MỘT số CÁCH tạo HỨNG THÚ CHO học SINH TRONG TIẾT LUYỆN nói PHÂN môn tập làm văn bậc THCS MỘT số CÁCH tạo HỨNG THÚ CHO học SINH TRONG TIẾT LUYỆN nói PHÂN môn tập làm văn bậc THCS MỘT số CÁCH tạo HỨNG THÚ CHO học SINH TRONG TIẾT LUYỆN nói PHÂN môn tập làm văn bậc THCS tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học văn tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học văntạo hứng thú cho học sinh trong giờ học văn tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học văn tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học văn
Trang 1“MỘT SỐ CÁCH TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH TRONG TIẾT
LUYỆN NÓI PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN BẬC THCS”
MỤC LỤCA-PHẦN MỞ ĐẦU……… ….……trang4
I Lí do chọn đề tài trang 4
II.Mục đích của đề tài ………… ……… trang 5 III.Phạm vi nghiên cứu……… trang 5
IV Đối tượng nghiên cứu……….trang 5
V Phương pháp tiến hành………trang 5 B.PHẦN NỘI DUNG………… ……… trang 6 I/ Thực trạng của vấn đề……….… trang 6 II// Mô tả giải pháp của đề tài: …trang 7 III/ Minh họa những điểm mới, điểm sáng tạo của giải pháp…… trang 7 IV/ Một số cách dạy gây hứng thú cho HS trong tiết luyện nói … trang 9 C- KẾT LUẬN……….trang 30
I/Kinh nghiệm áp dụng……….trang 30 II/Bài học kinh nghiệm……….trang 30 III/ Đề xuất, kiến nghị………trang 30
Trang 2Đề tài:
MỘT SỐ CÁCH TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH TRONG TIẾT LUYỆN
NÓI PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN BẬC THCS
A PHẦN MỞ ĐẦU I/ Lí do chọn đề tài
Đất nước đang trên đà đổi mới Cả dân tộc bừng bừng khí thế vững bước trêncon đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa hướng tới mục tiêu cao đẹp “Dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Một Việt Nam quyết tâm chuyển mình!Một Việt Nam quyết chí chạy đua cùng thế giới trong thời đại kinh tế, kỹ thuật pháttriển ào ào như vũ bão
Để hội nhập thành công, Việt Nam phải có nguồn nhân lực hiện đại – hiện đại từ
tư duy, ý tưởng đến cách nói năng, hành xử… Đối với con người hiện đại, kỹ năng nóiphải thật sự là một trong những kĩ năng rất quan trọng trong giao tiếp hàng ngày cũngnhư khi thực thi công việc
Và đương nhiên, thay đổi tiết luyện nói trong chương trình Ngữ Văn THCS sẽgóp phần trong quá trình đào tạo nên những thế hệ học sinh khi ra trường không chỉbiết suy nghĩ, sáng tạo ý tưởng mà còn phải biết nói ra mạch lạc những điều mình nghĩ,biết truyền đạt chính xác thông tin, biết thuyết phục hiệu quả … để năng động nắm bắtmọi cơ hội thành công cho bản thân, cho đất nước Muốn vậy trước tiên phải tạo chohọc sinh tâm lí thích thú, hứng khởi trong giờ học này thì mới đạt được những mụcđích đề ra
Trong mục tiêu dạy học môn Ngữ văn THCS, về kĩ năng, chương trình mônNgữ văn nhấn mạnh trọng tâm của việc rèn luyện kĩ năng Ngữ văn cho HS là làm cho
HS có kĩ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt khá thành thạo theo các kiểu văn bản và
có kĩ năng sơ giản về phân tích tác phẩm văn học, bước đầu có năng lực cảm nhận vàbình giá văn học Chính vì thế, SGK Ngữ văn THCS đã chú trọng hơn tới việc hìnhthành và phát triển kĩ năng nói Đây là một trong những điểm mới về quan điểm dạyhọc của môn học Cụ thể là bố trí một số giờ luyện nói độc lập theo từng kiểu văn bảncần tạo lập
Thế nhưng hiện nay là học sinh không hứng thú trong tiết luyện nói bởi nó quá
Trang 3đơn điệu, nhàm chán và cũng không có gì hấp dẫn, mới mẻ và cả giáo viên cũng ngạidạy những tiết học này bởi không áp dụng được các kỹ thuật dạy học mới và cũngkhông sử dụng công nghệ thông tin được… Bản thân là giáo viên dạy văn mỗi lúc tớitiết luyện nói tôi rất băn khoăn, trăn trở làm thế nào để tạo được hứng thú cho học sinhtrong tiết học này và rèn cho học sinh được một số kĩ năng trong giao tiếp Sau mộtthời gian nghiên cứu và áp dụng những đổi mới tiết luyện nói và thấy được tác dụngcủa nó đối với HS nên tôi quyết định đúc kết thành kinh nghiệm và chia sẻ cùng với
đồng nghiệp để phần nào bớt đi tâm lí nặng nề khi dạy tiết luyện nói
II/ Mục đích của đề tài
Tôi đã mạnh dạn áp dụng một số cách dạy khác nhằm đổi mới tiết luyện nói để tạo
hứng thú cho học sinh trong giờ học và rèn các kĩ năng giao tiếp cho học sinh
III/ Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đầu tiên, tôi đã nghiên cứu và giới thiệu đề tài với phạm vi nhỏ hẹp ở lớp 8nhưng rồi xét thấy ở các khối lớp đều có tiết luyện nói và đặt biệt khối lớp 6 tiết luyệnnói nhiều nhất ( 5 tiết) nên tôi đã tiến hành với phạm vi rộng hơn ở các khối lớp6,7,8,9
IV Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh đại trà từ lớp 6,7,8,9 trường THCS Đại Tự
- Tư liệu cho giáo viên
V/Phương pháp tiến hành:
- Nghiên cứu thực tiễn từ các đồng nghiệp ở trường THCS Đại Tự
- Đúc kết từ những trải nghiệm bản thân qua quá trình giảng dạy
- Dùng phương pháp hệ thống
- Dùng phương pháp đối sánh giữa thực tiễn dạy- học với lý luận dạy-học
- Dùng phương pháp phân tích- tổng hợp
Trang 4B.PHẦN NỘI DUNG
I/ Thực trạng của vấn đề:
a Dân gian đã từng nói rằng: “ Học ăn, học nói, học gói, học mở.” thế nhưngtâm lí học sinh lại sợ và chán học giờ luyện nói Còn tâm lí chung của giáo viên là ngạidạy giờ luyện nói và đặt biệt không bao giờ chọn giờ luyện nói để thao giảng hay dựgiờ Bởi vì khi dạy gặp nhiều khó khăn như: HS chưa chủ động và tự tin khi nói trướcđông người Lớp học quá đông, thời gian một tiết học quá ngắn, khó tạo điều kiện chotất cả các HS đều được nói SGV chưa có định hướng giúp GV chú trọng rèn luyện vàphát triển kĩ năng nói qua từng tiết luyện nói
b Và như thế nên phần đông giáo viên Ngữ văn và HS THCS vẫn thực hiện tiếtluyện nói như sau :
-GV dặn HS về nhà tự chuẩn bị bài theo gợi ý ở SGK
- Đến tiết học trên lớp, từng HS được GV mời lên trình bày kĩ năng nói trước tậpthể ( nhóm/ lớp )
c Hạn chế:
- Chưa tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh
- Chưa tạo được cho HS hoàn cảnh giao tiếp thuận lợi trong giờ luyện nói như:không khí hào hứng của lớp học, thái độ dễ hợp tác của những người cùng tham giagiao tiếp, sự động viên khuyến khích kịp thời của GV và bạn bè…
- Chưa tạo cho HS nhu cầu muốn nói, muốn được bộc lộ …
- Chưa thể hiện được vai trò quan trọng của giáo viên trong việc hướng dẫn, tổchức tiết học …
- Làm giảm giá trị và sức hấp dẫn của môn học
II/ Mô tả giải pháp của đề tài:
Xuất phất từ thực trạng trên bản thân tôi đã đưa ra những giải pháp:
Môn Ngữ văn có những đặc thù riêng, dạy văn vừa dạy người vừa truyền tải vàothế hệ trẻ tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước, dạy cho các em những kĩnăng giao tiếp, kĩ năng sống Đặc biệt dạy cho các em kĩ năng : nghe- nói- đọc- viết.Đồng thời giải tỏa được tâm lí nhàm chán trong việc chuẩn bị, hoạt động của giáo viên
Trang 5mỗi khi tới tiết luyện nói Cách đổi mới này đòi hỏi giáo viên và học sinh phải có sựchuẩn bị bài thật kĩ lưỡng trước khi thực hiện tiết học
Có thể nói việc thay đổi cách dạy trong tiết luyện nói có những điểm mới, điểmsáng tạo riêng:
- Phát huy tối đa tính tích cực của chủ thể HS
- Phát huy thế mạnh của hoạt động nhóm/tổ
- Ưu tiên hàng đầu cho việc luyện kỹ năng nói nhưng không tách rời với các kỹnăng khác trong bộ tứ NGHE-NÓI-ĐỌC-VIẾT
- Chú trọng quan tâm cả ba đối tượng học sinh (giỏi, khá – trung bình – yếu)
- Tạo được không khí tự nhiên, thoải mái, nhẹ nhàng và lựa chọn nội dung hấpdẫn để lôi cuốn các em vào hoạt động luyện nói
- Thể hiện thái độ khích lệ, động viên, nâng đỡ để tránh cho em cảm giác tự ti,xấu hổ
- Đầu tư thật kỹ cho khâu chuẩn bị ở nhà của HS
Như vậy, việc đổi mới cách dạy trong tiết luyện nói và đặc biệt trong việc đổi mớicách tổ chức dạy học của giáo viên và học sinh đã kích thích được hứng thú học tập,đồng thời góp phần bồi dưỡng năng lực tự học, rèn kỹ năng giao tiếp cho học sinhtrung học cơ sở phù hợp với các mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học: dạy học theohướng chủ động, tích cực, chống lại thói quen học tập thụ động
III/ Minh họa cụ thể những điểm mới, điểm sáng tạo của giải pháp:
1 Mục tiêu cụ thể của giải pháp :
Cần phải cụ thể hóa mục tiêu chung của tiết học sao cho phù hợp với đối tượnghọc sinh Bởi học sinh ở mỗi lớp, trường, vùng, miền lại có những đặc điểm riêng biệt
Không có loại sách vở nào hay bất cứ ai khác có thể làm thay cho giáo viênđứng lớp trong việc vạch ra mục tiêu cụ thể Chỉ có sự nhạy cảm, năng lực sư phạm,tinh thần trách nhiệm và tình yêu trẻ mới giúp chúng ta cụ thể hóa mục tiêu chung mộtcách sáng tạo, sát hợp
2 Lựa chọn nội dung trong tiết luyện nói :
- Cần lựa chọn nội dung luyện tập một cách linh hoạt, đạt hiệu quả.
-Vừa bám sát vào các bài tập ở SGK vừa vận dụng tình hình, đặc điểm cụ thể để
Trang 6có thể thay đổi, thêm bớt bài tập cho phù hợp.
3 Vai trò của giáo viên và học sinh trong tiết luyện nói :
- Học sinh:
Trong tiết luyện nói, người hoạt động chủ yếu là học sinh.Học sinh phải lànhững chủ nhân thực sự, chiếm lĩnh hầu hết các hoạt động trong tiết học Các em tựanhư những diễn viên hoàn toàn làm chủ sân khấu với những hình thức phong phú, đadạng : độc thoại, đối thoại, diễn trò, đóng vai
+ Quá lo sợ rằng học sinh không nói được, không trình bày được vấn đề trướctập thể nên làm thay, nói hộ hết cho học sinh; hoặc tiến hành tiết dạy một cách qua loa,chiếu lệ cho xong
Trong tiết luyện nói, giáo viên hoạt động rất ít để trao quyền ưu tiên cho họcsinh hoạt động với thời lượng tối đa có thể được; thậm chí hầu như giáo viên khônglàm gì cả Nhưng ở đây, không làm gì cả không có nghĩa là khoán trắng, phó mặc kiểunhư đã nói ở trên; mà giáo viên vẫn là người bao quát, chỉ đạo linh hoạt để đảm bảocho hoạt động của các em đúng hướng và đạt hiệu quả cao
4 Thực hiện khâu chuẩn bị trước khi tiến hành tiết luyện nói :
Khâu chuẩn bị trước khi luyện nói trên lớp có tầm quan trọng rất lớn tới việcquyết định thành công của tiết học, vì thế nên giáo viên cần định hướng cho các emtrong việc chuẩn bị thật cụ thể, rõ ràng cả nội dung và cách thức ( Chuẩn bị cái gì ?Chuẩn bị như thế nào, bằng cách nào ?)
Cũng cần phân công cụ thể cho các đối tượng học sinh, nhưng chủ yếu là chỉđạo thông qua đội ngũ tổ trưởng, nhóm trưởng, cán sự bộ môn
VI/- Một số cách dạy gây hứng thú cho học sinh trong tiết luyện nói:
1/ HÁI HOA TÌM Ý
Trang 7- Có thể dùng hình thức này đối với lớp dạy có nhiều HS yếu kém, chưa thànhthạo kĩ năng tạo lập kiểu văn bản đang học, chưa quen nói trước tập thể; lại ít có( haykhông có ) nhân tố tích cực ( HS khá, giỏi, lanh lợi, hoạt bát) làm nòng cốt.
-Hình thức này giáo viên có thể kết hợp với việc ứng dụng công nghệ thông tintạo ra sự mới lạ và hứng thú cho học sinh
* Cách thực hiện :
a- Chuẩn bị :
- Lựa chọn một số bài tập sao cho phù hợp với thời lượng và yêu cầu tiết học
- Thông báo bài tập đã chọn cho HS biết trước để chuẩn bị
-Định hướng cho HS bằng một số câu hỏi ( để giải quyết bài tập ) Những câuhỏi này được cung cấp từ trước tiết học để HS suy nghĩ, chuẩn bị lời
- Dàn ý phù hợp với bài tập
-Màn hình trình chiếu để cho học sinh chọn câu hỏi( hình thức trình chiếu mộtcây hoa với nhiều bông hoa, mỗi bông hoa là một câu hỏi, hoặc một đề bài
- HS lên hái hoa được bông hoa nào sẽ về chuẩn bị nói theo bông hoa đó
b- Trình tự tiến hành trong tiết học :
- Phân lớp học thành các nhóm (Tùy thuộc vào số lượng học sinh mỗi lớp màchia nhóm và số lượng thành viên của nhóm.)
- Lần lượt mời từng đối tượng HS trong các nhóm lên hái hoa và trình bày các ýtrước lớp theo hình thức tiếp sức ( để tạo không khí sôi nổi, kích thích sự mạnh dạn, tựtin… )
- Lớp và GV lần lượt nhận xét ( theo chiều hướng nhắc nhở nhưng vẫn khích lệ,nâng đỡ để tránh cho các em cảm giác xấu hổ, tự ti… )về việc trình bày đối với từngcâu hỏi của từng nhóm và cùng trao đổi để gắn hoa vào mô hình dàn ý
- GV nhận xét, giảng giải ngắn gọn về dàn ý và cách trình bày kiểu văn bản cầntạo lập
- Sau khi có dàn ý giáo viên cho học sinh khá, giỏi trình bày trước lớp cả bài( theo dàn ý ) để khắc sâu cách tạo lập kiểu văn bản đang học
- Nếu còn thời gian, tiếp tục tổ chức cho các em trình bày theo dàn ý trước nhóm( nói từng phần để tạo điều kiện cho nhiều HS được trình bày )
Trang 8Ví dụ: khi dạy tiết luyện nói: LUYỆN NÓI VĂN MIÊU TẢ ( Ngữ văn 6 )
GV kết hợp hai hình thức “ Hái hoa tìm ý và thi nói hay” :
Giáo viên thực hiện tiết luyện nói như sau:
1- Chuẩn bị :
- Lựa chọn nội dung :
+ Đưa BT 1/ SGK trang 71 vào phần kiểm tra đầu giờ
+ Chú trọng BT 2, BT 3 / SGK trang 71
- Phân công các tổ thực hiện đề bài
ĐỀ 1: Miêu tả hình ảnh thầy giáo Ha-men
-GV chuẩn bị những mảnh giấy lớn để HS ghi nội dung chi tiết của dàn ý
2-Trình tự thực hiện trong tiết học :
- GV nêu yêu cầu và cách thức
- GV hướng dẫn lớp vừa luyện nói trong tổ vừa trình bày dàn ý theo hình thức
- GV điều khiển cho đại diện các tổ thi trình bày trước lớp theo hình thức Thi
nói hay ( 15 phút ).
- GV nhận xét cả dàn ý và phần trình bày G VC Dtrước lớp của các tổ để tổngkết tiết học và giúp các em rút kinh nghiệm( 5 phút )
3- Kết quả tiết học:
- Tiết học vận dụng kết hợp hai hình thức : HÁI HOA TÌM Ý ; THI NÓI HAY.
- HS rất thích tham gia và tỏ ra rất khéo léo khi trình bày dàn ý trên bảng
- HS có thể tiếp sức cho nhau khi trình bày trong tổ cũng như khi thi nói trướclớp nên đã bình tĩnh, mạnh dạn hơn
- Đảm bảo được kiến thức, kỹ năng cần luyện trong thời gian cho phép
Trang 9-Đặt biệt học sinh rất hứng thú trong giờ học kể cả học sinh yếu.
+ Tranh ảnh, vật dụng phong phú, giàu ý nghĩa
+ Cách dẫn chương trình hấp dẫn, sáng tạo
- Có thể vận động HS cùng chuẩn bị như sưu tầm tranh ảnh, vật dụng, soạn thảocâu hỏi- đáp án…
- Có thể chuẩn bị vài phần quà nho nhỏ giúp trò chơi thêm hào hứng
- HS được thông báo giới hạn một số đề tài chính để nghiên cứu, suy nghĩ trước
b Trình tự thực hiện trong tiết học :
- Chia cuộc chơi thành 2-3 chặng Lượng câu hỏi, bài tập được sắp xếp vào từngchặng cho phù hợp
-Sau mỗi chặng, có nhận xét và đổi người tham gia chơi
-GV trực tiếp làm giám khảo và cho điểm theo một thang điểm đã được thốngnhất và công bố; cử HS làm thư ký theo dõi và tổng kết điểm ở từng chặng, cả đợt
- Cuối cùng GV tổng kết, củng cố phương pháp tạo lập văn bản
Khi đã thuần thục HS có thể “tự biên tự diễn” mà GV chỉ là người định hướng từ xachứ không cần tham gia trực tiếp vào quá trình hoạt động của HS
Ví dụ: khi dạy tiết luyện nói:
LUYỆN NÓI : NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐỌAN THƠ, BÀI THƠ ( Ngữ văn 9)
Tiết học này kết hợp hai hình thức: Trò chơi thông thái và thi nói hay
1- Chuẩn bị :
- Lựa chọn nội dung : Dựa vào BT ở SGK/112 ( Đề bài : Bếp lửa sưởi ấm một
đời - Bàn về bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt ) để cụ thể thành một số câu hỏi nhằm tổ
chức cho 4 tổ tham gia Cuộc thi :
CHÚNG EM BÌNH THƠ
-Yêu cầu các tổ chuẩn bị những câu hỏi sau để tham gia chương trình luyệnnói : + Trong buổi tham gia sinh hoạt câu lạc bộ : “Em yêu thơ” ở trường, em được
mời lên ngâm( đọc diễn cảm ) một bài thơ minh hoạ Vậy, em có chọn bài Bếp lửa của
Bằng Việt không ? Vì sao ?
+ Bác Hồ đã tặng cho phụ nữ Việt Nam tám chữ vàng : ANH HÙNG, BẤT
KHUẤT, TRUNG HẬU, ĐẢM ĐANG
Trang 10Theo em, người bà trong bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt có xứng đáng với lời
khen tặng đó không ? Vì sao?
+ Trong một buổi bàn lụân về bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt, bạn A và bạn B
tranh luận rất sôi nổi Bạn A bảo: Bếp lửa sưởi ấm một đời; bạn B lại cho rằng: Bếp lửa sưởi ấm muôn đời Hai bạn không ai chịu ai, ai cũng cho là chỉ có mình nói đúng
Em sẽ phân giải như thế nào để hai bạn hiểu rõ hơn về bài thơ Bếp lửa ?
+ Em có biết hình ảnh bếp lửa, ngọn lửa đã từng xuất hiện trong những tập quán,phong tục và trong những tác phẩm văn chương nào ?
Hãy đối chiếu, so sánh trong sự cảm nhận về bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt + Nguyễn Duy có bài Tre Việt Nam, Thép Mới có bài Cây tre Việt Nam, chương trình truyền hình VT3 có Bếp Việt Tương tự như vậy, em có thể đổi nhan đề giúp Bằng Việt là: Bếp lửa Việt Nam được hay không? Vì sao ?
+ So sánh hai bài thơ: Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh và Bếp lửa của Bằng
Việt + Em có nghĩ rằng đến một lúc nào đó, cuộc sống hiện đại sẽ làm biến mấthình ảnh bếp lửa trong đời sống Việt Nam không ?
+ Phân tích câu thơ : Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa !
+ Hình ảnh người bà được viết trong những tác phẩm nào ? Hãy liên hệ với Bếp
lửa của Bằng Việt
- GV chuẩn bị một bảng phụ ghi một số cách thức bình thơ- nghị lụân thơ chohọc sinh tham khảo:
+ Tranh biện
+ Bình về hình ảnh thơ, ngôn ngữ thơ, nhan đề …
+ Chọn phân tích câu thơ hay( danh cú ), từ ngữ đặc sắc ( nhãn tự )
+ Khái quát ý nghĩa biểu tượng
+ Đối sánh, liên hệ với những văn bản nghệ thuật khác
+ Đánh giá, vận dụng bài thơ vào thực tiễn cuộc sống hiện tại …
- Chỉ dẫn HS tìm hiểu vận dụng phần thi hùng biện trong các cuộc thi, cácchương trình trên truyền hình …
- GV chuẩn bị lời để dẫn chương trình
2- Trình tự thực hiện trong tiết học :
Trang 11- GV giới thiệu nội dung, hình thức cuộc thi
- GV lần lượt điều khiển cuộc thi với 3 vòng thi :
+ Cơ cấu lượng câu hỏi đã chuẩn bị vào 3 vòng thi, các tổ lần lượt cử 3 HStham gia trong mỗi vòng thi
+ Thời gian quy định khi bình thơ theo từng câu hỏi khoảng 3-5 phút
+ Xen kẽ với lời nhận xét của GV và các bạn khác
- GV chốt lại một số kỹ năng bình thơ ( bảng phụ )
- Việc thi đua và trao những phần quà nho nhỏ đã làm “nóng” không khí lớp họckhiến rất nhiều HS tham gia tích cực, kể cả HS yếu
* Cách thực hiện :
a- Chuẩn bị :
- Phân nhóm, lựa chọn nhóm trưởng
- Thông báo về số lượng nội dung bài tập thực hành; cho các nhóm nhận bài tập
cụ thể
Trang 12- Hướng dẫn các nhóm chuẩn bị bài tập (chủ yếu thông qua nhóm trưởng )
- Các nhóm HS lên chương trình tập luyện và chuẩn bị: làm dàn ý, sưu tầm tranhảnh, vật dụng, phân công việc cụ thể cho các thành viên trong nhóm…
b- Trình tự tiến hành trong tiết học :
- Mỗi nhóm trình bày trước lớp về vấn đề đã chuẩn bị dưới sự điều hành củanhóm trưởng Có thể theo trình tự sau :
+ Lời chào và lời tự giới thiệu về nhóm và nội dung sẽ trình bày
+ Giới thiệu dàn ý
+ Lần lượt trình bày từng phần theo dàn ý ( theo nhiều hình thức sáng tạo khácnhau)
+ Lời chào kết thúc, lời cảm ơn
- Lớp và GV lần lượt nhận xét về phần trình bày của từng nhóm
- GV nhấn mạnh lại cách tạo lập của kiểu VB đang học
-HS khá, giỏi trình bày lại trước lớp cả bài để khắc sâu kiểu VB và kỹ năng nói
về kiểu VB ấy
Hình thức Dàn hợp xướng có tác dụng rất tốt nhưng khó thực hiện vì nếu chuẩn
bị không kỹ hoặc “Nhạc trưởng” kém năng lực thì chương trình của nhóm dễ bị rời
rạc, thậm chí thất bại Do đó, khâu chuẩn bị phải được đầu tư chu đáo
Nếu HS đã chuẩn bị kỹ nhưng khi thực hành vẫn gặp khó khăn thì GV nên nhẹnhàng gỡ bí và dẫn dắt, giúp các em hoàn thành chương trình của nhóm
Mặt khác cũng không nên yêu cầu quá cao, nhất là khi thực hiện hình thức nàylần đầu
Ví dụ: Khi dạy tiết:
LUYỆN NÓI : BÀI VĂN GIẢI THÍCH MỘT VẤN ĐỀ ( Ngữ văn 7 )
1- Chuẩn bị :
- Lựa chọn nội dung: kết hợp bài tập trong SGK trang 98 với Chương trình địaphương phần văn để chọn một số nội dung như sau:
ĐỀ 1: Giải thích câu tục ngữ: Nước mắm Gò Bồi, trã nồi An Thái
ĐỀ 2: Giải thích câu tục ngữ: Trẻ khôn qua già lú lại
ĐỀ 3: Vì sao những tấn trò mà Va-ren bày ra với Phan Bội Châu lại được
Trang 13Nguyễn Ái Quốc gọi là những trò lố ?
ĐỀ 4: Vì sao nhà văn Phạm Duy Tốn lại đặt nhan đề Sống chết mặc bay cho
truyện ngắn của mình ?
ĐỀ 5 : Em thường đọc những sách gì ? Hãy giải thích vì sao em thích đọc loạisách ấy
Đề 6: Giải thích câu tục ngữ: Tốt gỡ hơn tốt nước sơn
- Gợi ý HS tham khảo tư liệu: Văn nghệ dân gian Nghĩa Bình, Bình Định- danhthắng và di tích, Bàn về đọc sách – NV lớp 9, Thuế máu- NV lớp 8…
- Phân công 6 đề / 6 nhóm và hướng dẫn các em chuẩn bị bài theo đơn vị nhóm: + Lên chương trình của nhóm Phân công cụ thể cho các thành viên và phối hợpthực hiện
+ Làm dàn ý và ghi bảng phụ
+ Chuẩn bị các vật dụng, tranh ảnh…
- GV chuẩn bị lời để dẫn chương trình và trình chiếu những hình ảnh có liên quantrong các đề bài để học sinh quan sát và hoàn thành nhiệm vụ được giao, và để chốtkiến thức về văn giải thích
2- Trình tự thực hiện trong tiết học :
- GV nêu yêu cầu và cách thức
- GV điều khiển chương trình, lần lượt mời các nhóm lên trình bày theo trình tự :+ Lời chào và tự giới thiệu về nhóm
- GV và HS chuẩn bị rất công phu: đồ dùng học tập phong phú, hiệu quả
( những dàn ý có nội dung rõ ràng được trình bày cẩn thận trên giấy tôki; những bức
Trang 14ảnh chân dung của Phan Bội Châu, Nguyễn Ái Quốc; những cái trã đất HS tìm mua ởchợ quê … ); chương trình được dàn dựng một cách sáng tạo và tập luyện từ trước …
kể cả tập hát ( bài Bình Định quê em ).
-Tiết học khá thành công: đảm bảo thời lượng, kiến thức, kỹ năng Nổi bật là
GV làm chủ được trong quá trình điều hành để đảm bảo thời gian cho phép, HS thamgia tích cực trong không khí thân mật, vui vẻ, hưng phấn với những chương trình sinhđộng , giàu ý nghĩa
4/ THI NÓI HAY ( Thi hùng biện, thi kể chuyện,…)
Hoạt động thực hành này vẫn dựa trên cơ sở gợi ý của SGV Nghĩa là HS luyệnnói ở tổ, nhóm; sau đó nói trước lớp trên cơ sở đã chuẩn bị dàn ý và tập nói ở nhà Mục tiêu cụ thể của tiết dạy khi dùng hình thức này là luyện cho HS khả năngnói đúng, nói hay, nói truyền cảm trước tập thể về một vấn đề, đồng thời qua hình thứcnày tạo được sự gần gũi cho học sinh
* Cách thực hiện :
a- Chuẩn bị :
- Bảng phụ ( tính điểm )
- Thông báo số lượng bài tập, nội dung bài tập
- Thông báo hình thức hoạt động để HS tập luyện
- Các nhóm chuẩn bị dàn ý, phiếu học tập của nhóm
- HS chuẩn bị thêm tranh ảnh, vật dụng liên quan ( nếu cần )
- Chuẩn bị vài mòn quà nho nhỏ
- Có thể chọn HS dẫn chương trình
b- Trình tự thực hiện trong tiết học :
- GV nêu tiêu chí, yêu cầu, thang điểm
-Thi vòng 1: HS nói trong nhóm nghe ( vừa rèn kỹ năng nói vừa tạo sự tự tin cho
HS) , sau đó nhóm chọn ra người Nói hay để dự thi vòng 2.
-Thi vòng 2: Tranh tài Nói hay giữa các nhóm
- Sau mỗi phần tranh tài của một nhóm là có phần nhận xét và bình điểm của
lớp, GV
-Kết thúc cuộc thi: Công bố điểm, chọn giải nhất, nhì và trao quà
Trang 15- Tổng kết tiết học, rút kinh nghiệm.
Ví dụ : Khi dạy bài
LUYỆN NÓI KỂ CHUYỆN ( Ngữ văn 6) –Tuần 8 1- Chuẩn bị : Yêu cầu HS chuẩn bị chương trình luyện nói: Giao lưu và chia sẻ
- Nội dung chương trình: Kể về bản thân, gia đình, bè bạn, công việc
( theo các đề bài ở SGK )
- Cách thức chuẩn bị :
+ Cá nhân HS dựa vào đề bài và dàn bài tham khảo ở SGK để lập dàn bài chi tiếtvào vở soạn ( 4 đề bài trong SGK )
ĐỀ 1: Tự giới thiệu về bản thân.
ĐỀ 2: Giới thiệu người bạn mà em quý mến.
ĐỀ 3: Kể về gia đình mình.
ĐỀ 4: Kể về một ngày hoạt động của mình.
+ Mỗi HS tự lựa chọn những phần muốn giãi bày, giới thiệu trước tập thể để tậpnói thật kỹ trước khi đến lớp
+HS tham khảo tư liệu( Gợi ý: Học tốt Ngữ văn 6, Hướng dẫn tự học Ngữ văn
6, SGK …), tham khảo kỹ năng nói của các thành viên tham gia các chương trình trên
truyền hình như: Đường lên đỉnh Olympya, Ở nhà chủ nhật, Chiếc nón kỳ diệu, các chương trình Giao lưu…
+ Ghi lên bảng phụ 4 dàn bài chi tiết ( 4 tổ chuẩn bị trước khi tiến hành tiếthọc)
- GV cũng chuẩn bị một số nội dung để giao lưu cùng HS
Lưu ý: GV hướng dẫn cho HS hoặc ít nhất là đội ngũ nòng cốt gồm cán sự bộmôn, lớp phó học tập, tổ trưởng, nhóm trưởng về một số kỹ năng nói ( để số HS nàyhướng dẫn lại cho những HS khác )
+ Dùng ngôi kể , cách xưng hô cho thích hợp
+ Đối thoại với người nghe trong quá trình nói
+ Kết hợp yếu tố ngôn ngữ với yếu tố phi ngôn ngữ ( giọng điệu, cử chỉ, ánhmắt, …)
+ Khả năng ứng biến linh hoạt tuỳ theo sự tiếp nhận của người nghe