Vì vậy thiết bị giáo dục không chỉ cần thiết để việc dạy học của cô và trò tốt hơn mà nó còn có vai trò quan trọng trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, đây là một hoạt động hết sức
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
LÊ THỊ THU HIỀN
QUẢN LÝ THIẾT BỊ, ĐỒ DÙNG, ĐỒ CHƠI THEO HƯỚNG CHUẨN HÓA Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
LÊ THỊ THU HIỀN
QUẢN LÝ THIẾT BỊ, ĐỒ DÙNG, ĐỒ CHƠI
THEO HƯỚNG CHUẨN HÓA Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tác giả luận văn bày tỏ lòng biết ơn đến:
Ban giám đốc, Cán bộ, Giảng viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã quan tâm giúp đỡ tạo điều kiện cho tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu
và thực hiện luận văn
Ban lãnh đạo, chuyên viên Phòng GD&ĐT Việt Trì, các đồng chí cán
bộ quản lý, các cô giáo, và nhân viên các trường mầm non trên địa bàn Thành phố Việt trì - tỉnh Phú Thọ đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi nghiên cứu, khảo sát làm cứ liệu cho luận văn của mình
Đặc biệt, tác giả xin trân trọng bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc
đến PGS TS Phan Văn Nhân đã nhiệt tình, tận tụy hướng dẫn thực hiện đề
tài nghiên cứu khoa học này
Trong suốt thời gian học tập và làm đề tài nghiên cứu mặc dù đã rất cố gắng song do khả năng nghiên cứu của tôi có hạn, kinh nghiệm trong công tác
và nghiên cứu khoa học còn ít nên chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi những khiếm khuyết Kính mong, thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp đóng góp, giúp đỡ để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 8 năm 2018
Tác giả luận văn
Lê Thị Thu Hiền
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi số liệu sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ
ràng, kết quả của đề tài: “Quản lý thiết bị, đồ dùng, đồ chơi theo hướng chuẩn hóa ở các trường mầm non thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ” là
công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chƣa từng đƣợc công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới nay
Hà Nội, tháng 8 năm 2018
Tác giả luận văn
Lê Thị Thu Hiền
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ của đề tài 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ THIẾT BỊ, ĐỒ DÙNG, ĐỒ CHƠI THEO HƯỚNG CHUẨN HÓA Ở TRƯỜNG MẦM NON 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước 6
1.1.2 Nghiên cứu trong nước 8
1.2 Thiết bị, đồ dùng, đồ chơi giáo dục mầm non 11
1.2.1 Thiết bị, đồ dùng, đồ chơi 11
1.2.2 Phân loại thiết bị, đồ dùng, đồ chơi giáo dục mầm non 13
1.2.3 Tính chất của TBĐDĐC 15
1.2.4 Chuẩn thiết bị, đồ dùng, đồ chơi 17
1.3 Vai trò của đồ dùng, đồ chơi trong sự phát triển toàn diện của trẻ 18
1.3.1 Đối với sự phát triển toàn diện của trẻ 18
1.3.2 Nguyên tắc sử sụng thiết bị, đồ dùng, đồ chơi trong chăm sóc, giáo dục trẻ 20
1.4 Quản lý TBĐDĐC ở trường MN Theo hướng chuẩn hóa 24
1.4.1 Quản lý 24
1.4.2 Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 28
1.4.3 Quản lý TBĐDĐC 30
1.4.4 Nội dung quản lý thiết bị, đồ dùng, đồ chơi theo hướng chuẩn hóa 31
Trang 61.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý TBĐDĐC theo hướng chuẩn hóa 37
1.5.1 Yếu tố khách quan 37
1.5.2 Yếu tố chủ quan 38
Kết luận chương 1 39
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÍ THIẾT BỊ, ĐỒ DÙNG, ĐỒ CHƠI Ở TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÖ THỌ 40
2.1 Giáo dục Mầm non Thành phố Việt Trì, Tỉnh Phú Thọ 40
2.2 Khảo sát đánh giá thực trạng quản lý TBĐDĐC giáo dục mầm non 46
2.3 Thực trạng TBĐDĐC ở các trường MN Thành phố Việt Trì, Tỉnh Phú Thọ 46
2.3 Thực trạng quản lý TBĐDĐC ở các trường MN Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 52
2.3.1 Nhận thức cán bộ quản lý và giáo viên về tầm quan trọng của TBĐDĐC 52
Khảo sát về nhận thức của giáo viên, cán bộ quản lý, nhân viên ở các trường mầm non trong nhóm lựa chọn khảo sát cho kết quả như sau: 52
2.3.2 Lập kế hoạch công tác quản lý TBĐDĐC 54
2.3.3 Chỉ đạo công tác quản lý TBĐDĐC 56
2.3.4 Tổ chức mua sắm trang bị TBĐDĐC 61
2.3.5 Tổ chức quản lý sử dụng TBĐDĐC 63
2.3.6 Kiểm tra, đánh giá công tác QL TBĐDĐC 66
Kết luận chương 2 73
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÍ THIẾT BỊ, ĐỒ DÙNG, ĐỒ CHƠI THEO HƯỚNG CHUẨN HÓA Ở TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÖ THỌ 75
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 75
3.1.1 Đảm bảo tính mục đích 75
3.1.2 Đảm bảo tính phù hợp 75
3.1.3 Đảm bảo tính thực tiễn 75
Trang 73.1.4 Đảm bảo tính khả thi 76
3.1.5 Đảm bảo tính hệ thống 76
3.2 Biện pháp 77
3.2.1 Nâng cao nhận thức, trình độ cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên về TBĐDĐC 77
3.2.2 Xây dựng kế hoạch đầu tư, mua sắm, sửa chữa TBĐDĐC để đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa 82
3.2.3 Tăng cường đầu tư kinh phí, tổ chức tập huấn nâng cao năng lực sử dụng thiết bị giáo dục cho cán bộ quản lí, giáo viên các trường mầm non 85
3.2.4 Phòng GD&ĐT chỉ đạo các trường mầm non quản lí TBĐDĐC phù hợp với yêu cầu đổi mới GDMN 88
3.2.5 Tăng cường kiểm tra, đánh giá, xếp loại thi đua về quản lí TBĐDĐC của các trường mầm non 92
3.2.6 Mối quan hệ giữa các biện pháp đề xuất 96
3.3 Khảo sát về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 97
3.3.1 Khảo sát nhận thức về tính cấp thiết và tính khả thi 97
3.3.2 Đánh giá về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 99
Kết luận chương 3 102
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CNH-HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Quy mô phát triển các trường MN thành phố Việt Trì, tỉnh Phú
Thọ giai đoạn 2015-2018 40
Bảng 2.2: Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ của các trường mầm non thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2015-2018 41
Bảng 2.3: Chất lượng đội ngũ giáo viên (năm học 2015-2018) 43
Bảng 2.4: Số lượng và chất lượng đồ dùng đồ chơi ngoài trời ở các trường MN Thành phố Việt Trì (tính đến tháng 9 năm 2017) 47
Bảng 2.5: Thực trạng thiết bị, đồ dùng đồ chơi trong lớp (tính đến tháng 9 năm 2017) 48
Bảng 2.6: Quy mô, chất lượng đồ dùng, dụng cụ phục vụ cho việc chăm sóc nuôi dưỡng các trường MN Thành phố Việt Trì (tính đến tháng 9/2017) 50
Bảng 2.7: Số lượng và chất lượng đồ dùng thiết bị phục vụ cho các hoạt động chung ở các trường MN thành phố Việt Trì (tính đến tháng 9/2017) 51
Bảng 2.8: Kết quả khảo sát về nhận thức của giáo viên, cán bộ quản lý, nhân viên các trường Mầm non về tầm quan trọng của TBĐDĐC 53
Bảng 2.9: Kết quả điều tra thực trạng công tác lập kế hoạch TBĐDĐC 55
Bảng 2.10: Việc chỉ đạo công tác quản lý TBĐDĐC 56
Bảng 2.11: Đánh giá mức độ tổ chức thực hiện kế hoạch QLTBĐDĐC 60
Bảng 2.12: Số lượng kinh phí đầu tư, mua sắm TBĐDĐC và số lượng thiết bị tự làm ở trường mầm non thành phố Việt Trì trong năm học 2016 - 2017 61
Bảng 2.13: Thực trạng sử dụng TBĐDĐC trong các môi trường giáo dục 64
Trang 10Bảng 2.14: Thực trạng sử dụng TBĐDĐC 65 Bảng 2.15: Thực trạng kiểm tra, đánh giá quản lý TBĐDĐC trường mầm
non của Phòng GD&ĐT thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2015-2018 66
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nghị quyết số 29-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế đã nhận định giáo dục và đào tạo nước ta trong thời gian qua: “Đã xây dựng được hệ thống giáo dục và đào tạo tương đối hoàn chỉnh từ mầm non đến đại học Cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, đào tạo được cải thiện rõ rệt và từng bước hiện đại hóa” “Tuy nhiên, chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả Chính sách, cơ chế tài chính cho giáo dục và đào tạo chưa phù hợp Cơ sở vật chất
kỹ thuật còn nghèo nàn và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn” Nghị quyết đưa ra nhiệm vụ, giải pháp “Tiếp tục thực hiện mục tiêu kiên cố hóa trường, lớp học; có chính sách hỗ trợ để có mặt bằng xây dựng trường Từng bước hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, đặc biệt là hạ tầng công nghệ thông tin Bảo đảm đến năm 2020 số học sinh mỗi lớp không vượt quá quy định của từng cấp học” [26]
Thực hiện cơ chế đổi mới trong giáo dục và đào tạo, cũng giống như các nền kinh tế khác thì giáo dục cũng cần được quan tâm trong đầu tư cơ sở vật chất Đối với ngành giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) thì cơ sở hạ tầng đó chính
là TBĐDĐC của các trường học, bao gồm: nhà và công trình xây dựng; các máy móc, trang bị, thiết bị phục vụ các hoạt động chăm sóc, giáo dục và các tài sản cố định vô hình Bên cạnh chất lượng đội ngũ nhà giáo thì đây là những điều kiện quan trọng để góp phần đảm bảo chất lượng giáo dục của nhà trường đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại
Đối với các nhà trường mầm non, trẻ được giáo dục thông qua việc tham gia các hoạt động bằng các đồ dùng, đồ chơi để từ đó phát huy tư duy khám
Trang 12phá, tìm tòi những điều thú vị, những thắc mắc của lứa tuổi mần non Vì vậy thiết bị giáo dục không chỉ cần thiết để việc dạy học của cô và trò tốt hơn mà
nó còn có vai trò quan trọng trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, đây
là một hoạt động hết sức quan trọng trong các trường mầm non TBGD có vai trò quan trọng giúp trẻ phát triển nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, thẩm mĩ, thể chất Khi đã có thiết bị dạy học, giáo dục thì việc sử dụng của các nhà trường lại vô cùng quan trọng Sử dụng như thế nào đạt hiệu quả, không lãng phí, đồng thời tham mưu tư vấn để sửa chữa, bổ sung, hiện đại hóa là vấn đề quan tâm của lãnh đạo nhà trường mầm non Tuy nhiên hiện nay, chất lượng giáo dục gắn với việc hiện đại hóa đồ dung dạy học mới chỉ tồn tại ở các trường trung tâm, trọng điểm, mà chưa có những ưu tiên cho các trường mầm non trên địa bàn hẻo lánh, xa xôi, khó khăn, vùng núi và nông thôn Từ việc thiếu TBĐDĐC dẫn đến chất lượng dạy học chưa cao, chưa phát huy hết năng lực của học sinh, gặp rất nhiều khó khăn trong việc thu hút giáo viên giỏi đến công tác, dẫn tới sự chênh lệch khá rõ rệt trong chất lượng giảng dạy ở các trường của thành phố
Song song với việc nâng cao chất lượng, việc quản lý TBĐDĐC là một trong những nhiệm vụ quan trọng đối với các nhà quản lý giáo dục Trong khi
đó, việc quản lý TBĐDĐC tại các trường học ở thành phố Việt Trì nói riêng còn chưa được quan tâm thích đáng Một số trường mầm non đã không ngừng đầu tư mua sắm các trang thiết bị cho trường của mình nhưng vấn đề quản lý chưa đạt hiệu quả cao Việc quản lý TBĐDĐC ở nhiều trường mầm non trên địa bàn Thành phố Việt Trì được thực hiện bằng sổ sách ghi chép, tổng hợp dẫn đến khó khăn trong việc lưu giữ, tìm kiếm, phân tích, tổng hợp dữ liệu về TBĐDĐC phục vụ cho hoạt động giáo dục và các lĩnh vực liên quan Việc bảo quản, bảo trì còn bị coi nhẹ, dẫn đến việc TBĐDĐC xuống cấp một cách nhanh chóng và không được sửa chữa Việc quản lý TBĐDĐC của ngành
Trang 13giáo dục thành phố Việt Trì nói chung, trong đó có cấp học mầm non nói riêng còn không ít bất cập, hạn chế, làm ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục và yêu cầu chất lượng ngày càng cao
Với mong muốn khắc phục những bất cập trong quản lý TBĐDĐC để theo hướng chuẩn hóa ở các trường Mầm non trên địa bàn Thành phố Việt
Trì, tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Quản lý thiết bị, đồ dùng, đồ chơi theo hướng chuẩn hóa ở các trường mầm non thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ” làm luận văn thạc sĩ của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực trạng quản lý TBĐDĐC theo hướng chuẩn hóa ở các trường Mầm non trên địa bàn Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, đề xuất các biện pháp quản lý TBĐDĐC ở các Trường Mầm non trên địa bàn thành phố Việt Trì nhằm góp phần nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục của các trường MN trên địa bàn thành phố
3 Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý TBĐDĐC theo hướng chuẩn hóa
trong các trường mầm non
- Đánh giá thực trạng quản lý TBĐDĐC trường mầm non thành phố
Việt Trì
- Đề xuất các biện pháp quản lý TBĐDĐC theo hướng chuẩn hóa trong
các trường Mầm non tại thành phố Việt Trì
4 Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý TBĐDĐC tại các trường Mầm non thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã được quan tâm nhưng vẫn còn một số hạn chế: nhận thức chưa đúng, đầy đủ về ý nghĩa, vị trí, vài trò của TBĐDĐC; kế hoạch đầu tư, trang bị, mua sắm, bổ sung, bảo quản và sử dụng TBĐDĐC chưa phù hợp với đổi mới giáo dục mầm non… Nếu đề xuất được các biện pháp quản lí
Trang 14TBĐDĐC theo hướng chuẩn hóa đảm bảo phù hợp thực tiễn và có tính khả thi, sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và nuôi dưỡng trẻ ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Việt Trì
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý TBĐDĐC theo hướng chuẩn hóa ở các trường mầm non
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Quản lý TBĐDĐC các trường Mầm non thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Khảo sát thực trạng được thực hiện tại 05 trường Mầm non
- Các biện pháp quản lí được áp dụng ở cấp phòng và cấp trường
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp phân tích lịch sử - logic để tổng quan, chọn lọc các quan điểm, lí thuyết, quan niệm khoa học có liên quan đến quản lí TBĐDĐC theo hướng chuẩn hóa
- Phương pháp so sánh, tổng hợp, khái quát hóa lí luận để xây dựng hệ thống các khái niệm, căn cứ lí luận quản lí TBĐDĐC theo hướng chuẩn hóa
6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi, phỏng vấn, tọa đàm, quan sát về hoạt động quản lí TBĐDĐC ở các trường MN
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lí TBĐDĐC, phân tích, đánh giá hồ sơ quản lí của trường
Trang 157 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm có: phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục và 03 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý TBĐDĐC theo hướng chuẩn hóa ở
Trang 16Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ THIẾT BỊ, ĐỒ DÙNG,
ĐỒ CHƠI THEO HƯỚNG CHUẨN HÓA Ở TRƯỜNG MẦM NON 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Thiết bị đồ dùng đồ chơi (TBĐDĐC) của trường mầm non là hệ thống các phương tiện cần thiết được sử dụng vào các hoạt động chăm sóc giáo dục
trẻ nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra Trong quá trình đổi mới chương trình
giáo dục, thiết bị đồ dùng dạy học là điều kiện bắt buộc phải có để đạt được mục tiêu đề ra và nâng cao chất lượng dạy và học TBĐDĐC một mặt thúc đẩy cho người dạy luôn phải trau dồi kiến thức, đổi mới phương pháp, cách thức giảng dạy, mặt khác giúp người học năng động, tích cực, phát huy tính chủ động, sáng tạo trong học tập, góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục toàn diện Trong xu thế đổi mới giáo dục hiện nay, việc ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại để tạo ra những thiết bị, đồ dùng dạy học đa dạng, phong phú Các chuyên gia trong và ngoài nước đánh giá như sau:
1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước
Trong tác phẩm “Loan báo về một nhà trường mẫu giáo” của Jan Amos Komenski (1592-1670), một nhà sư phạm người Séc vĩ đại, người thầy của dân tộc Séc, của Châu Âu và thế giới, người đã đặt nền móng đầu tiên cho dạy học trực quan, chủ trương giảng dạy bằng hoạt động, bằng sự quan sát trực tiếp, bằng sự tiếp xúc với sự vật trong đời sống hàng ngày Tác phẩm chỉ
ra những phương pháp học tập ở nhà trường mẫu giáo, học mà chơi, chơi mà học, rồi đưa ra những chỉ dẫn về giáo dục thẩm mỹ, đưa âm nhạc, thơ ca, hội họa vào giáo dục trẻ em Đây là những điều mà ở Châu Âu hàng mấy thế kỷ sau người ta mới tiếp nhận và phổ biến Ông còn biên soạn chương trình biên soạn giáo dục trẻ mẫu giáo thành một bộ sưu tập tranh sắp xếp theo chủ điểm mang tên là “Thế giới bằng tranh”, xuất bản năm 1658 Đây là quyển sách
Trang 17bằng tranh vẽ ra đời sớm nhất thế giới “Vì thế, tất nhiên bắt đầu dạy học
không thể từ sự giải thích bằng lời về các sự vật mà phải từ sự quan sát trực tiếp chúng Lời nói không bao giờ được đi trước sự vật” Như vậy, Komenski
đề cao một phương pháp dạy học khuyến khích người học tự tiếp thu tri thức bằng những giác quan của chính mình Ông nhấn mạnh: “ Cái có thể tri giác được hãy để cho cho trẻ tri giác bằng các giác quan của chúng, cái nhìn được hãy để cho nhìn, cái nghe được hãy để cho nghe Đó là quy tắc “vàng” đối với trẻ em, đối với dạy học”
Ông nhấn mạnh việc sử dụng các đồ dùng, các phương tiện trực quan trong dạy học “…Việc dạy học phải bằng sự vật, hiện tượng Vì sự vật là thân thể, lời nói là cái ảo…lời nói mà không có sự vật là vỏ không có nhân, bao không có kiếm, bóng không có hình, thân không có hồn”
Tại Hội nghị quốc tế về giáo dục lần thứ 39 họp tại Giơnevơ (Thụy sĩ)
năm 1984, nhiều hội nghị về TBĐDĐC ở các nước Xã hội chủ nghĩa đã thống nhất “Ngành giáo dục cần được đổi mới thường xuyên về mục đích, cấu trúc, nội dung, TBĐDĐC và phương pháp để tạo cho tất cả các cho trẻ có những cơ hội học tập"
Các công trình của Jean-Jacques Rousseau đã thôi thúc Johann Heinnich Pestalozzi (1746-1827)- Nhà giáo dục Thụy Sĩ phát triển phương pháp dạy học dựa trên thế giới tự nhiên và giác quan đã phát triển quan điểm dạy học trực quan để đạt hiệu quả cao Nội dung của quan điểm dạy học trực quan trên
cơ sở khoa học này là thông qua các sự vật hoặc hình ảnh của chúng và được học viên chứng thực trên cơ sở cảm nhận của các giác quan thay cho lối dạy học cũ, nhồi nhét tri thức
Cùng với sự phát triển của giáo dục, người ta nhận thức rằng trong quá trình dạy học vai trò của phương tiện, thiết bị đồ dùng đồ chơi là quan trọng, không chỉ giúp cho trẻ nhận biết hiện tượng mà còn giúp học cho trẻ nắm
Trang 18được bản chất cơ bản của một vấn đề, bên cạnh đó sử dụng TBĐDĐC có hiệu quả giúp cho trẻ không cảm thấy bị gò bó ép buộc, cảm tính và để khám phá bản chất của đối tượng khi tham gia vào tiết học Vấn đề này Lênin đã từng đề cập đến trong quy luật nhận thức của con người "Từ trực quan sinh động đến
tư duy trừu tượng từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn"; trong thực tế người học tiếp thu kiến thức qua nghe, nhìn thấy và cảm nhận khác, tuy nhiên khi nghe thì độ ghi nhớ của người học không cao dễ quên đi sau đó, khi quan sát, nhìn thấy trực quan thì người học dễ ghi nhớ, ấn tượng và khắc sau kiến thức lâu hơn Việt Nam có câu: Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm Người Ấn Độ đã tổng kết: Tôi nghe -Tôi quên; Tôi nhìn -Tôi nhớ; Tôi làm -Tôi hiểu
Như vậy, nghiên cứu về vai trò, vị trí của TBĐDĐC trong học tập đã được các nhà khoa học, các chuyên gia đánh giá, nghiên cứu từ rất sớm Học thông qua TBĐDĐC sẽ khuyến khích cho trẻ nhận thức được thế giới qua các giác quan của mình, là phương pháp dạy học phù hợp với điều kiện thực tế, sự phát triển tâm sinh lí của người học Đây là phương pháp hiệu quả giúp cho trẻ phát triển tư duy, nhận biết hiện tượng và tiến tới nắm bắt bản chất để từ
đó ghi nhớ và vận dụng Như vậy để đạt được hiệu quả cao trong quá trình lĩnh hội kiến thức, người học phải thông qua quá trình nghe, nhìn và thực hành, đây là con đường nhận thức chân lí, hiện thực khách quan
1.1.2 Nghiên cứu trong nước
Nghị quyết 29/NQ-TW, ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa
XI về đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo của nước ta
"Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn liền với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội" [26]
Trang 19Vấn đề cấp thiết của giáo dục hiện nay là đổi mới, nhiệm vụ trọng tâm là đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy học để đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam Song song với đó là công tác đổi mới quản lý giáo dục ở nhà trường, việc quản lý CSVC nói chung và quản
lý TBĐDĐC nói riêng đang là một nhu cầu cấp thiết
“Đối với giáo dục mầm non, giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp 1 Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vào năm 2015, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và miễn học phí trước năm 2020 Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường mầm non Phát triển giáo dục mầm non dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp với điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục”[26]
Đồ dùng đồ chơi ở bậc học mầm non có tác dụng vô cùng to lớn đến việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ Những ĐDĐC này giúp trẻ được thao tác, được hoạt động, trải nghiệm, được thể hiện những nhu cầu của cá nhân, được phát triển cân đối hài hòa, từ đó giúp trẻ phát triển toàn diện nhất Trẻ nhỏ cần rất nhiều cơ hội để học và khám phá thông qua việc chúng chơi hàng ngày Việc chơi là cách học phù hợp nhất khi chúng ta muốn trẻ tìm tòi khám phá cho bản thân Thông qua chơi trẻ được phát huy những hiểu biết, kỹ năng trong rất nhiều tình huống khác nhau Đồ chơi ở bậc học mầm non mẫu giáo là yếu tố thúc đẩy trẻ em thực hiện nhiều hành động và thao tác khác nhau có tác dụng rèn luyện thể lực cho trẻ
Thiết bị và đồ dùng dạy học là phương tiện vật chất để phục vụ quá trình dạy học và đổi mới phương pháp dạy học, giúp cho giáo viên và cho trẻ thực hiện có hiệu quả mục tiêu dạy và học TBĐDĐC cũng tạo điều kiện trực tiếp cho trẻ phát huy tính chủ động, phát triển năng lực sáng tạo trong tiếp thu kiến thức, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
Trang 20Nghị quyết Trung ương Đảng - Khóa VIII, đã chỉ rõ định hướng cơ bản của đổi mới giáo dục là: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của sinh viên, nhất là sinh viên đại học Phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân” [26] Thiết bị dạy học là điều kiện quan trọng trong quá trình dạy học, nó vừa là nội dung vừa là phương tiện chuyển tải thông tin, giúp giáo viên tổ chức và điều khiển hoạt động nhận thức cho trẻ, giúp trẻ hứng thú học tập, rèn luyện tác phong và kỷ luật lao động, kỹ năng thực hành, hình thành phương pháp học tập chủ động tích cực, sáng tạo; thiết bị dạy học trở thành công cụ nhận thức, là một bộ phận hữu cơ của cả phương pháp và nội dung dạy học
Trần Yến Mai trong nghiên cứu Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử
dụng thiết bị dạy học lớp mẫu giáo lớn trong các trường mầm non, đề tài Mã
số V2005-27 đã đưa ra các biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các thiết bị dạy học trong các trường mầm non [22] Phan Văn Nhân (2003), “Quan niệm về hiệu quả trong giáo dục và hiệu quả sử dụng học liệu, phương tiện, TBĐDĐC” đã có những lí luận mở trong nghiên cứu về vài trò của việc sử dụng thiết bị đồ dùng dạy học cho học sinh, đặc biệt là khối trẻ mầm non [27]
Đến nay, việc quản lý thiết bị dạy học đã được quan tâm, nghiên cứu, các công trình nghiên cứu nhìn chung đều đã đánh giá được thực trạng quản
lý thiết bị, công tác bảo quản, tiếp nhận, khai thác, bảo trì sửa chữa ở các địa phương, vùng miền khác nhau; qua nghiên cứu, đã đề ra những biện pháp quản lý phù hợp đối với từng địa phương Tuy nhiên các vấn đề nghiên cứu trên ở các cơ sở giáo dục, địa phương, vùng miền trong cả nước là không giống nhau Thực tế quản lý thiết bị dạy học ở thành phố Việt Trì còn gặp
Trang 21nhiều khó khăn, thiếu thốn; công tác quản lý chưa khoa học, chưa được duy trì thường xuyên, thiếu đồng bộ, trang bị thiết bị lạc hậu, đội ngũ thì không thích ứng với sử dụng, khai thác tốt những trang thiết bị mới đầu tư Trong sự nghiệp đổi mới giáo dục hiện nay, để đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện thì thiết bị dạy học không thể tách rời khỏi hoạt động dạy học, nó góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy học Một điều đáng chú ý nữa là tại Việt Trì chưa có công trình, tài liệu nào nghiên cứu về vấn đề "quản lý thiết bị
đồ dùng, đồ chơi theo hướng chuẩn hóa ở các trường mầm non thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ” Đó là lý do đề tài này được tác giả chọn để nghiên cứu
1.2 Thiết bị, đồ dùng, đồ chơi giáo dục mầm non
1.2.1 Thiết bị, đồ dùng, đồ chơi
Hà Sĩ Hồ và Lê Tuấn đã viết: “TBĐDĐC là những hệ thống các phương
tiện vật chất và kỹ thuật khác nhau được sử dụng để phục vụ việc giáo dục và đào tạo toàn diện HS trong nhà trường Đó là những đồ vật, những của cải vật chất và khung cảnh tự nhiên xung quanh nhà trường”[15]
Hệ thống TBĐDĐC trong nhà trường đó là các khối công trình, nhà cửa, sân chơi, thư viện, dụng cụ thí nghiệm, bản đồ, tranh ảnh và các trang thiết bị khác… được trang bị riêng cho nhà trường, và chia làm 3 bộ phận: trường sở, TBĐDĐC và thư viện do nhà trường trực tiếp quản lý và sử dụng
Cơ sở vật chất, trang thiết bị giáo dục là điều kiện cần thiết để thực hiện, phục vụ công tác nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục của trường mầm non, là công cụ đắc lực cho việc đổi mới phương pháp dạy học: Có thể mô hình hoá, trực quan hoá các vấn đề trừu tượng một cách sinh động, tạo ra mối quan hệ hợp tác giữa cô giáo và học sinh giúp cho việc tổ chức và điều khiển quá trình nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục một cách khoa học Đối với trẻ mầm non các thiết bị dạy học và đồ dùng dạy học còn giúp cho trẻ phát triển tư duy trừu tượng, sự sáng tạo để khám phá thế giới xung quanh
Trang 22Cơ sở vật chất và trang thiết bị có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên mầm non
Thiết bị đồ dùng, đồ chơi bao gồm các thiết bị dùng chung, các thiết bị trực quan, thực nghiệm và các thiết bị kỹ thuật (Các phương tiện nghe nhìn) Thiết bị dạy học các bộ môn được sử dụng thường xuyên nhất, chúng trực tiếp tham gia vào quá trình giảng dạy và học tập, gắn liền với nội dung và phương pháp trong tổ chức các tiết học Cơ sở vật chất và trang thiết bị của trường mầm non là thành phần không thể thiếu trong quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ, nó rất đa dạng và phong phú Nếu nhà trường có hệ thống cơ
sở vật chất, thiết bị tương đối đồng đều đầy đủ, đẹp và khoa học xu hướng ngày càng hoàn thiện, trên cơ sở vật chất hoá nội dung giáo dục thì chất lượng giáo dục, chăm sóc nuôi dưỡng trẻ phát triển một cách toàn diện hơn
Nếu chức năng chính của các trường phổ thông là giáo dục con người toàn diện thông qua hoạt động dạy và học thì trường mầm non lại có đặc thù riêng Nó bao gồm hai hoạt động chính là chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục Trong đó, chăm sóc nuôi dưỡng là phần chính, hoạt động giáo dục chủ yếu thông qua các hình thức vui chơi, hoạt động ngoài giờ Cho nên đầu tư trang thiết bị cho giáo dục mầm non cũng hoàn toàn khác so với các trường trung học phổ thông
Thiết bị giáo dục trường mầm non bao gồm thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập, là các đồ dùng đồ chơi tại lớp học, nó hỗ trợ phát triển vận động, vui chơi ngoài trời, trong vườn trường, sân trường, các thiết bị âm nhạc, mỹ thuật, máy tính, máy vui chơi trong các phòng chức năng (phòng giáo dục âm nhạc, phòng giáo dục thể chất, phòng vui học kidsmart, phòng hội trường ) và các thiết bị khác, nhằm bảo đảm cho việc nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện
Trang 23Thiết bị giáo dục trường mầm non còn bao gồm đồ dùng thiết bị chăm sóc, nuôi dưỡng là các loại đồ dùng thiết bị đặt tại các phòng nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em ở nhà bếp, phòng sinh hoạt chung, phòng ngủ, phòng vệ sinh phục vụ cho hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng của nhà trường
Theo điều 23 của Điều lệ trường mầm non [3] (Văn bản số BGDĐT văn bản hợp nhất ngày 13 tháng 02 năm 2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo) quy định về thiết bị, đồ dùng, đồ chơi và tài liệu phục vụ chương trình giáo dục mầm non:
05/VBHN-“1 Thiết bị, đồ dùng, đồ chơi và tài liệu hướng dẫn được sử dụng trong nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
2 Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập có trách nhiệm trang bị thiết bị, đồ dùng, đồ chơi và tài liệu phục vụ chương trình giáo dục mầm non; khuyến khích giáo viên sử dụng tài liệu, thiết bị hiện đại để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ
3 Tài liệu hướng dẫn chăm sóc trẻ khuyết tật theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.”
Như vậy có thể quan niệm TBĐDĐC là tất cả các phương tiện vật chất được huy động vào việc giảng dạy, học tập và các hoạt động mang tính giáo dục khác để đạt được mục tiêu giáo dục
1.2.2 Phân loại thiết bị, đồ dùng, đồ chơi giáo dục mầm non
Thiết bị, đồ dùng, đồ chơi ngoài trời
Là những thiết bị giáo dục phục vụ cho việc giảng dạy tại các trường mầm non và được đặt trong vườn trường, sân trường, nhằm bảo đảm cho việc nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ Ví dụ: Cầu trượt liên hoàn, nhà bóng, xích đu, con nhún, đu quay, nhà chui, bể chơi cát với cát, nước, bộ vận động đa năng,
Trang 24Thiết bị, đồ dùng, đồ chơi trong lớp
Đồ dùng đồ chơi trong lớp là những thiết bị giáo dục phục vụ chăm sóc giáo dục ở tại lớp, được quy định trong văn bản số 01/VBHN-BGDĐT ngày 23-03-2016 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hợp nhất Thông tư số 02/2010/TT- BGDĐT ngày 11/2/2010 và Thông tư số 34/2013/TT-BGDĐT ngày 17/9/2013 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Thiết bị, đồ dùng, chăm sóc, nuôi dưỡng
Đồ dùng thiết bị chăm sóc, nuôi dưỡng là các loại đồ dùng thiết bị đặt tại các phòng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở nhà bếp, phòng sinh hoạt chung, phòng ngủ, phòng vệ sinh phục vụ cho hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng của các nhà trường, gồm có các thiết bị sau đây:
Phòng sinh hoạt chung có các thiết bị:
- Bàn, ghế của trẻ đúng quy cách và đủ cho số trẻ trong lớp;
- Bàn, ghế, bảng cho giáo viên;
- Hệ thống tủ, kệ, giá đựng đồ chơi, đồ dùng, tài liệu;
- Cho trẻ nhà trẻ: Vòi nước rửa tay, ghế ngồi bô, vòi tắm;
- Cho trẻ mẫu giáo: Vòi nước rửa tay, vòi tắm, bể hoặc bồn chứa nước
Nhà bếp có các thiết bị sau đây:
- Có đầy đủ đồ dùng phục vụ trẻ em ăn bán trú tại trường (xoong, nồi,
bát, thìa, dao, thớt, ); Có dụng cụ chế biến thực phẩm đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm;
Trang 25- Có tủ lạnh để lưu mẫu thực phẩm của trẻ em ăn bán trú; Có đủ nước sử
dụng, chất lượng nước phải được cơ quan Y tế kiểm định;
- Các thiết bị đảm bảo cho việc xử lí các chất thải và phòng chống cháy
Ví dụ: Gương, gióng múa, trang phục, vận động liên hoàn, vòng, gậy, ghế thể dục, máy tính, máy in, bảng đa năng, bộ bàn ghế vui học kidsmart, giá vẽ
Thiết bị, đồ dùng, đồ chơi giáo dục mầm non là nguồn tri thức, phương
tiện truyền tải thông tin và điều khiển những nhận thức trong quá trình dạy con học Cha mẹ cần biết cách vận dụng những thiết bị, đồ dùng, đồ chơi phù hợp
để con có thể hoàn thiện bản thân và phát triển những kỹ năng trong cuộc sống Các chuyên gia khoa học đưa ra nhận định rằng: phương pháp tốt nhất để dạy trẻ ở giai đoạn mầm non là dạy con thông qua các trò chơi, tình huống thực tế Vì ở giai đoạn này, trẻ có năng lực quan sát và tiếp thu nhận thức mạnh mẽ nhất, trẻ bắt chước và tò mò với mọi những tình huống thực tế ở xung quanh Bởi vậy những thiết bị dạy học dành cho con ở giai đoạn quan trọng này được nghiên cứu và thiết kế đồ dùng dạy học dưới dạng những đồ chơi có mang tính giáo dục cao
1.2.3 Tính chất của TBĐDĐC
Đồ dùng đồ chơi (ĐDĐC) có tác dụng giúp trẻ được thao tác, được hoạt động, trải nghiệm, được thể hiện những nhu cầu cá nhân, được phát triển cân đối hài hòa, từ đó giúp trẻ phát huy hết những tư duy sáng tạo từ trẻ Trẻ nhỏ
Trang 26cần có những thao tác lặp đi lặp lại nhiều lần để ghi nhớ Do đó, nếu chúng ta muốn trẻ tự tìm tòi khám phá thì chơi là cách học phù hợp nhất Qua chơi trẻ phát triển những hiểu biết, kỹ năng trong rất nhiều tình huống khác nhau Đồ chơi là yếu tố thúc đẩy trẻ thực hiện nhiều hành động và thao tác khác nhau
có tác dụng rèn luyện thể lực cho trẻ
Bất kể một trẻ em nào đều có nhu cầu chơi và rất yêu quí đồ chơi của mình Đối với trẻ em, đồ chơi cũng giống như cuốc cày đối với người nông dân, máy móc đối với người công nhân, là phòng thí nghiệm đối với nhà khoa học
Đồ chơi hết sức cần thiết đối với trẻ, nó có tác dụng và ý nghĩa to lớn và sâu sắc đối với trẻ độ tuổi mầm non Đồ chơi giúp trẻ em tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh, nó giúp các em làm quen với những đặc điểm, tính chất của nhiều đồ vật, biết được công dụng của chúng trong sinh hoạt và trong lao động của con người Đồ chơi còn là phương tiện giúp trẻ phát hiện ra những mối quan hệ của người với người trong xã hội dần dần biết gia nhập vào các mối quan hệ đó Hoạt động với đồ chơi vừa làm thỏa mãn nhu cầu vui chơi, vừa làm cho đôi bàn tay khéo léo, đôi chân dẻo dai cơ thể mềm mại, hình dáng phát triển cân đối hài hòa, vừa chuẩn bị cho trẻ vào học tiểu học vừa có thể tham gia tốt vào cuộc sống xã hội sau này
Một số trường mầm non trong tỉnh Phú Thọ như: trường Mầm non Thọ Sơn, MN Hoa Hồng, MN Bến Gót, MN Họa Mi, MN Thanh Miếu… đã không ngừng đầu tư, mua sắm, trang bị, tự tạo ĐDĐC phục vụ cho hoạt động chăm sóc, giáo dục trong nhà trường, đáp ứng nhu cầu hoạt động của trẻ Tuy nhiên, trong nhiều năm qua ĐDĐC trong lớp và ngoài trời chưa được quan tâm đúng mức, đồ dùng đồ chơi còn thiếu rất nhiều chưa có sự quản lý chặt chẽ Nhiều trường, lớp chỉ có ĐDĐC do giáo viên tự tạo ra dùng để trưng bày, trẻ không được chơi Đồ dùng đồ chơi ngoài trời thiếu nhiều và hư hỏng Có trường chỉ có một vài ba đồ chơi không thể đáp ứng yêu cầu vui chơi và phát
Trang 27triển thể chất cho trẻ Cán bộ quản lý GDMN nói chung, hiệu trưởng các trường mầm non nói riêng cần nhận thức được tầm quan trọng của ĐDĐC, chính nó đã nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, từ đó có kế hoạch đầu
tư về tài lực, vật lực cho hoạt động này
Từ những phân tích trên cho thấy, cán bộ quản lý các trường mầm non phưởng thường xuyên tổ chức kiểm tra, đánh giá, hướng dẫn sử dụng có hiệu quả ĐDĐC trong các trường mầm non để đảm bảo việc sử dụng đồ dùng đồ chơi hài hòa và tiết kiệm mà vẫn đảm bảo nâng cao chất lượng giáo dục
1.2.4 Chuẩn thiết bị, đồ dùng, đồ chơi
Trong hệ thống Giáo dục quốc dân thì giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên, giáo dục mầm non giúp hình thành nhân cách con người ngay từ những bài học thông qua trò chơi, là bậc học tiền đề cần thiết cho trẻ vào trường tiểu học Nghị quyết TW II khoá VIII đã cụ thể hóa những mục tiêu chung đó là: Một hệ thống trường lớp được trang bị cơ sở vật chất, trang thiết bị khang trang đạt chuẩn đáp ứng yêu cầu đổi mới của Giáo dục mầm non Chất lượng chăm sóc Giáo dục trẻ mầm non phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ giáo viên
và điều kiện cơ sở vật chất (CSVC), trang thiết bị đảm bảo cho công tác chăm sóc Giáo dục trẻ (CSGD) Như vậy, CSVC là điều kiện cần thiết nhất trong quá trình nâng cao chất lượng CSGD trẻ mầm non Để hiện thức hóa mục tiê, nhà trường mầm non cần chuẩn hóa các thiết bị đồ dùng dạy học cần thiết để nâng cao chất lượng và đạt chuẩn về giáo dục chăm sóc trẻ như Điều 30 của Điều lệ trường mầm non [3] (văn bản số 05/VBHN-BGDĐT văn bản hợp nhất ngày 13 tháng 02 năm 2014 của Bộ GD&ĐT) quy định như sau:
“- Nhà trường, nhà trẻ phải có đủ thiết bị, đồ chơi, đồ dùng cá nhân, tài
liệu theo quy định của Bộ GD&ĐT; sử dụng có hiệu quả trong nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ
Trang 28- Nhà trường, nhà trẻ sử dụng các thiết bị, đồ dùng, đồ chơi, tài liệu
ngoài danh mục do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành phải đảm bảo tính giáo dục, an toàn, phù hợp với trẻ em mầm non
- Nhà trường, nhà trẻ phải thường xuyên xây dựng kế hoạch bảo quản,
sửa chữa, thay thế, bổ sung, nâng cấp các thiết bị, đồ dùng, đồ chơi, tài liệu học tập.”
1.3 Vai trò của đồ dùng, đồ chơi trong sự phát triển toàn diện của trẻ
1.3.1 Đối với sự phát triển toàn diện của trẻ
Khi trẻ tiếp xúc với một món đồ mới, trẻ sẽ tò mò và có hứng thú để khám phá chúng điều này rất tốt cho quá trình phân tích và phát triển tư duy cho trẻ Đặc biệt, khi trẻ đã khám phá thành công một món đồ chơi trẻ sẽ cảm giác được thành tựu và kích thích tinh thần hưng phấn khám phá và học hỏi những điều mới trong môi trường sống xung quanh
Những thiết bị dạy học, giáo dục mầm non thường được thiết kế rất đơn giản gần gũi với cuộc sống như: bộ lắp ghép mô hình nhà ở, bộ chữ cái màu sắc, hay những bộ dụng cụ nấu ăn… giúp bé có thể học cách nhận biết và tiếp cận với môi trường xung quanh một cách dễ dàng hơn Điều này mang lại một tâm lí thoải mái trong việc tiếp thu kiến thức và phát triển nhân cách của trẻ Những bài giảng sẽ khô cứng nếu thiếu đi sự hỗ trợ của những thiết bị và
đồ dùng dạy học mầm non cụ thể, sự tương tác hay những trò chơi thú vị Nhà giáo dục luôn tạo cho trẻ một môi trường học tập thoải mái để trẻ có thể tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên, như vậy nhà giáo dục sẽ cảm nhận được sự thay đổi của trẻ qua từng ngày Không chỉ phát triển trí não, những đồ chơi và
mô hình đồ dùng dạy học mầm non còn giúp trẻ rèn luyện những kỹ năng cơ bản và phát triển khả năng vận động thông qua những trò chơi, những việc làm cụ thể Ví dụ: Bé tập khâu quần áo thông qua bộ dụng cụ may vá, bé tập làm những công việc đơn giản giúp đỡ mẹ thông qua bài học tập gấp quần áo, gấp khăn
Trang 29- Đồ dùng dạy học (ĐDDH), đóng vài trò quan trọng đối với sự phát triển tâm - sinh lí, trí tuệ, thể lực, tình cảm thẩm mĩ và góp phần hình thành nhân cách trẻ
- Đối với sự phát triển trí tuệ: Trong quá trình chơi với ĐDĐC trẻ được
tiếp xúc với nhiều nguyên vật liệu khác nhau (lá cây, gỗ, nhựa, giấy, bìa…), qua đó trẻ biết được những thuộc tính và cách sử dụng từng đồ chơi sao cho phù hợp (ví dụ: Đồ chơi bằng lá cây rất mềm và dễ bị rách, đồ chơi bằng bìa catton, giấy sẽ bị ướt và mủn ra nếu bị chạm vào nước…) Điều này góp phần không nhỏ vào việc phát triển khả năng quan sát, ghi nhớ có chủ định và làm giầu vốn sống kinh nghiệp cho trẻ Thông qua chơi với ĐDĐC trẻ có điều kiện phát triển trí tưởng tượng, sáng tạo và kích thích khả năng tìm tòi, khám phá Hình thức và tính năng của ĐCDH có ảnh hưởng đến quá trình tri giác, giúp trẻ có cơ hội đối chiếu, so sánh và phân biệt đồ chơi công nghiệp với ĐDĐC một cách độc lập và sáng tạo
- Đối với phát triển tình cảm - xã hội: Trong quá trình chơi trẻ sẽ học
cách giao tiếp, ứng xử một cách tự nhiên, nhẹ nhàng, qua đó góp phần hình thành nhân cách cho trẻ Khi chơi cũng chính là khi trẻ học “Học mà chơi - chơi mà học” (Ví dụ: Khi chơi với búp bê làm từ vải, trẻ học cách bế em, dỗ cho em ăn, biết cầm thìa xúc cho búp bê ăn…) Trẻ thích thú, hào hứng khi được chơi với chính đồ chơi do cô giáo mình làm ra, trẻ có cơ hội được trải nghiệm những cảm xúc đặc biệt như tình yêu thương, lòng ham muốn được làm những điều tốt đẹp cho những người thân và học cách ứng xử phù hợp Điều đó góp phần làm phong phú đời sống tâm hồn trẻ
- Đối với phát triển thể lực: Đồ chơi còn giúp phát triển thể lực, sức
khỏe cho trẻ Khi được chơi với đồ chơi yêu thích trẻ sẽ có trạng thái, tinh thần vui vẻ, sảng khoái, các trò chơi xếp hình bằng vỏ bao diêm, vỏ thuốc, xâu vòng bằng các loại hạt… là phương tiện góp phần rèn luyện, phát triển các tố chất vận động, kĩ năng vận động và phát triển các nhóm cơ của trẻ
Trang 30- Đối với phát triển thẩm mĩ: Trong quá trình chơi với các đồ chơi yêu
thích, trẻ quan sát, tìm hiểu về các sự vật hiện tượng, điều đó sẽ giúp trẻ nhận
ra cái đẹp về màu sắc, hình dáng, bố cục…, nhận ra được những nét độc đáo tạo nên sự hấp dẫn của ĐDĐC gợi cho trẻ sự thích thú, phát triển khả năng cảm thụ cái đẹp, tạo ra những rung động tinh tế trong tâm hồn trẻ Việc quan sát các thuộc tính của ĐDĐC sẽ góp phần phát triển ở trẻ sự nhạy cảm đối với hình dạng, màu sắc, nhịp điệu…, làm cho các cảm xúc thẩm mĩ của trẻ ngày càng trở nên sâu sắc hơn, trí tưởng tượng ngày càng phong phú Sự phong phú, đa dạng trong vẻ đẹp của các ĐDĐC chính là yếu tố kích thích sự xuất hiện của những rung động, những xúc cảm thẩm mĩ, hình thành nên tình cảm thẩm mĩ giúp trẻ biết thưởng thức và mong muốn tạo ra cái đẹp trong tự nhiên, cuộc sống và nghệ thuật
Thông qua hoạt động học, chơi với những đồ dùng tự tạo trẻ sẽ được trải nghiệm nhiều hơn, qua đó trẻ phát triển tâm - sinh lí, trí tuệ, thể lực, tình cảm thẩm mĩ và góp phần hình thành nhân cách trẻ thơ
1.3.2 Nguyên tắc sử sụng thiết bị, đồ dùng, đồ chơi trong chăm sóc, giáo dục trẻ
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới PPDH việc sử dụng TBĐDĐC không chỉ nhằm minh họa bài giảng mà còn có tác dụng thúc đẩy quá trình nhận thức phát triển năng lực sáng tạo và rèn luyện kỹ năng thực hành cho trẻ nhỏ
Vì vậy nếu sử dụng TBĐDĐC một cách ngẫu hứng, tùy tiện, chưa có sự chuẩn bị chu đáo dẫn đên hiệu quả dạy học không tăng mà có khi còn có mặt phản tác dụng GV tốn nhiều thời gian trên lớp, trẻ nhỏ căng thẳng mệt mỏi
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn dạy học ở các trường học, có thể khẳng định: Để nâng cao hiệu quả sử dụng TBĐDĐC ở trường mầm non cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
Trang 31* Nguyên tắc thứ nhất: Coi trọng đặc trưng của thiết bị TBĐDĐCMN chính là ĐDĐC cho trẻ Đây là nguyên tắc mang tính then chốt nhằm đảm bảo tính đáp ứng mục tiêu GD&ĐT trong GDMN
* Nguyên tắc thứ hai: Nguyên tắc về đặc điểm phát triển của trẻ 5 tuổi trong quá hoạt động với ĐDĐC, đảm bảo tính tích cực của trẻ với vài trò là chủ thể trong các tình huống sư phạm
* Nguyên tắc thứ ba: Sử dụng TBĐDĐC đúng mục đích Mỗi TBĐDĐC
có một chức năng riêng, chúng phải được nghiên cứu sử dụng phù hợp với mục đích của công việc trong quá trình dạy học Chẳng hạn, các TBĐDĐC dùng để biểu diễn trên lớp cần loại có kích thước lớn để trẻ nhỏ có thể quan sát được như: mô hình, mẫu vật, tranh ảnh TBĐDĐC dùng cho trẻ nhỏ thực hành hoặc ôn luyện để khắc sâu kiến thức và rèn luyện kỹ năng, chỉ cần kích thước nhỏ, phù hợp với sinh lý lứa tuổi trẻ, dễ vận hành, quan sát, nhận xét, giải thích hiện tượng
TBĐDĐC dùng cho trẻ nhà trẻ, mẫu giáo bé cần súc tích, cắt bớt những chi tiết phụ vì tri giác của trẻ như tri giác không chủ định Do đó tranh vẽ cho trẻ nhỏ nội dung câu chuyện phải ngắn gọn với nhân vật chính, và màu sắc thì phải rực
rỡ để trẻ phân biệt rõ ràng các màu sắc Bởi lẽ ở lứa tuổi này mục tiêu giáo dục là trẻ biết được các nhân vật đang làm gì và được gọi tên các nhân vật trong chuyện
là đủ Nhưng ở trẻ mẫu giáo lớn cũng có thể thêm chi tiết khác cho bức tranh sinh động: Như có thể thêm mặt trời, cây cối hoặc những con vật gần gũi với trẻ
mà vẫn không giảm đi sự chú ý của trẻ (Vì ghi nhớ của trẻ là ghi nhớ có chủ định), cũng như màu sắc cũng có thể vẽ thật hơn
* Nguyên tắc thứ tư: Sử dụng TBĐDĐC đúng lúc
Sử dụng TBĐDĐC đúng lúc là chỉ trình bày TBĐDĐC vào thời điểm cần thiết của bài học, lúc trẻ cần nhất, muốn được quan sát nhất, gợi nhớ trong trạng thái tâm lý phù hợp nhất (mà trước đó giáo viên đã thực hiện việc dẫn
Trang 32dắt gợi mở, nêu vấn đề cần chuẩn bị) TBĐDĐC sẽ được mang lại hiệu quả cao nếu nó được sử dụng đúng lúc, đúng nội dung và phương pháp dạy học cần đến Trong quá trình sử dụng, hệ thống TBĐDĐC phải được đưa ra giới thiệu và để trẻ nhỏ quan sát, nhận xét đúng lúc Tránh tình trạng đưa ra hàng loạt TBĐDĐC không phù hợp với nội dung và trình tự bài giảng, dẫn đến phân tán sự chú ý của trẻ nhỏ
* Nguyên tắc thứ năm: Sử dụng TBĐDĐC đúng chỗ là tìm vị trí để trình bày TBĐDĐC trên lớp học hợp lí nhất, giúp trẻ nhỏ ngồi ở mọi vị trí trong lớp học có thể tiếp nhận thông tin từ các TBĐDĐC bằng nhiều giác quan Vị trí trình bày các TBĐDĐC phải đảm bảo các yêu cầu chung và riêng của nó về chiếu sáng, thông gió và các yêu cầu kỹ thuật đặc biệt khác nhủ ổ điện, tủ hút khí độc
Các TBĐDĐC phải được đặt ở vị trí đảm bảo an toàn cho GV và cho trẻ nhỏ, đồng thời phải bố trí sao cho không ảnh hưởng đến quá trình làm việc, học tập của các lớp khác Phải cất dấu các TBĐDĐC chưa dùng đến hoặc đã dùng rồi để tránh làm phân tán tư tưởng và sự tập trung chú ý của trẻ nhỏ Đối với TBĐDĐC được lưu giữ trong tủ, giá hoặc kho bảo quản phải được sắp xếp một cách ngăn nắp, khoa học giúp GV và trẻ nhỏ dễ thấy, dễ lấy, dễ sử dụng
* Nguyên tắc thứ sáu: Sử dụng TBĐDĐC đúng mức độ và cường độ Nguyên tắc này chủ yếu đề cập đến nội dung và phương pháp sử dụng TBĐDĐC phù hợp với yêu cầu của giờ lên lớp và khả năng tiếp thu kiến thức của trẻ nhỏ TBĐDĐC được sử dụng với mức độ và cường độ thích hợp, trong
đó có sự kết hợp chặt ché với các phương pháp giảng dạy khác như: phương pháp đàm thoại, thực hành, nêu vấn đề, nhằm kích thích hứng thú học tập của trẻ nhỏ, giúp trẻ tiếp nhận kiến thức một cách chủ động tích cực Nhưng nếu lạm dụng, dành thời gian quá nhiều để sử dụng TBĐDĐC sẽ tác động không tốt đến tiết học, trẻ nhỏ sẽ cảm thấy chán, kém tập trung mệt mỏi, chất lượng bài
Trang 33học giảm sút Việc sử dụng một cách hợp lý các loại hình TBĐDĐC khác nhau trong giờ học ảnh hưởng lớn đến sự tiếp thu của trẻ nhỏ Trong trường hợp này TBĐDĐC có tác dụng lôi cuốn trẻ nhỏ vào các hiện tượng, sự vật mới lạ, hấp dẫn, giúp các em duy trì được sự chú ý theo dõi bài giảng ở mức độ cần thiết Theo số liệu của các nhà sinh lý học, nếu một dạng hoạt động liên tục diễn ra trên 15 phút thì khả năng làm việc của trẻ sẽ giảm đi rất nhanh
Thực tiến giảng dạy ở một số nước đã khẳng định: Việc sử dụng thường xuyên các phương tiện nghe nhìn ở trên lớp dẫn đến sự quá tải thông tin đối với trẻ nhỏ, do đó trẻ chưa có đủ thời gian để chuyển hóa lượng thông tin đó
Sự quá tải lớn đối với thị giác sẽ làm ảnh hưởng đến chức năng của mắt, giảm thị lực, ảnh hưởng xấu đến kết quả học tập Khi lập kế hoạch giảng dạy có dùng các phương tiện nghe nhìn, người ta hạn chế mức độ; không sử dụng loại hình TBĐDĐC này quá 3-4 lần trong 1 tuần, không kéo dài thời gian quá 20-
25 phút trong 1 tiết dạy Để đảm bảo sức khỏe, mõi người không ngồi lâu trước màn hình vi tính 3 giờ trong 1 ngày
Để thực hiện có hiệu quả các nguyên tắc trong sử dụng TBĐDĐC đã nêu
ở trên đòi hỏi
- Trên cơ sở nghiên cứu nội dung của chương trình, và các tài liệu giảng dạy có liên quan, GV phải xác định cụ thể vị trí của các TBĐDĐC cụ thể để giải quyết các nhiệm vụ sư phạm cụ thể GV phải xác lập mối liên kết giữa khả năng của TBĐDĐC với mục tiêu học tập, nội dung bài giảng để làm cơ sở xác định PPDH thích hợp
- Tạo hứng thú cho trẻ trong sử dụng TBĐDĐC
Hiệu quả sử dụng TBĐDĐC còn phụ thuộc vào sự ham muốn và thích thú của trẻ nhỏ GV phải tạo nên sự hứng thú của trẻ thông qua các việc làm
cụ thể Chẳng hạn đặt câu hỏi, ra bài tập trên cơ sở quan sát, phân tích, nhận xét, so sánh các hiện tượng và sự vật xảy ra
Trang 341.4 Quản lý TBĐDĐC ở trường MN Theo hướng chuẩn hóa
1.4.1 Quản lý
Thuật ngữ quản lý là thuật ngữ dùng khá phổ biến trong xã hội xưa và nay Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, khái niệm quản
lý còn được hiểu và quan niệm theo nhiều nghĩa khác nhau, như:
Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội
có lao động Quản lý ra đời từ rất sớm, nó gắn chặt với sự xuất hiện và sự phát triển của loài người Thực tế cho thấy xã hội loài người càng phát triển thì yêu cầu đòi hỏi quản lý ngày cao, bởi lẽ muốn có hiệu quả, năng suất lao động thì phải có sự chỉ huy, công tác điều hành quản lý phải có người thủ lĩnh, người đứng đầu
Quản lý theo từ điển Tiếng Việt thông dụng (Nxb Giáo dục, 1998) cho rằng: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan” Taylor thì cho rằng: Quản lý là biết chính xác điều muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và chi phí thấp nhất
Ngày nay, quản lý rất được coi trọng, quản lý là một trong những nhân tố phát triển kinh tế - xã hội đó là: Vốn, nguồn lao động, khoa học kĩ thuật, tài nguyên và quản lý Trong đó quản lý đóng vài trò quan trọng nhất trong sự thành công hay thất bại của một tổ chức, ảnh hưởng đến vận mệnh của một quốc gia, dân tộc
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo và tập thể tác giả thì cho rằng: “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản
lý nhằm đạt được mục tiêu chung” [7, tr.176]
Theo tác giả Bùi Minh Hiền: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các
Trang 35nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [18, tr 15]
Khái niệm phụ thuộc vào sự quan niệm của từng cá nhân, tuy mỗi một nhà khoa học hay độc giả đều đưa ra những quan niệm khác nhau về quản lý nhưng xét về bản chất đều đã đưa ra được những luận chứng có ý nghĩa về quản lý ở nhiều góc độ khác nhau, trong đó mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên hoạt động quản lý có mối quan hệ chủ thể và khách thể trong đối tượng nghiên cứu Đó là mối tác động qua lại, tương hỗ lẫn nhau giữa con người với con người
Tựu chung lại, ta có thể nêu một cách chung nhất về khái niệm quản lý
như sau: Quản lý là cách thức, phương thức nhằm giúp một tổ chức, một đơn
vị cụ thể đạt được các mục tiêu, kế hoạch đề ra, thông qua các hoạt động nhờ chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý (các nguồn lực khác nhau trong một tổ chức) để đạt đến mục tiêu chung của tổ chức mong muốn
Quá trình quản lý là quá trình hoạt động của chủ thể quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra Để đến đích đó thì nhà quản lý phải thực hiện các chức năng quản lý sau:
* Chức năng kế hoạch hóa
Kế hoạch hóa là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng của quản
lý, là yếu tố quyết định sự phát triển hay thành bại của một tổ chức Nhiệm vụ sống còn của người quản lý là bằng mọi cách làm thế nào để mọi người biết nhiệm vụ của mình Trong quá trình lập kế hoạch phải dự tính đến tính khoa học, mục tiêu, nội dung, phương pháp, trình tự, thời gian tiến hành các công việc, chuẩn bị huy động các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực…) nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục Lập kế hoạch bao gồm các giai đoạn: Thiết lập các mục tiêu cho pháp triển của tổ chức, bao gồm mục tiêu chung,
Trang 36mục tiêu cụ thể; được giới hạn về thời gian và mang tính khả thi Nhận diện các nguồn lực của tổ chức như nhân lực, vật lực, tài lực… Quyết định về các cách thức, phương thức hoạt động để đạt mục tiêu Chức năng này bao gồm chiến lược phát triển tổ chức và kế hoạch tác nghiệp; tùy thuộc vào thời gian, mức độ thì kế hoạch quản lý nhà trường có thể chia thành kế hoạch dài hạn và
kế hoạch ngắn hạn
* Chức năng tổ chức
Giúp mọi người trong tổ chức cùng nhau làm việc nhằm đạt kết quả đặt
ra cần phải xây dựng và duy trì một cơ cấu nhất định về vài trò, nhiệm vụ và
vị trí công tác Cơ cấu thể hiện qua những mối quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong tổ chức khi thực hiện phân công lao động, phân công nhân sự ở các vị trí Cho nên, vài trò của một bộ phận hay một cá nhân bao hàm bộ phận hay cá nhân đó hiểu rõ công việc mình làm nằm trong một phạm
vi nào, nhằm mục đích hoặc mục tiêu nào, công việc của cá nhân ăn khớp như thế nào với các cá nhân hoặc bộ phận khác và những thông tin cần thiết để hoàn thành công việc
Như vậy, chức năng tổ chức trong quản lý là việc thiết kế cơ cấu các bộ phận cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức Không chỉ dứng lại ở đó mà việc thực hiện chức năng tổ chức trong quản lý còn phải chú ý đến phương thức hoạt động, đến quyền hạn của từng bộ phận và đặc biệt chú ý đến việc bố trí cán bộ là người vận hành các bộ phận của tổ chức
* Chức năng chỉ đạo thực hiện
Năng lực của người quản lý được thể hiện rất rõ qua chức năng này Chủ thể quản lý nhà trường định ra chủ trương, kế hoạch triển khai thực hiện, nguyên tắc hoạt động của nhà trường Hoạch định kế hoạch phải quan tâm tới việc sắp xếp tổ chức con người nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra Quá trình sử dụng quyền lực của người quản lý để tác động đến các đối tượng bị quản lý
Trang 37(con người, các bộ phận) một cách có chủ đích nhằm phát huy hết tiềm năng của họ hướng vào việc đạt mục tiêu chung của hệ thống Chủ thể khiển hệ thống phải là người có tri thức và kỹ năng ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định; sử dụng các phương pháp quản lý một cách khoa học, hợp lí, xây dựng tốt các mối quan hệ trong đơn vị nhằm tạo động lực làm việc cho mọi người, đảm bảo cho các hoạt động của nhà trường vận hành có kết quả
* Chức năng kiểm tra
Có thể nói, chức năng này xuyên suốt quá trình quản lý và là chức năng quan trọng của các cấp quản lý Trong quá trình thực hiện các hoạt động thì kiểm tra chủ động đối với các hoạt động của nhà trường sẽ giúp nhà quản lý xác định được tình trạng hệ thống quản lý của mình; các ưu điểm và hạn chế,
từ đó kịp thời đưa ra các biện pháp điều chỉnh cho phù hợp Công tác kiểm tra cũng giúp nhà quản lý kịp thời xác nhận kết quả, động viên, khích lệ người thực hiện nhiệm vụ Vì vậy, công tác kiểm tra đòi hỏi phải thực hiện thường xuyên, dưới nhiều hình thức
Sơ đồ 1.1 Các chức năng cơ bản của quản lý
Hệ thống các chức năng quản lý cơ bản ở trên tạo thành một chỉnh thể thống nhất, trong đó mỗi chức năng có tính độc lập tương đối đồng thời có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành một chu trình khép kín để nâng cao hiệu quả mục tiêu quản đề lý ra Nếu bỏ qua hoặc coi nhẹ một
Kế hoạch
Thông tin
Chỉ đạo
Tổ chức Kiểm tra
Trang 38trong các chức năng thì tác động đến hiệu quả quản lý là rất lớn vì các chức năng trên tạo thành một hệ thống mang tính chặt chẽ
1.4.2 Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
Quản lý giáo dục
Giáo dục là một hoạt động đặc biệt của con người có mục đích, có nội dung, có tổ chúc, có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạt đến mục tiêu nhất định
QLGD theo nghĩa rộng là quản lý các hoạt động giáo dục của xã hội; ở từng giai đoạn lịch sử cụ thể thì bao giờ cũng có một nền giáo dục tương ứng với nó và phù hợp với từng mục tiêu, nội dung, chương trình, cách thức giảng dạy khác nhau
Theo nghĩa hẹp QLGD là quản lý các hoạt động giáo dục và đào tạo diễn
ra tại một địa phương, một đơn vị hành chính và quản lý nhà trường là quản lý các hoạt động giáo dục và đào tạo của một cơ sở giáo dục
Phương thức xã hội khác nhau thì cách thức quản lý cũng khác nhau, vì vậy khái niệm về quản lý có rất nhiều tác giả đề cập, khai thác trên các khía cạnh khác nhau
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lí giáo dục của Đảng thực hiện được các tiêu chí của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội
tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu
dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất”
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội” [7, tr.14]
Trang 39Theo tác giả Trần Kiểm: “QLGD là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở mọi cấp khác nhau đến tất cả mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lực trẻ em” [18, tr.341]
Qua các khái niệm của nhiều tác giả trên có thể khái quát như sau: Quản
lý giáo dục là một hệ thống bao gồm những tác động có tổ chức, có mục đích,
có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm làm cho hệ thống giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt mục tiêu đề ra trên cơ sở phù hợp với các quy luật khách quan
Quản lý nhà trường
Trong giai đoạn hiện nay nền kinh tế hội nhập thì nhà trường không chỉ
là một thiết chế sư phạm đơn thuần mà công việc hoạt động của nhà trường diễn ra có mục tiêu cao nhất là hình thành nhân cách, sức lao động để đáp ứng yêu cầu xã hội, đồng thời làm đúc kết thêm vốn tri thức, kinh nghiệm tổ chức
và giá trị xã hội cho con người
Cũng có thể hiểu rằng “Nhà trường là vầng trán của cộng đồng” và đến lượt mình “Cộng đồng là trái tim của nhà trường” Với xu hướng xã hội học tập, học tập suốt đời tạo nên sự đồng thuận trong dư luận xã hội là đưa giáo dục đến với mọi nhà và mọi người được tham gia học tập nhằm mục tiêu nâng cao dân trí góp phần thúc đẩy sự phát triển đất nước
Chủ trương của Đảng ta coi “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, vì vậy mục tiêu, chất lượng giáo dục luôn được quan tâm; thước đo của quản lý xã hội là lấy tiêu điểm từ quản lý giáo dục; quản lý giáo dục phải coi nhà trường
là nền tảng, điểm nhấn; quản lý nhà trường phải lấy quản lý dạy học là khâu then chốt và dạy học phải xuất phát từ nhiệm vụ, nhu cầu người học
Trang 40Trường học là một bộ phận của xã hội, là tổ chức giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó hoạt động dạy và học là nhiệm vụ trung tâm của nhà trường, đối tượng của giáo dục là con người nên thể hiện tính đa dạng, phức tạp Thực chất của quản lý nhà trường là: Quản lý hoạt động dạy và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để hướng tới mục tiêu giáo dục
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [16, tr.6] Luật Giáo dục quy định: “Nhà trường trong hệ thống Giáo dục quốc dân được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của nhà nước, nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và được tổ chức theo các loại hình trường công lập, trường bán công, trường tư thục…” [19]
Như vậy, nhà trường là đơn vị hoạt động có tổ chức của những nhóm người và cá nhân nhằm tập hợp và tổ chức hoạt động dạy - học, rèn luyện của giáo viên và học sinh trên cơ sở quản lý của cơ quan chủ quản cấp trên bằng quy định pháp lí về GD&ĐT cùng với mối quan hệ của các lực lượng giáo dục khác
1.4.3 Quản lý TBĐDĐC
Quản lý TBĐDĐC là một trong những nhiệm vụ của cán bộ quản lý nhà trường Trong luận văn này, quản lý TBĐDĐC được hiểu là sự tác động có mục đích của người quản lý nhằm xây dựng, phát triển và sử dụng có hiệu quả hệ thống TBĐDĐC phục vụ đắc lực cho công tác giáo dục và làm cho TBĐDĐC trở thành công cụ, phương tiện góp phần thực hiện nguyên lý giáo
dục của Đảng “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất,
nhà trường gắn liền với xă hội”