển và bồi dưỡng những tài năng thể thaocòn tiềm ẩn của đất nước

Vì vậy, Bác Hồ khẳng định “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe… Dân cường thì nước thịnh…”.Bác còn căn dặn: ”Phải biết quý trọng sức người, là vốn quý nhất của ta”4.

Trong những năm gần nay, ngành Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều đổimới về công tác GDTC và đã đạt được nhiều kết quả trên lãnh vực GDTC,sức khỏe và y tế học đường Hội nghị khoa học GDTC, sức khỏe ngành Giáodục – Đào tạo lần II tháng 5/1988 tại trường đại học Kinh Tế Quốc dân HàNội lần III năm 2001 tại trường Đại học sư phạm TDTT I Hà Tây,… đã phảnánh khá đầy đủ toàn diện các mặt trong việc tổ chức, chỉ đạo công tác GDTC,sức khỏe và y tế học đường Xác định rõ vị trí, vai trò công tác GDTC, sứckhỏe và thể thao ở các trường đại học trong mục tiêu giáo dục và đào tạo, cảitiến nội dung và phương pháp GDTC, nghiên cứu những điều kiện đảm bảocho các hoạt động TDTT phát triển đồng bộ

Muốn có sức khỏe tốt, đòi hỏi mỗi người phải tự giác tích cực rèn luyện

tập luyện để cơ thể phát triển một cách hài hòa, cân đối và toàn diện , vì ”Sức khỏe là cơ sở vật chất của sự tồn tại và phát triển con người, là nguồn hạnh phúc của mỗi cá nhân trong cuộc sống, là cơ sở trong giữ gìn, xây dựng và

Trang 38

bảo vệ tổ quốc của cả một dân tộc” 4 Giữ gìn và nâng cao sức khỏe cho

nhân dân không chỉ là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước, mà còn được Bác

Hồ xác định “Đó là bổn phận của mỗi người dân yêu nước”41.

Trên cơ sở tư tưởng đó, GDTC đối với các sinh viên là một việc khôngthể thiếu được trong công tác giáo dục và đào tạo Sức khỏe được coi như làmột vốn quý nhất của con người, là tài sản vô giá của quốc gia Nhà nước đặtcông tác TDTT là ngang hàng với những công tác cách mạng khác

1.3 Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng chương trình.

1.3.1 Cấu trúc chương trình.

Chương trình dạy học TDTT là một văn bản dựa vào kế hoạch giảng dạychung của trường để quy định nội dung dạy học và chỉ đạo dạy học TDTT.Chương trình chỉ rõ phương hướng dạy học, quy định mật độ, phạm vi và hệthống nội dung dạy học, cũng như những yêu cầu cơ bản đối với dạy học Nó làchỗ dựa để biên soạn giáo trình TDTT và giáo viên tiến hành dạy học, là căn cứ

để quản lý công tác dạy học Chương trình và giáo trình dạy học TDTT trườnghọc các cấp do Bộ Giáo dục và Đào tạo thẩm định và ban hành

Kết cấu chương trình dạy học TDTT nói chung bao gồm 3 phần cơ bảnsau đây:

Thuyết minh chương trình, gồm các phần sau:

Mục tiêu và nhiệm vụ dạy học TDTT

Nguyên tắc xây dựng chương trình

Phân phối thời gian (số giờ) của các nội dung dạy học

Yêu cầu cơ bản của công tác dạy học TDTT

Chương trình chi tiết:

Đây chính là phần chính của chương trình, có hình thức diễn đạt ngắngọn, rõ ràng, quy định nội dung chương trình và độ nông sâu của nó Cáchthức diễn đạt có 3 loại:

Trang 39

 Phân phối nội dung theo năm học.

 Phân phối theo hệ thống nội dung: Đây là cách sắp xếp nội dung khôngphân theo năm học, nên có tính linh hoạt nhất định và khá thích ứng với mọi tìnhhuống Cách này thường được áp dụng ở bậc Đại học và Cao đẳng

 Phân phối nội dung áp dụng cả hai cách trên

Nội dung và tiêu chuẩn thi, kiểm tra kết thúc.

Phần này quy định biện pháp kiểm tra, nội dung kiểm tra và tiêu chuẩnđánh giá giờ học

1.3.2 Nguyên tắc biên soạn.

Trong quá trình biên soạn chương trình giảng dạy cần quán triệt cácnguyên tắc sau:

Kết hợp giữa tăng cường thể chất và phát triển toàn diện

 Xây dựng quan niệm về giá trị dạy học TDTT hiện đại: Ngoài giátrị sinh học, còn có giá trị tâm lý học, giáo dục học, xã hội học và mỹ học

 Đảm bảo sinh viên vừa phát triển toàn diện cơ thể, vừa xúc tiếnphát triển tâm đức

Quán triệt trong các giai đoạn dạy học, đặc biệt là khi xác định nhiệm

vụ dạy học, lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học

Kết hợp giữa vai trò của giáo viên và tính tích cực tự giác của sinh viênThầy giáo làm tốt việc dạy người trước, dạy chữ sau, có đạo đức, họcthức, kỹ thuật toàn diện, gần gũi với sinh viên, có uy tín cao

Học sinh phải xác định động cơ học tập đúng đắn, động não và tích cựcchủ động học tập hoàn thành đầy đủ mọi yêu cầu và nhiệm vụ

Trang 40

giáo trình và năng lực tiếp thu của sinh viên Tăng LVĐ cần có tiết tấu vàtăng theo hình sóng, xử lý tốt mối quan hệ giữa khối lượng và cường độ vận động sinh lý, chú ý cả LVĐ bên ngoài và LVĐ bên trong.

Sắp xếp LVĐ sinh lý (chủ yếu nói về 3 mặt: cảm xúc, chú ý và ý chí)phải phối hợp với LVĐ sinh lý và tiến trình dạy học

Xuất phát từ đặc điểm LVĐ sinh lý và tâm lý để sắp xếp khoa họcphương thức và thời gian nghỉ ngơi nhằm đạt tới hiệu quả mong muốn

Đánh giá chất lượng lên lớp TDTT cần chú ý phân tích xem LVĐ vànghỉ ngơi sắp xếp có hợp lý hay không

Kết hợp giữa thống nhất yêu cầu và đối xử cá biệt

Tiến hành đi sâu điều tra nghiên cứu tìm hiểu nay đủ thực trạng, qua đó

để vừa nắm được tình hình chung, vừa nắm được tính đặc thù cá biệt

Khi viết giáo án lên lớp cần xuất phát từ số đông để đưa ra yêu cầuchung, đồng thời trên cơ sở đó có các yêu cầu khác nhau đối với cá biệt sinhviên về LVĐ

Đảm bảo sự giao lưu thông tin kịp thời giữa thầy và trò bằng các hìnhthức khác nhau như giảng giải, thị phạm, tập luyện, hỏi đáp, thi đấu…

Tăng mật độ tập luyện và số lần lặp lại động tác để nâng cao trình độ

Giáo viên cần nâng cao trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, tìm hiểu quy luật

và đặc điểm phát triển tâm lý, thể lực của sinh viên, nghiên cứu kỹ lưỡng giáotrình

Ngày đăng: 15/11/2018, 10:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
18. Đào Hữu Hồ (1998), Xác suất thống kê, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào Hữu Hồ (1998), "Xác suất thống kê
Tác giả: Đào Hữu Hồ
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
35. Nguyễn Ngọc Tiên (1995), với đề tài “Bước đầu nghiên cứu tiêu chuẩn thể hình, tố chất thể lực để tuyển chọn năng khiếu bóng chuyền nam Vĩnh Long” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Tiên (1995), với đề tài “Bước đầu nghiên cứu tiêu chuẩn thểhình, tố chất thể lực để tuyển chọn năng khiếu bóng chuyền nam Vĩnh Long
Tác giả: Nguyễn Ngọc Tiên
Năm: 1995
36. Bùi Trọng Toại (1996), với đề tài “Nghiên cứu xác định hệ thống test kiểm tra thể lực VĐV bóng chuyền nữ trẻ”. Luận văn Thạc sĩ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùi Trọng Toại (1996), với đề tài “Nghiên cứu xác định hệ thống test kiểm trathể lực VĐV bóng chuyền nữ trẻ”". Luận văn Thạc sĩ
Tác giả: Bùi Trọng Toại
Năm: 1996
37. Đặng Đức Toàn, (năm 2010) với đề tài “Nghiên cứu xây dựng chương trình môn học Bóng đá (tự chọn và ngoại khóa) cho sinh viên trường Cao đẳng Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Đức Toàn, (năm 2010) với đề tài “Nghiên cứu xây dựng chương trìnhmôn học Bóng đá (tự chọn và ngoại khóa) cho sinh viên trường Cao đẳngGiao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh
38. Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn và cộng sự (2000), Lý luận và phương pháp TDTT, NXB TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn và cộng sự (2000), "Lý luận và phương pháp"TDTT
Tác giả: Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn và cộng sự
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 2000
39. Phạm Danh Tốn (1998), Lý luận và phương pháp văn hóa thể chất, Tài liệu giảng dạy cho học viên cao học, Bắc Ninh, tr. 420 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Danh Tốn (1998), "Lý luận và phương pháp văn hóa thể chất
Tác giả: Phạm Danh Tốn
Năm: 1998
40. Lâm Quang Thành - Nguyễn Thành Lâm (2005), Đo lường thể thao, Trường ĐH TDTT TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm Quang Thành - Nguyễn Thành Lâm (2005), "Đo lường thể thao
Tác giả: Lâm Quang Thành - Nguyễn Thành Lâm
Năm: 2005
41. Trịnh Hùng Thanh, Lê Nguyệt Nga, Trịnh Trung Hiếu (1998), Sinh lý và huấn luyện TDTT, NXB TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trịnh Hùng Thanh, Lê Nguyệt Nga, Trịnh Trung Hiếu (1998), "Sinh lý và huấn"luyện TDTT
Tác giả: Trịnh Hùng Thanh, Lê Nguyệt Nga, Trịnh Trung Hiếu
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 1998
42. Vũ Đức Thu – Nguyễn Kỳ Anh với đề tài: “Những biện pháp thực thi nhằm cải tiến năng cao chất lượng GDTC trong các trường học” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Đức Thu – Nguyễn Kỳ Anh với đề tài: “Những biện pháp thực thi nhằmcải tiến năng cao chất lượng GDTC trong các trường học
43. Vũ Đức Thu, Nguyễn Xuân Sinh, Lưu Quang Hiệp và cộng sự (1995), Lý luận và phương pháp giáo dục thể chất, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr.10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Đức Thu, Nguyễn Xuân Sinh, Lưu Quang Hiệp và cộng sự (1995), "Lý luận"và phương pháp giáo dục thể chất
Tác giả: Vũ Đức Thu, Nguyễn Xuân Sinh, Lưu Quang Hiệp và cộng sự
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
44. Hoàng Đức Thuận, Lê Đức Phúc (1995), Cơ sở lý luận của việc đánh giá chất lượng học tập của học sinh, Chương trình Khoa học công nghệ cấp nhà nước KX – 07 - 08, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Đức Thuận, Lê Đức Phúc (1995), "Cơ sở lý luận của việc đánh giá chất"lượng học tập của học sinh
Tác giả: Hoàng Đức Thuận, Lê Đức Phúc
Năm: 1995
45. Trường ĐH TDTT I (1996), Giáo dục giáo dưỡng sinh viên TDTT, NXB TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường ĐH TDTT I (1996), "Giáo dục giáo dưỡng sinh viên TDTT
Tác giả: Trường ĐH TDTT I
Nhà XB: NXBTDTT
Năm: 1996
46. Trương Quốc Uyên (2000), Hồ Chí Minh với TDTT, NXB TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trương Quốc Uyên (2000), "Hồ Chí Minh với TDTT
Tác giả: Trương Quốc Uyên
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 2000
47. Trương Quốc Uyên (2003), Chủ tịch Hồ Chí Minh với TDTT, NXB TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trương Quốc Uyên (2003), "Chủ tịch Hồ Chí Minh với TDTT
Tác giả: Trương Quốc Uyên
Nhà XB: NXB TDTT HàNội
Năm: 2003
48. Nguyễn Đức Văn (2000), Phương pháp thống kê TDTT, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đức Văn (2000), "Phương pháp thống kê TDTT
Tác giả: Nguyễn Đức Văn
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2000
49. Viện khoa học TDTT (2003), Thực trạng thể chất người Việt Nam từ 6 – 20 tuổi, NXB TDTT 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện khoa học TDTT (2003), "Thực trạng thể chất người Việt Nam từ 6 – 20"tuổi
Tác giả: Viện khoa học TDTT
Nhà XB: NXB TDTT 2003
Năm: 2003
50. Nguyễn Ngọc Việt, năm 2000 với đề tài: “Nghiên cứu xây dựng chương trình môn học tự chọn – khoa GDTC trường đại học sư phạm Vinh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Việt, năm 2000 với đề tài: “Nghiên cứu xây dựng chương trìnhmôn học tự chọn – khoa GDTC trường đại học sư phạm Vinh
52. Đặng Đức Xuyên (1995), với đề tài “Đánh giá thực trạng huấn luyện thể lực của VĐV bóng chuyền trẻ khu vực phía nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Đức Xuyên (1995), với đề tài “Đánh giá thực trạng huấn luyện thể lựccủa VĐV bóng chuyền trẻ khu vực phía nam
Tác giả: Đặng Đức Xuyên
Năm: 1995
53. Nguyễn Như Ý, Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân Thành (1997), từ điển tiếng việt thông dụng, NXB giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Như Ý, Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân Thành (1997), "từ điển tiếng"việt thông dụng
Tác giả: Nguyễn Như Ý, Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân Thành
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 1997
51. Nguyễn Trung Việt, năm 2007 với đề tài: “Nghiên cứu xây dựng chương trình Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w