1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dạy kĩ năng thế kỉ XXI cho học sinh THPT thông qua mô hình giáo dục stem tư duy phản biện

56 213 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

những kĩ năng đáp ứng sự phát triển năng lực hoc học sinh trong bối cảnh mới chưa đượcquan tâm nhiều.Với tất cả các lý do trên, chúng tôi mạnh dạn thực hiện đề tài: “Dạy kĩ năng thế kỉ X

Trang 1

TRƯỜNG THPT CHUYÊN LÊ HỒNG PHONG NAM ĐỊNH

BÁO CÁO SÁNG KIẾN

Nơi công tác:Trường THPT ………….

Nam Định, ngày 20 tháng 05 năm 2017.

Trang 2

1 Tên sáng kiến: “Dạy kĩ năng thế kỉ XXI cho học sinh THPT thông qua mô hình giáo

dục STEM – Tư duy phản biện”

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: giáo dục THPT

3 Thời gian áp dụng sáng kiến:

Từ ngày 27 tháng 08 năm 2016 đến ngày 08 tháng 05 năm 2017

4 Tác giả

5 Đơn vị áp dụng sáng kiến:

Tên đơn vị: trường THPT Nam Định

6 Mã Sáng kiến: SK05

Trang 3

I ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN

1.1 Yêu cầu đổi mới giáo dục trong bối cảnh mới

1.1.1 Thời đại nhiều biến động

Về bối cảnh dạy học hiện nay có rất nhiều chuyển biến khác trước, cả trong tự nhiênlẫn kinh tế - xã hội

Thứ nhất, tài nguyên thiên nhiên đang trên đà khai thác cạn kiệt, biến đổi khí hậu diễn

ra trên quy mô toàn cầu với diễn biến rất phức tạp và khó lường, thậm chí là đang ở mứckhông thể phục hồi như trước cho dù chúng ta có cắt giảm sự phụ thuộc vào tự nhiên tối đanhư dự đoán trước đây

Thứ hai, kinh tế thế giới gia tăng mức độ tăng trưởng dựa vào sự đổi mới Hoa Kì,

Nhật Bản và nhiều nước phát triển không phải là những nước phát triển nhanh nhất, mà lànhững quốc gia mới đổi – những quốc gia ủng hộ cho sự sáng tạo, khởi nghiệp như Israel.Nhiều chuyên gia cho thấy rằng những nước có tăng trưởng kinh tế tốt là những những nước

có sự đổi mới, sáng tạo để tạo ra giá trị gia tăng và thân thiện với môi trường hơn là nhữngnước thúc đẩy văn hóa tiêu dùng để kích cầu sản xuất

Thứ ba, xã hội loài người cũng thay đổi nhanh tới mức chính chúng ta không thể đoán

trước được trong 5 – 10 năm tới có bao nhiêu nghề nghiệp sẽ biến mất và bao nhiêu nghềnghiệp mới sẽ ra đời Nền hòa bình và cả bản sắc văn hóa của nhiều quốc gia, dân tộc bị đedọa bởi những chủ nghĩa cực đoan mới nổi

Ba sự thay đổi cơ bản trên đã khiến cho thế hệ tương lai đứng trước một tương laikhông giống với những lý thuyết mà thế hệ trước đã dự đoán Rõ ràng, việc thích nghi vớithời đại mới đã rất khác với các xã hội nông nghiệp, công nghiệp trước kia

1.1.2 Gia tăng bằng cấp học thuật nhưng khó khăn tìm kiếm việc làm

Tuy nhiên, hiện tượng đáng lo ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới là: Sốlượng bằng cấp học thuật tăng cao nhưng vẫn khó khăn trong tìm kiếm việc làm

Nghiên cứu về thất nghiệp tại nước Hoa Kì và nhiều quốc gia trên thế giới cho thấysinh viên cần nhiều năm hơn trên ghế nhà trường để có một công việc với mức lương khôngcạnh tranh hơn thời kì trước

Tại các quốc gia thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cứ 8 bạn trẻ từ 18– 24 tuổi thì có hơn một người không có việc làm

Ở nước ta, trong hội thảo “Đổi mới công tác đào tạo nhân lực cho các khu công nghiệp

và khu chế xuất ở Việt Nam” do Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp Bộ GD&ĐT, Bộ TB&XH, Chương trình đổi mới đào tạo nghề tại Việt Nam (GIZ) tổ chức, báo cáo đã thống

LĐ-kê Quý 1/2016 cả nước có 225.000 người có trình độ cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp ÔngNguyễn Mạnh Hải, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương cho biết thêm: "Nhiều cơ

Trang 4

quan, doanh nghiệp nhận sinh viên nhưng phải đào tạo mất 1 đến 2 năm Trong 37% còn lại

về cơ bản cũng chưa đáp ứng được yêu cầu công việc”

Như vậy, kiến thức học thuật mà các cơ sở đại học trang bị đã không đủ đảm bảo đểsinh viên có thể có việc Sự thiếu hụt các kĩ năng nghề nghiệp, kĩ năng sống đã khiến nhiềusinh viên dù đạt bằng khá, giỏi vẫn chật vật để có việc làm, trong khi đó các doanh nghiệpvẫn rất thiếu lao động

1.1.3 Cách mạng công nghiệp 4.0

Bốn bức hình trên đã nói rõ sự khác biệt của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 Laođộng phổ thông thậm chí cả lao động tay nghề cao vẫn có thể thay thế bởi trí tuệ nhân tạo Ví

Trang 5

dụ ở khâu sản xuất, công nghệ càng tỏ rõ sức mạnh Thời điểm này, chỉ với máy thùa đínhcúc áo bán tự động đã cho năng suất gấp đôi sức của một người công nhân, trong khi chỉ mấtchi phí ban đầu và sau một năm đã hoàn được vốn Đã có cảnh báo, tới 80% công nhân may

bị mất việc do các robot thay thế Vậy dạy học sinh như thế nào để các em sáng tạo, chủ độngtrong thời kì sản xuất thông minh là một vấn đề rất cần được quan tâm

đó, cần thiết phải trang bị cho các em các kĩ năng mới nhiều hơn, trong đó có tư duy phảnbiện để thích ứng với bối cảnh đầy biến động tương lai

1.2 Chương trình thí điểm giáo dục STEM trong trường phổ thông

Một trong những thay đổi tác động tích cực sự hình thành sáng kiến kinh nghiệm này

là việc triển khai chương trình tập huấn và thí điểm mô hình giáo dục STEM vào trongtrường phổ thông Một mô hình có nhiều ưu thế trong dạy các kĩ năng của thế kỉ XXI, trong

đó có dạy cho học sinh kĩ năng đầu tiên và cơ bản là Tư duy phản biện

1.2.1 Chương trình thí điểm của Bộ giáo dục

Tại Việt Nam, giáo dục STEM còn khá mới mẻ Ban đầu là sự tiên phong của các tổchức tư nhân mà chính thức và sớm nhất là Học viện STEM là chuỗi trung tâm của Công ty

Cổ phần DTT Eduspec, đơn vị triển khai giáo dục STEM tại Việt Nam theo hình thức Hợptác Công tư (PPP) từ năm 2011

Giáo dục STEM nhận được quan tâm đặc biệt khi Bộ giáo dục và đào tạo những nămgần đây khi hàng loạt công văn hướng dẫn về đổi mới dạy học được ra đời như - Công văn

5555 hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánhgiá; tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn của trường trung học/trung tâm giáo dụcthường xuyên qua mạng Công văn số 4068/BGDÐT-GDTrH gửi Chủ tịch UBND tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương về việc triển khai mô hình trường học mới từ năm học 2016-2017

Đặc biệt giáo dục STEM chính thức được triển khai thí điểm tại 14 trường tự nguyệntrong năm học 2016 – 2017 với Kế hoạch bồi dưỡng giáo viên về dạy học STEM của Hộiđồng Anh phối hợp với Microsoft và Bộ giáo dục

Trong đó, trường THPT Nam Định là một trong các trường đã tíchcực chủ động tiếp cận giáo dục STEM trường học trung học phổ

1.2.2 Chương trình thí điểm tại trường THPT Nam Định

Trang 6

Quá trình triển khai được thực hiện qua nhiều bước, từ chỗ gửi giáo viên đi tập huấnSTEM cũng như kĩ năng mềm khác Triển khai STEM với quy mô mở rộng dần từ các tiếthọc, các dự án của câu lạc bộ STEM đến Ngày hội STEM và duy trì tinh thần STEM trongmỗi học sinh với việc xây dựng tủ sách STEM trường học Các bước đã và đang triển khai cụthể là:

1 Tập huấn kĩ năng cơ bản cho giáo viên (Tư duy phản biện, Tư duy sáng tạo và tưởngtượng, CNTT,)

2 Tái hiện các giờ học STEM được tập huấn

3 Triển khai các dự án STEM

4 Triển khai Ngày hội STEM gia đình

5 Xây dựng tủ sách STEM trường học

6 Tham quan học tập hàng năm tại Thái Lan (dự kiến)

Trong các bước trên, với sự tham gia nhiệt tình của học sinh, giao viên và sự cởi mởcủa Ban giám hiệu, nhiều kết quả đáng ghi nhận trong nỗ lực đưa mô hình giáo dục STEMvào trường học Đó là việc triển khai đồng bộ bộ Office 365 trong cả giáo viên và học sinh,tái hiện thành công bốn tiết học về STEM được tập huấn, triển khai được sáu dự án STEMvới hơn 400 học sinh tham gia, đặc biệt là tổ chức thành công Ngày hội STEM gia đình 26/3.Quá trình này, chúng tôi đã tích lũy được những kinh nghiệm nhất định trong việc tổ chứcdạy học sinh các kiến thức và kĩ năng thông qua thực hành thực tế

1.3 Đặc thù bộ môn Địa lý trong trường phổ thông

Xuất phát từ bản thân là những giáo viên Địa Lý được đào tạo bài bản với mô hìnhgiáo dục truyền thống đồng thời được tiếp cận cả với các chương trình tập huấn giáo dục mới

từ rất sớm, chúng tôi nhận thấy những điểm thuận lợi và cả những hạn chế trong việc dạy các

kĩ năng thế kỉ XXI, đặc biệt là tư duy phản biện cho học sinh

Về thuận lợi, Địa lý là mộn học có tính liên môn cao, có sự kế thừa thành quả nghiên

cứu của cả các môn khoa học tự nhiên và kinh tế - xã hội Nhờ vậy, việc tích hợp, lồng ghép

các kĩ năng tổng hợp của nhiều lĩnh vực tư duy khác nhau dễ dàng hơn Đây cũng là môn có

tính cập nhật thời sự các vấn đề đang xọc y ra trong nước cũng như trên toàn thế giới Ứng

dụng bối cảnh kiến thức thực tế đang diễn ra xung quanh học sinh để hình thành kĩ năng chohọc sinh cũng là hướng dễ tiếp cận với bộ môn này

Tuy nhiên, hiện nay, trong nhà trường phổ thông, môn Địa lý cũng có một số hạn chếnhư: kiến thức sách giáo khoa và nhất là số liệu chưa theo sát thực tế Địa lý thường đượcxem là môn phụ, chủ yếu được học theo hướng ghi nhớ thụ động Ngoài ra, các nội dungđược tạp trung giảng dạy vẫn là các kiến thức và kĩ năng truyền thống của bộ môn như kĩnăng vẽ biểu đồ, kĩ năng đọc Atlat, phân tích bẳng số liệu…Do đó, thời lượng dành cho

Trang 7

những kĩ năng đáp ứng sự phát triển năng lực hoc học sinh trong bối cảnh mới chưa đượcquan tâm nhiều.

Với tất cả các lý do trên, chúng tôi mạnh dạn thực hiện đề tài: “Dạy kĩ năng thế kỉ

XXI cho học sinh THPT thông qua mô hình giáo dục STEM – Tư duy phản biện” nhằm

đưa nội dung dạy kĩ năng thế kỉ XXI thông qua mô hình giáo dục STEM vào giảng dạy.Trước hết, tập trung vào hình thành tư duy phản biện và giải quyết vấn đề - một trong các kĩnăng cốt lõi của nhóm kĩ năng thế kỉ XXI

II MÔ TẢ SÁNG KIẾN

2.1 Dạy các kĩ năng với mô hình dạy học truyền thống

Trước khi có sáng kiến, giáo viên đã vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực,đổi mới hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá, ứng dụng công nghệ thông tin trongdạy học, tuy nhiên hiệu quả mang lại chưa cao Cần thiết phải lựa chọn phương pháp, phươngtiện, hình thức tổ chức dạy học, phù hợp, hiệu quả cao hơn để phát huy tối đa năng lực củahọc sinh

Nhiều chủ đề nội dung trong sách giáo khoa đã không còn phù hợp với thực tế và do

đó khó hình thành nên sự liên hệ bối cảnh thực tiễn và tư duy phản biện cho các em

Vì vậy, cần thiết phải lựa chọn những phương pháp hiệu quả hơn để phát huy đầy đủnăng lực của học sinh

2.1.3 Phương tiện dạy học

Trong quá trình dạy học, giáo viên đã biết khai thác tốt kênh hình và kênh chữ sáchgiáo khoa Đồng thời sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin, chủ yếu là Powerpoint,

sử dụng các video minh họa… để tăng tính trực quan, kích thích tư duy học sinh Tuy nhiên,học sinh mới chỉ dừng lại ở quan sát và tư duy Việc dạy học sẽ hiệu quả hơn nếu học sinh

Trang 8

được trực tiếp trải nghiệm các ứng dụng công nghệ thông tin Trang bị về công nghệ thông tin

là một hành trang quan trọng cho sự phát triển sau này của học sinh

2.1.4 Hình thức tổ chức dạy học

Các bài học chủ yếu được tổ chức thành các bài dạy lí thuyết trên lớp, được tiến hànhtrong phòng học Vị trí chỗ ngồi của học sinh hầu như không thay đổi, ngồi cố định theo cácdãy bàn và hướng lên trên bảng Giáo viên là trung tâm thu hút sự chú ý của học sinh Giáoviên cung cấp các kiến thức, học sinh lĩnh hội Hình thức này không tạo được hứng thú chophần đông học sinh trong lớp Việc thay đổi không gian tổ chức hoạt động dạy học phù hợp

sẽ góp phần tăng hứng thú và hiệu quả học tập

2.1.5 Kiểm tra đánh giá

Giáo viên mới chỉ chú trọng kiểm tra kiến thức lý thuyết của học sinh bằng hình thứckiểm tra viết (tự luận, trắc nghiệm hoặc cả tự luận và trắc nghiệm) với các câu hỏi yêu cầuhọc sinh tái hiện kiến thức Các câu hỏi này ít gắn với thực tiễn Việc kiểm tra, đánh giátrong quá trình tổ chức dạy học và đánh giá các kĩ năng mà học sinh đạt được trong quá trìnhhọc tập chưa được quan tâm Giáo viên đánh giá kết quả học sinh thông qua điểm số Điềunày đã dẫn tới tình trạng học thụ động trong học sinh Học sinh chỉ quan tâm, học thuộc lòng

lý thuyết mà giáo viên cung cấp để đạt điểm số cao trong khi bản thân có thể không hiểu nộidung đó Từ đó, kết quả kiểm tra đánh giá bị sai lệch

Trong các buổi đánh giá, giáo viên là người đánh giá duy nhất Học sinh không thamgia tự đánh giá và đánh giá các bạn học khác Các bài kiểm tra đôi khi còn mang nặng tínhchủ quan của giáo viên, thiếu chính xác, khách quan, công bằng Giáo viên cần phải tạo cơhội để học sinh tự nhìn nhận đánh giá bản thân, đánh giá học sinh khác để tìm ra cái mình đãđạt được, những điều còn thiếu sót từ đó phát huy các năng lực bản thân

2.1.6 Về kết quả học tập của học sinh

- Thái độ học tập của học sinh

Còn nhiều học sinh chưa hứng thú trong các giờ học, biểu hiện: có nhiều học sinh chỉlắng nghe các kiến thức, thụ động ghi chép; không có sự hào hứng; không thắc mắc, đặt câuhỏi, cả đối với những nội dung chưa hiểu rõ; học sinh không tích cực tham gia xây dựng bàihọc trên lớp… Về nhà, không tìm hiểu kiến thức liên quan, làm bài tập chống đối

Theo khảo sát, 500 học sinh các khối về bộ môn số học sinh rất hứng thú với bài họctrước khi áp dụng sáng kiến là 21,7 %; số học sinh chưa hứng thú với bài học là 22,9%

Trang 9

Đặc biệt, học sinh yếu về tư duy phản biện, thể hiện qua kết quả khảo sát câu hỏi vậndụng cao Điều này cũng xuất phát phần lớn từ hình thức dạy và học chủ yếu dựa trên tiếpnhận tri thức một chiều

2.2 Dạy tư duy phản biện với giáo dục STEM

2.2.1 Các kĩ năng thế kỉ XXI

Theo như định nghĩa của Tổ chức Đánh giá và Giảng dạy Các Kỹ năng của Thế kỷ 21,gọi tắt là AT21CS (Assessment and Teaching of 21 Century Skills) tại Đại học Melbourne(Úc), kỹ năng của thế kỷ 21 bao gồm 4 nhóm kỹ năng mềm (soft skills) chính

Thứ nhất là nhóm các kỹ năng tư duy như tư duy phản biện, sức sáng tạo, kỹ năng giải

quyết vấn đề, kỹ năng ra quyết định, và khả năng tự học suốt đời

Thứ hai là nhóm kỹ năng làm việc như khả năng giao tiếp và hợp tác làm việc theo

nhóm

Thứ ba là nhóm kỹ năng sử dụng các công cụ làm việc như sự hiểu biết các kiến thức

chung về công nghệ thông tin và truyền thông (ICT)

Cuối cùng là kỹ năng sống trong xã hội toàn cầu, bao gồm vấn đề ý thức công dân,

cuộc sống và sự nghiệp, trách nhiệm cá nhân và xã hội, bao gồm cả vấn đề hiểu biết tính đadạng văn hóa

Trong bối cảnh điều kiện cơ sở vật chất còn hạn chế và chưa thể thay đổi nhiều đượchình thức dạy học truyền thống, chúng tôi tập trung thời gian vào hình thành cho các em học

sinh nhóm kỹ năng tư duy nhiều hơn so với các nhóm kỹ năng khác Đề tài tập trung viết về

kinh nghiệm của chúng tôi làm thế nào để phát triển tư duy phản biện thông qua mô hình giáodục STEM

2.2.2 Giáo dục STEM

2.2.2.1 Mục tiêu của giáo dục STEM

Điều quan trọng trong giáo dục STEM là không chỉ giúp hoc sinh hiểu và các nguyên

lý, kiến thức khoa học hàn lâm mà còn đồng thời tạo có kỹ năng để áp dụng các nguyên lý đó

để tạo ra các sản phẩm sử dụng trong đời sống hàng ngày Các nguyên lý và kĩ năng nàykhông phải được giáo dục một các rời rạc, riêng biệt theo từng môn khoa học mà được tíchhợp, lồng ghép để học sinh được kích thích phát triển tư duy và khả năng giải quyết vấn đề

2.2.2.2 Phương pháp chính của giáo dục STEM

Giáo dục STEM vận dụng phương pháp học tập chủ yếu dựa trên thực hành và các

hoạt động trải nghiệm sáng tạo

Các phương pháp giáo dục tiến bộ, linh hoạt nhất như Học qua dự án – chủ đề, Học

qua trò chơi và đặc biệt phương pháp Học qua hành luôn được áp dụng triệt để cho các mônhọc tích hợp STEM Chính vai trò chủ đạo của phương pháp học qua hành khiến học sinh có

Trang 10

nhiều cơ hội trải nghiệm các kĩ năng khác nhau và tự khám phá năng lực, thế mạnh, đam mêcủa bản thân

Trong giáo dục STEM các kiến thức thường được liên kết trong một chủ đề, kiến thức

đó có thể là nội môn hoặc liên môn Do vậy, học sinh có cái nhìn tổng quan, thấu đáo về hệthống kiến thức cho một vấn đề Với việc đề cao hình thức học thông qua hành, mô hình giáodục STEM tạo ra niềm hứng khởi cho học sinh khám phá và tiếp thu nhiều kiến thức khácnhau mà không hề cảm thấy nặng nề Sự chủ động khai phá kiến thức còn giúp các em nhớlâu và kiến thức dễ dàng chuyển từ việc tiếp nhận bề mặt thành kiến thức bề sâu cho nhữnglần áp dụng sau đó

Trong các hình thức tương tác, giáo dục STEM ưu tiên làm việc nhóm, nhằm tăng

cường khả năng tương tác của học sinh Mô hình này cho rằng làm việc theo nhóm cũng giúphọc sinh có nhiều ý tưởng hơn để giải quyết các vấn đề trong một dự án so với việc chỉ làmviệc cá nhân trong suốt quá trình

2.2.2.3 Kĩ năng mà giáo dục STEM hướng đến

Kiến thức khoa học vẫn được trang bị cho học sinh như trong giáo dục truyền thốngtuy nhiên với hình thức phát hiện hiện, ghi nhớ kiến thức thông qua thực hành nên quá trìnhhọc đã xây dựng nên những kĩ năng cho người học mà mô hình giáo dục truyền thống khó cóthể thực hiện được Kĩ năng mà giáo dục STEM hướng đến nhằm mục tiêu đào tạo lao độngchất lượng cao cho nền sản xuất tiên tiến Đồng thời với đó là các kỹ năng sống đáp ứng nhucầu phát triển trong thế kỉ 21

* Các kỹ năng STEM là tích hợp của 4 kỹ năng chính bao gồm:

- Kỹ năng khoa học: Học sinh được trang bị những kiến thức về các khái niệm, cácnguyên lý, các định luật và các cơ sở lý thuyết của giáo dục khoa học Mục tiêu quan trọngnhất là thông qua giáo dục khoa học, học sinh có khả năng liên kết các kiến thức này để thựchành và có tư duy để sử dụng kiến thức vào thực tiễn để giải quyết các vấn đề trong thực tế

- Kỹ năng công nghệ: Học sinh có khả năng sử dụng, quản lý, hiểu biết, và truy cậpđược công nghệ, từ những vật dụng đơn giản như cái bút, chiếc quạt đến những hệ thốngphức tạp như mạng internet, máy móc

- Kỹ năng kỹ thuật: Học sinh được trang bị kỹ năng sản xuất ra đối tượng và hiểu

được quy trình để làm ra nó Vấn đề này đòi hỏi học sinh phải có khả năng phân tích, tổnghợp và kết hợp để biết cách làm thế nào để cân bằng các yếu tố liên quan (như khoa học,nghệ thuật, công nghệ, kỹ thuật) để có được một giải pháp tốt nhất trong thiết kế và xây dựngquy trình Ngoài ra học sinh còn có khả năng nhìn nhận ra nhu cầu và phản ứng của xã hộitrong những vấn đề liên quan đến kỹ thuật

- Kỹ năng toán học: Là khả năng nhìn nhận và nắm bắt được vai trò của toán học trongmọi khía cạnh tồn tại trên thế giới Học sinh có kỹ năng toán học sẽ có khả năng thể hiện các

Trang 11

ý tưởng một cách chính xác, có khả năng áp dụng các khái niệm và kĩ năng toán học vào cuộcsống hằng ngày.

* Các kỹ năng thế kỉ 21 mà giáo dục STEM trang bị cho học sinh

Ngoài ra, giáo dục STEM song song với việc trang bị các kĩ năng STEM còn trang bịcho học sinh những kỹ năng phù hợp để phát triển trong thế kỷ 21 Bộ kỹ năng Thế kỷ 21được tóm tắt gồm những kỹ năng chính:

- Tư duy phản biện và kỹ năng giải quyết vấn đề

- Kỹ năng trao đổi và cộng tác

- Tính sáng tạo và kỹ năng phát kiến

- Văn hóa công nghệ và thông tin truyền thông

- Kỹ năng làm việc theo dự án

2.2.3 Dạy tư duy phản biện thông qua giáo dục STEM như thế nào?

2.2.3.1 Tầm quan trọng của tư duy phản biện

Tính đến cuối năm 2016, cả nước ta đã có khoảng 300.000 cử nhân thất nghiệp Về mặtkhách quan, đây chính là hệ quả của việc mở trường đại học ồ ạt, sự thay đổi nhanh chóngcủa thị trường việc làm khiến các trường đại học chưa kịp thích ứng, Về mặt chủ quan, sinhviên hiện nay phần lớn thiếu kĩ năng mềm, và vì vậy, đã lỡ mất cơ hội nghề nghiệp của mình.Một trong những kĩ năng mềm rất quan trọng thường được nhà tuyển dụng tìm kiếm ở cácứng viên là kĩ năng tư duy phản biện

Trang 12

Kỹ năng này được miêu tả như khả năng gắn kết, phản ánh và sự độc lập trong tư duy.Những người có kỹ năng này thường có thể:

– Nắm được liên kết logic giữa các ý tưởng

– Xác định, xây dựng, đánh giá những luận điểm trong tranh luận

– Phát hiện sự bất hợp lý hoặc những lỗi thông thường trong lý luận

– Giải quyết vấn đề một cách có hệ thống

– Xác định tính liên kết và tầm quan trọng của các ý tưởng

– Phản ánh khách quan giá trị và niềm tin của người khác

Do vậy, khi có tư duy phản biện thì học sinh sẽ trở nên mạnh mẽ, chủ động hơn khigiải quyết các vấn đề xảy ra trong cuộc sống:

- Tư duy phản biện giúp học sinh nhìn nhận vấn đề một cách khách quan.

Sống trong một xã hội tự do ngôn luận và vô cùng rộng mở về thông tin, những quanđiểm khác nhau của người viết sẽ ảnh hưởng đến bài viết và từ đó, ảnh hưởng đến suy nghĩcủa độc giả Chính vì vậy, nhiều khi học sinh sẽ phạm sai lầm nếu chỉ tin vào một luồngthông tin nhất định Khi đọc, đừng chỉ tiếp thu thông tin, hãy nghĩ nữa Đừng vội phán xét,hãy xem xét Đó là cách mà tư duy phản biện giúp chúng ta đương đầu với những vấn đềtrong cuộc sống

- Tư duy phản biện giúp học sinh diễn đạt bản thân hiệu quả hơn.

Tư duy phản biện là một phần của giao tiếp Nhờ việc nhìn nhận vấn đề một cáchkhách quan, học sinh dễ dàng nhận ra quan điểm chủ quan của mình với vấn đề đó, hiểu tạisao mình có quan điểm đó và chỉ việc diễn đạt những gì mình hiểu thành lời Nhiều ngườithường đổ lỗi cho sự kém giao tiếp khi gặp khó khăn trong việc diễn đạt suy nghĩ của bảnthân Không ít người trong số họ, không phải kém về giao tiếp mà là thiếu sót về tư duy phảnbiện, tức họ không suy nghĩ một cách rõ ràng, thấu đáo, sắp xếp vấn đề một cách thứ tự trướckhi diễn đạt nó thành lời, dẫn đến việc giao tiếp không hiệu quả hay tệ hơn, cãi vã khôngđáng có

- Tư duy phản biện giúp tăng tính tự chủ trong công việc và cuộc sống

Cuộc sống là những kết quả đến từ quyết định Nhiều quyết định sẽ thay đổi cuộc đờihọc sinh Tư duy phản biện giúp học sinh phân tích vấn đề từ nhiều khía cạnh, từ đó giúp họcsinh đưa ra quyết định một cách tỉnh táo và dứt khoát trong công việc cũng như cuộc sốnghàng ngày

2.2.3.2 Vậy tư duy phản biện là gì?

- Định nghĩa:

Có nhiều định nghĩa khác nhau về tư duy phản biện, và đây là một trong những kĩ năngsớm được đưa vào giảng dạy, đồng thời là một trong những kĩ năng tư duy cốt lõi cho họcsinh trong thế kỉ này

Trang 13

Theo định nghĩa của nhiều nhà khoa học thì tư duy phản biện gồm 3 hình thái tư duy làlập luận, ra quyết định, giải quyết các vấn đề:

Theo định nghĩa của Hội đồng Anh “Tư duy phản biện là tư duy tự định hướng làm nảysinh những ý tưởng mới , sáng tạo và giải quyết các vấn đề Nhận xét mang tính phản biện vềnhững kiến thức và quy trình và đưa ra quyết định.”

- Những yếu tố tạo nên tư duy phản biện:

+ Hiệu quả: để đạt hiệu quả tư duy phản biện cần tránh những sai lầm phổ biến như

chỉ nhìn vào một mặt của vấn đề; bỏ qua những bằng chứng khi phản bác, lập luận; suy nghĩchủ quan hơn là dựa vào logic…

+ Mới lạ: không phải chỉ một giải pháp cho một vấn đề mà cần đến nhiều hơn những

phương án dự phòng trước khi ra quyết định, những phương án được đưa ra nên khả thi khigiải quyết các vấn đề không xảy ra thường xuyên

+ Tự định hướng: học sinh suy nghĩ độc lập dựa trên chính kinh nghiệm và bằng

chứng mà mình thu thập được

- Bốn công cụ thiết yếu để rèn luyện tư duy phản biện là:

+ Cân nhắc tất cả các quan điểm khác biệt với bản thân

+ Tìm kiếm và đánh giá các minh chứng của vấn đề

+ Giải quyết các vấn đề không quen thuộc

+ Tìm kiếm cấu trúc chuyên sâu – bản chất ẩn dưới hiện tượng

Trang 14

2.2.3.3 Làm thế nào để dạy tư duy phản biện trên lớp theo hướng STEM?

Muốn hình thành chính xác tư duy phản biện cho học sinh thay vì sự phản bác vô căn

cứ, cần hiểu nắm rõ đặc điểm, tiêu chí và những kỹ năng cần tập trung Đó chính là 4 công cụ

đã giới thiệu ở phần trên

Việc vận dụng hình thức học qua hành, học dự án, học theo chủ đề của mô hình giáodục STEM sẽ hỗ trợ rất lớn cho việc hình thành tư duy phản biện cho các em Sau đây, chúngtôi giới thiệu kinh nghiệm rèn luyện tư duy phản biện cho học sinh, và nhấn mạnh rằng sự rènluyện này sẽ phát huy hiệu quả cao hơn nếu áp dụng theo lý thuyết mô hình dạy học STEM

a Dạy học sinh xem xét các quan điểm khác nhau thông qua làm việc nhóm

Xem xét các quan điểm khác nhau tức là nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau,cân nhắc những quan điểm trái chiều với suy nghĩ của mình Học sinh thường rất hay mắc lỗikhi nhìn nhận vấn đề từ một phía của người có ảnh hưởng nhất đối với các em, mà theo cáchdạy truyền đạt tri thức một chiều chỉ có một đáp án đúng thì đó chính là thầy cô Là nhà giáodục, vai trò của chúng ta là đưa ra những chiến lược tư duy phản biện rõ ràng

Xem xét những quan điểm khác nhau là gì: Là học sinh tự suy nghĩ về bất cứ

điều gì, kể cả những điều được cho là chân lý mà các em được tiếp nhận từ bênngoài và đưa ra nhận định riêng của mình đồng thời thu thập tất cả các quanđiểm khác với mình để đảm bảo nhìn nhận một vấn đề từ nhiều góc độ kháchquan khác nhau

Hướng dẫn học sinh xem xét vấn đề trên các quan điểm khác nhau bằng cách nào?

+ Yêu cầu học sinh phát biểu/viết ra giấy quan điểm các nhân về mỗi vấn đề, có thểkhông giống với tất cả mọi người, hoặc những quan điểm từng biết

+ Yêu cầu học sinh xem xét một vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau,

Trang 15

+ Trao đổi quan điểm với người khác, tìm điểm khác biệt

+ Thuyết phục bạn khác đồng ý với quan điểm của mình

Ví dụ về cách thức xem xét các quan điểm khác nhau và vì sao điều này quan trọng

Hoạt động: bài “Một số vấn đề của Mỹ la tinh”

Bối cảnh: Mỹ la tinh là vùng đất giàu tài nguyên nhưng còn tốn tại nhiều vấn đề về

kinh tế - chính trị - xã hội Nếu được tranh cử là tổng thống toàn quyền của khu vực Mỹ latinh, chiến dịch của em là gì, hãy thể hiện trên poster tranh cử

Yêu cầu: làm việc nhóm 5 - 6 học sinh, thời gian 45 phút, cử nhóm trưởng tranh luận

với các ứng cử viên khác, thể hiện ý tưởng trên giấy A0

Hãy thiết kế poster thể hiện chiến dịch tranh cử của em:

Ý nghĩa của hoạt động này giúp học sinh hiểu được:

+ Kết quả chiến dịch tranh cử sẽ rất nhiều giải pháp rất khác nhau giúp học sinh thấy

luôn có nhiều quan điểm khác nhau cho cùng một vấn đề

+ Do đâu những quan điểm khác, góc nhìn khác nhau

+ Học sinh sẽ cảm nhận thế nào nếu có người có góc nhìn khác thậm chí đối lập với

mình

+ Mọi học sinh có cần có quan quan điểm giống nhau không

+ Quan điểm của những bạn khác trong nhóm đã ảnh hưởng tới quan điểm của em như

thế nào

+ Phải làm sao để thuyết phục người khác đồng ý với quan điểm của mình

Kết quả:

Trang 16

Các em học sinh sau khi trải nghiệm đã rất ngạc nhiên với các phương án của nhómkhác và cho rằng khâu khó nhất là làm sao thuyết phục được các bạn trong nhóm

Để giúp các em hiểu rõ hơn rằng luôn có những quan điểm khác nhau cần cân nhắc,giáo viên có thể đặt thêm tình huống bỏ phiếu

Lượt 1: phiếu phổ thông – mọi thành viên của lớp đều được bình chọn cho nhóm cóchiến lược phù hợp nhất với Mỹ la tinh

Lượt 2: phiếu đại cử tri – chỉ nhóm trưởng với tư cách là các nhà tư bản bầu chọn chonhau Phiếu đại cử tri được dánh trọng số bằng 3 lần giá trị đầu phiếu phổ thông

Kết quả thực nghiệm cho thấy, khi là đầu phiếu phổ thông, ứng cử viên có đường lốiủng hộ dân nghèo thắng cử Nhưng khi các đại cử tri bầu cho nhau, thì ứng cử viên có đườnglối có lợi cho tư bản giành chiến thắng Thậm chí, chính ứng cử viên có đường lối tranh cửủng hộ dân nghèo cũng bỏ phiếu cho ứng cử viên có đường lối có lợi cho tư bản Như vậy,ngay trong một đối tượng, quan điểm cũng có thể thay đổi rất khác nhau nếu đặt họ trong bốicảnh khác nhau Do trọng số phiếu đại cử tri lớn hơn, nên đã quyết định chiến thắng của ứng

cử viên đường lối ủng hộ tư bản

Thời điểm này cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kì vừa diễn ra, giáo viên sử dụng kết quảtrên để giải thích cho việc vì sao ứng viên Donal Trump thua đầu phiếu phổ thông mà lạithắng ở cử trước ứng viên Hilary Clinton

Như vậy, thông qua làm việc nhóm học sinh có thể hiểu được việc xem xét các quanđiểm khác nhau nghĩa là gì và vì sao lại quan trọng

Lưu ý để học sinh phát triển kĩ năng

Trang 17

- Thứ nhất: giáo viên tích cực đặt “câu hỏi mở” cho các vấn đề, kể cả các vấn đề không quenthuộc để kích thích học sinh suy nghĩ nhiều hơn Câu hỏi mở là câu hỏi không đơn thuần trảlời “có” hoặc “không”, “đúng” hoặc “sai”

- Thứ hai: dùng kĩ thuật động não – brain storming khi bắt đầu bài học để thu thập tất cả các ýtưởng, các quan điểm khác nhau Đây là cách rất dễ thực hiện khi bắt đầu các bài học, giúphọc sinh không ngại ngần nói ra ý nghĩ của mình

- Thứ ba: có những vùng giới hạn nên tránh để không gây xung đột như tôn giáo, chính trị,thu nhập … những vấn đề này chưa phù hợp để cân nhắc quan điểm khác nhau ở lứa tuổi họcsinh phổ thông

- Thứ tư: sử dụng hình thức hoạt động nhóm linh hoạt, với nhiều cách chia nhóm khác nhaunhư chia theo quan điểm, chia theo ngẫu nhiên chứ không chỉ chia theo chỗ ngồi

- Cuối cùng là trước khi yêu cầu có ý kiến chung của nhóm, giáo viên để thời gian hoạt độngcho cá nhân – cặp rồi cuối cùng mới là ý kiến của nhóm

b Dạy học sinh tìm kiếm và đánh giá minh chứng thông qua thực hành

Tức là dạy các em kĩ năng sẵn sàng xem xét mọi bằng chứng, kể cả khi bằng chứng ấymâu thuẫn với chính quan điểm của bản thân em đó Bằng chứng/ minh chứng là những dữliệu để dựa vào đó có thể đưa ra đánh giá hoặc quyết định Thu thập và đánh giá minh chứng

là yếu tố quan trọng của tư duy phản biện Có hai sai lầm thường xảy ra: thứ nhất là chúng tathường dựa vào cảm xúc/niềm tin/định kiến có sẵn, thứ hai là chúng ta có xu hướng chỉ tậphợp các bằng chứng phù hợp với quan điểm/nhận định ban đầu của mình mà bỏ qua các bằngchứng trái ngược, xung đột với quan điểm trước đây

Thu thập và đánh giá minh chứng là gì?

Là sẵn sàng tìm kiếm, thu thập mọi bằng chứng liên quan đến vấn đề đang xemxét, kể cả các bằng chứng liên quan trái ngược với niềm tin ban đầu Sau khi thuthập, kiểm chứng và tìm ra những bằng chứng tốt để đưa ra nhận định

Hướng dẫn học sinh thu thập đánh giá minh chứng như thế nào?

- Thứ nhất: nắm rõ nguyên tắc chỉ chấp nhận các quan điểm dựa trên bằng chứng:tức là không bao giờ được chấp nhận/thừa nhận ngay mọi quan điểm mà không xemxét xem quan điểm đó được đưa ra dựa trên cơ sở nào

- Thứ hai: đánh giá tính pháp lý hay nguồn gốc của các bằng chứng của một vấn đề:

ví dụ số liệu về đàn gấu trong tự nhiện được đưa ra ra bởi Hiệp hội các vườn thú vàHiệp hội bảo vệ động vật hoang dã – số liệu nào có tính pháp lý cao hơn?

- Thứ ba: bằng chứng cần thể hiện được thời điểm, hiện tượng, sự kiện và nguồnliên hệ kiểm chứng

Ví dụ về hướng dẫn học sinh thu thập và đánh giá minh chứng

Hoạt động: Bài “Một số vấn đề mang tính toàn cầu”

Trang 18

Bối cảnh: Cho học sinh xem đoạn đầu của clip “Sự thật về dân số” – diễn giả

Hans Rosling Đoạn đầu của clip được dẫn: Chúng ta đang sống trong một thếgiới không ngừng biến đổi Người dân từ khắp mọi nơi kéo về đô thi lấp đầy cáctòa nhà chọc trời và cả những khu ô chuột Khủng hoảng nhiên liệu và thức ăndiễn ra mọi nơi Biến đổi khí hậu toàn cầu tiếp diễn với những biến đổi khôngthể lường trước Trong bối cảnh đó, dân số thế giới không ngừng tăng lên.Chúng ta có nên lo lắng, chúng ta có nên sợ hãi về điều này?”

Yêu cầu:

- Viết ra cảm nhận chung của em về vấn đề dân số

- Tìm ít nhất ba bằng chứng củng cố cho niềm tin trên của em

- Xem phần còn lại của clip ghi lại quan điểm của Hans Rosling về vấn đề dânsố

- Ghi lại ít nhất 3 bằng chứng chứng minh Hans Rosling dùng để chứng minhcho lập luận của ông

Kết quả:

Sách giáo khoa cung cấp số liệu các nước đang phát triển chiếm tới 80% dân sốthế giới và 95% số dân gia tăng hàng năm của thế giới Điều này dẫn tới nỗi lolắng cho học sinh, bởi sự gia tăng dân số ở nước nghèo đồng thời với gia tăngbệnh tật, thất nghiệp, môi trường bị hủy hoại

Hans Rosling vốn là nhà khoa học ở bộ môn thống kê, ông sở hữu chuỗi số liệuthống kê trên toàn thế giới trong khoảng thời gian dài nhờ liên kết được với tất

cả các kho dữ liệu cơ bản uy tín Tất cả các số liệu của ông được hình tượng hóa

Vì vậy, số liệu của ông đáng tin cậy

Quan điểm của ông là Không nên lo sợ về vấn đề gia tăng dân số Bởi thực chất,vấn đề gia tăng dân số và cả chất lượng dân số của các quốc gia phát triển đãđược cải thiện rất nhiều Thậm chí là tiến bộ hơn nếu so sánh với các quốc giaphát triển ở cùng trình độ kinh tế trong quá khứ

Kết quả này giúp ích rất nhiều khi muốn chứng minh tầm quan trọng của việcthu thập và đánh giá các minh chứng cho mỗi vấn đế/ niềm tin

Trang 19

Chỉ thông qua con đường thực hành nhiều lần, bắt đầu từ niềm tin/quan niệm cánhân  tìm kiếm minh chứng  đánh giá minh chứng học sinh sẽ quen với việckhông vội vàng đưa ra nhận định trên cảm xúc và loại bỏ các bằng chứng tráingược với niềm tin.

Lưu ý khi hướng dẫn học sinh thu thập và đánh giá minh chứng

- Thứ nhất: Nên bắt đầu các vấn đề bằng cách yêu cầu các em viết ra nhận định

cá nhân, và đưa ra bằng chứng cho nhận định đó

- Thứ hai: Yêu cầu học sinh thảo luận quan điểm của mình với bạn bè và đưa racác dẫn chứng và nguồn của các bằng chứng

- Thứ ba: Phản hồi của giáo viên rất quan trọng:

Phản hồi không hiệu quả

- Phản hồi đúng hoặc sai làm triệt tiêu sựtiếp tục suy nghĩ của học sinh

- Phản hồi tập trung vào thái độ học sinh: côthấy em rất chăm chỉ

Phản hồi tốt

- Tập trung vào nhiệm vụ của học sinh: VD:

cách thức để các em kiểm tra minh chứngcủa vấn đề là trả lời 3 câu hỏi: ai viết bàinày, nhằm mục đích gì và dẫn chứng của họ

c Dạy học sinh giải quyết các vấn đề không quen thuộc thông qua làm dự án

Giải quyết các vấn đề không quen thuộc là gì?

Là giải quyết các vấn đề không quen thuộc, không được xử lý thường xuyênhoặc chưa có phương hướng giải quyết

Giải quyết các vấn đề không quen thuộc có ý nghĩa rất quan trọng trong pháttriển tư duy phản biện và giải quyết vấn đề vì sẽ cho phép học sinh tự địnhhướng và suy nghĩ theo hướng mới lạ hơn

Bài học thường cung cấp các nguyên tắc, cách làm sẵn có, những dự án học tậpthì không Các dự án luôn có bối cảnh thực tế và đòi hỏi tương tác nhiều hơn nênxảy ra nhiều vấn đề ngoài sách vở hơn Do đó mà các vấn đề không quen thuộcvới các em sẽ tăng lên, nhờ đó rèn luyện việc thường xuyên giải quyết chúng.Ngoài ra, các dự án luôn yêu cầu có đầu ra của sản phẩm nên việc giải quyết cácvấn đề có tính kế thừa trong các giai đoạn khác nhau của dự án hướng tới mụctiêu cuối cùng sẽ thúc đẩy học sinh giải quyết liên tiếp các vấn đề một cách cóđịnh hướng

Hướng dẫn học sinh giải quyết các vấn đề không quen thuộc như thế nào?

- Yêu cầu học sinh nhớ lại các vấn đề tương tự

- Xác định thông tin nào có sẵn, đâu là điểm gây khó khăn

- Yêu cầu học sinh trình bày cách giải quyết

- Sau đó, thảo luận với bạn cùng nhóm, và giải thích tại sao có những sự khácbiệt về phương án giải quyết

Ví dụ về hướng dẫn học sinh giải quyết các vấn đề không quen thuộc

Trang 20

Hoạt động: Trong một dự án trồng nấm sạch năng suất cao, giáo viên thi đua

giữa các nhóm HS khả năng trồng nấm từ số bịch nấm giống nhau được phát

Yêu cầu: Các vấn đề không thường lệ nảy sinh trong làm dự án, giáo viên có thể

đặt thành các câu hỏi yêu cầu học sinh tìm phương án giải quyết:

Câu hỏi thứ 1: dựa trên tiêu chí nào để chấm đội thắng cuộc? Số lượng nấm thuđược toàn đợt hay Thu được nhiều nấm nhất trong thời gian sớm nhất?

Câu hỏi thứ 2: vậy khi thu được nấm thì cách bảo quản như thế nào?

Câu hỏi 3: nếu thu được nhiều nấm hơn nhu cầu gia đình thì kế hoạch thươngmại hóa sản phẩm đó như thế nào?

Câu hỏi 4: khi không bán hết và đã không thể bảo quản thêm thì chế biến nấmbằng những cách nào?

Ý nghĩa: Câu hỏi được đặt ra khi các em đã giải quyết vấn đề trước, khiến học

sinh liên tục được đưa vào kiến thức mới nhưng nằm trong hệ thống nên khôngcảm thấy quá áp lực

Lưu ý khi hướng dẫn học sinh giải quyết các vấn đề không quen thuộc

- Thứ nhất: Xác định rõ vấn đề nào là vấn đề quen thuộc và vấn đề nào là vấn đềkhông quen thuộc với học sinh Trong đó, vấn đề quen thuộc là vấn đề các em đãtừng được học, có quy trình để nhận biết/giải quyết Vấn đề không quen thuộc làvấn đề “có yếu tố bất ngờ, không có sẵn hướng tiếp cận đã được luyện tập sẵnhoặc một cách giải tường minh, hướng dẫn làm bài hoặc ví dụ mẫu”

- Thứ hai: Bao giờ cũng dẫn dắt học sinh đến vấn đề không quen thuộc từ vấn đềquen thuộc

- Thứ ba: Cùng một vấn đề có thể là quen thuộc với học sinh này nhưng lạikhông quen thuộc với học sinh khác

d Dạy học sinh tìm kiếm cấu trúc chuyên sâu thông qua dạy học liên môn

Tìm kiếm cấu trúc chuyên sâu là gì?

Trang 21

Là cố gắng tìm ra bản chất, khái quát nên cách làm, công thức, quy tắc chonhững hiện tượng khác nhau, mà không cần phải ghi nhớ quá nhiều.

Kiến thức liên môn hoặc nội môn có ý nghĩa lớn khi xâu chuỗi các hiện tượnggiống nhau để học sinh có cơ hội so sánh và tìm bản chất hiện tượng

Hướng dẫn học sinh tìm kiếm cấu trúc chuyên sâu như thế nào?

- Giáo viên không nên cung cấp ngay kiến thức bề sâu, mà nên dẫn dắt nhiều

hiện tượng để học sinh tự khái quát nên kiến thức bề sâu đó

- Yêu cầu học sinh viết sơ đồ biểu hiện của hiện tượng, tìm hiểu những điểm

giống nhau giữa những hiện tượng đó từ đó đưa ra giải pháp chung

- Sau đó, giáo viên đưa ra hiện tượng tương tự yêu cầu học sinh kiểm chứng với

giải pháp vừa đưa ra của mình để xác định mức độ phù hợp

Ví dụ về hướng dẫn học sinh tìm kiếm cấu trúc chuyên sâu

VD1: Hoạt động trong bài “Sóng, thủy triều, dòng biển” – lớp 10,

Tìm hiểu nội dung khái niệm: “Sóng là sự dao động của nước biển theo chiềuthẳng đứng”

Yêu cầu: tái hiện sóng trong tự nhiên với nhóm từ 6 người trở lên

Kết quả:

Trong hình ảnh thực nghiệm dưới đây đã cho thấy ba nhóm học sinh cố gắng mô

phỏng sự chuyển động của sóng: có nhóm nắm tay nhau và uốn lượn lên xuống

cánh tay, có nhóm phân công các bạn đứng lên ngồi xuống, chỉ duy nhất mộtnhóm tạo hình tương tự như múa nón với đạo cụ là các quyển vở

Ý nghĩa:

Học sinh đã thấy nhiều hiện tượng trong thực tế như cánh đồng lúa dập dờn,sóng ao, sóng biển, múa nón nhưng khi yêu cầu tái hiện lại khí thực hiện vì chưatìm ra bản chất là mỗi phân tử nước chỉ dao động tại chỗ Thực hiện đúng thànhcông mô phỏng sóng tức là các em đã phát hiện ra bản chất của sóng

VD2: Hoạt động tìm hiểu các đới khí hậu trên thế giới

Cách dạy truyền thống: Địa lý là môn học về quy luật phân bố của các hiện

tượng tự nhiên và kinh tế xã hội Sẽ rất dễ dàng chỉ cho HS rằng vùng vĩ độ TB

Trang 22

từ 40 – 60 có khí hậu ôn hòa, nguyên nhân chính là do, lượng bức xạ Mặt Trờigiảm dần từ xích đạo về hai cực, vùng này nhận được lượng nhiệt và ánh sángcao hơn vùng cực nhưng nhỏ hơn vùng vĩ độ thấp HS có thể nhớ được điều đócho tới bài kiểm tra.

Cách dạy mới: cung cấp hiện tượng, yêu cầu khái quát bản chất

Có thể mô phỏng cách tư duy của học sinh là hỏi HS Anh, Pháp, Italia, ThượngHải - Trung Quốc, New York của Mĩ… có khí hậu như thế nào Rất nhiều em sẽtrả lời được các câu hỏi riêng lẻ trên nhờ tự đọc trên mạng, qua du lịch, hoặc bạn

bè du học

Từ đó, chỉ cho các em thấy vị trí có thể khác nhau, ở bán cầu đông hoặc tâynhưng nếu cùng nằm trong khoảng vĩ độ nhất định, khí hậu sẽ tươn tự nhau docùng nhận lượng bức xạ Như vậy, sau khi rời trường học, HS khi biết một quốcgia nằm ở khoảng vĩ độ nào có có thể dự đoán đới khí hậu mà nước đó nằmtrong và hiểu được nguyên nhân bản chất vì sao

Lưu ý khi hướng dẫn học sinh tìm kiếm cấu trúc chuyên sâu

- Thứ nhất: Giáo viên chỉ nên tập hợp các hiện tượng bề mặt để học sinh pháthiện ra kiến thức bề sâu

- Thứ hai: Ví dụ về các hiện tượng bề mặt cần phong phú, quen thuộc với họcsinh

- Thứ ba: giáo viên nên trao đổi với đồng nghiệp cùng môn và khác môn để đảmbảo có nhiều ví dụ tốt và đi vào bản chất của hiện tượng

2.3 Giáo án và các ví dụ minh họa

Trang 23

Trong phần dưới đây, chúng tôi minh họa một giáo án mẫu được thực hiện theo môhình giáo dục STEM nghĩa là làm việc dự án, theo nhóm, chủ đề liên môn và học sinh chủđộng thực hành theo câu hỏi hướng dẫn Vai trò của giáo viên khi thực hiện các bài giảng nàytrên lớp chỉ là hỗ trợ khi học sinh gặp khó khăn, các nhóm hoàn toàn chủ động tiến độ thờigian trong khoảng cho phép Tuy nhiên, phần chuẩn bị tài liệu của giáo viên cần rất công phu,

tỉ mỉ để đảm bảo học sinh được làm trong việc trong những bối cảnh có vấn đề để rèn luyện

tư duy phản biện cho các em

Ngoài ra, chúng tôi cũng cung cấp một số ví dụ trong các tiết học hướng đến việc pháttriển tư duy phản biện cho học sinh để thầy cô tiện tham khảo khi chưa có điều kiện làm dựán

2.3.1 Giáo án liên môn Địa – Toán – Tin chủ đề “Môi trường và sự phát triển bền vững”

Khi dạy học về nguồn nước, môi trường và sự phát triển bền vững học sinh được học

về sự suy giảm nguồn nước và cách giải quyết Thay vì học các số liệu về trữ lượng nước suygiảm trên toàn thế giới và đề xuất biện pháp giải quyết như thông thường Các em được đưatình huống là Hồ Aral – một trong những hồ nước ngọt lớn ở Trung Á, có hai con sông chảyvào Dưới thời Liên Xô cũ người ta đắp đập ngăn sông lấy nước tưới cho bông và xanh hóahoang mạc xung quanh hồ Do đó, dân cư kéo đến trồng bông, nuôi cừu và lập nên đô thị Vìvậy, nước trong hồ bị giảm sút do nguồn nước bổ sung từ hai con sông bị thiếu hụt, trong khinhu cầu dùng nước của đô thị, cũng như ngành trồng bông liên tục tăng lên Hồ Aral đứngtrước thách thức giảm nguồn tiêu thụ nước để cứu hồ hoặc tiếp tục lấy nước hồ để đảm bảonhu cầu của sản xuất và đời sống

Bài toán STEM được đặt ra được kết hợp giữa hai môn Tin học và Địa lý HS cần giải quyếttình huống nông dân nên ngừng trồng bông hay người đánh cá ở lòng hồ Aral nên bỏ nghề.Việc tìm ra câu trả lời chính là quá trình tập dượt nghiên cứu và cần sử dụng tư duy phản biệnrất nhiều

KẾ HOẠCH BÀI GIẢNG

I Hình thức tổ chức dạy học:

Học sinh làm việc như đội nghiên cứu về

Địa lý của trung tâm Nasa sử dụng ảnh vệ

tinh để đo đạc sự suy giảm diện tích của

hồ Aral Các em phân tích các biểu đồ và

bảng số liệu về nguyên nhân giảm mực

nước trong hồ và những ảnh hưởng của nó

đến sinh hoạt, sản xuất và bản thân mỗi

người dân để đưa ra những khuyến nghị

nhằm cải thiện nguồn tài nguyên hồ cho

mục đích sử dụng trong tương lai

II Chuẩn bị:

KIẾN THỨC CẦN ĐẠT

1 Tư duy không gian về địa điểm và vùng miền:

- Mô tả và giải thích quá trình tự nhiên

hình thành nên các địa điểm

- Giải thích cộng đồng, văn hóa và quátrình kinh tế đã hình thành nên đặc điểmđịa phương như thế nào

- Đánh giá xem hoạt động của con ngườitác động lên tự nhiên đã ảnh hưởng đếnđặc điểm địa phương như thế nào

2 Tư duy về hệ thống tự nhiên:

Trang 24

Tài liệu 1: Câu hỏi điều tra cho các nhóm

Tài liệu 2: Hướng dẫn điền phiếu điều tra

của nhóm

Tài liệu 3: Vị trí của hồ Aral

Tài liệu 4: Mô phỏng Diện tích hồ Aral qua

các năm

Tài liệu 5: Chụp cận cảnh phần phía đông

hồ

Tài liệu 6: Lưới kẻ ô vuông

Tài liệu 7: Ảnh vệ tinh về hồ Aral từ 2000

– 2016

III Thời gian

3 tiết

- Giải thích quá trình hình thành nên từng

bộ phận vỏ Trái Đất, phản ứng dây chuyền

3 Môi trường và con người

- Hoạt động của con người đã làm thay đổi

tự nhiên như thế nào+ Đánh giá sự tác động của các biện pháptăng năng suất lao động của con ngườitrong việc thay đổi đặc điểm của môitrường tự nhiên

+ Xây dựng các giải pháp có thể thực hiện

để đối phó với sự thay đổi của môi trường

tự nhiên dưới tác động của con người

II KĨ NĂNG RÈN LUYỆN

- Tư duy phản biện và giải quyết vấn đề

- Làm việc nhóm

III Tiến trình dạy học

Bắt đầu khởi động: đặt học sinh vào bối cảnh điều tra

1 Giới thiệu nhiệm vụ bằng một câu đố Chiếu slide về lòng hồ Aral với những con

thuyền bị bỏ hoang nhưng lưu ý là không chú thích Hỏi học sinh xem các em nghĩ điều

gì đang xảy ra ở đây Tạo ra không gian cho trao đổi mở và các ý tưởng trả lời thú vịnhưng không cung cấp câu trả lời ngay Có thể giới thiệu vắn tắt với học sinh rằng đây làmột hồ lớn thứ 4 thế giới nằm ở Trung Á và các em sẽ sẽ nghiên cứu về hồ này

Phát triển tư duy qua các bước hướng dẫn trả lời câu hỏi nghiên cứu:

2 Phát tờ Phiếu điều tra và hướng dẫn cho mỗi nhóm (nhóm chỉ nên có từ 3 – 5 học sinh)

3 Chỉ cho học sinh biết rằng câu hỏi là phần gạch chân trong mỗi tờ hướng dẫn, các emđọc xong phần hướng dẫn thì trả lời câu hỏi đó vào Phiếu điều tra Chú ý giới hạn thờigian cho mỗi nhóm câu hỏi

4 Yêu cầu học sinh đọc phần bối cảnh và mục tiêu nghiên cứu Sau đó, đặt câu hỏi đểchắc chắn rằng học sinh đã hiểu đúng bối cảnh nghiên cứu VD: phân biệt được hồ nướcngọt và nước mặn, hiểu được hồ cũng là một nguồn tài nguyên, con người sử dụng nguồntài nguyên đó như thế nào, sự thay đổi nào sẽ ảnh hưởng tới việc sử dụng hồ như một loạitài nguyên hoặc con người có thể thay đổi hồ theo hướng tốt lên hoặc xấu đi như thế nào?

5 Phân vai cho học sinh đóng vai trò là các nhà nghiên cứu địa lý của trung tâm NASAđược yêu cầu tìm hiều về sự thay đổi của hồ Aral Nhấn mạnh rằng các em được yêu cầuđưa ra khuyến cáo/giải pháp nhằm cải thiện nguồn tài nguyên của hồ Aral Do đó, các emcần làm việc cẩn thận với tất cả các tài liệu được phát

6 Để thời gian cho các nhóm làm việc, giáo viên đi xung quanh giúp đỡ nếu có nhómnào có vấn đề với tài liệu được phát

Tổng kết phần điều tra

7 Yêu cầu các đội viết kết quả thảo luận lên phiếu điều tra, đặc biệt là câu hỏi số 15

Trang 25

8 Đưa ra tình huống để các em tranh luận: Ngành trồng bông đem lại thu nhập lớn nhấtcho dân cư các nước vùng hồ Aral, tuy nhiên ngành này sử dụng rất nhiều nước từ hồ HồAral cạn thì ngành ngư nghiệp cũng biến mất

Có ý kiến cho rằng nên dừng phát triển ngành trồng bông, lại có ý kiến đằng nào hồ cũngcạn thì bỏ ngành ngư nghiệp Giữa ngành trồng bông và đánh cá, buộc phải dừng mộttrong hai ngành lại thì em chọn dừng phát triển ngành nào?

Trang 26

CÁC TÀI LIỆU PHÁT CHO HỌC SINH: mỗi nhóm được phát một bộ gồm 7 loại tài liệu

1 Nêu tọa độ điểm trung tâm của vị trí hồ Aral hiện nay?

2 Tên các quốc gia xung quanh hồ?

3 Ước lượng diện tích mặt nước hồ Aral năm 2000?

4 Ước lượng diện tích mặt nước hồ Aral năm 2016?

7 Tên hai con sông chảy vào hồ Aral

_

8 Nêu ra các giả thuyết của em về nguyên nhân tự nhiên dẫn đến việc co lại của hồ Aral.

9 Nêu ra các giả thuyết về nguyên nhân kinh tế - xã hội dẫn đến việc co lại của hồ Aral.

10.Điền vào chỗ trống dưới đây (với từ tăng hoặc giảm ) để mô tả điều gì đang xảy ra đối

với hồ Aral

Bảng số 1 cho thấy, hồ Aral đang _ về mực nước, lượng mưa đang , sự bốc hơi đang _, lượng nước sông đổ vào hồ hằng năm đang _ và khối lượng nước của hồ đang

11.Quá trình tự nhiên nào có thể lý giải cho sự thay đổi về lượng mưa và sự bốc hơi thể hiện trong bảng 1?

Trang 27

12.Trong khoảng để trống dưới đây, dựa vào bảng 2, em hãy vẽ biểu đồ thể hiện mối quan

hệ giữa thủy lợi của vùng hồ Aral và sự gia tăng dân số từ năm 2000 – 2010 Mô tả ngắn gọn mỗi quan hệ của hai đối tượng trên biểu đồ đã vẽ của em

13.Sự co lại của hồ Ara đã ảnh hưởng như thế nào đến quy mô dân số quanh vùng hồ? 14.Hoạt động nào của con người được em phát hiện ra từ ảnh vệ tinh Vùng phía Đông hồAral?

15.Báo cáo ngắn gọn điều gì đang xảy ra ở hồ Aral Cho biết hậu quả mà người dân phảigánh chịu do sự giảm sút diện tích hồ Aral Em dự đoán gì về những điều sẽ xảy ratrong tương lai về cả tự nhiên và kinh tế - xã hội Cuối cùng, hãy đưa một số gợi ý chochính phủ về làm thế nào để giảm về đề môi trường ở vùng này và làm sao để quản línguồn nước và phát triển bền vững ở vùng hồ Aral

Trang 28

Tài liệu 2: Bản hướng dẫn điều tra phát cho học sinh

HƯỚNG DẪN ĐIỀU TRA VÀI THÔNG TIN

Hồ trở nên mặn hơn khi chúng hình thành trong nội địa và vùng khí hậu khô hanh Nước cóchứa muối, và khi nước bốc hơi, tỉ lệ muối trong hồ sẽ ngày càng cao Nếu không được bổsung thêm nguồn nước ngọt, những hồ như trên sẽ trở nên nhỏ hơn và mặn hơn Những hồmuối này sẽ dễ gây ra các vấn đề môi trường hơn các hồ nước ngọt Hồ Aral nằm ở trung Á,nơi có khí hậu khô hạn, là một ví dụ về một hồ muối đang thu hẹp diện tích Đây là thảm họasinh thái của thế kỉ XX Năm 1973, đây là hồ một trong bốn hồ lớn nhất thế giới, nhưng đếnnhững năm 90 nó mất một diện tích nước mặt lớn, chỉ còn là hồ lớn thứ 6 của thế giới Trongnghiên cứu này, các em đóng vai như những nhà Địa lý của đội nghiên cứu thuộc NASA, cốgắng tìm ra điều gì đang diễn ra với hồ Aral, và vì sao sự thay đổi này đe dọa đến toàn bộcuộc sống của hàng triệu người

MỤC TIÊU

Trong nghiên cứu này, em sẽ:

1 Chỉ ra vị trí của Hồ Aral và mô tả đặc điểm tự nhiên của nó

2 Sử dụng ảnh vệ tinh để nhận dạng hồ và đo đạc sự thay đổi diện tích hồ

3 Giải thích hoạt động của con người đã thay đổi đặc điểm tự nhiên của hồ và cảnh quanxung quanh nó như thế nào

4 Thảo luận về hậu quả của hoạt động con người đến hồ và sự thay đổi của hồ ảnh hưởngngược lại đời sống con người như thế nào

5 Khuyến nghị những hành động để giảm tác động xấu lâu dài tới hồ Aral và dân cư ởđây – những người mà sử dụng hồ như một loại tài nguyên

Ngày đăng: 14/11/2018, 15:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w