Riêng việc vận dụng các lý thuyết của khoa học tự nhiên vào đọc hiểu văn bảntheo thể loại còn những điểm chưa dễ thống nhất: + Trước hết, quan niệm về việc vận dụng kiến thức khoa học tự
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NAM ĐỊNH
TRƯỜNG THPT
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
VẬN DỤNG LÝ THUYẾT VẬT LÍ VÀ TOÁN HỌC VÀO ĐỌC HIỂU TRUYỆN NGẮN THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI
THỰC NGHIỆM QUA CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA
CỦA NGUYỄN MINH CHÂU
Người thực hiện:
Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ Chức vụ: Giáo viên THPT Đơn vị công tác: Trường THPT
Trang 2Năm học 2016 - 20171.Tên sáng kiến:
Vận dụng lý thuyết vật lí và toán học vào đọc hiểu truyện ngắn theo đặc trưng
thể loại, thực nghiệm qua Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu.
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Khoa học Sư phạm (Phương pháp dạy học Ngữ văn)
3 Thời gian áp dụng sáng kiến:
Từ ngày 25 tháng 8 năm 2015 đến ngày 20 tháng 5 năm 2017
Trang 4BÁO CÁO SÁNG KIẾN
I Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến.
1 Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục:
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật hiện nay dẫn đến kết quả là sự xuấthiện nhanh, nhiều những tri thức, những kĩ năng và những lĩnh vực nghiên cứu mới.Đồng thời những tri thức cũ nhanh chóng trở nên lỗi thời, lạc hậu, diễn ra với tốc độ ngàycàng nhanh Không những vậy, những phát minh vĩ đại của yếu tố của lực lượng sản xuất
và của phương thức sản xuất tiên tiến hiện đại, công nghệ cao đã đưa thế giới bước sangthời kì toàn cầu hóa giai đoạn 3 Hội nhập quốc tế sâu rộng và mạnh mẽ đã biến các quốc
gia, khu vực thành những láng giềng sát vách trong sân chơi của một “thế giới phẳng”.
Nắm vững quy luật này, Việt nam cũng đã chủ động hội nhập, tham gia trường quốc tếtoàn diện, tích cực trên mọi lĩnh vực của đời sống
Một trong các nhân tố quan trọng đưa nước ta hội nhập thành công, chủ động nắmbắt thời cơ và vượt qua thử thách mà Việt Nam xác định, đó là giáo dục và đào tạo Xác
định “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”, ngay trong Luật Giáo dục nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã quy định: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động,tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” (Luật Giáo dục 2005) Hơn thế nữa trong Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 2, Ban chấp hànhTrung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá VIII,
khẳng định: “Phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một
chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học…”
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hànhTrung ương Đảng cộng sản Việt
Nam khoá XI, với Nghị quyết 29-NQ/TW, về việc “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo
dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong thời kì kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, cũng tiếp tục khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh
mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ
sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”.
Tất cả các yếu tố trên đã đặt một nhiệm vụ không hề nhỏ, mang tính chất quyếtđịnh bước ngoặt cho giáo dục đào tạo Việt Nam tại thời điểm ngày nay Đổi mới phươngpháp dạy học sẽ là xu hướng mang tính toàn cầu then chốt trong giáo dục, trong đó khôngthể bỏ qua vai trò của giáo dục Ngữ văn trong trường THPT
Trang 52 Thực trạng việc vận dụng vật lí và toán học vào đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại trong giờ dạy học tác phẩm văn chương ở THPT
2.1 Cách thức khảo sát thực trạng
Đi vào thực hiện đề tài, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng của việc vậndụng các kiến thức khoa học khác nhau, dạy học tích hợp liên môn, đổi mới phương phápdạy học… trong giờ học đọc hiểu các tác phẩm văn chương ở THPT bằng nhiều cách:tham dự các cuộc hội thảo về đổi mới PP dạy học Ngữ văn, dự giờ thăm lớp, phỏng vấn
GV, thăm dò ý kiến GV và HS bằng phiếu trả lời trắc nghiệm, quan sát việc soạn bài, ghibài của HS,…
2.2 Những biểu hiện cụ thể của thực trạng
2.2.1 Về phía giáo viên
Đa số GV đều có ý thức trong việc đổi mới PP dạy học vận dụng các kiến thức đặctrưng thể loại, dạy học tích hợp liên môn và bước đầu vận dụng các vấn đề đó vào giờdạy học Ngữ văn nói chung, giờ đọc - hiểu văn bản văn học nói riêng Về việc vận dụngphương thức trên trong giờ dạy học TP văn chương, phần đông GV nhận thức rằng đây làmột trong những quan điểm, PP dạy học có vai trò quan trọng, phát huy được tính tíchcực chủ động của HS, góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng dạy và học văn
Tuy nhiên, trong thực tế vận dụng, GV còn nhiều lúng túng, chưa phát huy đọchiểu văn bản văn học đúng theo đặc trưng thể loại đặc biệt là việc vận dụng các kiến thứckhoa học khác nhau, trong đó vắng bóng khoa học tự nhiên vào đọc hiểu văn bản GV sửdụng kiến thức của Sử - Địa - Giáo dục công dân là phổ biến hơn
Trong tiến trình dạy học, GV chưa định hướng cách thức tiếp cận giải mã một vănbản theo đúng đặc trưng của nó, chưa sử dụng đồng bộ các phương pháp Nhiều GV cònnặng về diễn giảng, đôi lúc say sưa “độc tấu” hoặc hỏi rồi tự trả lời Thỉnh thoảng GVmới nhấn mạnh vấn đề (chỉ dùng vào phần trọng tâm bài học), bằng việc cho HS ghi lạilời bình của mình về đơn vị kiến thức mà không chỉ rõ hay làm sáng tỏ bản chất thực sựcủa kiến thức Vì thế mà làm mất đi mối liên hệ giữa các bộ môn khoa học, không khắc
sâu được kiến thức và đặc biệt là không tạo ra một môi trường cho HS chủ động sáng tạo
trong việc tiếp nhận văn bản văn học
Một điểm nữa là sự đơn điệu trong cách hướng dẫn học tập cho học sinh của GV(chủ yếu là hỏi đáp, ghi bảng và chép vở) GV chưa thực sự có sự công não, đa dạng cáchoạt động học cho HS Vì thế, từ cách nêu vấn đề đến tổ chức các hoạt động dạy họcchưa tạo được niềm say mê, hứng thú và hấp dẫn HS trong giờ học
2.2.2 Về phía học sinh
Sự nhận thức của HS về vai trò của các kiến thức khoa học khác nhau, kiến thức vềthể trong giờ đọc - hiểu còn thấp HS chỉ tái hiện kiến thức một cách thụ động, đơn lẻ, rất
Trang 6ít HS vận dụng đa dạng sáng tạo kiến thức về thể loại và các bộ môn khác đặc biệt làkhoa học tự nhiên trong các tình huống của bài học Vì thế, trong giờ đọc - hiểu phần lớnhoạt động học của HS vẫn dừng lại ở mức độ nghe giảng ghi chép, chứ chưa có ý thứctham gia vào các hoạt động dạy và học HS ngại phát biểu ý kiến xây dựng bài Khi được
GV mời trả lời HS thường lúng túng Giờ văn vì thế mà trở nên nặng nề, mệt mỏi, HSkém hào hứng chờ đợi Do đó dẫn đến hiệu quả lĩnh hội kiến thức còn thấp nên kết quảhọc tập bộ môn chưa cao
Trong giờ học hoặc qua các bài kiểm tra, HS tỏ ra dựa dẫm vào lời, bài ghi của
GV hoặc tài liệu tham khảo, chưa chú ý phát huy năng lực độc lập suy nghĩ Khả
năng khái quát hóa, khả năng vận dụng các kiến thức vào tình huống thực tế, bộc lộ cảmxúc thẩm mĩ của HS còn hạn chế
2.3 Nguyên nhân
Tình hình chung về bộ môn Ngữ văn hiện nay:
+ HS học tập miễn cưỡng, chiếu lệ, nhiều khi chán ngán
+ GV thừa nhiệt tình nhưng chưa đủ kiến thức sâu rộng và khả năng linh hoạt về phươngpháp giảng dạy
Riêng việc vận dụng các lý thuyết của khoa học tự nhiên vào đọc hiểu văn bảntheo thể loại còn những điểm chưa dễ thống nhất:
+ Trước hết, quan niệm về việc vận dụng kiến thức khoa học tự nhiên vào dạy học đọchiểu văn bản văn học còn những điểm chưa nhất trí Có ý kiến cho rằng văn bản văn họcchỉ có mối quan hệ mật thiết với các bộ môn khoa học xã hội, việc vận dụng khoa học tựnhiên vào văn học sẽ làm khô cứng, công thức hóa văn học Do vậy, không dễ dàng nêunhững vấn đề như vậy trong giờ học văn bản văn học Vì thế, xảy ra tình trạng GV văn cóphần dè dặt khi tiếp cận văn bản văn học dưới góc nhìn mới, khi vận dụng thành tựu củacác khoa học tự nhiên và dạy học Ngữ văn
+ Mặt khác, trong thực tế dạy học văn hiện nay, có hiện tượng dễ dãi khi tiếp cận văn bảnvăn học, mang tính chủ quan cảm xúc cao của người dạy mà đôi khi tác rời, thoát xa khỏivăn bản với đặc trưng và quy luật của nhận thức trong khoa học Bởi khi tổ chức dạy học,người dạy cũng chưa xác định rõ đặc trưng thể loại bộc lộ ở các phương diện nào, cần sửdụng các kiến thức các môn học khác ra sao để HS hiểu rõ ràng vấn đề Và thêm vào đó,
do chưa có nhiều phông nền sâu rộng về văn hóa, kiến thức và phương pháp nên ngườidạy sử dụng đơn điệu về phương pháp tổ chức dạy học, áp đặt về kiến thức truyền đạt
HS chưa được học tập thường xuyên trong môi trường học tập mới (thực tế, sử dụng kiếnthức nhiều môn học, trò chơi, trải nghiệm ), lối mòn cách học từ lớp dưới, tạo rào cảncho GV trong việc đổi mới phương pháp
+ Cơ sở vật chất một số trường học không đủ đáp ứng cho sự đột phá đổi mới dạy học…
Trang 7Những nguyên nhân trên đã dẫn đến việc sử dụng các lý thuyết khoa học tự nhiêntrong đó có vật lí và toán học vào giờ đọc - hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại cònnhiều hạn chế, đọc - hiểu văn bản hiệu quả chưa cao Trước thực trạng đó chúng tôi đã
lựa chọn đề tài: Vận dụng lý thuyết vật lí và toán học vào đọc hiểu văn bản truyện
ngắn theo đặc trưng thể loại, thực nghiệm qua Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn
Minh Châu làm vấn đề nghiên cứu và thực nghiệm cho mình Đây là đề tài mới mà
chúng tôi chưa thấy có tác giả, công trình, sáng kiến kinh nghiệm nào nghiên cứu và quaquá trình thực nghiệm giảng dạy của mình chúng tôi thấy có những kết quả khả quan.Tuy nhiên, đây lại là vấn đề lớn của tiếp cận văn học và thực nghiệm sư phạm, kinhnghiệm cá nhân có hạn, nên không thể tránh khỏi sự chủ quan và khiếm khuyết Vì vậychúng tôi chân thành mong đợi được sự đóng góp ý kiến quý báu của các nhà chuyênmôn, thầy cô và bạn đọc
II Mô tả giải pháp
1 Mô tả giải pháp trước khi có sáng kiến qua bảng so sánh giảng dạy bài học trước
và sau khi có sáng kiến
Chưa đề cao vai trò chủ
thể sáng tạo tiếp nhận của
giáo viên
GV và HS đọc như một chủ thể tiếp nhận độc lập.
GV phải tiếp nhận văn bản như một độc giả, tương tác với các tài liệu khác để định hình kiến thức cơ bản cốt lõi và các năng lực cần đạt cho Hs.
GV dự kiến sự tiếp nhận HS để có sự hướng dẫn tiếp cận, đọc hiểu phù hợp qua các lí thuyết tiếp nhận khoa học phù hợp hiệu quả đối với đặc điểm bài học.
Tiếp nhận từ nghệ thuật
đến nội dung
Chủ yếu nắm nội dung
của GV (thiên về truyền
đạt nội dung) Chưa vận
dụng lí thuyết của khoa
học tự nhiên vào đọc
hiểu.
Tiếp nhận chủ yếu từ phía
giáo viên ít đề cao vai trò
tiếp nhận của học sinh
Xác định rõ tư tưởng, quan điểm, phong cách nghệ thuật tác giả, giai đoạn văn học.
Tiếp nhận trên đặc trưng thể loại truyện ngắn (tình huống truyện, nhân vật, chi tiết…) vận dụng các lý thuyết của vật lí và toán học để giải mã các đặc trưng thể loại, hướng dẫn HS tiếp nhận đúng văn bản.
Đề cao vai trò tiếp nhận của HS qua việc định hướng của GV bằng phiếu học tập (phát huy chủ thể HS mà vẫn trong sự định hướng của GV)
Tương tác giữa các các HS và GV đưa ra kiến thức cần đạt, xoay quanh trung tâm tiếp nhận là văn bản 1.2 Tiến trình tổ chức các hoạt động dạy học
Trang 8Học sinh chuẩn bị bài qua phiếu học tập Nắm vững
các đặc điểm thể loại truyện ngắn biểu hiện trong văn
bản
Phương pháp:
Thuyết trình, phát
vấn
Phương pháp: Ngoài thuyết trình, phát vấn, chúng tôi
tích hợp với kiến thức toán học, vật lí, cho HS thảo
luận, sơ đồ tư duy (Graph), hướng dẫn tự học qua sơ đồ,bảng biểu, tổ chức trò chơi theo nhóm… Phát huy nănglực tìm thông tin, tự học, năng lực giao tiếp, tự tin trìnhbày trước đám đông
Các nhân vật gia đình hàng chài – hiện thực cuộc sống.Các nhân vật trải nghiệm – quá trình nhận thức
Bức ảnh chiếc thuyền ngoài xa – tuyên ngôn nghệ thuật.Phương pháp:
tư duy (Graph), hướng dẫn tự học qua sơ đồ, bảng biểu.Phát huy năng lực tìm thông tin, tự học, giao tiếp, tự tintrình bày trước đám đông
Luyện
tập
Câu hỏi tự luận, tái
hiện kiến thức, thiên
về ghi nhớ nội dung
Đọc hiểu văn bản khác của Nguyễn Minh Châu hoặccác truyện ngắn sau 1975 của tác giả khác bằng các câuhỏi nêu vấn đề vận dụng vào thực tế, câu hỏi tích hợpkiến thức, câu hỏi kiến thức theo thể loại
1.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Trang 9Phương diện Trước khi có sáng kiến Sau khi có sáng kiến
Phần chuẩn
bị ở nhà
HS đọc và soạn bài theo gợidẫn Sgk
HS làm việc đơn lẻ chưa có
sự định hướng chi tiết củaGV
Chuẩn bị bài theo câu hỏi Sgk và phiếu học tập của GV Chia nhóm để hình thành tương tác Có thể sử dụng kết nối mạng để trao đổi giữa HS với
GV và giữa HS với nhau.
Sử dụng CNTT chỉ để trìnhchiếu nội dung bài học
HS chưa sử dụng kiến thứcliên môn, chưa có cơ hộiphát huy năng lực bản thân,chưa chủ động tương táctrên nội dung bài học
Sử dụng đa dạng các phương pháp Thuyết trình vấn đáp thảo luận nhóm
và Graph cùng với kĩ thuật dạy học hiện đại Sử dụng kiến thức liên môn (Lí, toán…).
HS thảo luận nhóm, tương tác, thuyết trình sản phẩm và tạo lập sơ đồ tư duy cho bài học
CNTT hỗ trợ dạy học, tạo sơ đồ hóa, tạo liên kết các thành viên
Từ bảng so sánh hai cách học khi chưa áp dụng đề tài và theo thực hiện theo đề tàisáng kiến ở trên, chúng tôi thấy rằng ưu điểm lớn nhất của phương pháp này là đã chuyển
từ hoạt động dạy sang học, học sinh chủ động tích cực từ chuẩn bị đến học và kiểm trađánh giá Không những vậy, đơn vị kiến thức bài học đã được soi chiếu dưới đặc trưngthể loại và các kiến thức của các môn khoa học khác đặc biệt là tự nhiên nên bản chấtkhoa học của kiến thức được làm sáng rõ dễ tiếp nhận Từ tiền đề đó, việc sử dụng sơ đồhóa Graph biến kiến thức trừu tượng trở nên cụ thể hàm súc cô đọng HS dễ nhớ, dễ vậndụng vào đọc hiểu văn bản khác cũng như giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sốnglàm thay đổi thực trạng dạy học thụ động Ngữ văn hiện nay Với phương pháp này đãphát huy được các năng lực phẩm chất người học, tích hợp các kiến thức phù hợp với yêucầu đổi mới phương pháp và tích hợp liên môn trong dạy học hiện nay
2 Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến: Vận dụng lý thuyết vật lí và toán học vào
đọc hiểu văn bản truyện ngắn theo đặc trưng thể loại, thực nghiệm qua Chiếc
thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
2.1 Vận dụng lý thuyết vật lí và toán học vào đọc hiểu văn bản truyện ngắn theo đặc trưng thể loại
Trang 102.1.1 Đặc trưng của thể loại truyện ngắn
Văn học là loại hình nghệ thuật có từ xa xưa gắn liền với sự ra đời và phát triểncủa xã hội loài người Khi có văn học thì thể loại văn học cũng được xác lập Thể loạivăn học là cách thức con người chiếm lĩnh và biểu đạt, tái hiện miêu tả cuộc sống qualăng kính, quan niệm, cảm xúc của người nghệ sĩ Có những thể loại ra đời từ rất sớmnhưng cũng có thể loại mới xuất hiện Mỗi thể loại ra đời đều có số phận riêng của nó
Truyện ngắn là thể loại mới Nhưng trong nền văn học hiện đại, truyện ngắn có vịtrí đặc biệt quan trọng chiếm vị trí trung tâm của bất kì nền văn học của mỗi quốc gia.Hầu hết các nhà văn lớn trên thế giới đều sáng tác cho mình những truyện ngắn trong sựnghiệp cầm bút Truyện ngắn trở thành thể loại chính trong sáng tác và nghiên cứu
Truyện ngắn có xu hướng phản ánh, miêu tả đời sống trong những khoảnh khắctình thế có ý nghĩa Cho nên truyện ngắn không chỉ chiếm vị trí độc tôn trong nền vănhọc mà còn có sự đa dạng trong các tiểu loại Các tiểu loại này hoặc là đi sâu phản ánhmột mặt nào đó của đời sống xã hội hoặc là thể hiện một cách chiếm lĩnh, miêu tả đờisống Chính điều này đã tạo cho truyện ngắn sức sống và vẻ đẹp hấp dẫn Vì vậy nó cũngtạo ra không ít khó khăn trong việc xác lập, nghiên cứu thể loại này
Một mặt khác truyện ngắn là loại hình luôn so sánh đối chiếu với một thể loại gầngũi với nó là tiểu thuyết Và cả hai thể loại này chưa phân định rõ ràng về ranh giới, chưađược quy chuẩn về thể loại Nhưng dù thế nào đi nữa chúng ta cũng sẽ phải tìm raphương pháp và cách thức cơ bản nhất để tiếp cận truyện ngắn Vận dụng tư tưởng và lí
luận của Bakhtin về thể loại “Thể loại như một loại hình nghệ thuật, chỉnh thể nghệ
thuật, hệ thống nghệ thuật” để chúng ta xác lập cấu trúc của văn bản tự sự nói chung
và của truyện ngắn nói riêng Mỗi văn bản tự sự đều có ba phương diện cơ bản:
1 Sự kiện, biến cố được nói đến trong văn bản;
2 Sự kể lại sự kiện bằng ngôn từ;
3 Mối tương quan giữa sự kiện và sự kể
Từ cấu trúc đó ta sẽ so sánh với thể loại tiểu thuyết – thể loại gần gũi nhất vớitruyện ngắn để tìm ra đặc trưng khu biệt của truyện ngắn
2.1.1.1 Sự kiện, biến cố trong văn bản - Tình huống, chi tiết và nhân vật
Nói đến loại hình tự sự, trước hết là ta phải tìm hiểu nghiên cứu sự kiện, biến cố
được đề cập đến trong văn bản Đây chính là thế giới thứ 2, thế giới được phản ánh, thế
giới ý niệm, hư cấu mà tác giả tạo ra để phản ánh và chiếm lĩnh thế giới thứ 1, thế giớithực của đời sống Bằng sự tưởng và hư cấu của mình trên nền hiện thực tác giả thể hiệnquan niệm của mình về thế giới qua việc dụng công xây dựng nên các nhân vật mang các
sự kiện Nhân vật mang sự kiện được đặt trong những không gian và thời gian xác địnhqua lời kể sẽ tạo thành dòng chảy tác phẩm, tạo thành cốt truyện
Trang 11Cả tiểu thuyết và truyện ngắn đều chứa các sự kiện biến cố vì thế nhiều ngườithường dựa vào dung lượng để phân biệt tiểu thuyết và truyện ngắn Nhưng đây chỉ làcách phân loại cơ học mang tính bên ngoài, bởi vì có một số truyện ngắn lại rất dài vềdung lượng đôi khi dài hơn dung lượng văn bản của một tiểu thuyết (mà người ta gọi làtiểu thuyết mini) vẫn được xếp vào thể loại truyện ngắn Vậy dựa vào đâu mà gọi tênđúng thể loại? Ta chỉ dựa vào cách sử dụng sự kiện và biến cố cũng như giá trị của nótrong tạo dựng văn bản để mà phân loại Đối với tiểu thuyết, sự kiện biến cố trong thếgiới hư cấu được kể là hiện thực chưa hoàn tất Sự kiện tiểu thuyết là một chuỗi các sựkiện có quan hệ với nhau như dòng chảy lịch sử khó xác định điểm khởi đầu và kết thúc.
Vì thế, tiểu thuyết có xu hướng phản ánh thế giới một cách bao quát, tổng thể, rộng lớnkhái quát nhất Khởi đầu ẩn khuất ở nơi xa xăm, nơi cội nguồn cộng đồng dòng tộc.Tương lai của hiện tại thì chưa xác lập Sự kiện tiểu thuyết xảy ra tại thời điểm hiện tạicủa một cái gì tiếp nối, đã xảy ra trong quá khứ và chuẩn bị cho một cái gì nảy sinh pháttriển trong tương lai Nhưng ta chưa ý thức được Nhân vật tiểu thuyết sống trong nội tạicủa lịch sử, của hiện tại chưa được hoàn tất Nhân vật không biết điều gì xảy ra với mình.Ngay cả bản thân họ chưa xác định được mình là ai Họ luôn mâu thuẫn với chính họ,không trùng khớp với họ trong cả suy nghĩ hành động và mục đích
Đối với truyện ngắn thì sự kiện biến cố hoàn toàn khác Sự kiện biến cố trongtruyện ngắn lại đã hoàn tất, gắn liền với những khoảnh khắc thực tại Điều đó có nghĩa làngười kể chuyện thường đang đứng tại đó quan sát và kể trực tiếp Sự kiện và biến cốtrong truyện ngắn chỉ có một hoặc nhiều nhất là vài sự kiện biến cố chính có ý nghĩanhất Nó không là dòng chảy như tiểu thuyết mà là những khúc quanh, con đập, lát cắtcủa dòng chảy đó Nó phản ánh thế giới qua một điểm then chốt tạo nên sự bùng nổ vỡ
òa của ý nghĩa và nội dung Các sự kiện biến cố đó người ta gọi là tình huống truyện
Vì thế, với đặc trưng quan trọng này, nhiều nhà nghiên cứu phê bình và cả nhữngtác giả chuyên sâu viết truyện ngắn đã định nghĩa về truyện ngắn xoay quanh tình huống
truyện: Truyện ngắn là cưa lấy một khúc của đời sống (Tô Hoài); Nếu tiểu thuyết là một
đoạn của dòng đời thì truyện ngắn là một cái mặt cắt của dòng đời (Nguyễn Minh
Châu); Truyện ngắn là một tác phẩm nghệ thuật có bề sâu nhưng không được dài (T.Capote); Truyện ngắn là viết ngắn và trong đó cái không bình thường hiện ra như một
cái bình thường và cái gì bình thường hiện ra như một cái gì không bình thường
(K.Pautopxki)… Nhà phê bình văn học Chu Văn Sơn đã nỗ lực đưa ra hai bình diện
chính để xác nhận thể loại truyện ngắn: “Theo tôi việc phân định có thể dựa vào hai tiêu
chí chính là dung lượng và thi pháp Giữa hai tiêu chí "dung lượng" là cần nhưng phụ và thứ yếu còn "thi pháp"mới là đủ là chính là chủ yếu.” Về dung lượng, truyện ngắn được
xem là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ (tình tiết, nhân vật không nhiều số trang không dài) Về thi
Trang 12pháp, mỗi truyện ngắn bao giờ cũng được xây dựng trên một tình huống Đó là cấu trúchạt nhân của thể loại này Trong hai tiêu chí thì dung lượng không phải là tiêu chí cơ bản(bởi có những truyện ngắn nhưng không ngắn) mà thi pháp mới là yếu tố giúp phân biệttruyện ngắn với các thể tự sự khác Trên cơ sở đưa ra, nhà phê bình Chu Văn Sơn đã chỉ
ra cốt lõi của mỗi truyện ngắn nằm ở tình huống truyện Từ đó, nhà phê bình đưa ra
định nghĩa khác về truyện ngắn: “Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ mà nội dung
thường chỉ xoay quanh một tình huống truyện chủ chốt nào đó.”
Vì thế nghiên cứu một truyện ngắn, chúng ta phải quan tâm đầu tiên là tình huống
truyện Tình huống truyện là “cái tình thế nảy ra truyện”, là “lát cắt” của đời sống mà qua đó có thể thấy được cả trăm năm của đời thảo mộc, là “một khoảnh khắc mà trong
đó sự sống hiện ra rất đậm đặc”, “khoảnh khắc chứa đựng cả một đời người, thậm chí
cả một đời nhân loại” Chính tình huống đã chứ đựng cái nghịch lí, cái hàm súc của
truyện ngắn: qua cái ngắn mà thấy được cái dài, qua một khoảnh khắc ngắn ngủi mà thấy
được diện mạo toàn thể Nghĩa là tính đặc biệt điển hình của cái tình thế cuộc sống chứa
đựng trong đó Vì thế Nguyễn Minh Châu, một cây bút bậc thầy truyện ngắn có nói đến
một khái niệm tình thế Nghĩa là một khoảnh khắc nào đó của đời sống mà ở đó một mối
quan hệ (con người với con người, hoặc con người với ngoại vật) bị đẩy đến trước một
tương quan, hoàn cảnh éo le Ông gọi là cái tình thế nảy ra truyện
Tình huống là hạt nhân của cấu trúc thể loại truyện ngắn Nghĩa là nó quyết địnhđến sự sống còn của một truyện ngắn Nếu quá nhiều tình huống, nối dài nhau sẽ thànhtruyện dài, tiểu thuyết Nếu mất tình huống truyện ngắn có thể thành tản văn, thành tuỳbút, thành thơ văn xuôi, thành kí, nghĩa là thành gì gì khác… chứ quyết không thể còn làtruyện ngắn Mất tình huống tức là mất tính cách truyện ngắn Trên cơ sở nghiên cứu vềtình huống, các nhà nghiên cứu đã phân loại tình huống theo các tiêu chí khác nhau Nếuxét về tính chất, có thể chia truyện ngắn thành ba dạng chính: Tình huống hành động là
loại sự kiện đặc biệt mà trong đó nhân vật bị đẩy tới một tình thế (thường là éo le) chỉ có
thể giải quyết bằng hành động; Tình huống tâm trạnglà sự kiện đặc biệt của đời sống mà
ở đó nhân vật rơi vào một tình thế làm nảy sinh một biến động nào đó trong thế giới cảm
xúc, tình cảm; Tình huống nhận thức là sự kiện đặc biệt của đời sống mà tại đó nhân vật
được đẩy tới một tình thế bất thường - đối mặt với một bài học nhận thức, bật lên mộtvấn đề (về nhân sinh, về nghệ thuật) cần phải vỡ lẽ, giác ngộ Xét trên tiêu chí về số
lượng tình huống, ta chia truyện ngắn hai loại : Truyện một tình huống là truyện ngắn chỉ
xoay quanh có một tình huống duy nhất bao trùm (đây là loại truyện ngắn điển hình);
Truyện ngắn nhiều tình huống là truyện được dệt từ nhiều tình huống Tuy nhiên, trong
đó, chúng cũng phân vai thành chính - phụ (nghĩa là có cái nào đó là chủ chốt) chứ khôngphải tất cả đều ngang hàng nhau, theo lối dàn đều (Đây là dạng truyện ngắn không thật
Trang 13điển hình Chúng thường có dáng dấp của một truyện dài thu nhỏ, hơn là một truyện ngắnthực thụ) Từ cách phân loại này, chúng ta cần phải lưu ý rằng mọi sự phân loại này làtương đối Trong thực tế các dạng ấy đều ít nhiều có tính pha tạp chứ không hoàn toànthuần chủng như mô tả Việc nhận diện chỉ dựa vào sự nổi trội của yếu tố nào đó.
Tình huống truyện đặc trưng cơ bản nhất của truyện ngắn, cánh cửa mở ra nhữnggiá trị nội dung – tư tưởng của tác phẩm Để làm nên tình huống truyện, một yêu cầu
không thể thiếu là việc xây dựng hệ thống các chi tiết nghệ thuật - Các tiểu tiết của tác
phẩm mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng Trong truyện ngắn không có chi tiết
thừa bởi các chi tiết đều đã được chọn lọc rất khắt khe trong quá trình sáng tác để làmđường dẫn, hướng tới làm bùng nổ của điểm nút tình huống truyện Bên cạnh đó, sốlượng các chi tiết trong truyện ngắn thường rất ít, được hạn chế đến mức tối đa So vớithể loại tiểu thuyết, truyện ngắn không có một hệ thống chi tiết dày đặc, bề thế, đa dạng,phong phú Vì thế những chi tiết được đưa vào truyện ngắn thường giàu sức biểu hiện và
có giá trị nghệ thuật rất cao Từng chi tiết nghệ thuật đã được tuyển chọn đều có vị trí bấtkhả thay thế Các chi tiết trong truyện ngắn không thiên về phô diễn, trình bày Trái lại,truyện ngắn chỉ cần thông qua một khoảnh khắc, một thời điểm mang tính sự kiện trongtác phẩm để thể hiện mọi vấn đề nhân sinh Vì vậy, từng chi tiết trong truyện ngắn có sựdồn nén các tầng ý nghĩa Đây chính là cơ sở để tạo nên khả năng bùng nổ cho thể loại
truyện ngắn mà không thể loại nào đạt tới.“Một chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn”, điều
này thật đúng với thể loại truyện ngắn Chỉ bằng một vài chi tiết trong tác phẩm, chúng
đã tạo dựng phong cách sáng tác, cá tính sáng tạo và tài năng của chính tác giả cũng nhưgiá trị của tác phẩm
Vậy nhân tố nào sẽ là đối tượng mang, gánh vác trên vai các chi tiết, sự kiện vàtình huống? Câu trả lời thật đơn giản - nhân vật Và cũng từ quy luật tất yếu của mọi lĩnhvực trong cuộc sống, văn học dù là ngành nghệ thuật nó cũng phải nghiên cứu và biểu
hiện những gì có liên quan đến con người - “Văn học là nhân học” (M.Gorki) Tuy nhiên, nhân vật không phải là con người sinh học bằng xương, bằng thịt mà chỉ là “ những
hình tượng được khắc họa phù hợp với ý đồ tư tưởng của tác giả” (G.N.Pôspêlôv), là
những hình mẫu về con người, được ra đời dựa trên những điều thực tế nhất về con ngườikết hợp với trí tưởng tượng và óc sáng tạo của nhà văn
Trong mỗi thể loại văn học khác nhau, hình tượng nhân vật sẽ mang những đặcđiểm riêng khác nhau Nhân vật trữ tình là nhân vật đặc trưng trong thể loại thơ Trongthế giới của thơ, nhân vật thường được giảm lược các thông tin về bản thân như nguồngốc, nghề nghiệp, hoàn cảnh sống… Điều duy nhất nổi bật ở kiểu nhân vật trữ tình làcảm xúc, là thế giới nội tâm, tư tưởng tinh thần với những biểu hiện tình cảm phong phú.Trái lại, các tác phẩm tự sự lại nghiêng hẳn về việc tái hiện cuộc đời, số phận nhân vật
Trang 14trong hiện thực phong phú của cuộc sống, đôi khi đến trần trụi Trong tự sự ở mỗi thể loạinhỏ, ngoài nét chung trên, nhân vật còn có nét riêng biệt, khu biệt mang đặc trưng của thểloại nhất định Với tiểu thuyết, đó là hệ thống nhân vật dày đặc với toàn bộ những diễnbiến phức tạp về cuộc đời, số phận trong trạng thái vận động liên tục của các sự kiện tạonên dòng chảy của số phận và cuộc sống Ngoài những nhân vật chính tiểu thuyết còn cả
hệ thống dày đặc các nhân vật phụ trong mối tương quan phức tạp với nhân vật chính.Còn với truyện ngắn, hệ thống nhân vật thường rất ít Tác phẩm chỉ lựa chọn một hoặcmột vài nhân vật tiêu biểu để tái hiện và nhân vật phụ xuất hiện rất ít và số lượng khôngđáng kể Truyện ngắn chỉ chớp lấy một khoảnh khắc có ý nghĩa nhất để tái hiện cuộc đờinhân vật qua một thời điểm, một khoảnh khắc, một giai đoạn, thậm chí một vài ngàyngắn ngủi, nếu có đề cập đến toàn bộ cuộc đời nhân vật thì nhiều phần đời của nhân vật
sẽ bị lược bỏ, chỉ được kể lại vắn tắt chỉ tập trung vào các khoảnh khắc quan trọng màthôi Nhà văn chủ yếu chỉ khai thác cuộc đời nhân vật trong một, hai thời điểm có tính sựkiện nhất gắn liền với sự bùng nổ sự kiện, của tình huống truyện Vì vậy, có thể nóitruyện ngắn phản ánh số phận nhân vật qua một lát cắt cuộc đời trong mối quan hệ nhấtđịnh với các nhân vật khác để góp phần làm cho chủ đề tư tưởng của truyện ngắn đượcthể hiện một cách ngắn gọn, súc tích Với một vài gương mặt ấy, người đọc có thể cảmnhận được mọi trạng huống cuộc đời một cách sắc nét với từng biến đổi mà chỉ qua mộtvài khoảnh khắc Điều này làm nên tính biểu cảm cao cho từng truyện ngắn
Nhân vật và chuỗi các chi tiết sự kiện sẽ tạo nên cốt truyện Trong đó cốt truyện sẽxoay quanh và quy tụ ở tình huống truyện Đây là yếu tố đầu tiên để chúng ta đọc hiểugiả mã, tiếp nhận một truyện ngắn
2.1.1.2 Sự kể lại sự kiện – Nghệ thuật trần thuật và ngôn ngữ.
Một đặc trưng cơ bản của tự sự là sự kể hay có người còn gọi là trần thuật Đâychính là hoạt động giao tiếp ở thế giới thực tại của tác giả và độc giả khi mà văn bảnđược đọc lại, kể lại Tác giả bằng ngôn ngữ, sự tổ chức ngôn từ của mình sẽ kể, trần thuậttái hiện miêu tả lại các sự kiện và biến cố được đề cập trong tác phẩm cho người đọc tiếpnhận Sự kể bao gồm người kể chuyện, điểm nhìn, ngôn ngữ và cả sự sắp xếp trình tự trật
sự kể các sự kiện gắn với nhân vật… trong những không gian thời gian xác định Sự kể
sẽ được sống lại qua sự tương tác, tiếp nhận của độc giả
Nhân tố đầu tiên không thể bỏ qua của sự kể là nghệ thuật trần thuật Theo Từ
điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên
thì: “Trần thuật (narrate) là phương diện cơ bản của phương thức tự sự, là việc giới
thiệu khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của người trần thuật Trần thuật không chỉ là lời kể mà còn bao hàm cả việc miêu tả đối tượng, phân tích hoàn cảnh, thuật lại tiểu sử nhân vật, lời bình luận, lời ghi
Trang 15chú của tác giả…” Nếu như tiểu thuyết phản ánh rộng lớn cuốc sống, thể hiện hành trình
quá trình vận động, phát triển cuộc đời, sự nghiệp, số phận của nhân vật vì thế nó sẽ chọnlối trần thuật dài hơi, bao quát mở rộng các phạm vi không gian và kéo dài thời gian Thìtrong truyện ngắn, do chọn một khoảnh khắc của cuộc đời, của tình thế quan trọng, trầnthuật thường chỉ tập trung kể về một thời điểm, một giai đoạn nhất định của một hay mộtvài cá nhân trong giới hạn không gian hẹp hạn chế về số lượng Chính nhờ các tín hiệukhông gian và thời gian nén cô đọng mà trần thuật của truyện ngắn có những nét riêngcủa nó Vì vậy, đặc trưng của truyện ngắn là tạo lối trần thuật ngắn Trần thuật ngắn ở đâykhông hoàn toàn chỉ dừng lại ở việc kể ít Đó có thể là sự dồn nén sự kiện trong mộtkhông gian, thời gian nhất định
Nhắc đến trần thuật, không thể không nhắc đến người trần thuật và điểm nhìn trầnthuật Ở phương diện đề tài này, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu người kểchuyện một biểu hiện đa dạng của người trần thuật Theo quan niệm của giáo sưTamarchenko, cũng như người trần thuật - là chủ thể lời nói và là người đại diện cho
điểm nhìn trong tác phẩm văn học; nhưng người kể chuyện lại khác với người trần thuật,
được khách quan hóa và được tách biệt rõ rệt với tác giả cả về mặt không gian, lẫn bìnhdiện tu từ; mà cụ thể là, nó được gắn với một hoàn cảnh văn hóa - xã hội và ngôn ngữ cụthể để từ vị thế ấy nó mô tả các nhân vật khác Khác hẳn với người trần thuật, người kểchuyện không đứng ở đường biên giữa thế giới hư cấu với thực tại của tác giả và độc giả,
mà hoàn toàn đứng bên trong hiện thực được mô tả: câu chuyện của nó được nhắm mộtcách ước lệ tới người nghe hiện diện trong hiện thực ấy Theo đó, người kể chuyện sẽ cụthể hóa thành ngôi kể Với ngôi kể thứ ba, người kể chuyện sẽ không có mặt trong thếgiới hư cấu của sự kiện nhân vật và nó trở thành vắng mặt giấu mặt trong thực tại kể Vớingôi kể này sẽ giúp chúng ta hình dung hơn về một người kể chuyện vắng mặt nhưng cósức mạnh quyền năng đối với số phận nhân vật và sự kiện trong thế giới hư cấu đem đếncái nhìn bên ngoài của thực tại câu chuyện kể Khi đó người kể chuyện sẽ trùng khít vớingười trần thuật Bên cạnh, người kể chuyện ngôi thứ ba, nằm ngoài thực tại hư cấu,vắng mặt giấu mặt trong thực tại kể, thì người kể chuyện sẽ có thể trở thành nhân vậtngười kể chuyện - cái vị thế nằm phía bên trong các ranh giới của tác phẩm (thế giới hưcấu của sự kiện được kể) biến người đọc đứng ngoài tác phẩm phải chiếm lĩnh Người kểchuyện là nhân vật trong chính câu chuyện của anh ta vì thế đem đến cái nhìn bên trongđôi khi nó sẽ khiến câu chuyện hư cấu trở thành sự thật đang hiện hữu qua sự kể Vớinhân vật người kể chuyện, sẽ có thể là ngôi thứ nhất, khi đó chính nhân vật kể chuyệnhoàn toàn không biết mình đang kể chuyện cho ai nghe, mặc dù không thể hoài nghi sựhiện diện của người nghe ước lệ này trong hiện thực được mô tả (thế giới sự kể, thực tại).Với nhân vật người kể chuyện, sẽ có thể là ngôi thứ hai, khi đó chính nhân vật kể chuyện
Trang 16hoàn toàn biết mình đang kể chuyện cho ai nghe, thêm vào đó, ở đây, người nghe được
mô tả cụ thể, hiện hữu với người kể Trong các trường hợp nhân vật người kể chuyện,những yếu tố cơ bản của “chính sự kiện kể chuyện” sẽ trở thành đối tượng mô tả, thànhcác “sự thật” của hiện thực hư cấu Họ đang kể câu chuyện về họ, hoặc chí ít cũng có mộtnhãn quan đặc biệt, nhưng tuyệt nhiên không bao trùm tất cả, mang sức mạnh quyềnnăng biết hết như ở ngôi kể thứ ba
Trong hai nhóm người kể chuyện trên, chúng ta có một nhóm trung gian của người
kể chuyện Nếu không ai có thể nhìn thấy người trần thuật bên trong thế giới thực tại sự
kể được mô tả và không ai giả định về sự tồn tại của họ, thì người kể chuyện trong trườnghợp câu chuyện được lồng thêm vào, – sẽ nhập vào tầm nhìn hoặc là của người trần thuậthoặc là của các nhân vật Nhân vật kể chuyện càng gần với tác giả thì càng ít có sự khácbiệt trong ngôn ngữ giữa họ và người trần thuật Vị thế “trung gian” của người trần thuậttrước hết giúp người đọc tìm thấy sự trình bày khách quan, đáng tin cậy về các sự kiện vàhành vi, cũng như sự trình bày chủ quan bên trong đời sống nội tâm của các nhân vật Vịthế “trung gian” của người kể chuyện lại cho phép thâm nhập vào bên trong thế giới được
mô tả và quan sát các sự kiện bằng cái nhìn của các nhân vật Vị thế “trung gian” củangười trần thuật gắn với các ưu thế nào đó của điểm nhìn bên ngoài Như vậy tác giả-người sáng tác tạo ra sự cân bằng điểm nhìn bên ngoài với bên trong, hình tượng người
kể chuyện và câu chuyện của nó sẽ trở thành “cầu nối”, hoặc mắt xích nối kết hai thế giới
sự kể và sự kiện Điều này sẽ được chúng tôi làm sáng rõ ở phần mối tương quan giữathực tại kể và thực tại hư cấu sự kiện Trong truyện ngắn có đủ cả ba nhóm người kểchuyện này
Như đã đề cập ở trên, người kể chuyện sẽ gắn liền với điểm nhìn trần thuật Trongtruyện ngắn, điểm nhìn trần thuật có thể là trong ngoài hay trung gian dịch chuyển dongôi kể quyết định nhưng nó có một điểm quy tụ là thường gắn liền với những khoảnhkhắc thực tại Điều đó có nghĩa là người kể chuyện thường quan sát và kể trực tiếp nhữngđiều “mắt thấy tai nghe” cho người đọc Bởi vậy, truyện ngắn là thể loại của thì hiện tại
Đó là thể loại của những câu chuyện bắt đầu và kết thúc ở ngay thời điểm hiện tại so vớithời điểm được kể Truyện không đem lại cảm giác các tình tiết, sự kiện đã diễn ra, chỉđược kể lại Trái lại, nó tạo cảm giác như người đọc đang được chứng kiến ngay trướcmắt mọi diễn tiến của câu chuyện Điều này rất khác so với lối trần thuật trong sử thi Sửthi luôn đem lại cảm giác câu chuyện được kể là ánh hào quang vọng về từ hồi ức, ký ức.Với các truyện có dung lượng ngắn trong văn học trung đại, nền văn học tôn sùng quákhứ, câu chuyện được kể cũng thường mang màu sắc cổ xưa Như vậy, luôn đặt điểmnhìn ở thì hiện tại chính là một điểm làm nên tính hiện đại cho truyện ngắn thế kỉ XX
Trang 17Điều này sẽ được chúng tôi làm sáng rõ ở phần mối tương quan giữa thực tại kể và thựctại hư cấu sự kiện.
Một điểm đáng quan tâm của sự kể, trần thuật phải nói đến nữa chính là ngôn ngữcủa tự sự Nếu như ngôn ngữ nghệ thuật là một trong những chất liệu hình thành nên đặctrưng văn học thì bản thân nó cũng là phương tiện làm nên những sắc thái khác nhau chochiếc áo thể loại Vì vậy, khi xuất hiện trong truyện ngắn, ngôn ngữ nghệ thuật cũng phảimang những nét riêng, đặc trưng cho thể loại Trước hết xét trong mối quan hệ với sựkiện hay hiện thực và tình huống được đề cập đến, do lối trần thuật ở thì hiện tại nênngôn ngữ trong truyện ngắn cũng phải hướng về hiện tại Cái hiện tại đang diễn ra tứcthời ngay trước mắt Điều đó có nghĩa là ngôn ngữ trong truyện ngắn thường có tính chấthiện đại, bắt kịp với thời đại mà nó ra đời Tính chất thứ hai của ngôn ngữ nghệ thuậttrong truyện ngắn là tính bám sát vào hiện thực cuộc sống Điều đó có nghĩa là ngôn ngữtrong truyện ngắn có tính thực tế sâu sắc, chân thực, đời thường đến từng chi tiết vụn vặt,nhỏ nhặt trong cuộc sống Đó không còn là thứ ngôn ngữ được cách điệu, ước lệ, tượngtrưng hay lối diễn đạt theo những khuôn mẫu, công thức nữa mà là những ngôn ngữ sốngđộng, thậm chí trần trụi như chính cuộc đời, linh hoạt, gần gũi hơn với lối suy nghĩ, cáchdiễn đạt của bạn đọc đương thời Tính chất thứ ba có thể kể đến trong ngôn ngữ củatruyện ngắn chính là tính hàm súc, cô đọng Truyện ngắn, bởi ngắn về dung lượng nên sốlượng ngôn ngữ cũng bị hạn chế Tuy bị hạn chế nhưng mỗi con chữ đều mang trongmình sức nặng của những vỉa tầng ý nghĩa đã được nhà văn mã hóa Có thể nói tronghành trình sáng tạo của mình, nhà văn đã giao phó cho từng con chữ trong truyện ngắnnhững sứ mệnh trọng đại và thiêng liêng khiến nó ít có thể thay thế được Bởi tầm quantrọng ấy nên khi phân tích truyện ngắn cũng như phân tích một tác phẩm thơ, chúng tanhất thiết phải chú trọng đến cách dụng từ của nhà văn như là một trong những phươngtiện hỗ trợ đắc lực cho người nghiên cứu trong hành trình giải mã tác phẩm và nắm bắtphong cách tác giả
Nếu xét trong mối quan hệ với sự kể hay điểm nhìn của người kể chuyện, truyệnngắn có phong cách ngôn ngữ khá gần với tiểu thuyết Truyện ngắn có nhiều phong cáchngôn từ nhiều giọng điệu do chính điểm nhìn, người kể chuyện chi phối Do nhiều điểmnhìn và nhiều quan điểm đánh giá với sự kiện mà ngôn ngữ cũng phải thích ứng như vậy.Mỗi một nhân vật sẽ có hệ thống ngôn từ, điểm nhìn và quan điểm ý thức riêng Điểmnhìn và ngôn ngữ của người kể chuyện chỉ là một trong biểu hiện của thế giới ngôn ngữ
đa dạng của truyện ngắn Phong cách ngôn từ của truyện ngắn có thể là đơn thanh nhưngnhiều hơn cả vẫn là đa giọng đa, thanh Ngôn từ truyện ngắn là phức điệu, đa giọng, đathanh Điều này được biểu hiện ở các kiểu dạng ngôn ngữ khác nhau có mặt trong tácphẩm: Ngôn ngữ địa phương, ngôn ngữ nước ngoài, ngôn ngữ nhân vật, người kể
Trang 18chuyện…Tất cả đa dạng và phong phú Sự đa giọng có ngay ở ngôn ngữ nhân vật Lờicủa nhân vật đã bao hàm “lời người khác” Phát ngôn của nhân vật vừa là lời, giọng điệu,
ý thức của anh ta lại vừa là sự mượn lời với giọng điệu và ý thức của người khác Sựmượn lời này có thể là đồng tình hoặc cũng có thể là giễu nhại Bakhtin gọi đây là “lờihai giọng” Một lời nói mà có hai giọng điệu, hai ý thức Một giọng là quyền uy như lờicủa người xưa, lời của người trần thuật – người kể chuyện vắng mặt quyền uy, với sự bắtbuộc người tiếp nhận phải đồng tình không được phản đối Một giọng là lời nói của nhânvật, của cuộc sống có thể chấp nhận hoặc không là tùy thuộc vào bạn đọc Tổ chức ngôn
từ trong truyện ngắn càng hiện đại gần với thời điểm bây giờ có thể là sự kết hợp của: lờiquyền uy với lời người khác của nhân vật hoặc cũng có thể là lời người kể chuyện với lờinhân vật Hai giọng điệu mâu thuẫn với một giọng điệu tạo ra sự cân bằng mà tâm ởchính giữa sự mâu thuẫn đó Lời độc điệu với lời đa điệu tạo nên tính phức điệu của ngônngữ truyện ngắn hiện đại Chính nó tạo nên tính chất đối thoại dân chủ, đa chiều cho mộttruyện ngắn hiện đại Nghiên cứu truyện ngắn không thể bỏ qua sự tổ chức ngôn từ này
2.1.1.3 Tương quan giữa sự kiện và sự kể - Đối thoại dân chủ thời sự
Theo cấu trúc của văn bản văn học với hai thế giới: Thực tại và hư cấu, vậy thìchúng có mối quan hệ tương quan như thế nào? Nghiên cứu mối quan hệ đó chúng ta sẽthấy được sự vận động và phát triển của các thể loại tự sự Đây chính là tương quan củaranh giới giữa thế giới hư cấu và thế giới thực tại Trong thế giới sự kiện chỉ có nhân vậttồn tại Trong thế giới sự kể chỉ có tác giả (người kể), độc giả tồn tại Trong thế giới hưcấu không có mặt tác giả độc giả chỉ có nhân vật mang sự kiện trong thời gian khônggian xác định do chính tác giả xây dựng lên Bước ra ngoài thế giới hư cấu đó nhân vật sẽchết Và ngược lại trong thế giới thực tại của sự kể không có mặt của nhân vật Tác giả vàđộc giả đang tương tác qua văn bản ngôn từ của tác giả Độc giả quan sát nhân vật quachính ranh giới của nhân vật Nhân vật không biết được số phận của mình sẽ ra sao Chỉ
có tác giả mới biết được điều đó Qua tác giả người tiếp nhận biết được số phận của cácnhân vật
Người nghe, người kể trong thế giới thực tại sử thi có khoảng cách rõ ràng vớinhân vật, với sự kiện trong thế giới hư cấu Đó là khoảng cách sử thi Sự kiện sử thi làcác sự kiện lớn lao phi thường đã hoàn tất trong quá khứ, xa lạ hoàn toàn với thực tại.Nhân vật sử thi là bán thần làm nên các sự kiện phi thường Người kể chuyện sử thi cangợi tôn vinh nhân vật thành lí tưởng để người nghe phải cung kính soi mình hướng mìnhvào đó Họ không thấy được bóng dáng nhân vật ở đời sống hiện tại
Truyện ngắn lại trái ngược hoàn toàn với sử thi Ranh giới giữa hai thế giới đóchưa được xác định rõ ràng Tác giả và đặc biệt là độc giả có thể giao tiếp gần gũi vớinhân vật và sự kiện của tiểu thuyết Sự kiện là những gì của đời sống đang diễn ra nên
Trang 19người đọc dễ dàng tiếp cận Nhân vật mang những mâu thuẫn nội tại của đời sống nênchúng ta, bạn đọc thấy cả dáng dấp của mình ở nhân vật Thế giới hư cấu của truyện ngắnmang hơi thở của thế giới thực tại vì thế bạn đọc với nhân vật, người kể chuyện có thểnhư đang nói chuyện giao tiếp trực tiếp với nhau về chính những vấn đề thường nhật của
đời sống bình đẳng và dân chủ Càng hiện đại tính chất này của truyện ngắn càng thể
hiện rõ nét Truyện ngắn và tiểu thuyết nói chung có sự giao tiếp gần gũi giữa nhân vậtvới tác giả, độc giả - có sự giao tiếp gần như tuyệt đối giữa hai thế giới đó Nhân vật vàđộc giả, tác giả là người cùng thời, đương thời Họ cùng sống với các sự kiện đang diễn
ra của hiện tại chưa hoàn tất Người đọc có thể hình dung nhân vật đang ở cạnh mình,đang sống cùng mình và đặc biệt thấy được cuộc sống của mình đang được miêu tả Vìthế người đọc vừa có vị thế điểm nhìn bên trong như đang sống cùng nhân vật lại vừa có
vị thế điểm nhìn bên ngoài hình dung cuộc sống đang được miêu tả như một chỉnh thểtrong tác phẩm
Tính chất đối thoại bình đẳng và dân chủ giữa bạn đọc với tác giả, với người kểchuyện và nhân vật đều có trong truyện ngắn và tiểu thuyết Nhưng ở truyện ngắn cóđiểm khác biệt với tiểu thuyết lại là ở tính thời sự, ngắn nhanh do dung lượng và tìnhhuống truyện quy định Ở chính khoảnh khắc của nhân vật gắn với sự kiện sẽ chính là
khoảnh khắc của bạn đọc Truyện ngắn, giống như Nguyễn Khánh Phương đã ví: giống như việc “Nhân loại gặp nhau trong một chén trà” Mọi góc cạnh của cuộc sống nhân sinh biến ảo đều chỉ được kể ngắn gọn trong “một chén trà” Sự va chạm của mọi vấn đề
phức tạp, phong phú, thậm chí gai góc của cuộc đời đều được phơi bày ra chỉ qua mộtkhoảnh khắc va chạm Nó nhanh và tức thì mà mỗi chủ thể của khoảnh khắc đó lại cónhững điểm nhìn và quan điểm riêng có thể đồng nhất hoặc không đồng nhất Có được
đặc trưng này của truyện ngắn là do lối trần thuật trong truyện ngắn thường có kiểu kết
thúc đột ngột, nhanh và bất ngờ Đó là kết thúc không được báo trước, khó có thể dựđoán Truyện kết thúc như những điều thường nhật vẫn xảy ra trong cuộc sống Đó chính
là tính chất báo chí, thời sự của nó Mỗi truyện ngắn đều có khả năng cung cấp cho ngườiđọc những cái nhìn hiện thực và sát sườn nhất về thời đại của mình Tuy nhiên, cần phânbiệt tính báo chí, thời sự của truyện ngắn với môi trường báo chí Truyện ngắn khôngphải là cách đưa tin đơn thuần, “giật gân” hay mang tính thông báo về “chuyện lạ đóđây” Trái lại, truyện ngắn có cách thức riêng để tạo nên sức hút thể loại cho chính mình
X.Antonop đã từng nhận xét về truyện ngắn: “Một trong những lý do để nhiều thế kỷ
qua, truyện ngắn trở thành một trong những thể loại có ý nghĩa phổ cập nhất: đó là sự kết hợp giữa yếu tố năng động, khả năng nhạy bén với một cái nhìn rất mới đối với cuộc sống” Chính đặc điểm tạo dựng được những yếu tố mới lạ đã giúp thể loại truyện ngắn
hiện đại tạo được sức hút mạnh mẽ đối với lớp công chúng mới hình thành lúc bấy giờ
Trang 20Các yếu tố mới lạ đó là sự xâu chuỗi cái đời thường và những cái lớn lao thành một cấutrúc nghệ thuật hoàn chỉnh đặc biệt ngắn gọn, cô đọng của truyện ngắn khiến cho cái cụthể và cái trừu tượng, cái cá biệt và cái điển hình ở truyện ngắn khác hẳn tiểu thuyết: nóhòa vào nhau và dường như là một để tạo nên sức cuốn hút mạnh mẽ ở người đọc khiến
họ phải đọc liền một mạch Người ta đọc truyện ngắn mỗi lúc, nhanh chóng như đọc tintức một tờ báo hàng ngày Nó hợp với thời đại công nghiệp và công nghệ Vì thế bản thântruyện ngắn đã phải mang cái tính thời sự trong chính nó
2.1.2 Tiếp cận đặc trưng thể loại truyện ngắn từ lí thuyết của vật lí và toán học.
Một điều mà chúng ta dễ nhận ra, hầu hết các nhà triết học phương Tây, đặc biệt ở
kỉ nguyên của triết học ánh sáng đều là các nhà khoa học tự nhiên Chính điều này màtriết học và văn học phương Tây mang tính duy lí rất cao Lí luận văn học được các nhànghiên cứu gọi là triết học của văn học Vậy chúng ta có thể dùng ánh sáng của khoa học
tự nhiên để làm cho lí luận trong văn học trở nên rõ ràng, dễ tiếp cận hay không? Văn
học về bản chất sáng tạo mang dấu ấn chủ quan, cảm xúc, tình cảm của con người nênchúng thường đa dạng trừu tượng Cùng một hiện thực mà ở mỗi cảm quan nghệ sĩ khácnhau sẽ tạo nên giá trị và phong cách khác nhau như màu trắng của ánh sáng sẽ đượcbiến thành vô vàn màu sắc khác nhau khó phân định được của quang phổ khi qua lăng
kính Vì vậy văn học sẽ là đa nghĩa, đa dạng và mơ hồ cho những điểm quy tụ Nhưng
khi chúng ta soi chiếu văn học dưới khoa học của chính thể loại, bản chất của văn chương
và đặc biệt là dưới ánh sáng của khoa học tự nhiên ta lại thấy văn học vừa có những điểmđồng tâm mang tính quy luật lại vừa sinh động đa dạng hấp dẫn Nó là khoa học logickhách quan theo các quy luật của lí tính, đồng thời lại là màu sắc cảm tính của những cáthể, của mê say cảm xúc thẩm mĩ của nghệ thuật Từ trước tới nay, chúng ta thường đặtvăn học với các môn khoa học xã hội như triết học, lịch sử (văn sử triết bất phân) mà đã
có phần xem nhẹ ánh sáng của khoa học tự nhiên vào làm rõ cho văn học đặc biệt chonhững khái niệm thuật ngữ của văn học Điều này sẽ bị phá bỏ, khi chúng tôi dùng các lýthuyết của vật lí và toán học trong tiếp cận văn bản truyện ngắn theo đặc trưng thể loại
2.1.2.1 Từ lý thuyết của vật lí
Trong triết học khi bàn luận về mối quan hệ giữa ý thức và vật chất, các nhà triếthọc đã đi đến kết luận: ý thức và quy luật của ý thức đều phản ánh, là sự chụp chiếu lạiquy luật của tự nhiên; cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng; tồn tại xã hội quyếtđịnh ý thức xã hội Từ đây chúng ta có thể hiểu rằng mọi quy luật ý thức trong xã hội đềubắt nguồn, mang ánh xạ bản chất từ những quy luật tự nhiên Cũng nằm trong quy luật đóvăn học là hiện thực cuộc sống được phản ánh qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ.Cách nhìn, cái nhìn của nhà văn, quan điểm của người nghệ sĩ bắt nguồn từ đôi mắt, từánh sáng được phản chiếu của vạn vật cuộc sống và hiện thực Từ quy luật này chúng tôi
Trang 21xin nhìn văn học, cách nhìn quan điểm của nhà văn đặc biệt là những đặc trưng củatruyện ngắn từ những định luật liên quan đến ánh sáng.
Trước hết chúng tôi sử dụng lý thuyết về góc trông vật, góc trông ảnh trong vật lí
để phân tích sâu hơn về cách nhìn, điểm nhìn, quan điểm của người nghệ sĩ và đặc biệt là
điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Góc trông vật: Vật AB đặt cách mắt một đoạn
OA thì góc trông vật là α0 Nếu đặt vật tại điểm cực cận của mắt thì góc trông vật là lớnnhất, có thể cho ảnh rõ nhất trên võng mạc. Góc trông phụ thuộc vào 2 yếu tố:
+) kích thước của AB ,
+) khoảng cách từ AB đến thấu kính mắt
Như vậy tan(α0) = AB/OA Cùng 1 kích thước AB, thì góc trông càng nhỏ nếukhoảng cách d càng lớn Và nếu cùng 1 khoảng cách d, góc a sẽ càng lớn nếu ảnh cànglớn
Góc trông phụ thuộc vào hai yếu tố cơ bản: ảnh của vật hiện hữu như thế nào (tohay nhỏ, rõ hay mờ, ẩn hay hiện,…) và phụ thuộc vào khoảng cách, tâm lí, sự tiếp nhậnảnh của đôi mắt (xa hay gần, kĩ hay lướt, đa hay đơn, …) Cũng như vậy cái nhìn và cáchnhìn nhà văn về cuộc sống phản ánh trong văn học sẽ mang bản chất của góc trông củangười nghệ sĩ đó Mỗi một cá tính sáng tạo, mỗi một quan điểm tư tưởng nghệ thuật,nhân sinh, thẩm mĩ của nhà văn là góc trông của người nghệ sĩ đó về hiện thực cuộcsống Chúng không thể đồng nhất mà khác nhau do tạo nên phong cách Lí giải hiệntượng này có thể thấy ở chính các tiền đề, các yếu tố của góc trông tạo nên Tự sự vàtruyện ngắn lại càng thể hiện rõ nét lí thuyết góc trông Điểm nhìn trần thuật và tính chấtđối thoại của điểm nhìn trong truyện ngắn như đã đề cập ở trên là mang bản chất khoahọc của góc trông người nghệ sĩ Cái nhìn đa chiều, thấu thị của nhà văn khiến cho mộtvấn đề được phản ánh trong tác phẩm trở nên thấu đáo Góc trông càng lớn thì sự vật
Trang 22hình ảnh càng hiện lên rõ nét trong mắt người do sự vật được khám phá sâu sát ở nhiềugóc trông khác nhau sẽ hiện lên tường tận toàn diện Cũng từ lý thuyết này, cái nhìn sâusắc, đa chiều, nhiều góc độ của người nghệ sĩ về một vấn đề hiện thực cần phản ánh sẽlàm cho nội dung tư tưởng của tác phẩm đa nghĩa và có nhiều giá trị hơn Nhưng nhữnggóc trông của tác giả lại được tổ chức trong văn bản qua sự chuyển dịch thành điểm nhìnlinh hoạt mang chủ thể khác nhau trong thế giới hư cấu của nhà văn như điểm nhìn củanhân vật, người kể chuyện… Vì thế điểm nhìn trong một tác phẩm, hoặc nhiều tác phẩmvăn học tổng hòa lại sẽ là góc trông của tác giả đã phản ánh chi phối vào điểm nhìn tácphẩm Các góc trông khác nhau tạo nên các điểm nhìn khác nhau và mỗi chủ thể đốithoại trong truyện ngắn sẽ có quan điểm khác nhau Nhờ đó mà nó tạo ra tính đa chiềuđối thoại về quan điểm, nội dung và tư tưởng Đối thoại dân chủ trong truyện ngắn chính
là cuộc đối thoại giữa các điểm nhìn, của các góc trông khác nhau, của mỗi chủ thể ở gócnhìn khác nhau về cùng một sự vật Cùng một sự vật mà góc trông khác nhau sự vật hienjlên ở mỗi người là khác nhau Sự va chạm điểm nhìn, quan điểm của các nhân vật trongtruyện ngắn tạo nên tình thế xung đột cần được giải quyết Đây chính là tiền đề tạo nên
một kiểu dạng tình huống truyện của truyện ngắn Xung đột va chạm điểm nhìn, quan
điểm của các chủ thể góc trông khác nhau về cùng một vấn đề sự việc tạo nên tình huống truyện
Nhưng có một trường hợp nữa, là cũng một sự vật đó, cùng một chủ thể đó, ở môitrường khác nhau, với tính chất khác nhau sẽ tạo nên cách nhìn và quan điểm khác nhau,
nó cũng tạo nên tính chất đối thoại cho văn học trong chính đời sống nội tâm, tư tưởng
của một chủ thể Đó chính là tiền đề cho chúng tôi vận dụng lý thuyết về khúc xạ và
phản xạ trong ánh sáng, đường truyền của ánh sáng trong các môi trường khác nhau
để khám phá đối thoại điểm nhìn qua đặc trưng tình huống truyện của truyện ngắn
Lý thuyết vật lí thứ 2 được chúng tôi sử dụng - khúc xạ và phản xạ ánh sáng, đểlàm sáng tỏ bản chất và nội dung của tình huống truyện Trong một môi trường đồng nhấtánh sáng luôn đi theo một đường thẳng Vậy ở môi trường khác nhau đường truyền củaánh sáng có là một đường thẳng không? Hiện tượng khúc xạ ánh sáng là hiện tượng khiánh sáng truyền qua mặt phân cách giữa hai môi trường trong suốt thì tia sáng bị gãykhúc (đổi hướng đột ngột) ở mặt phân cách của hai môi trường
Trang 23Đối với con người cũng vậy, cùng một vấn đề, cùng một góc nhìn, nhưng mỗi conngười ở môi trường sống khác nhau, quan điểm khác nhau sẽ tạo nên cách nhìn khácnhau không đồng nhất Nó làm cho sự vật biến đổi, bẻ gẫy Nó giống như các môi trườngkhác nhau đường truyền ánh sáng không theo một đường thẳng Tình huống truyện trongtruyện ngắn chính là đường biên ranh giới mà ở lát cắt phân định hai không gian môi
trường đó có sự bẻ gẫy ánh sáng đường truyền Có sự bẻ gẫy đó là do môi trường khác
nhau của một người nhìn, hay là sự va chạm không đồng nhất của các cách nhìn góc nhìn khác nhau của các chủ thể góc trông riêng biệt Ở một chủ thể, đặc biệt là nhân
vật trong tác phẩm tự sự khi nhìn và đánh giá nhìn sự vật hiện tượng, ở mỗi một môitrường sống mang bản chất khác nhau tạo nên quan điểm cách nhìn khác nhau Vì thế khichuyển đổi môi trường, sống ở các môi trường khác nhau hay thời thế thay đổi, cái nhìn,đường nhìn sẽ thay đổi tiếp biến mà không còn thẳng, đồng nhất nữa Nó sẽ bị bẻ gẫy.Chính lúc này, tại đó, tình huống truyện ra đời, nảy nở, làm điểm bùng nổ buộc nhân vậtphải bộc lộ rõ tích cách và số phận của mình Trong những tình huống này nhân vật hoặc
sẽ phải thay đổi điều chỉnh cách nhìn, tính cách và hành động của mình để mà khám phámình, sự vật, sự việc và bản chất của chúng trong môi trường mới Chúng tôi xin dùng líthuyết phản xạ ánh sáng để làm tiền đề lí thuyết trong việc khám phá tính cách nhân vậttrong sự thay đổi môi trường hay cũng chính là trong những tình huống truyện
Có ba tính chất của đường truyền áng sáng qua các môi trường sẽ làm tiền đềchúng tôi chia nhóm tính cách nhân vật trong tình huống truyện Nhóm nhân vật quyếtđoán mạnh mẽ dấn thân thay đổi, khi họ nhìn thẳng vào hiện thực vào vấn đề và chínhmình để họ chiếm lĩnh thấu suốt được môi trường mới Đó cũng chính là khi chúng tathay đổi đường đi của ánh sáng chiếu thẳng vào môi trường khác, đường truyền của ánhsáng không hề bị bẻ gẫy mà trở thành một đường thẳng duy nhất Đó là tích cách củanhững con người dám thay đổi, dám dấn thân, dám đương đầu để mà chiếm lĩnh đượcbản chất của sự việc mới, thời cuộc mới
Ánh sáng truyền thẳng qua hai mặt phân cách môi trường.
Trang 24Tuy nhiên sẽ có con người hoặc kiểu nhân vật nhà văn xây dựng trong sự tiếp xúcvới sự thay đổi môi trường, họ không thay đổi, họ bảo thủ cố hữu cho cái nhìn quan điểm
cũ Dù môi trường dù có thay đổi, xã hội tiến lên họ vẫn giữ khư khư những cách nhìn cũ
kĩ, quan điểm lỗi thời của mình mà không hề tiếp thu cái mới Đó là hiện tượng phản xạtoàn phần trong vật lí Ánh sáng truyền từ môi trường cũ sang môi trường mới bị phản lạihoàn toàn trở về môi trường cũ Đó cũng là cách nhìn, lối sống của một kiểu nhân vậttrong tình thế, tình huống thay đổi môi trường, hoàn cảnh sống
Phản xạ toàn phần - ánh sáng phản xạ trở về về môi trường cũ
Một biểu hiện sự thay đổi nữa của con người hoặc kiểu nhân vật nhà văn xây dựngtrong sự tiếp xúc với sự thay đổi môi trường là kế thừa và tiếp thu Họ có thay đổi nhưng
họ thay đổi một phần cho phù hợp với môi trường mới để tiếp thu làm mới cho mình.Bên cạnh đó, họ cũng giữ lại những yếu tố của cái nhìn quan điểm cũ còn phù hợp để mà
kế thừa trong vận động tiếp thu phát triển Những con người, kiểu nhân vật này là linhhoạt chủ động sáng tạo Họ giống như hiện tượng phản xạ một phần Ánh sáng truyền từmôi trường cũ sang môi trường mới một phần bị phản lại trở về môi trường cũ, một phầnkhúc xạ xuyên thấm và môi trường mới Đó cũng là cách nhìn, lối sống linh hoạt tiếpbiến vừa tiếp thu cái mới và kế thừa cái cũ tạo nên một kiểu nhân vật trong tình thế, tìnhhuống thay đổi môi trường, hoàn cảnh sống
Phản xạ một phần
Trang 25Như vậy dưới lý thuyết của khoa học vật lí, chúng tôi đã một phần làm sáng tỏ hơnnhững thuật ngữ và bản chất của văn học mà cụ thể là các đặc trưng trong tự sự, cụ thể là
truyện ngắn Góc trông làm sáng tỏ cách nhìn, quan điểm phong cách riêng của người
nghệ sĩ và việc xây dựng điểm nhìn trần thuật của tác phẩm tự sự, truyện ngắn cũng như tình huống truyện (sự va chạm hai quan điểm cách nhìn của các nhân vật chủ thể khác nhau) Các lý thuyết về phản xạ, khúc xạ làm rõ hơn về kiểu tình huống truyện mà nhân vật các chủ thể do bị thay đổi môi trường, hoàn cảnh sống để từ đó khám phá những quy luật biểu hiện tính cách số phận của ba kiểu nhân vật trong sự thay đổi đó Ánh sáng của khoa học vật lí, đã làm chúng ta hiểu dễ dàng và sâu sắc hơn
những khái niệm, thuật ngữ vốn trừu tượng của văn học đặc biệt là các đặc trưng của thểloại truyện ngắn Điều này càng thú vị, hiệu quả và dễ dàng hơn khi chúng tôi kết hợpchúng với lý thuyết Graph và đồ thị của toán học để mô hình và tường minh hóa các đơn
vị kiến thức truyện ngắn trong quá trình giảng dạy để đưa các đơn vị kiến thức này đếnvới các em học sinh
2.1.2.2 Từ lý thuyết của toán học
Lê-nin từng cho rằng: Chỉ khi nào toán học thâm nhập được vào một ngành khoa
học nào đấy thì ngành khoa học ấy mới có những tiến bộ vượt bậc Điều này đã được
chứng minh trong lịch sử phát triển của nhiều ngành khoa học trong đó có khoa học xãhội Phương pháp thống kê của toán học đi vào thống kê ngôn ngữ, thống kê xã hộihọc… đã giúp cho những ngành khoa học xã hội này phát triển một cách vượt bậc.Phương pháp dạy học trong đó có phương pháp dạy học Ngữ văn cũng là một ngànhkhoa học, vậy thì có thể đưa phương pháp của toán học vào ứng dụng cho phương phápdạy học Ngữ văn được hay không?
Graph là một phương pháp nghiên cứu chuyên ngành toán học hiện đại đã đượcứng dụng vào nhiều ngành khoa học (trong đó có khoa học sư phạm), kĩ thuật khác nhau.Graph có nghĩa khái quát là mạch, mạng, đồ thị toán học Đây là phương pháp khoa học
có tính khái quát cao, có tính ổn định vững chắc để mã hóa các mối quan hệ logic của nộidung các đối tượng được nghiên cứu giảng dạy Vậy có thể áp dụng phương pháp Graphvào dạy học Ngữ văn hiệu quả hay không? Những câu hỏi đó đang là sự quan tâm lớncủa khoa học sư phạm trong đó có sư phạm Ngữ văn và đặc biệt là các thầy cô giáo đangtrực tiếp giảng dạy bộ môn này Chúng tôi xin được đưa ra một vài cơ sở lí luận và thựctiễn sau đây như là tiền đề áp dụng Graph vào dạy học Ngữ văn
Thứ nhất là mọi phương pháp nghiên cứu bộ môn và phương pháp dạy học bộ mônluôn có một sự tương ứng nhất định Chúng ta có thể chuyển hóa từ phương pháp nghiêncứu bộ môn thành phương pháp dạy học bộ môn đó thông qua việc xử lí sư phạm của
giáo viên Ví dụ như phương pháp dạy học bằng thí nghiệm trong dạy học vật lí có nguồn
Trang 26gốc từ phương pháp thí nghiệm của nghiên cứu vật lí, phương pháp đàm thoại trong dạy
học có nguồn gốc từ phương pháp trao đổi seminar trong nghiên cứu khoa học, hay
phương pháp dạy học thuyết trình, diễn giảng cũng có nguồn gốc từ phương pháp báo
cáo trong nghiên cứu khoa học… Phương pháp Graph là một phương pháp chuyển hóa từmột phương pháp riêng của toán học, trở thành một phương pháp chung của nhiều ngànhkhoa học khác nhau trong đó có phương pháp dạy học các môn tự nhiên và xã hội Vì vậychúng ta có thể ứng dụng phương pháp Graph trong dạy học nói chung và trong dạy học(đọc hiểu văn bản) Ngữ văn nói riêng
Thứ hai là trong nội dung dạy học Ngữ văn, một sự thật là việc nhận thức nội dungcủa văn bản, mối quan hệ nghĩa các câu với nhau và với chỉnh thể, giữa nội dung và hìnhthức… đối với HS không phải là điều dễ dàng Vì thế chúng ta phải biến nội dung trừutượng của văn bản thành các tín hiệu trực quan giúp HS dễ hình dung nội dung văn bản
So với dùng lời, việc dùng các giáo cụ trực quan, mang tính cụ thể như vậy, được coi là
phương tiện “thị phạm hóa”, “tường minh hóa”, biến nội dung văn bản vốn rất trừu
tượng khó hiểu khó học trong đơn vị bài học trở nên dễ học đơn giản, HS dễ dàng quansát hơn tri nhận sâu sắc hơn Nội dung của một bài học không chỉ được tiếp thu bằngcách nghe qua lời giảng của GV mà các em còn được tận mắt chứng kiến, nhìn, đượctham dự vào quá trình nhận thức chủ động, một cách tường minh mối quan hệ nội dung,hình thức, lí thuyết và thực tế, qua dấu hiệu trực quan của Graph Điều này đã được cácnhà nghiên cứu tâm lí khẳng định Trong dạy học, các giác quan có thể tri giác thông tinhoàn toàn khác nhau Trong cùng một đơn vị thời gian, tiếp nhận thông tin của thị giác là
3 triệu bis/s, của thính giác là 30000 – 50000 bis/s Như vậy tri nhận thông tin của thịgiác gấp 100 lần thính giác Điều này nói nên ưu thế rõ rệt của dạy học bằng thị giác sovới thính giác Vì thế dạy học bằng các phương tiện trực quan, trong đó phương phápGraph là một ưu thế lớn không chỉ cho các khoa học tự nhiên mà còn có khoa học xã hộitrong đó có dạy học Ngữ văn
Thứ ba là xét trên hoạt động dạy học nói chung và Ngữ văn nói riêng, Graph cómột ưu thế vượt trội so với phương pháp truyền thống Nhìn từ góc độ lí thuyết Graph,thực chất việc chuẩn bị bài dạy của GV là việc cấu trúc hóa toàn bộ những kiến thức củamột bài học, tiết học nào đó bằng ngôn ngữ trực quan, súc tích và khái quát cao Cấu trúchóa nội dung kiến thức bằng Graph (có hoặc vô hướng, mở hay khép) là một minh chứngkhẳng định GV nắm vững kiến thức, chủ động tổ chức dạy học Chọn Graph là chọn mộtphương pháp tối ưu nhưng lại hết sức sinh động, phong phú để tạo hệ thống hóa, kháiquát hóa bài học trên lớp, mà dùng lời đôi khi khó diễn đạt hết Đối với HS, Graph giúp
HS có điểm tựa thuận lợi trong việc chủ động lĩnh hội kiến thức Do tính trực quan, côđọng của những lưu ý ghi chú, khái quát của kí hiệu mã hóa nội dung, các sơ đồ giúp HS
Trang 27nắm vững hơn, tái hiện nội dung bài học thuận lợi hơn Thêm vào đó các em vừa nắmvững kiến thức từng bài vừa có cái nhìn tổng thể trong mối quan hệ của các đơn vị kiếnthức cấu thành bài học và các kiến thức bài học khác
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần lưu ý đến điều kiện để lập một Graph theo nội dungnhất định Chúng ta nên có sự lựa chọn chứ không phải tất cả các bài học, các phần kiếnthức bài học trong chương trình đều áp dụng được phương pháp này Chúng ta chỉ nên sửdụng sử dụng phương pháp Graph để dạy những bài học có nhiều kiến thức có quan hệlogic, phức tạp, gây khó khăn cho sự lĩnh hội tri thức của người học hoặc hệ thống, tổngkết, đơn giản hóa, cô đọng kiến thức trọng tâm nào đó giúp HS dễ học, dễ nhớ, dễ vậndụng Việc vận dụng phương pháp Graph trong dạy học các bộ môn khoa học nhằm nângcao chất lượng dạy học các môn học trong đó có bộ môn Ngữ văn ở trường THPT đượcxem như là một trong những bước tiến vượt bậc cho đổi mới và ứng dụng toán học vàohành trang mới vừa tiếp cận vừa bổ sung vào hệ thống các phương pháp dạy học truyềnthống và còn là việc làm tạo ra sự phong phú cho các phương pháp dạy học
Graph trong dạy học đọc hiểu tích cực một số văn bản truyện ngắn theo đặc trưngthể loại mà chúng tôi sử dụng chủ yếu là sơ đồ tư duy, đồ thị quan hệ và bảng biểu chomột số phương diện nội dung, hình thức hoặc lồng ghép cả hình thức và nội dung Trên
cơ sở đặc trưng của thể loại truyện ngắn, chúng tôi thấy Graph có một ưu thế vượt trộitrong việc mô hình hóa để làm sáng rõ các phương diện thể loại truyện ngắn Chúng tôixin cụ thể hóa việc vận dụng lý thuyết Graph trong toán học vào đọc hiểu truyện ngắntheo đặc trưng thể loại ở một số phương diện chính
Về cốt truyện Trong truyện ngắn, nhân vật mang sự kiện tạo nên dòng chảy của
câu chuyện Chúng tôi sẽ dùng Graph để sơ đồ hóa thành cốt truyện để HS dễ ghi nhớ vànắm được tiến trình của câu chuyện Các cách tóm tắt truyện theo nhân vật chính, theo sựkiện văn bản, hay lồng ghép cả hai đều được Graph hóa dễ dàng Chúng tôi lấy một ví dụ
về tóm tắt theo nhân vật chính và theo sự kiện trong văn bản
Nhiệm vụ chúng tôi đặt ra cho học sinh là tóm tắt tác phẩm truyện ngắn theo tiếntình thời gian, không gian và các sự kiện tiêu biểu gắn với nhân vật chính hoặc theo sựkiện chính diễn ra theo tiến trình văn bản, để Hs nắm được nội dung cốt truyện của tácphẩm Chúng tôi sử dụng phương pháp Graph để sơ đồ hóa logic hóa các mốc thời gian,địa điểm (không gian) nhân vật và các sự kiện, giúp các em ghi nhớ và tư duy sâu đơn vịkiến thức cơ bản trọng tâm này của một truyện ngắn Học sinh đọc và ghi nhớ cốt truyệnkhông còn máy móc, học vẹt mà có các cơ sở khoa học và đặc biệt hơn nó có tính trựcquan hấp dẫn của trò chơi Rubic Graph Mỗi HS sẽ tạo được Graph cho riêng mình theogóc trông của bản thân và từ một mô hình Graph hoàn thiện với bài học cụ thể nào đó các
em sẽ Graph hóa được dễ dàng các bài học khác
Trang 28Về nhân vật Trong truyện ngắn, nhân vật là linh hồn, hình tượng trung tâm của
câu chuyện Nhân vật thường được khám phá ở các phương diện như ngoại hình, ngônngữ, hành động, tính cách, số phận … Để từ đó, chúng ta rút ra được nghệ thuật xâydựng nhân vật cũng như thông điệp giá trị tư tưởng mà nhà văn gửi gắm qua nhân vật.Chúng tôi sẽ dùng Graph để sơ đồ hóa các nhóm nhân vật để HS dễ ghi nhớ và dùngbảng biểu phiếu học tập để học sinh nắm được các phương diện của nhân vật được miêu
tả phản ánh trong truyện Chúng tôi lấy một số ví dụ định hướng chung cho khám phá cácnhân vật chính
Với nhiệm vụ hướng dẫn học sinh tìm các nhóm nhân vật có quan hệ với nhau vềtiêu chí nhất định hoặc tìm hiểu về nhân vật chính, để nắm được nội dung và đặc sắcnghệ thuật của tác phẩm, chúng tôi sử dụng phương pháp Graph để tạo sơ đồ tư duy chomối quan hệ giữa các nhân vật, dùng bảng biểu khám phá về nhân vật chính, giúp các HSghi nhớ và tư duy sâu đơn vị kiến thức cơ bản này Phương tiện CNTT giúp cụ thể hóađơn vị kiến thức tạo hình khối, màu sắc, hiệu ứng trực quan sinh động Mỗi HS sẽ có mộtgóc trông tiếp nhận văn bản khác nhau để chia nhóm và khám phá các nhân vật cho riêng
Trang 29mình và từ việc tìm hiểu hệ thống nhân vật, nhân vật chính trong tác văn bản cụ thể nào
đó, Hs sẽ dễ dàng tìm hiểu nhân vật trong các văn bản truyện ngắn khác
Về tình huống truyện Trong truyện ngắn, tình huống truyện là đặc trưng cốt lõi
quy tụ các đặc trưng làm nên dấu ấn thể loại Về bản chất dưới lý thuyết của quang hìnhtrong vật lí chúng ta thấy tình huống là đường phân cách giới hạn, lát cát phân giới của sự
bể gãy điểm nhìn của một chủ thể nhân vật trong sự thay đổi hoàn cảnh, môi trường hay
là sự va chạm điểm nhìn của các chủ thể nhân vật khác nhau về cùng một vấn đề Chúngtôi sẽ dùng Graph để sơ đồ hóa thành sự va chạm đối lập, bẻ gẫy đó để Hs dễ ghi nhớ vàdùng bảng biểu phiếu học tập để học sinh nắm được biểu hiện cụ thể phản ánh trongtruyện Chúng tôi lấy ví dụ xây dựng Graph về sơ đồ cho hai kiểu tình huống gắn với sựthay đổi môi trường của một nhân vật và sự xung đột không đồng nhất của những cuộcgặp gỡ tiếp xúc điểm nhìn của các nhân vật với nhau
Nhiệm vụ chúng tôi hướng dẫn học sinh là tìm ra sự kiện là tình huống truyện gắnvới tình cảnh éo le của một nhân vật hoặc sự va chạm quan điểm của các nhân vật Chúngtôi sử dụng phương pháp Graph để tạo sơ đồ tư duy cho mối quan hệ giữa sự thay đổikhác nhau trong từng hoàn cảnh của nhân vật hoặc sự đối lập quan điểm của các nhânvật, giúp các HS ghi nhớ và tư duy sâu đơn vị kiến thức cơ bản này Phương tiện CNTTgiúp cụ thể hóa đơn vị kiến thức tạo hình khối, màu sắc, hiệu ứng trực quan sinh động.Với phương pháp tiếp cận của vật lí và toán học này, việc tìm ra và Graph hóa tình huống
Trang 30truyện sẽ là một trò chơi trí tuệ, theo các góc trông tiến nhaanh riêng cho các em HS Khi
đó, các em HS dễ dàng chinh phục khám phá các truyện ngắn một cách say mê thích thú
Ngoài ra, trong quá trình hướng dẫn HS đọc hiểu truyện ngắn, chúng tôi sẽ sửdụng Graph một cách linh hoạt vào việc hướng dẫn HS tự học ở nhà (trước và sau bàihọc), trong các phần khác của tiến trình bài dạy trên lớp (đọc tiểu dẫn, tổng kết các giá trịnội dung và nghệ thuật của truyện ngắn), tạo nên tính toàn diện và chỉnh thể cho bài dạy
2.2 Thực nghiệm qua Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Trên cơ sở định dạng được thể loại và việc lựa chọn, tìm ra phương pháp giảng dạyvăn bản truyện ngắn (dùng các lý thuyết của vật lí, toán học để cách tiếp cận đúng đặc
trưng về cả hình thức và nội dung của truyện), ở phần này chúng tôi sẽ tiến hành thực
nghiệm sư phạm qua việc tổ chức các hoạt động dạy học để biến những lí thuyết trừu tượng đã được nghiên cứu, xác lập, định dạng ở phần trên vào thực tiễn giảng dạy để kiểm nghiệm và điều chỉnh Đây là con đường tất yếu của mối quan hệ lí luận
và thực tiễn Lí luận phải được kiểm định và phải được điều chỉnh bởi thực tiễn Có nhưvậy lí luận trừu tượng mới biểu hiện sự tồn tại của nó ở hiện thực và có ý nghĩa trong đờisống con người, khi mà màu xám của lí thuyết được chuyển hóa thành màu xanh tươimới đầy sức sống của cây đời Các lí thuyết trên đối với nhà sư phạm phải gắn liền vớithực nghiệm sư phạm qua chính kế hoạch dạy học và các hoạt động dạy học của thầy và
trò trong thực tế giáo dục Chúng tôi thực nghiệm vào đọc hiểu truyện ngắn Chiếc thuyền
ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu.
Sau 1975, đất nước thoát khỏi chiến tranh, bước vào giai đoạn xây dựng phát triểntrong quỹ đạo hòa bình, mở ra cho văn học những tiền đề mới Vốn giàu tâm huyết vớivăn chương, luôn trăn trở về một nền văn học xứng đáng với nguyện vọng của nhân dân,
Trang 31Nguyễn Minh Châu sớm ý thức được yêu cầu phải đổi mới tư duy văn học Bắt đầu từtruyện ngắn Bức tranh (1982), ngòi bút của ông dành sự quan tâm đặc biệt cho nhữngvấn đề thế sự Từ cảm hứng sử thi - lãng mạn từng làm nên vẻ đẹp rực rỡ của tác phẩm
Cửa sông, Mảnh trăng cuối rừng, Dấu chân người lính, … ông chuyển dần sang cảm
hứng triết luận về những giá trị nhân bản đời thường Tâm điểm những khám phá nghệthuật của ông là con người trong cuộc mưu sinh, trong hành trình nhọc nhằn kiếm tìm
hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách Hai tập truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu
tốc hành (1983) và Bến quê (1985) đã đưa tên tuổi Nguyễn Minh Châu lên vị trí “người
mở đường tinh anh và tài năng” của văn học nước ta thời kì đổi mới
Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa lúc đầu được in trong tập Bến quê, sau được Nguyễn Minh Châu lấy làm tên chung cho một tuyển tập truyện ngắn (1987) Chiếc
thuyền ngoài xa rất tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự của nhà văn ở
giai đoạn sáng tác thứ hai Cái nhìn hiện thực đa chiều đã giúp ông nhận ra đời sống conngười bao gồm cả những qui luật tất yếu lẫn những ngẫu nhiên may rủi khó bề lường hết.Ông day dứt về việc con người phải chấp nhận những nghịch lí không đáng có Gánhnặng mưu sinh đè trĩu trên đôi vai cặp vợ chồng hàng chài, giam hãm họ trong cảnh tămtối, đói khổ, bấp bênh Người chồng tha hóa trở thành kẻ vũ phu, thô bạo Người vợ vìthương con nên chịu sự ngược đãi của chồng mà không biết rằng đã làm tổn thương tâmhồn đứa con thơ dại Đứa bé yêu mẹ, bênh vực mẹ thành ra thù địch với cha và ai biếtliệu trong tương lai cậu có thể sống khác cha mình? Phía sau câu chuyện buồn này, tráitim nhân hậu của Nguyễn Minh Châu vẫn ấm áp niềm tin yêu, trân trọng trước vẻ đẹptuổi thơ, tình mẫu tử, sự can đảm và bao dung của người phụ nữ Đó không phải kiểu vẻđẹp chói sáng, hào hùng mà là những hạt ngọc khuất lấp, lẫn trong cái lấm láp, lam lũ của
đời thường Theo ông, tình yêu ở người nghệ sĩ “vừa là một niềm hân hoan say mê, vừa
là một nỗi đau đớn, khắc khoải, một mối quan hoài thường trực về số phận, hạnh phúc của những người xung quanh mình”
Đọc hiểu truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu,
chúng tôi sẽ luôn thống nhất linh hoạt việc vận dụng các lý thuyết của vật lí và toán học.Các lý thuyết vật lí sẽ giúp chúng tôi làm sáng tỏ các đơn vị kiến thức quan trọng trongvăn bản như tình huống truyện, phân tích các nhân vật để làm rõ tính cách, nội dung tưtưởng chủ đề của tác phẩm Graph sẽ sơ đồ hóa các đơn vị kiến thức, tạo bảng biểu, phiếuhọc tập, tổ chức sinh động các hoạt động dạy học Các lý thuyết này có lúc chúng tôi sửdụng độc lập, nhưng phần lớn chúng sử dụng tích hợp hòa quyện với nhau tạo nên sự kếtnối hiệu quả trong suốt tiến trình tổ chức hoạt động dạy học Với cái nhìn của lý thuyếtgóc trông của vật lí, các em sẽ được tiếp cận văn bản này theo góc trông của mình – tiếpnhận như những độc giả độc lập Tùy thuộc vào trình độ, năng lực phẩm chất, quan điểm,
Trang 32cá tính của các em mà sẽ hình thành việc tiếp cận ban đầu Các em sẽ được tình bày suynghĩ – góc trông của mình trong suốt giờ đọc hiểu và trong các phần luyện tập thực hành(đặt câu hởi, xây dựng đáp án cho phần đọc hiểu) và điều chỉnh mình sao cho phù hợpnhất tránh sự va chạm các góc trông điểm nhìn khác mình Trong quá trình thực hiệnnhiệm vụ học tập và tương tác các góc trông với bạn bè và thầy cô, HS sẽ lựa chọn cáchứng xử phù hợp Các em biết dũng cảm đối diện với khó khăn để chinh phục kiến thứcmới, biết phản xạ toàn phần với cái cũ lỗi thời, phản biện ý kiến sai lầm, biết tiếp thu cáimới tích cực đúng đắn từ mọi người nhưng luôn kế thừa nền tảng cái đã có, ý kiến chủquan của mình Đó là một trong những lợi ích quan trọng nhất mà lý thuyết vật lí đem lại.Graph hóa sẽ cho các em biểu hiện rõ ràng mạch lạc khoa học các kiến thức NhưngGraph cũng mang sắc màu riêng của các em khi các em lựa chọn kiểu sơ đồ nào, hìnhkhối, màu sắc mối quan hệ, tổ chức sắp xếp các kiến thức theo góc trông của các em Bêncạnh đó, chúng tôi sẽ sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học mới như nhóm, tròchơi, câu hỏi nêu vấn đề, thuyết trình … để cho các hoạt động dạy học sinh động hấpdẫn, tích cực hóa hoạt động của HS phát huy được đầy đủ các năng lực và phẩm chất củacác em.
Trên cơ sở đặc điểm của tác phẩm đó, bài học truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa
trong sách giáo khoa Ngữ văn cơ bản lớp 12 được chia làm bốn phần với các phần tươngứng là tiểu dẫn, văn bản, hướng dẫn học bài và luyện tập Chúng tôi sẽ hướng dẫn họcsinh tiếp cận bài học trên đi từ tiểu dẫn đến đọc hiểu văn bản và cuối cùng là luyện tập.Phần hướng dẫn học bài, HS kết hợp với phiếu học tập, các câu hỏi định hướng khác củachúng tôi, sẽ là phần chuẩn bị bài ở nhà của HS để làm tiền đề tạo tâm thế cho các emtiếp cận văn bản này trên lớp
xa trong dòng chảy thể loại và tiến trình lịch sử văn học Để tiến hành hoạt động, chúng
tôi sử dụng máy tính và trình chiếu các hình ảnh sơ đồ Graph và trò chơi gọi tên cho ảnh
GV chiếu ảnh và đặt câu hỏi cho HS:
Đặt tên cho mỗi bức ảnh?
HS trả lời cá nhân, theo lí giải theo mỗi góc trông của bản thân đẻ gọi tên cho mỗi hìnhảnh GV gợi dẫn một số gợi ý, từ đó đặt câu hỏi kết nối bài cũ, định hình thể loại theotiến trình văn học, cũng như đặc điểm thể loại theo giai đoạn bằng Graph:
Những hình ảnh trên gợi dẫn các em đến văn bản nào đã học?
Trang 33HS sẽ phải kết nối hình ảnh, liên hệ kiến thức đã học để tim câu trả lời tên tác phẩm
Rừng xà nu, từ đó Gv định hướng vấn đề qua câu hỏi:
Các em cho biết, Rừng xà nu ra đời trong hoàn cảnh lịch sử nào, vấn đề trung tâm là gì?
HS kết nối và tái hiện kiến thức các bài học cũ để trả lời Trên phần trả lời của HS, GV
nhấn mạnh: Rừng xà nu ra đời trong hoàn cảnh lịch sử đất nước có chiến tranh, chống Mĩ
khốc liệt, vì vậy vấn đề độc lập dân tộc, sự sống của cộng đồng là vấn đề trung tâm phảnánh của truyện ngắn này Đó cũng chính là hai đặc điểm chính tạo nên dấu ấn văn học1945-1975 Chính hai yếu tố này tạo nên một đặc trưng khung hướng thẩm mĩ của vănhọc chống Mĩ là khung hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn Sau chiến tranh chống Mĩ,đất nước bước vào thời kì hòa bình thống nhất, vậy văn học và truyện ngắn giai đoạn này
có còn phản ánh vấn đề chung, cộng đồng qua khung hướng sử thi và cảm hứng lãng mạnhay không? GV dẫn dắt vào mới qua việc giới thiệu đặc điểm văn học Việt Nam sau 1975bằng Graph
Trên cơ sở khởi động tạo tâm thế cho HS, GV dẫn vào bài học: Vậy những đặc
điểm đó biểu hiện qua tác phẩm cụ thể như thế nào? Hôm nay, với việc đọc hiểu Chiếc
thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu “thuộc trong số những nhà văn mở
Trang 34đường tinh anh và tài năng nhất của văn học thời kì đổi mới” (Nguyên Ngọc), chúng ta
sẽ có cái nhìn cụ thể hơn về đặc điểm truyện ngắn sau 1975
Dựa vào phần thông tin tác giả ở Tiểu dẫn Sgk lớp 12 và lớp 9, các em hãy cho biết Sgklớp 12 đã kế thừa và bổ sung Sgk lớp 9 những kiến thức nào?
Kiến thức lớp 9 Kiến thức lớp 12
Nguyễn Minh Châu (1930-1999), quê ở Quỳnh Lưu,
Nghệ An, vào bộ đội năm 1950,viết văn 1954
Là cây bút văn xuôi tiêu biểu của nền văn học chống
Mĩ, sau năm 1975, sáng tác của ông (truyện ngắn) đã
thể hiện những tìm tòi quan trọng về tư tưởng và
nghệ thuật đổi mới văn học
Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
Sự nghiệp văn học qua các tácphẩm
Với câu hỏi này, HS đọc trong học liệu (đọc nhanh trên dòng) thu thập thông tin, so sánh,
hệ thống, phát triển kiến thức tạo nên năng lực nghiên cứu hệ thống hóa thông tin qua các
tài liệu Trên cái nhìn so sánh đó, phần kiến thức mới bổ sung là các tác phẩm GV sử dụng Graph là sơ đồ mối quan hệ: thời gian, tác phẩm, đặc điểm nghệ thuật Phần tên
tác phẩm, thời gian GV cho HS lập Graph cho riêng bản thân (vào vở) Trên cơ sở đó GVcung cấp sơ đồ Graph, phát triển kiến thức cho HS về các đặc điểm nội dung và nghệthuật nổi bật của các tác phẩm đó và đọc một số đoạn văn tiêu biểu trong một số tácphẩm GV đặt câu hỏi:
Các em có thể chia sự nghiệp sáng tác của tác giả thành các giai đoạn nào? Từ đó hãykhái quát đặc điểm cơ bản của các giai đoạn đó?
Với câu hỏi này, HS đọc và kết nối các kiến thức (đọc giữa dòng), để trả lời câu hỏi GVđịnh hướng hai giai đoạn trước và sau 1975, với sự vận động văn học theo khunh hướng
Trang 35sử thi lãng mạn sang thế sự đời tư Từ đây, GV đặt câu hỏi phát triển tư duy khái quát choHS:
Từ Graph về tác phẩm, em hãy đánh giá, nhận xét về sự nghiệp văn học của NguyễnMinh Châu?
Với câu hỏi này, HS tư duy, kết nối các kiến thức (đọc khỏi dòng), đưa ra đánh giá củamình với góc trông của bản thân Trên cơ sở đó GV gợi dẫn một số cụm từ: vận động đổimới, sáng tạo bền bỉ …
GV giới thiệu chân dung và các đánh giá về vị trí của nhà văn Đúng như nhà văn
Nguyên Ngọc để nói về vị trí của Nguyễn Minh Châu trên văn đàn: “Nguyễn Minh Châu
là nhà văn có vị trí rất đặc biệt trong đời sống văn học ta khoảng vài ba chục năm trở lại đây, đặc biệt trong khoảng thời gian hơn mười năm nay, tức là thời kì mà văn học đang
có những sự chuyển động rất phong phú, sâu sắc và phức tạp, một thời kì trở mình, trở
dạ quằn quại của đất nước, của xã hội, của con người, của văn học” Một trong những
nhà văn “mở đường tinh anh và tài năng nhất” của văn học thời kì đổi mới.
GV định hướng năng lực (hệ thống và phát triển kiến thức qua đọc tài liệu) và giáodục HS (luôn làm mới, mở rộng bản thân…)