Đề hoàn thành luận án tiến sĩ Quản lý công “Phát triển văn hóa hành chính nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế”, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: Lãnh đạo Học viện Hành chính Quốc gia, Khoa Sau đại học, Khoa Văn bản vàCông nghệ hành chính cùng các đơn vị khác trong Học viện Hành chính Quốc gia đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện Luận án
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
CHU THỊ KHÁNH LY
PHÁT TRIỂN VĂN HÓA HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI - 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
CHU THỊ KHÁNH LY
PHÁT TRIỂN VĂN HÓA HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Chuyên ngành: Quản lý công
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của bản thân tôi Các số liệu và tư liệu được trình bày trong Luận án là hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Hà Nội, tháng năm 2018
TÁC GIẢ
Trang 4- PGS.TS Đào Thị Ái Thi và TS Trịnh Thanh Hà đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình
và trách nhiệm trong suốt quá trình nghiên cứu Luận án
- Các giáo sư, phó giáo sư, các nhà khoa học, quý thầy, cô, các đồng nghiệp đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong suốt quá trình tác giả nghiên cứu và hoàn thành Luận án
- Các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương và địa phương, đặc biệt là UBND TP Hà Nội, UBND TP Đà Nẵng, UBND TP Lào Cai, UBND TP Hồ Chí Minh; Bộ Nội vụ; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Thông tin và Truyền thông; Bộ Ngoại giao đã giúp đỡ tác giả trong quá trình tiếp cận và khảo sát thực tiễn
Trân trọng cảm ơn
Hà Nội, tháng năm 2017
TÁC GIẢ
Chu Thị Khánh Ly
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
5 Giả thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu 7
6 Đóng góp mới của đề tài 9
7 Cấu trúc của Luận án 9
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 10
1.1 Các công trình nghiên cứu văn hóa hành chính nhà nước ở cấp độ hệ thống10 1.1.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới 10
1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 13
1.2 Các công trình nghiên cứu văn hóa hành chính nhà nước ở cấp độ tổ chức 15 1.2.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới 15
1.2.2 Những công trình nghiên cứu trong nước 16
1.3 Các công trình nghiên cứu văn hóa hành chính nhà nước ở cấp độ cá nhân17 1.3.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới 17
1.3.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam 19
1.4 Đánh giá tổng quan về tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra đối với luận án 20
1.4.1 Những kết quả đạt được của các công trình nghiên cứu 20
1.4.2 Những vấn đề đặt ra đối với luận án 23
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 25
2.1 Các khái niệm 25
2.1.1 Hành chính nhà nước 25
2.1.2 Văn hóa 26
2.1.3 Văn hóa hành chính nhà nước 27
2.1.4 Vốn xã hội 42
2.2 Phát triển văn hóa hành chính nhà nước 45
2.2.1 Quan niệm về phát triển 45
Trang 62.2.2 Phát triển văn hóa hành chính nhà nước trong mối quan hệ với biến đổi xã
hội 48
2.2.3 Đặc trưng phát triển văn hóa hành chính nhà nước 49
2.2.4 Một số yếu tố tác động đến phát triển văn hóa hành chính nhà nước 51
2.3 Bối cảnh hội nhập quốc tế và yêu cầu phát triển văn hóa hành chính nhà nước 56
2.3.1 Bối cảnh hội nhập quốc tế và quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam 56
2.3.2 Yêu cầu phát triển văn hóa hành chính nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế 63
2.4 Bài học kinh nghiệm về phát triển văn hóa hành chính nhà nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế của một số quốc gia 66
2.4.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản về phát triển văn hóa hành chính nhà nước 66
2.4.2 Kinh nghiệm Hàn Quốc về xây dựng và phát triển văn hóa hành chính nhà nước 67
2.4.3 Kinh nghiệm Singapore về xây dựng và phát triển văn hóa hành chính nhà nước 68
2.4.4 Kinh nghiệm của Trung Quốc về phát triển văn hóa hành chính nhà nước69 2.4.5 Bài học kinh nghiệm quốc tế cho Việt Nam về việc phát triển văn hóa hành chính nhà nước 70
Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VĂN HÓA HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 73
3.1 Thực trạng phát triển văn hóa hành chính nhà nước ở cấp độ hệ thống 73
3.1.1 Thực trạng định hướng chiến lược phát triển văn hóa hành chính trong nền hành chính nhà nước 73
3.1.2 Thực trạng hiện thực hóa các giá trị văn hóa hành chính trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước 79
3.2 Thực trạng phát triển văn hóa hành chính nhà nước ở cấp độ tổ chức 91
3.2.1.Thực trạng phát triển yếu tố vật chất của văn hóa hành chính nhà nước ở cấp độ tổ chức 93
3.2.2 Thực trạng phát triển yếu tố tinh thần của văn hóa hành chính nhà nước ở cấp độ tổ chức 96
3.3 Thực trạng phát triển văn hóa hành chính nhà nước ở cấp độ cá nhân 103
3.3.1 Thực trạng phát triển yếu tô vật chất của văn hóa cá nhân 103
3.3.2 Thực trạng phát triển yếu tố tinh thần của văn hóa cá nhân 108
3.4 Đánh giá chung 119 3.4.1 Đánh giá sự tác động của thể chế đến việc phát triển văn hóa hành chính nhà nước 119
Trang 73.4.2 Đánh giá tác động của tổ chức bộ máy đến việc phát triển văn hóa hành chính nhà nước 122
3.4.3 Đánh giá tác động của yếu tố năng lực cán bộ, công chức trong việc phát triển văn hóa hành chính nhà nước 124
3.4.4 Đánh giá tác động của yếu tố vật chất trong việc phát triển văn hóa hành chính nhà nước 127
Chương 4 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN VĂN HÓA HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 130
4.1 Định hướng phát triển văn hóa hành chính nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế 130
4.1.1 Phát triển văn hóa hành chính nhà nước Việt Nam xuất phát từ quan điểm của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về văn hóa 130
4.1.2 Phát triển văn hóa hành chính nhà nước đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính và hội nhập quốc tế 131
4.2 Các giải pháp nhằm phát triển văn hóa hành chính nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế 132
4.2.1 Giải pháp phát triển văn hóa hành chính nhà nước ở cấp độ hệ thống 133
4.2.2 Giải pháp hát triển văn hóa hành chính nhà nước ở cấp độ tổ chức 143
4.2.3 Giải pháp phát triển văn hóa hành chính nhà nước ở cấp độ cá nhân 150
4.3 Mối quan hệ giữa các giải pháp 154
4.4 Khảo sát mức độ cần thiết và tính khả thi của những giải pháp phát triển văn hóa hành chính nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế 155
4.4.1 Mức độ cần thiết 155
4.4.2 Tính khả thi 156
4.5 Kiến nghị 157
4.5.1 Kiến nghị từ phía cơ quan hành chính nhà nước 157
4.5.2 Kiến nghị đối với các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ hành chính 158
4.5.3 Kiến nghị đối với cán bộ công chức 158
4.5.4 Kiến nghị đối với người dân, tổ chức, công chúng 158
KẾT LUẬN 159
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 160
TÀI LIỆU THAM KHẢO 162
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Đánh giá của người dân về các giá trị VHHCNN mong muốn hiện thực trong hoạt động HCNN 78Bảng 3.2: Đánh giá của CBCC về văn hóa truyền thống trong tổ chức 99Bảng 3.3: Đánh giá của CBCC về các phương thức chia sẻ thông tin, phối hợp công việc trong tổ chức 101Bảng 3.4: Đánh giá của CBCC về thực hiện văn hóa trang phục của CBCC tại
cơ quan HCNN 104
Trang 10DANH MỤC BIỂU
Biểu đồ 3.1: Đánh giá của người dân về mức độ minh bạch trong cung cấp thông tin của cơ quan HCNN đối với người dân 82Biểu đồ: 3.2: Đánh giá của người dân về việc đóng góp ý kiến vào dự thảo các văn bản pháp luật trước khi ban hành 83Biểu đồ: 3.3: Đánh giá niềm tin của người dân đối với CBCC, cơ quan HCNN các cấp và nền hành chính quốc gia 86Biểu đồ 3.4: Đánh giá của người dân về bài trí, môi trường làm việc 93tại các cơ quan HCNN 93Biểu đồ 3.5: Tần suất người dân sử dụng cổng thông tin điện tử của Chính phủ và các cơ quan hành chính nhà nước địa phương 95
Biểu đồ 3.6: Đánh giá của CBCC về lương cơ bản và Phụ cấp/thưởng : 96
Biểu đồ 3.7: Đánh giá của CBCC và người dân về kiến thức, kỹ năng của CBCC 106Biều đồ 3.8: Đánh đánh giá của CBCC và người dân về mức độ phù hợp trong giao tiếp giữa CBCC và người dân 109Biểu đồ 3.9: Nhận định sự khác biệt về quan niệm của CBCC ở các vùng văn hóa khác nhau về thái độ phục vụ người dân 110Biểu đồ 3.10: Ý kiến của CBCC về vị trí, bổn phận chức nghiệp của CBCC 110Biểu đồ 3.11: Đánh giá của CBCC về tinh thần, thái độ phục vụ người dân 111Biểu đồ 3.12: Ý kiến của CBCC và người dân về việc thực hiện văn hóa xin lỗi 112của CBCC đối với người dân 112Biểu đồ 3.13: Đánh giá của CBCC về văn hóa người đứng đầu cơ quan HCNN 118
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đề tài được chọn nghiên cứu xuất phát từ những lý do cơ bản sau đây:
Thứ nhất, bối cảnh thế giới và trong nước đặt ra những đòi hỏi nền hành chính nhà nước cần phải hướng đến các giá trị văn hóa hành chính nhà nước mang tính phục vụ
Bối cảnh thế giới thế kỷ XX đã có những biến đổi to lớn và sâu sắc, ảnh hưởng toàn diện và mạnh mẽ đến mọi mặt đời sống xã hội của các quốc gia, trong đó có Việt Nam, nổi bật là: Cuộc cách mạng khoa học công nghệ diễn ra ngày càng mạnh mẽ; khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tiếp tục có những bước nhảy vọt, ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, làm chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế và biến đổi sâu sắc các lĩnh vực của đời sống xã hội Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang diễn ra sâu rộng ở hầu khắp các quốc gia mang lại những cơ hội và thách thức Tri thức và sở hữu trí tuệ có vai trò ngày càng quan trọng Kinh tế tri thức phát triển mạnh, do đó con người và tri thức càng trở thành nhân tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia Bên cạnh đó, những biến động đầu thế kỷ XXI của thế giới cũng đặt ra những thách thức lớn như tình trạng di dân, chủ nghĩa “dân túy” đang lên ở một số nước Châu âu, sự cạn kiệt tài nguyên… Do đó yêu cầu đặt ra là phát triển phải gắn với sự phát triển bền vững ở mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội và con người, ổn định chính trị, bền vững về kinh tế, văn hóa…
Bối cảnh trong nước, Việt Nam đang trong giai đoạn đổi mới và thực hiện cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020; hội nhập sâu rộng với thế giới Đất nước ta đã và đang đạt được rất nhiều thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội, đời sống con người ngày càng được nâng cao, vị thế của quốc gia ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế Tuy nhiên, những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường trong xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay cũng đã dẫn đến sự suy thoái, xuống cấp về đạo đức của một bộ phận cán bộ, công chức, theo các chuyên gia hành chính đánh giá thì tình trạng xuống cấp của
hệ thống các giá trị văn hóa công sở của các cơ quan, tổ chức nhà nước hiện nay rất đáng báo động Tinh thần, trách nhiệm trong giải quyết công việc của một số cán bộ, công chức vẫn còn chưa cao, hiện tượng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm vẫn còn xảy ra; thái độ quan liêu hách dịch trong quan hệ ứng xử, giao tiếp với công dân gây ra rất nhiều bức xúc trong đời sống xã hội, điều đó đã vô hình chung làm xấu đi hình ảnh của cơ quan nhà nước cũng như gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước Tình hình đất nước và bối cảnh quốc tế nêu trên tạo cho nước ta vị thế mới với những thuận lợi và cơ hội to lớn cùng những khó khăn và thách thức gay gắt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cũng như xây dựng và phát triển nền hành chính phục vụ
Thứ hai, vai trò của văn hóa hành chính nhà nước đối với hoạt động hành chính nhà nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế: Trong xu thế hội nhập quốc tế, cùng
một lúc mỗi quốc gia sẽ đón nhận sự biến đổi sâu sắc của thời đại, hội nhập quốc tế vừa
Trang 12là cơ hội cũng vừa là thách thức của mỗi quốc gia Chính vì vậy, để có thể hội nhập quốc
tế thuận lợi, mỗi quốc gia sẽ có cách ứng xử phù hợp nhằm tạo nên sự ổn định và phát triển của quốc gia mình Bởi vậy, hoạt động quản lý của nhà nước có vai trò rất lớn trong hoạt động tổ chức đời sống xã hội Hoạt động này diễn ra cùng với sự ra đời của tổ chức nhà nước và là hoạt động đặc trưng của xã hội loài người Ở đó, không chỉ diễn ra hoạt động mang tính chất chấp hành và điều hành mà hoạt động đó còn mang tính chủ động, sáng tạo, bởi vì loài người đã tạo ra những giá trị văn hóa, trong đó có văn hóa hành chính nhà nước Cùng với bối cảnh phát triển, văn hóa hành chính nhà nước ngày càng hình thành một đặc trưng lớn, một vai trò lớn Bởi vậy, muốn thực hiện tốt hoạt hoạt động quản lý, mỗi quốc gia cần phải coi trọng đến yếu tố văn hóa hành chinh nhà nước Hơn nữa, văn hóa hành chính nhà nước là một bộ phận của văn hóa văn hóa truyền thống dân tộc, đó là một bộ phận của văn hóa cộng đồng Ở phạm vi hẹp hơn thì đó là một bộ phận quan trọng của văn hóa chính trị - quản lý, một dạng văn hóa tổ chức, là khoa học
và nghệ thuật của “phép trị” nước Xét trong phạm vi nền hành chính nhà nước, thì văn hóa hành chính nhà nước bao gồm những giá trị, chuẩn mực, niềm tin, sự trông đợi của các cán bộ, công chức Các giá trị cốt lõi của văn hóa hành chính nhà nước bao gồm các giá trị chuyên nghiệp, liêm chính, phục vụ… Tất cả các giá trị đó đều hướng tới giá trị chung của văn hóa là giá trị Chân - Thiện - Mỹ Với tư cách là một sản phẩm độc đáo của trình độ xã hội loài người, văn hóa hành chính nhà nước có sự tác động sâu rộng đến mọi mặt của đời sống xã hội và thể hiện vai trò quan trọng của mình trên rất nhiều phương diện, yếu tố khác nhau của đời sống xã hội
Thực tiễn cho thấy Việt Nam muốn hội nhập sâu rộng với thế giới cần phải thực hiện thành công cải cách hành chính, mà một trong yếu tố quan trọng để góp phần cải cách hành chính thành công phải kể đến yếu tố văn hóa hành chính nhà nước và đạo đức công vụ Văn hóa hành chính nhà nước và đạo đức công vụ đã trở thành nội dung chủ đạo trong các tiêu chí của nền công vụ Theo tác giả Đào Trí Úc: “Trong chương trình cải cách công vụ của Canada mười năm trước đây người ta thấy chỉ có 10% sự thay đổi
về thể chế và pháp luật, 20% giành cho sự thay đổi về cơ cấu và chức năng, thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước, trong khi đó có tới 70% là những yêu cầu và giải pháp cải cách liên quan đến văn hóa trong quan hệ với dân chúng và trong công sở, các quy tắc của đạo đức công vụ và công chức”[61; tr22] Hoạt động cải cách hành chính đã
và đang thu được nhiều thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao, đất nước ta ngày càng khẳng định được vị thế trên trường quốc tế Trình độ dân trí của người dân ngày một được nâng cao, người dân đòi hỏi các cơ quan hành chính nhà nước phục vụ ngày một tốt hơn, đưa ra được những dịch vụ hành chính công đáp ứng được yêu cầu của công dân, tổ chức Tuy nhiên, bên cạnh đó, theo đánh giá của một số nhà nghiên cứu cũng như qua một số báo cáo tổng kết về hiệu quả hành chính cho thấy, hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước còn bộ lộ nhiều hạn chế, tình trạng suy thoái về đạo đức của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức hiện nay đang là vấn đề báo động Tình trạng tham nhũng cũng như các biểu hiện tiêu cực khác của một bộ phận cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính nhà nước đang gây bức xúc trong dư luận… Những hạn chế đó đã gây ảnh hưởng đến hình ảnh hưởng đến uy tín, hình ảnh của nền hành chính quốc gia cũng như hiệu lực, hiệu quả hoạt động
Trang 13hành chính nhà nước Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam đang trên đà hội nhập sâu với thế giới về mọi mặt của đời sống chính trị - kinh tế - xã hội, hơn bao giờ hết, văn hóa nói chung và văn hóa hành chính nhà nước nói riêng là yếu tố nội sinh quan trọng góp phần giúp Việt Nam thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiêp hóa, hiện đại hóa; mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền của dân do dân và vì dân; và mục tiêu chung của đất nước “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh” và ngày càng khẳng định
vị thế của mình trên trường quốc tế
Thứ ba, xuất phát từ góc độ khoa học hành chính: văn hóa hành chính nhà nước
là một lĩnh vực nghiên cứu khá mới mẻ tại Việt Nam nói chung và trong khoa học hành chính nói riêng Trong thực tế hoạt động hành chính nhà nước, văn hóa hành chính nhà nước có vai trò quan trọng đối với nhà lãnh đạo, và cán bộ, công chức - người thực thi công vụ hàng ngày tiếp xúc với tổ chức, công dân Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, các yêu cầu đặt ra với nền hành chính các quốc gia cần phải hướng tính phục vụ
có nghĩa là cần phải thay đổi các giá trị văn hóa của nền hành chính cho phù hợp với yêu cầu của bối cảnh lịch sử cụ thể Chính điều đó đã gợi ý cho tác giả lựa chọn lĩnh vực văn hóa hành chính nhà nước làm đối tượng nghiên cứu Đồng thời cho đến nay, các nội dung văn hóa hành chính nhà nước tuy đã được các nhà nghiên cứu trong nước và thế giới quan tâm nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau nhưng vấn đề về phát triển văn hóa hành chính nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế chưa được nghiên cứu Hơn nữa đối tượng nghiên cứu của luận án cũng thuộc nội dung nghiên cứu của môn học văn hóa hành chính - một môn học mới mà Khoa Văn bản và Công nghệ Hành chính được Học viện Hành chính Quốc gia giao đảm nhiệm trong chương trình Cử nhân, Cao học và Chuyên viên chính… Đây là điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình nghiên cứu lý luận cũng như thu thập tài liệu, số liệu thực tế Mặt khác, hoàn thành tốt đề tài này cũng là điều kiện vô cùng quan trọng cho tác giả bồi dưỡng, củng cố kiến thức
chuyên môn, phục vụ tốt cho công tác giảng dạy
Xuất phát từ tính cấp thiết cũng như sự phù hợp của đề tài, lĩnh vực nghiên cứu
nói trên, tác giả mạnh dạn đề ra ý tưởng nghiên cứu về “Phát triển văn hóa hành chính nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế” Trên cơ sở nghiên cứu lý luận,
đánh giá thực trạng để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển văn hóa hành chính nhà nước góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu của người dân, tổ chức
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển văn hóa hành chính nhà nước, tác giả đề xuất một số kiến nghị và giải pháp nhằm phát triển văn hóa hành chính nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
- Hình thành một khung lý thuyết về phát triển văn hóa hành chính nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chỉ ra đặc trưng của phát triển văn hóa
Trang 14hành chính; bối cảnh hội nhập quốc tế và các yêu cầu phát triển văn hóa hành chính nhà nước
- Đánh giá đúng thực trạng phát triển văn hóa hành chính nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế trên cơ sở thu thập số liệu, nghiên cứu tài liệu và sử dụng các phương pháp chuyên ngành khác
- Chỉ rõ các yếu tố nào tác động tới thực trạng trên và chỉ rõ mức độ tác động để tìm nguyên nhân của những bất cập hạn chế về phát triển văn hóa hành chính nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
- Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển văn hóa hành chính nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý và điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là văn hóa hành chính nhà nước Việt Nam (thuộc hệ thống cơ quan Hành pháp) trong bối cảnh hội nhập quốc tế
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Luận án chỉ nghiên cứu văn hóa hành chính nhà nước
(thuộc cơ quan Hành pháp), không nghiên cứu văn hóa hành chính “trong khu vực tư” Tuy nhiên, văn hóa hành chính nhà nước là một lĩnh vực nghiên cứu tương đối rộng, bao gồm nhiều yếu tố cấu thành Do đó, trong luận án này, phạm vi nội dung của
đề tài chỉ tập trung vào những yếu tố cấu trúc của văn hóa hành chính nhà nước (theo 3 cấp độ cá nhân, tổ chức, hệ thống) có mối liên hệ tác động qua lại với bối cảnh hội nhập quốc tế Bao gồm:
+ Nội dung của văn hóa hành chính nhà nước ở cấp độ cá nhân, bao gồm: Yếu tố vật chất của văn hóa cá nhân CBBC (trang phục, kiến thức kỹ năng, phong cách làm việc của cán bộ, công chức); Yếu tố văn hóa tinh thần của văn hóa cá nhân cán bộ, công chức (văn hóa ứng xử, giao tiếp, văn hóa phát ngôn công vụ và cung cấp cho báo chí, văn hóa chịu trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp, cách thức xây dựng niềm tin)
+ Nội dung của văn hóa hành chính nhà nước ở cấp độ tổ chức, bao gồm: Yếu tố vật chất trong công sở (trụ sở, trang thiết bị làm việc, bài trí công sở, ứng dụng công nghệ thông tin, phương thức lề lối làm việc, những giá trị vật chất mong đợi của các thành viên trong tổ chức - công sở); Yếu tố tinh thần trong công sở (những giá trị mong đợi, niềm tin và truyền thống trong tổ chức, hoạt động tổ chức hiện thực các giá trị văn hóa hành chính nhà nước trong tổ chức, cơ chế phối hợp và hoạt động thông tin nội bộ trong tổ chức, phong cách lãnh đạo - quản lý)
+ Nội dung của văn hóa hành chính nhà nước ở cấp độ hệ thống, bao gồm: Định hướng chiến lược phát triển văn hóa hành chính quốc gia (tầm nhìn, sứ mệnh, các mục tiêu chính của nền hành chính nhà nước, xác lập các giá trị văn hóa hành chính nhà nước); Phương thức hiện thực hóa các chuẩn mực giá trị văn hóa hành chính trong hoạt động hành chính nhà nước
Trang 15- Phạm vi về thời gian: Luận án tiến hành nghiên cứu phát triển văn hóa hành
chính nhà nước Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến nay, từ khi Thủ tướng Chính phủ ban bành Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước (ban hành kèm theo QĐ số129/QĐ -TTg ngày 02/08/2007) Đây cũng là khoảng thời gian Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, được đánh dấu bằng việc gia nhập các tổ chức mang tính chất khu vực và quốc tế (ASEAN, WTO…)
- Phạm vi về không gian: Đề tài dự định tiến hành nghiên cứu tại các cơ quan
hành chính nhà nước ở cả Trung ương và địa phương, cụ thể là tiến hành điều tra, khảo sát, thu thập số liệu tại: Bộ văn hóa Thể thao và Du lịch; Bộ Tài Nguyên và Môi trường;
Bộ Nội vụ; Từ hai đến ba cơ quan quản lý hành chính ở Trung ương (TP Hà Nội); Từ hai đến ba cơ quan quản lý hành chính ở địa phương (TP Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh), một số tỉnh miền núi phía Bắc (tỉnh Lào Cai)
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Để phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận án áp dụng các phương pháp luận: phương pháp duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh, các khoa học liên ngành liên quan đến phát triển văn hóa hành chính nhà nước như văn hóa học, chính trị học, hành chính học, mỹ học, lịch sử, xã hội học, triết học…
4.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
4.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu sẵn có (Deskreview)
Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở các tài liệu có sẵn, tác giả luận án tiến hành so sánh, đối chiếu, phân tích, đánh giá, tổng hợp… qua đó giải quyết các vấn
đề đặt ra của luận án Các nguồn tài liệu được sử dụng nghiên cứu luận án được chia thành hai nhóm cơ bản: Các văn bản pháp lý liên quan đến vấn đề nghiên cứu (Văn bản quy phạm pháp luật, các chiến lược, Chương trình tổng thể…); Các báo cáo, số liệu thống kê liên quan đến vấn đề nghiên cứu của các cơ quan, tổ chức, cá nhân[108; tr48] Mục đích của phương pháp này là nhằm kế thừa lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn về lĩnh vực nghiên cứu của đề tài Cụ thể là các lý luận về hành chính nhà nước, văn hóa, văn hóa hành chính nhà nước, xã hội học (vốn xã hội, lý thuyết về biến đổi xã hội); kế thừa có chọn lọc các tài liệu liên quan, đặc biệt là tư liệu của những quốc gia
có kinh nghiệm trong xây dựng và phát triển văn hóa hành chính hiệu quả (áp dụng trong chương 2 về xây dựng khung lý thuyết về phát triển văn hóa hành chính nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế) Kế thừa các số liệu, các báo cáo, các đánh giá thực trạng phát triển văn hóa hành chính nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế (áp dụng trong chương 3, đánh giá thực trạng)…
4.2.2 Phương pháp khảo sát, điều tra (Survey)
Phương pháp này được tiến hành thông qua việc tổ chức những chuyến đi khảo sát thực địa, điều tra xã hội học đối với các cơ quan hành chính nhà nước và người dân nằm trong đối tượng khảo sát của luận án, lấy thông tin qua bảng câu hỏi, phỏng vấn đối với các chuyên gia liên quan đến luận án, tổng hợp và đánh giá thông tin Trên cơ sở khung
Trang 16lý thuyết về phát triển văn hóa hành chính nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, tác giả luận án đã xây dựng phiếu điều tra bằng bảng hỏi, tiến hành phỏng vấn thử 30 cán bộ, công chức trong các cơ quan hanh chính nhà nước và người dân, điều chỉnh bảng hỏi cho phù hợp, xây dựng phiếu điều tra trước khi tiến hành điều tra chính thức tại các Bộ, Tỉnh, Thành phố với số lượng phiếu là 1200 phiếu chia đều cho các đối
tượng khảo sát, điều tra
- Bảng hỏi gồm 41 câu (dành cho cán bộ, công chức), 31 câu (dành cho người dân), câu hỏi được thiết kế theo câu hỏi đánh giá nhận thức, vai trò và sắp xếp thứ bậc phù hợp các nội dung khảo sát, điều tra về thực trạng phát triển văn hóa hành chính nhà nước Địa bàn khảo sát, điều tra: tại 4 tỉnh, thành phố: TP Lào Cai, TP Hà Nội, TP Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh Thời gian khảo sát được tiến hành từ tháng 3 đến tháng 9 năm
2016
- Phương pháp chọn mẫu khảo sát, điều tra được sử dụng trong luận án phương pháp chọn mẫu phân tầng, theo khu vực kết hợp với ngẫu nhiên đơn giản[107; 163-164] Khảo sát, điều tra theo phương pháp phân tầng với đối tượng khảo sát là cán bộ, công chức được phân tầng theo cấp Trung ương và cấp địa phương (tỉnh, huyện, thị trấn, xã - phường) Việc lựa chọn các địa phương để tiến hành khảo sát, điều tra mang tính đại diện cho từng khu vực và từng miền của đất nước: Khu vực Đồng bằng Sông Hồng (Hà Nội), Tây Bắc (Lào Cai), Miền Trung (Đà Nẵng), Nam Bộ (TP Hồ Chí Minh) dành cho đối tượng khảo sát, điều tra là người dân
- Phương pháp xử lý số liệu: Phần mềm thống kê dành cho Khoa học xã hội và nhân văn SPSS (Statistical Product and Services Solutions) phiên bản 20.0 Các kết quả khảo sát, điều tra bằng bảng hỏi đã được sử dụng làm căn cứ để phân tích, đánh giá thực trạng phát triển văn hóa hành chính nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
4.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
- Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu phỏng vấn sâu đối với các đối tượng là cán bộ, công chức quản lý và thực thi trong các cơ quan hành chính nhà nước; Người
dân; Các nhà khoa học, các chuyên gia về văn hóa và văn hóa hành chính nhà nước
- Phương pháp chọn mẫu phỏng vấn sâu được sử dụng trong luận án chủ yếu là phương pháp phỏng vấn theo chủ đích các nội dung liên quan tiếp đến các vấn đề luận
án cần giải quyết (phỏng vấn người dân và các nhà khoa học, các chuyên gia về văn hóa và văn hóa hành chính)
- Cỡ mẫu phỏng vấn: Tổng số mẫu phỏng vấn sâu sẽ thực hiện trong luận án là
32 mẫu (người)
- Theo từng chủ đề được xây dựng trong quá trình thiết kế nghiên cứu và phỏng vấn tại thực địa Sau đó, các thông tin thu được từ các cuộc phỏng vấn sâu được mã hóa và phân tích Bên cạnh đó, tác giả luận án sử dụng thêm một số bài phỏng vấn cửa cá chuyên gia khác được đăng tải trên các phương tiện truyền thông đại chúng nhằm làm sâu sắc và thuyết phục hơn cho các luận cứ, luận chứng đưa
ra trong luận án
Trang 175 Giả thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu
5.1 Giả thuyết nghiên cứu
Phát triển văn hóa hành chính nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
sẽ góp phần nâng cao hiệu quả điều hành của nhà lãnh đạo và văn hóa của cán bộ, công chức trong phục vụ công dân một cách chuyên nghiệp, năng động, hiện đại và vì dân; động lực thúc đẩy thắng lợi công cuộc cải cách hành chính công; nâng cao uy tín nền hành chính Việt Nam trên trường quốc tế; đáp ứng xu thế Việt Nam đang hội nhập sâu rộng với các nước trên thế giới; giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong bối cảnh hiện nay
- Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu giả thuyết (trả lời cho câu hỏi tại sao):
Để chứng minh giả thuyết này, tác giả dựa trên cơ sở lý luận về hành chính nhà nước, văn hóa, văn hóa hành chính nhà nước và phát triển văn hóa hành chính nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, lý thuyết liên ngành với những nội dung cơ bản tại
chương 2 Từ sự phân tích cơ sở lý luận trên thấy được văn hóa hành chính nhà nước có
vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động điều hành của cơ quan hành chính nhà nước Vì vậy phát triển văn hóa hành chính nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế một mặt nhằm định hướng cho cán bộ, công chức thực thi công vụ theo chuẩn mực hành chính, mặt khác văn hóa hành chính nhà nước góp phần điều chỉnh hành vi của cán bộ, công chức trong thực thi công vụ theo chuẩn mực hành chính (thông qua việc thể chế hóa giá trị văn hóa hành chính thành các quy định cụ thể và việc tổ chức thực hiện các quy định này bằng các phương thức hiện thực các giá trị văn hóa hành chính nhà nước trong hoạt động hành chính nhà nước), qua đó góp phần nâng cao hoạt động hành chính nhà nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế Do đó, phát triển văn hóa
hành chính nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong nền hành chính hiện đại
- Tác động của giả thuyết (trả lời cho câu hỏi như thế nào): Giả thuyết đưa ra là
đúng sẽ dẫn đến sự tác động đến những đối tượng, yếu tố của nền hành chính và văn hóa hành chính nhà nước, và được phân tích cụ thể tại chương 3 của luận án, bao gồm: Khảo sát thực trạng phát triển văn hóa hành chính Việt Nam ở các cấp độ: cá nhân, tổ chức, hệ thống; Nguyên nhân và các yếu tố tác động đến thực trạng phát triển văn hóa hành chính nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế (Dựa vào phiếu khảo sát); Bài học kinh nghiệm thực tiễn của một số quốc gia trong phát văn hóa hành chính nhà nước (Nhật, Hàn Quốc, Singgarpo, Trung Quốc, Mỹ) Giải pháp của giả thuyết: Khi giả thuyết được chứng minh là đúng, luận án sẽ đề xuất giải pháp để giả thuyết đó xảy ra, cụ thể là những giải pháp nhằm góp phần phát triển văn hóa hành chính nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế Nội dung này sẽ được giải quyết trong chuơng 3 của luận án
5.2 Câu hỏi nghiên cứu
Để chứng minh cho giả thuyết khoa học nói trên, luận án cần tập trung làm rõ và trả lời hệ thống câu hỏi nghiên cứu, cụ thể như sau:
Câu hỏi 1: Cơ sở lý thuyết của phát triển văn hóa hành chính nhà nước là gì?
Trả lời câu hỏi này nhằm làm rõ bản chất và nền tảng lý thuyết của phát triển văn hóa
hành chính nhà nước
Trang 18Câu hỏi 2: Phát triển văn hóa hành chính nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế là gì? Những yêu cầu đặt ra trong việc phát triển văn hóa hành chính?
Luận án cần làm rõ khái niệm phát triển văn hóa hành chính nhà nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chỉ rõ yêu cầu phát triển văn hóa hành chính nhà nước trong hoạt
đó là cơ sở để đề xuất giải pháp phát triển văn hóa hành chính nhà nước ở Việt Nam
Câu hỏi 4: Thực trạng phát triển văn hóa hành chính nhà nước hiện nay ở Việt Nam được thể hiện như thế nào trong hoạt động hành chính nhà nước? Các yếu
tố nào tác động đến quá trình phát triển văn hóa hành chính nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế? Việc tìm hiểu thực trạng phát triển văn hóa hành
chính nhà nước ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế sẽ góp phần chỉ ra thực
tế về việc phát triển văn hóa hành chính nhà nước, chỉ ra những biểu hiện tích cực và những hạn chế cần khắc phục; chỉ ra các yếu tố tác động đến quá trình phát triển văn
hóa hành chính nhà nước
Câu hỏi 5: Cần có những giải pháp nào để phát triển văn hóa hành chính nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế? Việc đề xuất các giải pháp phát triển
văn hóa hành chính nhà nước ở Việt Nam cần căn cứ vào định hướng phát triển nền
hành, cơ sở lý luận và thực tiễn đặt ra và đảm bảo tính khả thi của các giải pháp
5.3 Hướng tiếp cận
Phát triển văn hóa hành chính nhà nước trong bối cảnh hội nhâp quốc tế là một
đề tài tương đối rộng, việc nghiên cứu đề tài này có thể mở ra nhiều hướng tiếp cận khác nhau, tuy nhiên, trong khuôn khổ luận án này, tác giả luận án lựa chọn hướng tiếp cận từ góc độ quản lý nhà nước, cụ thể là từ đặc điểm hoạt động của cơ quan Hành pháp Từ hướng tiếp cận này, luận án xây dựng khung lý thuyết về phát triển văn hóa hành chính nhà nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế là dựa vào các lý thuyết về hành chính nhà nước, văn hóa học, xã hội học (vốn xã hội), văn hóa hành chính nhà nước, lý thuyết về phát triển Lý thuyết về phát triển có nội hàm biểu hiện rất phong phú, phát triển là tăng trưởng (số lượng, tăng trưởng kinh tế), phát triển bao gồm sự thay đổi về lượng và chất, phát triển gắn với sự biến đổi về lượng và chất trên khắp các bình diện
xã hội (biến đổi xã hội) Do đó, tác giả luận án sử dụng khía cạnh nội hàm của lý
thuyết biến đổi xã hội với nghĩa phát triển là quá trình biến đổi các giá trị, theo đó, sự biến đổi này diễn ra theo chiều hướng tích cực và tiêu cực Phát triển với ý nghĩa như
vậy được tác giả luận án sử dụng làm căn cứ lý luận để định hình khung lý thuyết về phát triển văn hóa hành chính nhà nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế Trên cơ sở khung lý thuyết phát triển văn hóa hành chính nhà nước là quá trình biến đổi các giá trị, tác giả luận án khảo sát thực trạng phát triển văn hóa hành chính trên ba cấp độ cấu trúc của văn hóa hành chính nhà nước (văn hóa hành chính nhà nước ở cấp độ cá nhân, văn hóa hành chính nhà nước ở cấp độ tổ chức - công sở, văn hóa hành chính nhà nước
Trang 19ở cấp độ hệ thống), qua đó chỉ ra những điểm tích cực, hạn chế trong phát triển văn hóa hành chính nhà nước, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm xác lập các giá trị biến đổi tích cực, hạn chế những giá trị biến đổi tiêu cực trong hoạt động hành chính nhà nước Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, người dân
6 Đóng góp mới của đề tài
6.1 Đóng góp về mặt lý luận
Trên cơ sở tổng kết các nghiên cứu của các tác giả trước đây, tác giả luận án đóng góp một số nội dung mới về văn hóa hành chính nhà nước: Đề xuất khái niệm mới về văn hóa hành chính nhà nước, khái niệm phát triển văn hóa hành chính nhà nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Đề tài đã xây dựng khung lý thuyết về phát triển văn hóa hành chính nhà nước, trong đó chỉ rõ bản chất của phát triển văn hóa hành chính nhà nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế là một quá trình biến đổi các giá trị văn hóa hành chính nhà nước trong hoạt động hành chính nhà nước
Làm rõ đặc trưng phát triển văn hóa hành chính nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế; yêu cầu phát triển văn hóa hành chính nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế; Chỉ rõ các yếu tố tác động đến quá trình phát triển văn hóa hành chính nhà nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế
7 Cấu trúc của Luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phục lục, Luận án gồm 4 chương
- Chương 1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài luận án
- Chương 2 Cơ sở lý luận về phát triển văn hóa hành chính nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
- Chương 3 Thực trạng phát triển văn hóa hành chính nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
- Chương 4 Giải pháp phát triển văn hóa hành chính nhà nước Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Trang 20Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 Các công trình nghiên cứu văn hóa hành chính nhà nước ở cấp độ hệ thống
1.1.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới
Một là, các công trình nghiên cứu về bản chất, cấu trúc, giá trị văn hóa hành chính nhà nước(VHHCNN), tiêu biểu có một số công trình nghiên cứu như sau:
Cuốn giáo trình “Культура административной деятельности// Внутренний предиктор СССР, Санкт-Петербург 2004г”(Văn hóa trong hành chính - Tủ sách các vấn đề quản lý trong tổ chức của Liên Xô - Tái bản năm 2004, tại Sankt-Peterburg) Cuốn sách gồm 295 trang, tại mục 2.4 Trang 184 - 213 có nêu: “Tổng thể các chức năng của văn hóa từ cấp độ cá nhân đến tổ chức và hệ thống (bộ máy)” Theo lời tựa của cuốn sách thì đây là “một xuất bản phẩm rất đáng tự hào của nền văn hóa Nga” Đây là công trình nghiên cứu xem xét các giá trị VHHCNN được biểu hiện trên các cấp độ hệ thống, tổ chức, cá nhân, với nghĩa nền hành chính nhà nước (HCNN) Đây sẽ là một trong căn cứ quan trọng để tác giả Luận án sử dụng làm căn cứ khoa học nghiên cứu phát triển VHHCNN Việt
Nam trên ba cấp độ cấu trúc của VHHCNN (Xem Phụ lục XIII)
Năm 2012, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực hành chính đã xuất bản cuốn
“Деловое общение “(Giao tiếp côn vụ) Е Н Зарецкая Глава 1, 2, 3, 4, 9 изд
“Дело”, Москва 2012 Trong cuốn sách này, các chương 1, 2, 3, 4, 9 có bàn đến các nội dung về văn hóa giao tiếp Cụ thể là các nội dung về mối quan hệ ứng xử của con người trong hoạt động công vụ và đây được xem là những phương thức quan trọng để hiện thực các giá trị, truyền tải các thông điệp của cơ quan công quyền đến người
dân”(Xem Phụ lục XIII)
Bài viết “The Culture of Distruct in Latin American public Administration” (Văn hóa trong quản lý công ở các nước Mỹ Latinh) của Nef J (2005) Trong nghiên này, tác giả đã chỉ ra rằng VHHCNN bao gồm cả khu vực công, cơ quan trung ương, các đơn vị trong hệ thống, cả khu vự tư nhân, do đó hệ thống các giá trị của VHHCNN được phản ánh mối liên hệ tương tác giữa các cơ quan hành chính với bối cảnh lịch sử, chính trị, xã hội, với người dân…;
Công trình nghiên cứu “Public Administration: Government in Action, Merrill, Columbus, Ohio” của Theo Richardson & Baldwin (1976) đã chỉ ra “VHHCNN là sự kết hợp của niềm tin, thái độ, giá trị, và các hệ thống có ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ quan chính phủ”[161; 26]…Các tác giả chỉ ra mối liên hệ của yếu tố cấu trúc VHHCNN trong hoạt động của cơ quan Hành pháp - Chính phủ; hệ thống niềm tin và
hệ thống tư tưởng thể chế, cùng với một đánh giá của những huyền thoại, biểu tượng ;
hệ thống các giá trị của VHHCNN được phản ánh mối liên hệ tương tác giữa các cơ
Trang 21quan hành chính với bối cảnh lịch sử, chính trị, xã hội, với người dân… Anechiarico giải thích nó như là một mô hình lây lan của niềm tin, giátrị và hành vi trong một tổ chức dịch vụ công việc liên quan đến vai trò của tổ chức và mối quan hệ với công chúng Một số công trình khác nghiên cứu VHHCNN gắn với trách nhiệm giải trình, tiêu biểu, bài báo “Accountability, Indian Administrative Culture and Trust” (Trách nhiệm giải trình và kỳ vọng trong VHHCNN Ấn Độ) của Joshi, P, Administration: Challenges of Inequality and Exclusion, Miami, 14-18 September 2003 Bài báo tập trung vào các vấn đề như trách nhiệm giải trình của Chính phủ, niềm tin đặc biệt trong VHHCNN Ấn Độ Khi bộ máy hành chính công mở rộng và trở nên phức tạp hơn, nhu cầu về quản lý và sự chịu trách nhiệm là cần thiết quan trọng Các học giả xem nó như
là các vấn đề kinh điển của nền hành chính công
Hai là, các công trình nghiên cứu về vai trò VHHCNN: Trong đó có một số
công trình được các tác giả chú trọng phân tích vai trò của VHHCNN đối với hoạt
động quản lý nói chung và quản lý công nói riêng Tiêu biểu là cuốn: “Reconstructing
South African Administrative Culture của Luvuno, L.L (2005) Trong cuốn này, tác giả phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xây dựng và phát triển văn hóa
Nam Phi đồng thời tác giả đã nêu quan điểm về VHHCNN Bài viết: “Public
Managerment as a Cultural phenomeon Revitalizing societal Culture in international public managenment research” của Kuno Schedler and Isabella Proeller (2007) đã chỉ
ra rằng văn hóa nói chung và VHHCNN nói riêng có vai trò quan trọng đối với quản lý công Tương tự, bài viết: “Towards a Common European Administrative Culture?” của J.H.H Weiler đã chỉ ra vai trò quan trọng của VHHCNN đối với công chức, là công cụ quan trọng để góp phần phát triển VHHCNN chung khu vực châu Âu Một số công trình nghiên cứu VHHCNN trong mối quan hệ với văn hóa truyền thống, tiêu biểu, cuốn “Adminnistrative Culture in a Bangladesh” của Ishtiaq Jamil (năm 2007 Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã chỉ ra rằng, văn hóa hành chính - một phương diện của sự hiểu biết về các nền HCNN; sự quản lý hiệu quả, những căng thẳng giữa truyền thống và hiện đại trong nền hành chính ở Bangladesh… Hoặc nghiên cứu vai trò VHHC trong một cơ quan cụ thể “Administrative Culture in the European: the case of Commission Competition and environment” (VHHC trong Ủy ban Châu Âu: các trường hợp cạnh tranh và môi trường) - 1995 của Michele Cine - (Anh) và Cerat (Mỹ) - Hiệp hội nghiên cứu cộng đồng Châu Âu - vai trò quan trọng của VHHCNN trong hoạt động hành chính (trong các tổ chức, trong Ủy ban châu Âu) Cụ thể là bài viết đã đưa
ra cách thức tiếp cận nội hàm khái niệm VHHCNN, từ đó chỉ ra vai trò quan trọng của VHHCNN đối với Ủy ban châu Âu… Các công trình nghiên cứu này đã chỉ ra vai trò VHHC cũng như kỹ thuật để phát triển VHHCNN, do đó, các công trình nghiên cứu này gợi ý cho tác giả về những căn cứ lý luận trong quá trình thực hiện đề tài luận án
Thứ ba, các công trình khoa học nghiên cứu VHHCNN gắn với bối cảnh HNQT
và toàn cầu hóa, tiêu biểu: cuốn “Adminnistrative Culture in a Global Context”) của
Joseph G Jabbra (Mỹ) Cuốn sách này tập hợp các bài viết của nhiều tác giả cung cấp một cái nhìn tổng quan về những thách thức hành chính phải đối mặt ở các quốc gia
Trang 22khác nhau, trong đó có các yếu VHHCNN Quá trình toàn cầu hóa sẽ thu hẹp sự khác biệt trong các hoạt động của tất cả hệ thống hành chính, thực tế được thay đổi để phù hợp với xu thế hội nhập thế giới, WTO và áp lực từ phía chính phủ của các tập đoàn đa quốc gia Tác giả cuốn sách này cho rằng, thế kỷ XXI có thể sẽ tạo ra một cách hiểu phổ biến về VHHCNN: vấn đề quản lý công, các giá trị phương Tây được thiết lập ở khắp mọi nơi; toàn cầu hóa không chỉ là sự thách thức đối với các nước phương Tây
mà còn đối với các quốc gia khác: giữ gìn văn hóa truyền thống, hướng tới sự công bằng; tính trách nhiệm và minh bạch trong quản trị Sự hiểu biết về VHHCNN sẽ là cần thiết để đáp ứng những thách thức này Do đó, cuốn sách này là một bước quan trọng đầu tiên giúp các học giả, các nhà hoạch định chính sách hiểu về VHHCNN Đây cũng
là nguồn tài liệu quan trọng để tác giả tham khảo trong quá trình thực hiện đề tài luận
án Cũng bàn về VHHCNN trong bối cảnh toàn cầu hóa, ở Nga, năm 2003 cũng đã
xuất hiện cuốn “Глобализация: сущность, проблемы, перспективы”(Toàn cầu
hóa: bản chất các vấn đề và tương lai), cuốn sách này được tái bản năm 2014 Đây là cuốn giáo trình của trường Tổng hợp Nhân Văn quốc gia Liên bang Nga Tác giả của cuốn sách đã chỉ ra các khía cạnh của văn hóa trong thời kỳ hội nhập như văn hóa dân tộc: lòng tự trọng, lòng yêu nước, lòng tự tôn dân tộc, văn hóa vùng nhìn từ góc độ văn hóa…; văn hóa quốc tế ảnh hưởng đến hoạt động công vụ Đồng thời cuốn giáo trình này cũng tiếp cận vấn đề dựa trên nền văn hóa Slavo và những đặc trưng của nước Nga, dựa trên góc tiếp cận những thách thức của hội nhập, toàn cầu hóa và chỉ định hướng đối tượng đích là các quốc gia EU, Mỹ và khối liên minh NATO - hiệp ước Bắc Đại Tây Dương Cũng trong quá trình HNQT, đặc biệt là hội nhập về kinh tế, Joachim Beck, tác giả của cuốn “The European Dimension of Administrative Culture” (Kích
thước VHHC châu Âu) đã chỉ ra sự tác động của bối cảnh hội nhập đối với VHHCNN
Châu Âu (Xem Phụ lục XIII)
Bên cạnh đó, một số công trình nghiên cứu cũng khẳng định rằng muốn hiểu đúng về một tổ chức cần phải gắn với bối cảnh xã hội và văn hóa rộng lớn của nó, cụ thể là xem xét vai trò quan trọng của văn hóa trong quản lý Chính vì vậy, nhà nghiên cứu chỉ ra rằng, hiểu biết về giá trị của VHHCNN sẽ giúp cho hoạt động công vụ hiệu quả hơn: mô hình về thái độ, niềm tin, vai trò của VHHCNN, tiêu biểu cuốn: “Womens Participation in South Asian Civil Service” (Sự tham gia của phụ nữ vào công vụ ở khu vực Nam Á) của Kabir, S L (2013) Đây là nguồn lý luận về VHHCNN gắn với bối cảnh cụ thể, nguồn tài liệu này sẽ giúp tác giả luận án tham khảo trong quá trình thực hiện đề tài luận án
Thứ tư, các công trình nghiên cứu so sánh VHHCNN ở các quốc gia, tiêu biểu:
Bài báo: “Administrative Culture and Civil Society: A Comparative Perspective”của Anechiarico, Frank, 1998 (Hà Lan) nghiên cứu về mục tiêu, chức năng quản lý nhà nước Ở đây Anechiarico đã nghiên cứu sự khác biệt trong chính sách chống tham nhũng ở Hà Lan và Hoa Kỳ, và sau đó là sự khác nhau về giá trị xã hội, các hiện tượng
xã hội dân sự đa dạng, quan trọng nhất là một mức độ cao hơn cam kết dân sự của công dân Hà Lan so với các đối tác Hoa Kỳ của họ Điều này dẫn đến sự khác biệt đáng kể
Trang 23trong VHHCNN và các chính sách giải quyết vấn đề, mặc dù cả hai chính quyền dựa trên các cấu trúc và quy trình quản trị tương đồng Hay công trình “Comparing Administrative Culture: United States and the European Union của Henderson, K M
(2005), các tác giả cho rằng VHHCNN như là một căn cứ (cấu trúc) để giải thích thích
để hiểu sự khác biệt và tương đồng giữa hai nhóm của các đối tác, các quan chức liên
bang và các đối tác trong EU Bên cạnh đó, bài viết: “Adminnistrative Culture A
Comparative Analysis between Bangladesh and USA” Helal Uddin Muhammad Al Helal - BSS (Hons) MSS Dept of Public Administration University of Dhaka June 5,
2014, các tác giả Jamil, Ishtiaq, Steinar Askvik and Farhad Hossain đã khám phá những thay đổi của hệ thống hành chính giữa Bangladesh và United States of America (Mỹ) dưới góc độ của những tác động của văn hóa Qua đó, tác giả đã phân tích những
lý do đằng sau các biến đổi và cũng để thảo luận về sự khác biệt trong hình thức hành
chính, thủ tục, quy tắc và thực tiễn giữa hai nước
Thứ năm, các công trình nghiên cứu gắn với phương pháp, cách thức tiếp cận VHHCNN, tiêu biểu: Bài viết “Administrative Culture and Values: Approaches” - O
P Dwivedi, chương 1, trang 19 trong cuốn “Administrative culture in a global
context”, Jabbra, Joseph G, Dwivedi, O P Trong bài viết này, tác giả O P Dwivedi đã
tập chung nghiên cứu những hiểu biết chung nhất về VHHCNN và đưa ra những phương pháp tiếp cận có thể dùng để nghiên cứu và so sánh sự khác biệt giữa các nền VHHC Phương pháp nghiên cứu VHHCNN của một quốc gia theo O P Dwivedi gồm
3 phương pháp chính:1) nghĩa vụ và đạo đức hành chính của cán bộ công chức, 2) phương pháp tiếp cận mục đích, 3) phương pháp tiếp cận tâm linh Cả ba phương pháp tiếp cận này dựa trên một giá trị chung như: quyền tự do căn bản, hiệu quả, trách
nhiệm, công bằng… những giá trị này được coi giá trị cốt lõi của bất kỳ quốc gia nào
Nghiên cứu này cũng giúp cho tác giả luận án có thêm định hướng về phương pháp nghiên cứu VHHCNN Việt Nam trong bối cảnh HNQT
1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam hiện nay, nghiên cứu các nội dung về VHHCNN còn khá mới mẻ
Và tiếp cận phương pháp nghiên cứu VHHCNN (cơ quan Hành pháp) ở ba cấp độ cấu trúc: VHHCNN ở cấp độ hệ thống, VHHCNN ở cấp độ tổ chức (công sở) và VHHCNN ở cấp độ cá nhân thì các công trình hiện nay mới chỉ dừng lại nghiên cứu ở phạm vi một yếu tố cấu trúc nào đó của VHHCNN mà chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu về vấn đề này một cách tổng thể
Trước hết, VHHCNN ở cấp độ hệ thống người đọc Việt Nam được biết đến công trình đầu tiên cho tới thời điển hiện nay là “Tập bài giảng VHHC” (Dành cho đào tạo cử nhân Hành chính) của Khoa Văn bản &CNHC do tác giả Lưu Kiếm Thanh (chủ biên) năm 2010[96] Ở công trình này, các tác giả đã khái quát những nét cơ bản VHHCNN, so sánh VHHCNN với VHHC của các cơ quan Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp và đơn vị kinh doanh; bước đầu có sự phân tích một cách các yếu tố cấu thành của VHHCNN (Hành pháp), chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển VHHCNN; đồng thời các tác giả cũng nhấn VHHCNN là một yếu tố quan trọng
Trang 24góp phần nâng cao hiệu quả điều hành Nhìn chung, tập bài giảng đã khái quát một số nét cơ bản đầu tiên về VHHCNN Tuy nhiên trên thực tế, VHHCNN còn bao gồm rất nhiều vấn đề cần phải bàn, cần được nghiên cứu một cách đầy đủ bởi các giá trị của VHHCNN có tác động to lớn đến hiêu lực, hiệu quả của hoạt động HCNN Trên thực
tế, VHHCNN là một vấn đề còn khá mới mẻ tại Việt Nam Do đó, VHHCNN là một đại hạt màu mỡ và phong phú cần phải có cái nhìn nhiều chiều, phải đặt trong mối quan
hệ với bối cảnh lịch sử xã hội cụ thể mới thấy hết được vị trí, vai trò của VHHCNN Cuốn “Tổ chức sự kiện theo chuẩn mực văn hóa” (Nhà xuất bản Lao động năm 2014) của Nguyễn Văn Hậu cũng khẳng định vai trò quan trọng của văn hóa trong tổ chức sự kiện trong cơ quan nhà nước Tổ chức sự kiện trong cơ quan nhà nước cũng là một trong những biểu hiện của VHHCNN Trong cuốn sách này tác giả đã phân tích những ảnh hưởng, tác động của các chuẩn mực VHHCNN đối với hoạt động tổ chức sự kiện Xuất phát từ vai trò quan trọng của quản lý nhà nước đối với xã hội, tác giả luận
án Tiến sĩ “Phong cách ngôn ngữ hành chính” chỉ ra rằng: Quản lí hành chính mang tính công vụ, tính pháp lí, đòi hỏi lí trí cao, vì thế việc sử dụng ngôn ngữ trong lĩnh vực giao tiếp này cũng có những nét chuyên biệt, mang dấu ấn phong cách riêng Do vậy cần phải xác định đúng phong cách ngôn ngữ trong lĩnh vực giao tiếp hành chính Việc
sử dụng ngôn ngữ chuẩn xác, phù hợp phong cách ngôn ngữ hành chính sẽ giúp cho thông tin được truyền đi chính xác, chặt chẽ về pháp lí, rõ ràng, dễ hiểu và có sức thuyết phục cao Do đó, chuẩn mực giao tiếp hành chính cũng là một trong những đặc trưng quan trọng của VHHCNN
Thứ hai, một số bài báo, tạp chí nghiên cứu VHHCNN trong mối quan hệ với CCHC, tiêu biểu bài viết: “VHHC trong CCHC hiện nay” đăng trên Tạp chí nghiên cứu Lập pháp Số 15(176) tháng 8/2010 của tác giả Vũ Anh Tuấn Bài viết đã đưa ra cái nhìn khái quát về toàn bộ vai trò của VHHCNN trong công cuộc CCHC Đồng thời tác giả bài báo khẳng định vai trò quan trọng của VHHCNN trong CCHC, nhất là giai đoạn hiện nay Đây là nguồn tài liệu cần thiết giúp cho tác giả có thêm căn cứ về mặt khoa học trong quá trình nghiên cứu đề tài Mới đây nhất có bài viết của Phạm Thị Hương bàn về “Đặc trưng của VHHC” - Tạp chí QLNN tháng 06 năm 2012 Tác giả bài biết đã chỉ ra 10 đặc trưng cơ bản của VHHCNN và đây cũng là phát hiện khá đầy
đủ về những đặc trưng của VHHCNN Từ góc nhìn vai trò của VHHCNN, Nguyễn Văn Hậu đã đưa một số quan điểm khá mới mẻ về văn minh giao tiếp và ứng xử trong thực thi công vụ qua bài viết “Văn minh giao tiếp và ứng xử của bảo vệ cơ quan” - Nội san Khoa Văn bản & CNHC số 1 tháng 5/2012
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu VHHCNN ở cấp độ hệ thống các tác giả thế giới đã chỉ ra vai trò quan trọng của các giá trị VHHCNN trong hoạt động quản lý nhà nước, trong đó nghiên cứu VHHCNN trong mối quan hệ với bối cảnh lịch sử cụ thể của từng quốc gia là bối cảnh chung là HNQT và toàn cầu hóa Tuy nhiên, ở cấp
độ nghiên cứu này, các công trình nghiên cứu VHHCNN ở Việt Nam còn khá mờ nhạt, các tác giả chưa đề cập đến tầm quan trọng của hệ giá trị VHHCNN trong hoạt động HCNN cũng như chưa gắn với bối cảnh HNQT
Trang 251.2 Các công trình nghiên cứu văn hóa hành chính nhà nước ở cấp độ tổ chức
1.2.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới
Một là, các công trình nghiên cứu gắn với các yếu tố cấu trúc của văn hóa tổ chức, tiêu biểu: các nghiên cứu đã đề cập ở trên tập trung vào các mối quan hệ giữa các
giá trị và chuẩn mực văn hóa của các tổ chức với con người trong xã hội Tất cả trong
số họ tìm thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa xã hội và văn hóa tổ chức Đó là bởi vì văn hóa tổ chức được hình thành không chỉ bởi công nghệ và thị trường mà còn bởi sở thích văn hóa của các nhà lãnh đạo hay nhân viên (Trompenaars, 1993) Những sở thích văn hóa có nguồn gốc từ quá trình xã hội hóa họ trải qua Điều đáng chú ý là VHHCNN được đặt vào bối cảnh một tổ chức cụ thể và là một phần của văn hóa xã hội rộng rãi Cùng với xu hướng này, nghiên cứu của Hofstede, G (1997) về “Cultures And Organizations”, tác giả đưa ra "Thuyết tương đối” và khẳng định rằng văn hóa không có tiêu chuẩn tuyệt đối để đánh giá hoạt động của các nền văn hóa khác như
"thấp" hoặc "cao quý" Hofstede, G (2005) đã chỉ cấu trúc của văn hóa tổ chức bằng sơ
đồ củ hành: Biểu tượng, anh hùng, nghi thức và giá trị Đây cũng là môt trong những căn cứ để tác giả luận án kế thừa và vận dụng đề xuất cấu trúc VHHCNN ở 3 cấp độ Bên cạnh đó ông chỉ ra các kích thước văn hóa quốc gia: khoảng cách quyền lực, chủ
nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể, nam quyền/nữ quyền, sự không chắc chắn
Theo mô hình của Allaire và Firsirotu, hệ thống văn hóa của một tổ chức là một trong ba thành phần liên quan đến nhau, hai phần còn lại là những gì họ gọi là "hệ thống kết cấu xã hội" và "bên cá nhân riêng lẻ”; “một hệ thống văn hóa thể hiện kích thước biểu cảm và tình cảm của tổ chức trong một hệ thống chia sẻ và biểu tượng có ý nghĩa biểu hiện trong thần thoại, hệ tư tưởng và các giá trị và trong nhiều hiện vật văn hóa (nghi thức, nghi lễ và phong tục; ẩn dụ, bảng thuật ngữ, từ viết tắt, từ điển và khẩu hiệu; Slogan, những câu chuyện, những huyền thoại và truyền thuyết về tổ chức; logo, thiết kế, kiến trúc) Hệ thống văn hóa này được định hình bởi môi trường xung quanh
xã hội, lịch sử của các tổ chức và các yếu tố tác động đến ngẫu nhiên cụ thể vào nó; sự thay đổi và tiến hóa chịu ảnh hưởng của bên chi phối hiện đại và sự tương tác năng động giữa văn hóa và các yếu tố cấu trúc” Bên cạnh đó, văn hóa tồn tại kết cấu bao gồm lãnh đạo, thủ tục và cá nhân với nhau trong một tổ chức phức tạp Do đó, cấu trúc văn hóa rất quan trọng trong việc duy trì chức năng nội bộ trong tổ chức và mối liên hệ với bên ngoài tổ chức, tác giả cũng đã phát biểu tổ chức “cùng một lúc sáng tạo của xã hội và sáng tạo ra ý nghĩa xã hội”
Hai là, các công trình nghiên cứu văn hóa tổ chức gắn với hoạt động điều hành trong tổ chức, tiêu biểu, Hofstede (1997) quy định văn hóa quốc gia trên bốn chiều
khác nhau: khoảng cách quyền lực (bất hình đẳng trong xã hội, quan hệ với cơ quan);
cá nhân so với tập thể (mối quan hệ giữa cá nhân và nhóm); nam quyền/nữ quyền (các vai trò xã hội dự kiến từ người đàn ông và phụ nữ) và tính không chắc chắn (sự không
rõ ràng) Ông lập luận rằng những khía cạnh của văn hóa sẽ xác định việc quản lý và
cơ cấu trong tổ chức Nói cách khác trong mỗi tổ chức đều ảnh hưởng bởi văn hóa và
các vấn đề ràng buộc của văn hóa Sự thành công về kinh tế của các tiểu bang "Phát triển" đã khuyến khích các nhà khoa học nghiên cứu về văn hóa tổ chức
Trang 26Ba là, các công trình nghiên cứu gắn với mối quan hệ tương tác trong nội bộ và bên ngoài của văn hóa tổ chức: Các nghiên cứu đã đề cập ở trên tập trung vào các mối
quan hệ giữa các giá trị và chuẩn mực văn hóa của các tổ chức với con người trong xã hội Tất cả trong số họ tìm thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa xã hội và văn hóa tổ chức
Đó là bởi vì văn hóa tổ chức được hình thành không chỉ bởi công nghệ và thị trường
mà còn bởi sở thích văn hóa của các nhà lãnh đạo hay nhân viên (Trompenaars, 1993) Những sở thích văn hóa có nguồn gốc từ quá trình xã hội hóa họ trải qua Điều đáng chú ý là VHHC được đặt vào bối một tổ chức cụ thể và là một phần của văn hóa xã hội rộng rãi Cuốn sách “Bureaucracy: What Government Agencies Do And Why They Do It” của Wilson James Q (1989) Qua việc tìm hiểu cơ chế vận hành tại các cơ quan Chính phủ Mỹ, bao gồm Quân đội, FBI, FCC, và Cục An sinh Xã hội và các cơ quan khác, tác giả James Q đã có sự phân tích chuyên sâu và sâu sắc của về những gì cơ quan chính phủ làm, tại sao họ hành động và làm thế nào để họ có thể trở nên có trách nhiệm và hiệu quả hơn
Tóm lại, mặc dù nghiên cứu của luận án được xây dựng trên quan điểm lý thuyết tương tự như nghiên cứu trước đây của Jamil,(1998); Hofstede,(1997, 2005);
Trompenaars, (1993); Tayeb, (1988); và Ouchi, (1981), Allaire, Y., and M E Firsirotu
(1984)… Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, tác giả Luận án sẽ kế thừa và vận dụng những thành tựu khoa học trên thế giới có chọn lọc và phù hợp với bối cảnh lịch
sử cụ thể ở Việt Nam hiện nay Mục đích của sự vận dụng và kế thừa này nhằm đóng góp vào sự khan hiếm trong nghiên cứu về các vấn đề văn hóa trong khoa học hành chính nói chung và VHHCNN ở cấp độ tổ chức nói riêng ở Việt Nam hiện nay
1.2.2 Những công trình nghiên cứu trong nước
Xem xét những biểu hiện văn hóa công sở (VHCS) - công sở thuộc cơ quan HCNN hay từ góc độ văn hóa tổ chức (các cơ quan HCNN) cũng là những biểu hiện của VHHCNN ở cấp độ tổ chức Nghiên cứu về VHHCNN ở cấp độ tổ chức tiêu biểu
có cuốn giáo trình “Tổ chức điều hành hoạt động của các công sở” của tác giả Nguyễn Văn Thâm, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, năm 2003 Cuốn sách gồm có 5 chương,
trong đó, ở mục V Kỹ thuật hành chính và văn hóa trong điều hành công sở, trang 12 của chương 4, tác giả công trình nghiên cứu khoa học này cũng có đề cập đến nội dung
của VHCS và chỉ ra vai trò của VHCS đối với người lãnh đạo, quản lý nói riêng và hiệu quả hoạt động HCNN nói chung Trong đó nổi bật là mối quan hệ con người trong công sở, công việc, chuẩn mực xử sự, nghi thức tiếp xúc hành chính, phương pháp giải quyết các bất đồng trong cơ quan, cách lãnh đạo, chỉ huy và ý thức chấp hành kỷ luật trong công sở của người nhân viên [99; tr114]
Cũng từ góc nhìn tổ chức, Tài liệu bồi dưỡng khóa học Quản lý sự thay đổi trong tổ chức do tác giả Nguyễn Ngọc Hiến (Chủ biên) - Dự án DANIDA - NAPA,
HN, năm 2005 cũng góp một cái nhìn trong nghiên cứu những biểu hiện của yếu tố văn hóa trong các cơ quan HCNN Trong đó, VHTC - công sở hành chính được biểu hiện thông qua các mối quan hệ giữa cán bộ, công chức (CBCC); trong quan hệ chỉ đạo,
Trang 27phối hợp, phụ thuộc; các chuẩn mực sử xự, nghi thức giao tiếp trong công vụ; bài trí công sở, sử dụng biểu tượng quốc gia…
Về bài báo, tiêu biểu có bài viết:“Vai trò của văn hóa trong hoạt động công sở” của tác giả Đào Thị Ái Thi đăng trên tạp chí Tổ chức nhà nước số tháng 9 năm 2010
Trong bài viết này tác giả đã phân tích các vai trò của văn hóa trong hoạt động công sở trong hoạt động công vụ Bên cạnh đó, hiện nay khi nghiên cứu về VHHCNN thường được đồng nhất với VHCS, hay văn hóa tổ chức, hay văn hóa công vụ, tiêu biểu: “Văn hóa tổ chức và một số giải pháp phát triển văn hóa công sở” của tác giả Trần Thị Thanh Thủy đăng trên Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 09/2006 và “Thay đổi văn hóa công vụ - trường hợp Anh quốc và bài học cho Việt Nam” cùng tác giả Trần Thị Thanh Thủy đăng trên Tạp chí QLNN, số184 (5-2011)…
Bên cạnh đó, nghiên cứu yếu tố VHHCNN ở cấp độ tổ chức - công sở cũng mới dừng lại ở một số đề tài nghiên cứu ở trình độ Thạc sĩ, tiêu biểu nhất là luận văn của Đoàn Thị Bích Hạnh với đề tài “Phát triển văn hóa tổ chức trong các cơ quan hành chính nhà nước trong điều kiện hội nhập hiện nay”(năm 2007) Đề tài đã chỉ ra được một số đặc điểm chính trong văn hóa tổ chức HCNN (có thể xem đây là VHHCNN ở cấp độ tổ chức), tuy nhiên, đây cũng mới chỉ dừng lại ở cấp độ một yếu tố cấu trúc của VHHCNN Cũng ở cấp độ cấu trúc tổ chức công sở, VHHCNN được nghiên cứu ở sự tác động của VHHCNN trong việc nâng cao hiệu quả quản lý cho công sở; nghiên cứu
cơ sở của VHCS Việt Nam nhằm lý giải những hiện tượng văn hóa của VHCS Việt Nam; qua đó tác giả đã đưa ra những đề xuất nhằm xây dựng VHCS Việt Nam, phục
vụ mục tiêu cải cách bộ máy nhà nước, tiêu biểu tác giả Hoàng Xuân Tuyền với đề tài
“Yếu tố văn hóa trong việc nâng cao hiệu quả quản lý công sở”… Tuy nhiên, các nghiên cứu trên đây cũng mới chỉ dừng lại ở cấp độ một yếu tố cấu trúc của VHHCNN hoặc xem xét yếu tố văn hóa trong phạm vi của nền công vụ Do đó VHHCNN chưa được nghiên cứu trong cái nhìn tổng thể của hệ thống hành chính cũng như chưa xem xét VHHCNN trong mối liên hệ với bối cảnh cụ thể của đất nước - HNQT
Tóm lại, các công trình nghiên cứu VHHCNN ở cấp độ tổ chức được các tác giả trên thế giới quan tâm đến vai trò của giá trị VHHCNN trong tổ chức nói chung và hoạt động của tổ chức - công sở nói riêng, ví dụ như các chuẩn mực, mối quan hệ hợp tác trong tổ chức và bên ngoài; các biểu tượng, khẩu hiệu, lo go… Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu ở Việt Nam trong cấp độ này cũng đã chỉ ra vai trò, giá trị của VHCS với tư cách vừa là một bộ phận cấu thành VHHCNN, tuy nhiên, các nghiên cứu này cũng chưa làm sáng tỏ giá trị VHHCNN trong định hướng hoạt động của tổ chức - công sở: mối quan hệ nội bộ trong tổ chức và giữa tổ chức với người dân, công chúng cũng như vai trò của người đứng đầu tổ chức trong việc tổ chức thực hiện các nội dung VHHCNN…
1.3 Các công trình nghiên cứu văn hóa hành chính nhà nước ở cấp độ cá nhân
1.3.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu VHHCNN ở cấp độ cá nhân cũng được các tác giả trên thế giới nghiên cứu theo nhiều góc nhìn, nhiều cách thức, nhiều phương pháp khác nhau, tuy
Trang 28nhiên, tựu chung lại là VHHCNN ở cấp độ cá nhân được các nhà nghiên cứu ở hành vi, thái độ, ứng xử của người công chức trong công sở nói chung và cơ quan HCNN nói riêng Tiêu biểu, cuốn “Korea Administrative culture” của Wanki, Paik, 1990 Theo Wanki, Paik, VHHCNN được xác định không chỉ là ở cấu trúc tâm thức, cách suy nghĩ, những hệ thống giá trị và thái độ của các quan chức hành chính, mà còn là thái độ của người dân đối với chính quyền[170;186-187] Trong cuốn “Administrative Culture in
Developing and Transitional Countries”, 2014, của shtiaq Jamil, Steinar Askvik, Farhad Hossain, tác giả cho rằng VHHCNN biểu thị thái độ và nhận thức của người
công chức Nghiên cứu chỉ ra rằng, ở nhiều quốc gia, công chức đang bị cho là tham nhũng, bất tài, không đáng tin cậy và tự cho mình là trung tâm; thái độ, chuẩn mực và các giá trị, cách hành xử của họ đang ở trong cuộc xung đột liên tục với sự quy định của pháp luật… Bên cạnh đó còn có các bài viết: “Administrative Culture in a Borderless World: Russia” (VHHCNN trong một thế giới không biên giới: Nga) của Zhuplev, A & Vladamir, I.S (2005); bài viết: “Conceptual Foundations of Administrative Culture: An Attempt at Analysis of Some Variables” của Sharma, R D
2002 International Review of Sociology, vol 12(1)… Các tác giả bài viết đã trình bày quan điểm của mình về cơ sở hình thành nên khái niệm VHHCNN, cụ thể là tác giả đã chứng minh rằng hành vi của công chức trong cơ quan hành chính là VHHCNN Đồng thời, một số công nghình nghiên cứu đã chỉ ra vai trò của cá nhân trong xây dựng và phát triển VHHCNN, tiêu biểu: bài viết: “Administrative culture and ethical challenges in pursuit of capacitating the state SA Publications” (VHHC và các thách thức đạo đức trong việc phát triển nhà nước) - Tạp chí hành chính công: Kỷ yếu Hội nghị SAAPAM: Số đặc biệt 3 - tháng 10 năm 2008 của tác giả Sindane, M - Rumani Trong bài viết này, tác giả đã nêu quan điểm ủng hộ sự phát triển VHHCNN phổ quát gắn với trách nhiệm và đạo đức của CBCC nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ công góp phần nâng cao hiệu quả hiệu lực trong quản lý nhà nước Tác giả Sindane khẳng định rằng: Các nước khác nhau có VHHCNN khác nhau và ở trong một thời điểm thì cũng có thể tồn tại giá trị VHHCNN khác nhau tồn tại trong cùng một quốc gia Những vấn đề của phát triển một nền VHHCNN phổ quát cũng có thể khác nhau, khác nhau từ chính trị, kinh tế và xã hội Sự khác biệt đó cũng mang lại sự bất bình đẳng về xã hội hay chính trị trong phát triển của các quốc gia khác nhau, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Tuy nhiên, sự phát triển VHHCNN trong một quốc gia đầu tiên phải hướng tới việc khẳng định uy tín, vị thế của các các dịch vụ công và đó cũng
là con đường ngắn nhất dẫn đến sự phát triển của nhà nước Sự phát triển của một nền VHHCNN trong một quốc gia phải bổ sung và được bổ sung bởi một ý thức trách nhiệm và đạo đức của các nhà quản lý công Nhà quản lý công cần phải trau dồi, nuôi dưỡng ý thức trách nhiệm và đạo đức; trong thực thi công vụ phải chấp hành đúng các quy định của pháp luật, tuẩn thủ đúng các chuẩn mực hành chính, hành vi hành chính, các quyết định hành chính Việc tìm kiếm và xác định các chuẩn mực phù hợp với sự phát triển nhà nước là một nhiệm vụ trọng tâm, do đó yêu cầu các công chức cần dành không gian riêng cho các sáng kiến cá nhân để phát triển các giá trị cá nhân từ đó có thể giúp họ phát triển trách nhiệm cá nhân
Trang 291.3.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam
VHHCNN ở cấp độ cá nhân được nghiên cứu dưới nhiều góc nhìn phong phú và
đa dạng như nghiên cứu về văn hóa giao tiếp, ứng xử, phong cách ngôn ngữ, về văn
hóa đạo đức của CBCC, tiêu biểu có một số nghiên cứu sau đây:
Trước tiên là một số công trình sách , tiêu biểu, cuốn “Ngôn ngữ văn bản quản
lý hành chính nhà nước” tác giả Lưu Kiếm Thanh (Chủ biên), 2010, các tác giả khẳng định rằng: Nghi thức lời nói công vụ là một bộ phận cấu thành văn hóa giao tiếp công
sở, là một vấn đề mang tính thông lệ, quy ước, được tạo lập và khẳng định bởi những chuẩn mực truyền thống dân tộc và tập quán quốc tế; tác giả cuốn sách “Những nội dung cơ bản về văn hóa giao tiếp trong hoạt động quản lý” nghiên cứu những nội dung
cơ bản về văn hóa giao tiếp, những kỹ năng cần có cũng như yêu cầu căn bản để giao tiếp đạt được hiệu quả tối ưu trong hoạt động quản lý[19] Xem xét nghi thức Nhà nước như một một yếu tố cấu trúc VHHCNN, tác giả Lưu Kiếm Thanh trong cuốn sách
“Nghi thức nhà nước”(2001) đã đưa ra những nội dung cơ bản nhất về nghi thức nhà nước như sử dụng quốc hiệu, quốc ca, lễ tân, khánh tiết, tiếp khách… qua đây tác giả khẳng định nghi lễ giao tiếp là nét văn hóa dân tộc Như vậy, những nghi thức giao tiếp trong nhà nước cũng chính là yếu tố cấu thành VHHCNN Đồng thời nghiên cứu VHHCNN ở cấp độ cá nhân, một số công trình khoa học luận án, luận văn cũng được các tác giả nghiên cứu về các nội dung về giao tiếp, về văn hóa ứng xử của CBCC Tiêu biểu, luận án Tiến sĩ của Trịnh Thanh Hà với đề tài “Xây dựng văn hóa ứng xử công vụ của công chức cơ quan HCNN Việt Nam hiện nay” đã nghiên cứu VHHCNN
ở khía cạnh văn hóa ứng xử của CBCC, tuy nhiên, cấu trúc của VHHCNN còn phản ánh rộng hơn nữa Luận án Tiến sĩ của Đào Thị Ái Thi (2008) với đề tài “Kỹ năng giao tiếp của đội ngũ công chức hành chính trong tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước Việt Nam” cũng đã chỉ ra rằng kỹ năng giao tiếp của đội ngũ công chức hành chính trong cải cách hành chính (CCHC) là yếu tố thuộc cấu trúc VHHCNN ở cấp độ
cá nhân Ở công trình này, tác giả đã chỉ ra thực trạng và những yếu tố tác động đến kỹ năng giao tiếp của đội ngũ công chức hành chính trong tiến trình CCHC Việt Nam và
từ đó đưa ra những giải pháp và kiến nghị mô hình hoàn thiện kỹ năng cho công chức hành chính Với công trình này, tác giả sẽ kế thừa được tư duy xây dựng mô hình về VHHCNN cho CBCC trong bối cảnh Việt Nam HNQT Cũng từ góc độ VHHCNN ở cấp độ cá nhân, tác giả Lê Thị Trúc Anh trong luận án Tiến sĩ Văn hóa học (2012) đã nghiên cứu: “Văn hóa giao tiếp trong công sở hành chính (trường hợp TP Hồ Chí Minh từ năm 1986 đến nay” Trên cơ sở phân tích văn hóa giao tiếp công sở như một
hệ thống, nhận diện thực trạng, làm rõ những nguyên nhân chiều sâu tác động đến hiệu quả hoạt động tiếp dân nơi công sở hành chính nói riêng, quá trình CCHC nói chung qua đó đề xuất phương hướng cải thiện và nâng cao chất lượng hoạt động giao tiếp nơi công sở hành chính hiện nay Tuy nhiên đề tài này chỉ mới chỉ dừng lại nghiên cứu một
số biểu hiện của VHHCNN ở cấp độ cá nhân trên phương diện văn hóa giao tiếp trong các công sở hành chính cụ thể mà chưa có đánh giá một cách tổng thể, toàn diện
Trang 30Bên cạnh đó, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ do Nguyễn Huyền Hạnh chủ nhiệm (2012) nghiên cứu về “Thực trạng và giải pháp xây dựng văn hóa công sở trong các cơ quan HCNN” Trong công trình nghiên cứu này tác giả đã chỉ ra thực trạng xây dựng VHCS và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện VHCS Tuy nhiên công trình nghiên cứu này cũng chưa có những đánh giá về Quy chế VHCS của các cơ quan HCNN nói
chung, tại cơ quan HCNN cấp huyện nói riêng Tài liệu Hội thảo khoa học “Văn hóa
công vụ và CCHC”, trong Đề tài khoa học cấp Nhà nước “Văn hóa công vụ hiện nay” Đây là tập tài liệu tập hợp các bài viết liên quan đến văn hóa công vụ, đây cũng là nguồn tài liệu quan trọng để giúp tìm hiểu sâu sắc hơn về VHHCNN
Một số bài báo, tạp chí khoa học cũng được các giả nghiên cứu về các nội dung của VHHCNN ở cấp độ cá nhân như đạo đức, trách nhiệm của CBCC Tiêu biểu bài viết “Vai trò của đạo đức công chức trong nền HCNN” của tác giả Lê Thị Hằng đăng trên tạp chí QLNN, số 162 (tháng 7/2009); “Vài nét về đạo đức công vụ của CBCC” - Nguyễn Tiến Trung - tạp chí TCNN, số tháng 8 năm 2010; Học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng
sự tổ quốc, phục vụ nhân dân đăng trên tạp chí TCNN, số tháng 11 năm 2009; Với khía cạnh nội dung này, tác giả Trần Thị Thanh Thủy có bài viết “Thay đổi văn hóa công vụ
- trường hợp Anh quốc và bài học cho Việt Nam Tạp chí QLNN, số184 (5-2011) và
“Nội hàm đạo đức công vụ và xây dựng đạo đức công vụ trong bối cảnh hiện nay” - Tạp chí Giáo dục lý luận, số 1- 2011… Các tác giả đã phân tích vai trò của đạo đức công chức trong hoạt động HCNN
Nghiên cứu VHHCNN ở cấp độ hệ thống, các nhà nghiên cứu thế giới đã chỉ ra rằng, các biểu hiện từ hành vi, thái độ, ứng xử… của người công chức là biểu hiện của VHHCNN Đồng thời, văn hóa của người công chức có vai trò quan trọng trong thực thi công vụ và phát triển của một quốc gia, đặc biệt và các nước đang phát triển đang phát triển Còn đối với các nhà nghiên cứu Việt Nam, các nghiên cứu ở cấp độ này cũng chỉ ra các biểu hiện hành vi, ứng, giao tiếp… của người CBCC có vai trò quan trong trong hoạt độngc ông vụ nói chung và hoạt động HCNN nói riêng Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu ở Việt Nam trong cấp độ này cũng là các biểu hiện riêng lẻ, chưa gắn các yếu tố tổng thể khác trong VHHCNN
1.4 Đánh giá tổng quan về tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra đối với luận án
1.4.1 Những kết quả đạt được của các công trình nghiên cứu
1.4.1.1 Các công trình nghiên cứu văn hóa hành chính nhà nước ở độ hệ thống
a Các công trình nghiên cứu trên thế giới đã nghiên cứu những nội dung sau về
VHHCNN: Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về bản chất, vai trò, giá trị của
VHHCNN, tuy các quan điểm của các tác giả nghiên cứu chưa thống nhất về một khái niệm VHHCNN Nhìn chung các quan niệm về VHHCNN được các tác giả đưa ra khá phong phú, đây sẽ là nguồn lý luận quan trọng giúp nghiên cứu sinh có căn cứ lý luận
để nghiên cứu đề tài Luận án Đồng thời, các tác giả nghiên cứu đều thống nhất rằng
Trang 31VHHCNN bao gồm hệ thống các giá trị, các giá trị này có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức nói chung của cơ quan HCNN nói riêng
Thứ hai, các công trình trên thế gới cũng chỉ ra rằng khi nghiên cứu VHHCNN cần gắn
với một bối cảnh cụ thể của quốc gia, bởi mỗi một quốc gia có nền chính trị, văn hóa riêng biệt Do đó, tác giả việc tiếp cận nguồn tài liệu này để nghiên cứu VHHCNN Việt Nam gắn với bối cảnh lịch sử cụ thể ở Việt Nam đang hội nhập sâu rộng với thế giới,
gắn với công cuộc CCHC và bản sắc văn hóa riêng có ở Việt Nam Thứ ba, các công
trình nghiên cứu VHHCNN đã hướng đến so sánh các nền văn hóa của hai nước khác nhau, của các khu vực khác nhau, đây cũng là điều cần thiết để khẳng định bản sắc của
nền VHHCNN của quốc gia Thứ tư, các công trình nghiên cứu VHHCNN đã chỉ ra
phương pháp nghiên cứu VHHCNN, tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp nghiên cứu này cũng cần đặt trong bối cảnh cụ thể của lịch sử, xã hội, văn hóa cũng như đặc điểm nền hành chính của từng quốc gia
b Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam đã nghiên cứu những nội dung sau về văn hóa hành chính nhà nước: Các công trình nghiên cứu về VHHCNN nói chung và phát triển VHHCNN trong bối cảnh HNQT ở Việt Nam hiện nay vẫn còn khá ít so với địa hạt rộng lớn của nội dung này, do đó, các khía cạnh của VHHCNN ở cấp độ hệ thống được các nhà nghiên cứu Việt Nam mới chỉ đề cập đến một số vấn đề như nêu một số quan niệm về VHHCNN nói chung, các đặc trưng VHHCNN, các yếu tố tác động đến VHHCNN…
1.4.1.2 Các công trình nghiên cứu văn hóa hành chính nhà nước ở cấp độ tổ chức
a Các công trình nghiên cứu trên thế giới đã nghiên cứu những nội dung sau về VHHCNN: Các tác giả nghiên cứu cấu trúc hay những biểu hiện VHHCNN ở cấp độ
tổ chức như biểu tượng, nghi thức, văn hóa ứng xử, giao tiếp… Đồng thời nhóm nghiên cứu này cho thấy, các giá trị văn hóa tổ chức có vai trò vô cùng quan trọng trong việc định hình văn hóa tổ chức đồng thời các giá trị văn hóa tổ chức là yếu tố quan trọng giúp cho tổ chức hoạt động đạt hiệu quả, mục tiêu Các biểu hiện này của VHTC cũng là một trong biểu hiện của cấu trúc VHHCNN
b Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam đã nghiên cứu những nội dung sau về văn hóa hành chính nhà nước: VHHCNN ở cấp độ tổ chức được nghiên cứu từ góc tiếp cận văn hóa tổ chức, do đó, từ góc độ này, VHHCNN đã được các nhà nghiên cứu khai thác ở các biểu hiện cụ thể văn hóa tổ chức trong các công sở thuộc cơ quan HCHN Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này vẫn chưa làm rõ vai trò của VHHCNN trong hoạt động HCNN cũng như vai trò của người đứng đầu trong tổ chức, triển khai các nội dung VHHCNN; phương thức xây dựng VHX trong tổ chức (tạo dựng niềm tin, tương tác hiệu quả trong nội bộ tổ chức và bên ngoài tổ chức)
1.4.1.3 Các công trình nghiên cứu văn hóa hành chính nhà nước ở cấp độ cá nhân
a Các công trình nghiên cứu trên thế giới đã nghiên cứu những nội dung sau về VHHCNN: Đối với các công trình nghiên cứu VHHCNN ở cấp độ cá nhân được các tác giả trên thế giới chỉ ra rằng, VHHCNN của công chức bao gồm văn hóa ứng xử,
Trang 32giao tiếp; cách thức giải quyết công việc trong thực thi công vụ; mối quan hệ công chức, với công dân… Đồng thời, các các công trình này cũng cho thấy, văn hóa cá nhân có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nói chung và hoạt động quản lý nhà nước nói chung Trong đó, các tác giả nghiên cứu cũng khẳng định, văn hóa phục vụ của công chức đối với người dân xu hướng tất yếu của quá trình phát triển nền HCNN của các quốc gia
b Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam đã nghiên cứu những nội dung sau về VHHCNN: Đối với các công trình nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay, VHHCNN ở cấp
độ cá nhân cũng được các tác giả chú trọng khai thác ở một vài khía cạnh biểu hiện của văn hóa cá nhân CBCC như văn hóa giao tiếp, ứng xử, phong cách lãnh đạo…Tuy nhiên, số lượng các công trình nghiên cứu này vẫn còn rất khan hiếm về số lượng, cần được bổ sung nghiên cứu trong tương lai
Tóm lại, trên cơ sở tổng quan tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến
đề tài, tác giả nhận thấy, các học giả nước ngoài đã có những nghiên cứu tương đối phong phú về VHHCNN trên cả phương diện lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, những kiến thức này được đưa ra trên cơ sở các nền văn hóa, thể chế chính trị, điều kiện kinh tế có nhiều sự khác biệt với Việt Nam Do đó, việc sử dụng những kiến thức lý luận trên đây, tác giả luận án sẽ có sự cân nhắc, chọn lọc sao cho phù hợp với tình hình ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay Cũng qua việc khảo sát các công trình nghiên cứu về VHHCNN ở Việt Nam hiện nay, tác giả nhận thấy, số lượng các công trình nghiên cứu về nội dung về VHHCNN vẫn còn khan hiếm, đặc biệt là nghiên cứu VHHCNN ở cấp độ chỉnh thể các yếu tố cấu trúc và các yếu tố tác động đến giá trị VHHCNN cũng như nghiên cứu về phát triển văn hóa hành chính nhà nước gắn với bối cảnh HNQT Các nghiên cứu này bước đầu mang tính chất khái quát về khía cạnh hay yếu tố nào đó về VHHCN, VHHCNN chưa được nghiên cứu cụ thể và khái quát trong cái nhìn đa chiều và tổng thể
Tổng hợp lại, tác giả nhận thấy, nội dung về phát triển VHHCNN Việt Nam trong bối cảnh HNQT vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập Và đây là khoảng trống trong địa hạt nghiên cứu VHHCNN cần được bổ sung, bồi đắp Bởi lẽ, theo tác giả nhận thấy, VHHCNN có vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động quản lý của Nhà nước, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang trong thời kỳ hội nhập sâu rộng với thế giới Bởi vậy, trong điều kiện HNQT, có thể nói mọi ranh giới dễ bị xóa nhòa, mọi giá trị xã hội cũng có thể bị thay đổi Do đó, nghiên cứu phát triển VHHCNN trong bối cảnh HNQT để thấy được quá trình biến đổi các giá trị VHHCNN trong hoạt động động HCNN, sự biến đổi các giá trị là một tất yếu nhằm xác lập các giá trị VHHCNN mới phù hợp, thích ứng với yêu cầu thực tiễn đặt ra, cụ thể là đáp ứng yêu cầu HNQT, yêu cầu ngày càng cao của người dân, tổ chức qua đó góp phần nâng cao hoạt động HCNN Bởi lẽ VHHCNN với giá trị và bản sắc độc đáo
và sức mạnh vạn năng sẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, phát huy giá trị văn hóa dân tộc, góp phần làm phong phú giá trị chung của văn hóa nhân loại Vì thế, cần
có những nghiên cứu cụ thể mang tính chất lý luận và thực tiễn nhằm hiện thực các giá trị VHHCNN phù hợp với bối cảnh cụ thể của hoạt động HCNN
Trang 331.4.2 Những vấn đề đặt ra đối với luận án
Phát triển VHHCNN trong bối cảnh HNQT là một đề tài tương đối rộng, việc nghiên cứu đề tài này có thể mở ra nhiều hướng tiếp cận khác nhau, tuy nhiên, trong khuôn khổ luận án này, tác giả luận án lựa chọn hướng tiếp cận từ góc độ quản lý nhà nước, cụ thể là đặc điểm hoạt động của cơ quan Hành pháp (HCNN) Từ hướng tiếp cận này, luận án xây dựng khung lý thuyết về phát triển VHHCNN trong bối cảnh HNQT là dựa vào các lý thuyết về HCNN, văn hóa học, vốn xã hội (VXH), VHHCNN,
Lý thuyết vốn xã hội, tác giả Luận án sử dụng các đặc trưng cơ bản của lý thuyết này trong mối liên hệ với VHHCNN và phát triển VHHCNN Cụ thể là, đặc trưng của lý thuyết xã hội là sự kết nối giữa con người người tạo thành mạng lưới xã hội (MLXH) và dựa trên lòng tin/tin cậy để tạo ra của cải vật chất và tinh thần (VXH) Những cơ sở lý thuyết này sẽ giúp CBCC thực thi công vụ có sự phối hợp đồng thuận; các cơ quan HCNN tương tác, kết nối với người dân và tổ chức hiệu quả thông qua việc cung cấp thông tin minh bạch, kịp thời; xây dựng lòng tin, uy tín trước người dân bằng phản hồi tích cực, qua đó góp phần xây dựng nền HCNN trong sạch, liêm chính, giàu tính phục vụ và nhân văn Bên cạnh đó lý thuyết văn hóa, VHHCNN, VXH, HCNN, phát triển còn làm cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng phát triển VHHCNN trong bối cảnh HNQT ở các cấp độ: VHHCNN ở cấp độ cá nhân, VHHCNN ở cấp độ
tổ chức và VHHCNN ở cấp độ hệ thống
Nghiên cứu các quy định pháp lý về xây dựng và phát triển văn hóa nói chung
và VHHCNN nói riêng trong hoạt động HCNN Những quy định mang tính chất pháp
lý về VHHCNN còn nằm rải rác ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau hoặc
có chăng cũng khá mờ nhạt, chưa được quy định cụ thể về phát triển VHHCNN Luận
án cũng nghiên cứu để tập hợp các quy định này nhằm xây dựng cơ sở để đánh giá thực trạng phát triển VHHCNN
Làm rõ khái niệm VHHCNN, các quan niệm về VHHCNN còn rất khác biệt, tuy nhiên, tác giả dựa trên các quan điểm nền tảng đó và đưa ra quan điểm phù hợp với nội dung, quy mô, phạm vi luận án, đề xuất khái niệm VHHCNN mới, qua đó chỉ
ra đặc điểm của VHHCNN, cấu trúc, vai trò VHHCNN
Trên cơ sở đặc điểm VHHCNN từ góc nhìn Quản lý công, luận án xây dựng khung lý luận về phát triển VHHCNN trong bối cảnh HNQT Cụ thể làm rõ khái niệm
Trang 34phát triển và phát triển VHHCNN, đề xuất khái niệm phát triển VHHCNN Việt Nam trong bối cảnh HNQT; nêu rõ đặc trưng phát triển VHHCNN; các yếu tố tác động đến phát triển VHHCNN; chỉ ra những yêu cầu trong việc phát triển VHHCNN; chỉ ra mối quan hệ tác động qua lại giữa phát triển VHHCNN và CCHC để thấy được vai trò của phát triển VHHCNN trong thành công CCHC và hoạt động HCNN Những nội dung này sẽ là khung lý thuyết xác định và đánh giá được thực trạng cũng như đề xuất các giải pháp nhằm phát triển VHHCNN trong thực tế
Lý thuyết về phát triển có nội hàm biểu hiện rất phong phú, phát triển là tăng trưởng (về số lượng), phát triển bao gồm sự thay đổi về lượng và chất, phát triển gắn với tăng trưởng về kinh tế, phát triển gắn với sự biến đổi về lượng và chất trên khắp các bình diện xã hội (biến đổi xã hội) Do đó, luận án sử dụng khía cạnh nội hàm của lý thuyết biến đổi xã hội (một số đặc trưng của biến đổi xã hội) với nghĩa phát triển VHHCNN là quá trình biến đổi các giá trị VHHCNN Theo đó, sự biến đổi này theo xu hướng biến đổi tích cực và biến đổi tiêu cực là một trong những căn cứ lý luận để định hình khung lý thuyết về phát triển VHHCNN trong bối cảnh HNQT Trên cơ sở khung
lý thuyết phát triển VHHCNN là quá trình biến đổi các giá trị, tác giả Luận án khảo sát thực trạng phát triển VHHCNN trên ba cấp độ cấu trúc của VHHCNN, qua đó chỉ ra những điểm tích cực và hạn chế trong phát triển VHHCNN, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy những giá trị VHHCNN tích cực, hạn chế những biến đổi giá trị VHHCNN tiêu cực trong hoạt động HCNN Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan HCNN, đáp ứng yêu cầu HNQT và người dân Đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn phát triển VHHCNN trong bối cảnh HNQT ở một số quốc gia trên thế giới làm căn cứ thực tiễn cùng với việc khảo sát thực địa về phát triển VHHCNN tại các cơ quan HCNN ở Việt Nam qua đó phân tích các yếu tố tác động đến đến quá trình phát triển VHHCNN Việt Nam trong bối cảnh HNQT
Đề xuất giải pháp phát triển VHHCNN trên 3 cấp độ cấu trúc của VHHCNN (VHHCNN ở cấp độ hệ thống, VHHCNN ở cấp độ tổ chức, VHHCNN ở cấp độ cá nhân) trong bối cảnh HNQT góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động HCNN
Trang 35HCNN là hành chính công (public Administration), là quản lý nhà nước, “HCNN
là tổng thể các tổ chức và quy chế hoạt động của bộ máy hành pháp có trách nhiệm quản lý công việc hàng ngày của Nhà nước do các cơ quan có tư cách pháp nhân công quyền tiến hành bằng những văn bản dưới luật để giữ gìn trật tự công, bảo vệ quyền lợi công và phục vụ nhu cầu hàng ngày của công dân Với ý nghĩa HCNN (hành chính công, hay hành chính quốc gia), nó là một hệ thống chức năng của Nhà nước bảo đảm thực thi quyền hành pháp và hoạt động liên tục của bộ máy Nhà nước, các công sở Nền hành chính cũng có nghĩa là toàn bộ các công sở và công chức đặt dưới quyền quản lý của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ trưởng [113; tr26]
Các định nghĩa trên đã khái quát một cách cơ bản nhất về HCNN và cho rằng HCNN là hành chính công và quản lý nhà nước
Trên cơ sở các định nghĩa trên về HCNN, tác giả luận án đồng thuận quan điểm với khái niệm sau đây về HCNN và sử dụng khái niệm này để làm cơ sở khoa học để tiếp cận nghiên cứu về phát triển VHHCNN: “HCNN là hoạt động thực thi quyền hành pháp của Nhà nước: là hoạt động chấp hành và điều hành của cơ quan HCNN trong quản lý xã hội theo khuổn khổ pháp luật nhằm duy trì sự ổn định và phát triển các lĩnh vực của đời sống xã hội”[47; tr9]
Từ khái niệm của HCNN, ta có thể nhận thấy vai trò, bản chất, đặc điểm của HCNN, bao gồm: Thứ nhất về vai trò của HCNN, HCNN có vai trò quan trọng trong việc hiện thực hóa các mục tiêu phát triển; điều phối các hoạt động kinh tế - xã hội; thúc đẩy phát triển ổn định, bền vững; cung cấp dịch vụ công Thứ hai, bản chất của HCNN là mang tính chính trị; pháp lý; là hoạt động quản lý; mang tính chuyên môn, nghề nghiệp Thứ ba, đặc điểm của HCNN là, HCNN có đặc điểm rõ rệt là tính lệ thuộc vào chính trị và phục vụ chính trị; tính pháp quyền; tính liên tục, ổn định tương đối và thích ứng; tính chuyên nghiệp; tính thứ bậc chặt chẽ; tính không vụ lợi; tính nhân đạo; tính phục vụ”[47; tr10]
Trang 36Những đặc điểm trên đây của HCNN và nội hàm khái niệm về HCNN sẽ được tác giả luận án sử dụng là một trong những khái niệm cơ bản làm căn cứ khoa học để xây dựng khái niệm VHHCNN và khung lý thuyết về phát triển VHHCNN, phân tích thực trạng phát triển VHHCNN Việt Nam trong bối cảnh HNQT
2.1.2 Văn hóa
Hiện nay các nhà nghiên cứu về văn hóa, các tổ chức và các quốc gia trên thế giới
đã công bố hàng trăm các định nghĩa về văn hóa Còn theo tác giả Đoàn Văn Chúc trong cuốn “Xã hội học văn hóa” (trang 198) Nxb, Văn hóa Thông tin, HN,1998, thống kê cho đến nay có tới gần 500 định nghĩa khác nhau về văn hóa Tuy nhiên tựu chung lại, có một số xu hướng quan niệm cơ bản sau đây:
Theo nghĩa rộng nhất, văn hóa được Edward B.Taylore đã định nghĩa như sau:
“Văn hóa là tổ hợp các tri thức, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và các năng lực, thói quen khác mà con người với tư cách là thành viên của xã hội tiếp thu
do con người sáng tạo và phục phục vụ đời sống cho con người
Tuyên bố về những chính sách văn hóa - Hội nghị Quốc tế do UNESCO chủ trì từ
26/7 đến 6/8/1982 tại Mêhicô, đã ra tuyên bố rộng về định nghĩa văn hóa: “Trong nghĩa rộng nhất, văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền
cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng”.[120; tr41-42]
Cũng với xu hướng quan niệm văn hóa theo nghĩa rộng nhất này, trong cuốn Hồ Chí Minh toàn tập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của
nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự
sinh tồn”[69; tr431] Ở định nghĩa văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Người giới hạn cụ thể hơn về việc sáng tạo các giá trị văn hóa, xuất phát là vì mục đích sinh tồn của con người, tức là về duy trì cuộc sống con người để con người sáng tạo ra các sản phẩm văn hóa phục vụ đời sống con người, như ngôn ngữ, chữ viết, ăn mặc ở
Thứ hai, theo nghĩa hẹp thì văn hóa được quan niệm quá trình con người sáng tạo
ra các giá trị vật chất và tinh thần, đáp ứng nhu cầu của đời sống con người về vật chất
và tinh thần Tiêu biểu tác giả Trần Ngọc Thêm đưa ra định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với con người với môi trường tự
nhiên và xã hội”[101; tr10] Định nghĩa này đã chỉ ra được một cách cụ thể hơn về các giá trị văn hóa do con người sáng tạo ra đó là các giá trị về vật chất và tinh thần nhưng
Trang 37quá trình sáng tạo các giá trị văn hóa là quá trình con người tương tác với nhau và tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội, tạo nên các giá trị văn hóa Chính quan niệm này của tác giả về văn hóa qua đó đã khái quát lên đặc trưng cơ bản của văn hóa
đó tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử
Bên cạnh đó còn có quan niệm việc sáng tạo các giá trị văn hóa còn thể hiện “dấu ấn” riêng của cá nhân, cộng đồng, dân tộc, của một quốc gia Bởi vậy, nói đến các giá trị văn hóa còn nói đến cái riêng hay còn gọi là “bản sắc” văn hóa: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của các cá nhân và cộng đồng (…) các hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc [Dẫn theo 74; tr22]
Mặc dù văn hóa được tiếp cận từ nhiều khía cạnh khác nhau, song các quan niệm
về văn hóa nêu trên đều có những điểm cơ bản sau: (1) Văn hóa là sản phẩm hoạt động của con người, là kết quả sáng tạo của nhiều thế hệ nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần và vật chất không ngừng tăng lên của con người (2) Nói đến văn hóa là nói đến hệ giá trị, trong đó có các giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra làm cho tình người càng phát triển cao hơn Nội dung và bản chất của văn hóa là sự phát triển bản thân con người với tư cách là con người xã hội, sự phát triển những năng lực sáng tạo, những quan hệ, những nhu cầu, những đáp ứng thỏa mãn chỉ có ở con người và chỉ có thể biểu hiện qua quá trình giao tiếp giữa người với người và với thế giới tự nhiên Đồng thời, chính sự tương tác này đã tạo nên tính đặc trưng nhân sinh của văn hóa, tức là khẳng định các sản phẩm của văn hóa là con người sáng tạo ra trên cơ sở lao động sản xuất, tương tác (giao tiếp) với nhau, phân biệt sản phẩm văn hóa do con người sáng tạo và do thiên tạo Chính sự tương tác này cũng biểu thị một nguồn VXH - nguồn vốn của con người, nguồn vồn xã hội
Trên cơ sở các lý thuyết nền tảng về văn hóa học, trong khuôn khổ luận án này, tác giả luận án sử dụng khái niệm văn hóa của nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm, khía cạnh văn hóa trong định nghĩa của UNESCO ở khía cạnh “hệ thống các giá trị truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc Theo đó, văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong hoạt động sản xuất, trong sự tương tác giữa con người, giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội; văn hóa là bản sắc,
là cái riêng của cá nhân, cộng đồng và quốc gia, dân tộc
2.1.3 Văn hóa hành chính nhà nước
2.1.3.1 Quan niệm văn hóa hành chính nhà nước trên thế giới
Các nhà nghiên cứu trên thế giới và trong nước quan niệm về VHHCNN khá phong phú và tựu chung từ có thể khái quát được rằng các quan niệm được xuất phát từ đặc điểm cấu trúc VHHCNN (cá nhân - CBCC hay công chức; tổ chức - công sở và hệ thống các giá trị của HCNN) , tiêu biểu:
Trang 38Một là, quan niệm VHHCNN gắn với biểu hiện của cá nhân CBCC, tức là chủ
thể sáng tạo và thụ hưởng các giá trị văn hóa trong nền HCNN, tiêu biểu: Theo Keith Henderson, VHHCNN là "đặc điểm chung của công chức, nghĩa là sự chia sẻ các giá trị, thái độ và niềm tin”[136; tr45] RD Sharma định nghĩa VHHCNN là văn hoá của ông chức có hành vi được giới hạn chỉ dành cho môi trường hành chính”[163; tr65-75], Ishtiaq Jamil (2007) cho rằng, "VHHCNN đề cập đến các chuẩn mực hình thành các giá trị và ảnh hưởng đến thái độ hành chính, mối quan hệ giữa các cá nhân và hiệu quả”[143; tr277]
Hai là, VHHCNN còn là biểu hiện của tổ chức, tổ chức với tư cách là chủ sáng
tạo và thụ hưởng các giá trị VHHCNN, bao gồm niềm tin, hành vi ứng xử, và văn hóa phục vụ của công chức, của cơ quan hành chính với người dân: “VHHCNN như là một tập hợp các phản chiếu riêng lẻ của tất cả các cá nhân và mối quan hệ làm việc cụ thể với các nhiệm vụ và quyền hạn của công quyền và thể hiện đặc điểm cá nhân của họ”[156; tr358]; “VHHCNN được hiểu như là một mô hình của niềm tin, thái độ và
sự hiểu biết vai trò này áp dụng trong các thành viên của dịch vụ công”[149; tr66]; Zhuplev và Vladamir, I.S.), cho rằng “VHHCNN tự biểu hiện ở hành vi ứng xử, thông qua và tuân thủ bởi người tham gia trong quá trình quản trị”[172; tr109]; hay
“VHHCNN luôn luôn là một sự phản ánh của tình hình chung trong xã hội mà lần lượt được biểu hiện thông qua các chi tiết cụ thể của cơ quan, sau đó sống cuộc sống riêng của nó như VHHCNN”[156; tr386] VHHCNN còn phản ánh mối quan hệ tương tác giữa các tổ chức hành chính, với nghĩa là đơn vị hợp thành hệ cơ quan HCNN, sự tương tác này sẽ là tiêu chí để đánh giá hoạt động của tổ chức nói riêng của cơ quan HCNN nói chung Tiêu biểu, Anechiarico giải thích mối quan hệ này như là một mô hình “lây lan” của niềm tin, giá trị và hành vi trong một tổ chức dịch vụ công việc liên quan đến vai trò của tổ chức và mối quan hệ với công chúng[123; tr210]
Ba là, quan niệm VHHCNN gắn với biểu hiện tổng thể giá trị nền HCNN, tiêu
biểu: “VHHCNN là sự kết hợp của niềm tin, thái độ, giá trị, và các hệ thống có ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ quan chính phủ”[161; tr32]; “VHHCNN, ta nên hiểu
là những đặc điểm hoặc những cách thông thường mà hành chính, các chính trị gia và công dân trong một quốc gia nhất định suy nghĩ, hành động và tương tác trong mối liên
hệ như các khía cạnh khác nhau của hệ thống hành chính của họ”[152; tr76] Một quan điểm khác cũng cho rằng, VHHCNN là hệ thống các giá trị mà nền HCNN của một quốc gia mong muốn xây dựng và phát triển, phục vụ tốt hơn cho người dân:
“VHHCNN là chia sẻ các giá trị, niềm tin, chuẩn mực, truyền thống và tập quán của CBCC Tương tự như, văn hóa là sự phản chiếu (mirror) của một xã hội hay tổ chức
Vì vậy, VHHCNN dùng để chỉ sự phản chiếu hệ thống hành chính của một quốc gia hoặc khu vực Khái niệm về văn hóa thay đổi ở mức độ văn minh, ở cấp quốc gia, và trong mức độ quốc gia [127] Bên cạnh đó, một số nhà nghiên thế giới cho rằng các giá trị VHHCNN được biểu thị thành cấu trúc của VHHCNN: “VHHCNN cũng được mô
tả như là hồ sơ diễn giải của các cấu trúc cơ bản quan trọng, trong đó bao gồm tập quán, quan điểm được chia sẻ, và các hệ thống giá trị giữa các công chức; nó còn gắn
Trang 39chặt trong cách thức xã hội và giải quyết khó khăn của họ, bao gồm các sự phản chiếu tập thể và chia sẻ những kỷ niệm lịch sử[158; tr232] Hệ thống các giá trị VHHCNN sẽ định hướng, điều khiển hoạt động của công chức, của cơ quan HCNN: “Để hiểu được VHHCNN của bất kỳ bộ máy hành chính nào chúng ta phải nhận thấy rằng: a) một chính phủ lớn hơn và phức tạp hơn so với bất kỳ tổ chức nào đó; nó bao gồm nhiều tổ chức, ban ngành và các cơ quan, và b) chính sách này được thực hiện thông qua bộ máy nhà nước và toàn xã hội bị ảnh hưởng trong nhiều cách của VHHCNN tham dự Hơn nữa, VHHCNN bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi văn hóa chính trị so với các nền văn hóa
xã hội rộng rãi vì giá trị chính trị của nó điều chỉnh hành vi của nhân viên nhà nước”[133; tr15]
Từ góc độ tâm lý học, “VHHCNN phản ánh trình độ con người trong giai đoạn lịch sử, đặc biệt là con người trong cộng đồng xã hội được hình thành cùng với quá trình của hệ thống hành chính công thể hiện trên tính phổ quát của thái độ và giá trị, cảm xúc, nhận thức như tiền đề của hoạt động tinh thần của hệ thống hành chính công
và trong hoạt động nhằm ổn định tâm lý của các thành viên trong xã hội”[126; tr4]
Từ góc độ hoạt động HCNN, Zhang Jin Jian học giả nổi tiếng Đài Loan cho
rằng: “VHHCNN là các quan chức chính phủ (cán bộ cấp cao) và công chức phải tuân thủ các hình mẫu chung của hành vi, lối sống, quan hệ của con người và các giá trị”[171; tr292] Quan điểm này cho VHHCNN trong hoạt động hành chính của Chính phủ thể hiện một hình thức văn hóa độc đáo Nó bao gồm thái độ, tình cảm, niềm tin, giá trị của các nhân viên hành chính trong hệ thống hành chính Đây là khái niệm chỉ ra mối quan hệ tương tác trong nền HCNN Tuy nhiên nội hàm của VHHCNN còn phản ánh rộng hơn nữa
2.1.3.2 Các quan niệm văn hóa hành chính nhà nước ở Việt Nam
Ở Việt Nam, có vẻ như đây lại là một địa hạt khá mới mẻ, ít được quan tâm ngay cả với những nghiên cứu trong lĩnh vực hành chính học, VHHCNN dường như không xuất hiện một cách trực diện dưới góc độ một thuật ngữ khoa học trong sách báo chuyên ngành ở nước ta và đó là một khó khăn cho việc tìm kiếm một định nghĩa có sẵn, cho đến nay cũng chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu đầy đủ về VHHCNN hoặc có một khái niệm hoàn chỉnh về VHHCNN Các học giả chủ yếu nghiên cứu về VHCS, hay một khía cạnh của VHHCNN như đạo đức công vụ, giao tiếp hành chính, văn hóa công vụ… Do đó, trên thực tế hiện nay ở Việt Nam, các định nghĩa về VHHCNN còn rất khan hiếm, tiêu biểu có một số định nghĩa như sau:
Một là, một số nhà nghiên cứu quan niệm VHHCNN là một loại hình văn hóa
đặc thù, tiêu biểu: “VHHCNN vừa là biểu hiện đặc thù của văn hóa nói chung, văn hóa công quyền nói riêng, lại vừa là nhân tố bao trùm lên các bộ phận cấu thành của
một nền hành chính”[91; tr45] Với định nghĩa này, tác giả đồng tình với một nội dung của định nghĩa khi xem xét VHHCNN là “biểu hiện đặc thù của văn hóa nói chung, văn hóa công quyền nói riêng”, tuy nhiên định nghĩa này còn khá trừu tượng, chưa nêu được đặc điểm cụ thể của VHHCNN Các tác giả trong tập bài giảng VHHC, Học
Trang 40viện hành chính Quốc gia cho rằng “VHHC hay văn hóa công vụ là sự kết hợp đặc thù của các kiểu văn hóa tồn tại trong công sở, tạo thành một kiểu tiếp cận riêng đối với các vấn đề quyền lực, đối với đối tượng phục vụ của hệ thống công vụ và các đối
tác khác trong cung cấp dịch vụ công và điều hành xã hội”[96; tr23] Ở định nghĩa này các tác giả cũng khẳng định VHHCNN là văn hóa đặc thù tồn tại trong các công
sở, bởi lẽ VHHC có ở hầu hết các cơ quan Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp, Doanh nghiệp Đây là một định nghĩa rộng bao quát về VHHC Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của luận án là phát triển VHHCNN, do đó, phạm vi nghiên cứu là các biểu hiện của VHHCNN thuộc HCNN - cơ quan Hành pháp, bởi vậy định nghĩa này cũng chưa lột tả được bản chất của đối tượng nghiên cứu của Luận án
Hai là, từ góc độ cấu trúc VHHCNN ở cấp độ cá nhân, các tác giả trong tập
bài giảng VHHC, Học viện hành chính Quốc gia quan niệm: “VHHC bao hàm các mô hình nhận thức, kiến giải và hành vi của công chức từ phương diện đối nội và đối
ngoại”[96; tr23] Ở định nghĩa này, tác giả Luận án cho rằng nội hàm định nghĩa mới chỉ đề cập đến một khía cạnh của cấu trúc VHHCNN đó là “nhận thức và hành vi”của công chức trong khi đó VHHCNN còn bao gồm rất nhiều các yếu tố khác như
hệ thống các giá trị, các biểu hiện của tổ chức - công sở, sự tương tác của cơ quan HCNN với người dân… trong hoạt động HCNN
Ba là, xét từ góc độ văn hóa tổ chức, VHHCNN được quan niệm như sau: “Văn
hóa tổ chức HCNN là nói đến tư duy, quan niệm, cách ứng xử, phong cách sinh hoạt, của bộ máy HCNN và của công chức trong mối quan hệ với công dân và các tổ chức kinh tế - xã hội, với ý nghĩa của một bộ máy hành chính thực sự của dân, do dân, vì dân”[90;tr17] Một quan niệm tượng về VHHCNN: “Văn hóa tổ chức HCNN có những biểu hiện quan trọng như quan hệ giữa CBCC trong quan hệ chỉ đạo, phối hợp, phụ thuộc; các chuẩn mực xử sự, nghi thức giao tiếp trong công vụ; phương pháp giải quyết các bất đồng trong cơ quan, cách lãnh đạo, chỉ huy và ý thức chấp hành kỷ luật trong và ngoài công sở của nhân viên; kể cả những vẫn đề liên quan đến hình thức bên ngoài của giao tiếp hành chính như xây dựng và bài trí công sở, sử dụng các biểu tượng quốc gia”[59; tr51]
Từ những quan niệm trên về VHHCNN, có thể rút ra một số đặc điểm sau về
VHHCNN: (1) sản phẩm của lịch sử - xã hội, với đặc điểm riêng biệt của thời đại; (2)
gắn với hoạt động của con người trong lĩnh vực hành chính (quản trị, quản lý, điều hành
và thực thi quyền hành pháp), cụ thể là người CBCC, tổ chức (công sở) và hệ thống (tư cách nền HCNN); (3) hệ thống các giá trị do con người trong cơ quan HCNN sáng tạo
và mong đợi Các giá trị VHHCNN bao gồm giá trị văn hóa cá nhân, tổ chức, hệ thống Các giá trị VHHCNN được thể hiện phong phú nhiều mặt: vật chất, tinh thần, niềm tin, mối quan hệ giữa con người với con người, thói quen, truyền thống…; (4) tính thứ bậc, tính nguyên tắc, tính thống nhất, tính quyền lực, tính phục vụ; (5) phục vụ cho hoạt động HCNN và người dân và tổ chức; (6) mang đặc trưng riêng, khác biệt so với các loại hình
văn hóa tổ chức khác: như văn VHTC, VHCS, VHDN, VHCT (Xem Phụ lục II)