1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sử dụng atlat địa lý việt nam để hình thành kiến thức địa lý cho học sinh lớp 12 qua bài đô thị hóa

24 252 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 5,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Át địa lý Việt Nam thực chất là tập hợp các bản đồ thu nhỏ theomột tỉ lệ nhất định, gồm có cả các bản đồ địa lý tự nhiên, bản đồ dân cư, bản đồcác ngành kinh tế và bản đồ các vùng kinh t

Trang 1

1 Tên sáng kiến:

“ S ử d ụ n g b ả n đ ồ t r o n g Á t l a t đ ị a l ý Vi ệ t N a m đ ể h ì n h t h à n h

k i ế n t h ứ c đ ị a l ý c h o s i n h l ớ p 1 2 q u a b à i : Đ ô t h ị h ó a ”

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn địa lý

3 Thời gian áp dụng sáng kiến:

Từ ngày 23 tháng 12 năm 2016 đến ngày 25 tháng 5 năm 2017

4 Mã Sáng kiến: SK04

Trang 2

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VỀ “SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TRONG ÁT LÁT ĐỊA LÝ VIỆT NAM ĐỂ HÌNH THÀNH KIẾN THỨC ĐỊA LÝ CHO HỌC SINH LỚP 12 QUA BÀI: ĐÔ THỊ HÓA”

I Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:

1 Cơ sở lý luận:

Trong mọi thời đại, Đảng ta luôn xác định: Giáo dục là quốc sách hàng đầu.Thấm nhuần tư tưởng đó, sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo ở nước ta đã khôngngừng đổi mới mạnh mẽ, căn bản và toàn diện, tức là “ đổi mới cả về nội dung, cả

về hình thức và phương pháp tổ chức thi cử, kiểm tra, hướng tới đánh giá nănglực phẩm chất người học, dạy cho họ cách học và tư tưởng tự học suốt đời” nhằmmục tiêu đào tạo ra các thế hệ trẻ là những người chủ nhân tương lai của đất nước,vừa có đức, trí, thể, mỹ, vừa có lòng yêu quê hương đất nước, yêu con người,sống hòa đồng, lại năng động nhạy bén, chỉ có như vậy mới đáp ứng được yêu cầuđổi mới của đất nước và thích ứng được với xu hướng toàn cầu hóa trong giaiđoạn hiện nay Trước nhiệm vụ lớn lao của sự nghiệp giáo dục và đào tạo ở nước

ta, mỗi giáo viên phải không ngừng tự học, tự sáng tạo để nâng cao trình độchuyên môn nghiệp vụ và năng lực công tác, mạnh dạn đổi mới phương pháp dạyhọc và áp dụng kỹ thuật dạy học phù hợp để nâng cao hiệu quả giờ lên lớp Theotôi dù có áp dụng bất kỳ phương dạy học và kỹ thuật dạy học nào cũng không thểphủ nhận được vai trò của các thiết bị dạy học và đặc biệt là đối với dạy học mônđịa lý Thiết bị dạy học cho môn Địa lý rất cần thiết không thể thiếu đó là Át látđịa lý và bản đồ Át địa lý Việt Nam thực chất là tập hợp các bản đồ thu nhỏ theomột tỉ lệ nhất định, gồm có cả các bản đồ địa lý tự nhiên, bản đồ dân cư, bản đồcác ngành kinh tế và bản đồ các vùng kinh tế, giữa các bản đồ có mối quan hệ mậtthiết với nhau, tuy ở mức độ khác nhau và thể hiện các nội dung theo tiến trìnhcủa sách giáo khoa Địa lý lớp 12 với khá đầy đủ các nội dung về địa lý nước ta.Mỗi giáo viên dạy địa lý mà biết huy động và tổ chức được tất cả học sinh sửdụng Át lát địa lý Việt Nam trong quá trình học tập bộ môn mình phụ trách, chắcchắn mục tiêu của từng bài học và của cả môn học đạt được là rất dễ dàng, bởi lẽ

là Át lát địa lý Việt Nam là phương tiện đắc lực giúp người giáo viên truyền tảikiến thức tới học sinh dễ nhất và nhanh nhất, tạo cho các em thói quen và hứngthú học tập, từ đó còn tạo môi trường học tập thân thiện, có sự gắn kết chặt giữahọc sinh với giáo viên, các em còn biết vận dụng kiến thức lý thuyết với thựchành và giải quyết các vấn đề thực tiễn đời sống Xuất phát từ các suy nghĩ trên,tôi mạnh dạn viết sáng kiến kinh nghiệm về “ sử dung Át lát địa lý Việt nam đểhình thành kiến thức địa lý cho học sinh qua bài: Đô thị hóa”

2 Cơ sở thực tiễn:

Hiện nay xu hướng học sinh tham gia thi đối với môn địa lý ở các trườngTHPT nói chung và trường THPT nói riêng đang có chiều gia tăng, song

2

Trang 3

nhìn chung các em còn rất lúng túng về kỹ năng sử dụng Át lát trong học tập địa

lý Việt Nam Sự yếu kém khi sử dụng Át lát địa lý của học sinh nguyên nhânchính là do cả phụ huynh và học sinh đều quan niệm môn Địa lý là môn học phụnên ít chú tâm vào học tập, bởi thế việc trang bị Át lát địa lý cho học tập khôngđầy đủ, mặt khác nhiều giáo viên cũng chưa thật chú trọng đến việc hướng dẫnhọc sinh phương pháp khai thác sử dụng Át lát địa lý, nhất là phương pháp sửdụng phối hợp nhiều bản đồ trong Át lát địa lý để để nghiên cứu và tìm hiểu vềmột đối tượng hay một vấn đề địa lý nào đó có trong bài học, điều đó đã khiếncho các em gặp không ít những khó khăn trong quá trình học tập môn Địa lý, nhất

là các em đang phải đồi mặt với kỳ thi THPTQG đang tới gần Tại trườngTHPT chưa có ai viết về sáng kiến kinh nghiệm “ sử dụng Át lát địa lý ViệtNam để hình thành kiến thức cho học sinh lớp 12 qua bài: Đô thị hóa”, với bảnthân đã qua nhiều năm giảng dạy địa lý, tôi tự đúc rút kinh nghiệm cho mình vàmạnh dạn viết để báo cáo cho các đồng nghiệp tham khảo, góp phần cải thiệnphần nào kết quả học tập môn Địa lý tại nơi mình đang công tác, không những thếvới tham vọng giúp học sinh bớt đi những khó khăn khi sử dụng Át lát địa lý đểhọc tập và tạo cơ hội cho các em đạt kết quả tốt nhất trong kỳ thi THPTQG nămnay

II Mô tả giải pháp

Trước đây tôi và cũng có nhiều giáo viên khác chủ yếu hướng dẫn học sinhkhai thác, sử dụng bản đồ dân số để hình thành đặc điểm đô thị hóa và xây dựngcác câu hỏi, bài tập dưới dạng tự luận về đặc điểm đô thị hóa ở nước ta qua bài

“Đô thị hóa” ở lớp 12 cho học sinh Nhưng trong quá trình giảng dạy, tôi nảy sinhsuy nghĩ cần có sự phối hợp sử dụng nhiều bản đồ trong Át lát địa lý Việt Nam đó

là bản đồ dân số, bản đồ kinh tế chung, bản đồ công nghiệp chung dùng để hìnhthành đặc điểm đô thị hóa, để phân loại đô thị, để phân tích ảnh hưởng của đô thịhóa đến phát triển kinh tế-xã hội đất nước qua bài học và từ bản đồ đó kết hợp vớiSGK còn xây dựng câu hỏi bài tập dạng trắc nghiệm để củng cố, kiểm tra đánhgiá kết quả nghiên cứu vấn đề đô thị hóa của học sinh qua bài “Đô thị hóa” trongSGK ở lớp 12

Như vậy ý tưởng của tôi có khác so trước ở chỗ có sự phối hợp sử dụng nhiều bản

đồ trong Át lát để dạy cho học sinh toàn bộ những nôi dung của bài “Đô thị hóa”,chứ không phải là dạy một phần kiến thức về đặc điểm của đô thị hóa ở nước ta

và còn xây dựng bài tập trắc nghiệm từ các bản đồ trong Át lát địa lý về nội dungkiến thức bài học nhằm giúp học sinh thích ứng tốt với kỳ thi THPTQG năm

Trang 4

- Át lát địa lý Việt Nam là sự tập hợp của nhiều bản đồ, nhưng không phải tất cảcác bản đồ đều hỗ trợ tốt cho nội dung một bài học, nên ngay từ khi xây dựng kếhoạch dạy, tùy vào các mục tiêu nội dung bài học mà giáo viên cần lựa chon bản

đồ nào trong Át lát để sử dụng cho phù hợp và có hiệu quả

- Trong từng bài học, giáo viên phải xác định rõ mục tiêu về kiến thức, về kỹnăng, xác định rõ cần rèn năng lực gì cho học sinh…, tất cả đều chi phối việc lựachọn phương pháp dạy, kỹ thuật dạy học và quyết định việc lựa chọn thiết bị dạyhọc thích hợp

- Trong bài “Đô thị hóa” tôi xác định mục tiêu cần đạt đó là :

+ Giúp học sinh nhận biết được đặc điểm của đô thị hóa ở nước ta, giúp học sinhhiểu được ảnh hưởng của đô thị hóa đến sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước,giúp học sinh vận dụng kiến thức để phân tích quá trình đô thị hóa ở địa phương

và tham gia trong qua điều khiển đô thi hóa cho phù hợp sự phát triển kinh tế ởquê hương, đất nước

+ Rèn học sinh kỹ năng phân tích bảng số liệu, biểu đồ, bản đồ để nêu nhận xétcần thiết về vấn đề đô thị hóa ở nước ta

+ Rèn cho học sinh năng lực phân tích, tính toán, hợp tác, giải quyết vấn đề, nănglực bản đồ, sử lý thông tin và tư duy theo lãnh thổ

- Từ các mục tiêu trên tôi xác định sử dụng phương pháp dạy học đàm thoại, thảoluận nhóm, hoạt động cá nhân; kỹ thuật động não, khăn trải bàn… Sử dụng thiết

bị dạy học chính là: tranh ảnh, bản đồ trong Át lát địa lý Việt Nam Cụ thể trongbài học “Đô thị hóa” tôi chọn bản đồ dân số, bản đồ kinh tế chung và bản đồ côngnghiệp chung, vì các bản đồ này có liên quan nhiều và trực tiếp trong việc hỗ trợcho việc hình thành kiến thức về đô thị hóa có trong nội dung bài học cho họcsinh ở lớp 12

- Như vậy việc lựa chọn bản đồ trong Át lát địa lý Việt Nam để giảng dạy phụthuộc hoàn toàn vào nội dung bài học, nhưng muốn lựa chọn đúng bản đồ trong

Át lát địa lý Việt Nam phục vụ cho bài dạy ta cần phải hiểu được nội dung bản đồthông qua tên của bản đồ

2 Xác định các bước hướng dẫn học sinh sử dụng bản đồ trong Át lát địa lý Việt Nam phục vụ cho bài dạy:

- Hiểu được ý nghĩa của các ký hiệu có trong bảng chú giải hoặc trong trang 3 của

Át lát địa lý Việt Nam

- Hiểu được mạng lưới kinh, vĩ độ của bản đồ

- Cần thiết phải khai thác phối hợp nhiều bản đồ trong Át lát địa lý Việt Nam mà

có liên quan tới việc phân tích về các đặc điểm của cùng một đối tượng địa lý

- Nếu bản đồ có biểu đồ cần phải phân tích biểu đồ để nêu nhận xét về tình hìnhphát triển hoặc xu hướng chuyển dịch giữa các đối tượng địa lý có trong bản đồ

- Xác định và phân tích sự phân bố của các đối tượng địa lý ở trên bản đồ

4

Trang 5

- Khai thác bản đồ trong Át lát địa lý Việt Nam kết hợp với nghiên cứu SGK, liên

hệ với thực tiễn, khi trong SGK và ngoài thực tiễn có chứa các thông tin có liênquan đến đặc điểm của cùng một đối tượng địa lý cần tìm hiểu

- Xây dựng các hỏi, bài tập từ bản đồ trong Át lát đã được lựa chọn làm phươngtiện giảng dạy để củng cố và kiểm tra đánh giá việc tiếp thu kiến thức cho họcsinh

Song quan trọng nhất và có ý nghĩa xuyên suốt là phải hiểu được ý nghĩacủa các ký hiệu thể hiện các đối tượng địa lý có trong bản đồ Trên bản đồ dân số,bản đồ kinh tế chung và bản đồ công nghiệp chung, tôi xác định chủng loại các kýhiệu dùng để thể hiện các đối tượng địa lý trên bản đồ gồm có:

Trên bản đồ dân cư ký hiệu hình học kết hợp với chữ viết để thể hiện vị trí

và tên của các đô thị, kích thước và chủng loại các ký hiệu hình học thể hiện quy

mô các loại đô thị và phân cấp các loại đô thị

Trên bản đồ kinh tế chung ký hiệu hình tròn kết hợp với chữ viết thể hiện vịtrí và tên các trung tâm kinh tế, kích thước ký hiệu hình tròn khác nhau, thể hiệncác trung tâm kinh tế có quy mô lớn nhỏ khác nhau

Trên bản đồ công nghiệp chung ký hiệu hình tròn kết hợp với chữ viết thểhiện tên và vị trí của trung tâm công nghiệp, kích thước ký hiệu hình tròn cho biếtcác trung tâm công nghiệp có quy mô to, nhỏ khác nhau, còn các ký hiệu hình họckhác dùng thể hiện các ngành khác ở từng trung tâm công nghiệp

- Ký hiệu tượng hình chỉ có ở bản đồ công nghiệp chung, thể hiện vị trí và sự cóthật về ngành công nghiệp theo ký hiệu tượng hình ( ví dụ là ngành công nghiệpsản xuất ô tô)

- Ký hiệu chữ, số: chữ viết cho biết tên của các đối tượng địa lý, có ở cả ba bản

đồ, ký hiệu số cho biết vị trí của đối tượng địa lý có diện tích không gian lãnh thổnhỏ hẹp so với tỷ lệ của bản đồ

- Ký hiệu màu sắc: là dùng các gam màu sắc khác nhau, mỗi gam màu thể hiệnmột đặc tính của một đối tượng địa lý Cụ thể:

Trên bản đồ dân cư thể hiện mật độ dân số của từng địa phương

Trên bản đồ kinh tế chung thể hiện giá trị bình quân theo đầu người củatừng tỉnh năm 2007 và tỷ trọng GDP của từng nhóm ngành trong từng trung tâmkinh tế

Trang 6

Trên bản đồ công nghiệp thể hiện giá trị sản xuất công nghiệp của từng tỉnh

so với cả nước

- Ký hiệu đường: dùng để thể hiện các đối tượng địa lý có hình dạng trải dải theođường và được dùng ở cả ba bản đồ Đó là thể hiện đường biên giới quốc gia,đường ranh giới tỉnh, thể hiện đường bờ biển, các lưu vực sông, trên bản đồ kinh

tế chung và bản đồ công nghiệp còn thể hiện đường sắt, đường bộ Song rõ nhất là

ở bản đồ kinh tế chung dùng thể ranh giới các vùng kinh tế

3 Vận dụng cụ thể việc sử dụng bản đồ dân số, bản đồ kinh tế chung và bản

đồ công nghiệp chung để hình thành kiến thức về đô thị hóa cho học sinh lớp 12:

- Trước tiên, giáo viên cho học sinh nhắc lại khái niệm kiến thức “đô thị hóa” màcác em đã học từ lớp 10 Nếu học sinh nêu thiếu thì giáo viên phải bổ sung vàhoàn thiện theo chuẩn sau: Đô thị hóa là một quá trình kinh tế - xã hội, mà biểuhiện của nó là sự gia tăng nhanh về số lượng và quy mô đô thị, sự tập trung dân

cư trong các thành phố, nhất là các thành phố lớn và phổ biến rộng rãi lối sốngthành thị trong dân cư

- Giáo viên lại nêu tiếp nếu số lượng các đô thị gia tăng và có nhiều đô thị quy môlớn, đồng thời tỉ lệ dân cư thành thị nhiều, đây chính là dấu hiệu quan trọngkhẳng định quá trình độ thị hóa diễn ra nhanh và ngược lại Mục đích là giúp họcsinh ngay từ ban đầu đã hình dung được như thế nào là quá trình đô thị hóa diễn

ra nhanh hay chậm, để khi hình thành kiến thức về đặc điểm đô thị hóa ở nước tatrong bài học cho thuận lợi

- Giáo viên tiếp tục hỏi học sinh thế nào là “Công Nghiệp Hóa” sau khi học sinhhoàn thành nhiệm vụ, giáo viên chuẩn xác về “ Công Nghiệp Hóa” đó là: Quáchuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp chủ yếu sang nền sản xuất côngnghiệp hiện đại mà thực chất đó là quá phát triển công nghiệp, chính là sự pháttriển của các ngành công nghiệp và các trung tâm công nghiệp Sự phát triển cáctrung tâm công nghiệp chính lại là quá trình hình thành và phát triển của các đôthị, của các trung tâm kinh tế Mục đích cuối cùng là giúp học sinh hiểu được mốiquan hệ giữa sự hình thành và phát triển của đô thị gắn liền với sự hình thành vàphát triển của các trung tâm công nghiệp, của các trung tâm kinh tế, từ đó họcsinh hiểu được các đô thị chính là các trung tâm công nghiệp và cũng là các trungtâm kinh tế của đất nước

3.1 Hình thành các đặc điểm đô thị hóa:

a Quá trình đô thị hóa ở nước ta diễn ra chậm chạp và trình độ thấp

6

Trang 7

Bản đồ dân số nước ta năm 2007

Để hình thành đặc điểm nêu trên của quá trình đô thị hóa ở nước ta tôi thực hiệnnhư sau:

- Giáo viên cho học sinh nghiên cứu ký hiệu ở bảng chú giải trên bản đồ dân số,hỏi: Thủ đô Hà Nội nước ta là đô thị loại nào? Học sinh dễ dàng nhận ra Hà Nội

là đô thị loại đặc biệt Giáo viên hỏi tiếp: Hà Nội là đô thị đặc biệt, vậy tính đặcbiệt của Hà Nội được thể hiện qua các đặc điểm nào theo các em? Giáo viên gợiý: Hà Nội có lịch sử hình thành như thế nào, quy mô dân số, hạ tầng cơ sở giaothông vận tải, điện nước và sự phát triển các ngành kinh tế ra sao? Qua học mônlịch sử, em cho biết tên gọi của Hà Nội vào thế kỷ XI là gì? Chắc chắn các em sẽnêu được Hà Nội có tên gọi ở thế kỷ XI là thành Thăng Long và có lịch sử khaithác lâu đời

- Giáo viên cho học sinh nghiên cứu tiếp SGK liên hệ với kiến thức lịch sử và hỏitiếp: Ở nước ta có đô thị nào được hình thành trước thành Thăng Long và hìnhthành vào thế kỷ nào? Học sinh sẽ nêu được thành Cổ Loa ở thời kỳ thế kỷ III

Trang 8

trước Công nguyên là đô thị đầu tiên ở nước ta Vậy quá trình đô thị hóa ở nước taxuất hiện sớm hay muộn? Từ đó đến nay quá trình đô thị hóa ở nước ta trải quanhững giai đoạn phát triển nào? Trong từng giai đoạn số lượng các đô thị đượchình thành ra sao? Nhiều hay ít? Quy mô không gian lớn hay nhỏ, với chức năngchính là gì? Giáo viên cho học sinh nêu và chuẩn hóa theo kiến thức sau:

+ Thế kỷ XVI – XVIII hình thành đô thị Phú Xuân, Hội An, Đà Nẵng, PhốHiến, chức năng chính là hành chính, thương mại, quân sự

+ Những năm 30 của thế kỷ XX hình thành được một số đô thị lớn như HảiPhòng, Nam Định, Thành phố Hồ Chí Minh…, chức năng chính là trung tâm kinh

tế, chính trị, văn hóa, khoa học - kỹ thuật của địa phương hay của cả nước

+ Giai đoạn những năm 1945 – 1954 do chiến tranh quá trình đô thị hóa ởnước ta ở hai miền Nam - Bắc khác nhau, việc hình thành thêm các đô thị rất khókhăn

Tóm lại: Từ thế kỷ III trước Công nguyên đến nửa đầu thế kỷ XX , tức làtrải qua rất nhiều thế kỷ, nhưng số lượng các đô thị hình thành rất ít Vậy các emđánh giá như thế nào về tốc độ quá trình đô thị hóa ở nước ta? Giáo viên gợi ý:

quá trình đô thị hóa ở nước ta diễn ra nhanh hay chậm? Chắc chắn học sinh thấy

quá trình đô thị hóa ở nước ta diễn ra chậm vì trong nhiều thế kỷ số lượng hình

các đô thị hình thành ở nước ta rất ít và quy mô đô thị lại nhỏ

- Giáo viên cho học sinh nghiên cứu trên bản đồ dân số và hỏi: Qua quan sát về kýhiệu các đô thị trên bản đồ em thấy số lượng các đô thị hiện nay ở nước ta như thếnào so với thời gian trước đây mà các em thu thấp được trong SGK? Kết hợp chohọc sinh liên hệ với thực tiễn rồi hỏi: Không gian của nhiều đô thị như Hà Nội,Hải Phòng, Nam Định, thành phố Hồ Chí Minh… có được mở rộng không và hạtầng cơ sở, cơ sở vật chất kỹ thuật như giao thông vận tải, thông tin liên lạc… cóđược nâng cấp và cải tạo tốt hơn so với trước đây không? Học sinh sẽ nhận ra sốlượng các đô thị thể hiện trên bản đồ của nước ta nhiều và thực tế không giannhiều đô thị mở rộng, cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, thông tin liên lạc, điệnnước được đầu tư tốt hơn so với trước đây Qua đó em đánh giá như thế nào về sựchuyển biến của quá trình đô thị hóa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay? Học sinh

sẽ nhận thấy quá trình đô thị hóa hiện nay ở nước ta đang có sự chuyển biến tíchcực

- Giáo viên cho học sinh nghiên cứu tiếp trên bản đồ dân số, hỏi: Qua ký hiệu về

đô thị loại đặc biệt, các em thấy số lượng các đô thị đặc biệt ở nước ta nhiều hayít? Các em sẽ nêu được số lượng các đô thị loại đặc biệt ở nước ta là ít Giáo viênnói các đô thị đặc biệt thường là nơi đông dân, hội tụ sự phát triển các ngành kinh

tế và có hạ tầng cơ sở tốt Qua liên hệ thực tiễn và nghiên cứu SGK , kết hợp sosánh với các nước trong khu vực như Xin gapo, Thái Lan, Bru nây…và so vớimột số nước tiên tiến như Hoa Kỳ, Nhật Bản…, các em có quan điểm đánh giánhư thế nào về hạ tầng cơ sở và các công trình phúc lợi xã hôi ở các đô thị và

8

Trang 9

ngay ở cả các đô thị loại đặc biệt mà các em vừa xác định? Nhìn chung đã đápứng được yêu cầu đời sống và phát triển kinh tế xã hội chưa? Giáo viên hỏi tiếp:vậy trình độ đô thị hóa ở nước ta cao hay thấp? Học sinh dễ nhận ra quá trình đôthị hóa ở nước ta tuy có chuyển biến song vẫn còn ở trình độ thấp và chưa đápứng được yêu cầu cho đời sống và cho phát triển kinh tế.

b Tỉ lệ dân số thành thị tăng, nhưng vẫn còn thấp

Để hình thành đặc điểm này, tôi thực hiện như sau:

- Giáo viên cho học sinh nghiên cứu màu sắc thể hiện dân số nông thôn và dân sốthành thị trên biểu đồ dân số Việt Nam qua các năm Giáo viên cho học sinh sosánh chỉ số về dân số thành thị từ năm 1960 đến năm 2007 với dân số nông trongcùng năm và tính tỉ lệ dân số thành thị so với tổng dân số cả nước năm 1960 vànăm 2007, kết hợp nghiên cứu bảng 18.1 SGK trang 78 rồi hỏi: Dân số thành thị ởnước ta xu hướng tăng hay giảm và chiểm tỉ lệ cao hay thấp? Qua so sánh tínhtoán học sinh dễ nhận ra dân số thành thị nước ta tăng, song vẫn còn chiếm tỉ lệthấp Giáo viên so sánh với một số nước trong khu vực như Xingapo, Thái Lan,Mãlaixia, Bru nây và một số nước trên thế giới như Hoa Kỳ, Nhật Bản… để họcsinh rõ hơn Giáo viên nhấn mạnh thêm khi tỉ lệ dân số thành thị ít càng chứng tỏquá trình đô thị hóa nước ta diến ra chậm và trình độ thấp

c Phân bố đô thị không đều giữa các vùng

Để hiểu rõ vệ sự phân bố mạng lưới các đô thị ở nước ta, tôi triển khai thựchiện như sau:

- Giáo viên cho từng bàn học sinh ở từng dãy: Xác định số lượng các đô thị và sắpxếp các đô thị ở từng vùng theo thứ tự từ lớn đến nhỏ Cụ thể

+ Bàn 1: Xác định số lượng các đô thị vùng Trung du miền núi Bắc Bộ

+ Bàn 2: Xác định số lượng các đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng

+ Bàn 3: Xác định số lượng các đô thị vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải NamTrung Bộ

+ Bàn 4: Xác định số lượng các đô thị vùng Tây Nguyên

+ Bàn 5: Xác định số lượng các đô thị vùng Đông Nam Bộ

+ Bàn 6: Xác định số lượng các đô thị vùng Đồng bằng sông Cửu Long

- Giáo viên yêu cầu học sinh nghiên cứu kết hợp bản đồ dân số với bản đồ kinh tếchung, lưu ý học sinh căn cứ vào ký hiệu đường ranh giới vùng và chữ số la mã

để xác định chính xác tên và ranh giới từng vùng kinh tế nước ta là cơ sở để xácđịnh chính xác số lượng các đô thị ở từng vùng kinh tế, thời gian 5 phút và yêucầu các em trình bày kết quả xác định được, đối chiếu với kết quả chuẩn xác củagiáo viên để khẳng số lượng đô thị ở mỗi vùng:

+ Số lượng đô thị vùng Trung du miền núi Bắc Bộ có 18 đô thị, sắp xếp từ lớnđến nhỏ như sau: Thái Nguyên, Hạ Long, Việt trì, Bắc Giang, Cẩm Phả, HòaBình, Sông công, Móng Cái, Lạng Sơn, Yên Bái, Nghĩa Lộ, Tuyên Quang, CaoBằng, Bắc Cạn, Hà Giang, Lào Cai, Sơn La, Điện Biên

Trang 10

+ Số lượng đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có 12 đô thị, sắp xếp theo thứ tự từlớn đến nhỏ như sau: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Hà Đông, Sơn tây, VĩnhYên, Bắc Ninh, Hải Dương, Thái Bình, Ninh Bình, Hưng Yên, Phủ Lý

+ Số lượng đô thị vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải nam Trung Bộ:

Vùng Bắc Trung Bộ có 10 đô thị, sắp xếp theo thứ tự từ lớn đến nhỏ nhưsau: Vinh, Huế, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Đồng Hới, Sầm Sơn, Cửa Lò, Hồng Lĩnh,Đông Hà, Quảng Trị

Vùng duyên hải Nam Trung Bộ có 11, sắp xếp theo thứ tự từ lớn đến nhỏnhư sau: Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Phan Thiết, Hội An, Tam Kỳ, QuảngNgãi, Tuy Hòa, Cam Ranh, Phan Rang – Tháp Chàm, La gi

+ Số lượng đô thị vùng Tây Nguyên có 8 đô thị, sắp xếp theo thứ tự từ lớn đếnnhỏ như sau: Buôn ma thuột, Đà Lạt, Bảo Lộc, Plâyku, KonTum, An Khê,Ayunpa, Gia Nghĩa

+ Số lượng đô thị vùng Đông Nam Bộ có 7 đô thị, sắp xếp theo thứ tự từ lớn đếnnhỏ như sau: Thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hòa, Vũng Tàu, Thủ Dầu Một, TâyNinh, Đồng Xoài, Bà Rịa

+ Số lượng đô thị vùng Đồng bằng sông Cửu Long có 15 đô thị, sắp xếp theo thứ

tự từ lớn đến nhỏ như sau: Cần thơ, Rạch Gía, Long Xuyên, Tân An, Mỹ Tho,Bến Tre, Vĩnh Long, Sa Đéc, Cao Lãnh, Châu Đốc, Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu,

Vị Thanh, Trà Vinh

- Giáo viên yêu cầu tiếp học sinh đối chiếu nhanh với bảng 18.2 SGK trang 78hỏi: Em có nhận xét gì về sự phân bố đô thị giữa các vùng ở nước ta? Học sinh dễdàng nhận ra và nhớ rất lâu: Mạng lưới các đô thị ở nước ta phân bố không đềugiữa các vùng, còn giúp các em hiểu rõ vùng có số lượng đô thị nhiều là Trung Dumiền núi Bắc Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng, vùng có sốlượng đô thị ít là Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, đặc biệt Đông Nam Bộ có số lượng

đô thị ít nhất cả nước

3.2 Phân cấp đô thị (phân loại)

- Giáo viên cho học sinh hoạt động cá nhân, yêu cầu các em nghiên cứu SGK, hỏimạng lưới đô thị ở nước ta phân loại như thế nào? Căn cứ vào đâu để phân loại?Học sinh sẽ nêu được sự phân loại đô thị như SGK đó là: Căn cứ chủ yếu vào sốdân, chức năng, mật độ dân số và tỉ lệ dân phi nông nghiệp phân ra 6 loại: Loại đôthị đặc biệt có Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, loại 1, 2, 3, 4, 5 Căn cứ vàocấp quản lý hai loại: Đô thị trực thuộc Trung Ương gồm có Hà Nội, Hải Phòng,

Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần thơ; loại đô thị trực thuộc địa phương Đểnhớ lâu hơn, giáo viên cho học sinh nghiên cứu chủng loại chữ viết thể hiện chotừng cấp đô thị trong chú giải và hỏi kiểu chữ viết nào thể hiện cho đô thị loại đặcbiệt, đô thị loại 1, 2, 3, 4? Sau đó giáo viên yêu cầu học sinh xác định cụ thể từngcấp đô thị ở trên bản đồ ( Nếu học sinh không rõ, giáo viên nói: Kiểu chữ in hoa

đậm như chữ “HÀ NỘI”dùng thể hiện loại đô thị cấp đặc biệt, kiểu chữ in hoa

10

Trang 11

mảnh hơn như chữ “ĐÀ NẴNG” dùng thể hiện đô thị loại 1, kiểu chữ in đậm giốngnhư chữ “NAM ĐỊNH” dùng thể hiện đô thị loại 2, kiểu chữ mảnh hơn như chữ inmảnh như chữ “SƠN LA” dùng thể hiện đô thị loại 3, kiểu chữ in thường như chữ

“Lai Châu” dùng thể hiện đô thị loại 4, còn đô thị loại 5 là cấp thị xã nhưng khôngđược thể hiện trên bản đồ Để học sinh dễ phân biệt đô thị trực thuộc Trung Ương

và đô thị trực thuộc địa phưowng, giáo viên lưu ý cho học sinh: Căn cứ vào kýhiệu về quy dân số của từng loại đô thị thì các đô thị trực thuộc Trung Ươngthường có quy mô dân số từ 500001 nghìn người trở lên, còn ở các quy mô thấphơn 500001 nghìn người sẽ thuộc đô thị trực thuộc địa phương

3.3 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến sự phát triển kinh tế - xã hội

Bản đồ kinh tế chung nước ta năm 2007

Trang 12

Bản đồ công nghiệp chung nước ta năm 2007

- Giáo viên cho học sinh nghiên cứu đồng thời bản đồ dân số, bản đồ kinh tếchung, bản đồ công nghiệp chung, yêu cầu học sinh hiểu ký hiệu hình tròn thểhiện trung tâm kinh tế, về trung tâm công nghiệp, hiểu ký hiệu màu sắc thể hiệntừng nhóm ngành kinh tế ở bảng chú giải hoặc trang 3 của Át lát địa lý Việt Nam

và hỏi: Các đô thị ở nước ta có thường trùng với các trung tâm kinh tế và các

12

Ngày đăng: 14/11/2018, 15:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w