1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đào nguyên phổ trong đời sống văn hóa và văn học việt nam những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

118 569 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đào Nguyên Phổ Trong Đời Sống Văn Hóa Và Văn Học Việt Nam Những Thập Niên Cuối Thế Kỷ XIX, Đầu Thế Kỷ XX
Tác giả Đào Nguyên Phổ
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 20XX
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 815,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đào nguyên phổ trong đời sống văn hóa và văn học việt nam những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Văn học, Đào Nguyên Phổ

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Lí do chọn đề tài 3

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề: 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Mục đích nghiên cứu: 5

5 Phương pháp nghiên cứu: 6

6 Cấu trúc của luận văn: 6

Chương 1 Tiểu sử và những bước chuẩn bị cho sự nghiệp 8

của Đào Nguyên Phổ 8

1.1 Sơ lược tiểu sử 8

1.2 Từ hành trình của một nhà nho chính thống 17

1.3 Đến một nhà nho có tư tưởng canh tân 20

Chương 2 Những hoạt động và đóng góp của Đào Nguyên Phổ trong lĩnh vực văn học, văn hoá cụ thể 29

2.1 Đào Nguyên Phổ- nhà báo tiên phong 29

2.1.1 Khái quát chung về tình hình báo chí những ngày đầu xuất hiện 29

2.1.2 Báo chí Bắc Kỳ và vai trò của nhà báo Đào Nguyên Phổ 32

2.2 Đào Nguyên Phổ và Đông Kinh Nghĩa Thục 43

2.2.1 Đông Kinh Nghĩa Thục - một tổ chức yêu nước đầu thế kỷ XX 43

2.2.2 Hoạt động của Đào Nguyên Phổ trong Đông Kinh Nghĩa Thục 53

2.3 Văn chương Đào Nguyên Phổ 59

2.3.1 Những bài đề tựa 60

2.3.2 Các sáng tác 71

2.3.3 Văn học dịch 86

Chương 3 Đào Nguyên Phổ trong dòng chảy văn chương những thập niên cuối thể kỷ XIX, đầu thế kỷ XX 93

Trang 2

3.1 Toàn cảnh văn chương thời đại cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX 93

3.1.1 Xu hướng yêu nước 93

3.1.2 Xu hướng hiện thực trào phúng 94

3.1.3 Xu hướng lãng mạn thoát ly, khoái lạc chủ nghĩa 95

3.1.4 Xu hướng văn học nô dịch 96

3.2 Sự lựa chọn của Đào Nguyên Phổ 97

3.2.1 Đối diện với sự khủng hoảng nhiều mặt của xã hội 97

3.2.2 Chọn cây bút thay vì gươm đao truyền thống 101

KẾT LUẬN 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Trong nghiên cứu văn học, có một thực tế/ hạn chế mà cho đến nayhầu hết các nghiên cứu viên chuyên sâu đều có thể nhận thấy đó là các tác giảvăn học được đưa vào nghiên cứu chỉ thuộc vào thiểu số, là “phần nổi” củatảng băng trôi, phần mà ai cũng có thể dễ dàng nhìn thấy, kể cả những kẻ

“ngoại đạo” Cách nghiên cứu theo kiểu “đại biểu”, “đại diện” này ngày càng

tỏ rõ những mặt hạn chế không thể che dấu được Đó là: thứ nhất, nghiên cứunhư vậy sẽ không làm rõ được thực tế của văn chương; thứ hai, cách chọn lựa

“đại biểu” như vậy sẽ không có được cái nhìn toàn diện, tổng hợp và đa dạng

về văn chương Mà văn chương lại thuộc phạm trù nghệ thuật, rất cần/ bắtbuộc phải cần đến sự phong phú, đa dạng này Đằng sau những tên tuổi đã nổidanh từ trước đến nay trong văn học trung đại như: Nguyễn Khuyến, TúXương, Tản Đà, Phan Bội Châu…có rất nhiều những tác giả khác chưa đượcnghiên cứu đầy đủ , mặc dù họ đã góp phần làm nên diện mạo văn học củamột thời Đào Nguyên Phổ là một tên tuổi như vậy

Đương thời, Đào Nguyên Phổ là người nổi trội, có vị trí đáng nể trong

“trường văn trận bút”, nổi tiếng là hay chữ và có tài năng thực sự Ông đỗ đạtkhá sớm, đã từng đỗ đến Đình Nguyên Hoàng giáp- đỗ đầu kỳ thi Đình và cónhững dấu ấn rõ nét trên con đường khoa cử, trong lòng cộng đồng sĩ phu hồi

đó, nhất là cùng một lúc cộng tác với ba tờ báo Người ta đã ghi nhận ĐàoNguyên Phổ là nhà văn, nhà báo, người hoạt động văn hoá, văn học có têntuổi vào những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Tuy nhiên, đối vớicác học giả hiện đại thì Đào Nguyên Phổ vẫn bị quên đi Qua tất cả các biếnthiên lịch sử, các tiêu chí lựa chọn trong các công trình nghiên cứu thì ĐàoNguyên Phổ vẫn vô danh

Trang 4

1.2 Tại sao tên tuổi của Đào Nguyên Phổ vẫn vô danh, bị mờ nhạt,khuất lấp, quên lãng? Đó là do sự chi phối xét cho cùng của quan niệm vănchương trong xã hội tinh thần ở một số thời điểm khác nhau chưa thật chuẩn

so với cái lẽ ra văn chương phải được hình dung như thế Và sự chi phối rất rõcủa sự gắn văn học và chính trị, mà thái độ chính trị lại được quy vào đơngiản là yêu nước, đến lượt mình, yêu nước lại được quy chiếu vào trục hànhđộng đơn giản nữa là trực tiếp cầm vũ khí chiến đấu hoặc chiến đấu bằng vănchương, bằng ngòi bút Chính vì vậy nhiều tác giả có dấu ấn trong vănchương nhưng vẫn bị “nâng lên đặt xuống” nhiều lần

Đã đến lúc phải trả lại cho văn học những giá trị tự thân Cúng từ đó

mà phải tái hiện, trả lại vị trí mà Đào Nguyên Phổ xứng đáng được hưởng đểhình dung sát hơn về lịch sử văn học Chúng tôi không có tham vọng sẽ khắcbia tạc tượng Đào Nguyên Phổ hay một số nhân vật bị lãng quên song chúngtôi thấy rằng cần nghiên cứu họ một cách nghiêm túc khách quan để thôngqua đó nghiên cứu những tầng vỉa trong chiều sâu văn học, thấy được một cáinhìn toàn diện, sâu sắc về một giai đoạn văn học, để hình dung sát hơn về lịch

sử văn học, trả lại công bằng trong văn học

Chính vì thế chúng tôi chọn đề tài “Đào Nguyên Phổ trong đời sốngvăn hoá, văn học Việt Nam những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX”cho luận văn của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Như trên đã nói, tên tuổi Đào Nguyên Phổ đã bị một lớp bụi của thờigian phủ kín nên từ trước đến nay không có nhiều công trình nghiên cứuchuyên sâu về ông

Năm 1989, sở Văn hoá và Thông tin tỉnh Thái Bình đã xuất bản cuốnsách để vinh danh những người con quê lúa “Danh nhân Thái Bình”, ĐàoNguyên Phổ cũng được góp mặt một cách khiêm tốn vào tập ba của sách với

Trang 5

dung lượng ba trang Với dung lượng ít ỏi như vậy nên về cơ bản sách chỉgiới thiệu một cách sơ lược về tiểu sử, thân thế sự nghiệp của Đào NguyênPhổ chứ chưa thể đạt tới yêu cầu của một bài nghiên cứu chuyên sâu về mộtnhân vật lịch sử.

Cho đến năm 2008, với những nỗ lực bất chấp tuổi tác của Đào DuyMẫn, cùng với sự góp mặt chủ yếu của GS Chương Thâu và nhiều nhà nghiêncứu, quan chức, bạn bè ở Thái Bình, cuốn “Đình Nguyên Hoàng giáp ĐàoNguyên Phổ” được xuất bản nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày mất của ĐàoNguyên Phổ Đây là cuốn sách tập hợp được (dù là chưa đủ) các tác phẩm củaĐào Nguyên Phổ cả về sáng tác, dịch thuật, viết lời tựa Bên cạnh đó, cuốnsách cũng tập hợp được khá nhiều bài nghiên cứu, bài viết về danh sĩ họ Đàoquê lúa ấy Có thể nói đây là công trình quy mô và có giá trị nhất viết về ĐàoNguyên Phổ tính đến thời điểm hiện tại

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Với đề tài “Đào Nguyên Phổ trong đời sống văn học và văn hoá ViệtNam những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX”, chúng tôi tập trungnghiên cứu về danh sỹ Đào Nguyên Phổ: cuộc đời và sự nghiệp của ông Đặcbiệt, chúng tôi tập trung vào hai khoảng thời gian quan trọng trong cuộc đờiông là lúc ông ở Huế (Từ 1895 đến 1900) khi ông học trường Giám được tiếpxúc với nhiều tân thư tân văn và quãng thời gian ông ở Hà Nội làm báo (từ

1901 đến khi mất)

4 Mục đích nghiên cứu:

Khi tiến hành đề tài nghiên cứu “Đào Nguyên Phổ trong đời sống vănhóa và văn học Việt Nam những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX”chúng tôi mong rằng lịch sử sẽ nhìn nhận đến Đào Nguyên Phổ với nhữngđóng góp của ông và ghi nhận những đóng góp đó

Trang 6

Qua việc khảo sát, phân tích, đánh giá những tư tưởng mới mẻ của ông

về sự nghiệp canh tân và lựa chọn sự nghiệp viết báo, có thể hiểu rõ hơn vềnhững tiến bộ trong cách nghĩ và hành động của Đào Nguyên Phổ

5 Phương pháp nghiên cứu:

Để đạt hiệu quả cao nhất cho mục tiêu nhận thức đúng vị trí của ĐàoNguyên Phổ trong lịch sử, chúng tôi sử dụng phối kết hợp các phương phápsau:

- Phương pháp xã hội học: chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp xã hộihọc để chú ý tới các tác nhân đã ảnh hưởng đến cuộc đời và sự nghiệp củaĐào Nguyên Phổ

- Phương pháp so sánh: dựa vào phương pháp so sánh, chúng tôi sẽ chỉ

ra được sự giống và khác nhau về sự lựa chọn con đường sự nghiệp giữa ĐàoNguyên Phổ và các sỹ phu cùng thời để thấy được sự tiến bộ tích cực ở nhà tưtưởng canh tân này

- Phương pháp phân tích- tổng hợp: đây là phương pháp chủ đạo xuyênsuốt toàn bộ luận văn nhằm đánh giá một cách logic, khách quan hành trạngcủa Đào Nguyên Phổ chúng tôi sẽ đi sâu phân tích những đóng góp của ôngtrên các phương diện, sau đó chúng tôi sẽ tổng hợp lại để đi đến những kếtluận nhằm đạt đến mục đích của đề tài

6 Cấu trúc của luận văn:

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận luận văn cuả chúng tôi chia làm 3 nội

dung lớn được trình bày trong 3 chương như sau:

Chương 1: Tiểu sử và những bước chuẩn bị cho sự nghiệp của ĐàoNguyên Phổ

Trang 7

Chương 2: Những hoạt động và đóng góp của Đào Nguyên Phổ tronglĩnh vực văn học, văn hóa cụ thể

Chương 3: Đào Nguyên Phổ trong dòng chảy văn chương những thậpniên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

Trang 8

Chương 1 Tiểu sử và những bước chuẩn bị cho sự nghiệp

của Đào Nguyên Phổ.

1.1 Sơ lược tiểu sử.

Đào Nguyên Phổ (1861 – 1908) thuộc vào hàng ngũ “thế hệ Phan BộiChâu” Toàn bộ cuộc đời không dài của Đào Nguyên Phổ nằm trọn trong giaiđoạn đầu của cuộc xâm lăng của thực dân Pháp, cũng là giai đoạn đầu củacuộc chống xâm lăng mà dân tộc Việt Nam tiến hành chống chủ nghĩa thựcdân phương Tây : một giai đoạn xã hội có nhiều biến động, có sự chuyểnmình đau đớn, có sự khủng hoảng, bế tắc trong đường lối cứu nước Vì vậy cảcuộc đời Đào Nguyên Phổ, dù ít dù nhiều, trong mỗi lựa chọn, mỗi biến cốđều nằm trong “từ trường” của cuộc kháng chiến chống Pháp trường kỳ giankhổ Hơn nữa, là người sớm nhập cuộc, tính cách và chí hướng của ông gắn

bó rất chặt chẽ với thời thế

Đào Nguyên Phổ sinh ra và lớn lên tại làng Thượng Phán, tổng ĐồngTrực huyện Quỳnh Côi, Thái Bình (nay là xã Quỳnh Hoàng, Quỳnh Phụ, TháiBình) Lúc nhỏ, Đào Nguyên Phổ có tên là Đào Doãn Cung, tên thân mậtthường gọi ở nhà là cậu Ba Gia đình Đào Nguyên Phổ cũng như dòng họ Đàotrước Đào Nguyên Phổ không phải là một dòng họ nổi tiếng về khoa cử, giađình của Đào Nguyên Phổ không phải là một gia đình thế nho Thân phụ củaĐào Doãn Cung là Đào Văn Lịch đỗ cử nhân khoa Mậu Thìn, triều Tự Đứcnăm thứ 21 (1868) Sau khi thi đỗ, ông Lịch được bổ làm tri huyện BìnhXuyên (Vĩnh Phúc) một thời gian rồi về quê dạy học Trước Đào Văn Lịch,tên tuổi dòng họ Đào hoàn toàn vắng bóng trong các bảng vàng hoặc trongcác ngạch quan chức, nằm trong đại đa số những người “vô danh” rất bìnhthường ở làng Thượng Phán Đến Đào Nguyên Phổ, cuộc đời và tên tuổi cóthể nổi danh thì lại rơi vào thời kỳ mà xã hội Việt Nam có rất nhiều ba động

Trang 9

Trước khi Đào Nguyên Phổ ra đời ba năm, thực dân Pháp nổ súng vào cửabiển Đà Nẵng, bắt đầu đưa nước ta vào thời kỳ chiến tranh đau thương NămĐào Nguyên Phổ cất tiếng khóc chào đời cũng là năm thực dân Pháp chínhthức xâm lược nước ta Chỉ một năm sau đó, năm 1862, thực dân Pháp épbuộc triều đình cắt ba tỉnh miền Đông cho chúng là Gia Định, Định Tường vàBiên Hoà Đến năm 1867, thực dân Pháp lại thực hiện tiếp ý đồ xâm chiếmtừng bước nước ta khi chúng yêu cầu triều đình cắt ba tỉnh miền Tây là VĩnhLong, An Giang, Hà Tiên cho chúng Có được Nam Kỳ, thực dân Pháp sẽ lầnlượt chiếm nốt Bắc Kỳ và Trung Kỳ như một logic tất yếu Tuy ở mỗi kỳchúng áp dụng một hình thức cai trị khác nhau (Nam Kỳ là xứ trực trị, thuộcđịa còn Bắc Kỳ và Trung Kỳ là đất bảo hộ) nhưng trong thực chất, thì quyềnlực của thực dân Pháp bao trùm trên toàn cõi Việt Nam.

Ngay từ khi thực dân Pháp đặt chân đến đất nước ta, nhân dân ta, nhất

là nhân dân Nam Kỳ đã đứng lên kháng chiến chống lại sự xâm lược đó Rồicác cuộc khởi nghĩa ở khắp nơi nổ ra như khởi nghĩa ở Huế năm 1866, khởinghĩa Cần Vương năm 1885

Có thể nói cho đến lúc này và cả sau này, ở Thái Bình không có nhiềuphong trào kháng Pháp thật rộng lớn chính vì vậy guồng quay của cuộc sốngvẫn quay theo những đường ray sẵn có từ trước Cậu bé Đào Doãn Cung đượccha định hướng theo nghiệp khoa cử truyền thống

Đào Doãn Cung tuổi trẻ đã nổi tiếng là người hay chữ, học chữ maunhớ, thông minh, có tài ứng đối Doãn Cung tham dự vào khoa trường rấtsớm Năm 17 tuổi đã đỗ tú tài Sau đó, đi dạy học (từ 1878 đến 1883) lần lượt

ở các địa phương như: Duyên Hà (Thái Bình), Phù Cừ (Hưng Yên) GS sửhọc Đinh Xuân Lâm nhận xét hành động này là “lòng tôn trọng và gắn bó với

“nghề thầy” cao quý, đồng thời cũng cho thấy sự lạnh nhạt của ông đối vớiquan trường”[61; tr 189] Có lẽ “giáo nghiệp” đã như một thứ trời định cho

Trang 10

Đào Nguyên Phổ Trước sau trong cuộc đời, Đào Nguyên Phổ đã có tám nămlàm thầy đồ dạy học tại gia và chín tháng làm thầy giáo ở Đông Kinh NghĩaThục Ngoài ra Đào Nguyên Phổ còn có thời gian dài tới sáu năm (1884 đến1890) làm giáo thụ: vừa làm quan quản lý việc học hành (học quan), lại vừalàm thầy trực tiếp ở Tam Nông, Hưng Hoá Vậy là Đào Nguyên Phổ đã cốnghiến gần một phần tư đời mình cho công tác giáo dục của đất nước, mặc dù ởmảng giáo dục, ông chưa được đề cao như các mảng hoạt động khác Nhưngnhư đã biết, thời đại nào cũng vậy giáo dục cũng là một hoạt động, một lĩnhvực hết sức quan trọng để dạy thế hệ trẻ biết kiến thức, biết kỹ năng để sống,làm người Giáo dục dạy con người đạo lý ở đời, biết yêu chính nghĩa, lẽ phải,yêu quê hương đất nước; biết ghét những điều sai trái, biết đấu tranh để bảo

vệ lẽ phải, bảo vệ chính nghĩa Giáo dục góp phần không nhỏ định hướng tưduy con người

Năm 1883, 1884 triều đình lần lượt ký với Pháp hai hòa ước mà thựcchất là hàng ước, đó là hòa ước Quý Mùi và Giáp Thân (hay còn gọi là điềuước Hăcmăng và điều ước Patơnôt) Hai hàng ước này đã đánh dấu sự bất lựccủa triều đình Huế trước sức mạnh của kẻ thù Kẻ thù hoàn toàn xa lạ, hơn ta

về mọi mặt: vũ khí, phương tiện, kỹ thuật và trên hết là hơn ta cả một phươngthức sản xuất Đây cũng là thời điểm mà Đào Nguyên Phổ chính thức bướcvào nghiệp quan trường đầy sóng gió (1884) Cả triều đình hàng giặc, vịhuyện quan trẻ tuổi Đào Nguyên Phổ còn làm gì được nữa trong cương vị củamình! Ông rơi vào tâm trạng chán chường và tham gia vào các sự kiện vănhọc, văn hoá văn nghệ nhiều hơn là tham chính Hai bản dịch “Tiền Xích Bíchphú” của Tô Đông Pha và khoảng 500 bài thơ thù tạc, ký thác tâm sự bài hát

ca trù đã ra đời trong thời gian ông làm quan ở vùng đất Kinh Bắc nhiềutruyền thống văn hoá này Ngoài việc tích cực, nhiệt tình tham gia những hoạtđộng văn hoá thì những sự kiện, những nhân vật, thủ lĩnh yêu nước ở những

Trang 11

địa phương lân cận cũng có ảnh hưởng, tác động không nhỏ tới Đào NguyênPhổ Đó là tấm gương sáng về nhân cách của người tri thức yêu nước NguyễnQuang Bích - người đồng hương với Đào Nguyên Phổ Nguyễn Quang Bích

là Hiệp Thống Bắc Kỳ quân vụ đại thần, quan tổng đốc, Hoàng giáp tiến sĩ,dựng cờ cứu nước được hơn mười năm, gây dựng được căn cứ vững mạnh ởmột vùng phía Bắc nhưng vì sống lâu trong điều kiện thiếu thốn của rừngthiêng nước độc nên qua đời Đó còn là Hoàng Hoa Thám, một thủ lĩnh xuấtsắc trong cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế đang khiến cho thức dânPháp phải kiêng dè Doanh trại của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám nằm ởhuyện Yên Thế, phủ Lạng Giang, tiếp giáp với huyện Võ Giàng thuộc phủ TừSơn - nơi Đào Nguyên Phổ đang làm tri huyện nên Đào Nguyên Phổ khôngchỉ nghe đến danh tính lẫy lừng của con hùm xám Yên Thế mà còn có quan

hệ đi lại với Đề Thám Về Đề Thám, một viên chức của Pháp đã có nhận xétrất trân trọng như sau: “Tên tuổi của Đề Thám đã trở thành như một biểutượng rất được trân trọng để liên kết tất cả những người bất mãn Xung quanhtên tuổi của Đề Thám đã hình thành một huyền thoại về chủ nghĩa anh hùng,

về tài năng của một chiến binh đối với người An Nam, đó là vị thủ lĩnh báchchiến bách thắng”

Vị tri huyện Võ Giàng tỉnh Bắc Ninh ngồi chưa nóng chỗ thì đã phảirời bỏ ghế quan huyện Năm 1891, trên địa bàn huyện Võ Giàng nơi ĐàoNguyên Phổ đang cai quản xảy ra vụ mất tiền thuế của huyện, gần một nửa sốtiền thuế không cánh mà bay Và tất nhiên trách nhiệm thuộc về Đào NguyênPhổ chứ không phải ai khác Khi đó, vị huynh trưởng Đào Thế Mỹ (người anh

đỗ cùng khoa thi với Đào Nguyên Phổ năm 1778) cũng đang làm quan trihuyện ở Hải Dương xin chuyển về Võ Giàng gánh vác trách nhiệm thay em,

lo lót, chạy tội giúp em Sau cùng, Đào Nguyên Phổ đã “hạ cánh an toàn”, chỉ

bị bãi chức mà không bị ngồi tù Về sự việc để mất tiền thuế này có nhiều ý

Trang 12

kiến khác nhau Những ý kiến này cơ hồ trái ngược nhau hoàn toàn Luồng ýkiến tích cực thì cho rằng quan tri huyện Đào Nguyên Phổ đã ngầm mang tiềnthuế để giúp đỡ nghĩa quân Đề Thám Có một số tư liệu cho rằng vị tri huyện

Võ Giàng này có quan hệ đi lại với Hoàng Hoa Thám, sau này trở thành hùmxám Yên Thế, nhiều phen khiến giặc Pháp lo sợ, phải tìm cách thu phục, diệttrừ

Luồng ý kiến bên kia (tiêu cực) thì cho rằng vì nghiện thuốc phiện nênĐào Nguyên Phổ đã biến tiền thuế của huyện tan thành mây khói Tác giả của

“Đông Kinh Nghĩa Thục và phong trào Duy tân đầu tiên ở Việt Nam” đã đềcập đến chuyện Đào Nguyên Phổ hối hận vì đã từng sống phóng túng, hưởnglạc, buông thả Đào Nguyên Phổ đã “trăn trối” với Lương Văn Can như sau:

“Tôi chỉ vì lúc nhỏ đậu sớm nên đâm ra chơi bời hút xách, rượu chè đủ tật Cổnhân nói “Thiếu niên cao khoa nhất bất hạnh dã” thật đúng vậy”

Nhà nho hành đạo Đào Văn Mại lại bước sang con đường ẩn dật bấtđắc dĩ, lại làm một thầy đồ giống như trước khi ra làm quan Nhưng lần thứhai làm thầy đồ này của Đào Văn Mại có nhiều nét khác lần trước Đã đi khánhiều địa phương thuộc đồng bằng sông Hồng và trung du miền núi phía Bắc,tình hình thời cuộc đất nước không khỏi khiến cho Đào Văn Mại lưu tâm.Cho nên khi đi dạy ở Nam Trực trong những năm từ 1891 đến 1894, thầy đồĐào Văn Mại tích cực kết giao với nhiều người vừa tài năng, vừa khí tiết, lại

có chí hướng muốn tham gia vào công cuộc giải phóng dân tộc, phát triển đấtnước như Nguyễn Hữu Cương hay còn gọi là Cả Cương (1855- 1912), NgôQuang Đoan (1872-1945) con Nguyễn Quang Bích… Tất cả hầu như đềuthuộc thế hệ Đào Nguyên Phổ hoặc là lớp đàn anh, đàn em đang cùng nhautìm cách đánh giặc cứu nước bằng những vũ khí riêng của mình Các nhà Nhoyêu nước này nhận ra rằng cần phải chuyển biến trong nhận thức, cần thay đổisuy nghĩ và hành động bởi những tri thức Khổng Mạnh mà họ dùi mài bấy lâu

Trang 13

nay giờ không thể đủ để trang bị cho họ trước thời cuộc mới nữa Chính vìvậy mà cánh cửa nhà thầy đồ họ Đào ở luôn rộng mở đón khách các nơi vàchính bản thân ông cũng chủ động đi khắp nơi để củng cố những mối quan hệ

cũ và mở rộng thêm những mối quan hệ mới Trong số những người bạn mới

ấy có Nguyễn Thượng Hiền, một người có vị trí quan trọng hàng đầu trongđời sống chính trị và văn hoá lúc đó Sinh ra trong gia đình thế nho, mới 17tuổi đã đỗ Hội nguyên, lại có bố đẻ và hai bố vợ là quan đầu triều, là bạn củaNguyễn Lộ Trạch (người có tư tưởng cải cách xã hội sớm), Nguyễn ThượngHiền đóng vai trò như một kim chỉ nam cho các nhân vật “từ tao nhân mặckhách đến các chí sĩ ôm ấp hoài bão cứu nước” Chính vì vậy mà “Tăng Bạt

Hổ từ Nhật trở về, Ngô Đức Kế từ Hà Tĩnh, Phan Bội Châu từ Nghệ An vào,Phan Châu Trinh, Nguyễn Thành (tức Nguyễn Hàm) từ Quảng Nam ra…khiđến Huế đều tìm cách ra mắt và trao đổi với ông những tin tức và những nhậnđịnh cá nhân, chờ đợi ở ông những ý kiến hay những đề nghị hành động”[78;

tr 85] GS sử học Chương Thâu đã sưu tầm, giới thiệu và ghi chép lại cuộchội kiến khá thú vị giữa Nguyễn Thượng Hiền và Phan Bội Châu khi NguyễnThượng Hiền đang làm việc tại Quốc Sử Quán (Huế) Sự ra mắt của Phan Bội

Châu trước Nguyễn Thượng Hiền được thực hiện qua một bài phú (Bái thạch

vi huynh) thể hiện rõ chí khí của mình và bài phê của Nguyễn Thượng Hiền

cũng bằng một bài thơ hay không kém bài phú của Phan Bội Châu Vănchương là địa hạt để các tao nhân mặc khách thể hiện mình và tìm nhữngngười cùng chí hướng, hoài bão với mình

Tiếng tăm và tài năng của Hoàng Giáp Nguyễn Thượng Hiền khiến choĐào Văn Mại cũng giống như nhiều nhà khoa bảng trẻ, nhiều yếu nhân củaphong trào Duy Tân sau này tìm đến Nếu như Phan Bội Châu ra mắt NguyễnThượng Hiền bằng một bài phú qua gợi ý của Đặng Nguyên Cẩn thì thủ tục ramắt của Đào Nguyên Phổ lại là một vế đối Cách thử tài mang tính chất “cổ

Trang 14

điển” này chuyên được sử dụng cho những nho sinh và khi vào gặp NguyễnThượng Hiền, Đào Văn Mại cũng nhận mình là nho sinh lận đận trong thi cử.

Vế xuất đối mà Nguyễn Thượng Hiền đưa ra là: Kim Mộc Thuỷ Hoả Sĩ Suynghĩ một lát, Đào Văn Mại đưa ra vế đối là: Tâm Can Tì Phế Hiền

Vế đối của Đào Văn Mại đảm bảo đầy đủ những yêu cầu của luật đối,hơn nữa lại thể hiện rõ được chí khí của người đối đáp; lại cân xứng đến cảtừng tiểu tiết so với vế xuât đối Quả là những bậc tài trí lớn gặp nhau

Sau thủ tục “kiểm tra” Đào Văn Mại, Nguyễn Thượng Hiền đã coi ôngnhư một người bạn tri âm, tri kỷ Họ cùng bàn luận về thời thế, về bản thân,cùng tìm ra những đường hướng hành xử thích hợp trong lúc vận nước khókhăn này Ông Hoàng Giáp họ Nguyễn vì thấy thời cuộc đương rối loạn nên

dù đã đỗ Hoàng Giáp năm 1892 mà vẫn xin được nghỉ về nhà mười năm đọcsách, để làm một tiều phu trẻ núi Nưa Còn đối với người bạn mới này, ôngHoàng Giáp họ Nguyễn khuyên nên tiếp tục con đường học vấn để rèn tài lậpchí, tìm cơ hội để kết bạn đồng tâm, sau này mưu việc lớn Nghe lời NguyễnThượng Hiền, Đào Văn Mại từ đây đổi tên là Đào Nguyên Phổ vào Huế xinhọc ở Quốc Tử Giám Thời Nguyễn đến vua Thành Thái đã có những quyđịnh khá chặt chẽ về việc tuyển chọn giám sinh để vào học ở Quốc Tử Giám

từ hai đến bốn năm để chuẩn bị cho thi Hội Mỗi giám sinh đều phải trải quabốn kỳ thi, ai đạt điểm yêu cầu thì được dự tiếp kỳ thi Đình để lấy bằng Tiến

sĩ (có ba cấp: đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân và đệtam giáp tiến sĩ xuất thân) Đối tượng tuyển sinh vào học Quốc Tử Giám đượcchia làm ba loại: tôn sinh là con cháu hoàng tộc, ấm sinh là con quan, cốngsinh là con dân thường Chia như vậy chỉ nhằm mục đích phân loại các thísinh còn khi thi cử đều tính điểm công bằng như nhau Tất cả đều phải đạtđiểm cao qua các kỳ thi, có bằng cử nhân và có đủ chứng chỉ của bốn kỳ thiHội

Trang 15

Vào học trường Giám được một thời gian, quan Tế Tửu của trườngthấy Đào Nguyên Phổ tuy với danh phận là cống sinh nhưng tài giỏi, lại cóchủ kiến nên đã gửi gắm người con gái yêu là Nguyễn Thị Châu cho ông Vịquan Tế tửu này để con gái lấy làm lẽ một anh học trò có lẽ do đặt rất nhiềutin tưởng vào tương lai của anh học trò họ Đào này Lúc này, ngoài hai bà vợ

đã mất là bà Hy Hà và bà ở Hưng Yên, ông còn có bà vợ ở Nam Định là conquan phủ, bà Châu là vợ thứ tư Sau này ông còn có thêm một bà vợ nữa là bàDuyên Hà Trong số năm bà vợ ấy thì chính bà vợ thứ tư (tức bà Châu) làngười đã sinh hạ ra cho ông người con trai sau này có thể “nối nghiệp cha” vàlàm rạng danh dòng họ Đào thế hệ kế tiếp, đó là nhà báo, học giả Quán ChiĐào Trinh Nhất Nhưng đó là sau này, khi Đào Nguyên Phổ đã “mồ yên mảđẹp”, còn bây giờ, khi lấy bà Châu, được ở nhà bố vợ là một may mắn lớn choĐào Nguyên Phổ Nhà vị quan Tế tửu trường Giám khi đó có rất nhiều sách,nhất là các sách về Tân thư, Tân văn Chính vì vậy mà đương nhiên ĐàoNguyên Phổ được tiếp xúc với những tài liệu quý đó Bản thân Đào NguyênPhổ cũng là người được biết đến luồng gió mới Tân thư, Tân văn trước cảPhan Bội Châu, Phan Châu Trinh - hai người mà không bao lâu sau sẽ trở

thành những lãnh tụ của hai phe phái yêu nước lớn nhất cả nước là minh xã và

ám xã.

Khi khoá học ba năm ở trường Giám kết thúc, Đào Nguyên Phổ đãvượt qua các kỳ thi rồi dự thi Đình khoa Mậu Tuất năm Thành Thái thứ 10(1898) Đào Nguyên Phổ hăm hở ứng thí Công lao dùi mài kinh sử của ĐàoNguyên Phổ đã có kết quả, ông đỗ Đình Nguyên Hoàng Giáp mặc dù khôngđạt điểm tuyệt đối nhưng không có ai đỗ trên ông Vậy là song hỷ lâm môn,

cả tiểu đăng khoa và đại đăng khoa Đào Nguyên Phổ đều đạt được ĐàoNguyên Phổ được triều đình giữ lại làm quan Hàn lâm thừa chỉ, chức quanchuyên soạn thảo các chỉ dụ cho nhà vua, phụ trách sưu tập sách, tài liệu phục

Trang 16

vụ cho việc học tập của các giám sinh và nhận lưu giữ, chú giải các văn thơ,phú, chiếu, biểu…trước khi phổ biến rộng trong nhân gian Cũng trong thời

gian này, ông tham gia lớp học tiếng Pháp tại Pháp tự Quốc gia học đường.

Làm quan chưa đầy một năm, năm 1902, Đào Nguyên Phổ được triềuđình “tín nhiệm” cử ra Hà Nội tham gia làm báo Ông bắt đầu sự nghiệp nhà

báo của mình tại Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo với vai trò chủ bút Sau đó, năm 1905, Đào Nguyên Phổ lại mở Đại Việt Tân Báo với E.Babut Năm

1907, tờ Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo chuyển thành Đăng Cổ Tùng Báo.

Từ đầu thế kỷ XX, mặc dù Huế vẫ là kinh đô của cả nước nhưng thựcdân Pháp đã chú ý tập trung xây dựng ở Hà Nội những công trình có giá trị sửdụng và giá trị nghệ thuật cao nhằm biến Hà Nội trở thành một trung tâm kinh

tế, chính trị quan trọng của đất nước Và sự thật, Hà Nội đã trở thành trungtâm của Đông Dương Sự phát triển của đô thị ở Hà Nội cũng khiến cho nơiđây quy tụ được nhiều nhân sĩ trí thức của cả nước Ngay khi ra Hà Nội, ĐàoNguyên Phổ nhanh chóng đi lại với nhiều bạn bè cũ như Kiều Oánh Mậu và

cả những bạn mới như Lương Văn Can, Nguyễn Quyền…Năm 1907, sau khibàn bạc trao đổi, một số nhà nho duy tân yêu nước đã thống nhất lập trườngĐông Kinh Nghĩa Thục, Lương Văn Can là thục trưởng, Nguyễn Quyền làgiám học, Đào Nguyên Phổ tham gia biên soạn sách Đây không đơn thuần làmột trường học kiểu mới, các nhà nho yêu nước của ta đã biết lợi dụng sựhoạt động hợp pháp của trường để tuyên truyền, phổ biến, cổ động những nộidung yêu nước Chính vì thế mà không bao lâu sau, thực dân Pháp đã “ngửithấy” những nguy cơ từ Đông Kinh Nghĩa Thục mà chúng gọi là “cái lò phiếnloạn ở Bắc Kỳ” nên chúng đã ra lệnh đóng cửa trường vào tháng 12 năm

1907 Tất cả các sách vở, tài liệu của trường bị tịch thu, tiêu huỷ, các yếunhân bị bắt bớ, tù đày Cũng may lúc đó Đào Nguyên Phổ đang hoạt động ởngoài nên thoát được

Trang 17

Năm 1908 là năm có nhiều phong trào chống Pháp nổ ra ở khắp ba kỳ,như vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội, phong trào kháng thuế xin xâu ở Trung

kỳ Thực dân Pháp đã dùng mọi thủ đoạn để đàn áp, dập tắt các phong trào

này Ở Hà Nội, vụ Hà Thành đầu độc phải hoãn đi hoãn lại mấy lần do bị lộ.

Có lẽ vì vậy mà Pháp truy lung gắt gao những người có liên quan gần và cảnhững người chúng nghi ngờ theo tiêu chí “giết nhầm còn hơn bỏ sót” ĐàoNguyên Phổ cũng là một trong những người bị chúng truy lùng ráo riết Trướctình hình nguy cấp đó, ông đã tự sát vào ngày 24 tháng 5 năm Mậu Thân ( tứcngày 22 tháng 6 năm 1908) hưởng dương 48 tuổi, để giữ trọn danh tiết vàtránh liên luỵ cho bạn

Về nguyên nhân cái chết của Đào Nguyên Phổ cũng có nhiều ý kiếntrái ngược nhau Ngoài ý kiến như trên cho rằng Đào Nguyên Phổ tự sát đểgiữ trọn danh tiết thì cũng có ý kiến cho rằng Đào Nguyên Phổ mất vì bị sốcthuốc trong lúc đang trốn tránh ở nhà bạn Luồng ý kiến này không phảikhông hợp logic với việc Đào Nguyên Phổ bị nghiện thuốc phiện

1.2 Từ hành trình của một nhà nho chính thống.

Làng Thượng Phán xã Quỳnh Hoàng không phải là nơi nổi tiếng vềđịa linh nhân kiệt, đất không rộng, người không đông, không có nhiều sản vậtnổi tiếng Đất Thượng Phán cũng không phải là nơi sinh ra nhiều nhà khoabảng nổi tiếng suốt thời trung đại Họ Đào làng Thượng Phán không phải làdòng họ sớm có tiếng tăm, gia đình Đào Nguyên Phổ cũng không phải giađình thế nho Không có ghi chép gì chứng ỏ rằng từ đời ông của Đào NguyênPhổ trở lên có tên trong các kỳ thi và được đứng trong hàng ngũ quan lại Chỉđến đời bố của Đào Nguyên Phổ là Đào Văn Lịch mới bắt đầu bước chân vàochốn quan trường dù rằng chỉ là một chức quan huyện Năm Tự Đức thú21(1768), Đào Văn Lịch đỗ cử nhân khoa Mậu Thìn, sau đó được cử đi làmquan tri huyện ở huyện Bình Xuyên (nay thuộc đất Vĩnh Phúc) (Theo Sở văn

Trang 18

hoá và Thông tin Thái Bình trong cuốn Danh nhân Thái Bình thì cụ Đào Văn

Lịch được đặc cách ra làm quan mặc dù chưa đỗ đạt gì vì cụ có uy tín Tuy

nhiên, theo tìm hiểu của chúng tôi, Đào Văn Lịch có tên trong Quốc triều hương khoa lục của Cao Xuân Dục, là sách ghi chép danh tính những người

đỗ đạt từ cử nhân trở lên dưới thời Nguyễn – TTTT) Sau một thời gian bôn

ba chốn quan trường, cảm thấy không thoải mái, Đào Văn Lịch từ quan vềnhà dạy học

Đào Nguyên Phổ được cha dạy chữ từ năm lên năm tuổi Từ nhỏ, cậu

Ba đã là một cậu bé thông minh lanh lợi: người gầy, khi ngồi đầu gối quá tai,đôi mắt vừa nhanh vừa sáng, trí nhớ tốt, ứng đối nhanh Rất nhiều giai thoại

đã kể về cậu bé Đào Doãn Cung có khả năng ứng đối, xuất khẩu thành thơthần tình ngay từ nhỏ trước những tình huống cụ thể khác nhau Những biểuhiện đó đã khiến cho cụ cử Đào Văn Lịch đặt nhiều hi vọng vào cậu con traithứ ba này và sớm định hướng cho các con mình vào con đường học hành thi

cử theo Nho học

Không lận đận như một số nhà nho khác nơi khoa cử, Đào NguyênPhổ dường như qua được các kỳ thi rất dễ dàng theo kiểu học đâu nhớ đó, thiđâu trúng đấy

Khoa thi tú tài năm 1877, Đào Văn Mại theo hai anh vác lều chõngđến trường thi Khi để cậu con trai mới 17 tuổi đi thi, có lẽ cụ cử Đào VănLịch cũng không dám hi vọng gì nhiều, chỉ mong con trai có thể làm quen vàrút kinh nghiệm trong thi cử, Tuy nhiên, kết quả lại nằm ngoài cả sự hi vọngcủa mọi người Đào Văn Mại và người anh là Đào Thế Mỹ đều đỗ

Sau khi đỗ năm 1877, ông ở nhà nghỉ ngơi một thời gian rồi năm sau

đi dạy học ở Duyên Hà (Thái Bình) Sau đó ông chuyển sang dạy ở Phủ Cừ(Hưng Yên) Thời gian này Đào Nguyên Phổ làm một thầy đồ nho kéo dàiliên tục tới năm năm Dù sao thì đây vẫn là những bước đi nằm trong con

Trang 19

đường của một nhà nho chính thống, hơn nữa lại tiếp nối được truyền thốngdạy học mà trước đây cụ Cử Đào Văn Lịch đã tạo dựng Sau năm năm dạyhọc, thầy đò họ Đào mới chính thức bước chân vào chốn quan trường bằngmột chức học quan: làm giáo thụ ở Tam Nông, Hưng Hoá Sáu năm sau, vịhọc quan này được “chuyển ngạch” sang đường quan, được thăng làm trihuyện Võ Giàng (Bắc Ninh) Nhưng có lẽ quan chức không phải là “nghề” sởtrường của Đào Nguyên Phổ, ông xuất chính làm tri huyện một năm thì xảy ra

sự cố khiến cho con đường công danh tạm dừng lại

Đến thế kỷ XVIII, nhà nho nước ta xuất hiện thêm một mẫu hình mớingoài hai hình mẫu cũ là nhà nho tài tử Với những nét khác biệt về quanniệm sống, nhà nho tài tử tách mình ra ngoài hai loại hình nhà nho chínhthống và đã khẳng định được vị trí của mình trong đời sống và trên văn đàncủa cả một giai đoạn dài ở thế kỷ XVIII Thế nhưng sang thế kỷ XIX, khinước ta có sự tiếp xúc, va chạm văn hoá Đông Tây thì mẫu hình nhà nho tài

tử không còn hợp lẽ nữa, chuyển dần sang trạng thái suy yếu Nhà nho chínhthống chiếm đại đa số và cũng có sự biến đổi để thích ứng với thời đại mới: lànhà nho thị dân, nhà nho duy tân yêu nước

Đào Nguyên Phổ sinh sống ở vùng quê Thái Bình, ngay cả khi đã đỗđạt, đi dạy học và đi làm quan thì quá trình đô thị hoá cũng không tác độngmạnh tới ông Từ khi đỗ cử nhân đến lúc vào Huế, Đào Nguyên Phổ đã lầnlượt trải qua các công việc: dạy học và làm quan Dường như nghề giáo làmột nghiệp của Đào Nguyên Phổ, cho nên trước sau, dù có lúc chủ động hay

bị động, ông đều đến với nó như một lẽ tự nhiên Dù đã kinh qua cả hai conđường của mẫu hình nhà nho chính thống là xuất (làm quan) và xử (dạy học),nhưng thực tế đã đổi thay, nền nho học ngày càng tỏ ra bất lực trước thờicuộc, cũng giống như nhiều nhà nho khác, ông phải tìm đến một phương thứckhác: biến đổi thành nhà nho duy tân yêu nước

Trang 20

1.3 Đến một nhà nho có tư tưởng canh tân.

1.3.1 Tiếp thu tân thư

Xã hội Việt Nam từ những ngày đầu dựng nước đến thế kỷ XIX luônluôn chịu ảnh hưởng của Trung Quốc Cái bóng của người hàng xóm to lớnảnh hưởng đến nước ta, chi phối xã hội ta về tất cả các mặt Điều đó không có

gì lạ bởi Trung Quốc là cái nôi văn hoá lớn của vùng Đông Á, không chỉ ViệtNam mà cả các nước khác như Nhật Bản, Triều Tiên đều chịu ảnh hưởng củaTrung Quốc Nhưng mọi thiết chế của bộ máy xã hội đều có thể trở nên cũ kỹ,han gỉ, mốc meo nếu không được thay đổi Ý thức hệ Nho giáo đã đi hết mộtchu trình của nó, làm hết những vai trò mà lịch sử giao phó cho nó Khi xã hội

có những biến thiên quá lớn mà Nho giáo lại quá lỗi thời không thể đứng ragiải quyết được, trở thành vô dụng thì chính những người trong cuộc, nhữngngười từ trước tới nay vẫn dùi mài kinh sử nơi cửa Khổng, sân Trình đã đọcđiếu văn từ biệt Nho giáo Giờ đây yêu nước không phải là trung với vua nhưKhổng Tử dạy nữa, mà yêu nước phải theo tư tưởng mới: duy tân Duy tân,học theo các nước văn minh Âu Mỹ để đưa đất nước tiến tới độc lập, tự do

Để tiến tới mục đích đó có nhiều con đường song hầu hết đều được bắt nguồn

từ việc tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với văn minh phương Tây Sự tiếp xúctrực tiếp chỉ một số ít người được trải nghiệm, còn lại đa số là tiếp xúc giántiếp qua sách báo từ nước ngoài, những sách báo mang nội dung mới mẻ

“Tân thư là danh từ để chỉ chung những tài liệu, thư tịch sách vở đượccác học giả Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên biên sạon hay dịch thuật bằngchữ Hán, giới thiệu những tri thức và cung cấp những thông tin về những gìtrước hết thuộc Châu Âu hay thuộc về thế giới nói chung, vượt ra ngoài giớihạn mà những gì cổ tịch- những tài liệu sách vở được trước tác trong khuônkhổ truyền thống khu vực, trong đó chủ yếu là những gì mà Tam giáo (Nho,Phật, Đạo) đề cập Cũng trong phạm vi tân thư là những trước tác của các tác

Trang 21

giả Việt Nam như Bùi Viện, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, PhạmPhú Thứ…đề cập đến những vấn đề của quốc tế, những chuyện thời sự cấpthiết của quốc gia…nghĩa là vượt ra ngoài, vượt lên trên những giới hạn trithức, kinh nghiệm và giải pháp mà nhà nho cựu học truyền thống đã hay cóthể biết tới”[78; tr 73,74] Đây có thể coi là một cách nói khái quát nhất đểchỉ về phạm vi của những thứ được gọi chung là tân thư.

Một trong những người Việt Nam biết đến những thư tịch có nội dung

“tân thư” sớm nhất là Lê Quý Đôn Nhận thấy những giá trị to lớn của nhữngthư tịch này nên ông đã mang về nước một số tân thư trong những năm 1767-

1768 khi đi sứ Trung Quốc, nhưng khi đi qua biên giới Trung Quốc đã bị tịchthu hết Ở Việt Nam các vua Nguyễn từ Minh Mệnh, Thiệu Trị đến Tự Đứcđều quyết liệt cự tuyệt văn hoá cũng như những tri thức, thông tin về phươngTây Nhưng trải qua một thời gian dài của lịch sử, trước những thất bại to lớn,đau đớn của triều đình cũng như các phong trào đấu tranh chống Pháp, Tânthư mới được “quan tâm nhìn nhận và tuyên truyền sôi sục” tất nhiên là nằmngoài sự cho phép của chính quyền bảo hộ

Nguyễn Lộ Trạch chính là người đi đầu trong truyền bá Tân thư vàđồng thời đề nghị tiến hành cứu nước theo một đường lối khác bởi ông nhậnthức rất sáng suốt, đúng đắn rằng: “không thể coi thường mạng dân, khôngthể nhắm mắt đui mù trước tương quan lực lượng hai bên, đối phương đangchiếm được những điểm chiến lược trọng yếu, lập đồn luỹ kiên cố, còn ta toàn

bộ lực lượng tê liệt, tiêu điều sau lần vươn dậy cuối cùng của phong trào CầnVương Những lãnh tụ chết, những đạo quân tinh nhuệ tan rã, những chiếnkhu bí mật bị phá vỡ, những đồn điền kho lương bị thiêu rụi, lòng người hãihùng trước vũ khí Tây phương Trong tình trạng không còn hậu phương, mộtcăn cứ tạm gọi là an toàn, một biên giới bạn để ẩn náu, thì dù có giỏi đến mức

Trang 22

độ nào cũng chỉ như Đề Thám, Phan Đình Phùng là cùng”(Chuyển dẫn theoTrần Ngọc Vương)[78; tr 81,82].

Sau Nguyễn Lộ Trạch, ở kinh đô Huế, các nhà khoa bảng trẻ tuổi tàicao, ưu thời mẫn thế như Nguyễn Thượng Hiền, Phạm Phú Đường, Phan BộiChâu, Phan Châu Trinh, Đào Nguyên Phổ, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế,Đặng Nguyên Cẩn, Trần Quý Cáp… lần lượt chuyền tay nhau những cuốnTân thư để mưu đồ sự nghiệp cứu nước cứu nhà vào những năm đầu thế kỷ

XX (1901-1902) Trong số những người vừa được xướng tên đây thì ĐàoNguyên Phổ chính là người được tiếp xúc với Tân thư sớm nhất

Sau khi ký hai hiếp ước đầu hàng giặc là Hacmăng và Patơnôt, triềuđình Huế lại tiếp tục mở các khoa thi và tiến hành đều đặn các khoa thi ấy.Rất nhiều những ông cử lại ồ ạt kéo về kinh để ôn luyện kinh sử chờ thi Hội ởQuốc Tử Giám Trong số đó có những người đơn thuần theo tư tưởng Nho gia

cổ truyền: đi học, đi thi rồi ra làm quan để vinh thân phì gia, rạng danh dòngtộc Trong số đó cũng có không ít người mang theo những tâm trạng kíchđộng vì phong trào duy tân, mong muốn có danh vọng, uy tín để hoạt độngcứu nước Một trong những người có uy tín lớn nhất ở kinh đô Huế lúc bấygiờ là Nguyễn Thượng Hiền bởi cả tài năng, phẩm chất và những mối quan hệ

mà ông có, vị trí trong xã hội ông đã tạo dựng được Chính vì vậy ông đã làđầu mối chính, là người mà hầu hết những người có chí hướng yêu nước đềutìm đến để trao đổi, đi lại Ông cũng là người có vai trò quan trọng trong việctruyền bá Tân thư giai đoạn này

Năm 1895, khi gặp gỡ và kết giao với Nguyễn Thượng Hiền, chính

“người tiều phu trẻ núi Nưa” này đã đưa ra những lời khuyên rất bổ ích choĐào Nguyên Phổ Vị Hoàng giáp họ Nguyễn đã phân tích cho Đào NguyênPhổ thấy được nhiều lợi ích của việc tiếp tục học tập, mà phải là học ở kinhđô- trung tâm chính trị quan trọng đối với sĩ dân Việt Nam Trường học đầu

Trang 23

tiên được xây dựng ở kinh đô cũng là trường có lịch sử lâu đời nhất ở ViệtNam chính là trường Quốc học Trường được thành lập vào thời vua MinhMệnh Lúc đầu trường có tên là Quốc Tử học, là chỗ dạy dỗ cho các hoàng tử

và con cái các vị đại thần Sau đó trường là nơi học cho các thí sinh chuẩn bịthi đại khoa nên đổi tên là Quốc Tử Giám

Học trường Giám chưa lâu, Đào Nguyên Phổ đã khẳng định được têntuổi bằng chính khả năng của mình Đã từng đỗ cử nhân năm 17 tuổi, từnglàm cả học quan và đường quan, từng đi dạy học khắp đó đây, lại có khiếuứng đối linh hoạt, học giỏi nên Đào Nguyên Phổ được nhiều người chú ý,yêu quý Dù đã có vợ con ở quê, ở Nam Định nhưng Đào Nguyên Phổ vẫn lọtđược vào “tầm ngắm” của quan Tế Tửu Việc này không những tạo điều kiệnthuận lợi cho sự nghiệp học hành của Đào Nguyên Phổ mà còn là cánh cửachính để Đào Nguyên Phổ đón nhận những “cơn gió lạ” mát lành Cũng trongthời gian này, ông kết giao thêm với một số sĩ phu yêu nước có tư tưởng đổimới như bộ ba “Tam hùng đất Quảng” là Phan Châu Trinh, Huỳnh ThúcKháng, Trần Quý Cáp Nhờ vậy mà nhãn quan chính trị của ông được mởrộng, nhận thức chính trị phát triển theo xu hướng tiến bộ một cách mạnh mẽ,dứt khoát hơn

Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Tân thư đang tràn vào nước tamột cách lặng lẽ nhưng lại có tác động lớn, làm khuynh đảo đời sống tinhthần của giới sĩ phu và là tiền đề chính cho cuộc vận động duy tân trongnhững năm 1903-1908 Người ta cố gắng tìm đọc Tân thư, cố gắng đẻ sở hữunhững tri thức quý đó nhưng không phải ai cũng dễ dàng có được trong thờibuổi khó khăn ấy Vậy mà Đào Nguyên Phổ bỗng dưng lại “lọt” được vào nơi

có nhiều Tân thư nhất nước ta hồi đó: nhà của quan Tế Tửu Quốc Tử Giám.Thế là nghiễm nhiên khi nhiều người mới rỉ tai nhau về việc xuất hiện nhữngcuốn sách kỳ lạ (kỳ thư) thì Đào Nguyên Phổ đã được đọc chúng Những tên

Trang 24

tuổi như Lư Thoa (Rousseau), Mạnh Đức Tư Cưu (Montesquieu), LươngKhải Siêu, Khang Hữu Vi…với những tư tưởng, tác phẩm của họ đã chiếm vịtrí đáng kể trong suy nghĩ của Đào Nguyên Phổ cũng như giới sĩ phu hồi đó.Đào Nguyên Phổ đã được đọc Tân thư trước cả những lãnh tụ của những phephái lớn chống Pháp như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh…

Mặc dù sau này cả hai đường lối cứu nước của hai cụ Phan áp dụng ởTân thư đều không đưa đất nước đến được với độc lập, tự do, nhưng cũngphải hiểu rằng Tân thư vào nước ta với nhiều đặc điểm không thuận lợi choviệc áp dụng, thực thi nó một cách hiệu quả Tuy vậy, nó cũng đã làm cho cácnhà nho chí sĩ “tạo nên những giá trị đột biến cách mạng” (chữ dùng của TrầnNgọc Vương) “Việc làm của họ, tập trung vào một chủ đích lớn là thức tỉnhđồng bào, cốt nhằm cho nhân dân cả nước thấy rõ nguyên nhân vì đâu mà làmcho chúng ta sống trong tình trạng người ngu, nước yếu Họ trực tiếp đả kíchcái học cũ, lối văn chương bát cổ, làm mê muội con người Họ công kíchnhững thói hư tật xấu và lên án chế độ phong kiến, chế độ quân chủ, nhắc nhởđến lịch sử cha ông, vạch rõ thảm cảnh của đất nước lâm vòng nô lệ Hướng

đi của họ là nhằm cổ động cái học mới (tân học) và cổ động cho thựcnghiệp”[24; tr 435] Đối với Đào Nguyên Phổ cũng như nhiều nhà nho chí sĩkhác, Tân thư là “cửa sổ nhìn ra thế giới”, và sau đó nhìn lại đất nước mình,quê hương mình, con người mình để rút ra những kết luận, những cách thứclàm sao đưa đất nước đến với độc lập, tiến lên với văn minh nhân loại, vănminh Âu Mỹ Nhật Bản đã làm được, họ có hi vọng rằng đất nước mình cũnglàm được Áp dụng Tân thư vào Duy tân có thể tiến hành trên nhiều lĩnh vựcnhư kinh tế, giáo dục, chính trị, tư tưởng…

Là người có học vấn, tài hoa, năng động lại chịu khó đổi mới nên khitiếp xúc với nhứng tu tưởng mới từ Tân thư, Đào Nguyên Phổ đã tiến mộtbước dài từ nhà nho truyền thống sang một nhà nho duy tân, tích cực hoạt

Trang 25

động trên mặt trận văn hoá, giáo dục và ông cũng là một cây cầu nối giữa haithế hệ nhà nho trước và sau ông

1.3.2 Học tiếng Pháp

Năm 1896, sau mười năm chiến đấu dũng cảm, Phan Đình Phùng đãngã xuống vì bệnh sốt rét và kiết lỵ - những bệnh thường gặp ở nơi rừngthiêng nước độc Cùng với cái chết của Phan Đình Phùng, phong trào CầnVương trên phạm vi cả nước đến đây đã chấm hết Phong trào yêu nướcchống Pháp tạm thời lắng xuống, chuẩn bị cho những phong trào yêu nướctheo tư tưởng mới vào những năm 1903-1908 theo tư tưởng Duy tân Lúc nàythực dân Pháp không phải bận tâm trên mặt trận quân sự nên đã bắt đầu “quantâm” “chú ý” đến các hoạt động khác để duy trì sự thống trị lâu dài trên đấtnước ta Một trong những hoạt động được chú ý đầu tiên là giáo dục Tấtnhiên mục đích của việc phát triển giáo dục là nhằm phục vụ cho ý đồ xâmlược của chúng nhưng mặt trái của nó không phải không có những điểm tốt,

có lợi cho đất nước ta Năm 1896 Pháp cho mở Pháp tự Quốc gia học đường

dùng tiếng Pháp làm chuyển ngữ Lúc mới mở, nơi đây chỉ dạy cho các hoàng

tử, những người trong hoàng tộc Mỗi khoá học kéo dài ba năm Đến nămThành Thái thứ 10 (1898), trường mở rộng đối tượng chiêu sinh, lấy thêmmột số đại khoa xuất sắc ngoài các vương tôn công tử đồng thời cũng mởthêm lớp tiếng Pháp cho các nhà khoa bảng chuẩn bị đi làm Năm 1898 cũng

là năm đào Nguyên Phổ đỗ Đình Nguyên Hoàng Giáp, chính vì vậy ông được

bộ Lễ chọn vào học lớp tiếng Pháp mới mở này Các đại khoa được lựa chọnvào học có quyền tự quyết định có theo học hay không Chính vì vậy màkhông phải ai cũng tham gia vào học khi được chọn Có nhiều lí do để giảithích sự lựa chọn đó ở mỗi người Song tư tưởng “nội hạ ngoại di” và hơn hết

là tiếng Pháp là tiếng của người Pháp, tiếng của quân xâm lược có lẽ là lí doquan trọng nhất khiến cho một số người từ chối không tham gia khoá học

Trang 26

Như đã biết, sau một thời gian Pháp xâm lược Việt Nam, một số nhà nho có

tư tưởng yêu nước đến bảo thủ đó là tẩy chay quân giặc, tẩy chay tất cả nhữngthứ có xuất sứ hoặc có liên quan đến quân Pháp như những đồ dùng hàngngày, phương tiện đi lại, phương tiện liên lạc, thậm chí cả đến chữ quốc ngữ

Hơn người ở đặc điểm chịu khó đổi mới, từ một nhà nho chính thống

đã từng nếm trải cả cuộc sống của người hành đạo và người ẩn dật (mặc dùkhông hoàn toàn là “ẩn”), Đào Nguyên Phổ vẫn sẵn sàng học tiếng Pháp vì ởvào giai đoạn lịch sử lúc đó, tư tưởng Duy tân đang lan tràn rộng khắp, họctheo văn minh Âu- Mỹ là một mục đích lớn mà những người trí thức ưu thờimẫn thế đặt ra Và để học theo, đưa đất nước tiến lên văn minh hiện đại nhưcác nước Âu- Mỹ thì có lẽ không gì hơn là tìm hiểu về các nước đó Tân thưđang là những sách vở rất thịnh hành lúc đó nhưng đa số Tân thư là các sách

vở, tài liệu từ nước ngoài lại vào nước ta sau khi đi qua Trung Quốc, NhậtBản Việc đọc tác phẩm gián tiếp qua ngôn ngữ khác bao giờ cũng làm sailệch ít nhiều nội dung tư tưởng của tác phẩm Dịch thuật hai lần dẫn tới sựméo mó là điều dễ hiểu

Tham gia lớp học tiếng Pháp đã giúp cho Đào Nguyên Phổ có nhữngkiến thức Tây học nhất định mà không phải ai cũng sẵn sàng tiếp thu nhữngkiến thức đó Chính những kiến thức Tây học này đã giúp cho Đào NguyênPhổ có những suy nghĩ và lập luận rất logic trong các bài viết sau này củaông So với một số bạn bè đồng quan khi đó, Đào Nguyên Phổ đã đi trướcmột bước trong quan điểm về ngôn ngữ, ngôn ngữ không có tính giai cấp.Ông ghi tên và học lớp tiếng Pháp rất đầy đủ Ông xác định rõ mục đích biếttiếng Pháp sẽ giúp ích nhiều trên đường đấu tranh chống Pháp và còn có thể

mở rộng kiến văn Chính ông đã từng bảo vệ việc học ngoại ngữ của mìnhtrước bạn bè như sau: “Ngôn ngữ các nước là của chung nhân loại Thứ tiếngnào nói được điều thiện, phê được điều ác là ta có thể dùng” Ý kiến của Đào

Trang 27

Nguyên Phổ không phải là hoàn toàn hợp lý nhưng hành động của ông thì đãcho thấy đó là những quyết định đúng đắn Sự bất đồng về ngôn ngữ chính lànguyên nhân đầu tiên dẫn đến những bất cập trong giao tiếp xã hội mang tínhrộng rãi với phạm vi ngoài quốc gia, dân tộc Đứng ở vị trí của những ngườihậu thế mà suy xét thì có thể thấy suy nghĩ và quyết định của Đào NguyênPhổ về việc học tiếng Pháp là hoàn toàn chính đáng và hợp lý Ngoại ngữluôn luôn cần thiết với mọi người ở mọi thời đại.

Tân thư, tiếng Pháp và những kiến thức Tây học có được đã giúp choĐào Nguyên Phổ, một người vốn tài hoa năng động có những bước chuyểnbiến quan trọng trong cuộc đời Từ đây, ông mang trong mình những tâmtrạng, suy nghĩ đau đáu về vận mệnh dân tộc, đất nước Làm sao để đưa đấtnước đến được với độc lập, với trạng thái văn minh tiến bộ luôn là “câu hỏilớn” không chỉ đối với ông mà còn đối với nhiều nhân sĩ trí thức yêu nước lúc

đó Với sức khoẻ yếu, lại suy xét tình hình thực tế những thất bại của quândân ta trên mặt trận quân sự, Đào Nguyên Phổ đã quyết định đi theo conđường cải cách văn hoá, tiến hành dân chủ, nâng cao dân trí theo chủ nghĩatam dân của Phan Châu Trinh (có sự vay mượn và sáng tạo lại chủ nghĩa tamdân của Tôn Trung Sơn cho hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước)

* * *

Tiểu kết chương 1

Trên đây chúng tôi đã trình bày những vấn đề về tiểu sử và những bướcchuẩn bị quan trọng làm tiền đề cho những hoạt động quan trọng của ĐàoNguyên Phổ Đặt trong bối cảnh xã hội cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX ởnước ta có nhiều ba động lớn, việc mỗi cá nhân tự tìm tòi hướng đi và khẳngđịnh mình là điều không hề đơn giản Dừng lại ở tiểu sử của Đào Nguyên Phổcho phép đưa ra nhận xét: đương thời Đào Nguyên Phổ là người có tài năng,

Trang 28

có địa vị, có sức nặng văn chương, rất được tôn trọng Hơn nữa ông lại làngười chịu khó tìm tòi, đổi mới, năng động Trong cuộc đời mình, ĐàoNguyên Phổ khá suôn sẻ khi gánh vác việc “lều chõng” cũng như tương đốisuôn sẻ trong sự nghiệp Cái số đào hoa không những khiến cho Đào NguyênPhổ phát huy được tinh thần “trai năm thê bảy thiếp” của các cụ ta ngày xưa

mà còn là cái duyên đưa đẩy ông đến được với những tri thức mới, tiên tiếncủa nước ngoài qua việc được ở nhà nhạc phụ đại nhân- quan Tế Tửu Gặpđược diều kiện thuận lợi cộng với sự hiếu học, ham học hỏi có sẵn, ĐàoNguyên Phổ luôn luôn nỗ lực để nâng cao hiểu biết, nâng cao dân trí Việcông chủ động học tiếng Pháp vừa là điều kiện thuận lợi để ông đọc được trựctiếp những sách báo tiếng Pháp, trang bị cho mình số lượng kiến thức Tây họcnhất định, vừa khiến ông có được cách tư duy khoa học, logic của phươngTây, nó sẽ tạo những chuyển biến tích cực trong tư tưởng cũng như tronghành động của nhà Nho họ Đào làng Thượng Phán

Tuổi thọ của một người được tính bằng những việc người đó làm có ýnghĩa cho xã hội như thế nào, hay nói khác đi là người đời sau sẽ nhớ tới họnhư thế nào Người ta sinh ra là để ghi dấu ấn trên cát chứ không phải chỉ làmột hạt cát nhỏ nhoi chìm lấp trong đại dương mênh mông Điều này có lẽđúng với Đào Nguyên Phổ Mặc dù hưởng dương chỉ có 48 năm, cái tuổikhông phải là cao so với tuổi thọ trung bình của người dân Việt nam khi đó,

và trong cuộc đời không khỏi có những việc ông đã sai lầm, nhưng với nhữngcống hiến của mình, Đào Nguyên Phổ vẫn để lại tên tuổi mãi cho hậu thế.Ông không tiêu biểu cho một phong trào nào, một giai đoạn nào, ở một lĩnhvực nào, nhưng ông là cái cầu nối giữa hai giai đoạn lịch sử, hai thế hệ nhàvăn, nhà báo, nhà giáo

Trang 29

Chương 2 Những hoạt động và đóng góp của Đào Nguyên Phổ

trong lĩnh vực văn học, văn hoá cụ thể.

Đào Nguyên Phổ là người hoạt động tích cực trong nhiều lĩnh vực vănhoá, giáo dục, văn học trong giai đoạn những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế

kỷ XX Với mong muốn có được cái nhìn toàn diện, đa chiều về nhân vậtchính, chúng tôi cố gắng đặt ông vào những môi trường mà Đào Nguyên Phổ

đã tham gia Và để nghiên cứu một tác giả văn học thì không thể khôngnghiên cứu tác phẩm của họ Những tác phẩm của Đào Nguyên Phổ cho đếnnay số lượng tìm thấy không nhiều và qua đó thì không thể đánh giá chínhxác được hết Song chúng tôi sẽ cố gắng hết sức để có thể khái quát lên mộtvài đặc điểm ở những tác phẩm còn lưu giữu lại được

2.1 Đào Nguyên Phổ- nhà báo tiên phong.

2.1.1 Khái quát chung về tình hình báo chí những ngày đầu xuất hiện.

Sự ra đời của báo chí nước ta gắn liền với sự thiết lập chế độ thuộc địacủa chủ nghĩa tư bản Pháp ở đất nước mà chúng đến khai hoá Những tờ báođầu tiên xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ XIX xuất phát từ mục đích làmcông cụ cho công cuộc xâm lăng và thống trị văn hoá của Pháp Nhưng bêncạnh đó, thì “sự phân hoá và phát triển của báo chí lại theo sát từng bước đicủa cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp diễn ra hết sức sâu sắc trong lòng xãhội nước ta”[15; tr7] Báo chí cùng với xuất bản và nghề in chính là nhữngyếu tố làm cho văn học phát triển

Sự xuất hiện của báo chí trên lãnh thổ Việt Nam không đồng đều giữacác vùng miền Trong đó, Nam Kỳ được coi là cái nôi đầu tiên của báo chínước ta bởi Nam kỳ có nhiều điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển

Trang 30

báo chí Điều kiện đầu tiên phải kể đến là điều kiện về mặt vật chất kỹ thuật.Nam kỳ là nơi nghề in hoạt bản xuất hiện đầu tiên phục vụ cho mục đíchtruyền giáo (Imprimerie de la Mission Tân Định 1873) Tuy nhiên, từ khiPháp chính thức xâm lược Việt Nam (1861) viên đô đốc Bonard đã cho in tờcông báo đầu tiên bằng những thiết bị chúng vận chuyển sang cùng vũ khíđạn dược Với những thiết bị đó, một nhà in chính thức đực thành lập sau nàyđảm nhận việc in hầu hết các tờ công báo của chính quyền thực dân ở Namkỳ.

Điều kiện thứ hai tạo thuận lợi cho sự ra đời của báo chí ở Nam Kỳchính là sự xuất hiện và sử dụng chữ quốc ngữ trong các lĩnh vực như vănhoá, chính trị, hành chính Nam kỳ là nơi đầu tiên mà thực dân Pháp có kếhoạch loại bỏ chữ Hán, chữ Nôm để đưa chữ Pháp và chữ Quốc ngữ vào thaythế Và như đã biết, chỉ với chữ Quốc ngữ thì báo chí mới có thể phát triểnmạnh cũng như chỉ với chữ quốc ngữ thì các thể loại văn học hiện đại nhưkịch, tiểu thuyết, thơ mới mới có thể phát triển mạnh mẽ

Điều kiện thuận lợi để Nam kỳ đi đầu trong sự nghiệp báo chí cả nướccòn là chế độ báo chí mà thực dân Pháp áp dụng ở đây Với tư cách là một xứthuộc địa trực trị, một “tỉnh” của nước Pháp ở châu Á, Nam kỳ được hưởngluật “tự do báo chí” nhiều nhất cả nước- mặc dù nó cũng bị hạn chế nhiều sovới luật này ở chính quốc

Tờ báo đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ xuất hiện ở Nam kỳ chính là Gia Định báo (số đầu tiên ra ngày 15-4-1865) Lúc đầu, chủ bút của Gia Định báo

là thông ngôn của Soái phủ Nam Kỳ- E.Poteau Mãi đến 1869, Thống đốcNam Kỳ là Ohier mới giao cho Trương Vĩnh Ký làm giám đốc và HuỳnhTịnh Của làm chủ bút Và lúc này, Gia Định Báo mới thoát khỏi tính cách của

một tờ công báo Gia Định báo gồm hai phần là phần Công vụ và Tạp vụ.

Công vụ đăng các thông tư, nghị định của chính phủ Pháp và tin tức Nam kỳ

Trang 31

Tạp vụ đăng những bài khảo cứu, nghị luận, thơ ca của các danh sĩ Nam kỳ.

Gia Định báo là tờ báo mở đường cho việc phổ biến chữ Quốc ngữ.

Sau Gia Đinh Báo, năm 1883 ở Nam kỳ xuất hiện thêm tờ Nhật Trình Nam Kỳ

Ngày 1 tháng tám năm 1901, số báo đầu tiên của Nông Cổ Mín Đàm ra

mắt, tờ báo do Canavaggio làm giám đốc và Lương Khắc Ninh làm chủ bút.Đây là tờ báo kinh tế đầu tiên của Nam Kỳ Ngoài những nội dung chủ yếu vàquan trọng về kinh tế thì báo còn có thêm mục quảng cáo và dành tới 3, 4trang (trên tổng số 8 hoặc 12 trang) cho văn học (đăng tải truyện dịch, truyệndài, truyện ngắn và thơ sáng tác mới, văn học dân gian sưu tầm) Báo in cảchữ quốc ngữ và chữ nho Chủ bút Lương Khắc Ninh là người có công lớntrong việc cổ động cho phong trào Duy tân ở Nam Kỳ (có tên gọi khác làphong trào Minh Tân) thông qua việc cổ động cho sự hình thành và phát triểnthương gia Việt Nam

Trong số những tờ báo ra đời sớm ở Nam kỳ thì Lục Tỉnh Tân Văn

cũng là một tờ báo đáng chú ý Báo ra đời trong phong trào vận động Duy tân

ở Nam Kỳ (số đầu ra ngày 14-11-1907) với chủ bút là Trần Chánh Chiếu(Gilbert Chiếu) Tuy là một “Ông Tây An Nam” nhưng Trần Chánh Chiếu lạirất có thiện cảm với phong trào Đông Du, là người yêu nước nên sớm đưa tờbáo theo khuynh hướng cấp tiến, cổ động phong trào Duy tân, hướng theo cảicách,đổi mới, chống hủ tục, chống Pháp và phong kiến tay sai Lục Tỉnh Tân Văn là nơi đào tạo ra nhiều cây bút của miền Bắc và miền Trung như: Nguyễn

Văn Vĩnh, Phan Khôi, Trần Huy Liệu, Tản Đà…

Cùng với bước chân của quân xâm lược, báo chí nước ta đã xuất hiệnđầu tiên ở Nam kỳ Chính quyền thực dân đã sử dụng báo chí như một công

cụ cho sự thống trị của chúng, nhưng với sự khôn khéo và tinh thần yêu nước

Trang 32

của mình, nhiều nhà báo của ta đã biến báo chí thành phương tiện, công cụcho công cuộc đâu tranh giải phóng dân tộc.

2.1.2 Báo chí Bắc Kỳ và vai trò của nhà báo Đào Nguyên Phổ

2.1.2.1 Báo chí Bắc Kỳ thập niên cuối thế kỷ XIX và hai thập niên đầuthế kỷ XX

Báo chí Bắc Kỳ hầu như im hơi lặng tiếng so với tình hình báo chíNam Kỳ Mãi đến năm 1892 mới xuất hiện tờ báo đầu tiên in hoàn toàn bằngchữ Hán là một tờ công báo của phủ Toàn quyền đăng những thông tư, nghị

định Năm 1902, tờ công báo có tên là Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo, do

F.H.Schneider làm chủ nhiệm Ông Schneider là một người Pháp tiến bộ, là

người có nhà in đầu tiên ở Bắc Kỳ và là chủ của nhiều tờ báo như Tương Lai Bắc Kỳ (L’ Avenir du Tonkin) hay Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo Chính ông

Schneider đã đề nghị lên Nha kinh lược Bắc Kỳ cải tiến tờ công báo này vàđưa người Việt vào làm chủ bút Hai cây bút được coi là chủ công của báo làĐào Nguyên Phổ và Hàn Thái Dương Ngoài ra còn có các cây bút khác như:Kiều Oánh Mậu, Vũ Phạm Hàm, Phan Kế Bính Báo được phát hành ở khắpBắc Kỳ và Trung Kỳ với giá bán 2 xu, dung lượng 8 trang

Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo là công cụ ngôn luận của nhà nước bảo

hộ, hoạt động theo tôn chỉ và mục đích như sau: “…Bổn cục đặt ra để rộngkiến văn, giúp chính thể, một việc gì, một lời gì cũng đăng trên mặt báo doquý phủ kiểm duyệt phát hành…”

“…Theo tờ thông tư của Nha kinh lược, đặt tờ báo cốt để rõ thế nước

và hiểu tình dân, không phải cốt ở chuyện giấy mực mà thôi, các việc chínhtrị, kinh tế, xã hội, văn hoá đều chép đăng báo Mong rằng ngoài tờ thông tư

ra chuyện cháu ngoan, con thảo…đều được trình duyệt, sẽ giao nhà in đăngtrên mặt báo”[15; tr 41]

Trang 33

Nội dung của Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo được đánh giá là phong phú hơn một số tờ báo đồng niên ở Nam Kỳ như Gia Định Báo hay Nông Cổ Mín Đàm.

Tờ báo thứ hai phải kể đến ở Bắc Kỳ là Đại Việt Tân Báo Sự ra đời của Đại Việt Tân Báo phải ghi nhận công lao của E.Babut, một người Pháp

cấp tiến, đại biểu cho tiếng nói của chủ nghĩa Pháp Việt đề huề ở miền Bắc.Babut đã vận động, thuyết phục được chính quyền thực dân để được phépxuất bản và nuôi sống tờ báo: dùng ngân sách địa phương để mua báo cho các

vị quan phủ, quan huyện, tri châu Đại Việt Tân Báo sử dụng cả chữ Hán và

chữ Quốc ngữ, đây là một sự lựa chọn sáng suốt, đánh dấu một bước tiến dàitrên đường phổ biến chữ quốc ngữ ở Bắc Kỳ khi đó Phụ trách phần chữ Hán

của Đại Việt Tân Báo là Đào Nguyên Phổ, ngoài ra còn có sự góp mặt của

một số cây bút tiếng tăm khác như Phan Châu Trinh, Nguyễn Tư Giản,Dương Lâm…Nội dung báo đa dạng, phong phú gồm các chuyên mục như:thời sự, xã hội, kinh tế, chính trị, thơ ca, chuyện vui, chuyện danh nhân Tuynhiên báo vẫn chưa thoát khỏi hoàn toàn lối văn chương cử nghiệp, biền ngẫu

Đại Việt Tân Báo tồn tại gần bốn năm, đến ngày 5 tháng 5 năm 1908 báo bị

đóng cửa

Ngày 28 tháng 3 năm 1907, Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo (đã nói ở

trên) ra số 793 Bìa của báo vẫn được giữ nguyên với tên báo được đặt trịnhtrọng ở giữa Duy chỉ có thêm một cái tên “hậu sinh” được đặt ở bên phải bìa

với cỡ chữ nhỏ hơn là : Đăng Cổ Tùng Báo Đây được coi là số báo đầu tiên của Đăng Cổ Tùng Báo và là sự kế tiếp của Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo Theo Đỗ Quang Hưng trong Lịch sử báo chí Việt Nam sở dĩ có hiện tượng đổi

tên này là vì “tính cách đặc biệt của nó liên quan đến một hiện tượng lịch sử

đầu thế kỷ là phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục” “Đăng Cổ” nghĩa là “đánh trống” Đăng Cổ Tùng Báo như một hồi trống vang lên để thôi thúc, cổ động

Trang 34

cho không khí sôi động của cuộc đấu tranh yêu nước trên lĩnh vực văn hoá tưtưởng Báo vẫn sử dụng cả hai thứ chữ là chữ Hán và chữ quốc ngữ với tỉ lệkhá cân đối: chữ quốc ngữ 5 trang, chữ Hán 4 trang và bố trí xen kẽ nhau.Phần chữ quốc ngữ do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút Phần chữ Hán do ĐàoNguyên Phổ làm chủ bút Cả hai chủ bút này đều tham gia vào phong trào

Đông Kinh Nghĩa Thục nên Đăng Cổ Tùng Báo và Đông Kinh Nghĩa Thục có

quan hệ mật thiết, khăng khít Báo thường xuyên đăng tải những bài vở, thơ

ca được giảng dạy ở Đông Kinh Nghĩa Thục như thơ của Kiều Oánh Mậu trong mục “Tập thơ, phú, ca, rao” (số 796 ngày 18-4-1907), Cáo hủ lậu văn

ký tên Yên-sĩ- phi- lí- thuần (số 808), Bài ca khuyên người An Nam nên học chữ quốc ngữ (số 806)…Nguyễn Văn Vĩnh sử dụng các bút danh như Tân Nam Tử, Đào Thị Loan viết các bài như: Lập công ty buôn bán An Nam, Duy tân, Hợp quần (trong số 821).

Đăng Cổ Tùng Báo hoạt động trong trạng thái “giằng co” giữa hai phe:

một bên là sự can thiệp của Schneider, một bên là các nhà nho tiến bộ Chính

vì vậy, bên cạnh những bài đả kích những người yêu nước chống Pháp, cangợi công ơn khai hoá của Pháp là tiếng nói yêu nước, Duy tân, cổ động cho

Đông Kinh Nghiã Thục “Mang hơi thở của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, tờ báo có những lời hô hào thực nghiệp, chống những thói hủ tục, mê

tín dị đoan, kêu gọi hợp quần hợp tác”[15; tr 45]

Về nghệ thuật mà xét, Đăng Cổ Tùng Báo là một bước tiến trong nghề

làm báo, phong cách đưa tin nhanh gọn, nội dung phong phú đa dạng với các

mục như “Điện báo toàn cầu”, “Nhời đàn bà”

Vì có quan hệ mật thiết với Đông Kinh Nghĩa Thục nên khi Đông Kinh Nghĩa Thục bị khủng bố thì “tiếng trống Đăng Cổ bỗng ngừng bặt” Đăng Cổ Tùng Báo bị đình bản ngày 14 tháng 11 năm 1908 sau khi ra được 34 số.

Trang 35

Lúc này thực dân Pháp quản lí rất gắt gao hoạt động của báo chí vìchúng thấy công cụ chúng đưa ra để củng cố địa vị thống trị đã bị dân ta “cầmlấy” sử dụng Báo chí Bắc Kỳ bị xiết chặt, chỉ còn một tờ công báo duy nhất

do phủ Toàn quyền nắm giữ là Việt Nam quan báo (1907-1908) sau đổi thành Việt Nam Công Báo (1909-1912).

Sau 5, 6 năm bị kìm kẹp chặt chẽ, năm 1913 thực dân Pháp vội vã cho

xuất bản gấp tờ Đông Dương Tạp Chí ở Hà Nội để trấn an dư luận trước

những hoạt động vũ trang của Việt Nam Quang Phục Hội ở Bắc kỳ Số đầu

của Đông Dương Tạp Chí ra ngày 15-5-1913, được coi là ra sớm hơn dự kiến

và được chú thích bên dưới tên báo là Ấn phẩm đặc biệt của “Lục Tỉnh Tân Văn” ở xứ Bắc và Trung kỳ Chủ nhiệm báo không phải ai khác ngoài ông

trùm báo chí Bắc Kỳ khi đó F.H.Schneider, còn chủ bút là Nguyễn Văn Vĩnh

Với những bút danh giống như ở Đăng Cổ Tùng Báo là Tân Nam Tử, Đào Thị Loan, chủ bút Nguyễn Văn Vĩnh là cây bút chủ công của Đông Dương Tạp Chí, phụ trách mục bình luận (gọi là phương trâm) và nhiều mục khác như Nhời đàn bà.

Dung lượng của Đông Dương Tạp Chí khá lớn: từ 16 đén 24 trang với

nội dung phong phú như thời sự trong nước và quốc tế, các nội dung về kinh

tế, xã hội, thiên tai, quảng cáo, rao vặt, đăng các diễn văn Đông Dương Tạp Chí là tờ báo quan trọng trong tuyên truyền văn minh phương Tây, đặc biệt là văn minh Pháp Nhưng khách quan mà nhìn nhận thì chính Đông Dương Tạp Chí với nghệ thuật báo chí tiên tiến đã góp phần quan trọng trong truyền bá

văn minh, văn học Pháp, chống hủ tục, đặc biệt là có công lớn trong phổ biếnchữ quốc ngữ ở Bắc Kỳ Báo thường xuyên có mục dạy và phổ biến chữ quốcngữ, nhờ đó mà chữ quốc ngữ được phổ thông hơn, nhiều người sử dụng hơn

Nhờ vậy mà văn học hiện đại dần hình thành, phát triển Đông Dương Tạp Chí còn quy tụ được các cây bút thuộc thế hệ đầu tiên của giới trí thức Tây

Trang 36

học như Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Phạm Duy Tốn, Phan Kế Bính,Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Văn Tố…Những trí thức Tây học này có thể coi

là những người đặt nền móng cho quá trình hiện đại hoá của văn học ViệtNam

2.1.2.2 Nhà báo Đào Nguyên Phổ

Với danh vị đủ để tạo nên những uy tín trong những hoạt động xã hộivới những kiến thức Nho học sâu sắc cộng thêm vốn kiến thức Tây học nhấtđịnh, lại có tài, năng động nên Đào Nguyên Phổ đã được triều đình tín nhiệm

cử ra Hà Nội tham gia làm báo khi đang giữ chức Hàn Lâm Thừa Chỉ năm

1902 ở Huế Có thể nói Đào Nguyên Phổ là một trong những người phù hợpnhất cho nhiệm vụ này bởi những yêu cầu cần có của một nhà báo đều đượchội tụ trong con người Đào Nguyên Phổ Cùng được cử đi “công tác” trongchuyến này với Đào Nguyên Phổ còn có Kiều Oánh Mậu và Vũ Phạm Hàm

Từ năm 1902 cho đến khi trút hơi thở cuối cùng, có thể nói ĐàoNguyên Phổ đã dành gần như toàn bộ tâm huyết, sức lực cho sự nghiệp báochí Trong bẩy năm đó, nhà báo Đào Nguyên Phổ đã nỗ lực hết mình để cho

ra đời những sản phẩm báo chí có giá trị cao, chất lượng tốt cả về nội dung vànghệ thuật Đã có hàng ngàn số báo ra đời trong bẩy năm ấy, trong khi Đào

Nguyên Phổ làm chủ bút ba tờ báo: Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo, Đăng Cổ Tùng Báo, Đại Việt Tân Báo Trên mặt báo và một số bài tựa sách, Đào

Nguyên Phổ ký tên hiệu Cần Giang hoặc tên tự là Hoành Hải, cũng có khi kýbằng một số bút danh khác như: Tảo Bi, Đình Đào, Đào Đình, Quang Hoành,Phán Thuỷ Đào, Yên- sĩ- phi- lí- thuần…Đứng vào đội ngũ tri thức Việt Nam,nhà báo Đào Nguyên Phổ là một trong những Hoàng Giáp sớm bộc lộ tưtưởng yêu nước thông qua những tác phẩm ông viết, đăng báo và thông quanhững tác phẩm mà ông biên dịch Dưới sự kiểm duyệt gắt gao của chính phủbảo hộ, những nhà báo yêu nước như Đào Nguyên Phổ phải rất khéo léo, vừa

Trang 37

viết vừa “lách” làm sao để được phép đăng mà vẫn cổ động được tinh thầnyêu nước như đề cao lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, cangợi tấm gương những anh hùng đánh giặc cứu nước như Hai Bà Trưng, TrầnQuốc Tuấn, Lê Lợi…

Ra Hà Nội làm báo, Đào Nguyên Phổ quen biết thêm nhiều bậc trí thứclớn, có tư tưởng canh tân đất nước nhưng ông vẫn giữ lại tất cả những ấntượng tốt đẹp về những con người nghĩa khí ở Thái Bình, Bắc Giang, HưngYên, Hải Dương, Nam Định …và tìm cách nối lại quan hệ Trong số nhữngngười bạn vong niên của Đào Nguyên Phổ thì có Kiều Oánh Mậu - người cóchung niềm yêu thích văn học dân tộc, cũng canh cánh trong lòng nỗi niềmlàm sao để đổi mới đất nước Kiều Oánh Mậu cùng Đào Nguyên Phổ, ChuMạnh Trinh…là những nhà nho-ông quan được triều đình cử ra Hà Nội làm

tại Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo, đây là tờ công báo và cũng là tờ báo đầu

tiên xuất hiện ở Hà Nội Đào Nguyên Phổ và Kiều Oánh Mậu, đôi bạn thân,giờ đây lại là đồng nghiệp trong cùng một tờ báo đã khéo léo bàn bạc nhau, sửdụng tờ công báo thành công cụ tuyên truyền cho công cuộc cải cách văn hoá,

xã hội, cổ vũ phong trào duy tân Với chức vụ là Đốc biện (chủ bút), ĐàoNguyên Phổ cùng Hàn Thái Dương, Kiều Oánh Mậu là những cây bút chínhcủa tờ báo, có vai trò quan trọng cùng với nội dung tờ báo

Vì đây là tờ công báo nên có nhiều mục thông thường bắt buộc nhưnhững thông tư, nghị định, quan chế, chế độ thi cử Ngoài ra, giống như tônchỉ của báo đã ghi mục đích của báo là “rộng kiến văn”, “rõ thế nước và hiểutình dân”, “các việc chính trị, kinh tế, xã hội, văn học đều chép đăng báo”.Chủ bút Đào Nguyên Phổ và Kiều Oánh Mậu đã cho đăng những mục thờiluận, phiếm đàm, các mục sinh hoạt xã hội khác cho đến việc phổ biến kiếnthức Đào Nguyên Phổ đã sử dụng tờ báo như một công cụ hợp pháp để “kínđáo tuyên truyền, hô hào tân học, kêu gọi phát triển nền kinh tế quốc dân,

Trang 38

chấn hưng công nghiệp, nông nghiệp, thực nghiệp, các ngành thủ công, cáchội buôn, các công ty thương nghiệp…”[61; tr 156,157].

Mặc dù nội dung của báo được đánh giá là phong phú, có tư tưởng yêunước, canh tân song vì đây là một tờ quan báo lại viết hoàn toàn bằng chữHán nên giới độc giả bị hạn chế nhiều: chỉ có quan lại và nho sĩ là được đọc

tờ Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo, chính vì vậy mà sức ảnh hưởng của nó

không lớn, chưa có tác dụng tuyên truyền cho đông đảo nhân dân, chưa tạodựng được một tiếng vang trong phong trào duy tân Nhưng dù sao thì “vạn

sự khởi đầu nan”, Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo cũng đã có vị trí quan trọng

và đóng góp lớn cho nền báo chí Việt Nam, đặt viên gạch đầu tiên trong sựnghiệp báo chí Bắc Kỳ Đây là một bước thử nghiệm đầu tiên trong sự nghiệpnhà báo của Đào Nguyên Phổ Từ bước khởi đầu này, Đào Nguyên Phổ đã cóthêm nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng báo chí làm công cụ đấu tranhcho tiến bộ xã hội, văn minh đất nước Hơn nữa, cũng nhờ những bước đikhởi đầu này mà cây bút của nhà báo Đào Nguyên Phổ đã vững chắc hơn, già

dặn hơn Sau này, khi Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo chuyển thành Đăng Cổ Tùng Báo (năm 1907), Đào Nguyên Phổ vẫn thuỷ chung ở lại với báo, vẫn

giữ vị trí là chủ bút và đóng vai trò quan trọng không thể thiếu của tờ báo này

Trong khi đang làm chủ bút ở Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo, Đào

Nguyên Phổ lại nhận thêm công việc tương tự này ở một tờ báo tư nhân mới

mở là Đại Việt Tân Báo Đại Việt Tân Báo ra số đầu ngày 21-2-1905 với sự

nỗ lực, cố gắng hết mình của “người cha đỡ đầu” là Ernest Babut, người vốn

là thành viên trong “Liên minh bảo vệ nhân quyền và dân quyền Pháp” Cũngchính Babut là người đã tìm mọi cách để đảm bảo hoạt động của toà báo, bảo

vệ và duy trì nó trước nhiều biến cố chính trị

E.Babut mở Đại Việt Tân Báo, được sự giúp đỡ rất nhiều của chính

quyền bảo hộ nhưng dù sao nó vẫn là tờ báo tư nhân nên phần nào có sự tự do

Trang 39

hơn công báo Trong buổi đầu mới xuất hiện, số lượng người làm báo còn ít,lại thấy Đào Nguyên Phổ là người có kiến thức sâu rộng, hiểu biết cả nền Hánhọc truyền thống và Tây học, lại là một nhà khoa bảng danh vọng nên đã mời

ông làm chủ bút cả bên Đại Việt Tân Báo Dù công việc có vất vả hơn nhưng

được làm công việc mình thích, được cống hiến nhiều hơn cho sự phát triển,

mở mang báo chí, cho công cuộc cải cách, canh tân văn học nên Đào Nguyên

Phổ vui vẻ nhận lời Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo là công báo, Đào Nguyên Phổ làm vì đó là công việc được triều đình giao phó, còn đối với Đại Việt Tân Báo, một tờ báo tư nhân nên Đào Nguyên Phổ nhận lời làm để có thêm “đất

tự do” mà thoả sức vung bút Nhưng đối với cả hai tờ báo này, ông chủ bútđều làm việc hết sức nghiêm túc, nhiệt tình, đều cố gắng tối đa trong việc sửdụng báo chí thể hiện tư tưởng yêu nước theo cách của mình

Đại Việt Tân Báo in cả bằng chữ Hán và chữ Quốc ngữ, ra mỗi tuần hai

số và đặt trụ sở tại 90 phố Hàng Mã, Hà Nội Đây là tờ báo đầu tiên ở Bắc Kỳ

có sử dụng chữ quốc ngữ nên thu hút được đông đảo ký giả và độc giả quantâm Nhưng có lẽ những cái mới quá, tự do quá nhiều khi bị vượt ngưỡng tiếpnhận của những độc giả vừa tò mò lại vừa quá bảo thủ Mính Viên Huỳnh

Thúc Kháng, sau này làm chủ báo Tiếng Dân đã kể lại rằng cụ Ngô Đức Kế

đã từng ra tận Hà Nội gặp Đào Nguyên Phổ để chỉ trích vì chủ bút ĐàoNguyên Phổ đã cho in lên báo một bài ca dao dung tục Đầu đuôi chuyện nhưsau:

Theo giai thoại kể lại thì khi Đào Nguyên Phổ đi thi Hương đỗ cử nhâncác vị quan chủ khảo đầu tỉnh ngạc nhiên bán tín bán nghi nên muốn kiểm tralại tài năng của Đào Nguyên Phổ Nhân một bữa tiệc chúc mừng thân mật,quan Tổng Đốc đã đọc một bài ca dao vui, yêu cầu các vị tân khoa dịch ra chữHán mà vẫn giữ nguyên được thể lục bát ban đầu, ai dịch hay có thưởng Bài

ca dao như sau:

Trang 40

Con gái mười bảy mười ba Đêm nằm với mẹ chuột tha mất l…

Nó tha lên núi lên non

Nó đem làm tổ cho con nó nằm

Nó tha xuống vũng trâu đằm

Nó đem nó bán quan năm nó về.

Thời gian trôi qua trong im lặng, khi chưa ai làm xong thì Đào Văn Mại

đã đứng dậy đọc bài dịch của mình:

Thiếu nữ thập thất thập tam

Dạ ngoạ dữ mẫu tí hàm thất âm

Tí hàm thượng đáo sơn lâm

Tí bao tí tử dĩ âm vi sào

Tí hàm tí há ngưu hào

Tí tương tí mại nhị mao tí hoàn

Bản dịch đã chính xác ý, lại đáp ứng đúng vần, câu chữ, làm cho các vịquan chủ khảo và quan đầu tỉnh đều thoả mãn, tâm phục khẩu phục thành tíchthi cử của Đào Văn Mại là đúng với tài năng thực chất

Gần ba mươi năm sau, khi làm báo ở Hà Nội, với cương vị là chủ bút

của Đại Việt Tân Báo, một tờ báo tư nhân có in chữ quốc ngữ và tương đối tự

do, Đào Nguyên Phổ đã cho in bản dịch bài ca dao này lên báo Hành độngnày đã làm mếch lòng cụ nghè Ngô Đức Kế Chính vì vậy mà vị tiến sĩ họNgô này đã không quản đường xa, lặn lội ra tận Hà Nội để phản hồi ý kiếnvới ông chủ bút Ngô Đức Kế cho rằng bài thơ này là dung tục tầm thường,không nên đăng lên báo chương, làm mất đi sự nghiêm túc, đứng đắn trong xãhội

Khi Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo chuyển tên thành Đăng Cổ Tùng Báo cũng là lúc Đào Nguyên Phổ giúp sức phía sau cho một số nhà nho duy

Ngày đăng: 16/08/2013, 20:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
41. Tôn Quang Phiệt (1957), Phan Bội Châu niên biểu: Tức “Tự phê phán”, Nxb Văn sử địa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự phê phán
Tác giả: Tôn Quang Phiệt
Nhà XB: Nxb Văn sử địa
Năm: 1957
1. Huỳnh Công Bá (2008), Lịch sử văn hoá Việt Nam, Nxb Thuận Hoá, Huế 2. Cù Huy Cận, Phan Thuận An…, (1996), một trăm năm trường quốc học Huế 1896-1996, Huế Khác
3. Phan Bội Châu (1946), Ngục trung thư: Bức thư viết trong ngục, Quang trung thư xã, Hà Nội Khác
4. Claude Bourrin (2009), Đông Dương ngày ấy, Nxb Lao động Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Khác
5. Phan Đại Doãn, Trần Đình Hượu, Đỗ Hoà Hới (1998), Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
6. Nhóm Lê Quý Đôn (1957), Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, tập 3: từ giữa thế kỷ XIX đến 1945, Nxb Xây dựng, Hà Nội Khác
7. Trần Văn Giàu (1975), Sự phát triển của t tởng Việt Nam từ thế kỷ XX đến Cách mạng tháng tám năm 1945, Nxb KHXH Hà NộiTập 2: ý thức hệ t sản và sự bất lực của nó trớc các nhiệm vụ lịch sử Khác
8. Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Sự (1957), Lịch sử Việt Nam từ 1897 đến 1914, Xây dựng Xuất bản, Hà Nội Khác
9. Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Hoàng Văn Lân (1961), Lịch sử cận đại Việt Nam, tập 3, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
10. Trần Văn Giàu (1980), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Khác
11. Dương Quảng Hàm(2002), Việt Nam văn học sử yếu, Nxb Hội nhà văn. Hà Nội Khác
12. Dương Quảng Hàm (1943), Việt văn giáo khoa thư, Nha học chính Đông Pháp, Hà Nội Khác
13. Cao Xuân Hạo, Chữ Tây chữ Hán- thứ chữ nào hơn, Kiến thức ngày nay số 141 ngày 16-6-1994 Khác
14. Nguyễn Phạm Hùng (2001), Văn học Việt nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Khác
15. Đỗ Quang Hưng (2000), Lịch sử báo chí Việt Nam 1865- 1945, Nxb ĐHQG Hà Nội Khác
16. Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng (1988),Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900- 1930, Nxb Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội Khác
17. Trần Đình Hượu (1995), Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Khác
18. Trần Đình Hượu (2007), Các bài giảng về tư tưởng phương Đông, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
19. Trần Đình Hượu (1996), Đến hiện đại từ truyền thống, Nxb Văn hoá- Thông tin, Hà Nội Khác
20. Lương Hữu (2006), Đào Nguyên Phổ và bản dịch phú Tiền Xích Bích, tạp chí Xưa và nay, số 251- 252 tr. 76-77 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w