1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thiết lập kế hoạch marketing điện tử để quảng cáo, giới thiệu sản phẩm đến một thị trường nước ngoài j

14 98 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 603,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với doanh thu hàng năm hơn 1.200 tỷ đồng, Seaprodex Danang là một trong những đơn vị mạnh của khối doanh nghiệp chế biến, kinh doanh, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.. Từ năm 2007 đến na

Trang 1

1 Khái niệm website, website thương mại điện tử

Thuật ngữ website đã trở nên quen thuộc đối với nhiều người tuy nhiên hiện vẫn chưa có khái niệm thống nhất về website.

Theo Wikipedia, Website là một tập hợp những trang Web liên quan, những ảnh, những video hay tài sản số khác mà được lưu trữ trên một máy chủ trang web, thông thường có thể truy cập qua Internet.

Website là một tập hợp các trang web bắt đầu bằng một tệp với địa chỉ tên miền Một trang web có thể bao gồm chữ, hình ảnh, video, âm thanh và đường kết nối (links) Trang web bao giờ cũng bao gồm trang chủ (homepages) và các trang nội dung (main pages) Website thương mại điện tử cũng là website động với các tính năng mở rộng cao cấp cho phép giao dịch qua mạng như: giỏ hàng, đặt hàng, thanh toán qua mạng,quản lý khách hàng, quản lý đơn đặt hàng vvv

2-tổng quan về hoạt động công ty XNK Thủy sản Miền Trung

GIỚI THIỆU CHUNG

Tên đầy đủ : Công ty Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Thủy Sản Miền Trung Tên giao dịch: SEAPRODEX DANANG

Thành lập : 26/02/1983

Địa chỉ : Số 01- Bùi Quốc Hưng - Phường Thọ Quang - Quận Sơn Trà- TP Đà Nẵng

Điện thoại : (84.511) 3826870 - 3823833 - 3821436

Fax : (84.511) 3823769 - 3824778

Email : info@seadanang.com.vn

Website : www.seadanang.com.vn

Hình thức sở hữu : Công ty cổ phần

Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc : Ông Lê Hồng Sơn

EU Code : DL10, DL190, DL506

Hệ thống quản lý chất lượng đã áp dụng : ISO 9001:2000, ISO 9001-2008, ISO 22000-2005, HACCP, BRC

Trang 2

Với doanh thu hàng năm hơn 1.200 tỷ đồng, Seaprodex Danang là một trong những đơn vị mạnh của khối doanh nghiệp chế biến, kinh doanh, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam

Sau hơn 28 năm xây dựng và phát triển Seaprodex Danang đã vinh dự nhận danh hiệu Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới; Huân chương lao động: Hạng

ba (năm 1992); Hạng nhì (năm 1998); Hạng nhất (năm 2003), là doanh nghiệp xuất khẩu uy tín 08 năm liền do Bộ Công Thương xét chọn (2004-2011); Doanh nghiệp xuất khẩu xuất sắc năm 2009 do Hội nghề cá bình chọn; đạt Cúp vàng hội nhập kinh tế quốc tế lần thứ nhất năm 2008, lần hai năm 2010; hiện là thành viên Câu lạc

bộ 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam (VNR500) và rất nhiều danh hiệu quan trọng khác

Từ năm 2007 đến nay, sau khi bước vào hoạt động dưới hình thức Công ty Cổ phần, với sự nổ lực, tâm huyết của tập thể cán bộ công nhân viên và đội ngũ lãnh đạo, hoạt động của Seaprodex Danang đang dần hoàn thiện theo định hướng khép kín trong chuỗi giá trị: từ sản xuất thức ăn nuôi thuỷ sản đến chế biến - dịch vụ kho vận - xuất khẩu thuỷ sản, an toàn vệ sinh thực phẩm được kiểm soát chặt chẽ và khả năng truy xuất nguồn gốc sản phẩm dễ dàng; tạo lập một hệ thống hoạt động năng động - chuyên nghiệp - hiệu quả, một môi trường làm việc thân thiện, văn hoá, và

sự hoàn thiện liên tục những tiêu chuẩn chất lượng về hệ thống, về nguồn lực và sản phẩm

LỊCH SỬ SEAPRODEX DANANG

Vào đầu những năm 1980, trong bối cảnh nhà nước thử nghiệm cơ chế mới “tự cân đối - tự trang trải”, cùng với nhu cầu khách quan về phát triển kinh tế thuỷ sản khu vực Miền Trung, ngày 26 tháng 2 năm 1983, Chi nhánh Xuất Khẩu Thuỷ Sản Đà nẵng, tiền thân của Công ty XNK Thuỷ Sản Miền Trung được thành lập, thay thế cho Trạm tiếp nhận thuỷ sản Đà Nẵng, xây dựng một mô hình làm ăn mới

Công ty XNK Thủy Sản Miền Trung được thành lập theo quyết định số 242/TS-QĐ ngày 31/3/1993 của Bộ Thủy Sản, là doanh nghiệp nhà nước, hạch toán độc lập, thành lập và tổ chức hoạt động kinh doanh về thuỷ sản, phục vụ sản xuất kinh doanh thuỷ sản và các ngành nghề khác theo qui dịnh của pháp luật Công ty có quyền tự chủ kinh doanh, tự chủ về tài chính

Nguyên tắc hoạt động kinh doanh của công ty là gắn thương mại với sản xuất, gắn kinh tế với chính trị xã hội, không ngừng tạo thế và lực cho mình mà nội dung cơ bản là tạo vốn, tạo cơ sở vật chất, tạo uy tín; phải xây dựng một đội ngũ quản lý, cán bộ nghiệp vụ kỹ thuật và công nhân lành nghề tận tâm, tận lực vì sự phát triển của công ty; linh hoạt thích nghi để hội tụ bạn hàng, đảm bảo hài hoà lợi ích

Thực hiện chủ trương của nhà nước về sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp, Seaprodex

Trang 3

Danang không thuộc diện giữ lại là doanh nghịêp nhà nước nên Bộ Thủy Sản đã có quyết định số 1226/QĐ-BTS ngày 21/10/2005 về việc cổ phần hoá và thành lập Ban chỉ đạo cổ phần hoá Công ty cổ phần XNK Thuỷ Sản Miền Trung

Ngày 09 tháng 12 năm 2006, Công ty đã tổ chức thành công Đại hội cổ đông thành lập Công ty Cổ Phần XNK Thuỷ Sản Miền Trung, và ngày 01/01/2007, Công ty Cổ Phần XNK Thuỷ Sản Miền Trung chính thức đi vào hoạt động

LĨNH VỰC KINH DOANH

Chế biến - xuất khẩu thuỷ sản: Sản phẩm chủ đạo của Công ty ngoài tôm

thẻ chân trắng, còn có các mặt hàng thủy sản giá trị gia tăng truyền thống khác như mực nang sashimi, cá xiên que Các sản phẩm của Công ty được tiêu thụ với doanh số lớn ở nhiều thị trường trên toàn thế giới bao gồm Nhật, Châu Âu, Mỹ, Châu Á, Châu Úc

Sản xuất - kinh doanh thức ăn nuôi thuỷ sản: Công ty sản xuất, kinh

doanh các loại thức ăn nuôi tôm, cá trên dây chuyền thiết bị công nghệ tiên tiến nhất hiện nay, theo qui trình kiểm soát chặt chẽ, hệ số tiêu tốn thức ăn tối

ưu, tổng hợp đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng cho thuỷ sản nuôi Ngoài ra còn thực hiện các dịch vụ kỹ thuật công nghệ, vật tư, thiết bị phục vụ nuôi trồng thuỷ sản

Kinh doanh dịch vụ kho vận: Công ty có hệ thống kho bảo quản lạnh với

công suất lớn được đầu tư tại cả 2 khu vực là Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh thỏa mãn tốt mọi nhu cầu cấp đông và bảo quản lạnh các loại thuỷ hàng sản, súc sản, nông sản

Kinh doanh vật tư nhập khẩu: Kinh doanh vật tư nhập khẩu là lĩnh vực

kinh doanh truyền thống, chuyên nghiệp của Seaprodex Danang với hơn 25 năm kinh nghiệm, đã khẳng định được thương hiệu, uy tín của một nhà cung cấp, một nhà bán buôn và bán lẻ lớn của các đối tác, khách hàng trong và ngoài nước Công ty chuyên kinh doanh nhập khẩu các loại vật tư: hạt nhựa, sắt thép, giấy, bột giấy, hàng tiêu dùng, thiết bị văn phòng, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất

Trang 4

GIÁ TRỊ CỐT LÕI

Đầu tư vào con người là đầu tư vào chất lượng công việc, chất lượng sản

phẩm;

Lấy chữ tín đối với khách hàng và các bên liên quan làm phương châm hoạt

động;

 Lấy các giá trị "đoàn kết - trung thành - năng động - chuyên nghiệp" làm nền tảng văn hóa doanh nghiệp

Hợp tác cùng phát triển là môi trường và sức mạnh để tồn tại và cạnh tranh

lành mạnh hướng vào thị trường và phát triển bền vững

 Tin ngành

Ngành tôm thế giới dự báo sự trỗi dậy của Đông Á

(Ngày 03/10/2011) Năm 1980, Inđônêxia, Trung Quốc và Equađo là những nước sản xuất tôm lớn nhất thế giới Đến nay, bốn nước Đông Á là Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan và Inđônêxia đã chiếm tới 75% sản lượng toàn cầu

30 năm qua, sản lượng tôm của khu vực Đông Á đã tăng chóng mặt Mặc dù, vào

Trang 5

năm 1980, Trung Quốc và Êquađo tranh giành vị trí nhà sản xuất tôm lớn thứ hai thế giới nhưng từ lâu Trung Quốc đã vượt qua tất cả các nước khác và chiếm 38% sản lượng tôm thế giới

Năm 2009, Trung Quốc là nước duy nhất sản xuất hơn 1 triệu tấn tôm Các nước Đông Á khác cũng phát triển nhanh chóng Theo số liệu thống kê từ Tổ chức Nông lương Liên Hiệp quốc (FAO), năm 2009, Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan và Inđônêxia đã sản xuất ba phần tư sản lượng tôm nuôi thế giới (gồm tất cả các loài) Trong khi đó, 13 nước sản xuất tôm lớn nhất Trung và Nam Mỹ chỉ chiếm chưa đến một phần năm (18%) sản lượng toàn cầu

Sản lượng gia tăng đặc biệt mạnh mẽ từ đầu thế kỷ mới Năm 2009, sản lượng tôm thế giới là 3.495.972 tấn, gấp 50 lần so với sản lượng năm 1980 với 71.897 tấn tôm (tất cả các loài)

(Theo Tạp chí Thương mại Thủy sản)

SẢN LƯỢNG THỦY SẢN 2 THÁNG ĐẠT 711.8 NGÀN TẤN, TĂNG 2.4%

(Ngày 02-03-2011)

Theo Tổng cục Thống kê, sản lượng thủy sản 2 tháng đầu năm 2011 ước đạt 711.8 ngàn tấn, tăng 2.4% so với cùng kỳ năm 2010

Trang 6

Ảnh: Tại Công ty Chế biên và Xuất khẩu Thuỷ sản Thọ Quang

Trong đó sản lượng nuôi trồng đạt 304.5 ngàn tấn, tăng 5.1%; sản lượng khai thác đạt 407.3 ngàn tấn, giảm 1.4%

Tính riêng trong tháng 2, sản lượng thủy sản đạt 355.4 ngàn tấn, tăng 2.4%

so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 277.3 ngàn tấn, tăng 2.2%; tôm đạt 27.2 ngàn tấn, tăng 6.3%

Sản lượng nuôi trồng khoảng 143 ngàn tấn, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 112 ngàn tấn, tăng 4.7%; tôm đạt 16.5 ngàn tấn, tăng 10%

Mặc dù sản lượng nuôi trồng tăng khá do giá cá tra nguyên liệu đang ở mức cao, nhưng giá chi phí đầu vào tăng nên việc đầu tư diện tích thả nuôi chưa được

mở rộng Vì vậy trong thời gian tới, nguồn cá tra nguyên liệu vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhà máy chế biến

Còn sản lượng khai thác tháng 2 ước đạt 212.4 ngàn tấn, tăng 0.6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 165.3 ngàn tấn, tăng 0.7%; tôm đạt 10.7 ngàn tấn, tăng 0.9%

(Theo Vietstock - 02/03/2011)

Trang 7

GIÁ TÔM XUẤT KHẨU TĂNG MẠNH TRONG THÁNG ĐẦU NĂM

(Ngày 07-03-2011)

Với giá XK trung bình 9,22 USD/kg, tăng 15% so với cùng kỳ năm ngoái, giá trị XK tôm của cả nước trong tháng 1/2011 đạt mức tăng trưởng ấn tượng, 47% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi khối lượng XK tăng 27,5%

Theo thống kê của Hải quan, trong tháng 1/2011, có 198 DN tham gia XK tôm ra 58 thị trường trên thế giới với khối lượng gần 16 nghìn tấn, trị giá 146,5 triệu USD

XK tôm vẫn đứng đầu về giá trị trong số các mặt hàng chính, chiếm 33,7% tổng giá trị XK thủy sản tháng 1/2011 Hai sản phẩm chính là tôm sú và tôm chân trắng vẫn tiếp tục tốc độ tăng trưởng mạnh, trong đó tôm chân trắng tăng 50% về khối lượng và 79% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái, tôm sú tăng lần lượt 28%

và 40% XK tôm chân trắng đạt 4,6 nghìn tấn, trị giá 35,7 triệu USD, chiếm 24,4% tổng giá trị XK tôm, XK tôm sú đạt 8,5 nghìn tấn, trị giá 87,3 triệu USD, chiếm gần 60% tổng giá trị XK tôm

Trong tháng 1, các DN tôm đẩy mạnh XK sang các thị trường lớn như Nhật,

Mỹ, EU, Canađa, Hàn Quốc, vì nhu cầu ở các thị trường này tăng và giá NK cũng hấp dẫn hơn, trong khi XK sang Ôxtrâylia và một số thị trường Châu Á như Đài Loan, Philippin giảm và giá NK cũng giảm, trong đó XK sang Ôxtrâylia giảm gần 40% về cả khối lượng và giá trị, giá trung bình giảm 4,3% so với cùng kỳ năm ngoái xuống còn 8,96 USD/kg

Giá trung bình XK sang Mỹ cao nhất, đạt 11,75 USD/kg, tăng 17,6% so với cùng kỳ năm ngoái, tiếp đến Thụy Sỹ 11,51 USD/kg, tăng 15,2%, Canađa 10,62 USD/kg, tăng 11,4%; giá XK sang các thị trường khác cũng tăng khả quan Đặc biệt, khối lượng XK tôm sang ASEAN giảm mạnh, 54,5%, nhưng giá trung bình

XK tăng gần gấp đôi từ 4,64 USD/kg lên 8,57 USD/kg, chứng tỏ thị trường này đã

Trang 8

bắt đầu quan tâm đến tôm chất lượng cao.

10 thị trường NK lớn nhất gồm Nhật, Mỹ, Trung Quốc và Hồng Kông, Đức, Canađa, Hàn Quốc, Đài Loan, Anh, Ôxtrâylia và Pháp, chiếm 72,6% tổng giá trị

XK tôm của Việt Nam, trong đó XK sang Canađa tăng mạnh nhất, gần 8 lần so với cùng kỳ năm ngoái, Đức tăng gần 3 lần, Thụy Sỹ tăng gần 2,5 lần và các thị trường khác cũng tăng trưởng từ 15% – 68%

Nguồn: Trích từ Vasep, 07/03/2011

Những thách thức đối với xuất nhập khẩu thủy sản

Năm tháng đầu năm 2012, xuất khẩu thủy sản Việt Nam tuy vẫn đạt 2,324 tỷ USD, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm ngoái, nhưng thực trạng của ngành sản xuất và xuất khẩu thủy sản Việt Nam đang khó khăn, với nhiều bất cập, khiến lợi nhuận giảm Nếu không có các tác động thay đổi, sẽ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng bền vững của ngành xuất khẩu thủy sản trong tương lai

Thiếu nguyên liệu

Mặc dù số lượng thống kê của Tổng cục Thủy sản về sản lượng khai thác

và nuôi trồng thủy sản của cả nước trong 5 tháng đầu năm nay vẫn tăng so với cùng kỳ năm ngoái, nhưng ngành chế biến và xuất khẩu thủy sản vẫn chưa thoát khỏi tình trạng thiếu nguyên liệu ngày càng tăng như mấy năm trước Nguyên nhân do sản lượng 2 loài thủy sản nuôi chính không ổn định, dịch bệnh trên tôm làm giảm sản lượng, nhất là với tôm sú, diện tích nuôi cá tra cũng giảm do nông dân thiếu vốn đầu tư nuôi và do giá cá bất

ổn làm ảnh hưởng tâm lý người nuôi

Trang 9

Sản lượng các loài có giá trị kinh tế cao như cá ngừ, mực, bạch tuộc vẫn thấp, trong khi sản lượng tăng lại tập trung chủ yếu vào các loài cá có giá trị thấp, cá tạp… Người nuôi và ngư dân thiếu vốn để sản xuất, đầu tư trở lại khi tôm hoặc cá tra bị rớt giá, dịch bệnh Các doanh nghiệp khó thu mua nguyên liệu vì nông dân không bán chịu, trong khi vòng quay vốn chậm do thị trường tiêu thụ khó khăn về tài chính

Thiếu vốn

Với mức lãi suất quá cao 19-20% trong 3 tháng đầu năm, cả nông, ngư dân và doanh nghiệp đều thực sự khó khăn để duy trì sản xuất và chế biến khi mà các chi phí đầu vào khác đang tăng mạnh (5-10%) Vốn vay định mức thấp, cùng với việc siết chặt tín dụng của các ngân hàng đối với ngành thủy sản sau vụ vỡ nợ của một số doanh nghiệp khiến cho nhiều doanh nghiệp không còn vốn để duy trì sản xuất

Đặc biệt đối với ngành sản xuất cá tra, thiếu vốn trở nên nghiêm trọng Theo khảo sát của Vasep, có đến hơn 90% số doanh nghiệp mong muốn được tăng hạn mức vay vốn, từ 10-1.400 tỷ đồng, nhằm bổ sung vốn lưu động cho chế biến, cho nuôi cá tra và mua nguyên nhiên liệu, vật liệu, thức

ăn cho vùng nuôi 53,85% số doanh nghiệp tôm có nhu cầu vay vốn đầu tư cho hoạt động phát triển (từ 2-300 tỷ đồng) để bổ sung đầu tư nuôi tôm chân trắng, trang bị máy móc, sửa chữa, bổ sung năng lực cấp đông, vốn trung hạn cho hoạt động xuất khẩu, xây nhà máy thức ăn, phát triển vùng nuôi, cải tạo và nâng cấp nhà xưởng, thiết bị Đối với ngư dân, vấn đề tiếp cận vốn cũng rất khó khăn vì họ cần vốn cho cả việc mua sắm tàu cá và thiết bị để bảo quản cá sau thu hoạch

Bên cạnh đó, các chi phí sản xuất đểu tăng ảnh hưởng đến sức cạnh tranh cho thủy sản xuất khẩu Doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Miền Trung còn phải đối phó với áp lực tăng chi phí đầu vào cho sản xuất, như giá nhiên liệu, điện, nước, nhân công, bao bì, cước phí vận chuyển… Bên cạnh đó, việc tăng các loại phí, thuế, như thuế bảo vệ môi trường đối với bao bì nhựa PE để bao gói hàng, trích 2% kinh phí cho công đoàn lấy từ quỹ lương, phí kiểm soát chất lượng thủy sản xuất khẩu, phí kiểm dịch thú y tăng 300% cũng góp phần làm gia tăng chi phí và ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của thủy sản Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế thế giới

có nhiều suy giảm, cạnh tranh thị phần khá khốc liệt

Khó khăn về nguồn vốn và nguyên liệu cùng với sự gia tăng chi phí sản xuất khiến cho số doanh nghiệp tham gia xuất khẩu thủy sản giảm mạnh

Trang 10

Khủng hoảng thị trường

Thị trường châu Âu bị suy giảm do khủng hoảng nợ công cũng là một khó khăn lớn cho xuất khẩu thủy sản của công ty Là thị trường lớn nhất trong

số 129 thị trường tiêu thụ thủy sản Việt Nam, nhưng trong quý I năm nay, xuất khẩu sang EU đã sụt giảm 7,9% so với cùng kỳ năm ngoái, do khủng hoảng nợ công ở khu vực này khiến tình hình kinh tế tài chính khó khăn, nhu cầu nhập khẩu không ổn định và khả năng thanh toán chậm

Tỷ trọng của thị trường EU cũng bị giảm dần gần 5% (từ 24,2% xuống còn 19,7%) Xuất khẩu 2 mặt hàng chủ lực là tôm và cá tra đều giảm mạnh (giảm từ 21,8% và 12,4%) Tuy nhiên, xuất khẩu cá ngừ, mực, bạch tuộc sang thị trường này vẫn khả quan (cá ngừ tăng 29%, mực, bạch tuộc tăng trên 0,7%

Xuất khẩu tôm sú giảm, khả năng cạnh tranh của tôm Việt Nam cũng giảm Đối với Việt Nam, với diện tích nuôi trên 600.000 ha, sản lượng tôm sú mỗi năm đạt trên 300.000 tấn tạo cho Việt Nam thế mạnh hơn so với nhiều nước khác Tuy nhiên, dịch bệnh bùng phát trên tôm sú thâm canh đã và đang ảnh hưởng đến chất lượng, uy tín và giá trị mặt hàng này

Sụt giảm mặt hàng chủ lực

Năm 2011, trong hơn 97.000 ha tôm bị thiệt hại, có tới trên 82.000 ha là tôm sú nuôi thâm canh bị chết, đã ảnh hưởng lớn tới mặt hàng chủ lực này của Việt Nam Giá trị xuất khẩu tôm chân trắng năm 2011 của Việt Nam đạt 704 triệu USD, chiếm 30% tổng giá trị xuất khẩu tôm, tăng 70% so với năm 2010 Trong khi đó, giá trị tôm sú lại giảm 0,6% xuống còn 1,43 tỷ USD, chiếm 59% tổng giá trị xuất khẩu tôm của Việt Nam Quý I /2012, xuất khẩu tôm tiếp tục giảm 4,7% chỉ còn 235 triệu USD Giá tôm trên thị trường thế giới giảm tác động không nhỏ tới giá trị xuất khẩu tôm của Việt Nam trong quý I/2012 Mức tăng chỉ đạt 9%(so với trên 35% trong 3 tháng đầu năm 2011) Ngoài ra giá tôm giảm tạo thêm áp lực cho các doanh nghiệp tôm đang phải đối mặt với chi phí đầu vào như xăng, dầu, điện, lương nhân công… đều tăng Đây là vấn đề báo động đối với tôm Việt Nam, vì khả năng cạnh tranh đang bị sụt giảm do giá thành sản xuất cao, dẫn đến giá chào bán cao hơn các nước

Nhập khẩu nguyên liệu tăng

Ngày đăng: 14/11/2018, 13:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w