TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Lê Lệnh Thự Tên Luận văn: Sử dụng gạo xay thay thế ngô trong thức ăn hỗn hợp cho gà thịt thương phẩm Phương pháp nghiên cứu Thí nghiệm được thực hiện nhằm
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Tôn Thất Sơn
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2016
Tác giả luận văn
Lê Lệnh Thự
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc PGS.TS Tôn Thất Sơn đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian
và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,
Bộ môn Dinh dưỡng và Thức ăn chăn nuôi, Khoa Chăn nuôi - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Xí nghiệp gà giống Lạc Vệ - Tiên Du - Bắc Ninh đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2016
Tác giả luận văn
Lê Lệnh Thự
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục biểu đồ vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract ix
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích của đề tài 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Tiềm năng sử dụng lúa gạo làm thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam 3
2.2 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của lúa gạo 7
2.3 Đặc điểm một số nguyên liệu thức ăn trong chăn nuôi gia cầm 16
2.3.1 Nhóm thức ăn giàu năng lượng 16
2.3.2 Thức ăn giàu protein nguồn gốc thực vật 18
2.3.3 Thức ăn giàu protein nguồn gốc động vật 19
2.3.4 Nhóm thức ăn bổ sung 21
2.4 Một số chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất thịt của gà 22
2.4.1 Những chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất thịt trên gia cầm sống 22
2.4.2 Những chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất thịt khi giết mổ 24
2.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng thịt gia cầm 25
2.5.1 Yếu tố di truyền 25
2.5.2 Giới tính 26
2.5.3 Chế độ dinh dưỡng 26
2.5.4 Vận chuyển và giết mổ 27
2.6 Tình hình nghiên cứu sử dụng gạo xay làm thức ăn cho gà trong và ngoài nước 28
Trang 52.6.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước 28
2.6.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 29
Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 32
3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 32
3.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 32
3.2.1 Nội dung nghiên cứu 32
3.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 32
3.2.3 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu nghiên cứu 35
3.2.4 Các phương pháp phân tích hóa học và xác định giá trị năng lượng 37
3.3 Phương pháp xử ký số liệu 37
Phần 4 Kết quả và thảo luận 38
4.1 Khối lượng cơ thể gà 38
4.2 Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối 40
4.3 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm 43
4.4 Lượng thức ăn thu nhận 44
4.5 Hiệu quả sử dụng thức ăn 47
4.6 Hiệu quả sử dụng năng lượng 48
4.7 Hiệu quả sử dụng protein 50
4.8 Kết quả mổ khảo sát 51
4.9 Hiệu quả của việc sử dụng gạo xay thay thế ngô 52
Phần 5 Kết luận và đề nghị 55
5.1 Kết luận 55
5.2 Đề nghị 55
Tài liệu tham khảo 56
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
hiệp quốc
lương thực và nông nghiệp Liên hiệp quốc
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam giai đoạn 1970 -
2012 4
Bảng 2.2 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thóc, gạo xay và ngô 8
Bảng 2.3 Thành phần hóa học của ngô và gạo xay 9
Bảng 2.4 Thành phần axit amin của gạo xay và ngô hạt 10
Bảng 2.5 Thành phần dinh dưỡng của thóc, gạo xay, ngô và lúa mỳ (%) 11
Bảng 2.6 Thành phần hóa học và giá trị năng lượng trao đổi của thóc, gạo xay và ngô 12
Bảng 2.7 Thành phần axit amin trong thóc, gạo tẻ, ngô tẻ và lúa mỳ 13
Bảng 2.8 Chất lượng protein và năng lượng của gạo so với ngô và lúa mỳ 15
Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 33
Bảng 3.2 Nhu cầu dinh dưỡng của gà thí nghiệm 33
Bảng 3.3 Công thức thức ăn thí nghiệm 34
Bảng 3.4 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm 34
Bảng 4.1 Khối lượng gà thí nghiệm từ 0 đến 12 tuần tuổi (n=50) 39
Bảng 4.2 Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm (n=50) 42
Bảng 4.3 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm 44
Bảng 4.4 Lượng thức ăn thu nhận của gà thí ghiệm 45
Bảng 4.5 Hiệu quả sử dụng thức ăn của gà thí nghiệm 48
Bảng 4.6 Hiệu quả sử dụng năng lượng (ME) của gà thí nghiệm 48
Bảng 4.7 Hiệu quả sử dụng protein của gà thí nghiệm 50
Bảng 4.8 Kết quả mổ khảo sát của gà thí nghiệm (n=20) 52
Bảng 4.9 Hiệu quả của việc sử dụng gạo xay thay thế ngô trong khẩu phần nuôi gà thịt thương phẩm 53
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Tỷ lệ phụ phẩm của ngành xay xát thóc 7
Biểu đồ 4.1 Khối lượng gà từ 0 - 12 tuần tuổi 40
Biểu đồ 4.2 Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 42
Biểu đồ 4.3 Lượng thức ăn thu nhận của gà thí ghiệm 46
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Lê Lệnh Thự
Tên Luận văn: Sử dụng gạo xay thay thế ngô trong thức ăn hỗn hợp cho gà thịt thương phẩm
Phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm được thực hiện nhằm xác định ảnh hưởng của việc sử dụng 25% và 50% gạo xay thay thế ngô trong thức ăn hỗn hợp đến khả năng sinh trưởng, lượng thức
ăn thu nhận, hiệu quả sử dụng thức ăn, năng xuất thịt của 3720 con gà lai (Mía × JA57) một ngày tuổi Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp phân lô so sánh với mô hình
bố trí thí nghiệm một nhân tố Mỗi lô có 620 con và được lặp lại hai lần Gà được nuôi thí nghiệm 12 tuần, trong thời gian nuôi thí nghiệm chúng được chăm sóc, nuôi dưỡng
và vệ sinh thú y theo đúng tiêu chuẩn nuôi gà thịt thương phẩm của Xí nghiệp gà giống Lạc Vệ - Tiên Du - Bắc Ninh Thời gian tiến hành thí nghiệm từ tháng 04/2015 đến tháng 4/2016
Kết quả chính và kết luận
Khối lượng gà thịt thí nghiệm ở 12 tuần là 1274g, 1434 g và 1304 g tương ứng với lô đối chứng, 25% và 50 % gạo xay Sinh trưởng tuyệt đối là 14,78; 16,68 và 15,13 (g/con/ngày) tương ứng với lô đối chứng, 25% và 50 % gạo xay Hiệu quả sử dụng thức
ăn tốt nhất là 2,96 (kg thức ăn/kg tăng khối lượng) khi gà được cho ăn khẩu phần chứa 25% gạo xay, theo sau là 3,14 và 3,21 (kg thức ăn/kg tăng khối lượng) tương ứng khẩu phần 50% gạo xay và đối chứng Thay thế 25 và 50% ngô bằng gạo xay trong khẩu phần cho gà thịt không ảnh hưởng đến tỷ lệ thân thịt, tỷ lệ thịt đùi và tỷ lệ thịt lườn so với khẩu phần đối chứng Dựa trên kết quả nghiên cứu, đề nghị khi nguồn nguyên liệu thóc gạo dồi dào, giá hợp lý nên thay thế 25% ngô bằng gạo xay trong sản xuất thức ăn hỗn hợp cho gà thịt
Trang 10THESIS ABSTRACT
Name of author: Le Lenh Thu
Thesis title: Using milled rice to replace corn in concentrates diet for broilers
Major: Animal Science Code: 60 62 01 05
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Research Objective:
The experiment was conducted to determine the effect of using 25% and 50% of milled rice in concentrates diet on growth of broilers and to evaluate the efficiency of the using milled rice in concentrates diet for broilers
Materials and Methods:
The experiment was conducted to determine the effect of using 25% and 50% of milled rice (MR) to replace corn in concentrates diet on growth, feed intake, feed efficiency, meat yield of 3720 one-day old hybrid chikens (Mia × JA57) All chickens was ramdomly desinged in 3 treatment diets (0, 25 MR, 50MR) Each treatment diet contained 620 chickens with two times repetitions Chickens were raised until 12 weeks
of age During the experiment chickens were cared, fed and controled veterinary hygiene according to the standard of the poultry breeding company at Lac Ve - Tien Du
- Bac Ninh The experiment was conducted from April 2015 to April 2016
Results and conclusions
Body weigh at 12 weeks of age was 1274g, 1434 g and 1304 g for the control, 25MR and 50MR diets, respectively The absolute growth (g/head/day) was 14.78; 16.68 and 15.13 for the control, 25MR and 50MR diets, respectively Feed conversion ratio (kg feed/kg weight gain) was lowest 2.96 for 25MR diet, and by 3.21 for 50MR diet and 3.14 for the control diet The replacing corn by 25 and 50% of RM in concentrates diets did not affect on carcass ratio, the percentage of thigh and breast meat, compared to the control diet Based on the results, it could be suggested that when rice is abundant and the price of rice is acceptable, should be able to replace 25% corn
by milled rice in concentrates diet for broilers
Trang 11PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, ngành sản xuất thức ăn công nghiệp Việt Nam
đã phát triển nhanh, với sản lượng năm 2011 đạt 11,5 triệu tấn (Cục Chăn nuôi, 2012) Năm 2011, Việt Nam xuất khẩu 7 triệu tấn gạo thu về 3 tỷ đô la nhưng hàng năm Việt Nam lại phải nhập khẩu đến 80% nguyên liệu để sản xuất thức ăn chăn nuôi Năm 2011, Việt Nam đã sử dụng gần 3,7 tỷ đô la để nhập khẩu gần 8 triệu tấn thức ăn, trong đó đáng chú ý 1,3 tỷ đô la để nhập 3,86 triệu tấn ngô, cám gạo và lúa mỳ (Cục Chăn nuôi, 2012) Để đáp ứng chiến lược phát triển chăn nuôi, đến năm 2020 nhu cầu sử dụng thức ăn của Việt Nam ước tính là 27,4 triệu tấn (tăng 1,3 lần so với năm 2012) Như vậy với năng lực của ngành nông nghiệp hiện nay chúng ta sẽ phải nhập nhiều hơn nữa nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, đặc biệt các loại giàu năng lượng như ngô, lúa mỳ, khô dầu Tuy nhiên Hội đồng ngũ cốc quốc tế (IGC) dự báo sản lượng ngô thế giới trong một số năm tới sẽ giảm nhiều do thời tiết khô hạn ở một số quốc gia sản xuất lớn như Mỹ, Ấn Độ Dự báo sản lượng lúa mỳ thế giới ước tính giảm xuống còn 662 triệu tấn so với dự kiến 665 triệu tấn Trong một tương lai không xa, chúng ta hướng đến chăn nuôi
để xuất khẩu Vì vậy, nếu chăn nuôi luôn phải phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi từ các nước như hiện nay thì sẽ là một rào cản khó vượt qua để hướng đến mục tiêu này Việt Nam là quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới nhưng vẫn phải nhập quá nhiều nguyên liệu như ngô, đậu tương, cám gạo thì không thể đảm bảo cho một ngành chăn nuôi bền vững Bên cạnh đó, hàng năm Việt Nam còn tồn dư một lượng lớn thóc trong dân, giá lúa nhiều lúc giảm thấp, nhà nước đã phải chi nguồn ngân sách không nhỏ cho việc mua tạm trữ lúa gạo để bình ổn giá Như vậy trong khi nguồn lúa gạo trong nước tồn đọng khá lớn khoảng 2 triệu tấn mỗi năm thì ngành chăn nuôi lại chi ra một khoản ngoại tệ không nhỏ để nhập 4 triệu tấn nguyên liệu cùng năng lương như ngô lúa
mì để sản xuất thức ăn chăn nuôi Lúa gạo từ lâu đã được sử dụng trong chăn nuôi, tuy nhiên, tỷ lệ lúa gạo sử dụng trong sản xuất thức ăn công nghiệp tại Việt nam chưa được chú trọng Xuất phát từ yêu cầu thực tế sản xuất, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Sử dụng gạo xay thay thế ngô trong thức ăn hỗn hợp cho gà thịt thương phẩm”
Trang 121.2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
- Xác định ảnh hưởng của việc sử dụng 25% và 50% gạo xay trong thức
ăn đến khả năng sinh trưởng của gà thịt thương phẩm;
- Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng gạo xay trong khẩu phần ăn cho gà thịt thương phẩm
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 TIỀM NĂNG SỬ DỤNG LÚA GẠO LÀM THỨC ĂN CHĂN NUÔI Ở VIỆT NAM
Cây lúa (Oryza sativa) là một trong những loại cây lương thực chính của thế giới, cung cấp lương thực cho hơn 65% dân số trên thế giới Năm 2012, theo
số liệu sơ bộ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, diện tích gieo trồng lúa là 7.750.000 ha chiếm trên 90% tổng diện tích đất trồng cây lương thực có hạt, với sản lượng là 43 triệu tấn được trồng tập trung chủ yếu ở đồng bằng Bắc
Bộ và đồng bằng sông Cửu Long Theo số liệu của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) công bố vào tháng 10 năm 2012, lượng gạo xuất khẩu năm 2012 đạt 7,75 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 3,23 tỉ đô la Mỹ, tăng 15,4% về số lượng
và 21,2% về giá trị so với năm 2011 Có thể nói lúa gạo giữ vai trò chủ lực trong phần trăm cơ cấu cây trồng và phân công lao động xã hội, không chỉ cung cấp lương thực cho dân cư mà còn giải quyết việc làm cho người dân
Trong những năm gần đây, Việt Nam là nước luôn giữ vị trí thứ nhì về xuất khẩu gạo trên thế giới và trong khu vực Tuy nhiên, chất lượng gạo xuất khẩu còn kém so với các nước như Thái Lan, Myanmar, Pakistan, Ấn Độ… nên giá trị xuất khẩu không cao Theo đánh giá của Hiệp hội lúa gạo thì năm 2013 và một số năm tới đây, Việt Nam vẫn giữ được vị trí thứ 2 thế giới về xuất khẩu gạo, thế nhưng cũng như hơn 20 năm qua Việt Nam xuất khẩu gạo xếp vào hạng nhất nhì thế giới với hàng trăm giống lúa nhưng vẫn chưa tạo dựng được một loại gạo chất lượng cao có thương hiệu tầm cỡ quốc gia Từ đầu năm 2013, trong khi thị trường gạo trầm lắng thì ngược lại chỉ với hai loại gạo chất lượng cao mang thương hiệu đặc trưng của mình, Thái Lan, Ấn Độ vẫn xuất khẩu khá mạnh với giá lên đến 700 - 1.000 USD/tấn, cao hơn gấp đôi so với loại gạo trắng hạt dài vốn chiếm 80 - 90% sản lượng của Việt Nam
Hiện nay cơ hội cho xuất khẩu gạo của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc, Hong kong là rất lớn: xuất khẩu gạo, đặc biệt là gạo thơm của Việt Nam vào thị trường Hongkong trong 2 năm 2011-2012 đã có một cuộc bứt phá ngoạn mục Tuy chất lượng của gạo Việt Nam còn thấp hơn gạo thơm Thái Lan, nhưng vấn đề quan trọng là giá gạo Việt Nam đang ngày càng trở nên hấp dẫn hơn Ưu thế này đang ngày càng trở nên đáng kể trong bối cảnh chính phủ Thái Lan tuyên bố duy trì chính sách trợ giá lúa, khiến giá gạo
Trang 14không có khả năng giảm giá
Việt Nam là một quốc gia có truyền thống sản xuất lúa nước lâu đời Vì thế, lúa là cây trồng quan trọng nhất hiện nay với diện tích gieo trồng chiếm 61% diện tích trồng trọt cả nước và 80% nông dân Việt Nam trồng lúa
Theo số liệu của FAO (2014), diện tích lúa gạo ở Việt Nam Giai đoạn
1970 - 2012 được trình bày ở bảng 2.1
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam
giai đoạn 1970 - 2012 Năm Diện tích (nghìn ha) Năng suất (Tấn/ha) Sản lượng (Nghìn tấn)
1970 đến năm 2000 từ 4.724,4 nghìn ha tăng đến 7.666,3 nghìn ha với năng suất trung bình từ 2,15 đến 4,24 tấn/ha và tổng sản lượng lúa đạt được 32,53 triệu tấn Tuy nhiên diện tích trồng lúa từ sau năm 2000 có xu hướng giảm, đến năm 2005 thì diện tích trồng lúa đã giảm từ 7.692,7 nghìn ha xuống còn 7.207,4 nghìn ha Nguyên nhân chủ yếu là do xây dựng những khu công nghiệp và phát triển đô thị trên đất lúa Từ đó Chính phủ có chủ trương bảo vệ diện tích trồng lúa hiện có
Vì vậy, diện tích trồng lúa được phục hồi và đang dần được tăng lên, đạt 7.753,1 nghìn ha vào năm 2012 Không chỉ phục hồi và mở rộng diên tích trồng lúa mà năng suất cũng ngày càng được nâng cao, đạt 5,63 tấn/ha (2012), đã góp phần đáng kể cho sản lượng lúa gạo của cả nước đồng thời mở rộng thị trường tiêu thụ gạo Việt Nam trên thế giới
Năm 2012 xuất khẩu gạo của Việt Nam đã đạt được kết quả vượt mức,
Trang 15đáp ứng được yêu cầu đề ra là tiêu thụ kịp thời sản lượng hàng hóa của nông dân, giữ ổn định giá lúa gạo trong nước, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, cả năm 2012 nước ta đã xuất khẩu 8,02 triệu tấn gạo, thu về 3,67 triệu USD (tăng 12,71% về lượng và tăng nhẹ 0,45% về kim ngạch so với năm 2011 Trung Quốc
là thị trường lớn nhất tiêu thụ gạo của Việt Nam với 2,09 triệu tấn, tương đương 898,43 triệu USD, chiếm 24,46% tổng kim ngạch Thị trường lớn thứ 2 là Philipines đạt 1,11 triệu tấn, trị giá 475,26 triệu USD, chiếm 12,94 tổng kim ngạch, tiếp đến là Indonesia đạt 929,905 tấn, trị giá 458,39 triệu USD chiếm 12,48% tổng kim ngạch Theo tin kinh tế, năm 2012 Việt Nam xuất khẩu gạo tăng mạnh ở các thị trường như châu Âu (tăng 161%), châu Mỹ (tăng 25,9%), Trung Quốc (tăng 14,8) và châu Phi (tăng 5,75%) Trong số lượng xuất khẩu tính đến tháng 10, gạo trắng cao cấp chiếm đến 35,5% Gạo trung bình chỉ có 21,4%, còn gạo cấp thấp chiếm 16,4% Còn gạo thơm tăng bất thường, chiếm gần 14% sản lượng gạo xuất khẩu, hay tăng 72% Đó là một khuynh hướng tốt cho xuất khẩu gạo Việt Nam
Năm 2013, xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt 6,68 triệu tấn và đứng thứ hai thế giới Song về chất lượng, đa số gạo xuất khẩu của nước ta thuộc loại thấp và một ít đạt loại trung bình nên hiệu quả kinh tế không cao, đời sống người dân trồng lúa rất chậm cải thiện Trong khi đó, Thái Lan xuất khẩu hàng năm 5,0-7,0 triệu tấn gạo (luôn đứng đầu thế giới), gạo thơm chất lượng chiếm 25,0-30,0% Mặt khác, nhu cầu gạo thơm ngon của người tiêu dùng trong nước ngày càng tăng, giá của các loại gạo thơm truyền thống như tám thơm, tám xoan, dự hương còn cao do các giống lúa thơm này còn nhiều hạn chế như thời gian sinh trưởng dài, năng suất thấp, chống chịu sâu bệnh yếu, không đáp ứng được nhu cầu sản xuất
Theo Cục Trồng trọt - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, qui hoạch quỹ đất trồng lúa năm 2015 là 3,899 triệu ha, trong đó lúa nước hai vụ trở lên là 3,258 triệu ha, diện tích gieo trồng là 7,3 triệu ha.; Năm 2020 bảo vệ quỹ đất lúa
ổn định là 3,812 ha, trong đó lúa hai vụ trở lên là 3,222 triệu ha, diện tích gieo trồng 7 triệu ha Áp dụng đồng bộ các biện pháp thâm canh tiên tiến để đạt sản lượng 42 - 43 triệu tấn vào năm 2015 - 2020, đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu gạo
Như vậy, sản lượng thóc của nước ta từ nay đến năm 2020 dao động trong khoảng từ 42 - 43 triệu tấn/năm Nhu cầu thóc giống trong nước từ 0,8 - 1 triệu
Trang 16tấn/năm Nhu cầu thóc để ăn và dự trữ trong cả nước mỗi năm khoảng 22 - 24 triệu tấn Nhu cầu thóc để chế biến khoảng 0,6 - 1,0 triệu tấn Nhu cầu cho chăn nuôi và hao hụt từ 7,5 - 8,5 triệu tấn/năm Như vậy, lượng thóc hàng hóa dự kiến trong năm 2015 là 11,1 triệu tấn và năm 2020 là 8,7 triệu tấn Đây là nguồn thóc gạo rất lớn đối với thị trường trong nước
Trong các giống lúa trồng nhiều ở đồng bằng sông Cửu Long thì giống lúa
IR 50404 là giống lúa lai được đưa vào trồng từ năm 1992 Ưu điểm của giống này là phát triển nhanh, thích nghi với mọi điều kiện thời tiết (trồng được 3 vụ/năm), chống chịu bệnh tốt, ít phân bón, năng suất cao: Trung bình 18 tấn/ha/năm, giá thành hạ Nhược điểm chính là chất lượng gạo của giống lúa này không cao (tỷ lệ bạc bụng nhiều, hạt gạo ngắn, hàm lượng amylose cao nên cơm
bị khô, cứng) (Cục Chăn nuôi, 2012); chính đây là giống lúa có tiềm năng làm nguồn thức ăn chăn nuôi
Theo Cục Chăn nuôi (2013), ngành chăn nuôi của Việt Nam sẽ phải đương đầu với những khó khăn, gần như một thảm họa nếu sản xuất thức ăn chăn nuôi bị chi phối bởi nguồn nguyên liệu nhập khẩu Hiện nay, mỗi năm chúng ta phải bỏ ra một nguồn ngoại tệ khá lớn nhập khẩu ngô và lúa mỳ để sản xuất thức
ăn chăn nuôi Như vậy, việc khai thác nguồn nguyên liệu trong nước để chủ động sản xuất thức ăn chăn nuôi đang là một yêu cầu bức thiết
Thêm vào đó, để tránh nguy cơ mất thị trường do không cạnh tranh được với các quốc gia xuất khẩu gạo khác, ngành sản xuất lúa gạo Việt nam cần áp dụng nhiều giải pháp nhằm nâng cao giá trị hạt gạo và tìm những thị trường cao cấp cho gạo thơm của Việt Nam Đồng thời chúng ta cũng phải tìm thị trường tiêu thụ cho số lượng gạo chất lượng trung bình và thấp khi không xuất khẩu được hoặc xuất khẩu với giá thấp Có thể nói thị trường sản xuất thức ăn gia súc trong nước đang là một tiềm năng cần được khai thác Việc sử dụng lúa gạo để sản xuất thức ăn chăn nuôi có thể góp phần giải quyết tình hình xuất khẩu gạo gặp khó khăn Tuy nhiên, để khai thác thị trường này, chúng ta cần giải được bài toán về giá thành và hiệu quả của việc sử dụng thóc gạo thay thế ngô và lúa mì nhập khẩu Giải quyết được vấn đề này, chúng ta còn giải quyết được nhiều khó khăn khác đang tồn tại trong thực tế sản xuất của nghành nông nghiệp trong nước Một trong giải pháp để giải bài toán giá thành trong việc sử dụng thóc gạo thay thế ngô và lúa mì nhập khẩu là sử dụng thóc của các giống lúa cao sản
Trang 172.2 THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA LÚA GẠO
Thóc và phụ phẩm của ngành chế biến thóc gạo bao gồm các thành phần như trấu (husk), chiếm tỷ lệ khoảng 20%; gạo xay (còn gọi là gạo lức, gạo lật - brown rice) với tỷ lệ khoảng 80%; cám bổi (polard) chiếm 11%, trong đó, cám mịn (Rice polishing) là 8% và cám thô (bran) là 3%; tấm (crack rice) khoảng 2% và gạo trắng (white rice) chiếm tỷ lệ khoảng 67%
Tỷ lệ các thành phần của thóc, gạo và các loại phụ phẩm được trình bày trong Sơ đồ 2.1
Sơ đồ 2.1 Tỷ lệ phụ phẩm của ngành xay xát thóc
Nguồn: D Floukes (1998) Trước đây, khi thóc gạo còn khan hiếm, phần gạo trắng thường được sử dụng làm lương thực cho người Người ta chỉ sử dụng các sản phẩm phụ như tấm
và cám làm thức ăn chăn nuôi Tuy nhiên, hiện nay chúng ta có thể sử dụng cả gạo để sản xuất thức ăn chăn nuôi Vì thế, thông thường người ta hay sử dụng gạo xay (còn gọi là gạo lứt hay gạo lật) Tỷ lệ gạo xay chiếm tới 80%, bao gồm
cả tấm và cám
Trang 18Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của các loại hạt phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau như giống cây trồng, chế độ canh tác, đặc điểm thổ nhưỡng và mùa vụ gieo trồng v.v Vì vậy, các kết quả nghiên cứu trên các giống khác nhau, chế độ canh tác và mùa vụ ở các địa phương khác nhau thì kết quả cũng sẽ khác nhau
Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thóc, gạo xay và ngô được đánh giá ở các chỉ tiêu năng lựợng, protein thô, chất béo, chất chiết không nitơ, chất xơ, chất khoáng theo kết quả của Kyiomi Kosaka (1990) được trình bày ở bảng 2.2
Bảng 2.2 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thóc,
gạo xay và ngô
Nguồn: Kiyomi Kosaka (1990)
*STFC: Srandard Tables of Feed Composition in Japan (1987)
** Arbolio: Một chủng thóc của Ý, chi tiết từ Yamzaki et al (1988)
Kết quả ở bảng 2.2 cho thấy, sự khác nhau về hàm lượng protein thô, chất triết không nitơ và tro thô giữa ngô và gạo xay là không đáng kể Đặc biệt giá trị năng lượng trao đổi của ngô và gạo xay gần như tương đương nhau (3,27 và 3,29 Mcal/kg) Mặc dù hàm lượng lipit thô của gạo xay thấp hơn ngô khá nhiều (2,1
và 3,9 %) Điều này cho thấy thay thế ngô bằng gạo, hoàn toàn đáp ứng đủ nhu cầu về năng lượng Hàm lượng xơ thô trong gạo xay thấp hơn trong ngô là 1% (0,9 và 1,9%) Điểm yếu nhất của gạo xay so với ngô là rất nghèo sắc tố
Trang 19(xanthophyll và criptoxanthine…)
Riêng thóc, có nhiều yếu điểm hơn so với ngô và gạo xay Giá trị năng lượng trao đổi của thóc thấp hơn so với gạo xay và ngô khoảng 15-20% Hàm lượng xơ thô cao hơn gạo xay từ 6,1 - 7,7% và cao hơn ngô từ 5,1 - 6,7% Đặc biệt vỏ trấu của thóc rất khó tiêu hóa Theo Sikka (2007) trong vỏ trấu có 35% cellulose, 30% lignin, 18% pentosans và 17% tro thô
Kết quả nghiên cứu thành phần hóa học của ngô và gạo xay theo Li et al (2006) được trình bày ở bảng 2.3
Bảng 2.3 Thành phần hóa học của ngô và gạo xay
Trang 20so với ngô (72,4 và 59,6%) Các chỉ tiêu khác, sự khác nhau giữa ngô và gạo xay không nhiều Trong 10 axit amin thiết yếu được phân tích thì có tám axit amin (Arginine, isoleucine, lysine, methionine, phenylalanine, threonine, tryptophane, valine) trong gạo xay cao hơn ngô, chỉ có hai axit amin (histidine và leucine) trong ngô cao hơn gạo xay Trong số chín chất khoáng phân tích được thì có sáu chất khoáng (Ca, P, Na, Cu, Zn, Mn) trong gạo xay cao hơn ngô; ba chất khoáng (K, Mg, Fe) trong ngô cao hơn gạo xay
Kết quả nghiên cứu của Piao et al (2002) về hàm lượng protein thô cùng hàm lượng 16 axit amin trong ngô và gạo xay được trình bày trong bảng 2.4
Bảng 2.4 Thành phần axit amin của gạo xay và ngô hạt
Trang 21leucine, lysine, arginine, cystine) trong ngô cao hơn gạo xay; có 7 axit amin (threonine, serine, glutamic acid, alanine, tryptophane, phenylalanine, histidine) trong gạo xay cao hơn ngô
Trong kết quả nghiên cứu của Leeson and Summer (2008) đã cho biết thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thóc, gạo xay, ngô và lúa mì (bảng 2.5.)
Bảng 2.5 Thành phần dinh dưỡng của thóc, gạo xay, ngô và lúa mỳ (%)
là gạo xay (2,42%) và thấp nhất trong lúa mì (1,5%) Hàm lượng các chất khoáng
và axit amin tổng số trong hạt ngô là thấp nhất và cao nhất là trong hạt lúa mì
Kết quả nghiên cứu của Li et al (2006) cho biết, giá trị năng lượng trao
Trang 22đổi (ME) của gạo xay và ngô tương ứng là 14,13 và 14,24 MJ/kg; tỷ lệ ni tơ tích lũy là 48 và 54,7%; giá trị sinh học protein (BV) của ngô là 59,1% và gạo xay là 64,6%; tỷ lệ protein thuần sử dụng (NPU) của ngô là 47,8% và gạo xay là 54,9% Như vậy, có thể nói, chất lượng protein của gạo xay tốt hơn của ngô
Kết quả phân tích thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn gia cầm Việt nam của Viện Chăn nuôi quốc gia (1995) đã cho biết thành phần hóa học và giá trị năng lượng trao đổi của thóc tẻ, gạo tẻ xay, ngô và lúa mỳ (bảng 2.6 và 2.7)
Khác với hầu hết kết quả nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, kết quả ở bảng 2.6 cho thấy giá trị năng lượng trao đổi của ngô vàng cao hơn gạo tẻ xay 50 kcal/kg (3321 và 3271 kcal/kg) Hàm lượng protein thô của ngô cao hơn gạo xay (8,90 và 8,61), tuy nhiên mức cao hơn là không nhiều Kết quả này phù hợp với kết quả của Leeson and Summer (2008) Điều này không có gì đặc biệt bởi thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của các loại hạt phụ thuộc vào rất nhiều yếu
tố Thời điểm phân tích, mẫu phân tích, giống cây trồng và chế độ canh tác khác nhau thì kết quả cũng khác nhau
Theo Sittiya et al (2011) giá trị ME tương ứng của ngô và gạo xay là 2.790 và 3.020 kcal/kg
Theo Asyifah et al (2012) giá trị năng lượng trao đổi thực (TME) của gạo xay khác nhau theo giống lúa và biến động từ 2.904 đên 3.692 kcal/kg
Bảng 2.6 Thành phần hóa học và giá trị năng lượng trao đổi của thóc, gạo
Nguồn: Viện Chăn nuôi (1995) Kết quả ở bảng 2.6 cho thấy hàm lượng axit amin tổng số cao nhất trong
Trang 23hạt lúa mì, sau đó là hạt gạo tẻ, tiếp đến là ngô và thấp nhất trong thóc tẻ
Từ các kết quả phân tích thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thóc, gạo ngô và lúa mì ở trên cho thấy, giá trị năng lượng, hàm lượng protein và các axit amin giữa gạo xay và ngô không khác nhau nhiều Điều này cho thấy có thể sử dụng gạo xay thay thế ngô trong khẩu phần ăn cho các loại gia cầm Song, điểm hạn chế nhất của gạo so với ngô đỏ và vàng không phải là ở các thành phần dinh dưỡng đã nêu trên mà là hàm lượng các sắc tố (xanthophyll) Trong 1kg ngô
đỏ hay vàng có 20 - 30 mg sắc tố, nhưng trong gạo gần như không có (2 - 3mg/kg) Sắc tố tuy không cung cấp năng lượng hay các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể gia cầm, nhưng lại có ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm Thiếu sắc tố sẽ làm da gà có mầu trắng và lòng đỏ trứng có mầu vàng rất nhạt Điều này làm giảm chất lượng sản phẩm và không hợp với thị hiếu của người tiêu dùng Tuy nhiên, vấn đề này hoàn toàn có thể giải quyết được trong chăn nuôi hiện nay Chúng ta có thể sử dụng gluten ngô, DDGS (phụ phẩm chế biến Ethanol) và các loại bột thức ăn xanh để bổ sung thêm sắc tố trong khẩu phần ăn cho gia cầm Bảng 2.7 Thành phần axit amin trong thóc, gạo tẻ, ngô tẻ và lúa mỳ
Trang 24trong thức ăn gia cầm sẽ làm tăng thêm màu vàng của da, mỡ, lòng đỏ trứng
David (2006) cho biết, hàm lượng xanthophyll trong DDGS khá cao, tuy nhiên khoảng biến động cũng khá lớn (20 - 40mg/kg) tùy thuộc vào nguồn nguyên liệu đưa vào sản xuất Kết quả nghiên cứu của Shurson et al (2003); Roberson et al (2005) đã cho biết sử dụng khẩu phần có chứa 10% DDGS đã làm tăng đáng kể độ đậm màu của lòng đỏ trứng và làm đậm màu da của gà thịt
Theo Blas et al (2010), hàm lượng xanthophyll trung bình trong bột cỏ alfalfa là 200 mg/kg; sản phẩm tách chiết protein từ lá và hoa của alfalfa có hàm lượng protein 50 - 55% rất giàu xanthophyll (1200 mg/kg) Bột cỏ alfalfa của công ty DABACO nhập khẩu năm 2013 có 18,5 % protein thô và 280 mg xanthophyll/kg Không những thế, sử dụng bột thức ăn xanh trong khẩu phần ăn cho gia cầm còn làm tăng khả năng sản xuất, tăng hiệu quả sử dụng thức ăn và giảm giá thành sản phẩm chăn nuôi mang lại hiệu quả chăn nuôi tốt hơn
Như vậy, xét về mặt dinh dưỡng, khả năng sử dụng gạo xay (brown rice) thay thế ngô trong chăn nuôi là hoàn toàn khả thi Ở đây chỉ còn vấn đề về giá của ngô và gạo Nếu theo thời giá tháng 11 năm 2013, 1kg thóc loại thường tại kho giá 5.250 - 5.450 VNĐ (báo cáo thị trường lúa gạo tháng 11/2013 của VITIC
- Trung tâm thông tin công nghiệp và thương mại Bộ Công thương), tỷ lệ gạo xay/thóc = 80% thì giá 1 kg gạo xay là 6.563 - 6.813 VNĐ (chưa tính chi phí xay sát), tương đương giá ngô (1kg ngô giá 6.800 VNĐ) Nhưng đến tháng 3/2014, giá lúa vụ đông xuân tại đồng bằng Sông Cửu long chỉ còn 4.800 - 5.000 đ/kg (Thời báo Kinh tế Sài gòn, 2014), giá gạo xay giảm xuống chỉ còn 6.000 - 6.250 đ/kg; rẻ hơn giá ngô (1 kg ngô có giá 6.500 đ/kg) Chiến lược sản xuất thóc gạo
và sử dụng thóc gạo trong chăn nuôi, bao gồm quy hoạch về diện tích, về chủng giống, về điều tiết lượng thóc gạo xuất khẩu, cũng như áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp để có năng suất cao và đảm bảo giá thóc gạo hợp lý
Trong hạt lúa gạo khô (thóc) có 1,79 - 3,07 % lipit, 5,5 - 13% protein, 62,40 - 82,51% tinh bột, 5,7% tro thô và 0,48 - 1,19% đường Ngoài ra còn chứa một số chất khoáng và vitamin nhất là vitamin nhóm B như: B1, B2, B6, PP… lượng vitamin B1 là 0,45mg/100g hạt, trong đó ở phôi chiếm 47%, vỏ cám 34,5% , ở hạt gạo chỉ có 3,8% nên nếu khi xát kĩ hàm lượng B1 trong hạt gạo còn rất thấp
Lipit chủ yếu tập trung ở vỏ gạo Nếu ở gạo xay có hàm lượng lipit là 2,02% khối lượng khô thì ở gạo xát lượng lipit chỉ còn 0,52% Hàm lượng lipit
Trang 25liên quan đến chất lượng trên hai phương diện là giá trị dinh dưỡng và giá trị bảo quản Hàm lượng lipit càng cao thì bảo quản càng phức tạp
Tinh bột chiếm tỷ lệ cao nhất trong thành phần vật chất khô trong hạt lúa chiếm 62,40 - 82,51%, nó là nguồn cung cấp chủ yếu calo Tinh bột được cấu tạo bởi amylose và amylopectin Amylose có cấu tạo mạch thẳng có nhiều ở gạo tẻ,
độ dẻo thấp Amylopectin có cấu tạo mạch nhánh có nhiều ở gạo nếp nên độ dẻo đặc trưng ở cơm
Protein trong hạt lúa chiếm từ 5,5 - 13% khối lượng khô của hạt Khoảng 80% protein là glutelin, 18 - 20% là prolalin, 2 - 8% là globulin, abumin chiếm 5% Glutelin là một loại protein quan trọng, có thành phần axit amin cân đối với gần 3% lizin, khối lượng phân tử lớn (20 - 22 KDa và 35 - 37 KDa) Prolamin gạo là một trong những protein dễ tan, dạng chính là 13KDa còn lại là những thành phần phụ, thành phần axit amin rất giàu glutamine, prolin, loxin nhưng thấp về metionin, cystein, threonin và tyrozin Globumin là thành phần chính của protein trong phôi hạt thóc, khối lượng phân tử 26KDa.Albumin trong gạo là loại protein không đồng nhất, gồm nhiều thành phần điện di và phân li mạnh
Trong lúa nước hàm lượng protein chiếm từ 5,50 - 10,77%, các giống lúa cạn thì hàm lượng cao hơn từ 8,00 - 11,62%, lúa nếp cao hơn lúa tẻ và lúa thơm cao hơn lúa thường Hàm lượng protein trong hạt lúa không cao nhưng là protein
dễ tiêu hóa và hấp thu đối với người và vật nuôi Trong hạt lúa protein có 17 loại axit amin trong đó có các axit amin không thay thế là: valine, leucine, isoleucine, methionine, phenylalanine, lysine, threonine (4)
Tuy hàm lượng protein thấp nhưng chất lượng protein của gạo cao hơn hẳn các loại ngũ cốc khác Điều này thể hiện ở giá trị sinh học của protein và tỷ
lệ protein thuần sử dụng (NPU) của gạo đều có giá trị cao (bảng 2.8)
Bảng 2.8 Chất lượng protein và năng lượng của gạo so với ngô và lúa mỳ
Trang 26Ngoài ra tỷ lệ hấp thu năng lượng từ gạo cũng đạt giá trị cao nhất, điều này cho thấy gạo là loại thức ăn giàu dinh dưỡng
Hiện nay trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã có nhiều nghiên cứu sử dụng cám gạo và tấm trong chăn nuôi Cám gạo có thể sử dụng thay thế 40 - 50% ngô trong khẩu phần ăn của lợn và 20 - 30 % ngô trong khẩu phần ăn của gà Các nghiên cứu đã chứng minh rằng ngô, gạo và tấm gạo
có giá trị dinh dưỡng tương đương nhau, hầu như không có các yếu tố kháng dinh dưỡng và không cần phải hạn chế tỷ lệ sử dụng trong khẩu phần và có thể thay thế ngang bằng nhau khi xây dựng công thức thức ăn cho gia súc, gia cầm Nhiều thí nghiệm trên các loại lơn, gà cho ăn khẩu phần sử dụng tới mức
30, 40 và 50% tấm so với khẩu phần 50% ngô mà không phát hiện có sự khác biệt nào về tăng trọng, hiệu quả sử dụng thức ăn và chất lượng thịt Sử dụng tấm gạo còn có một ưu thế hơn ở khía cạnh tăng tính ngon miệng cho con vật, kích thích con vật ăn nhiều hơn và khi ép viên thì độ chắc của viên tốt hơn Ngoài ra tấm gạo còn có ưu điểm vượt trội hơn so với ngô cho gia cầm vì tấm
ít nhiễm nấm mốc trong khi ngô dễ nhiễm nấm mốc và tỷ lệ độc tố trong ngô luôn luôn cao hơn tấm nhiều lần
Hiện nay Việt Nam đang phải nhập khẩu hàng năm trên dưới 1 triệu tấn ngô để dùng chế biến thức ăn chăn nuôi, trong lúc lúa gạo lại dư thừa để xuất khẩu Bên cạnh đó gần như chưa có nghiên cứu sử dụng thóc, gạo để sản xuất thức ăn hỗn hợp cho lợn và gia cầm Tuy nhiên, trong thực tế ở Việt Nam thóc vẫn được sử dụng trong chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi nhỏ lẻ Thóc, gạo có thể được sử dụng với tỷ lệ từ 10 - 30% trong khẩu phần ăn của lợn, gà thịt và gà đẻ 2.3 ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ NGUYÊN LIỆU THỨC ĂN TRONG CHĂN NUÔI GIA CẦM
Nguyên liệu thức ăn trong chăn nuôi gia cầm được phân ra gồm nhóm thức ăn giàu năng lượng, nhóm thức ăn giàu protein, nhóm thức ăn bổ sung (phân loại theo nguồn gốc: Irma, 1983; Richard and Church, 1998)
2.3.1 Nhóm thức ăn giàu năng lượng
Thức ăn thực vật nhiều bột đường là thành phần chủ yếu chiếm tỷ lệ lớn trong thức ăn hỗn hợp gà, thường 50 - 60% Loại nguyên liệu này có nhiều hydrat cacbon, glucid, gồm có thóc, ngô, cám, cao lương, kê, mỹ, khoai sắn v.v Dưới đây là đặc điểm một số nguyên liệu thường dùng trong chăn nuôi gia cầm
Trang 27- Ngô (Zea mays)
Theo Nguyễn Thị Mai và cs (2009), ngô là loại thức ăn chính cung cấp năng lượng cho gia cầm Trong 1kg ngô có giá trị 3200 - 3400 kcal năng lượng trao đổi Giá trị năng lượng trao đổi của ngô biến động tùy thuộc vào giống, chế
độ canh tác và địa phương khác nhau Nếu tính trong 1kg chất khô, giá trị năng lượng trao đổi của ngô biến động từ 3.612 - 3.895 kcal (Nguyễn Thị Mai, 2001) McDonal et al (1995) cũng cho biết giá trị năng lượng trao đổi của ngô là 3.874 kcal (tính theo 100% chất khô) Hàm lượng xơ trong ngô thấp, hàm lượng protein thô từ 8 - 13% (tính theo vật chất khô) Trong protein thì Lyzin, Tryptophan, Methionin là những axit amin hạn chế nhất, đặc biệt là Lyzin (Vũ Duy Giảng và Tôn Thất Sơn, 2007) Ngô là loại thức ăn hạt nghèo các chất khoáng như Ca (0,15%), Mn (7,3mg/kg) và đồng (5,4mg/kg) Hiện nay có nhiều giống ngô có màu sắc khác nhau như màu: vàng, đỏ và trắng Trong ngô vàng và ngô đỏ có nhiều Caroten, Criptoxantin, Xantofin Trong 1kg ngô vàng có 0,57mg Caroten, 15,4mg Criptoxantin và 13,67 mg Xantofil Xantofil là sắc tố nhuộm màu chủ yếu của lòng đỏ trứng gà, mỡ và da gà Ngô là loại thức ăn giàu năng lượng nên thường được dùng để điều chỉnh mức năng lượng trong các khẩu phần ăn (Nguyễn Thị Mai, 2001)
- Lúa mỳ (Triticum spp.)
Lúa mì là một trong những hạt ngũ cốc có giá trị dinh dưỡng cao Trong những năm gần đây, hạt lúa mỳ được sử dụng khá phổ biến trong ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi nước ta Theo Leeson and Summer (2008), trong hạt lúa mỳ, hàm lượng protein thô từ 12 - 15%, cao hơn hẳn ngô (8,5%) và gạo xay (8,2%) Hàm lượng lipit thô trong lúa mỳ thấp (1,5%), thấp hơn trong ngô và gạo, thậm chí thấp hơn cả trong thóc (1,7%) Hàm lượng xơ thô trong lúa mỳ là (2,7%), cao gấp hai lần gạo xay (1,2%) và cao hơn ngô (2,5%) một chút Hàm lượng Canxi (0,05%) và phôt pho (0.02%) cao hơn hẳn ngô và gạo xay Trong lúa mỳ có đầy
đủ các axit amin không thay thế được đối với gia cầm
Đặc biệt hàm lượng lysine (0,49%) cao hơn hẳn trong ngô (0,20%) và gạo xay (0,31%) Giống lúa mỳ và điều kiện khí hậu khác nhau thì thành phần dinh dưỡng cũng khác nhau ADM (2015) cho biết, trong lúa mỳ có 11,5% protein thô; 1,9% lipit thô và 3,3% xơ thô Giá trị năng lượng trao đổi là 3.113 kcal/kg Theo tài liệu của FAO (2011) dẫn theo IGC (2015), 42% sản lượng lúa mỳ năm
Trang 282011 và dự kiến khoảng 60,66% sản lượng lúa mỳ năm 2015 của EU được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi
2.3.2 Thức ăn giàu protein nguồn gốc thực vật
- Đỗ tương (Glycin max)
Theo Nguyễn Thị Mai (2001) , hạt đỗ tương là loại thức ăn giàu proten có nguồn gốc thực vật được dùng phổ biến trong các loại thức ăn hỗn hợp cho gia cầm Đặc biệt là trong các khẩu phần ăn đỏi hỏi mức năng lượng và protein cao Trong hạt đỗ tương, tính theo 100% chất khô, hàm lượng protein thô từ 33,82 - 42,03%; lipit thô (16,74 - 21,87%); xơ thô (3,54 - 7,10%) và tro thô (4,12 - 7,13%) Sự dao động về hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đỗ tương phụ thuộc vào giống đỗ tương, chế độ canh tác và vùng đất khác nhau (Tôn Thất Sơn
và Ngyễn Thị Mai, 2007) Chính nhờ hàm lượng lipit trong đậu tương cao nên giá trị năng lượng trong đậu tương cũng rất cao Theo Nguyễn Thị Mai (2001) , tính trên 1 kg chất khô, giá trị năng lượng thô của đỗ tương từ 5040 - 5684 kcal; giá trị năng lượng trao đổi biến động từ 3629 - 3892kcal
Protein của đỗ tương khá giàu lysine nhưng hạn chế nhất là methionin, sau
đó là cystein và threonin Trong hạt đỗ tương sống có các chất kháng Trypsin và Chymotrypsin làm giảm tỷ lệ tiêu hoá và giá trị sinh học của protein Do đó trước khi sử dụng làm thức ăn cho gia cầm cần được sử lý nhiệt thích hợp để phân huỷ các chất gây hại làm tăng tỷ lệ tiêu hoá và tăng giá trị sinh học của protein (Nguyễn Thị Mai và cs., 2009)
Có thể nói, hạt đậu tương là một loại nguyên liệu rất quan trọng đối với ngành công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi Nó không những giàu năng lượng
và protein mà còn là nguồn axit béo quan trọng đối với gia súc, gia cầm (Mc Donal et al., 1995)
- Khô dầu
Theo Nguyễn Thị Mai và cs (2009) , khô dầu là phụ phẩm của các loại hạt có dầu sau khi đã được ép lấy dầu Các sản phẩm này bao gồm: khô dầu lạc, khô dầu đỗ tương, khô dầu hướng dương Thành phần dinh dưỡng của các loại khô dầu biến động phụ thuộc vào công nghệ ép dầu và chất lượng của hạt
Khô dầu lạc là nguồn protein thực vật tốt cho gia súc, gia cầm Hàm lượng protein thô của khô dầu lạc nhân khoảng 42 - 45%, xơ 4-5%, nếu khô dầu lạc ép
cả vỏ thì hàm lượng protein thấp hơn (37 - 38%) nhưng hàm lượng xơ thô cao
Trang 29hơn (18,8%) Khô lạc nhân ép máy có tỷ lệ lipid 6-7% (nếu ép thủ công dầu còn 11-12%) nên có giá trị năng lượng cao (2900-3000 Kcal/kg) Nếu ép chiết ly giá trị năng lượng sẽ thấp hơn (Tôn Thất Sơn và cs., 2007)
Theo Nguyễn Thị Mai (2001), khô dầu đậu tương là loại nguyên liệu thức
ăn giàu protein có nguồn gốc thực vật được dùng phổ biến trong khẩu phần ăn cho các loại gia cầm Các loại khô dầu đậu tương khác nhau thì thành phần hóa học cũng rất khác nhau Trong các loại khô dầu đậu tương, hàm lượng protein thô biến động từ 36,71 - 45,20%; lipit (2,1 - 9,05%); xơ thô (5,8 - 7,56%) và tro thô (5,5 - 6,31%) Các loại khô dầu đậu tương ép chiết ly có hàm lượng protein cao hơn và hàm lượng lipit thấp hơn khô dầu đậu tương ép cơ học (Nguyễn Thị Mai, 2001).Theo Schang et al (1982), Flores and Castanon (1991) thì giá trị năng lượng thô của các loại khô dầu đậu tương nằm trong khoảng từ 4573 - 4796kcal/kg (tính theo vật chất khô) Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai (2001) cho biết, giá trị năng lượng trao đổi của khô dầu đậu tương ép máy từ
3040 - 3111kcal/kg chất khô, của khô dầu đậu tương ép chiết ly từ 2598 - 2686 kcal/kg chất khô Theo Jowaman and Sarote (1999), giá trị năng lượng trao đổi của khô dầu đậu tương tính theo 100% chất khô từ 2660 - 2840kcal/kg
Ngoài khô dầu lạc và khô dầu đậu tương, còn nhiều loại khô dầu khác như khô dầu cải, khô dầu bông, khô dầu lanh, khô dầu dừa v.v các loại khô dầu này
có hàm lượng protein thấp hoặc giá trị sinh học của protein kém hơn, hàm lượng
xơ thô cao nên dùng rất hạn chế hoặc không dùng trong chăn nuôi gia cầm (Nguyễn Thị Mai và cs., 2009)
Các loại khô dầu khi bảo quản dễ bị mốc, nấm mốc của các loại khô dầu thường sản sinh ra các độc tố nấm mốc (Mycotoxin) làm cho gia cầm có thể bị ngộ độc ở mức độ khác nhau tuỳ theo loại độc tố mà nấm mốc sinh ra
Trong khi sử dụng cần lưu ý đối với khô dầu lạc, nhất là khi sử dụng để nuôi vịt Nấm mốc trong khô dầu lạc sản sinh ra độc tố nấm mốc Aflatoxin Gia cầm rất mẫn cảm với loại độc tố này, nhất là vịt Trong các loại Aflatoxin, chủng AflatoxinB1 có độc lực cao nhất (Tôn Thất Sơn và cs., 2007)
2.3.3 Thức ăn giàu protein nguồn gốc động vật
- Bột cá
Bột cá là loại thức ăn có nguồn gốc động vật khá cân bằng về dinh dưỡng với hàm lượng protein và năng lượng tương đối cao, đầy đủ các chất khoáng cần
Trang 30thiết cho cơ thể gia cầm Hơn nữa, bột cá còn là một nguồn bổ sung vitamin tự nhiên phong phú, đặc biệt là cholin, biotin, vitamin B12, vitamin A và vitamin E
Từ nhiều kết quả nghiên cứu, các nhà khoa học nhận định protein trong bột cá có giá trị sinh học rất cao trong khẩu phần cho vật nuôi (Barlow and Windsor, 1984) Trong bột cá có đủ các axit amin không thay thế, dễ tiêu hoá như methionine, cystine, lysine, threonine, tryptophan Theo Fin (2000), hàm lượng lysine trong bột cá trích (herring) là 6,1%, gần gấp đôi so với hàm lượng lysin có trong bột đậu tương (3,1%) và gần gấp ba nếu so với hàm lượng lysin có trong bột sữa (2,5%) Hàm lượng methionine và cystine có trong bột cá cũng ở mức cao (2,6 - 2,9%), trong khi đó trong đậu tương, methionine và cystine chỉ có 1,5% (Fin 2000) Do đó sự có mặt của bột cá trong khẩu phần sẽ khắc phục được
sự thiếu hụt các axit amin này khi sử dụng khẩu phần có nguồn gốc protein thực vật là chính
Theo Nguyễn Thị Mai (2001), hàm lượng protein thô trong các loại bột cá biến động trong khoảng từ 48,5% - 75,1% (tính theo 100%VCK) , trong đó các loại bột cá nhập khẩu của nước ngoài có hàm lượng protein tương đối cao và ổn định Các loại bột cá sản xuất trong nước có hàm lượng protein thô thấp hơn và biến động mạnh hơn
Theo Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 1644:2001), bột cá loại 1 phải có hàm lượng protein lớn hơn 60%, bột cá loại hai, hàm lượng protein thô không được nhỏ hơn 50%; đối với bột cá loại 3 cho phép hàm lượng protein thô không nhỏ hơn 40% Ở các nước phát triển như Pháp, Na uy, Mỹ, bột cá hạng 1 phải có hơn 60% protein thô; bột cá hạng 2 là 50- 60 % protein thô; bột cá có hàm lượng protein nhỏ hơn 50% không được sử dụng trong chăn nuôi gia cầm
- Bột thịt và bột thịt xương
Bột thịt và bột thịt xương là loại nguyên liệu thức ăn rất giàu protein và các nguyên tố khoáng; đó là sản phẩm được chế biến từ thịt và xương của động vật hay từ phụ phẩm của lò mổ (Vũ Duy Giảng và Tôn thất Sơn, 2007) Protein trong bột thịt xương dao động từ 45 - 50% và có giá trị sinh học cao Bột thịt xương rất giàu các axit amin, đặc biệt là lysine, methionine, Cystine, tryptophane
và treonine và các nguyên tố khoáng như Ca, P và Mg Bột thịt xương có hàm lượng lipit thô trung bình là 9%, do đó trong quá trình bảo quản, cần chú ý để tránh hiện tượng oxy hoá gây ôi làm giảm chất lượng của sản phẩm; giá trị năng
Trang 31lượng trao đổi là 2444 - 2660kcal/kg (Nguyễn Thị Mai và cs., 2009)
Độ ẩm an toàn bảo quản của bột thịt xương cần đảm bảo <8% Đây là một chỉ tiêu quan trọng vì trong quá trình bảo quản, lipit trong bột thịt xương vẫn tiếp tục oxy hoá Nếu độ ẩm càng cao, quá trình oxy hoá xảy ra càng nhanh, thời gian bảo quản bột thịt xương càng ngắn và chất lượng bột thịt xương càng giảm 2.3.4 Nhóm thức ăn bổ sung
Theo Nguyễn Thị Mai (2009), thức ăn bổ sung là một chất hoặc một hỗn hợp chất bổ sung vào khẩu phần ăn với một liều nhỏ nhưng làm tăng tốc độ sinh trưởng, tăng hiệu quả sử dụng thức ăn, phòng một số bệnh Có nhiều loại thức ăn
bổ sung khác nhau như thức ăn bổ sung protein (axit amin, nấm men, enzym), thức ăn bổ sung khoáng, vitamin, kháng sinh và các loại thức ăn bổ sung khác (Vũ Duy Giảng và Tôn Thất Sơn, 2007)
- Thức ăn bổ sung protein
Sử dụng axit amin tổng hợp để bổ sung protein, không những tiết kiệm protein mà còn giúp cân bằng axit amin trong khẩu phần, tăng hiệu quả sử dụng protein và hạ giá thành sản phẩm chăn nuôi gia cầm Ngoài axit amin, còn sử dụng thêm các sản phẩm nấm men làm nguồn thức ăn bổ sung protein Nấm men giàu protein, vitamin, nhất là vitamin nhóm B (Nguyễn Thị Mai và cs., 2007)
- Enzym
Theo Nguyễn Thị Mai và cs (2009), enzym là các protein tự nhiên có hoạt tính enzym; các enzym được tạo ra từ các cơ thể sống Trong công nghiệp, enzym được sản xuất từ các vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, men) bằng cách lên men hoặc chiết từ tuỵ và các mô động vật khác Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại KEMZYM DRY Khi bổ sung kemzym cho gà thị đã làm tăng trọng cao hơn, hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn và làm giảm độ ẩm của lớp độn chuồng
Sự sai khác là rất rõ rệt với p < 0,01 (Tôn Thất Sơn và cs., 2007)
- Thức ăn bổ sung khoáng và vitamin
Theo Tôn Thất Sơn và cs (2001), thức ăn bổ sung khoáng gồm nhiều loại như bột vỏ sò, bột xương, bột vỏ trứng, bột đá, Dicanxi photphat v.v Các loại này chủ yếu cung cấp canxi và photspho Để bổ sung các nguyên tố vi lượng, người ta thường bổ sung dưới dạng hỗn hợp premix khoáng hoặc hỗn hợp premix khoáng - vitamin (Vũ Duy Giảng và Tôn Thất Sơn, 2007) (12) Thức ăn bổ sung vitamin có thể là những vitamin đơn lẻ như A, D, E, K, B1, B2, B12, C, … hoặc
Trang 32là hỗn hợp vitamin dưới dạng premix Khi sử dụng các loại premix cần đặc biệt chú ý hạn sử dụng (Nguyễn Thị Mai và cs., 2009) (11)
- Chất nhuộm màu
Để nhuộm màu của lòng đỏ trứng gà, da gà người ta dùng xantofill Xantofill có nhiều trong các loại rau cỏ, bột thức ăn xanh, bột cánh hoa cúc vạn thọ Một số sản phẩm nhuộm màu như ORO GLO, KEM GLO, Beta-Apo-8- carotenal, Caroten tự nhiên, Canthaxantin (Nguyễn Thị Mai và cs., 2009)
Ngoài ra, trong công nghệ chế biến thức ăn cho gia cầm, người ta còn sử dụng một số chất phụ gia như chất nhũ hóa; chất chống oxi hóa (antioxidant); chất kết dính thức ăn (Vũ Duy Giảng và Tôn Thất Sơn, 2007)
2.4 MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ SỨC SẢN XUẤT THỊT CỦA GÀ 2.4.1 Những chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất thịt trên gia cầm sống
- Khối lượng cơ thể gia cầm
Khối lượng cơ thể là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng cho thịt của gia cầm khi còn sống Khối lượng cơ thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau
và có ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi gia cầm thịt thương phẩm Tuỳ loài, giống gia cầm, trình độ chăn nuôi và thị hiếu của người tiêu dùng mà khối lượng
và tuôỉ giết thịt sẽ khác nhau
Đối với gà thịt thương phẩm (broiler), các giống cao sản lông trắng thường kết thúc vỗ béo từ 35 - 49 ngày tuổi, đạt khối lượng trung bình từ 1,8 - 2,6kg/con Các giống gà lông mầu thường kết thúc ở 56 - 80 ngày tuổi, đạt khối lượng trung bình từ 1,8 - 2,5kg
- Tốc độ sinh trưởng
Tốc độ sinh trưởng quyết định sức sản xuất thịt của gia cầm Nó mang tính
di truyền và liên quan đến những đặc điểm trao đổi chất Đặc điểm này có một ý nghĩa kinh tế rất lớn bởi vì những gia cầm non có tốc độ sinh trưởng nhanh thì có thể vỗ béo và giết thịt sớm hơn
Gia cầm non phát triển rất nhanh, sau hai đến ba tháng tuổi nó tăng lên hàng chục lần so với khối lượng ban đầu Gà con giống chuyên thịt một ngày tuổi nặng trung bình 38 - 40g, đã tăng lên 1500 - 2000g ở 5 tuần tuổi, tăng 40 lần so với khi mới nở Để đánh giá sức sinh trưởng của gia cầm người ta thường dùng các chỉ tiêu như sinh trưởng tích luỹ, sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối
Trang 33Tốc độ sinh trưởng của gia cầm phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như loài, giống, giới tính, đặc điểm di truyền của mỗi cá thể, chế độ dinh dưỡng và điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc v.v
- Chi phí thức ăn cho tăng khối lượng cơ thể
Mục tiêu cơ bản của ngành chăn nuôi gia cầm lấy thịt là khai thác sản phẩm ở thời hạn ngắn nhất với tiêu tốn thức ăn ít nhất Thức ăn liên quan chặt chẽ đến khả năng sinh trưởng của gia cầm Gia cầm có tốc độ sinh trưởng càng nhanh bao nhiêu thì nhu cầu về dinh dưỡng càng cao bấy nhiêu Trong chăn nuôi gia cầm lấy thịt, muốn có hiệu quả kinh tế cao, cần phải xác định tuổi giết thịt phù hợp nhất Khi xác định chỉ tiêu này, không chỉ tính khối lượng của gia cầm khi giết thịt mà phải tính đến tiêu tốn và chi phí thức ăn cho 1 kg tăng trọng Bởi
vì thức ăn chiếm đến 70% trong tổng giá thành sản phẩm chăn nuôi Chi phí thức
ăn cho 1kg thịt là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi gia cầm lấy thịt Hiện nay ở các nước tiên tiến, người ta thường giết thịt gia cầm
ở độ tuổi từ 35 - 60 ngày tuỳ theo các giống khác nhau Tuy nhiên nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng đòi hỏi cao về chất lượng thịt Ngoài qui trình kỹ thuật nuôi gia cầm trong thời gian ngắn với năng suất cao để giảm chi phí thấp nhất cho 1 kg thịt, còn có các qui trình nuôi dài ngày với năng suất thấp hơn để sản xuất thịt gia cầm sạch, chất lượng cao Đương nhiên giá thành của loại thịt này sẽ cao hơn nhiều
- Tiêu tốn và chi phí thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng
Đây là chỉ tiêu rất quan trọng khi đánh giá khả năng cho thịt của gia cầm Nuôi gia cầm thịt thương phẩm chỉ có hiệu quả cao khi tiêu tốn và chi phí thức
ăn cho 1kg tăng khối lượng hợp lý Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng khi nuôi gà broiler từ 1,9 - 2,2kg (đối với các giống cao sản lông trắng) và từ 2,2 - 2,6 kg (đối với các giống gà lông mầu)
- Tỷ lệ nuôi sống
Tỷ lệ nuôi sống là tỷ lệ phần trăm giữa số gia cầm sống đến cuối kỳ và số con đầu kỳ Tỷ lệ nuôi sống có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và hiệu quả chăn nuôi Đây là một chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật luôn phải tính đến trong bất kỳ một loại hình chăn nuôi nào
- Chỉ số sản xuất
Chỉ số sản xuất ký hiệu là PN là một đại lượng biểu thị mối quan hệ giữa
Trang 34khối lượng và tỷ lệ nuôi sống đến khi xuất chuồng với hiệu quả sử dụng thức ăn cùng thời gian nuôi Chỉ số sản xuất được tính bằng công thức (4)
Khối lượng sống (g) x Tỷ lệ nuôi sống (%)
PN = - (4)
10 (Hiêu quả sử dụng thức ăn (kg) x Thời gian nuôi (ngày))
2.4.2 Những chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất thịt khi giết mổ
- Sự phát triển của cơ lườn (cơ ngực)
Khối lượng cơ lườn là một chỉ tiêu quan trọng có liên quan chặt chẽ với sức sản xuất thịt Bình thường cơ lườn chiếm khoảng 40% khối lượng toàn cơ hoặc 18% khối lượng toàn thân Để đánh giá sự phát triển của cơ lườn, người ta thường dùng chỉ số "độ lớn góc ngực" Giữa độ lớn góc ngực, khối lượng cơ lườn
và khối lượng sống của gia cầm có mối liên quan chặt chẽ Vì vậy khi chọn lọc các dòng gà thuần chủng hướng thịt để giữ lại làm giống, cần chú ý chỉ tiêu này Các dòng trống, con trống phải có độ lớn góc ngực 70 - 75o, con mái phải có độ lớn góc ngực 65 - 70o, Các dòng mái, con trống phải có độ lớn góc ngực 65 - 70o, con mái phải có độ lớn góc ngực 60 - 65o
Cách xác định độ lớn góc ngực: Cố định gia cầm, hai chân kéo thẳng, đầu chúc xuống phía dưới Một tay cầm lưng, còn một tay cầm giác kế, hai đầu giác
kế đặt vào ngực ở khoảng cách đầu trước xương lưỡi hái về phía đầu 1cm và đọc kết quả ghi trên giác kế
Khi đo cần chú ý giác kế phải giữ vuông góc với xương lưỡi hái; giác kế khép chặt nhưng không ấn chặt vào xương lưỡi hái
- Tỷ lệ thịt móc hàm
Tỷ lệ thịt móc hàm là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng thịt móc hàm và khối lượng sống Khối lượng móc hàm là khối lượng sống sau khi cắt tiết, vặt lông và bỏ toàn bộ nội tạng
- Tỷ lệ thân thịt (thịt xẻ)
Tỷ lệ thân thịt là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng thân thịt và khối lượng sống Khối lượng thân thịt là khối lượng thịt móc hàm đã cắt đầu ở đoạn giữa xương chẩm và xương atlas; cắt chân ở đoạn giữa khớp khuỷu
- Tỷ lệ thịt ngực (thịt ức, thịt lườn)
Tỷ lệ thịt ngực có thể tính bằng hai công thức Tỷ lệ thịt ngực là tỷ lệ phần