1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

KY THUAT NHAN GIONG VO TINH CAY NHO

76 250 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,33 MB
File đính kèm CAY-NHO.rar (1 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Giống nho đỏ Cardinal có một ưu điểm hơn các giống khác đã được nhập vào Việt Nam, từ cắt cành đến chín chỉ khoảng 90 ngày, với 1 tháng ngủ nghỉ trước khi lại cắt để cho ra trái vụ sau

Trang 1

KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH CÂY NHO

MỤC LỤC

Giới thiệu chung: 5

1 Tổng quan về cây nho 5

1.1 Nguồn gốc 5

1.2 Giới thiệu và phân loại 6

1.2.1 Giới thiệu 6

1.2.2 Phân loại 6

1.2.3 Một số giống nho 9

1.2.3.1 Phân loại một số loài nho 9

1.2.3.2 Các giống nho trồng ở Việt Nam 10

1.3 Đặc tính, phân bố địa lí 11

1.3.1 Đặc tính 11

1.3.2 Phân bố địa lí 13

2 Các phương pháp nhân giống nho 15

2.1 Phương pháp nhân giống hữu tính (dùng hạt để trồng tạo cây con) 15

2.2 Phương pháp nhân giống vô tính 17

2.2.1 Phương pháp cổ điển 18

2.2.1.1 Chiết cành 18

2.2.1.2 Giâm cành (Cắm hom) 19

2.2.1.3 Các phương pháp ghép 20

2.2.2 Phương pháp hiện đại (in vitro) 23

2.2.2.1 Tình hình chung 23

2.2.2.2 Khái niệm: 23

2.2.2.3 Phương pháp nhân giống 25

3 Kỹ thuật trồng và chăm sóc nho 29

3.1 Chọn giống 29

3.2 Làm giàn 29

3.3 Tạo tán cho cây nho 29

Trang 2

3.4 Xới đất 31

3.5 Tưới nước 31

3.6 Kỹ thuật bón phân 31

3.6.1 Nhu cầu dinh dưỡng 31

3.6.2 Phương pháp phân tích lá nho để chuẩn đoán tình trạng dinh dưỡng 32 3.6.3 Phương pháp bón phân 33

Lượng phân bón cho nho trong 2 năm đầu 34

3.6.4 Phương pháp bón sử dụng phân NPK 36

3.7 Kỹ thuật thu hoạch nho 37

3.8 Kỹ thuật đóng gói và bảo quản 38

3.9 Một số ví dụ về cách trồng và chăm sóc 39

3.9.1 Kỹ thuật trồng nho trên gốc ghép 39

3.9.1.1 Chuẩn bị đất trồng 39

3.9.1.2 Kỹ thuật trồng 39

3.9.1.3 Chăm sóc cây con (6 hoặc 9 tháng) 39

3.9.1.4 Cắt, tỉa cành tạo tán 40

3.9.1.5 Cắt cành lấy quả 40

3.9.1.6 Thời vụ cắt cành 41

3.9.1.7 Chăm sóc cành mang quả và nho 41

3.9.2. Quy trình trồng nho đỏ (Red Cardinal) an toàn theo hướng hữu cơ sinh học 42 3.9.2.1 Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây con 42

3.9.2.2 Chăm sóc nho thời kỳ kinh doanh 44

3.9.3 Kỹ thuật trồng nho làm rượu 48

3.9.3.1 Giai đoạn cây con 48

4 Các loại sâu bệnh chính trên nho 51

4.1 Các loài sâu, côn trùng gây hại 51

4.1.1. Sâu xanh da láng ( Spodoptera exigua ) 51

Trang 3

4.1.2 Nhện vàng 51

4.1.3 Nhện đỏ 52

4.1.4 Rệp sáp 52

4.1.5 Rệp vảy 53

4.1.6 Bọ trĩ (Thrips spp.) 53

4.2 Các loại bệnh 54

4.2.1 Bệnh mốc sương (Downy mildew) 54

4.2.2 Bệnh nấm trắng (Powdery mildew) 55

4.2.3 Bệnh rỉ sắt 56

4.2.4 Bệnh nấm cuống 57

4.2.5 Bệnh thán thư (Anthracnose) 57

4.2.6 Một số bệnh hại khác 59

5 Giá trị sử dụng của cây nho 60

5.1 Giá trị kinh tế 60

5.2 Giá trị thực phẩm 60

5.3 Giá trị mỹ quan 60

5.4 Giá trị y dược 60

Nho giúp giảm nguy cơ mù lòa: 61

6 Kỹ thuật sản xuất rượu nho 63

6.1 Đặc điểm 63

6.2 Phân loại 64

6.2.1 Rượu vang đỏ 64

6.2.2 Rượu vang trắng 65

6.2.3 Rượu vang hồng 65

6.3 Tình hình sản xuất rượu nho ở Việt Nam và trên thế giới 65

6.3.1 Tình hình sản xuất thế giới 65

6.3.2 Ở việt Nam 66

6.4 Các loại nho sản xuất rượu vang 66

Trang 4

6.5 Nấm men thường sử dụng trong lên men rượu nho 67

6.6 Quy trình sản xuất rượu nho 67

6.6.1 Quy trình sản xuất rượu vang trắng và vang đỏ 67

Quy trình sản xuất rượu vang trắng 67

6.6.2 Thuyết minh quy trình 71

7 Kết luận 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 5

Giới thiệu chung:

Sinh sản vô tính là sự hình thành cá thể mới từ bố hoặc mẹ không có sự tạo giao tử hoặc những cấu trúc sinh sản đặc biệt khác Hiện tượng này xảy ra ở nhiều thực vật và động vật bậc thấp, trong đó ở thực vật thường bằng nhân giống sinh dưỡng (chiết, ghép, giâm cành, nuôi cấy mô - tế bào) hoặc sự hình thành bào tử Như vậy, nhân giống vô tính chính là phương pháp nhân lên hoặc tạo ra cơ thể mới dựa theo sinh sản

vô tính, nghĩa là phương pháp tạo nhân lên hoặc tạo ra cơ thể mới từ tế bào, mô, cơ quan của cơ thể bố hoặc mẹ

Có 2 loại sinh sản vô tính tự nhiên và sinh sản vô tính nhân tạo

Sinh sản vô tính tự nhiên : Trong tự nhiên, thực vật có khả năng tạo những cơ thể mới từ một bộ phận của thân bò (dâu tây, rau má), thân rễ (cỏ gấu), thân củ (khoai tây),

lá cây (thuốc bỏng), rễ củ (khoai lang) Đó là sự sinh sản vô tính tự nhiên

Sinh sản vô tính nhân tạo: là sự sinh sản, trong đó con người chủ động nhân lên hoặc tạo ra cơ thể mới từ một bộ phận cắt rời của cơ thể bố hoặc mẹ Các dạng sinh sản

vô tính nhân tạo gồm: giâm (cành, lá, rễ), chiết (cành), ghép (cành, chồi), nuôi cấy mô-

tế bào Mà trong bài báo cáo này chúng ta sẽ đi tìm hiều về nhân giống vô tính nhân tạo

1 Tổng quan về cây nho

1.1 Nguồn gốc

Á ( bán đảo Crimee hiện nay) Cây nho thuộc về họ cây leo (Ampelidaceae hay còn gọi là Vitaceae) Tất cả các loại cây nho để ăn hoặc làm rượu đều thuộc chi nho Vitis Có gần 40 loại nho Vitis trên thế giới, loại nho quan trọng nhất là vitis vinifera hay họ nho vitis Châu âu, vitis lambrusca, Vitis rupestri… là loại họ nho ở châu Mĩ

Trang 6

 Trong mỗi loại nho lại chia ra nhiều giống nho như giống Merlot, giống Chardonnay, giống Carrignan, giống Gamay… Một số giống nho vừa có thể dùng để ăn vừa làm rượu như giống Chasselas, giống Muscat, giống Italy Các giống khác chủ yếu để làm rượu Việc phân định giống nho dựa theo các tiêu chuẩn như: màu sắc của mầm nho, màu sắc quả, hình dạng lá hay mức

độ to nho của chùm nho

các giống nho khác gốc ở châu Mỹ nhưng chưa trồng với quy mô sản xuất ở Việt Nam Theo B.Aubert nho là một trong những cây lâu năm có tính thích ứng cao nhất Các chuyên gia Philippines năm 1975 đã viết "Nghề trồng nho không còn là một độc quyền của các nước ôn đới nữa"

1.2 Giới thiệu và phân loại

1.2.1 Giới thiệu

Nho là một từ để chỉ loại quả mọc trên các cây dạng dây leo thân gỗ hoặc để

chỉ chính các loài cây này Các loài cây này thuộc về họ Vitaceae Quả nho mọc

thành chùm từ 6 đến 300 quả, chúng có màu đen, lam, vàng, lục, đỏ-tía hay trắng Khi chín, quả nho có thể ăn tươi hoặc được sấy khô để làm nho khô, cũng như được dùng để sản xuất các loại rượu vang, thạch nho, nước quả, dầu hạt nho…

Trang 7

 Lớp phụ: Dicotyledonease

Hiện có rất nhiều loài nho đang tồn tại như: Vitis vinifera, Vitis labrusca, Vitis

riparia, Vitis lincecumii… nhưng Vitis vinifera là phổ biến nhất, hơn 90% tổng sản

lượng nho thu hoạch hàng năm trên thế giới thuộc loài Vitis vinifera

Hình 1: Nho trắng (trái) và nho đỏ (phải)

Các giống thuộc loài Vitis vinifera có thể được chia thành hai nhóm chính:

khác nhau

Trang 8

Hình 2: Giống nho Grenache Hình 3: Giống nho Mouvedre

được chọn để sản xuất rượu vang hồng: giống nho này được trồng chủ yếu ở Tây Ban Nha, phía Nam nước Pháp và Ý, vùng California và ở Autralia

Tây Ban Nha, đóng vị trí quan trọng và là giống nho đỏ trồng nhiều thứ 2

Trang 9

trên các vườn nho của đất nước này Mouvedre có khả năng chịu đựng nhiệt độ cao, nóng nhưng rất nhạy cảm với sự thay đổi của độ ẩm Các nhà làm rượu rất thích sử dụng Mouvedre pha trộn với các giống nho đỏ khác để sản xuất rượu Có thể tìm thấy Mouvedre ở California và Úc.

1.2.3 Một số giống nho

1.2.3.1 Phân loại một số loài nho

Hiện có rất nhiều loài nho đang tồn tại, chúng bao gồm:

Vitis vinifera, loài nho dùng để sản xuất rượu vang ở châu Âu Có nguồn gốc ở

châu Âu lục địa

Vitis labrusca, loài nho dùng để ăn tươi và sản xuất nước nho tại Bắc Mỹ, đôi

khi cũng dùng để sản xuất rượu vang Có nguồn gốc ở miền đông Hoa Kỳ và Canada

Vitis riparia, loài nho hoang dại ở Bắc Mỹ, đôi khi được dùng sản xuất rượu

vang hay làm mứt Có nguồn gốc ở miền đông Hoa Kỳ, kéo dài về phía bắc tới Quebec

Vitis rotundifolia, nho muxcat hay nho xạ, được sử dụng làm mứt và rượu vang

Có nguồn gốc ở miền đông nam Hoa Kỳ, từ Delaware tới vịnh Mexico

Vitis aestivalis, giống Norton (AKA Cynthiana) được dùng để sản xuất rượu

Vitis arizonica, một loài nho vùng sa mạc ở miền tây nam Hoa Kỳ, chịu được sự

chênh lệch nhiệt độ lớn Có thể dùng sản xuất rượu vang

Trang 10

Vitis californica, một loài nho quan trọng đối với công nghiệp sản xuất rượu

vang của California vì các thân ghép của chúng có khả năng chịu dịch bệnh và thời tiết lạnh Có nguồn gốc ở California và Oregon

Vitis vulpina, loài nho chịu sương muối Có nguồn gốc ở vùng Trung Tây nước

Mỹ kéo dài về phía đông tới vùng bờ biển thuộc bang New York

trong các thứ (biến chủng) của V labrusca, V riparia hay V aestivalis Các

giống lai ghép có xu hướng ít nhạy cảm với sương muối và dịch bệnh (đáng chú

ý là các loài rệp hại rễ nho), nhưng rượu vang sản xuất từ chúng có thể có mùi

vị chua đặc trưng của labrusca

1.2.3.2 Các giống nho trồng ở Việt Nam

 Hiện nay có nhiều giống nho được nhân giống thành công và cho năng xuất cao

đã được trồng ở Việt Nam như giống nho ăn tươi NH01-93 , NH01-48 , NH01-96, giống Cardinal ( nho đỏ) và giống nho làm nguyên liệu cho chế biến rượu NH02-

90

 Giống Cardinal (nho đỏ) là giống quan trọng của Việt Nam và các nước quanh vùng như Philippines, Thái Lan v.v có nhiều ưu điểm : mã đẹp, dễ vận chuyển, sinh trưởng nhanh, chất lượng khá

 Giống nho đỏ Cardinal có một ưu điểm hơn các giống khác đã được nhập vào Việt Nam, từ cắt cành đến chín chỉ khoảng 90 ngày, với 1 tháng ngủ nghỉ trước khi lại cắt để cho ra trái vụ sau, tổng cộng 4 tháng cho 1 vụ, một năm có thể thu ba vụ, tiêu chuẩn kinh tế quan trọng của người trồng nho hiện nay

 Giống nho ăn tươi NH01-93 có thời gian sinh trưởng từ 110 - 125 ngày kể từ khi cắt cành, dài hơn so với giống Cardinal cả về thời gian sinh trưởng và thời gian chín Giống có khả năng sinh trưởng tương đương giống Cardinal, khả năng kháng

Trang 11

một số đối tượng sâu bệnh hại chính tương đương hoặc cao hơn so với Cardinal và cao hơn so với NH01-48 Giống có khối lượng quả to hơn hẳn so với hai giống Cardinal và NH01-48, có độ Brix tương đương với Cardinal, có mùi hương đặc trưng, quả có màu tím đen, hình ô van rất phù hợp thị hiếu người tiêu dùng

 Giống nho ăn tươi NH01-96 có thời gian sinh trưởng của từ 115 - 120 ngày kể

từ khi cắt cành, dài hơn so với giống đối chứng Cardinal Giống có khả năng sinh trưởng tốt hơn so với giống Cardinal, khả năng kháng một số đối tượng sâu bệnh hại chính tương đương so với Cardinal Khối lượng quả biến động từ 5,5 - 7,2 g cao hơn nhiều so với giống Cardinal và NH01-48, năng suất bình quân đạt 12 tấn/ha/vụ, vượt đối chứng từ 1-2 tấn, có độ Brix khá cao (16-17%), cao hơn so với Cardinal,

có mùi hương đặc trưng, quả có màu xang vàng

 Giống nho làm nguyên liệu chế biến rượu NH02-90 có khả năng sinh trưởng mạnh, chống chịu tốt đối với sâu bệnh hại, năng suất thực thu đạt trên 10 tấn/ha/vụ

Độ Brix trên 17% và các chỉ tiêu chất lượng phù hợp cho sản xuất rượu vang theo tiêu chuẩn chất lượng của cơ sở sản xuất vang nho Hiệu quả kinh tế thu được từ 15-35 triệu đồng/ha/vụ

 Giống nho NH01-48 là giống nho ăn tươi, khi chín quả có màu xanh, hạt ít (từ 1 đến 2 hạt/quả), độ đường cao (độ Brix 17-19%, giống Cardinal từ 13-14%), dễ cho bông, năng suất cao và ổn định Chất lượng của giống này tương đương so với sản phẩm nhập khẩu cùng loại

1.3 Đặc tính, phân bố địa lí

1.3.1 Đặc tính

và á nhiệt đới Tuy được trồng ở phổ rộng về khí hậu nhưng đặc điểm đáng chú ý nhất của nho là yêu cầu có một mùa khô đủ dài để tích lũy đường, đây cũng chính là yếu tố quan trọng nhất để tạo nên chất lượng nho Nhiệt độ là một trong các yếu tố quan trọng

Trang 12

giúp cây nho phát triển sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực, nhiệt độ phù

C đều gây ảnh hưởng xấu đến quá trình sinh trưởng và phát triển của nho Nho đồng thời

là cây ưa sáng, thiếu ánh sáng trong thời gian dài sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp hydrat carbon gây ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng nho, nếu thiếu ánh sáng trong thời kỳ ra hoa và đậu quả sẽ dễ dẫn đến tình trạng rụng hoa và rụng quả non Ẩm

độ không khí đóng vai trò quyết định lớn đến năng suất và phẩm chất nho, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng phát triển của cây nho, ẩm độ không khí phù hợp với nho từ 70 - 75%, ẩm độ không khí cao nho dễ bị nhiễm các loại nấm bệnh Lượng mưa phù hợp cho nho từ 700 - 850 mm/năm, lượng mưa cao trên 1.200

mm/năm dễ gây nên hiện tượng úng thủy của bộ rễ, mưa lớn vào thời kỳ ra hoa đậu quả gây nên hiện tượng rụng hoa, rụng quả

Muốn trồng nho ở Việt Nam, trước hết phải tìm hiểu kỹ về điều kiện thời tiết khí hậu Không phải quan tâm đến độ nhiệt ở miền Nam vì những nơi rét nhất như Đà Lạt, vẫn còn là nóng đối với nho, vả lại nho đã thích nghi tốt với độ nhiệt cao, thậm chí nắng to cũng không làm nám trái nhờ có giàn che

Về cơ bản là phải có khí hậu khô nhiều nắng, độ ẩm không khí thấp Ở nước ta cũng có nhiều vùng thích hợp để trồng nho như vùng Phan Rang (có lượng mưa thấp

750 - 850 mm/năm và không khí tương đối khô) Nhưng lượng mưa tập trung vào cuối năm làm tăng độ ẩm và tạo điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh gây hại

Ở miền Nam, vẫn có thể trồng nho kinh doanh với điều kiện là phải có mùa khô

4, 5 tháng nắng, và đất không bị úng nước mùa mưa do rễ nho là nơi xúc tích dự trữ của cây, rất mẫn cảm với tình trạng thiếu oxy

Nho thích hợp trên nhiều loại đất, từ cát thô, lẫn sỏi đá đến đất thịt nặng Các đất có thành phần cơ giới sét nặng, tầng canh tác nông, tiêu thoát nước kém không phù hợp cho nho Khoảng giá trị pH phù hợp cho nho từ 5,5 - 7,5, nếu pH thấp dưới 4,5

Trang 13

hoặc cao trên 8,5 có ảnh hưởng không tốt đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây nho Yêu cầu đất trồng nho có độ phì cao, thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, tầng đất dày, khả năng thoát nước tốt Theo điều tra của Nha Hố ở 30 điểm trồng nho vùng Ninh Thuận tỷ lệ mùn trong đất thường là 2% trong 100 g đất hàm lượng lân dễ

Không nên trồng nho ở những vùng thường có gió to hoặc bão vì gió có thể làm dập nát lá, chùm nho hoặc làm đổ giàn Vì thế nên trồng nho ở những nơi hứng nắng và

có che chắn kỹ

Đất phù sa ven sông Dinh (Phan Rang), sâu, giàu chất dinh dưỡng, luôn thoát nước, là đất nho rất tốt Tuy nhiên theo điều tra của Trung tâm Nha Hố đất thịt, đất cát, đất lẫn sỏi đá ở các triền đồi, đều có thể trồng nho nếu đầu tư phân hữu cơ và phân khoáng với lượng cao, cũng phải có điều kiện tưới nước về mùa khô và bao giờ cũng phải thoát nước

Tóm lại, nho ưa khí hậu khô và nhiều nắng Có những điều kiện này thì những điều kiện khác, ví dụ về đất, về ánh sáng v.v cũng thuận tiện theo, sợ nhất là mưa vì mưa làm rụng hoa, rụng trái, và nhất là tạo điều kiện cho nhiều bệnh nguy hiểm phát triển

1.3.2 Phân bố địa lí

Theo thống kê của FAO, tổng diện tích trên thế giới hiện có khoảng 7.586.600

ha nho, được trồng trên nhiều loại đất, ở các vùng khí hậu từ xích đạo tới nhiệt đới và á nhiệt đới Năng suất nho cũng biến động rất lớn, từ 5 - 35 tấn/ha/năm tùy thuộc vào vùng trồng, điều kiện canh tác và mục đích sử dụng (làm rượu nho loại ngon, loại thường, làm nho ăn tươi, v.v)

Sản lượng nho trên thế giới hàng năm ước đạt trên 65 triệu tấn, nho được trồng nhiều ở các nước ôn đới, sản lượng nho nhiều nhất là Châu Âu với tổng sản lượng đạt

Trang 14

36,8 triệu tấn/năm, tiếp đến là Châu Á với 7,4 triệu tấn, Liên Xô (cũ) 7,2 triệu tấn, Nam

Mỹ 5,3 triệu tấn, Bắc Mỹ 5,3 triệu tấn, Châu Phi 2,2 triệu tấn, Ở các nước nhiệt đới

diện tích trồng nho chỉ chiếm một phần rất nhỏ, sản lượng hàng năm chưa bằng 1% sản lượng nho trên toàn thế giới Ở vùng nhiệt đới Châu Á nho phát triển mạnh ở các nước

Ấn Độ, Thái Lan, Philippin, Trung Quốc Theo thống kê năm 2000, các nước Châu Á - Thái Bình Dương có tổng diện tích trồng nho vào khoảng 370.000 ha

Danh sách dưới đây liệt kê 11 quốc gia sản xuất rượu vang nho hàng đầu thế giới với diện tích trồng nho tương ứng cho việc sản xuất rượu vang:

Cây Nho được du nhập vào Việt Nam từ những năm 1960 -1971 và đến năm

1980 nho được trồng chủ yếu ở tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận Đến nay, tổng diện tích nho cả nước ước khoảng 2.500 - 3.000 ha, trong đó chiếm diện tích nhiều nhất là tỉnh Ninh Thuận với khoảng trên 55% tổng diện tích cả nước, tiếp đến là Bình Thuận

Trang 15

với gần 10%, còn lại được trồng rải rác ở nhiều nơi trên cả nước (Đồng Nai, Lâm Đồng, Ba Vì…)

Ở miền Trung, vùng Ninh Thuận là vùng trồng Nho rất thuận lợi, cho chất lượng cao, vì vùng này nằm trong vùng có điều kiện khí hậu rất phù hợp với điều kiện sinh trưởng và phát triển của cây Nho như: khô nóng, gió nhiều, độ ẩm không khí thấp (độ ẩm trung bình 76%), lượng mưa thấp 700 mm/năm, v.v Chính vì vậy, có thể khẳng định rằng khí hậu Ninh Thuận thích ứng với quá trình sinh trưởng và phát triển cây nho, đáp ứng đầy đủ điều kiện để tăng năng suất và chất lượng quả nho so với các vùng khác trên cả nước

Tính đến (2014), diện tích trồng Nho ở Ninh Thuận vào khoảng 1.100 ha, tập trung chủ yếu ở các huyện Ninh Phước, Ninh Hải, Ninh Sơn và Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm Nho được trồng ở Ninh Thuận với nhiều giống cho năng suất và chất lượng cao và

ổn định, chiếm diện tích nhiều nhất là giống nho đỏ Red Cardinal, với trên 97% diện tích

trồng nho Trong đó diện tích nho có quy mô lớn và tập trung nhiều nhất ở huyện Ninh Phước chiếm khoảng 75% tổng diện tích trồng nho của toàn tỉnh, sản lượng đạt từ 10 - 12 ngàn tấn/năm, tập trung chủ yếu ở một số xã: Phước Sơn, Phước Dân, Phước Thuận (300 ha) và Phước Hữu (215 ha), các xã khác còn lại trong huyện có diện tích trồng nho nhỏ hẹp và phân bố rải rác Huyện Thuận Nam có xã Phước Nam; Huyện Ninh Hải với tổng diện tích khoảng 100 ha, phân bố rải rác ở 4 xã Xuân Hải, Khánh Hải, Nhơn Hải và Vĩnh Hải Huyện Ninh Sơn với tổng diện tích gần 60 ha, phân bố tại 2 xã Nhơn Sơn và Mỹ Sơn Thành phố Phan Rang-Tháp Chàm có tổng diện tích trồng nho vào khoảng 80 ha, phân bố rải rác ở 10/14 xã phường

2 Các phương pháp nhân giống nho

2.1 Phương pháp nhân giống hữu tính (dùng hạt để trồng tạo cây con)

 Ưu điểm

- Kỹ thuật đơn giản, dễ làm

Trang 16

- Giá thành cây con thấp

- Hệ số nhân giống cao

- Tuổi thọ của cây cao

- Cây thích ứng rộng với điều kiện ngoại cảnh

 Nhược điểm

- Cây giống trồng từ hạt thường khó giữ được những đặc tính của cây mẹ

- Cây giống trồng từ hạt thường ra hoa kết quả muộn

- Cây giống trồng từ hạt thường có thân tán cao, gặp khó khăn trong việc chăm sóc cũng như thu hái sản phẩm

 Do những nhược điểm như vậy nên phương pháp nhân giống bằng hạt chỉ được sử dụng trong một số trường hợp:

- Gieo hạt lấy cây làm gốc ghép

- Sử dụng gieo hạt đối với những cây chưa có phương pháp nhân giống

vô tính hiệu quả

- Dùng để lai tạo, chon giống mới

Những điểm cần chú ý khi dùng hạt để nhân giống (nhân giống hữu tính)

quá thấp hoặc quá cao, độ ẩm đất đảm bảo 70 - 80% độ ẩm bão hoà và đất gieo

hạt phải tơi xốp, thoáng khí

giống có khả năng sinh trưởng khoẻ, năng suất cao và phẩm chất tốt; chọn những cây mang đầy đủ các đặc điểm của giống muốn nhân; chọn những quả có

Trang 17

hình dạng đặc trưng của giống; chọn những hạt to, mẩy, cân đối và chọn cây con

to, khoẻ, sinh trưởng cân đối

Một số phương pháp nhân giống nho bằng hạt

 Gieo hạt trên luống đất

- Đất gieo hạt phải được cày bừa kỹ, bón lót 50 - 70 kg phân chuồng hoai

mặt luống rộng 0,8 - 1,0 m, khoảng cách giữa các luống 40 - 50 cm

- Hạt được gieo thành hàng hoặc theo hốc với các khoảng cách tuỳ thuộc vào loại cây ăn quả, gieo ươm để lấy cây ra ngôi hoặc gieo trực tiếp lấy cây giống Độ sâu lấp hạt từ 1 - 3 cm tuỳ thuộc vào thời vụ gieo và tuỳ thuộc vào hạt giống cây ăn quả đem gieo

- Phải chăm sóc thường xuyên: tưới nước giữ ẩm, nhổ cỏ, xới xáo phá váng, bón phân đặc biệt là theo dõi, phát hiện và phòng trừ bệnh kịp thời Bón thúc bằng nước phân chuồng pha loãng 1/10 - 1/15 hoặc các loại phân vô cơ pha loãng 1%

 Ươm hạt trong bầu

Phương pháp gieo ươm hạt trong túi bầu được sử dụng cho cả phương pháp nhân giống bằng hạt và gieo ươm cây gốc ghép cho nhân giống bằng phương pháp ghép Hạt giống được gieo trực tiếp vào túi bầu tiêu chuẩn hoặc gieo vào túi bầu nhỏ rồi tiến hành ra ngôi sau Hạt giống thường được

xử lý và ủ cho nứt nanh mới tiến hành gieo Hỗn hợp bầu đang được sử dụng

đất mặt, 200 - 300 kg phân chuồng hoai mục và 10 - 15 kg supe lân Các khâu kỹ thuật chăm sóc được tiến hành tương tự như phương pháp gieo ươm hạt trên luống đất

2.2 Phương pháp nhân giống vô tính

Trang 18

2.2.1 Phương pháp cổ điển

2.2.1.1 Chiết cành

Ưu điểm của phương pháp này là cây giống vẫn giữ được các đặc tính tốt của cây mẹ, cây giống phát triển nhanh, chóng ra quả, nhưng nhược điểm là tốn công, hệ số nhân thấp, cây me bị tổn thương khá nhiều

còn tơ, chiết những cành bánh tẻ, chọn cành xiên có nhiều ánh sáng, lá mọc dày, lóng ngắn, ở chỗ có nhiều ánh sáng Không chiết những cành ở đỉnh ngọn, cành vượt mọc từ gốc hoặc ở chân các cành lớn vì khó ra rễ do nhiều nước, lóng dài đường bột tích lũy ít Kích thước cành tùy thuộc vào cây, đường kính từ 1-3 cm,

dễ bóc vỏ Dùng dao sắc cắt 2 vòng ở chân cành, cách nhau độ 3-4 cm, bóc đi

Trang 19

khoanh vỏ ở giữa, dùng dao cạo nhẹ lên phần gỗ dưới khoanh vỏ đã bóc để làm chết lớp mô phân sinh thứ cấp có thể làm vỏ tái sinh Chờ 2-3 ngày lấy đất bùn phơi khô trộn với rơm, trấu, mùn cưa nhào với nước bó thành một bầu đất, bọc nilon ở phía ngoài (nên dùng nilon đen) để giữ ẩm cho bầu đất Dây buộc phía trên nên chặt còn phía dưới thì lỏng hơn để đề phòng khi mưa nước lọt vào bầu

có thể thoát xuống dưới dễ dàng

NAA, IBA, IAA nồng độ 500-1000 ppm (phần triệu) bằng cách dùng chổi lông bôi vào miệng vết cắt ở phía trên khoanh vỏ được cắt đi Cũng có thể trộn chất kích thích với đất bầu bó xung quanh vết cắt nhưng cách này tốn thuốc

nhiều thì cắt cành chiết đem vào giâm trên luống ươm hay trong túi nilon Che nắng và tích cực tưới, giữ ẩm khoảng 5-6 tuần khi cành chiết ra rễ thứ sinh mới đem trồng

2.2.1.2 Giâm cành (Cắm hom)

đất nếu gặp điều kiện thuận như nhiệt, độ ẩm thích hợp sẽ ra rễ nẩy mầm thành một cây mới Phương pháp này áp dụng cho một số loại cây ăn trái nhưng chủ yếu cho hoa, cây cảnh Ưu điểm của phương pháp này là hệ số nhân cao, nhân giống nhanh Tuy nhiên phương pháp này khó làm do chi phí xây dựng vườn ươm cao, kỹ thuật chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh cho cây con khó, phải dùng chất kích thích sinh trưởng

Chọn hom còn trẻ, dạng bánh tẻ, từ 2 tuổi trở lại, không chọn hom ở các cây già

đã ra hoa kết trái nhiều lần khó sống Hom nếu lấy ở đoạn cành dưới đã hóa gỗ gọi là hom gỗ rắn, khó ra rễ hơn nhưng chống chịu tốt, ít bị mất nước, chết héo

Trang 20

 Hom cắt ở đầu cành non hơn, dễ chết héo nhưng vì còn non dễ ra rễ hơn nếu được chăm sóc tốt

nền giâm có thể là cát sạch, cát pha đất mùn hoặc đất mùn có thể giâm trực tiếp vào bầu

dưới dạng phun mù để hom không mất nước và mát ngọn Khi giâm có thể nhúng gốc hom vào dung dịch NAA, IBA, IAA nồng độ vài ngàn ppm hoặc phun dung dịch trên trực tiếp lên luống ngay sau khi giâm

2.2.1.3 Các phương pháp ghép

 Yêu cầu chung

- Gốc ghép: Gốc ghép non trẻ đang lên nhựa, nếu cần tưới 1 đợt phân urê nhẹ 0,5% 10 ngày trước khi ghép Nên ghép vào vụ xuân là thích hợp nhất

- Cây mẹ cho cành ghép: Trẻ khỏe đang lên nhựa Khi ghép nhiều nên có một vườn cây mẹ (cây đầu dòng) được tuyển chọn kỹ, có chế độ chăm sóc đặc biệt để làm vật liệu ghép

- Giữ vệ sinh: Càng sạch càng tốt vì các loài vi sinh vật xâm nhập vào chỗ ghép gây chết phần ghép

Trang 21

Gốc ghép trồng trong bầu được kê hay buộc lên cao gần cành ghép Cắt hai lát để lộ mô phân sinh rồi buộc vào nhau

Khoảng 2 tháng sau khi ghép thì có thể cắt rời cành ghép và đưa vào vườn ươm, khoảng một tháng sau thì có thể mang đi trồng Có thể ghép rất nhiều loại cây bằng phương pháp này vì tỷ lệ sống cao do trước khi cắt rời cành cả cành ghép và gốc ghép đều sống trên bộ rễ của mình Tuy nhiên phương pháp này ít được dùng vì ghép áp khá phức tạp: phải trồng gốc ghép vào bầu, buộc hay kê cao cho gần với cành ghép

Còn một phương pháp ghép áp cải tiến là cắt cụt ngọn gốc ghép rồi cắt hai lát chéo nhau thành hình nêm, ở cành ghép chỉ cắt một nát, xiên từ dưới lên sau đó lùa gốc ghép vào buộc chặt

Ghép mắt:

Bóc lấy một mắt ở nách lá trên cành bánh tẻ của cây mẹ và trên gốc ghép cũng bóc đi một mảnh vỏ Áp mắt ghép vào chỗ đã bóc vỏ trên gốc ghép rồi buộc lại Khi mắt ghép nẩy mầm sẽ tự đâm ra ngoài tao thành một cây ghép Ghép mắt có

ưu điểm là tạo hiệu suất lao động cao, hệ số nhân lớn

Ghép cửa sổ:

Mắt hình chữ nhật chiều dài 3-4 cm, chiều ngang 2 cm, mắt to dễ bóc hơn mắt bé nhưng cành để bóc phải to Trên vỏ gốc ghép cũng phải bóc một mảnh vỏ tương đương Muốn vậy lấy dao ghép rạch 2 đường dọc cách nhau vừa đúng chiều dài mắt ghép Sau đó cắt một nhát ngang phía dưới, bóc vỏ thành một mảnh dài hơn chiều dài mắt ghép một chút, phía trên có dính với gốc ghép Cho mắt ghép vào đúng vị trí đã bóc vỏ Sau cùng cắt mảnh vỏ phía trên, để thừa một chút cho phủ kín mép trên của mắt, không buộc ngang qua mắt vì sẽ làm dập nát mắt Muốn tỷ lệ

Trang 22

sống cao cả cành ghép và gốc ghép đều phải nhiều nhựa, dễ bóc mắt Tốt nhất là ghép vào đầu mùa mưa và phải chăm sóc tốt vườn gốc ghép và vườn cây đầu dòng

Ghép chữ T:

Cắt một lát ngang, một lát dọc hình chữ T trên gốc ghép ở chỗ cách gốc 30cm Lấy sống dao nậy khẽ để nâng vỏ gốc ghép ở giáp ranh 2 vết cắt ngang và dọc, mở một cửa vừa đủ để lùa mắt ghép vào Khi lấy mắt ghép chỉ cần lia lưỡi dao dọc theo cành ghép từ dưới lên trên, lưỡi dao bập vào cành ghép ở phía dưới mắt cách khoảng 5-7 mm và chỉ một lát dao là lấy được một mắt ghép hình khiên

20-Phía dưới mắt thường lấy theo một vảy gỗ mỏng có thể bỏ đi Qua miệng mở, cầm mắt ghép bằng đầu phía trên của mắt ghép và lùa mắt ghép vào giữa chữ T từ trên xuống Sau đó cắt lưỡi mắt ghép thừa lòi ra ngoài rồi dùng dây nilon buộc vào

Ghép mắt hình khiên dưới vỏ hình chữ T rất tiện vì mắt nhỏ dễ lấy, nhân được nhiều cây và thường dùng cho những cây nhỏ như cam, quýt, chanh, ổi, táo, và ghép cũng dễ sống

Ghép mắt có gỗ:

Ghép mắt có gỗ chỉ cần cắt 2 lát dao trên gốc ghép lấy đi một mảnh (gồm cả

vỏ lẫn gỗ) và cắt 2 lát dao ở cành ghép để lấy mắt (cũng cả gỗ và vỏ, lấp vừa khít vào gốc ghép) Đây là phương pháp ghép công nghiệp, theo tác nhanh, ít tốn mắt ghép, hệ số nhân cao, rất thích hợp cho các vườn kinh doanh cây giống

Trang 23

Gốc ghép khoảng 6-12 tháng tuổi, cắt ngọn gốc ghép, dùng dao sắc xẻ đôi ngọn thành một vết bổ dọc dài khoảng 4 cm, mắt ghép lấy từ một cành mập, có đường kính bằng đường kính gốc ghép dài khoảng 10-12 cm, sau khi cắt bỏ lá, vót thành nêm dài 4 cm, chêm vào gốc ghép, sau đó dùng dây nilon bó chặt Cách buộc

từ trên ngọn xuống dưới gốc ghép, bó kín phần cành ghép để trách mất nước làm chết mắt ghép

2.2.2 Phương pháp hiện đại (in vitro)

2.2.2.1 Tình hình chung

Trong chiến lược phát triển nông nghiệp hiện nay, việc nhân nhanh giống cây trồng bằng in vitro nhằm sản xuất giống cây trồng có chất lượng cao, sạch bệnh ngày càng được quan tâm và có nhiều thành tựu đáng kể

Trên thế giới: giống cây trồng nhân vô tính và chuyển gen mang những đặc điểm nông sinh quý giá mà các phuơng pháp truyền thống không tạo ra được là một trong những mục tiêu hàng đầu của quá trình phát triển công nghệ sông sinh của nhiều nước công nghiệp trên thế giới

Việt nam: công nghệ nuôi cấy mô tế bào thực vật đã được du nhập từ những năm 1960 tại miền Nam và vào đầu những năm 1970 tại miền Bắc tuy nhiên chỉ từ những năm 1980 trở lại đây công nghệ nuôi cấy mô tế bào mới phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng, nhiều phòng thí nghiệm, nghiên cứu đã được xây dựng và triển khai ở hầu khắp các tỉnh thành trong cả nước Lĩnh vực áp dụng rộng rãi công nghệ nuôi cấy mô tế bào thực vật là lĩnh vực nhân giống, bảo quản nguồn gen cây trồng

2.2.2.2 Khái niệm:

Nhân giống vô tính invitro ở thực vật hay còn gọi là nuôi cấy mô tế bào thực vật Đây là kĩ thuật cho phép nuôi cấy dễ dàng những tế bào thực vật hay mô phân

Trang 24

sinh sạch bệnh trong môi trường nhân tạo thích hợp để tạo ra những khối tế bào hay

Đây là phương pháp nhân giống hiện đại được thực hiện trong phòng thí nghiệm nên còn gọi là phương pháp nhân giống trong ống nghiệm (in vitro) để phân biệt với các quá trình nuôi cấy trong điều kiện tự nhiên ngoài ống nghiệm (in vivo).Khác vối các phương pháp nhân giống truyền thống như giâm, chiết cành hoặc ghép mắt, phương pháp nhân giống in vitro có khả năng trong một thời gian ngắn có thể tạo ra một số lượng cây lớn đều để phủ kín một diện tích đất nhất định mà các phương pháp nhân giống khác không thể thay thế được Ngoài ra phương pháp này không phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên có thể tiến hành quanh năm Đây là hướng đang được ứng dụng rộng rãi Ở Việt Nam hiện nay có nhiều phòng thí nghiệm nuôi cấy mô, nhiều trung tâm sản xuất giống cây trồng hàng năm đã cung cấp một lượng đáng kể cây giống có chất lượng cao cho sản xuất nhưchuối, dứa, khoai tây, các loại lan, cây cảnh, cây lâm nghiệp

Hạn chế của nhân giống vô tính invitro

Hạn chế về chủng loại sản phẩm: trong điều kiện hiện nay không phải tất cả

cây trồng đều được nhân giống thương phẩm bằng vi nhân giống Nhiều cây trồng

có giá trị kinh tế hoặc quý hiếm vẫn chưa thể nhân nhanh để đáp ứng nhu cầu thương mại hoặc bảo quản nguồn gen Nhiều vấn đề liên quan đến nuôi cấy và tái

Trang 25

sinh tế bào thực vật invitro vẫn chưa được giải đáp.Chi phí sản xuất cao: vi nhân

giống đòi hỏi nhiều lao động kĩ thuật thành thạo nên giá thành sản phẩm còn khá cao

so với các phương pháp truyền thống như chiết, ghép và nhân giống bằng hạt.Hiện

tượng sản phẩm bị biến đổi kiểu hình: cây con nuôi cấy mô có thể sai khác với

cây mẹ ban đầu do hiện tượng biến dị tế bào soma Kết quả là cây con không giữ được đặc tính quý của cây mẹ Tỷ lệ biến dị thường thấp ở giai đoạn đầu nhân giống nhưng có chiều hướng tăng lên khi nuôi cấy kéo dài và làm tăng hàm lượng các chất kích thích sinh trưởng.Ứng dụng của phương pháp nhân giống vô tính invitroThời gian ngắn ( 1-3 năm ): vi nhân giống, sản xuất và bảo quản cây sạch bệnh.Thời gian trung bình ( 3-8 năm ): biến dị di truyền, nuôi cấy phôi soma, cứu phôi và lai tạo giống qua nuôi cấy đơn bội.Thời gian dài ( 8-15 năm ): lai tế bào soma và siêu sản xuất các chất thứ cấp có hoạt tính sinh học

2.2.2.3 Phương pháp nhân giống

Quy trình nuôi cấy mô tế bào

Trang 26

Giai đoạn 1: chuẩn bị cây làm vật liệu gốc và mô nuôi cấy

Chọn cây mẹ để lấy mẫu, thường là cây ưu việt, khỏe, có giá trị kinh tế cao

Mô nuôi cấy được chọn là đoạn thân có chồi ngủ ( mắt ngủ)

Mắt ngủ được rửa 5 lần với dung dịch chống oxy hóa( 150mg/lít acid citric và 100mg/l acid ascorbic) tránh mô bị nâu Sau đó được rửa chậm dưới vòi nước 24h Tiếp theo chúng được khử trùng bề mặt với NaOCl nồng độ 0.52% thêm 3 giọt Tween-20 trong 15phút Sau đó, đem rửa 3 lần với nước cất vô trùng

Giai đoạn 2: Chuẩn bị môi trường nuôi cấy và điều kiện

Sử dụng môi trường MS( Murashige and Shoog) bổ sung thêm vitamin, 3% đường sucrose và pH= 5.8± 1 ,

Bổ sung thêm các chất điều hòa tăng trưởng khác nhau như 6-benzylamino purine (BAP) như 1 cytokinins, -naphthalene acetic acid (NAA) và Indol-3-butyric acid (IBA) như 1 auxins Sau đó được giữ ở nhiệt độ phòng ( 25± 2 °C) dưới 16 giờ chiếu sáng dưới huỳnh quang trắng Và cứ 4 tuần chuẩn bị môi trường nhân nhanh 1 lần

Thân cây đang sinh trưởng mạnh, sạch bệnh dùng làm cây mẹ (Shoot tips establishment)

Trang 27

Giai đoạn 3: Cấy môi trường

Sử dụng môi trường có bổ sung BAP 0.5mg/l và NAA 0.1 mg/l cho cấy mô và giai đoạn này thường được giữ trong 4 tuần

Giai đoạn 4: Nhân nhanh:

Là giai đoạn kích thích mô nuôi cấy phát triển hình thái và tăng nhanh số lượng

Mô nuôi cấy ( dài 2-3cm) cấy vào môi trường MS+ 3.0 mg/l BAP + 0.2 mg/l NAA Giai đoạn này được ghi nhận sau 30 ngày

Giai đoạn nhân nhanh mô nuôi cấy Mắt ngủ được cấy vào môi trường thích hợp

Trang 28

Giai đoạn 5: Tạo rễ

Các chồi hình thành trong quá trình nuôi cấy có thể phát sinh rễ tự nhiên, nhưng thông thường chồi này cần phải cấy chuyền sang một môi trường MS bổ sung auxins tổ hợp (1.0 mg/l IBA và 0.5 mg/l NAA )để kích thích tạo rễ Giai đoạn này được xác định sau

4 tuần cấy

Giai đoạn 6: Chuyển cây ra đất trồng

Đây là giai đoạn đầu tiên, trong đó cây được chuyển từ điều kiện vô trùng của phòng thí nghiệm ra ngoài tự nhiên.Quá trình thích nghi với điều kiện bên ngoài của cây cần

sự chăm sóc đặc biệt

Các chồi gốc được giữ lại môi trường từ 14 đến 24ngày trước khi đem ra ngoài tự nhiên, để nâng cao hiệu quả của rễ

Cây được trồng trên giá thể tỷ lệ than bùn /cát (1:1), cây được che phủ bằng túi nilon,

Rễ tạo ra sau 30 ngày nuôi cấy

Hình ảnh cây giữ trong nhà kính

Trang 29

tưới phun sương đảm bảo cung cấp độ ẩm và làm mát Sau 20 ngày, bỏ chùm nilong và giữ cây trong nhà kính

3 Kỹ thuật trồng và chăm sóc nho

3.1 Chọn giống

Giống nho được trồng phổ biến NH01-93, NH01-48, NH01-96, Cardinal… dùng cho ăn tươi, giống NH02-90 dùng làm nguyên liệu chế biến rượu Mật độ trồng nho tùy thuộc vào giống và đất trồng: 1,5-2 x 2-2,5m

3.2 Làm giàn

Đặc điểm cây nho là cần leo giàn, vì vậy sau khi trồng cần làm giàn chon nho, độ cao của giàn khoảng 1,8-2m để tiện cho việc đi lại, chăm sóc Trồng trụ gỗ hoặc trụ bê tông dọc theo hàng nho với khoảng cách trung bình 10m/cây trụ, hai trụ biên cắm xiên 30 độ và neo chắc chắn Trên hàng trụ kéo một đường kẽm 4mm cho căng cứng và nằm trên đầu mỗi trụ, dùng kẽm 1mm hoặc cước 2mm đan lưới ô vuông trên giàn với độ rộng 20 – 25cm Sau khi ghép xong, nho sẽ lên chồi, chọn một chồi khỏe nhất cho lên giàn, buộc dây vào cây choái cho chắc chắn để gió không làm hỏng ngọn Mỗi cây nho cần cắm một cọc để nho leo, chọn ngọn nho khỏe nhất buộc vào cọc cho nho leo lên giàn, các ngọn hoặc cành còn lại cần cắt bỏ

3.3 Tạo tán cho cây nho

Khi ngọn nho vượt khỏi giàn 20 – 30cm, bấm bỏ ngọn thân chính ở dưới mặt giàn, cây nho sẽ mọc nhiều cành mới, giữ lại hai cành khỏe nhất ngược chiều nhau

và buộc dây cho nằm trên giàn theo một đường thẳng ngược chiều nhau dọc theo hàng nho, gọi là hai tay chính Khi hai tay chính dài 0,75m (giữa hai cây nho) thì bấm ngọn cho ra cành xương cá (cành thứ cấp), các cành xương cá mọc ngược chiều nhau và bò từ hàng nho này sang hàng nho kia Khi cành xương cá dài 1,25m (đoạn

Trang 30

giữa hai hàng nho) thì bấm ngọn Tùy từng giống nho và điều kiện dinh dưỡng mà giữ lại khoảng từ 10 – 20 cành xương cá, vì nếu để dày quá sẽ sinh sâu bệnh, không tốt (trên cành xương cá bấm bỏ tất cả các chồi nách)

Trong quá trình tạo tán, phải buộc dây chắc chắn vào giàn để gió không làm hỏng ngọn nho Khi đã bấm ngọn xương cá, không cho nho ra ngọn nữa mà tập trung nuôi cho các cành xương cá mập khỏe để chuẩn bị cắt cành cho ra hoa, lấy trái Thông thường, quá trình lên giàn, cây nho sẽ ra hoa và kết trái, nhưng rác rải, không tập trung và sẽ làm mất sức cây nho nên cần cắt bỏ

Khi cây nho được 10 tháng tuổi, tiến hành cắt cành cho trái Khi cắt cành, cây nho sẽ chấm dứt giai đoạn sinh trưởng và tập trung dinh dưỡng cao nhất vào mắt nho giúp nho nẩy mầm và ra hoa, kết trái đồng loạt, tạo điều kiện thuận lợi cho khâu chăm sóc, bảo quản và thu hoạch Thời điểm cắt cành lấy trái phụ thuộc vào thời điểm thu hoạch (nên chọn thời điểm giá nho trên thị trường cao) và điều kiện thời tiết thuận lợi (nên chọn thời điểm nắng nhiều, cường độ chiếu sáng cao, tránh mưa bão gây hư hại hoa)

Thông thường khi cắt cành khoảng 3 tháng sau khi thu hoạch (quy trình cụ thể: cắt cành 10 ngày sau nảy mầm, 20 ngày ra hoa, 25 – 30 ngày đậu trái, 35 – 60 ngày lớn nhanh, 60 – 80 ngày trái chuyển màu, 90 ngày thu hoạch, 120 ngày sau cắt cành cho ra trái vụ)

Thực hiện kỹ thuật cắt cành lấy trái như sau:

Trong bộ cành xương cá, chọn những cành to khỏe, lớn nhất bằng cây bút chì, dài hơn 1m, cắt ở vị trí mắt thứ 6 – 8 Số cành không đạt yêu cầu, cắt bỏ ở mắt thứ 1-2 để tạo cành dinh dưỡng cho kỳ thu hoạch vụ sau Khi hoa xuất hiện, cột cố định cành mang hoa dài 1,25m thì bấm ngọn và tỉa chồi nách cho cây nho tập trung dinh dưỡng nuôi hoa, trái (không phun thuốc trừ sâu lúc hoa nở sẽ làm hỏng hoa), một dây nho chỉ để 2 chùm, nếu để dày quá sẽ làm nhỏ trái, trong chùm tỉa bỏ trái dẹt,

Trang 31

dày, để lại khoảng 40 – 60% số trái trong một chùm cho to trái, ngưng phun thuốc trừ sâu trước 15 ngày thu hoạch để đảm bảo an toàn thực phẩm Có thể sử dụng thuốc kích thích sinh trưởng GA3 (Gibereline A 3) xịt trực tiếp lên trái để làm tăng kích thước và trọng lượng trái, xịt KNO3 hoặt Ethrel lúc cắt cành sẽ kích thích cây

ra hoa kết trái đồng loạt Dùng Ethrel chấm vào cuống chùm nho trước khi thu hoạch một tuần lễ sẽ giúp màu trái nho đồng đều, trái tươi hơn

3.4 Xới đất

Dưới tán giàn nho thường ít cỏ, mặt đất không phơi ra nắng, ít bị mất nước, đóng váng Tuy nhiên các người trồng nho xới đất mỗi vụ một lần để phá bỏ một phần bộ rễ cũ, tái tạo bộ rễ mới kết hợp bón phân, trộn đều vào đất

3.5 Tưới nước

Là một kỹ thuật quan trọng cùng với phân bón quyết định năng suất Tưới chỉ cần thiết vào vụ nắng và về mùa mưa có khi cũng phải tưới Đất thịt tưới nhiều nước hơn nhưng số lần tưới ít thường cách 10 - 15 ngày tưới một lần, nhưng thời kỳ ra hoa quả, sau 7 - 10 ngày đã lại cần tưới Đất cát tưới một lượng nước ít hơn nhưng

số lần tưới phải nhiều hơn, thường 5 - 7 ngày phải tưới một lần; khi lá nhiều, ra hoa quả - mỗi lần tưới chỉ cách nhau 3 đến 5 ngày

3.6 Kỹ thuật bón phân

3.6.1 Nhu cầu dinh dưỡng

điều kiện đất đai, khí hậu thời tiết và năng suất thu hoạch Tuy nhiên giới hạn chung của lượng dinh dưỡng lấy đi từ đất của cả thân, lá và quả biến thiên như trong bảng: Lượng dinh dưỡng cây hút khi năng suất đạt từ 7 - 25 tấn/ ha

Lượng dinh dưỡng đa lượng (kg/ha/năm)

N : P2O5 : K2O : MgO : CaO = 22-84 : 5-35 : 41-148 : 6-25 : 28–204

Trang 32

Lượng dinh dưỡng vi lượng (g/ha/năm)

Fe : B : Mn : Zn : Cu = 292 – 137 : 49 – 110 : 64 – 121 : 228 – 787 : 585 – 910 Nếu phần thân và lá được vùi trở lại đất thì ước tính nó chiếm khoảng 70% lượng N và 60% lượng P2O5 và K2O cây hút, do vậy nếu chỉ tính lượng dinh dưỡng lấy đi do năng suất thì sẽ rất nhỏ so với tổng lượng cây hút ở trên

3.6.2 Phương pháp phân tích lá nho để chuẩn đoán tình trạng dinh dưỡng

Người ta có thể phân tích lá nho để chuẩn đoán tình trang dinh dưỡng của cây Sau đây là các nguồn số liệu khác nhau về chuẩn đoán dinh dưỡng lá cho cây nho Do có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng nên khó có thể so sánh các nguồn số liệu này

Giới hạn hàm lượng dinh dưỡng đa lượng cần thiết cho sự sinh trưởng bình thường

8.9-4.1

1.2-53.1

20.5-5.6

1.7-20.6

Chín quả

Parsons &

Eaton, 1950

11.1

5.2-6.4

1.1-41.0

12.0-5.3

2.2-16.9

Chín quả

Ryser, 1983

21.2-24.6

1.9

1.7-18.9

16.3-2.6

2.2-27.6

23.8-* L = V labrusca, V = V vinifera, FH = French hybrid 23.8-*23.8-* Thời kỳ hoa

Nguồn: Cahoon, 1985

Trang 33

Một số giới hạn và quan hệ của các nguyên tố dinh dưỡng trong cuống lá thời

kỳ quả chín:

Nguyên tố dinh dưỡng

/ quan hệ

Giới hạn Đánh gía

(* so với chất khô) - Nguồn: Delas, 1990

Kết quả phân tích lá được sử dụng để chuẩn đoán dinh dưỡng và đưa ra các khuyến cáo về việc sư dụng phân bón

Dinh dưỡng cây trồng còn ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản phẩm Thừa

N có thể làm giảm cấu trúc mầu của quả và tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến chất lượng rượu và tăng khả năng bị nhiễm bệnh của cây Tương tự, thừa Kali có thể làm giảm

độ axit của quả và của hèm rượu và chính vì vậy ảnh hưởng xấu đến chất lượng rượu Thừa kali còn gây ra sự thiếu Magie do đối kháng ion giữa K và Mg

3.6.3 Phương pháp bón phân

Trang 34

Bón trước khi trồng: Cần bón lót phân sâu trong đất để nâng hàm lượng dinh dưỡng trong lớp đất sâu như Lân, Kali, Canxi, Magie Những chất này rất ít di động nên có thể tích lũy trong đất để cây sử dụng dần dần Mặt khác bón phân lót còn có tác dụng điều chỉnh độ chua đất, làm giảm sự gây độc của Al và Cu nếu đất chua Ngoài ra phân chuồng trong phân lót còn nâng cao độ mùn, tăng khả năng hấp thu dinh dưỡng cho đất Tùy theo số liệu phân tích đất lớp mặt và lớp dưới, số lượng dinh dưỡng cần bón dao động từ 0 - 600 kg P2O5, 0 -1000 kg/ ha K2O, 0 - 300 kg/

ha MgO, bón vôi (ở những nơi pH < 6) với liều 2000-10.000 kg/ ha CaO, và 0 - 100 tấn/ ha phân chuồng hay phân hữu cơ tương ứng

Bón hàng năm: Đối với giống nho rượu loại tốt, có năng suất nhỏ hơn 10 tấn/

ha bón 0 - 40 kg/ ha N, 20 - 50 kg/ ha P2O5, 60 - 100 kg/ ha K2O Đối với các vườn nho khác bón 60 - 120 kg/ ha N (bón nhiều hơn nếu có tưới), 20 - 50 kg/ ha P2O5,

100 - 150 kg/ ha K2O Nhìn chung phân N bón vào cuối thời kỳ ngủ nghỉ và trong thời gian sinh trưởng; Lân và Kali bón lót vào thời kỳ ngủ nghỉ của cây và, ở những vùng khí hậu ẩm ướt và đất nhe, có thể bón thúc như phân Đạm

Bón lên lá cho cây: Các nguyên tố K, Mg, B và Fe có thể được bón lên lá nếu

có biểu hiện thiếu Một số nguyên tố khác có thể được bón không chính thức thông qua thuốc trừ nấm, ví dụ: S dùng chống Oidium; Cu dùng trong thuốc Bordeaux; Mn

và Zn trong Dithiocarbamates dùng chống bệnh mildew

Ở Philippin (là một nước nhiệt đới, có điều kiện không khác nhiều so với Việt nam), Pantastico E B., Davide J G (1975) khuyên bón cho mỗi gốc nho (1 ha có khoảng 1000 gốc) ở vùng Xebu như sau:

Lượng phân bón cho nho trong 2 năm đầu

Trang 35

A KHI CHƯA RA QUẢ

9 Khi đã đậu quả

10 Khi quả đổi màu (xắp chín)

11 Sau khi thu hoạch

12 Nghỉ bón 1 - 2 tháng

13 1 - 2 tuần lễ trước khi đốn lần

2

14 Khi đã đậu quả

15 Khi quả đổi màu

16 Sau khi thu hoạch

0 35-42

0 30-38 59-74

0 35-42

400

0 1.5

3

6

11 18-21 34-43 14-18

0 35-42

0 34-43 14-18

0 35-42

300

0 1.5

3

6

11 18-21 14-18 14-18 120-150 35-42

0 14-18 14-18 120-150 35-42

Từ năm thứ 3 trở đi lượng bón có thể còn tăng, phân chuồng chỉ bón 1 lần/ năm

Dạng phân bón thích hợp: Nho là cây không đòi hỏi nhiều về mặt này Các

dạng Kali như Kali sulfate cũng không hơn gì Kali Clorua Tuy nhiên cần chú ý khi

Trang 36

đất mặn thì Kali Sulfate tỏ ra tốt hơn, hoặc khi lượng bón lớn, chẳng hạn 500 - 1000

Ở những ruộng nho làm rượu loại tốt, phân hữu cơ có hàm lượng đạm thấp thường được dùng nhằm không gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng

Trên thực tế sử dụng phân bón cho nho ở Việt Nam cho thấy có sự biến động rất lớn Trong cùng 1 vùng, việc dùng phân cũng biến động từ ruộng này sang ruộng khác và từ năm này sang năm khác Có những chỗ hoàn toàn không bón phân, lại có chỗ bón với lượng lớn, thừa thãi so với yêu cầu của cây Điều này có thể gây ra những rủi ro của sự ảnh hưởng xấu đến chất lượng sản phẩm do thiếu, thừa hay không cân đối dinh dưỡng Cần có sự nghiên cứu tìm ra cách bón phân hợp lý trên

cơ sở hiểu biết đất, nhu cầu của cây cùng với kết quả phân tích lá nho

3.6.4 Phương pháp bón sử dụng phân NPK

Thời kỳ kiến thiết cơ bản: Cây nho là cây có thời kỳ kiến thiết cơ bản ngắn Năm đầu tiên có thể coi như năm KTCB, còn các năm sau cây đã ở trong thời kỳ kinh doanh Trước khi trồng nho nhiệm vụ kiến tạo một môi trường dinh dưỡng thích hợp cho cây nho là rất quan trọng như đã nói ở trên Nho cần được bón 30 - 40 tấn phân hữu cơ/ ha trước khi trồng Chọn các loại phân thích hợp để bón lót cho nho như các loại NPK 14-8-6; 18-8-8-6; 19-7-8; 20-10-5; 20-10-10 v.v Với các loại phân này tính toán để bón lót cho mỗi gốc được 30 - 50g N Sau đó tiếp tục bón thúc cho nho ở các thời kỳ Liều lượng dành cho vườn nho có mật độ > 2000 cây/ ha như sau

• Một tháng sau trồng: Bón mỗi gốc 15 g N

• Ba tháng sau trồng: Bón mỗi gốc 20g N

• Năm tháng sau trồng: Bón mỗi gốc 25 g N

• Bảy tháng sau trồng: Bón mỗi gốc 30 g N

• Chín tháng sau trồng: Bón mỗi gốc 35 g N

Trang 37

• Một năm sau trồng: Bón mỗi gốc 40 g N

(lượng phân lân và kali được ăn theo trong phân hỗn hợp NPK)

Mỗi liều phân trên có thể chia bón làm 2 lần, hoặc rải đều trên toàn hầm nho, tránh bón quá tập trung có thể gây xót rễ Bón phân phải luôn kèm theo tưới nước để cây có thể sử dụng được ngay và tránh gây ra sự tranh chấp nước với cây, vì phân ở nồng độ cao sẽ giữ nước

Thời kỳ kinh doanh: Khi cây nho bước sang thời kỳ kinh doanh chọn phân bón ở các thời kỳ như sau:

• Sau khi thu hoạch: Mục đích bón lúc này là tiếp tục nuôi bộ lá làm cơ

sở cho sự tích lũy dinh dưỡng để bắt đầu 1 chu kỳ sau Loại phân đưa vào phải

có tác dụng duy trì bộ lá nhưng không kích thích ra chồi mới Chọn các loại phân sau để bón - NPK 11-7-14; 14-7-14, 10-5-10; 15-10-15; 16-6-16; 16-8-16; 17-10-17; 20-15-20 v.v Lượng bón được tính toán khoảng 30 g N/ gốc (mật độ

> 2000 cây/ ha)

• Trước khi cắt cành: Thời kỳ này thường là 1-2 tháng sau thu hoạch Bón thới kỳ này nhằm chuẩn bị dinh dưỡng sẵn sàng cho cây sau khi đâm chồi Chọn các loại phân như NPK 14-8-6; 18-8-8-6; 19-7-8; 20-10-5; 20-10-10 v.v

để bón Lượng bón được tính toán khoảng 25 g N/ gốc (mật độ > 2000 cây/ ha)

• Khi bắt đầu có trái: Khi có những trái đầu tiên lớn bằng đầu ngón tay

út thì bón Chọn các loại phân như NPK 11-7-14 hay 20-7-25 và các loại phân

có hàm lượng Kali cao khác để bón Lượng bón được tính toán khoảng 40 g N/ gốc (mật độ > 2000 cây/ ha)

3.7 Kỹ thuật thu hoạch nho

Đối với nho đỏ Cardinal thu hoạch vào khoảng thời gian 67-70 ngày sau khi

nở hoa, màu trái chuyển đỏ tươi hoàn toàn, có độ brix từ 13 trở lên Đối với nho

Trang 38

NH-01-48 thu hoạch trong khoảng thời gian 85-90 sau khi hoa nở, trái có màu xanh vàng nhạt, có độ brix từ 16 trở lên Để xác định độ brix ta sử dụng dụng cụ đo độ brix có mức đo khoảng 0 – 30 Căn cứ vào sự chuyễn màu sắc của trái, đối với nho đỏ Cardinal màu đỏ tươi hoặc hơi dậm tùy theo vùng đất, đối với nho xanh NH-01-48, màu xanh vàng nhẹ, nhìn vào hạt có chuyển màu nâu là thời điểm thu hoạch Nếu có

sử dụng các chất điều hòa sinh trưởng như GA3, nho NH-01-48 vẫn có màu xanh đậm khi chín

Nếu thu hoạch sớm quá, trái có vị chua và chát, hương vị không ngon Nếu thu hoạch trễ quá thì trái dễ bị hư, nứt quả, rụng nhiều trong quá trình vận chuyển và bảo quản

Khi thu hoạch dùng kéo cắt cuống chùm, đặt chùm nho nhẹ nhàng vào giỏ nhựa chứa khoảng 5kg có lót giấy mềm tránh va đập Cắt tỉa trái hư hỏng và trái nhỏ không đủ tiêu chuẩn

3.8 Kỹ thuật đóng gói và bảo quản

Để đóng gói nho, sử dụng thùng polystyren hoặc thùng carton cứng có tráng

lớp parafin bên trong giữ ẩm có kích thước 50 x 35 x 20 cm chứa 10kg nho

Trong trường hợp có kế hoạch bảo quản lâu hơn 1 tuần, dùng túi chứa metabisulfit sodium có liều lượng 8gr/thùng đặt trên lớp nho mặt Có một tờ giấy ngăn cách giữa túi này và nho Mục đích dùng metabisulfit sodium là để phóng thích

không làm hại đến màu sắc của nho

Để cung cấp cho siêu thị, nho được đóng gói bao phủ wrapping trên đĩa polystyren Trước khi bao gói xử lý nho trong rượu etanol 35% với nước ở nhiệt độ

Ngày đăng: 14/11/2018, 15:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] A.I.A. Abido, M.A.M. Aly, Sabah A. Hassanen and G.A. Rayan - In vitro Propagation of Grapevine (Vitis vinifera L.) Muscat of Alexandria cv. For Conservation of Endangerment Sách, tạp chí
Tiêu đề: A.I.A. Abido, M.A.M. Aly, Sabah A. Hassanen and G.A. Rayan - In vitro " Propagation of Grapevine ("Vitis vinifera
[2] Mahital Jamwal, Barinder Singh, Nirmal Sharma, Rajesh Kumar, Arti Sharma, R.M. Sharma, V.K. Wali and A.M. Parmar - In vitro Regeneration of Grape (Vitis vinifera L.) cv. Perlette Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mahital Jamwal, Barinder Singh, Nirmal Sharma, Rajesh Kumar, Arti Sharma, R.M. Sharma, V.K. Wali and A.M. Parmar - In vitro
[8] Nguồn web: http://www.ninhthuan.gov.vn/chinhquyen/sonnnt/Pages/Benh-than-thu-hai-nho-va-bien-phap-phong-tri.aspx Link
[9] Nguồn we b : http://kiemtailieu.com/kinh-doanh-tiep-thi/tai-lieu/cong-nghe-san-xuat-ruou-vang-hong-rose-wine Link
[11] Nguồn web: http://www.2lua.vn/article/quy-trinh-trong-nho-do-red-cardinal Link
[12] Nguồn web: http://www.ninhthuan.gov.vn/chinhquyen/sonnnt/Pages/Benh-than-thu-hai-nho-va-bien-phap-phong-tri.aspx Link
[3] L. cv. Listan Blanco. Acta Hort - Mederos, M., 2007. Culture medium requirements for micropropagation of Vitis vinifera Khác
[4] Nguyễn Thị Hằng – Các kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật dùng trong nhân giống vô tính Khác
[5] Krul; William R. Narragansett, RI, 1985 – In vitro propagation of grape Khác
[6] Nguyễn Thị Thanh – Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống cây nho lai bằng phương pháp nuôi cấy in vitro Khác
[7] Nguồn: FAO: Organisation Internationale de la Vigne et du Vin (pdf), Australian Wine and Brandy Corporation Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w