Phần Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918 nằm toàn bộ trong chương trìnhLịch sử lớp 11 Phần sử Việt Nam phản ánh cuộc đấu tranh chống xâm lượccủa nhân dân Việt Nam trong khoảng thời gian một
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NAM ĐỊNH TRƯỜNG THPT
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
THIẾT KẾ MỘT SỐ CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM
Trang 2THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: THIẾT KẾ MỘT SỐ CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ 1858 ĐẾN 1918
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giảng dạy bộ môn lịch sử ở các trường THPT
3 Thời gian áp dụng sáng kiến: Năm học 2016 - 2017
Chức vụ công tác: Thư kí Hội đồng
Nơi làm việc: Trường THPT Nam Định
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: Trường THPT Nam Định
Địa chỉ liên hệ: Số 50 khu A2 – TT Cổ Lễ - Trực Ninh – Nam Định
Điện thoại: 0945051476
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 30 %
6 Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường THPT Nam Định
Địa chỉ: Đường Vị Xuyên -Nam Định
Điện thoại: 03503640297
Trang 3BÁO CÁO SÁNG KIẾN
I ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
Ngành giáo dục đào tạo tỉnh Nam Định trong thời gian qua luôn tự hàođạt được nhiều thành tích về kết quả thi học sinh giỏi các cấp đặc biệt là thànhtích thi học sinh giỏi quốc gia Trong đó trường THPT luôn là lá
cờ đầu với bề dày thành tích Tuy nhiên chất lượng giáo dục chưa đồng đềutrong toàn tỉnh nhất là chất lượng học sinh giỏi
Bộ môn Lịch sử là một trong những bộ môn quan trọng trong trườngTHPT góp phần giáo dục tư tưởng, tình cảm và ý thức trách nhiệm của học sinh.Chúng ta đã không còn xa lạ gì với tình trạng học sinh đang ngày càng thờ ơ vớimôn sử Một bài toán khó đặt ra cho các giáo viên dạy Lịch sử ở các trường làlàm thế nào để làm thay đổi nhận thức của học sinh về bộ môn, làm thể nào đểcác em say mê, hứng thú với môn sử Để làm được điều này cần có sự kết hợpcủa nhiều yếu tố, trong đó phương pháp dạy học đóng vai trò quan trọng Ngườithầy phải biết lựa chọn nội dung và phương pháp dạy phù hợp với nội dung đó
Phần Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918 nằm toàn bộ trong chương trìnhLịch sử lớp 11 (Phần sử Việt Nam) phản ánh cuộc đấu tranh chống xâm lượccủa nhân dân Việt Nam trong khoảng thời gian một nửa thế kỉ, trải qua các giaiđoạn, các thời kì phức tạp của đất nước: thời kì đấu tranh bảo vệ nền độc lập dântộc (1858 – 1884); thời kì đấu tranh giành lại nền độc lập dân tộc dưới ảnhhưởng của ý thức hệ phong kiến (1885 – 1896); thời kì vận động yêu nước vàcách mạng có tính chất dân chủ tư sản đầu thế kỉ XX và phong trào yêu nướctrong những năm Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918)
Bên cạnh nội dung sách giáo khoa lịch sử, rất cần bổ sung thêm cácchuyên đề nâng cao để hệ thống kiến thức và giúp học sinh hiểu sâu hơn về cácvấn đề lịch sử Từ thực tế đó, trong quá trình giảng dạy ở các lớp chuyên sử vàcác đội tuyển học sinh giỏi của trường THPT , chúng tôi đã rút
Trang 4ra một vài kinh nghiệm của bản thân trong việc thiết kế một số chuyên đề bồidưỡng học sinh giỏi phần Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1918.
II MÔ TẢ GIẢI PHÁP
1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
- Để nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn lịch sử ở trường phổ thông, ngoàiviệc cung cấp kiến thức cơ bản như trong sách giáo khoa thì việc ôn tập, củng cốkiến thức theo hệ thống vấn đề là điều rất cần thiết Đây là giai đoạn học sinh sẽxây dựng được một hệ thống kiến thức theo một lôgic nhất định, đi sâu vào bảnchất và liên hệ các kiến thức với nhau
- Hiện nay vấn đề ôn tập, củng cố kiến thức bộ môn lịch sử còn chưa thực
sự có hiệu quả do điều kiện thời gian, do giáo viên chưa quan tâm đúng mức haychưa có phương pháp ôn tập phù hợp Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đếnchất lượng học tập bộ môn
2 Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
Chương 1:
THIẾT KẾ NỘI DUNG MỘT SỐ CHUYÊN ĐỀ PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ 1858 ĐẾN 1918
1.1 Nội dung cơ bản của Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918.
Trong sách giáo khoa Lịch sử lớp 11, phần Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến
1918 được chia làm 2 chương:
Chương I: Việt Nam từ năm 1858 đến cuối thế kỉ XIX với nội dung cơ
bản sau:
- Bối cảnh nước Việt Nam vào những năm 60 của thế kỉ XIX đang lâmvào khủng hoảng về mọi mặt: kinh tế, chính trị, xã hội, quân sự… trong khi cácnước tư bản phương Tây đang ráo riết đẩy mạnh xâm chiếm thuộc địa, thịtrường Đây là nguyên nhân sâu sa dẫn đến việc Pháp nổ súng xâm lược ViệtNam vào năm 1858
- Từ năm 1858 đến năm 1884, bằng sự kết hợp giữa hành động quân
sự với thủ đoạn chính trị ngoại giao, thực dân Pháp đã từng bước đánh
Trang 5chiếm Việt Nam Trong khi nhân dân ta hăng hái đấu tranh chống Pháp,nêu cao ý chí độc lập, phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc thì triềuđình nhà Nguyễn tỏ ra bị động và thiếu tích cực, chọn đường lối “thủ đểhòa”, lần lượt kí với các Hiệp ước 1862, 1874, 1883, 1884 đi từ nhânnhượng, thỏa hiệp đến đầu hàng hoàn toàn Với hiệp ước Patơnốt năm
1884, Việt Nam chính thức trở thành thuộc địa của Pháp, triều đình phongkiến trở thành công cụ trong tay chính quyền thực dân
- Trước cuộc xâm lược và thống trị của thực dân Pháp, nhân dân ta trong
đó gồm một bộ phận sĩ phu, văn thân yêu nước và đông đảo quần chúng nhândân không chịu khuất phục đã dũng cảm đứng lên kháng chiến chống Pháp,hưởng ứng chiếu Cần Vương Phong trào Cần Vương diễn ra sôi nổi trong suốt
10 năm cuối thế kỉ XIX với hình thức chủ yếu là khởi nghĩa vũ trang, tiêu biểu 4cuộc khởi nghĩa lớn , nhưng do thiếu đường lối đấu tranh đúng đắn nên đềuthất bại Sự bế tắc của phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến đã báohiệu sự khủng hoảng về đường lối cứu nước và giai cấp tiên tiến lãnh đạo
- Song song với phong trào Cần Vương là cuộc khởi nghĩa nông dân YênThế do Hoàng Hoa Thám lãnh dạo Cuộc khởi nghĩa này trong chừng mực nào
đó đã không quá lệ thuộc vào ý thức hệ phong kiến Vì vậy họ đã làm nên những
kì tích Mặc dù so sánh lực lượng yếu hơn địch nhiều lần nhưng họ vẫn duy trìsuốt 30 năm Tuy nhiên phong trào vẫn không có đường lối đúng đắn của 1 giaicấp tiên tiến nên cuối cùng cũng thất bại
Chương II: Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất với nội dung cơ bản sau:
- Từ 1896 - 1914 thực dân Pháp tiến hành chính sách khai thác thuộc địalần 1, từ đó đã tác động làm cho nền kinh tế và xã hội Việt Nam có nhiều biếnđổi Thêm vào đó, những trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản từ Trung Quốc, NhậtBản dội vào nước ta Những điều kiện về kinh tế, xã hội, tư tưởng đã ảnh hưởngđến phong trào yêu nước của dân tộc ta trong đầu thế kỉ XX
Trang 6- Bước sang đầu XX, các nhà yêu nước Việt Nam đã nhận thức rằng: conđường cứu nước của nhân dân Việt Nam không thể duy trì như cũ được nữa Họ
đã bắt đầu từ bỏ những tư tưởng theo ý thực hệ phong kiến và cũng bắt đầu nhận
ra cuộc vận động giải phóng dân tộc phải đổi mới, phải xây dựng đất nước theotinh thần dân chủ: nước gắn liền với dân Phong trào yêu nước và cách mạng ởViệt Nam đầu thế kỉ XX theo khuynh hướng dân chủ tư sản diễn ra với 2 xuhướng chính: xu hướng bạo động đại diện là Phan Bội Châu, xu hướng cải cáchđại diện là Phan Châu Trinh Tuy nhiên khuynh hướng cứu nước mới này cũngkhông đáp ứng được yêu cầu khách quan của lịch sử
- Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918), chínhsách của Pháp ở Việt Nam thay đổi đưa đến những chuyển biến mới về kinh tế,
xã hội Trong thời gian chiến tranh, mặc dù vẫn có các cuộc khởi nghĩa do cácyếu nhân của Việt Nam Quang phục hội tiến hành, hay các cuộc nổi dậy của cácdân tộc thiểu số và phong trào Hội kín ở Nam Kì nhưng xét tổng thể cácphong trào đều rơi vào bế tắc, thất bại
- Cho đến đầu thế kỉ XX, phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân tavẫn trong tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước Trong bối cảnh đó,Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước mở ra một hướng đi mới cho cáchmạng Việt Nam
1.2 Một số chuyên đề phần Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918
Trên cơ sở những kiến thức cơ bản học sinh đã được trang bị khi học ởtrên lớp theo chương trình sách giáo khoa, khi ôn tập cho học sinh, giáo viên nênlựa chọn ra các vấn đề cơ bản, quan trọng, mang tính chất tổng hợp của từng giaiđoạn hay những vấn đề bổ dọc qua các giai đoạn Thực tế cho thấy, việc ôn tậptheo từng vấn đề đem lại hiệu quả rất cao Nó làm cho kiến thức đã học trở nênphong phú, lôgic nhờ một tư tưởng mới, nó xem xét những điều đã học dướimột góc nhìn mới và dẫn đến kết quả là không chỉ những điều đã học đượccủng cố, mà các tri thức còn được sắp xếp thành hệ thống và học sinh có ýthức sâu sắc hơn về ý nghĩa của các sự kiện, hiện tượng lịch sử ấy Tính hệ
Trang 7thống là một trong những đặc điểm nổi bật của tri thức lịch sử Vì vậy, khigiảng dạy lịch sử, người giáo viên phải chú ý đến mối quan hệ ngang dọc,trước sau của các sự kiện lịch sử, vì có nắm được tri thức theo một hệ thống
và trật tự lôgic thì mới có thể ứng dụng những tri thức đó để giải quyếtnhững vấn đề có tính chất thực tiễn
Cụ thể, khi ôn tập phần Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918, chúng tôixin đưa ra một số chuyên đề sau:
1 Vai trò và trách nhiệm của nhà Nguyễn đối với việc để nước ta rơi vào tay thực dân Pháp ở thế kỉ XIX
2 Cuộc kháng chiến chống Pháp bảo vệ nền độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam từ 1858 – 1884.
3 Phong trào Cần vương chống Pháp cuối thế kỉ XIX.
4 Hai xu hướng trong phong trào yêu nước và cách mạng đầu thế kỉ XX.
5 Các tư tưởng cải cách, canh tân ở Việt Nam từ nửa cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX.
Sau đây chúng tôi xin lấy ví dụ nội dung một số chuyên đề của phần lịch
sử Việt Nam từ 1858 đến 1918:
Chuyên đề 1:
Vai trò và trách nhiệm của nhà Nguyễn đối với việc để nước ta rơi vào
tay thực dân Pháp ở thế kỉ XIX.
Xung quanh nguyên nhân nước ta rơi vào tay thực dân Pháp cuối thế kỉXIX và trách nhiệm của nhà Nguyễn trong tai họa đau khổ này - do xuất phát từnhững góc độ nhìn nhận khác nhau, cho đến tận bây giờ, vẫn còn có không ít ýkiến hoặc trái ngược, hoặc phiến diện, thiếu đầy đủ Bên cạnh những ý kiến hơi
có vẻ cực đoan: trút tất cả sự hận thù, căm ghét, giận giữ lên đầu triều đìnhphong kiến nhà Nguyễn, cho nhà Nguyễn là vương triều tối phản động, là đồđáng bỏ đi, không cần xem xét thực hư, trái phải, kết tội nhà Nguyễn là kẻ phảichịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc để mất nước ta…, thì lại có những ý kiến
Trang 8đối lập Những ý kiến này đã cố tình bênh vực cho nhà Nguyễn, cho rằng việcmất nước ta ở cuối thế kỉ XIX là một tất yếu, thậm chí là “một tai hoạ cần thiết”,
đã giúp nhân dân ta thoát khỏi chế độ bán khai Và việc tìm hiểu nguyên nhânnước ta rơi vào tay thực dân Pháp cũng như trách nhiệm của triều Nguyễn trongvấn đề này là hết sức quan trọng, cần thiết Nó giúp cho chúng ta có một thái độ,cái nhìn đúng đắn đối với vương triều cuối cùng trong lịch sử chế độ phong kiếnViệt Nam
1/ Bối cảnh lịch sử và nguyên nhân nước ta bị xâm lược
* CNTB phương Tây
- Từ nửa sau thế kỉ XIX, CNTB đang chuyển sang giai đoạn độc quyền,nhu cầu về thị trường, nhân công trở nên gay gắt châu Á và châu Phi là đốitượng nhòm ngó số 1 của tư bản phương Tây
- Thủ đoạn của các nước tư bản là dùng vũ trang buộc các nước kí kếtnhững hiệp ước bất bình đẳng đảm bảo thoả mãn những yêu cầu của chúng
* Các nước phương Đông
- Các nước phương Đông vẫn trong tình trạng lạc hậu về mọi mặt Chế độphong kiến đang bước vào giai đoạn khủng hoảng Trong khi tài nguyên dồidào, nhân công rẻ mạt việc bị xâm lược là không tránh khỏi
- Anh đã chiếm Ấn Độ, Ôttraylia, Inđônêxia bị Hà Lan xâm lược;Philippin là thuộc địa của Tây Ban Nha Nhật Bản và Trung Quốc phải kí nhữnghiệp ước bất bình đẳng với Anh - Pháp - Mĩ… Việt Nam cũng nằm trong quỹđạo đó
Kết luận: Đất nước ta bị Pháp xâm lược là một tất yếu khách quan Nếukhông phải là Pháp thì cũng sẽ là một tên đế quốc khác xâm lược Việt Nam.Thực dân Pháp có những điều kiện thuận lợi hơn các nước đế quốc khác ở ViệtNam
Trang 92/ Trách nhiệm của nhà Nguyễn đối với việc để nước ta rơi vào tay thực dân Pháp ở thế kỉ XIX.
Để làm rõ trách nhiệm của nhà Nguyễn, phải xét ở 2 thời điểm: trước khiquân Pháp xâm lược và trong quá trình Pháp xâm lược Việt Nam
a) Trước khi Pháp xâm lược.
- Chính sách đối nội:
Vương triều Nguyễn ra đời sau một thời gian dài chiến tranh liên miên,nền kinh tế đất nước trở nên tiêu điều, chính trị rối loạn, công việc cần làm trướcmắt của Gia Long và các ông vua đầu thời Nguyễn là bắt tay xây dựng và củng
cố nền thống trị trên nền tảng của ý thức hệ Nho giáo, một ý thức hệ tuy đã lỗithời ở phương Đông nói chung, ở Việt Nam nói riêng nhưng vẫn chưa có một cơ
sở kinh tế, xã hội đủ mạnh để có thể thoát ra khỏi vòng ảnh hưởng và chi phốicủa nó
Do sự thiếu thức thời, lệ thuộc thái quá vào nhưng bài học Trung Hoa đãdẫn các vua triều Nguyễn đi từ sai lầm này đến sai lầm khác, trước hết là ở việccủng cố thể chế quân chủ quan liêu chuyên chế, ở việc tập trung quyền lực tuyệtđối vào tay nhà vua, ở việc mô phỏng bộ luật nhà Thanh để làm ra Hoàng triềuluật lệ với những quy định hà khắc, chủ yếu là trừng trị và đối phó với nhữngcuộc nổi dậy của nhân dân Triều đình còn “bế quan toả cảng”, khước từ giaothiệp với các nước phương Tây, không cho phép người Âu lập phố xá, mở cửahàng, cùng chính sách cấm đạo, giết đạo khốc liệt
Nền kinh tế bị phá hoại nghiêm trọng trong những năm chiến tranh chưađược phục hồi, vì nhà nước chăm lo không đúng mức đến phát triển kinh tếnông nghiệp Nạn kiêm tinh ruộng đất gia tăng càng khiến phần lớn nông dânmất đất Nạn đói thường xuyên xảy ra, thiên tai, ôn dịch hoành hành làm hàngngàn nông dân phiêu tán… Trong khi đó nền công thương nghiệp lạc hậu khônggiúp gì cho việc cải thiện tình hình Hơn nữa chế độ thuế khoá hà khắc, chínhsách bế quan toả cảng đã hạn chế công thương nghiệp trong khuôn khổ kinh tếphong kiến, chống lại ảnh hưởng của kinh tế tư bản chủ nghĩa phương Tây, thái
Trang 10độ cầu an của giai cấp phong kiến thống trị khiến cho các lực lượng sản xuấtmới không thể nảy nở được…
Điều này quyết định sức đề kháng của đất nước trước sự xâm lược của thựcdân Pháp Khi Pháp xâm lược Việt Nam thì "quân và dân của đã hết, sức đãthiếu"
- Chính sách đối ngoại: chính sách đối ngoại của nhà Nguyễn có những hạn
chế, đó là:
+ Thứ nhất, sự bành trướng, xâm lược các nước xung quanh Ở thời kìMinh Mạng, nhà Nguyễn đã chiếm toàn bộ một nửa nước Lào, Campuchia, giaocho Lê Văn Duyệt quản lý Chính những chính sách cứng rắn này đã gây sự thùhằn giữa các dân tộc trên bán đảo Đông Dương
+ Triều Nguyễn đã tỏ ra khá lúng túng trong việc vừa muốn mở cửa để hoànhập vào thị trường của thế giới, vừa muốn đóng cửa để bảo toàn chủ quyền dântộc Chính sách hai mặt của triều Nguyễn trong việc mở cửa cho phép cácthương nhân Pháp vào buôn bán, vừa đóng cửa để ngăn chặn sự xâm nhập củathực dân Pháp, đã làm cho quan hệ bang giao giữa triều Nguyễn với thực dânPháp rơi vào tình trạng bế tắc
+ Thứ hai, chính sách cấm đạo của triều Nguyễn đã tạo ra một tâm lý khônghay, làm rạn nứt khối đoàn kết của dân tộc, làm suy yếu khả năng đề kháng củadân tộc ta trước sức mạnh của kẻ xâm lược
Như vậy, với tư cách là người quản lý, điều hành đất nước, triều Nguyễn
đã không giải quyết được cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội ở thế kỉ XIX, thậmchí còn làm cho tiềm lực kinh tế quốc gia suy kiệt, hao mòn sức dân, nước ViệtNam suy yếu mọi mặt và trở thành miếng mồi cho tư bản phương Tây
b) Trong quá trình Pháp xâm lược Việt Nam
Đây là lúc nhà Nguyễn với tư cách là một triều đại thống trị đất nước cần
tỏ rõ vai trò lãnh đạo của mình và gánh vác trọng trách lịch sử là kháng chiếngiữ nước Vậy triều Nguyễn đã làm gì?
Trang 11- Ngay từ đầu trước sự tấn công ồ ạt của quân Pháp, chính quyền phongkiến đã tỏ ra bị động Trong nội bộ đã sớm có sự phân hoá thành 2 phái: pháichủ chiến và phái chủ hoà.
+ Phái chủ chiến muốn dựa vào phong kiến Trung Quốc để đánh đuổi bọncướp xa lạ mà họ gọi là bọn "bạch quỷ", "dương quỷ"
+ Phái chủ hoà với các lập luận như "chiến không bằng hoà", "thủ đểhoà"…
Ý kiến được nhiều người tán thành là chủ hoà, cho thấy rằng đại bộ phậnhàng ngũ cầm quyền đã mang nặng tư tưởng sợ giặc, không kiên quyết chiếnđấu nên đã có nhiều sai lầm trong chỉ đạo kháng chiến, bỏ lỡ nhiều cơ hội đánhthắng kẻ thù
* Ở mặt trận Đà Nẵng.
Tháng 9/1858, Liên quân Pháp – Tây Ban Nha đánh vào Đà Nẵng Mặc
dù đã cử Nguyễn Tri Phương ra chặn giặc nhưng quan quân triều đình vẫn chỉnặng về phòng ngự, chỉ chủ trương bao vây địch ở ngoài mé biển, nếu địch đánhvào mới chống trả, còn không hề tấn công địch lần nào
* Ở mặt trận Gia Định và các tỉnh Nam Kì
Thành Gia Định được xây dựng từ thời Gia Long, là thành trì lớn nhấtmiền Nam, nơi đây có gần 1 vạn quân, 200 khẩu đại bác, 2000 vũ khí cầm tay, 9tàu chiến và số lượng lúa gạo có thể nuôi hàng vạn quân trong 1 năm Tuy nhiênquan lại ở đây chỉ chống cự yếu ớt và chưa đầy 1 buổi sáng thực dân Pháp đã lọtvào trong thành
Lúc này quân Pháp gặp khó khăn lớn: điều quân tiếp viện cho Đà Nẵng,một số khác vướng vào cuộc đấu tranh trên đất Ý ( tháng 4/1859), hạm đội liênminh Anh - Pháp bị Trung Quốc đánh bại trên sông Bạch Hà Số quân địch ởGia Định chỉ có dưới 1000 người dàn mỏng trên phòng tuyến dài hơn 10 cây số.Nhưng Nguyễn tri Phương chỉ ra sức đào hào đắp luỹ, xây dựng đại đồn ChíHoà mà không biết chớp thời cơ tiêu diệt địch Hậu quả là hàng ngàn quân bị tậptrung trong Đại Đồn chỉ để làm mục tiêu cho đại bác địch Chính tướng giặc
Trang 12Giơnuiy phải nhận rằng "Nếu họ đánh mạnh thì họ đã đánh bại chúng tôi từ lâurồi".
Khi Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kì, lúc này để cứu vãn quyền lợicủa giai cấp, triều Nguyễn đã vội vàng kí hiệp ước Nhâm Tuất (5/6/1862) cắt 3tỉnh miền Đông Nam Kì cho Pháp
Sau điều ước 1862, gần như triều Nguyễn đã không còn tư tưởng chiếnđấu mà ngả hẳn sang chủ trương nghị hoà thương thuyết Cũng từ đây, triều đình
đã đứng sang trận tuyến đối địch với nhân dân yêu nước Triều đình cho giải táncác đội nghĩa quân miền Đông, bắt nộp thủ lĩnh nghĩa quân cho Pháp, cấm đoánnhân dân miền Tây ủng hộ miền Đông kháng chiến, những người trái lệnh bịkhép vào tội khi quân
Từ 1863 - 1867 nhận thấy triều đình quá bạc nhược, Pháp quyết địnhchiếm nốt 3 tỉnh miền Tây Chỉ trong 5 ngày (20 24/6/1867), Pháp đã chiếmđược 3 tỉnh miền Tây mà không vấp phải sự kháng cự nào Lấy xong 3 tỉnhmiền tây, thực dân Pháp cho người ra Huế báo sự việc đã rồi Triều đình không
hề phản ứng mà chỉ xin đổi 3 tỉnh miền Tây mới mất để lấy lại tỉnh Biên Hoànhưng không được Pháp chấp nhận Cũng từ đây trở đi, nhà Nguyễn chỉ lo đếnviệc cai trị những vùng đất còn tạm thời được kiểm soát, không hề quan tâm đếnnhững vùng đất đã bị Pháp chiếm, coi đó đã là "đất của người ta", còn mìnhkhông còn trách nhiệm gì nữa Điều đó chứng tỏ triều Nguyễn hoàn toàn anphận trong việc chia sẻ quyền lực với kẻ thống trị mới, bỏ rơi dân chúng giữalúc gay go nhất
* Khi Pháp đánh ra Bắc Kì.
Tháng 10/1873 Pháp kéo quân ra Bắc, triều đình Huế đã đối phó lại rấtyếu ớt Thành Hà Nội bị giặc chiếm, quan quân triều đình tan rã nhanh chóngnhưng nhân dân Hà Nội vẫn tiếp tục duy trì cuộc chiến đấu Đội quân của LưuVĩnh Phúc đã chiến thắng lớn ở trận Cầu Giấy, giết chết tên chỉ huy Gacnier.Bọn thực dân Pháp ở Nam Kì rất hoang mang, thêm vào đó nội bộ nước Phápđang có nhiều khó khăn Nếu lúc này triều đình Huế quyết tâm đẩy mạnh kháng
Trang 13chiến thì số địch ở Hà Nội và phân tán ở các tỉnh khác có thể bị tiêu diệt Nhưng
để dọn đường cho một cuộc thương thuyết mới, Tự Đức ra lệnh cho Hoàng TáViêm triệt binh lên Sơn Tây, điều động quân của Lưu Vĩnh Phúc lên đóng trênmạn ngược chờ lệnh mới
Cũng như lần trước triều đình Huế đã nhanh chóng kí kết hoà ước vớiPháp vào 15/3/1874 Với hoà ước này, phong kiến Nguyễn chính thức dâng toàn
bộ đất Nam Kì cho Pháp, công nhận quyền đi lại, buôn bán, kiểm soát điều tratình hình của chúng ở Việt Nam Lợi dụng thái độ đầu hàng của giai cấp phongkiến, thực đan Pháp còn ép triều đình Huế kí thêm một bản thương ước gồm 29khoản ngày 31/8/1874 xác lập đặc quyền của chúng trên khắp nước Việt Nam
Để đối phó với những cuộc khởi nghĩa của nhân dân, nhà Nguyễn cònnhờ Pháp đưa quân ra Bắc Kì để đàn áp tạo điều kiện cho Pháp đánh chiếm Bắc
Kì lần 2 Chiến thắng Cầu Giấy lần 2 (19/5/1883) làm cho giặc Pháp ở Hà Nội
vô cùng hoang mang lo sợ Trong tình hình đó, chỉ cần một cuộc đột kích nhỏcủa quân ta cũng có thể tiêu diệt hết quân địch, giải phóng Hà Nội Nhưng triềuđình Huế không cho quân tấn công vào Hà Nội mà vẫn nuôi hi vọng thu hồi HàNội bằng con đường "thương thuyết hoà bình" như 10 năm về trước Đến tháng
7 khi viện binh của Pháp kéo sang thì thời cơ này cũng qua đi
Sau khi Tự Đức chết (17/7/1883), hoảng hốt trước những thất bại, triềuđình Huế vội vàng kí Hiệp ước Hắcmăng và hiệp ước Patơnôt chính thức thừanhận sự bảo hộ cuả Pháp Nhà nước phong kiến Việt Nam, với tư cách là mộtnhà nước độc lập có chủ quyền đã hoàn toàn sụp đổ, trở thành thuộc địa củaPháp Nhà Nguyễn đã từ bỏ vai trò lịch sử của mình để trở thành bù nhìn, tay saicho Pháp
Trang 14bộ trong lịch sử, đó là triều Tây Sơn Ngay từ khi thành lập, triều Nguyễn đãkhông nhận được sự ủng hộ của quần chúng nhân dân
2 Và sau hơn nửa thế kỉ tồn tại (1802 - 1858), nước Việt Nam hầu như đãkhông thể phát triển theo hướng tiến bộ Mâu thuẫn xã hội ngày càng sâu sắclàm bùng nổ hàng loạt cuộc khởi nghĩa nông dân Kinh tế công - nông nghiệpsuy yếu, thương nghiệp bế tắc, tài chính khô kiệt Chính sách ngoại giao đôi khithiếu khôn khéo và thiếu tỉnh táo đã đẩy đất nước vào tình trạng khó khăn khiphải đối phó với âm mưu xâm lược ngày càng ráo riết của tư bản phương Tây.Những yếu tố từng làm nên sức mạnh của các vương triều trước đây như “trêndưới đồng lòng, anh em hoà mục, cả nước giúp sức”… đã không còn nữa Sựbóc lột nặng nề của nhà nước và của quan lại thường xuyên đè lên vai nhân dânlao động, nạn tham nhũng hoành hành, thiên tai lũ lụt đã đẩy nhân dân vào tìnhcảnh khó khăn nhất
3 Nhà Nguyễn với tư cách là người quản lý đất nước mà trách nhiệm lớnnhất là đã thi hành nhiều chính sách lỗi thời, lạc hậu, thậm chí đi ngược lạiquyền lợi của đất nước và của nhân dân, khiến cho thế nước ngày một suy yếu,
xã hội luôn bất ổn, không còn đủ sức đối phó với cuộc xâm lược của tư bảnPháp Nguyên nhân này kết hợp với những sai lầm của triều đình Huế từ năm
1858 về sau với tư cách là người trực tiếp lãnh đạo và tổ chức cuộc kháng chiến,không biết dựa vào dân, áp dụng chiến thuật tác chiến sai lầm, thiên về chủhoà… Những điều này đã đưa đến sự thất bại của nhà Nguyễn trước cuộc xâmlược của thực dân Pháp
4 Quân Pháp tiến công nhưng triều đình giữ thế thủ và theo đường lối chủhoà nên đã dẫn tới việc mất nước Tư tưởng chủ hoà đã chi phối toàn bộ chiếnlược, chiến thuật của nhà Nguyễn Triều đình đã bỏ lỡ nhiều cơ hội thắng giặcnhư khi Pháp phải rút quân vào Gia Định, khi Pháp phải đưa quân sang tiếnhành chiến tranh ở Trung Quốc, và nay cả sau hai trận Câu Giấy của nhân dânta… Điều đó chứng tỏ, trong chiến tranh mà không biết địch, biết ta thì thất bại
là điều dễ hiểu
Trang 155 Nhà Nguyễn bảo thủ, cố chấp, khước từ mọi đề nghị cải cách tiến bộ đểduy tân đất nước: Những tư tưởng cải cách mới chỉ xuất hiện trong một số quanlại tức thời mà chưa tạo thành một làn sóng xã hội Thậm chí ngay cả khi nhàvua đã nhận ra điều cần phải đổi mới thì phái bảo thủ chiếm số đông trong triềuđình cũng đã gây ra trở ngại, khiến cho những chủ trương, cải cách đó chỉ đượctiến hành một cách nhỏ giọt Lực cản của những giáo điều Nho giáo lạc hậu,nhất là việc sợ đụng chạm phải quyền lợi giai cấp, dòng họ Nguyễn và sự chiphối bởi tư tưởng “nội hạ ngoại di” đã khiến cho những tư tưởng cải cách ởnước ta vào thế kỉ XIX bị thất bại.
6 Từ những toan tính hẹp hòi, ích kỉ, muốn bảo toàn quyền thống trị củadòng họ và giai cấp, triều đình Tự Đức đã phản bội cuộc kháng chiến của quầnchúng nhân dân, từ chống cự yếu ớt đến đầu hàng, kí Hiệp ước Hắcmăng (1883)
và Patơnốt (1884), thừa nhận sự thống trị của thực dân Pháp trên toàn bộ đấtnước Việt Nam
7 Đồng thời, khi xem xét nguyên nhân dẫn đến việc mất nước, chúng tacòn phải chú ý tới những mối quan hệ từ nhiều phía, nhiều chiều, từ thế lực củachủ nghĩa đế quốc nói chung, thế lực của tư bản Pháp nói riêng, đến những thamvọng bành trướng, chạy đua vũ trang xâm lược phương Đông của chúng Cầnxem xét bối cảnh quốc tế và khu vực ở nửa cuối thế kỉ XIX, nghiên cứu tìnhhình Việt Nam trong các mối quan hệ chung và riêng; xem xét các nguyên nhânbên trong và bên ngoài, khách quan và chủ quan để có thể đưa ra những nhậnđịnh, đánh giá công minh, chính xác Và không ít những nhà nghiên cứu cho ýkiến về vấn đề này, trong đó có xu hướng muốn đặt tấn bi kịch mất nước củaViệt Nam trong tấn bi kịch chung của lịch sử các dân tộc phương Đông lúc bấygiờ Cho rằng đó không phải là trường hợp biệt lệ vì ngay cả những nước lớnnhư Trung Quốc, Ấn Độ cũng phải chịu chung số phận trước sự xâm nhập củachủ nghĩa tư bản phương Tây
Thực ra, trong bối cảnh lịch sử giữa thế kỉ XIX, việc nhân dân ta phảiđương đầu với cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân tuy là khó tránh khỏi,
Trang 16nhưng việc mất nước thì quyết không phải là định mệnh và cũng không phải làkhông có cách nào tránh được Và điển hình là sự thắng lợi của hai nước NhậtBản và Thái Lan Đồng thời, truyền thống và lịch sử Việt Nam cũng đã chứngminh điều đó, bởi trong các thế kỉ trước, và cả những thập kỉ tiếp theo, nhân dân
ta đã đánh thắng những tên ngoại xâm hùng mạnh, gần như bá chủ cả thế giới,tham vọng xâm lược của chúng cũng hung hãn không kém tư bản châu Âu khichúng âm mưu xâm lược phương Đông
Nói tóm lại, những nguyên nhân dẫn đến việc để mất nước ta vào tay thựcdân Pháp có thể dẫn ra khá nhiều, nhưng phải khẳng định nguyên nhân chính lànhững nguyên tắc bên trong và trách nhiệm chính thuộc về triều đình phong kiếnNguyễn
+ Triều Nguyễn có nhiều chính sách khẩn hoang phong phú, sáng tạo vàthích hợp, góp phần tăng trưởng kinh tế nông nghiệp, bảo vệ trị an ở vùng đấtmới Sự mở mang, phát triển ruộng đất ở miền Nam và một số huyện duyên hải
ở miền Bắc cùng một số tỉnh ở trung du miền Trung là những thành quả to lớncủa triều Nguyễn
+ Dưới triều Nguyễn đã có sự phát triển văn hoá, khoa học, nhất là về lịch
sử (Đại Nam thực lục, Đại Nam Hội Điển sử lệ, Việt Sử Thông giám Cươngmục, Lịch triều Hiến chương loại chí), địa lý (Đại Nam nhất thống trí, Đại Namnhất thống toàn đồ…) đều đạt nhiều thành tựu, nhằm tiếp tục phát huy nền vănminh, văn hiến Việt Nam
Trang 17+ Kế tiếp triều Tây Sơn, vương triều Nguyễn cho xây dựng kinh đô Huếquy mô rộng lớn và kiên cố hơn, hoàn thành công cuộc thống nhất về lãnh thổ
và chính quyền, tạo thế ổn định để xây dựng đất nước sau chiến tranh
Chuyên đề 2
Các tư tưởng cải cách, canh tân ở Việt Nam
từ nửa cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX.
1 Tư tưởng canh tân đất nước cuối XIX
* Bối cảnh lịch sử
Cuối thế kỉ XIX, CNTB chuyển dần sang giai đoạn Chủ nghĩa đế quốc,nhu cầu thuộc địa tăng nên có xu hướng đi xâm lược thuộc địa Thực dân Phápđang xâm lược nước ta từ 1858 - 1867, Pháp chiếm được 3 tỉnh miền Tây, nênđộc lập dân tộc bị đe doạ nghiêm trọng
Cũng ở thời điểm này, chế độ phong kiến Việt Nam đang trong bướcđường khủng hoảng: nông nghiệp tiêu điều xơ xác, thủ công nghiệp tàn lụi,thương nghiệp sút kém, tài chính quốc gia kiệt quệ Năm 1860 Nguyễn TriPhương phải tâu với vua “Quân và dân của đã hết, sức đã yếu”
Triều đình vẫn tăng cường bóc lột nhân dân, thậm chí áp dụng nhữngbiện pháp tiêu cực như cho nộp tiền chuộc tội, cho buôn bán thuốc phiện, chomua quan bán tước Bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương trởnên sâu mọt, quan lại tha hồ nhũng nhiễu dân lành
Mâu thuẫn xã hội gay gắt, nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân bùng nổ, triềuđình dồn lực lượng quân sự vào việc đàn áp các cuộc khởi nghĩa khiến binh lựchao mòn Trong khi đó Pháp đang ráo riết chuẩn bị mở rộng xâm lược nước ta
Trước vận nước nguy nan, một số quan lại sĩ phu phong kiến có điềukiện tiếp cận với văn minh nước ngoài đã lên tiếng đề đạt với triều đình nhữngcải cách duy tân
* Nội dung các tư tưởng canh tân
Trong những năm trước khi Pháp đánh ra Hà Nội lần thứ nhất, ở nước ta
đã rộ lên một phong trào đề nghị cải cách Đi đầu trong phong trào làm một số
Trang 18quan chức, sĩ phu có học vấn cao, có dịp đi ra nước ngoài để mở rộng tầm mắtnhư Phạm Phú Thứ, Đặng Đức Tuấn, Đặng Huy Trứ, Bùi Viện, Nguyễn LộTrạch, Đinh Văn Điền, Nguyễn Trường Tộ Họ thấy rõ sự trì trệ của đất nước,
sự bảo thủ của giới hủ nho, tác hại của chính sách “bế quan toả cảng” nên đã đềxuất tư tưởng canh tân, đổi mới nhằm chấn hưng đất nước “Họ chính là nhữngngười đã trồng cái mầm khai hóa trước tiên”
Mục đích của những đề nghị cải cách: muốn nước ta đi theo con đườngDuy tân để thoát khỏi sự xâm lược của thực dân Pháp, làm cho nước ta được độclập, bảo vệ được chủ quyền quốc gia
Nội dung các bản đề nghị canh đến đề cập đến các lĩnh vực như:
+ Về kinh tế: các nhà canh tân đều đề cập đến những vấn đề về nôngnghiệp, công nghiệp, tài chính, họ đều vạch rõ những tiềm năng lớn của nước ta
về rừng, biển, khoáng sản và đề nghị khai thác
+ Về chính trị: đều công kích những kẻ sâu mọt, tham nhũng, đề nghị sửađổi cải cách hành chính
+ Về ngoại giao, quốc phòng: cần củng cố và mở rộng quan hệ nhằm làmcho đất nước có khả năng đứng vững trước sự xâm lược của ngoại bang
+ Về giáo dục: đề xuất tinh thần tự lực, tự cường, khuyến khích lối họcthực dụng, học ngoại ngữ
Trong trào lưu tư tưởng canh tân cuối thế kỉ XIX, Đặng Huy Trứ vàNguyễn Trường Tộ là những nhà tư tưởng tiêu biểu nhất
Nguyễn Trường Tộ (1830 – 1871) là người đã viết rất nhiều bản điều trần
gửi vưa, quan nhà Nguyễn kêu gọi đổi mới toàn diện đất nước Theo ông, phải
có sự canh tân đất nước, bởi “Thời đại nào có chế độ ấy Con người sinh ra thờiđại nào cũng chỉ đủ làm công việc của thời đại ấy mà thôi Vậy thì người sinhvào thời xưa làm xong công việc của thời xưa Rồi dần dần thời thế đổi dời, làmsao có thể mãi mãi ôm giữ phép xưa mãi được”
Về tư tưởng, Nguyễn Trường Tộ là một nhà cải cách, ông coi ngôi vua làquý, chức quan là trọng, không muốn thay đổi chế độ quân chủ là muốn có một
Trang 19người cầm quyền đủ khả năng dẫn dắt muôn dân tiến hành canh tân đất nước.Tuy nhiên, bên cạnh đề cao chế độ quân chủ, Nguyễn Trường Tộ cũng nhậnthấy vai trò của pháp luật và cho rằng vua cũng nên tự hạ mình để ghép vàovòng pháp luật Ông viết “Bề trên lo giữ pháp độ, lo việc nước thì chỉ dùngngười hiền, đã theo công lý giữ pháp luật thì trên sẽ hợp điển chế không ai dịnghị, sự nghiệp không suy đốn” Như vậy trong quan điểm của Nguyễn Trường
Tộ, những yếu tố của tư tưởng dân chủ đã xuất hiện, đan xen tồn tại với quanđiểm Nho giáo, phản ánh sự dao động tư tưởng khi hệ tư tưởng cũ đã lung lay,
hệ tư tưởng mới chưa xác lập
Nhìn chung, các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ có tính thiết thực,
cụ thể và cả tính dự báo Có những ý kiến ông nêu ra trước đây trên một trămnăm vẫn mang tính cấp thiết và đúng đắn (như công tác bảo vệ môi trường) Nóthấm đượm một tinh thần yêu nước mãnh liệt, một ý thức trách nhiệm sâu sắccủa người trí thức đối với vận mệnh dân tộc Ông có thể coi là đại diện tiêu biểucho trào lưu cải cách cuối thế kỉ XIX
Đặng Huy Trứ (1825 – 1874) với tư cách là một nhà hoạt động chính trị,
ông đã đề xuất tư tưởng canh tân đất nước Ông cho rằng cần phải bỏ lối họctầm chương trích cú của Nho học, tiếp thu khoa học kỹ thuật của phương Tây đểthúc đẩy sản xuất, làm cho dân giàu, nước mạnh Ông viết “Làm cho dân giàunước mạnh đâu phải là một việc chẳng cần lo toan nhiều” và “Làm ra của cải,cái đạo lý lớn ấy là việc không thể coi nhẹ được” Bên cạnh việc phát triển kinh
tế, Đặng Huy Trứ còn cho rằng, phải xây dựng nền quân sự vững mạnh, bởi kinh
tế và quân sự có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong vấn đề giữ vững độc lậpdân tộc Ông viết “Cấy cày và canh cửi là gốc của cơm áo Nhưng nếu khônghiểu việc binh để giữ lấy thì dù có thừa thóc trong kho, thừa vải trên khung cửicũng bị kẻ địch lấy đi”
Trong tư tưởng của Đặng Huy Trứ, quan niệm về dân là một nét mới khánổi bật trong tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỉ XIX Ông coi “dân là gốc
Trang 20của nước, là chủ của thần”, “Khí mạnh của nước là lấy dân làm gốc” Nhữngquan niệm đó đánh dấu sự đổi mới trong suy tư của dân tộc ta cuối thế kỉ XIX.
* Nguyên nhân thất bại
- Nguyên nhân khách quan:
Những tư tưởng cải cách nhìn chung còn nặng về ảnh hưởng bên ngoài
mà thiếu cơ sở vật chất tiếp nhận từ bên trong Vào thời điểm này, Việt Namchưa có những cơ sở kinh tế - xã hội để tiếp nhận cải cách (có thể so sánh vớiNhật bản - để tiến hành canh tân, Nhật Bản phải trải qua một sự biến đổi về cấutrúc chính trị xã hội, đó là cuộc đấu tranh kéo dài giữa lực lượng bảo thủ Tô-ku-ga-oa với lực lượng quý tộc tư sản hoá ủng hộ Thiên hoàng, hơn nữa trước đómầm mống kinh tế TBCN đã khá phát triển ở Nhật Bản)
Thực dân Pháp đang tiến hành xâm lược, triều Nguyễn phải tập trung lựclượng đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp và những cuộc khởinghĩa của nông dân
- Nguyên nhân chủ quan:
Mặc dù các đề nghị cải cách đều mạnh dạn hướng đi theo con đườngTBCN nhằm giải quyết một phần nào đó yêu cầu của lịch sử nhưng các đề nghịcái cách đó vẫn có tính chất lẻ tẻ, rời rạc Điều này xuất phát từ những hiểu biếthết sức phiến diện và bề mặt về văn minh phương Tây Nội dung các bản điềutrần không đả động gì đến yêu cầu cơ bản của xã hội Việt nam thời đó là giảiquyết 2 mâu thuẫn chủ yếu: giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với tư bản Pháp vàgiữa nhân dân lao động với giai cấp phong kiến hủ bại Vì vậy đã không đượcchính nhân dân làm hậu thuẫn để gây sức ép với giới cầm quyền
Do thái độ bảo thủ, phản động của vua quan triều đình đã bỏ qua khôngchịu sửa đổi Tuy có lúc do tình thế thúc bách nên có chủ trương một vài sự đổimới song thực hiện một cách lẻ tẻ, chắp vá, miễn cưỡng, các điều chỉnh đó chưakịp phát huy tác dụng đã bị đình chỉ
Trang 2120 - 30 năm sau tiếp bước các ông tiếp tục đấu tranh, tạo nên một khuynh hướngđấu tranh mới mang màu sắc dân chủ tư sản.
2 Trào lưu Duy Tân vào đầu XX
a) Bối cảnh:
Vào đầu thế kỉ XX, nước Việt Nam không còn là một quốc gia độc lậpnhư trước, thay vào đó là 1 xã hội thuộc địa nửa phong kiến đang hoàn thiệndần Mầm mống TBCN đã bắt đầu xuất hiện với sự ra đời của các trung tâmbuôn bán, công nghiệp tuy mới chỉ là thời kì đầu Thêm vào đó là sự tác độngcủa cuộc Duy tân ở Trung Quốc, Nhật Bản Nhưng giai cấp tư sản Việt Namchưa ra đời, còn giai cấp công nhân mới hình thành trong buổi sơ khai
Hệ tư tưởng Nho giáo đã hết vai trò lịch sử và chỉ làm cho dân ta mất dầnsức sống “ nước Việt Nam mơ màng đôi mắt ngủ, uể oải một thân bệnh, tônquân quyền, ức dân quyền, trọng hư văn, khinh võ sĩ, trộm cướp rình mò ở sân,
mà vợ con say hát trong nhà, chủ nhân nằm dài trên giường luôn luôn ngáp mỏimệt Than ôi! Nguy ngập lắm thay!” (Phan Bội Châu)
Tiếp thu tư tưởng của các nhà canh tân cuối thế kỉ XIX, một số nhà tưtưởng đầu thế kỉ XX như Phán Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng,Nguyễn An Ninh tiếp tục phát triển tư tưởng đó lên một trình độ mới, cao hơn
về chất
Trang 22b) Nội dung:
* Chính trị:
Các nhà tư tưởng đã kịch liệt phê phán Nho giáo và chế độ phong kiến.Phan Châu Trinh cho rằng chế độ phong kiến đã thực sự thối nát, mục ruỗng, Bộmáy của chế độ phong kiến là bù nhìn, như quân trên bàn cờ tướng:
“Một ông tướng lác đứng trong cung
Sĩ tượng khoanh tay chẳng vẫy vùng”
Từ phê phán chế độ phong kiến, các nhà tư tưởng đã tiếp thu tư tưởng dânchủ tư sản, học tập kinh nghiệm các cuộc cách mạng tư sản Trung Quốc, Nhật
Bản Họ không còn bám vào tư tưởng “trung quân” mà đã chuyển sang ý thức
về chủ quyền quốc gia, dân tộc, ý thức về dân chủ dân quyền Họ nhận thứcđược mất nước là mất chủ quyền, từ đó có chủ trương: đấu tranh giành độc lậpdân tộc, khôi phục dân quyền; đánh đổ chế độ quân chủ, xây dựng nền dân chủ Phan Chu Trinh đã khẳng định: nếu không đánh đổ được nền quân chủ thì dù
có khôi phục được nước cũng không là hạnh phúc của dân Phan Bội Châu lúcđầu chỉ mong giành độc lập nhưng về sau đã khẳng định độc lập phải gắn vớinền dân chủ (Cương lĩnh của Việt Nam Quang phục hội)
Quan điểm dân là chủ nước, nước là nước của dân là một bước chuyển tưtưởng căn bản từ quân chủ sang dân chủ Đây là một điều mới mẻ trong tư duychính trị đương thời Để thực hiện quyền dân chủ, các nhà tư tưởng chủ trương:khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh Về mô hình chính thể, họ cũng cho rằngphải xóa bỏ chính thể quân chủ, xây dựng chính thể dân chủ cộng hòa, do nhândân làm chủ, quyền lực ở nới dân Có thể nói, các nhà tư tưởng dân chủ đã ýthức được tầm quan trọng của nền chính trị, coi đó là yếu tố quyết định chi phốimọi lĩnh vực của đời sống xã hội và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của nhândân
Trang 23* Kinh tế:
Tư tưởng chủ đạo là hướng tới sự đổi mới kinh tế theo hướng tư bản chủnghĩa, chỉ trích sự lạc hậu, thái độ coi khinh công thương nghiệp, đề xướngphong trào thực nghiệp
Họ khởi xướng và tổ chức một số hoạt động tiêu biểu như:
Hô hào phong trào “chấn hưng nội hoá, bài trừ ngoại hoá”
Phát triển các ngành thủ công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp;khuyến khích mở mang ngoại thương, hùn vốn kinh doanh theo lối tư bản
* Giáo dục:
Các trường dạy học kiểu mới được mở ra trong đó đổi mới cách học, nộidung, học chủ yếu bằng chữ quốc ngữ, đồng thời học thêm chữ Pháp, chữ Hán.Nội dung giảng dạy và tuyên truyền là khơi dậy tinh thần yêu nước và tự cườngdân tộc; chống lối học từ chương; đề cao kiến thức mới, phương pháp sư phạmcũng có nhiều thay đổi theo “Tây học”
* Văn hoá, xã hội:
Vận động đổi mới “phong hoá”, thay đổi lối sống, bài trừ mê tín dị đoan,thay đổi cách ăn mặc, hình thức cho nhanh gọn (nam: cắt tóc ngắn, vận âu phụcbằng vải nội; vận động mọi người để răng trắng …)
c) Phong trào tiêu biểu:
Có 2 phong trào lớn phản ánh nhu cầu cải cách Duy tân ở đầu XX: Cuộcvận động tân học mà Đông Kinh nghĩa thục là tiêu biểu, phong trào Vận độngDuy tân ở Trung Kì
Về cuộc vận động tân học do Đông Kinh nghĩa thục phát động, ta có thể
thấy: theo các sĩ phu thì nguyên nhân của việc mất nước là sự “ngu và hèn”,
“ngu hèn chính là thủ cựu, thủ cựu là mất nước” Bởi vậy phải đổi mới, duy tân
Họ quan niệm là phải cổ động tinh thần học tập theo lối tây học, thực dụng, từ
bỏ lối học cũ, đưa các môn khoa học vào giảng dạy như: Cách trí, sử, địa, Vệsinh, toán pháp, kinh tế, ngoại ngữ, luân lí, thể thao
Trang 24Nội dung học tập còn cổ vũ thương mại nhằm phục hưng dân tộc Các sĩphu coi việc đi buôn là yêu nước, coi việc mở những công ty kinh doanh là yêunước Họ cho rằng đất nước muốn đạt đến nền văn minh cần phải làm 6 điều:dùng chữ quốc ngữ, hiệu đính sách vở, sửa đổi phép thi, cổ vũ nhân tài, chấnhưng công nghệ, phát triển báo chí.
Song song với Đông Kinh nghĩa thục, một cuộc vận động Duy Tân đã
diễn ra ở Trung Kì nhằm chống hủ tục, chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh.Lòng căm ghét bọn phong kiến hủ bại đã khiến các sĩ phu yêu nước lúc đó đi tớichủ trương trước mắt là đánh đổ phong kiến cho dù tạm thời phải dựa vào ngườiPháp Vì vậy cuộc vận động này có nội dung chủ yếu lên án bọn vua quan phongkiến thối nát, tích cực đề xướng tư tưởng dân chủ tư sản với các yêu cầu khaidân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, hô hào mở mang trường học, phát triển côngthương nghiệp, cải cách phong tục chống lề thói phong kiến cổ hủ Cuộc vậnđộng thực sự là một phong trào dân chủ yêu nước sôi nổi đầu thế kỉ XX
d) Ý nghĩa:
Mặc dù các phong trào trên bị Pháp đàn áp nhưng đã nói lên tinh thầnyêu nước bất khuất của dân tộc, thổi một luồng gió mới vào cuộc sống tù đọngcủa người dân góp phần chuẩn bị về tinh thần và tư tưởng cho sự nghiệp đấutranh giải phóng dân tộc, thúc đẩy các yếu tố kinh tế mới hình thành và pháttriển ở nước ta
Phong trào có ý nghĩa như một cuộc cải cách văn hoá - xã hội đầu thế kỉ
XX, đưa nhân dân ta đến một nền văn minh mới
e) Nguyên nhân thất bại:
Ở phương Tây, tư tưởng dân chủ được hình thành trên cơ sở kinh tế - xãhội của nó nên mang tính thuần thục, điển hình, phản ánh nguyện vọng, khátkhao làm chủ xã hội của con người Mục đích của tư tưởng dân chủ tư sản ởphương Tây là vì lợi ích giai cấp Ở Việt Nam, các nhà tư tưởng chọn dân chủ tưsản vì lợi ích của dân tộc: đi tìm co đường cứu nước, giành độc lập tự do Nhữngngười hấp thụ và truyền bá tư tưởng đó chủ yếu là tầng lớp sĩ phu được tư sản