1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề đồng bảo hiểm trong kinh doanh bảo hiểm so sánh đồng bảo hiểm với bảo hiểm trùng trong bảo hiểm tài sản

16 238 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 39,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó bảo hiểm xã hội được thiết lập không vì mục đích lợi nhuận còn bảo hiểm thương mại được thực hiện vì mục đích lợi nhuận, kiếm lời và được coi là một hoạt động kinh doanh theo đó

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

2 Đồng bảo hiểm theo quy định của pháp luật và thực tiễn 3

2.3 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ đồng bảo hiểm 6 2.4 Vấn đề đồng bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm Việt Nam 8

3.2 Sự giống nhau giữa đồng bảo hiểm và bảo hiểm trùng trong BHTS 10 3.3 Sự khác nhau giữa đồng bảo hiểm và bảo hiểm trùng trong BHTS 11

A - ĐẶT VẤN ĐỀ.

0

Trang 2

Rủi ro là động cơ, khắc phục rủi ro và tích lũy, gia tăng giá trị là mục đích của người mua bảo hiểm khi tham gia bảo hiểm Thông thường khi tham gia bảo hiểm người mua bảo hiểm sẽ chỉ mua bảo hiểm của một doanh nghiệp duy nhất cho một đối tượng bảo hiểm nhưng vì những lý do khác nhau cả từ phía người mua bảo hiểm lẫn doanh nghiệp bảo hiểm mà trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm đã xuất hiện những trường hợp bảo hiểm đặc biệt như đồng bảo hiểm, bảo hiểm trùng, tái bảo hiểm Tuy nhiên quy định của pháp luật hiện nay về vấn đề này là tương đối ít, việc hiểu và áp dụng của các bên trong những trường hợp này để xác định quyền, nghĩa vụ, trách

nhiệm bảo hiểm là tương đối khó khăn mà một trong những nguyên nhân dẫn đến điều này là xuất phát từ việc không phân biệt được giữa đồng bảo hiểm, bảo hiểm

trùng, tái bảo hiểm vì vậy bài luận sau xin được đi vào tìm hiểu về “Vấn đề đồng bảo hiểm trong kinh doanh bảo hiểm So sánh đồng bảo hiểm với bảo hiểm trùng trong bảo hiểm tài sản” từ đó đề cập đến một số thông tin, nội dung có liên quan đến vấn đề

này

B - NỘI DUNG.

1 Khái quát chung về bảo hiểm thương mại.

1.1 Khái niệm bảo hiểm thương mại.

Cùng với tự bảo vệ hay tương trợ lẫn nhau thì bảo hiểm được coi là một trong

các phương thức hạn chế, khắc phục rủi ro và được hiểu một cách khái quát nhất là việc

một chủ thể (bên bảo hiểm) chấp nhận bồi thường cho một chủ thể khác (bên được bảo hiểm) nếu xảy ra sự kiện được bảo hiểm và bên bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm Bảo hiểm có thể được chia thành bảo hiểm thương mại, bảo hiểm y tế, bảo hiểm

xã hội Trong đó bảo hiểm xã hội được thiết lập không vì mục đích lợi nhuận còn bảo hiểm thương mại được thực hiện vì mục đích lợi nhuận, kiếm lời và được coi là một

hoạt động kinh doanh theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận bồi thường hoặc trả tiền cho bên mua bảo hiểm hoặc người thụ hưởng, nếu xảy ra sự kiện bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm với điều kiện bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm Từ định

nghĩa này có thể thấy bảo hiểm thương mại có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất, đây là một phương thức kinh doanh Thông qua nghiệp vụ này các

chủ thể thực hiện chúng sẽ hướng tới và tìm kiếm được 1 khoản lợi nhuận nhất định

Thứ hai, sản phẩm bảo hiểm là một dịch vụ tài chính Dù có tên gọi là sản

phẩm nhưng sản phẩm bảo hiểm không phải là một loại hàng hóa hữu hình mà nó là

Trang 3

một loại dịch vụ tài chính (có tính vô hình) Giá trị của nó không thể được đánh giá thông qua việc cầm nắm như các hàng hóa hữu hình mà chỉ được đánh giá thông qua quá trình sử dụng (khi sự kiện bảo hiểm xảy ra), đây là đặc trưng của các loại dịch vụ

Thứ ba, chủ thể thực hiện - doanh nghiệp bảo hiểm Theo Luật kinh doanh

bảo hiểm 2000 sửa đổi bổ sung 2010 (gọi tắt là Luật kinh doanh bảo hiểm) thì chỉ doanh nghiệp bảo hiểm mới có quyền cung cấp các sản phẩm bảo hiểm thương mại trong khi bảo hiểm xã hội là do các cơ quan bảo hiểm xã hội (do nhà nước thành lập quản lý) thực hiện Tuy nhiên không phải doanh nghiệp bảo hiểm nào cũng được triển khai tất cả các loại bảo hiểm

Chẳng hạn doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ chỉ được cung cấp sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ, nếu muốn cung cấp bảo hiểm nhân thọ thì phải thành lập doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ còn doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ được phép cung cấp cả sản phẩm bảo hiểm nhân thọ lẫn phi nhân thọ với điều kiện các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ phải là sản phẩm bổ trợ của sản phẩm bảo hiểm nhân thọ

Thứ tư, việc kinh doanh bảo hiểm thương mại chịu sự điều chỉnh trực tiếp

cuả Luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản có liên quan Nếu như bảo hiểm xã hội

chịu sự điều chỉnh của Luật bảo hiểm xã hội thì hoạt động kinh doanh bảo hiểm chịu sự điều chỉnh của Luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn, trong trường hợp Luật kinh doanh bảo hiểm không quy định thì áp dụng Bộ luật dân sự 2005 Nếu luật chuyên ngành quy định khác thì áp dụng luật chuyên ngành chẳng hạn vấn đề bảo hiểm trong hàng hải thì sẽ ưu tiên áp dụng Bộ luật hàng hải 2004,

1.2 Nguyên tắc bảo hiểm.

Đối tượng của bảo hiểm thương mại có thể là tài sản, con người hoặc trách nhiệm dân sự và được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bảo hiểm kí kết giữa người mua bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm Tuy nhiên để hoạt động này diễn ra công bằng hiệu quả thì chúng phải được thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản sau: nguyên tắc chỉ bảo hiểm đối với rủi ro; nguyên tắc lấy số đông bù số ít; nguyên tắc bồi thường, trả tiền; nguyên tắc trung thực tuyệt đối

Ngoài ra đối với từng loại hình bảo hiểm nhất định sẽ có thêm các nguyên tắc mang tính đặc trưng, chẳng hạn nguyên tắc bồi thường không vượt quá tổn thất thực tế

là nguyên tắc đặc trưng của bảo hiểm tài sản, hay nguyên tắc trả theo mức khoán là nguyên tắc đặc trưng của bảo hiểm nhân thọ

2

Trang 4

1.3 Phân loại bảo hiểm thương mại.

Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau thì sẽ có các loại bảo hiểm khác nhau Chẳng

hạn căn cứ vào đối tượng thì có bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người, bảo hiểm trách nhiệm dân sự Căn cứ theo ý chí của bên mua bảo hiểm thì chia thành bảo hiểm tự nguyện, bảo hiểm bắt buộc Căn cứ vào thời hạn bảo hiểm thì chia thành bảo hiểm ngắn hạn, bảo hiểm dài hạn Căn cứ theo nghiệp vụ thì chia thành bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ Căn cứ theo đặc tính tham gia bảo hiểm thì chia thành nhóm bảo hiểm tham gia có chia lãi và nhóm bảo hiểm tham gia không chia lãi,

2 Đồng bảo hiểm theo quy định của pháp luật và thực tiễn.

2.1 Khái niệm đồng bảo hiểm.

Hiện nay Luật kinh doanh bảo hiểm đã có các quy định về bảo hiểm trùng, tái bảo hiểm nhưng lại không có bất kì quy định nào về đồng bảo hiểm Về nguyên tắc luật không cấm thì các chủ thể có quyền thực hiện, Luật kinh doanh bảo hiểm chỉ quy định bên mua bảo hiểm có quyền lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm để giao kết hợp đồng bảo hiểm mà không quy định phải giao kết với duy nhất một doanh nghiệp để thực hiện việc bảo hiểm cho một đối tượng bảo hiểm, luật cũng không cấm các doanh nghiệp bảo hiểm không được hợp tác với nhau để bảo hiểm cho cùng một đối tượng bảo hiểm hay một đối tượng bảo hiểm chỉ được phép bảo hiểm bởi duy nhất một bên bảo hiểm vì vậy đồng bảo hiểm dù không được quy định trong luật nhưng có xảy ra trên thực tế thì cũng không phải là vi phạm quy định của pháp luật

Từ thực tế diễn ra trên thị trường kinh doanh bảo hiểm thì có thể hiểu đồng bảo hiểm là trường hợp một đối tượng bảo hiểm được bảo hiểm bởi nhiều bên bảo hiểm, trong đó mỗi bên bảo hiểm bảo hiểm tài sản đó theo một tỉ lệ nhất định và người mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm Ngoài các đặc điểm chung của mọi quan hệ bảo

hiểm thương mại thì so với các quan hệ bảo hiểm thông thường khác thì đồng bảo hiểm

có các đặc điểm riêng như:

Thứ nhất, về chủ thể tham gia Giống như mọi quan hệ bảo hiểm khác, đồng

bảo hiểm là quan hệ bảo hiểm cũng có sự tham gia của hai bên chủ thể là doanh nghiệp bảo hiểm và người mua bảo hiểm

Nếu như các quan hệ bảo hiểm khác chỉ có bên mua bảo hiểm và một doanh nghiệp bảo hiểm thì quan hệ đồng bảo hiểm chỉ được thiết lập khi có một bên mua bảo hiểm còn bên bảo hiểm phải có ít nhất từ 2 doanh nghiệp bảo hiểm trở lên Đặc điểm

Trang 5

này có thể giống với trường hợp bảo hiểm trùng và tái bảo hiểm (trong trường hợp có nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhận tái bảo hiểm) nhưng chúng vẫn có điểm khác nhau

về quyền và nghĩa vụ của các bên cũng như cơ sở pháp lý của mối quan hệ sẽ được trình bày ở phần sau Đặc điểm này cũng cho phép phân biệt đồng bảo hiểm với trường hợp bảo hiểm theo nhóm (hợp đồng bảo hiểm chủ) Nếu như đồng bảo hiểm chỉ có một bên mua bảo hiểm và từ 2 doanh nghiệp bảo hiểm trở lên thì trong bảo hiểm theo nhóm

sẽ chỉ có một doanh nghiệp bảo hiểm và một bên mua bảo hiểm cho nhiều người được bảo hiểm Mặc dù giữa 2 loại bảo hiểm này có nội dung rất khác biệt nhưng trên thực tế vẫn có nhiều người hiểu sai do sự nhầm lẫn về khái niệm đồng bảo hiểm

Thứ hai, về cơ sở xác lập Mọi quan hệ bảo hiểm đều được xác lập và thực hiện

trên cơ sở pháp lý là hợp đồng bảo hiểm và đồng bảo hiểm cũng không phải là ngoại lệ Hợp đồng bảo hiểm trong quan hệ đồng bảo hiểm được kí kết trực tiếp giữa bên mua bảo hiểm và bên bảo hiểm Bên mua bảo hiểm chỉ là một người vì vậy sẽ đương nhiên đứng ra kí kết hợp đồng còn bên bảo hiểm lại có từ hai doanh nghiệp bảo hiểm trở lên vậy ai sẽ là người đứng ra đại diện thỏa thuận về phí, điều kiện bảo hiểm, để kí kết hợp đồng với khách hàng Điều này sẽ phụ thuộc vào hợp đồng hợp tác kinh doanh 1 đã

kí kết giữa các doanh nghiệp này (bên mua bảo hiểm phải biết và đồng ý về điều này) Như vậy, có thể thấy ở đây đã có sự khác biệt giữa đồng bảo hiểm với tái bảo hiểm Nếu như quan hệ đồng bảo hiểm được thiết lập trên cơ sở hợp đồng bảo hiểm gốc được kí kết trực tiếp giữa bên bảo hiểm với khách hàng và hợp đồng liên doanh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm thì trong quan hệ tái bảo hiểm mối quan hệ sẽ được xác định dựa trên cơ sở hợp đồng bảo hiểm gốc được kí giữa doanh nghiệp bảo hiểm

nhượng tái với khách hàng và hợp đồng nhượng tái bảo hiểm được kí giữa doanh

nghiệp nhượng tái với doanh nghiệp nhận tái Điều này có nghĩa trong quan hệ đồng bảo hiểm sẽ là quan hệ giữa bên các bên bảo hiểm với khách hàng và quan hệ giữa các bên bảo hiểm với nhau còn trong tái bảo hiểm giữa khách hàng với doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm về nguyên tắc sẽ không có bất kì liên hệ nào với nhau mà khách hàng chỉ

có quan hệ với doanh nghiệp bảo hiểm gốc (doanh nghiệp nhượng tái) và doanh nghiệp nhượng tái sẽ có mối quan hệ với doanh nghiệp nhận tái

Thứ ba, về đối tượng bảo hiểm Đối tượng của đồng bảo hiểm có thể là tài sản,

con người hoặc trách nhiệm dân sự nhưng thông thường đối tượng của các hợp đồng này sẽ là các tài sản có giá trị quá lớn mà một doanh nghiệp bảo hiểm thường không có

1 Khoản 16 điều 3 Luật đầu tư 2005: “ hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư được kí giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác phân chia lợi

nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân”

4

Trang 6

đủ khẳ năng tài chính để bảo hiểm một mình Chính điều này đã thể hiện mục đích, vai trò của đồng bảo hiểm

Thứ tư, về mục đích, trường hợp áp dụng Như đã trình bày ở trên đối tượng

của các hợp đồng đồng bảo hiểm thông thường sẽ là các tài sản, hợp đồng có giá trị quá lớn hoặc mức đội rủi ro cao lợi nhuận thấp mà một doanh nghiệp bảo hiểm thường không có đủ khẳ năng tài chính để tiến hành bảo hiểm Tuy nhiên vì muốn giữ chân khách hàng và chia sẻ bớt rủi ro các doanh nghiệp đã lựa chọn hình thức đồng bảo hiểm

và khách hàng cũng đồng ý với lựa chọn này (vẫn có những trường hợp việc đồng bảo hiểm được thực hiện với sự đề xuất của khách hàng)

2.2 Vai trò của đồng bảo hiểm.

Dù là một dạng bảo hiểm đặc biệt chưa được ghi nhận trong luật nhưng từ thực tiễn áp dụng có thể thấy đây là một loại bảo hiểm có vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp bảo hiểm, người mua bảo hiểm cũng như sự phát triển của thị trường bảo hiểm

* Đối với doanh nghiệp bảo hiểm Đồng bảo hiểm trước tiên cho phép các

doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện bảo hiểm được những hợp đồng bảo hiểm có giá trị lớn trong khi khẳ năng tài chính có hạn hoặc mức độ rủi ro cao điều đó có nghĩa các doanh nghiệp này sẽ giữ chân được khách hàng, không để khách hàng rơi vào tay các doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh Tuy nhiên đồng nghĩa với việc giữ chân được khách hàng, chia sẻ được rủi ro thì các doanh nghiệp bảo hiểm cũng phải chấp nhận việc hợp tác chia sẻ lợi nhuận với nhau

* Đối với khách hàng Việc lựa chọn đồng bảo hiểm sẽ cho phép khách hàng

được bảo hiểm với một điều kiện tương đối hợp lý, thuận lợi (vì có sự kết hợp giữa nhiều bên bảo hiểm) đồng thời giảm thiểu rủi ro cho khách hàng Trong quan hệ đồng bảo hiểm các doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm liên đới vì vậy khi sự kiện bảo hiểm xảy ra trách nhiệm bảo hiểm thường sẽ được bảo đảm thực hiện một cách nhanh chóng, đầy đủ hơn so với trường hợp chỉ có một doanh nghiệp bảo hiểm Vì nếu chỉ có một bên bảo hiểm thì quyền lợi của bên mua bảo hiểm sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào khẳ năng, hoạt động của bên bảo hiểm chẳng hạn nếu bên bảo hiểm đó xảy ra sự cố như phá sản, làm ăn thua lỗ thì quyền lợi của khách hàng chưa chắc đã được đảm bảo nhất là đối với các hợp đồng có giá trị lớn hoặc doanh nghiệp có tiềm lực tài chính yếu kém

* Đối với sự phát triển của thị trường bảo hiểm Đồng bảo hiểm góp phần giảm

thiểu rủi ro cho cả bên bảo hiểm lẫn bên mua bảo hiểm điều này có nghĩa nó sẽ giúp

Trang 7

giảm thiểu rủi ro cho toàn bộ thị trường bảo hiểm từ đó góp phần thúc đẩy thị trường bảo hiểm phát triển ổn định an toàn Hơn nữa đồng bảo hiểm còn tăng cường sự hợp tác, cạnh tranh lành mạnh, công bằng giữa các doanh nghiệp bảo hiểm, khai thác tối đa tiềm năng khách hàng đồng thời hạn chế tình trạng độc quyền, cá lớn nuốt cá bé

2.3 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ đồng bảo hiểm.

Đồng bảo hiểm là một dạng đặc biệt của bảo hiểm thương mại có nghĩa về nguyên tắc các vấn đề liên quan đền hình thức hợp đồng, nội dung hợp đồng, điều kiện

có hiệu lực của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên sẽ do các bên thỏa thuận và chịu sự điều chỉnh của Luật kinh doanh bảo hiểm và pháp luật có liên quan Vì nội dung đề tài là tìm hiểu về vấn đề đồng bảo hiểm nên bài luận sẽ không đi vào tìm hiểu

về các quyền và nghĩa vụ thông thường của các bên trong đồng bảo hiểm như nghĩa vụ cung cấp thông tin, nghĩa vụ hướng dẫn, giải thích, quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng, vì các quyền và nghĩa vụ này là giống như các quan hệ bảo hiểm thông thường khác, mà chỉ đi vào tìm hiểu về quyền và nghĩa vụ của các bên khi trách nhiệm bảo hiểm phát sinh - một vấn đề tương đối phức tạp của đồng bảo hiểm

Trong quan hệ đồng bảo hiểm có sự tham gia của 2 bên chủ thể là bên mua bảo hiểm và bên bảo hiểm, bên bảo hiểm lại có từ 2 doanh nghiệp bảo hiểm trở lên Theo nguyên tắc chung khi sự kiện bảo hiểm phát sinh thì trách nhiệm bảo hiểm - nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm cũng đồng thời phát sinh (khi có đủ các điều kiện bảo hiểm) tuy nhiên trong đồng bảo hiểm lại có nhiều doanh nghiệp bảo hiểm vậy trách nhiệm bảo hiểm sẽ thuộc về doanh nghiệp nào?

Trong tái bảo hiểm, theo điều 27 Luật kinh doanh bảo hiểm thì khi trách nhiệm bảo hiểm phát sinh, doanh nghiệp bảo hiểm (doanh nghiệp nhượng tái) sẽ là doanh nghiệp chịu trách nhiệm duy nhất trước khách hàng và khách hàng không được phép yêu cầu doanh nghiệp nhận tái thực hiện trách nhiệm bảo hiểm (trừ trường hợp các bên

có thỏa thuận khác), sau khi doanh nghiệp nhượng tái thực hiện trách nhiệm bảo hiểm với khách hàng thì các doanh nghiệp nhận tái sẽ phải thực hiện trách nhiệm với doanh nghiệp nhượng tái theo tỉ lệ nhận tái Còn đối với đồng bảo hiểm, Luật kinh doanh bảo hiểm không có quy định cụ thể vì vậy để xác định trách nhiệm của các bên trong thực

tế hầu hết đều dựa vào quy định của luật dân sự về nghĩa vụ dân sự liên đới

Sở dĩ nói để xác định trách nhiệm của các doanh nghiệp bảo hiểm trong quan hệ đồng bảo hiểm khi trách nhiệm bảo hiểm phát sinh phải dựa vào quy định của luật dân

6

Trang 8

sự về nghĩa vụ dân sự liên đới là do trách nhiệm trả tiền bảo hiểm, trách nhiệm bồi thường của các doanh nghiệp này đối với bên mua bảo hiểm lúc này cũng giống như nghĩa vụ dân sự liên đới trong dân sự Theo quy định tại điều 298 Bộ luật dân sự 2005

thì nghĩa vụ dân sự liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn

bộ nghĩa vụ Trong trường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình Vì vậy trong quan hệ đồng bảo hiểm:

* Các doanh nghiệp đồng bảo hiểm phải chịu trách nhiệm liên đới với nhau theo

tỉ lệ nhận bảo hiểm thỏa thuận trong hợp đồng hợp tác kinh doanh

* Bên mua bảo hiểm có quyền chỉ định bất kì trong số các doanh nghiệp đồng bảo hiểm thực hiện trách nhiệm trả tiền hoặc bồi thường Trường hợp một doanh

nghiệp bảo hiểm đã thực hiện trách nhiệm bảo hiểm trước bên mua bảo hiểm thì có quyề yêu cầu các doanh nghiệp đồng bảo hiểm còn lại thực hiện nghĩa vụ hoàn lại tương ứng với số tiền bảo hiểm mà đáng lẽ họ phải chi trả cho bên mua bảo hiểm

* Trường hợp bên mua bảo hiểm đã chỉ định yêu cầu 1 doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện trách nhiệm bảo hiểm nhưng sau đó lại miễn trách nhiệm bảo hiểm cho doanh nghiệp này thì các doanh nghiệp đồng bảo hiểm còn lại cũng sẽ được miễn trách nhiệm bảo hiểm Trong trường hợp bên mua bảo hiểm chỉ miễn trách nhiệm bảo hiểm cho một hoặc một số doanh nghiệp bảo hiểm nhất định thì các doanh nghiệp đồng bảo hiểm còn lại vẫn phải liên đới thực hiện phần trách nhiệm của mình

* Tính liên đới trong trách nhiệm của các doanh nghiệp bảo hiểm trong quan hệ đồng bảo hiểm còn thể hiện ở chỗ nếu như có bất kì doanh nghiệp nào chưa thực hiện xong trách nhiệm bảo hiểm thì các doanh nghiệp khác dù đã thực hiện xong phần trách nhiệm tương ứng với tỉ lệ nhận bảo hiểm của mình thì vẫn bị coi là chưa thực hiện xong trách nhiệm và vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm

Ví dụ: Ông V kí hợp đồng đồng bảo hiểm cho thân tầu chiếc tầu của mình với

số tiền bảo hiểm là 10 tỉ VNĐ với các doanh nghiệp bảo hiểm X và Y, trong đó X là đại diện cho bên bảo hiểm, hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa X và Y thỏa thuận X và Y sẽ nhận bảo hiểm cho thân tầu của ông V với tỉ lệ là 7:3, tức X sẽ nhận bảo hiểm cho thân tầu của ông V với số tiền là 7 tỉ VNĐ còn Y là 3 tỉ VNĐ Khi sự kiện bảo hiểm phát sinh thiệt hại xảy ra là 4 tỉ VNĐ, lúc này trách nhiệm bảo hiểm được xác định như sau:

Trang 9

- Ông V có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm X hoặc Y thực hiện toàn bộ trách nhiệm bảo hiểm là 4 tỉ VNĐ

- Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm X hoặc Y đã thực hiện hết trách nhiệm bảo hiểm (4 tỉ VNĐ) trước ông V thì sẽ có quyền yêu cầu doanh nghiệp còn lại thực hiện nghĩa vụ hoàn lại Chẳng hạn nếu doanh nghiệp bảo hiểm Y đã thực hiện thì

có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm X hoàn lại 70% số tiền bồi thường (tương ứng với 70% số tiền bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm X đã nhận bảo hiểm)

- Trách nhiệm bảo hiểm chỉ được coi là hoàn thành khi doanh nghiệp bảo hiểm

X hoặc doanh nghiệp bảo hiểm Y hoặc cả 2 giao đủ 4 tỉ cho ông V Nếu mới chỉ có doanh nghiệp X hoặc doanh nghiệp Y thực hiện trách nhiệm theo tỉ lệ nhận tiền bảo hiểm thì trách nhiệm bảo hiểm vẫn là chưa hoàn thành và các bên phải liên đới chịu trách nhiệm

2.4 Vấn đề đồng bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm Việt Nam.

Đồng bảo hiểm dù chưa được ghi nhận trong các văn bản pháp luật nhưng cũng

không còn là vấn đề xa lạ hay mới mẻ trên thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay Như

đã phân tích ở trên thì đồng bảo hiểm chủ yếu được áp dụng đối với các hợp đồng có giá trị quá lớn hoặc tính rủi ro cao do vậy hiện nay đồng bảo hiểm thường chỉ được áp dụng đối với các loại bảo hiểm như bảo hiểm thân tầu Đây là loại bảo hiểm có giá trị lớn, mức độ rủi ro cao, theo tính toán của các doanh nghiệp bảo hiểm thì tính cả năm

2011, đây là năm thứ 11 liên tiếp, nghiệp vụ bảo hiểm tàu thủy có số tiền phải bồi thường lớn hơn doanh thu phí bảo hiểm 2 hay điều này có nghĩa doanh nghiệp bảo hiểm đang phải chịu lỗ đối với sản phẩm bảo hiểm này nhưng để nâng cao uy tín và giữ chân khách hàng thì các doanh nghiệp bảo hiển vẫn phải nhận bảo hiểm thân tầu và đồng bảo hiểm là một giải pháp thích hợp

Ở nước ta với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm ướt, địa hình bờ biển phức tạp khắc nghiệt dẫn đến nguy cơ thiệt hại thân tầu càng cao đã làm cho bảo hiểm thân tầu trở nên ít hấp dẫn các doanh nghiệp bảo hiểm hơn tuy nhiên theo số liệu thống

kê thì tính đến hết 9 tháng đầu năm 2011 bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu đạt doanh thu 1.473 tỉ đồng, tăng 6,7% trong đó có nhiều hợp đồng là đồng bảo hiểm Các doanh nghiệp bảo hiểm dẫn đầu về doanh thu gồm PVI 450 tỉ đồng, Bảo Việt 436 tỉ đồng, Bảo Minh 181 tỉ đồng, Pjico 173 tỉ đồng, Toàn Cầu 47 tỉ đồng Số tiền

2 http://taichinh.vnexpress.net/tin-tuc/thi-truong/2012/03/bao-hiem-than-tau-di-tong-vi-su-co-vinaline-queen-7034/

8

Trang 10

bồi thường toàn nghiệp vụ 569 tỉ đồng, chiếm 39% Các doanh nghiệp có tỉ lệ bồi thường cao là BIC 183%, Bảo Việt 64%, Pjico 49%, Bảo Long 24% 3 Một trong những ví dụ điển hình về đồng bảo hiểm thân tầu mà doanh nghiệp bảo hiểm bị thua lỗ

là vụ bảo hiểm thân tầu cho tầu Vinalines Queen, theo một số thông tin từ lãnh đạo

Công ty Vận tải biển Vinalines thì tàu Vinalines Queen trọng tải 56.700 tấn, là một trong những tàu chở hàng rời lớn và hiện đại nhất của Vinalines và Vinalines đã ký hợp đồng bảo hiểm tàu Vinalines Queen tại CTCP Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp (ABIC) với trị giá 27 triệu USD 4 và MIC là một trong các doanh nghiệp tham gia đồng bảo hiểm thân tàu Vinaline Queen với trị giá 2 triệu USD 5 tuy nhiên vụ chìm tầu Vinalines Queen đã dẫn đến thiệt hại nặng nề cho ngành bảo hiểm

Không chỉ có sự thua lỗ của các doanh nghiệp trong đồng bảo hiểm đối với sản phẩm bảo hiểm thân tàu mà vấn đề đồng bảo hiểm ở nước ta hiện nay còn nhiều vấn đề bất cập trong xác định trách nhiệm của bên bảo hiểm khi trách nhiệm bảo hiểm phát sinh Về nguyên tắc cũng như trên thực tiễn áp dụng đều xác định các doanh nghiệp bảo hiểm trong quan hệ đồng bảo hiểm phải chịu trách nhiệm liên đới với nhau trước bên mua bảo hiểm nhưng trong nhiều hợp đồng bảo hiểm lại không như vậy Xác định

là một chuyện nhưng không có căn cứ pháp lý rõ ràng, cụ thể lại là chuyện khác Thông thường trong các hợp đồng đồng bảo hiểm nếu các bên không thỏa thuận rõ ràng về trách nhiệm liên đới của bên bảo hiểm thì khi trách nhiệm bảo hiểm phát sinh thường xảy ra tình trạng cha chung không ai khóc, người mua bảo hiểm, người thụ hưởng thì mòn mỏi đợi tiền bảo hiểm còn các doanh nghiệp đồng bảo hiểm lại đùn đẩy trách nhiệm cho nhau hay chỉ có một số doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm còn một số thì không nhưng vẫn cho rằng mình đã thực hiện xong trách nhiệm bảo hiểm điều này

đã làm mất đi tính hiệu quả ý nghĩa của đồng bảo hiểm, làm mất niềm tin của người mua bảo hiểm đối với loại bảo hiểm đặc biệt này Vì vậy, Luật kinh doanh bảo hiểm cần nhanh chóng bổ sung quy định về vấn đề này, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc xác định quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ đồng bảo hiểm

3 So sánh đồng bảo hiểm với bảo hiểm trùng trong bảo hiểm tài sản.

3.1 Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trùng.

* Bảo hiểm tài sản: là sản phẩm bảo hiểm theo đó doanh nghiệp bảo hiểm cam

kết bồi thường cho bên được bảo hiểm khi có tổn thất xảy ra đối với tài sản được bảo

3 http://home.abic.com.vn/Default.aspx?Page=NewsDetail&Id=36545

4 http://www.tinmoi.vn/bao-hiem-than-tau-vinalines-queen-cho-sau-tet-05730305.html

5 http://mic.vn/showdetail.asp?msgid=502

Ngày đăng: 14/11/2018, 17:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w