Trong đó: P1: Thức ăn cho lợn chờ phối kg P2: Thức ăn cho nái chửa kì I kg P3: Thức ăn cho nái chửa kì II kg P4: Thức ăn cho nái nuôi con kg P5: Thức ăn cho lợn con tập ăn kg Pcai sữa: T
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG
ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA
LỢN NÁI LANDRACE VÀ YORKSHIRE NUÔI TẠI TỔNG CÔNG TY CHĂN NUÔI VIỆT NAM CHI NHÁNH MỸ VĂN - HƯNG YÊN
Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Đoàn Văn Soạn
2 PGS.TS Phan Xuân Hảo
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trính nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Nhung
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn
bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc TS Đoàn Văn Soạn và PGS TS Phan Xuân Hảo đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Di truyền – Giống vật nuôi, Khoa Chăn nuôi – Học Viện Nông nghiệp việt Nam đã tận tính giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thiện luận văn
Tôi xin chân thành cám ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Tổng công ty chăn nuôi Việt Nam – Chi nhánh chăn nuôi Mỹ Văn – Hưng Yên đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cám ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mợi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Nhung
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các sơ đồ, biểu đồ vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Đặc điểm của giống lợn Landrace và Yorkshire 3
2.1.1 Giống lợn Landrace 3
2.1.2 Giống lợn Yorkshire 3
2.2 Cơ sở khoa học 4
2.2.1 Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái 4
2.2.2 Một số chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái 9
2.2.3 Một số tham số di truyền về tính trạng năng suất sinh sản của lợn nái 13
2.2.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái 14
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 18
2.3.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 18
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 19
Phần 3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 22
3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 22
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
3.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22
3.2 Nội dung nghiên cứu 22
3.2.1 Năng suất sinh sản của lợn nái 22
Trang 53.2.2 Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa 22
3.3 Phương pháp nghiên cứu 23
3.3.1 Điều kiện nuôi dưỡng 23
3.3.2 Các chỉ tiêu về năng suất sinh sản 23
3.3.3 Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa 23
3.4 Phương pháp xử lý số liệu 24
Phần 4 Kết quả và thảo luận 25
4.1 Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire 25
4.1.1 Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire 25
4.1.2 Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire theo công thức phối 34
4.1.3 Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire theo công thức phối qua các lứa đẻ 40
4.2 Tiêu tốn thức ăn/kg lợn cai sữa của lợn nái Landrace và Yorkshire theo công thức phối 54
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 57
5.1 Kết luận 57
5.2 Kiến nghị 58
Tài liệu tham khảo 59
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire 26 Bảng 4.2 Năng suất sinh sản của lợn Landrace và Yorkshire theo công thức phối 35 Bảng 4.3.a Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace nhân thuần qua các lứa đẻ 42 Bảng 4.3.b Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace phối với đực Yorkshire qua
các lứa đẻ 43 Bảng 4.3.c Năng suất sinh sản của lợn nái Yorkshire nhân thuần qua các lứa đẻ 44 Bảng 4.3.d Năng suất sinh sản của lợn nái Yorkshire phối với đực Landrace qua
các lứa đẻ 45 Bảng 4.4 Tiêu tốn thức ăn/kg lợn cai sữa của lợn nái Landrace và Yorkshire
theo công thức phối 55
Trang 8DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Cơ chế điều khiển hoạt đông sinh dục của lợn nái 8
Biểu đồ 4.1.a Các chỉ tiêu số con/ổ của lợn nái Landrace và Yorkshire 28
Biểu đồ 4.1.b Chỉ tiêu khối lượng sơ sinh/ổ của lợn nái Landrace và Yorkshire 30
Biểu đồ 4.1.c Chỉ tiêu khối lượng cai sữa/ổ của lợn nái Landrace và Yorkshire 32
Biểu đồ 4.2.a Các chỉ tiêu số con/ổ của lợn nái Landrace và Yorkshire theo công thức phối 37
Biểu đồ 4.2.b Chỉ tiêu khối lượng sơ sinh/ổ của lợn nái Landrace và Yorkshire theo công thức phối 38
Biểu đồ 4.2.c Chỉ tiêu khối lượng cai sữa/ổ của lợn nái Landrace và Yorkshire theo công thức phối 40
Biểu đồ 4.3.a Các chỉ tiêu số con/ổ của lợn nái Landrace nhân thuần qua các lứa đẻ 46
Biểu đồ 4.3.b Các chỉ tiêu số con/ổ của lợn nái Landrace phối với đực Yorksire qua các lứa đẻ 47
Biểu đồ 4.3.c Các chỉ tiêu số con/ổ của lợn nái Yorkshire nhân thuần qua các lứa đẻ 47
Biểu đồ 4.3.d Các chỉ tiêu số con/ổ của lợn nái Yorkshire phối với đực Landracequa các lứa đẻ 47
Biểu đồ 4.4.a Các chỉ tiêu khối lượng/ổ của lợn nái Landrace nhân thuần qua các lứa đẻ 50
Biểu đồ 4.4.b Các chỉ tiêu khối lượng/ổ của lợn nái Landrace phối với đực Yorkshire qua các lứa đẻ 51
Biểu đồ 4.4.c Các chỉ tiêu khối lượng/ổ của lợn nái Yorkshire nhân thuần qua các lứa đẻ 51
Biểu đồ 4.4.d Các chỉ tiêu khối lượng/ổ của lợn nái Yorkshire phối với đực Landrace qua các lứa đẻ 51
Biểu đồ 4.5 Tiêu tốn thức ăn/kg lợn cai sữa của lợn nái Landrace và Yorkshire theo công thức phối 56
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Thị Hồng Nhung
Tên Luận văn: “Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire nuôi tại Tổng công ty chăn nuôi Việt Nam – Chi nhánh chăn nuôi Mỹ Văn – Hưng Yên”
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông Nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu:
- Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire
- Đánh giá TTTA/kg lợn cai sữa của lợn nái Landrace và Yorkshire
Phương pháp nghiên cứu:
Nội dung 1: Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire Đối tượng nghiên cứu: Tổng 252 nái bao gồm 103 nái Landrace và 149 nái Yorkshire Trong đó, lợn nái Ladrace có 37 nái nhân thuần với 196 ổ đẻ và 66 nái phối với đực Yorkshire với 357 ổ đẻ; lợn nái Yorkshire có 44 nái nhân thuần với 257 ổ đẻ và
105 nái phối với đực Landrace với 477 ổ đẻ từ lứa 1 đến lứa 6 được nuôi tại Công ty chăn nuôi Việt Nam – Chi nhánh Mỹ Văn – Hưng Yên
Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập, kế thừa số liệu các chỉ tiêu về năng suất sinh sản của lợn nái Landrace, Yorkshire từ năm 2011 đến tháng 11/2015
- Theo dõi, ghi chép số liệu các chỉ tiêu về năng suất sinh sản của lợn nái Landrace, Yorkshire từ tháng 12/2015 đến tháng 7/2016
Nội dung 2: Xác định TTTA/kg lợn cai sữa của lợn nái Landrace và Yorkshire Đối tượng nghiên cứu: Tổng 40 ổ đẻ bao gồm 10 ổ lợn nái Landrace nhân thuẩn, 10 ổ lợn nái Landrace phối với đực Yorkshire, 10 ổ lợn nái Yorkshire nhân thuần
và 10 ổ lợn nái Yorkshire phối với đực Landrace
Phương pháp nghiên cứu
- Theo dõi, ghi chép thức ăn cho lợn chờ phối, thức ăn cho nái chửa kì I, thức ăn cho nái chửa kỳ II, thức ăn cho nái nuôi con và thức ăn cho lợn tập ăn và tổng khối lượng lợn con cai sữa
- TTTA/kg lợn cai sữa được xác định theo công thức sau :
TTTA/kg lợn cai sữa(kg) =
P1 + P2 + P3 + P4 + P5
Pcai sữa
Trang 10Trong đó:
P1: Thức ăn cho lợn chờ phối (kg)
P2: Thức ăn cho nái chửa kì I (kg)
P3: Thức ăn cho nái chửa kì II (kg)
P4: Thức ăn cho nái nuôi con (kg)
P5: Thức ăn cho lợn con tập ăn (kg)
Pcai sữa: Tổng khối lượng lợn con cai sữa (kg) Kết quả chính và kết luận:
Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire
- Năng suất sinh sản của đàn lợn nái Landrace và Yorkshire nuôi tại cơ sở có thành tích tương đối tốt, cụ thể:
+ Tuổi đẻ lứa đầu của lợn Landrace và Yorkshire lần lượt là 374,94; 365,11 ngày + Số con sơ sinh sống/ổ của lợn Landrace và Yorkshire lần lượt là 10,51; 10,62 con
+ Số con cai sữa/ổ của lợn Landrace và Yorkshire lần lượt là 9,16; 9,23 con + Khối lượng cai sữa/ổ của lợn Landrace và Yorkshire lần lượt là 65,38; 64,88 kg
+ Khoảng cách lứa đẻ của lợn Landrace và Yorkshire lần lượt là 152,51; 150,69 ngày
- Năng suất sinh sản của các công thức nái Landrace nhân thuần, nái Landrace phối với đực Yorkshire, nái Yorkshire nhân thuần và nái Yorkshire phối với đực Landrace có các chỉ tiêu về số con/ổ tương đương nhau; còn các chỉ tiêu về khối lượng
có sự sai khác, sự sai khác là rõ ràng và có ý nghĩa thống kê (P <0,05)
- Năng suất sinh sản của các công thức nái Landrace nhân thuần, nái Landrace phối với đực Yorkshire, nái Yorkshire nhân thuần và nái Yorkshire phối với đực Landrace có các chỉ tiêu về số con/ổ bao gồm số con sơ sinh/ổ, số con sơ sinh sống/ổ, số con để nuôi/ổ và số con cai sữa/ổ qua các lứa đẻ từ 1 đến 6 đều có xu hướng tăng dần từ lứa 1 đến lứa 4-5 và bắt đầu giảm ở lứa 5-6
Tiêu tốn thức ăn/kg lợn cai sữa của lợn nái Landrace và Yorkshire
Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa của các công thức nái Landrace nhân thuần, nái Landrace phối với đực Yorkshire, nái Yorkshire nhân thuần và nái Yorkshire phối với đực Landrace tương đương nhau
Trang 11THESIS ABSTRACT
Master candidate: Nguyen Thi Hong Nhung
Thesis title: “Evaluation of the reproductive performance of Landrace and Yorkshire sows breeding at Vietnam Livestock Corporation - My Van Livestock Branch - Hung Yen”
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives:
- To evaluate the reproductive performance of Landrace and Yorkshire sows
- To determine FCR/kg weaner of Landrace and Yorkshire sows
Materials and Methods:
Contents 1: Evaluation of the reproductive performance of Landrace and Yorkshire sows
Research subject: Total of 252 sows including 103 Landrace sows and 149 Yorkshire sows Inside, 37 Landrace sows were inseminated purebred with 196 litter and 66 Landrace sows were mated with Yorkshire boar with 357 litter; 44 Yorkshire sows were inseminated purebred with 257 litter; 105 Yorkshire sows were mated with Landrace boar with 477 litter, from the 1st parities to the 6th parities breeding at Livestock Corporation Vietnam - Livestock Branch My Van - Hung Yen”
Contents 2: Determine FCR/kg weaner of Landrace and Yorkshire sows
Research subjects: Total of 40 litter including Landrace sows were inseminated purebred with 10 litter and Landrace sows were mated with Yorkshire boar with 10 litter; Yorkshire sows were inseminated purebred with 10 litter; Yorkshire sows were mated with Landrace boar with 10 litter
Research Methods
- Track and record data about feed for sows awaiting insemination, in the 1st period of pregnancy, in the 2nd period of pregnancy, lactating, pre-weaned piglets and total weight of piglets weaned
Trang 12- FCR/kg weaner is determined according to the following formula:
Inside:
P1: Feed for sows awaiting insemination (kg)
P2: Feed for sows in the 1st period of
Main findings and conclusions:
• The reproductive performance of the Landrace and Yorkshire sows
- The reproductive performance of the Landrace and Yorkshire sows breeding at research location is quite high, as following:
+ Age of the first farrow of the Landrace and Yorkshire sows were 374,94 and 365,11 days, respectively
+ The number of piglets neonatal surviving/litter of Landrace and Yorkshire sows were 10,51 and 10,62 piglets, respectively
+ The number of piglets weaned /litter of Landrace and Yorkshire sows were 9,16 and 9,23 piglets, respectively
+ Weight of piglets weaned/litter of Landrace and Yorkshire sows were 65,38 and 64,88 kg, respectively
+ The distance between the two parities of Landrace and Yorkshire sows were 152,51 and 150,69 days, respectively
- Productivity of the formula reproductive Landrace sows were inseminated purebred, Landrace sows were mated with Yorkshire boar, Yorkshire sows were inseminated purebred and Yorkshire sows were inseminated with Landrace boar have indicators about number of piglets/litter similar; however, indicators about weight have difference, the difference is clear and statistically significant (P <0.05)
- Productivity of the formula reproductive Landrace sows were inseminated purebred, Landrace sows were mated with Yorkshire boar, Yorkshire sows were inseminated purebred and Yorkshire sows were inseminated with Landrace boar have
FCR/kg weaner (kg) =
P1 + P2 + P3 + P4 + P5
Pweaning
Trang 13indicators about number of piglets/nest including number of piglets neonatal/nest, number of piglets neonatal surviving/nest, number of piglets to feed/nest and number of piglets weaned/litter through parities from the 1st parities to the 6th parities increased from parities 1 to age 4-5 and starts off at parities 5 -6
• FCR/kg weaner of sows Landrace and Yorkshire
The rate of feed consumption/kg weaners of Landrace sows were inseminated purebred, Landrace sows were mated with Yorkshire boar, Yorkshire sows were inseminated purebred and Yorkshire sows were inseminated with Landrace boar are similar
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Chăn nuôi hiện chiếm khoảng 27% trong đóng góp của ngành nông nghiệp vào tổng thu nhập quốc nội, là một ngành sản xuất rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nó cung cấp nhiều loại sản phẩm như thịt, cá, trứng, sữa … nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu của con người Trong đó, chăn nuôi lợn giữ vị trí hàng đầu và chiếm tỷ trọng lớn, khoảng 71% tổng sản lượng trong ngành chăn nuôi ở nước ta
Chăn nuôi lợn cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, đồng thời cũng là nguồn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến như thịt hộp, xúc xích… Trong những năm gần đây, sự bùng nổ dân số cùng với chất lượng cuộc sống của con người ngày càng được cải thiện đi từ nhu cầu chỉ cần
“ăn no mặc ấm” tới nhu cầu phải được “ăn ngon mặc đẹp”, song song là lối sống nhanh, thói quen sống và làm việc theo tác phong công nghiệp thì nhu cầu về sản phẩm chăn nuôi, trong đó có thịt ngày càng gia tăng
Ở nước ta, trong các bữa ăn hàng ngày, thịt lợn là loại thực phẩm phổ biến Theo kết quả điều tra, hộ tiêu dùng ở khu vực thành thị (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh) và một số hộ tiêu dùng khu vực nông thôn (do CAP-ILRI tiến hành năm 2007), thịt lợn chiếm tỷ lệ lớn nhất (40%) trong tổng chi tiêu của hộ cho các sản phẩm thịt, tiếp sau đó là cá, thịt gia cầm và thịt bò Dự báo đến năm 2019, tổng sản lượng tiêu thụ thịt ở nước ta sẽ vượt mốc 4 triệu tấn chiếm gần 65% tổng sản lượng tiêu thụ, trong đó thịt lợn vẫn sẽ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong bữa ăn của người Việt
Như vậy, chăn nuôi lợn ở nước ta đang đứng trước cơ hội phát triển Bài toán cần giải quyết đó là phải gia tăng số lượng cũng như nâng cao chất lượng sản phẩm Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu về thịt lợn cũng như các sản phẩm chế biến từ thịt lợn phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng, các nhà làm công tác chọn lọc và nhân giống cũng như các nhà chăn nuôi phải chạy theo thị hiếu, tạo
ra những sản phẩm mà thị trường cần
Chăn nuôi lợn, trong đó chăn nuôi lợn nái là một khâu rất quan trọng Lợn nái không chỉ chiếm một tỷ lệ lớn trong cơ cấu đàn (số lượng đứng thứ hai sau lợn thịt) mà còn liên quan tới đàn lợn giống hay đàn lợn thịt tạo ra Vì vậy, việc
Trang 15nghiên cứu đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái là một việc làm có vai trò rất quan trọng Nó là tiền đề, là cơ sở để các nhà chọn lọc và nhân giống lợn tạo ra các giống lợn có năng suất và chất lượng cao phù hợp với thị hiếu, yêu cầu của người tiêu dùng
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài “Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire nuôi tại Tổng công ty chăn nuôi Việt Nam – Chi nhánh chăn nuôi Mỹ Văn – Hưng Yên ”
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Đánh giá năng suất sinh sản chung của lợn nái Landrace và Yorkshire
- Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire theo công thức phối
- Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire theo công thức phối qua các lứa đẻ
- Đánh giá TTTA/kg lợn cai sữa của lợn nái Landrace và Yorkshire theo công thức phối
- Khuyến cáo định hướng nuôi dưỡng, sử dụng và nâng cao chất lượng của đàn nái giống
1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Ý nghĩa khoa học
Bộ số liệu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy
và nghiên cứu về lĩnh vực chăn nuôi lợn sinh sản
- Ý nghĩa thực tế
Kết quả của đề tài cung cấp thêm thông tin giúp cơ sở đánh giá đúng thực trạng của đàn lợn nái Landrace và Yorkshire được nuôi tại cơ sở, từ đó có định hướng đúng đắn để duy trì và phát triển đàn giống
Trang 16PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA GIỐNG LỢN LANDRACE VÀ YORKSHIRE
2.1.1 Giống lợn Landrace
Nguồn gốc xuất xứ: Giống lợn Landrace có nguồn gốc từ Đan Mạch được hình thành vào khoảng 1924-1925 Do quá trình tạp giao giữa các giống lợn từ Anh, Tây Ban Nha, Ý, Bồ Đào Nha, Trung Quốc tạo thành Giống lợn Landrace được tạo thành bởi quá trình lai tạo giữa giống lợn Youtland (có nguồn gốc Đức) với giống lợn Yorkshire (có nguồn từ Anh) Ở nước ta, năm 1970, giống lợn Landrace đã được nhập vào từ Cuba và được xem là một trong những giống lợn được sử dụng trong chương trình nạc hoá đàn lợn ở Việt Nam
- Đặc điểm ngoại hình: Toàn thân có màu trắng tuyền, đầu nhỏ, dài, tai to dài rủ xuống kín mặt, cổ nhỏ và dài, mình dài, vai-lưng-mông-đùi rất phát triển Toàn thân có dáng hình thoi nhọn giống như quả thủy lôi, đây là giống lợn tiêu biểu cho hướng nạc
- Khả năng sản xuất: Giống lợn Landerace có khả năng sinh sản cao, mắn
đẻ và đẻ nhiều: Trung bình đạt 1,8 – 2,2 lứa/năm Mỗi lứa đẻ 10 -12 con, trọng lượng sơ sinh trung bình đạt 1,2 – 1,3 kg, trọng lượng cai sữa từ 12 – 15 kg Sức tiết sữa từ 5-9 kg/ngày Khả năng sinh trưởng của lợn rất tốt, tăng trọng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp, tỷ lệ nạc cao và chất lượng thịt tốt Lợn có khả năng tăng trọng từ 750-800 g/ngày, 6 tháng tuổi lợn thịt có thể đạt 105-125 kg Khi trưởng thành con đực nặng tới 400 kg, con cái 280-300 kg
2.1.2 Giống lợn Yorkshire
- Nguồn gốc xuất xứ: Giống lợn Yorkshire có nguồn gốc từ Anh được hình thành vào thế kỷ XIX Quá trình hình thành bắt đầu từ những năm đầu của thế kỷ XVI khi người chăn nuôi lợn ở Anh chú ý đến việc phát triển giống lợn Năm 1770, lợn Trung Quốc được nhập vào Anh theo chủng Sus indicus và được cho lai tạo với chủng Sus scrofa Năm 1851 Joseph Luley, là người tạo giống đã tạo giống lợn Yorkshire ở vùng Bắc Shires Trong thời gian này, nhà chọn Bakewell đã cải tạo lợn Leicestershire của giống lợn đại phương Bắc Shires, Yorkshire và Lancashire của Lincolnshire và Leicestershire để tạo ra giống lợn Yorkshire ngày nay Nhưng mãi đến năm 1884, Hội đồng giống Hoàng gia Anh mới công nhận giống lợn Yorkshire Ở nước ta, lợn Yorkshire được nhập vào từ
Trang 17năm 1920 ở miền Nam để tạo ra giống lợn Thuộc Nhiêu Nam Bộ Đến năm
1964, lợn Yorkshire được nhập vào miền Bắc thông qua Liên Xô cũ Đến năm
1978, nước ta nhập lợn Yorkshire từ Cuba Những năm sau 1990, lợn Yorkshire được nhập vào Việt Nam từ nhiều nước khác nhau và nhập về nhiều dòng
- Đặc điểm ngoại hình: Toàn thân có màu trắng, lông có ánh vàng, đầu nhỏ, dài, tai to dài hơi hướng về phía trước, thân dài, lưng hơi vồng lên, chân cao khỏe và vận đông tốt, chắc chắn, tầm vóc lớn
- Khả năng sản xuất: Giống lợn Yorkshire có có khả năng sinh sản cao, mắn đẻ, trung bình 10 – 12 con/ổ, có lứa đạt 17-18 con Trọng lượng sơ sinh trung bình 1 – 1,2 kg, lợn trưởng thành đạt 350 – 380 kg, dài thân 170-185 cm, vòng ngực 165-185 cm Con cái có cân nặng 250-280 kg, lợn thuộc giống lợn cho nhiều nạc
Thành thục về tính là khi lợn cái có đầy đủ biểu hiện về động dục, nếu được phối giống sẽ thụ thai và đẻ con Lợn thành thục về tính có biểu hiện cơ thể
đã phát triển đầy đủ, các cơ quan sinh sản đã thể hiện rõ đặc điểm của giới Bẹ vú phát triển và lộ rõ hai hàng vú, âm hộ to lên hồng hào, lợn có biểu hiện nhảy cưỡi lên lưng nhau
Lợn thuộc các giống khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau Tuổi thành thục về tính ở các giống lợn có tầm vóc, khối lượng nhỏ thường sớm hơn so với các giống lợn có tầm vóc, khối lượng lớn Tuổi thành thục về tính ở lợn cái bắt đầu khoảng 6 tháng tuổi với độ biến động từ 4-8 tháng tuổi Theo Hughes et al., (1980) thì phạm vi biến động về tuổi động dục lần đầu của lợn là 135-250 ngày Theo Diehl and Jamen (1996) tuổi thành thục về tính ở lợn cái hậu
bị khoảng 5-8 tháng tuổi
Thành thục về thể vóc thường muộn hơn so với thành thục về tính Khi thành thục về tính lần đầu, khối lượng của lợn rất nhỏ như cái nội chỉ đạt 10-
Trang 1815kg, cái lai 50-60kg, cái ngoại 80-90kg Trên thực tế, nếu có phối giống vào lần động dục này hầu như lợn không thụ thai, không chửa đẻ Vì vậy cần bỏ qua 1-2 lần động dục đầu rồi mới cho phối, khi lợn đã thành thục về thể vóc
2.2.1.2 Chu kỳ động dục
Hoạt động sinh dục của lợn cái chịu sự ảnh hưởng của hai yếu tố là thần kinh và thể dịch tạo ra chu kỳ động dục
Chu kỳ động dục là khoảng thời gian giữa hai lần động dục liên tiếp Chu
kỳ động dục của lợn cái thường từ 18-21 ngày Thời gian của một chu kỳ động dục không phụ thuộc vào giống mà chịu ảnh hưởng tương đối rõ rệt bởi chế độ chăm sóc
Chu kỳ động dục của lợn cái được chia làm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn trước động dục
Đây là gia đoạn đầu của chu kỳ động dục, kéo dài 1-2 ngày và được tính
từ khi thể vàng của lần động dục trước tiêu biến đến lần động dục tiếp theo Giai đoạn này xuất hiện đầy đủ các hoạt động về sinh lý nhưng tính hưng phấn chưa cao, niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều nhất là điều kiện chuẩn bị của đường sinh dục cái để tiếp nhận tinh trùng, đón nhận trứng rụng và thụ tinh, lợn bắt đầu xuất hiện tính dục
Bên trong buồng trứng dưới tác động của hormone FSH do thùy trước tuyến yên tiết ra noãn bao phát triển và nhô lên bề mặt buồng trứng, các bao noãn tăng lên nhanh, về kích thước ở đầu giai đoạn đường kính bao noãn là 4 mm, đến cuối giai đoạn tăng lên 8-12 mm, các bao noãn này tăng tiết estrogen
Cơ thể và cơ quan sinh dục có những biến đổi nhất định: con vật bồn chồn không yên, biếng ăn hoặc bỏ ăn, thích nhảy lên lưng con khác nhưng không cho con khác nhảy lên lưng mình; âm hộ bắt đầu sưng lên, hơi mở ra, có màu hồng tươi và có dịch nhờn loãng chảy ra làm trơn đường sinh dục
- Giai đoạn động dục
Đây là giai đoạn kế tiếp của giai đoạn trước động dục, thường kéo dài từ 2-3 ngày nó bao gồm 3 thời kỳ liên tiếp là hưng phấn, chịu đực và hết chịu đực Đây là giai đoạn quan trọng nhưng thời gian ngắn, hoạt động sinh dục bắt đầu mãnh liệt hơn
Bên trong buồng trứng dưới tác động của hormone LH do thùy trước
Trang 19tuyến yên tiết ra kích thích làm cho trứng chín và rụng Hormone LH và FSH làm cho các tế bào trứng chín, hình thành nhiều lớp tế bào hạt, buồng trứng tiết ra một lượng oestrogen đạt mức cao nhất 112µg% so với bình thường chỉ 64µg% kích thích lên não làm cơ thể con vật có sự hưng phấn mạnh mẽ toàn thân
Giai đoạn này những biến đổi về bên ngoài cơ thể càng thể hiện rõ ràng hơn Con vật lúc này có biểu hiện bỏ ăn hoặc ăn ít chạy kêu rống lên, phá chuồng, đứng ngẩn ngơ, nhảy lên lưng con khác, lúc đầu chưa cho con đực nhảy lên lưng sau đứng yên cho con đực nhảy; âm hộ phù nề, xung huyết, chuyển từ màu hồng nhạt sang màu đỏ rồi màu mận chín, tử cung hé mở rồi mở rộng, co bóp mạnh, niêm dịch âm đạo từ trong, loãng chuyển sang keo dính và đặc dần
Giai đoạn này nếu thụ tinh đạt hiệu quả thì gia súc sẽ mang thai nếu không
sẽ chuyển sang giai đoạn sau động dục
- Giai đoạn sau động dục
Giai đoạn này còn gọi là pha thể vàng, bắt đầu sau khi kết thúc động dục
và kéo dài trong 3- 4 ngày, hoạt động sinh dục bắt đầu giảm
Bên trong buồng trứng thể vàng được hình thành có màu đỏ tím, đường kính khoảng 7- 8 mm tiết ra hormone progesteron ức chế trung khu sinh dục ở vùng dưới đồi, dẫn đến ức chế tuyến yên làm giảm tiết oestrogen Do đó, làm giảm hưng phấn thần kinh, sự tăng sinh và tiết dịch của tử cung dừng lại Hoạt động sinh dục đã giảm rõ rệt, âm hộ teo dần tái nhạt, con vật không muốn gần con đực, không cho con khác nhảy lên lưng, lợn ăn uống tốt hơn con vật dần trở lại trạng thái sinh lý bình thường
- Giai đoạn yên tĩnh
Giai đoạn này đặc trưng bởi sự tồn tại của thể vàng, là giai đoạn dài nhất kéo dài 12-14 ngày, bắt đầu từ ngày thứ 4 sau khi trứng rụng không được thụ tinh
và kết thúc khi thể vàng tiêu huỷ Giai đoạn này, thể vàng hoạt động tiết hormone progesteron ức chế tiết hormone FSH và LH làm cho noãn bao không chín và rụng Từ đó dẫn đến lợn hoàn toàn không có phản xạ sinh dục với lợn đực, âm hộ teo nhỏ và trắng nhạt, lợn ăn uống bình thường Đây là giai đoạn giúp con vật nghỉ ngơi và phục hồi chức năng của cơ quan sinh dục cũng như cơ thể để chuẩn
bị cho chu kỳ tiếp theo Sau đó, thể vàng thoái hoá giai đoạn tiền động dục của chu kỳ tiếp theo bắt đầu Nếu trứng được thụ tinh thì giai đoạn này được thay thế bằng thời kỳ mang thai, đẻ
Trang 20Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chu kỳ động dục như ánh sáng, nhiệt
độ, pheromon, tiếng kêu của con đực, sự tiếp xúc giữa con đực và con cái, dinh dưỡng
Quy luật và đặc điểm của chu kỳ sinh dục khi gia súc thành thục về tính chịu sự điều khiển của thần kinh trung ương Tất cả những kích thích bên ngoài
cơ thể như khí hậu, nhiệt độ, ánh sáng, nuôi dưỡng, quản lý đều ảnh hưởng đến chu kỳ tính thông qua phương thức thần kinh - thể dịch Những kích thích đó được cơ quan cảm nhận như tai, mũi, lưỡi tác động đến vỏ não và thông qua sự điều tiết của tuyến yên để điều chỉnh quá trình sinh dục Giữa vùng hypothalamus và tuyến yên có mối quan hệ mật thiết với nhau, nếu thần kinh tác động vào hypothalamus thì sự phân tiết hormone kích thích sinh dục của tuyến yên sẽ giảm xuống
Sự dao động của chu kỳ tính không được thực hiện thông qua sự liên hệ phản xạ có điều kiện Ngoài ra hệ thần kinh thực vật cũng có tác động đến chu kỳ sinh dục
Hormone điều khiển chu kỳ sinh dục được tiết ra từ buồng trứng và tuyến yên dưới kích thích của pheromon vào vỏ não, vùng dưới đồi (hypothalamus) sẽ tiết ra hormone, chính hormone này sẽ kích thích tuyến yên tiết ra GSH (Gonado stimuline hormone) gồm 2 loại:
- FSH có tác dụng kích thích bao não phát triển trưởng thành và gây tiết hormone estrogen
- LH có tác dụng thúc đẩy bao noãn chín và hình thành thể vàng trong buồng trứng
Hai loại hormone này có tỷ lệ ổn định (trứng rụng khi tỷ lệ là 2/1-3/1) FSH sẽ tiết ra trước, LH được tiết ra sau có tác dụng tương hỗ lẫn nhau, 2 loại này được tiết ra từ thuỳ trước tuyến yên
Khi noãn bao chín thì tế bào hạt trong biểu mô noãn bao tăng cường tiết estrogen làm cho lượng hormone này trong máu tăng từ 64µg% lên 112 µg% Lúc này con vật hưng phấn toàn thân và có biểu hiện động dục: âm hộ sưng tấy, chuyển từ màu hồng sang màu mận chín, tử cung hé mở rồi mở rộng, âm đạo tiết nhiều dịch nhầy đặc keo dính làm trơn đường sinh dục và ngăn cản sự xâm nhập của vi khuẩn Lợn cái bồn chồn không yên, bỏ ăn, phá chuồng, kêu rít, bên trong
có hiện tượng rụng trứng
Trang 21Bên cạnh đó dưới tác dụng của estrogen làm cho tuyến yên ngừng tiết FSH nhưng lại tăng tiết LH và prolactin Hai hormone này thúc đẩy quá trình rụng trứng khi động dục Sự rụng trứng thường xảy ra khi con cái bắt đầu chịu đực được 20 giờ và kéo dài 10-15 giờ Số lượng trứng rụng tuỳ thuộc vào giống, tuổi, nồng độ hormone GSH và điều kiện dinh dưỡng
Sau khi trứng rụng thì tại đó tạo ra một xoang, từ ngày thứ 1 đến ngày thứ
4 xoang chứa máu gọi là thể huyết, từ ngày thứ 5 trở đi thì chuyển thành xoang thể vàng do trong xoang chứa các tế bào hạt có sắc tố vàng
Thể vàng tiết progesteron có tác dụng an thai, ức chế tiết FRH và LRH) của vùng dưới đồi và FSH, LH của thuỳ trước tuyến yên làm gia súc ngừng động dục, ngừng thải trứng Nếu trứng được thụ tinh thì thể vàng tồn tại gần hết thời gian chửa làm cho các trứng khác không chín, gia súc ngừng động dục Nếu trứng không được thụ tinh thì thể vàng tồn tại từ 3-5 ngày sau đó teo đi gọi là thể vàng sinh lý Sự tiêu huỷ của thể vàng dẫn đến sự ngừng tiết progesteron do đó trứng tiếp tục phát triển và chín, xuất hiện chu kỳ động dục tiếp theo
Sơ đồ 2.1 Cơ chế điều khiển hoạt đông sinh dục của lợn nái
GnRH: Gonadotropin Releasing Hormone LH: Luteinizing Hormone FSH: Follicle Stimulating Hormone PL: Prolactin
Trang 222.2.2 Một số chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái
Năng suất sinh sản của lợn nái được cấu thành bởi nhiều yếu tố, do đó khi bàn về các chỉ tiêu để đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái có rất nhiều ý kiến khác nhau
Theo Trần Đình Miên (1977), việc tính toán và đánh giá sức sinh sản của lợn nái phải xét đến các mặt: chu kỳ động dục, tuổi thành thục sinh dục, tuổi có khả năng sinh sản, thời gian chửa, số con sơ sinh/ổ
Theo Marby et al., (1997), các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu của lợn nái bao gồm: số con sơ sinh/ổ, số con cai sữa/ổ, khối lượng toàn ổ ở 21 ngày tuổi và số lứa đẻ/nái/năm Các tính trạng này ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của người chăn nuôi lợn nái
Theo Gordon (2004), trong các trang trại chăn nuôi hiện đại, số lượng con cai sữa do một nái sản xuất trong một năm là chỉ tiêu đánh giá đúng đắn nhất khả năng sinh sản của lợn nái
Theo Nguyễn Khắc Tích (2002), khả năng sinh sản của lợn nái chủ yếu được đánh giá dựa vào chỉ tiêu số lợn con cai sữa/nái/năm Chỉ tiêu này lại phụ thuộc vào 2 yếu tố là số con sơ sinh và số lứa đẻ/nái/năm
Như vậy, có rất nhiều ý kiến đưa ra các chỉ tiêu khác nhau trong việc đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái, nhưng theo chúng tôi, quá trình đánh giá và chọn lọc nên tập trung vào các chỉ tiêu chính: số con sơ sinh sống/ổ, số con cai sữa/ổ; khối lượng sơ sinh/ổ; khối lượng cai sữa/ổ và khoảng cách giữa 2 lứa đẻ
Thông thường, các chỉ tiêu được đề cập để đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái bao gồm:
2.2.2.1 Tuổi phối lần đầu
Là số ngày được tính từ khi lợn cái sinh ra đến ngày lợn cái phối giống lần đầu Đây là một chỉ tiêu rất quan trọng bởi việc phối sớm hay phối muộn đều ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái Vì vậy, trong chăn nuôi, khuyến cáo lợn nên được phối giống lần đầu khi đã thành thục về tính và thể vóc
2.2.2.2 Tuổi lứa đẻ đầu
Là số ngày được tính từ khi lợn cái sinh ra đến ngày lợn cái đẻ lần đầu Đây là một chỉ tiêu rất quan trọng có liên quan chặt chẽ đến tuổi phối giống lần đầu, nó cho biết độ tuổi bắt đầu khai thác khả năng sinh sản của lợn nái Tuổi đẻ lứa đầu càng sớm thì thời gian sử dụng lợn nái càng dài
Trang 232.2.2.3 Số con sơ sinh sống/ổ
Đây là chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật rất quan trọng, nó phản ánh khả năng đẻ nhiều con hay ít con của giống, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái có chửa và
kỹ thuật thụ tinh nhân tạo của dẫn tinh viên
Trong vòng 24h sau khi đẻ, lợn con chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố Những lợn con được sinh ra mà bị yếu, phát triển không cân đối dễ bị chết ngay sau khi sinh thường là do kỹ thuật chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái kém Ngoài
ra yếu tố ngoại cảnh có tác động rất lớn tới số con sơ sinh còn sống đến 24h vì đây là lúc lợn con thay đổi hoàn toàn môi trường sống, từ trong bụng mẹ tất cả trao đổi chất dều thông qua nhau thai, nay chuyển sang môi trường sống hoàn toàn khác Lợn con chưa thích nghi kịp thời nên chưa nhanh nhẹn, dễ bị mẹ đè chết, hoặc lợn mẹ đẻ và ban đêm không có sự can thiệp kịp thời của kỹ thuật viên nên lợn dễ bị chết rét vào mùa lạnh, hay chết ngạt do không bóc tách kịp thời màng bọc…
Trong thực tế một ổ lợn tính đến thời điểm 24h sau đẻ, lợn con đẻ ra được chia làm 3 loại:
- Loại thai non: là loại thai phát triển không hoàn toàn do lợn mẹ bị ốm hoặc có các tác động của hóa chất làm cho lợn con phát triển không hoàn thiện mặc dù đã kết thúc giai đoạn chửa Loại thai non này đã chết trong thời gian lợn nái đang mang thai hoặc chết trước khi sinh ra Nguyên nhân của nó có thể là di nhiễm trùng như Lepto hoặc giả dại, hoặc do thiếu dinh dưỡng Số thai non cao trong một lứa đẻ, sẽ làm cho số lợn con sơ sinh sống trong lứa thấp
- Loại thai gỗ: là loại thai đã chết trong tử cung lúc 25 tới 90 ngày tuổi Thai chết ở giai đoạn này không gây sảy thai, mà các bào thai chết thường khô cứng lại.Các thai không cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng do nhau thai phát triển không đầy đủ, các thai phát triển dị dạng, hoặc do bị nhiễm virus như: Enterovirus, Parvovirus Lợn nái chửa bị nhiễm Parvorivirus lúc 70 ngày chửa trở về trước thì mới gây ra thai gỗ Các lợn cái hậu bị được nuôi cách ly và tiêm phòng đầy đủ, sẽ ít khả năng nhiễm parvovirus trong thời gian chửa
- Loại đẻ ra còn sống đến 24h: số con sơ sinh sống đến 24h = số con sơ sinh sống – số con chết trong 24h
Số lợn con chết lúc sinh, số thai non, số thai gỗ sẽ là những nguyên nhân làm giảm số lợn con sơ sinh sống đến 24h/ổ đẻ
Trang 24Tuy nhiên trong thực tế việc xác định tỷ lệ sống thường được tiến hành ngay sau khi đẻ và căn cứ vào số con sơ sinh sống chứ không phải đợi tới 24h sau đẻ bởi có tới 70% lợn nái đẻ vào ban đêm nên rất khó khăn trong việc xác định vào lúc 24h sau khi đẻ
Trong nghiên cứu khoa học cũng như trong sản xuất người ta thường tính
tỷ lệ thai non, thai gỗ, tỷ lệ sống
2.2.2.4 Số con để nuôi/ổ
Là số con sơ sinh sống/ổ được để lại nuôi
Trên thực tế, một số trường hợp trong đàn có con sơ sinh bị yếu, dị tật… hay số con sơ sinh sống/ổ nhiều hơn số vú của nái (thường người ta chỉ để lại số con nuôi tới cai sữa <= số vú của nái), người ta sẽ loại thải những con yếu và tách một số con đem gửi nuôi nái khác (số con gửi nuôi)
Số con để nuôi/ổ = Số con sơ sinh sống/ổ – Số con gửi nuôi – Số con loại thải 2.2.2.5 Số con cai sữa/ổ
Là số con để lại nuôi/ổ được nuôi sống cho đến khi cai sữa mẹ Thời gian cai sữa dài hay ngắn là tùy thuộc vào trình độ kỹ thuật chế biến thức ăn cho lợn con
Ở các nước tiên tiến, người ta cho lợn con tách mẹ lúc 21, 28 ngày tuổi Tách lợn con khỉ mẹ sớm sẽ làm cho số lứa đẻ của 1 nái trên năm tăng lên, đồng thời hạn chế được 1 số bệnh hay lây truyền từ mẹ sang con
Ở nước ta, các trang trại chăn nuôi nhà nước có thể cho lợn con tách mẹ từ lúc 21 ngày, 35 ngày tuổi Còn chăn nuôi trong các hộ nông dân thì vẫn còn 1 số
hộ cai sữa ở 60 ngày tuổi
Trang 25Trong các chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái thì chỉ tiêu số lợn con cai sữa do một lợn nái sản xuất trong một năm là chỉ tiêu đánh giá tổng hợp và chính xác nhất Chỉ tiêu này phản ánh được đầy đủ toàn bộ chu kỳ sản suất của một lợn nái trong một năm Số lợn con cai sữa do một nái sản xuất trong một năm là chỉ tiêu cấu thành tổng hợp từ các chỉ tiêu: số con sơ sinh sống, số con để nuôi, tỉ lệ hao hụt của lợn con trong thời gian theo mẹ, tuổi cai sữa, tuổi
đẻ lứa đầu và thời gian phối giống có chửa sau cai sữa
Số lợn con cai sữa do một lợn nái sản xuất trong một năm phụ thuộc vào
số trứng rụng, tỉ lệ lợn con sống lúc sơ sinh và tỉ lệ lợn con sống tới lúc cai sữa là các thành phần quan trọng nhất đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái (Ducos, 1994) Do vậy, việc nâng cao chỉ tiêu số con sơ sinh sống và số con cai sữa là một vấn đề được quan tâm hàng đầu trong chăn nuôi lợn nái sinh sản Mabry et al., (1997) cho rằng, các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu của lợn nái bao gồm: số con sơ sinh sống, số con cai sữa, khối lượng 21 ngày/ổ và số lứa đẻ/nái/năm Các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu này có tầm quan trọng về mặt kinh tế và ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của người chăn nuôi
2.2.2.6 Khối lượng sơ sinh
Là khối lượng lợn con được cân ngay sau khi được đẻ ra, cắt rốn, lau khô
và chưa cho bú sữa đầu
Khối lượng sơ sinh là chỉ tiêu thể hiện khả năng nuôi dưỡng thai của lợn
mẹ, kỹ thuật chăn nuôi, chăm sóc quản lý và phòng bệnh cho lợn nái chửa của một cơ sở chăn nuôi Do đó thành tích này là bao gồm cả phần của lợn nái và phần nuôi dưỡng của con người Nhưng trước hết thuộc về thành tích của lợn nái
Đối với các cơ sở giống nhất là đối với các cơ sở nhân giống thuần của đàn hạt nhân (GGP) thì nhất thiết phải cân trọng lượng sơ sinh của từng con, có đánh số để theo dõi tăng trọng qua các tháng tuổi còn ở cơ sở nuôi lợn thương phẩm chỉ cần cân trọng lượng toàn ổ để đánh giá thành tích sản xuất Khối lượng sơ sinh càng cao càng tốt Lợn sẽ tăng trọng nhanh ở các giai đoạn phát triển sau
Tỷ lệ nuôi sống (%) =
Số lợn con sống đến cai sữa x 100
Số lợn con để lại nuôi
Trang 262.2.2.7 Khối lượng cai sữa
Khối lượng cai sữa là chỉ tiêu đánh giá khả năng nuôi con của lợn mẹ và kỹ thuật sử dụng thức ăn cho lợn con Khối lượng cai sữa dược cân vào ngày cai sữa trước khi cho ăn Bởi vậy, khối lượng cai sữa phụ thuộc rất lớn vào ngày tuổi của lợn con khi cai sữa Ngày nay thức ăn tập ăn cho lợn con có chất lượng cao và rất
đa dạng đã giúp cho việc cai sữa cho lợn con sớm hơn Hiện tại nhiều cơ sở bắt đầu cho lợn con ăn ngay từ tuần tuổi thứ nhất và cai sữa khi lợn con được 3-4 tuần tuổi
Khối lượng lợn con cai sữa rất quan trọng vì nó là nền tảng và điểm xuất phát cho con giống khi chuyển sang nuôi ở giai đoạn tiếp theo Việc cân đối khối lượng lợn con ở thời gian cai sữa có thể giúp cho người chọn giống căn cứ để gây thành lợn giống hậu bị hay không
Trọng lượng cai sữa có liên quan chặt chẽ đến trọng lượng sơ sinh, làm nền tảng và điểm xuất phát cho trọng lượng xuất chuồng
2.2.3 Một số tham số di truyền về tính trạng năng suất sinh sản của lợn nái
Nhiều công trình nghiên cứu đã xác định và kết luận các tính trạng năng suất sinh sản của lợn nái có hệ số di truyền thấp; giữa các tính trạng có mối quan
hệ với với nhau được biểu thị bằng hệ số tương quan di truyền
Nguyễn Văn Thiện (1995) cho biết hệ số di truyền một số tính trạng năng suất sinh sản của lợn nái như sau:
- Số con/ổ có hệ số di truyền h2 = 0,13
- Số con cai sữa/ổ có hệ số di truyền h2 = 0,12
- Khối lượng sơ sinh/con có hệ số di truyền h2 = 0,05
- Khối lượng cai sữa/ổ có hệ số di truyền h2 = 0,17
Trang 27Theo Bolet and Felgines (1981), hệ số tương quan di truyền giữa số con
sơ sinh và số con sơ sinh sống là 0,99; số con sơ sinh sống và số con cai sữa là 0,94
Theo Ber Kin (1984), hệ số tương quan di truyền giữa số con sơ sinh và số con sơ sinh sống là 0,88; số con sơ sinh sống và số con 21 ngày tuổi là 0,89; số con sơ sinh sống và số con cai sữa là 0,83
Theo Irving and Swiger (1982) hệ số tương quan di truyền giữa số con sơ sinh và số con sơ sinh sống là 0,83
Theo Furguson et al., (1985), hệ số tương quan di truyền giữa số con sơ sinh và số con sơ sinh sống là 0,97; số con sơ sinh sống và số con cai sữa là 0,85
Theo Blasco et al., (1995), hệ số tương quan di truyền giữa số con sơ sinh
và số con sơ sinh sống là 0,92; số con sơ sinh sống và số con cai sữa là 0,81
Như vậy, các chỉ tiêu số con sơ sinh, số con sơ sinh sống và số con cai sữa
có hệ số tương quan di truyền chặt dao động trong khoảng 0,81-0,99
2.2.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái
2.2.4.1 Yếu tố di truyền
Yếu tố di truyền hay nói cách khác là giống, là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất sinh sản của lợn nái Giống là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh sản ở lợn nái (Đặng Vũ Bình, 1999; Hamann et al., 2004) Các giống khác nhau có khả năng sinh sản rất khác nhau Sự sai khác này không chỉ liên quan đến số con sơ sinh mỗi lứa, khối lượng lợn con mà còn khác nhau cả ở khả năng mắn đẻ Hầu hết những giống cải tiến đều có khả năng mắn đẻ cao hơn tức số lứa trên năm cao hơn so với những giống địa phương chưa được cải tiến Legault (1985) cho rằng các giống lợn có thể được xếp thành bốn nhóm chính như sau:
- Các giống lợn đa dụng như giống Landrace, Yorkshire vừa có khả năng sinh sản khá vừa có khả năng cho thịt cao
- Các giống chuyên dụng “dòng mẹ” điển hình là các giống lợn nguyên chủng của Trung Quốc (Meishan chẳng hạn) có khả năng sinh sản cao nhưng khả năng sản xuất thịt hạn chế
- Các giống chuyên dụng “dòng bố” như giống Pietrain, Landrace Bỉ, Hamshire có khả năng cho thịt cao nhưng khả năng sinh sản lại hạn chế Các giống “dòng bố” thường có năng suất sinh sản thấp hơn so với các giống đa dụng Ngoài ra chúng có chiều hướng kém về khả năng nuôi con, điều này được
Trang 28minh chứng là chúng có tỉ lệ lợn con chết trước lúc cai sữa cao hơn so với các giống đa dụng như Landrace và Large White (Blasco et al., 1995)
- Các giống địa phương nói chung là cả khả năng sinh sản và cho thịt đều hạn chế nhưng có ưu điểm là khả năng thích nghi cao với điều kiện địa phương 2.2.4.2.Các yếu tố ngoại cảnh
Ngoài yếu tố di truyền, các yếu tố ngoại cảnh cũng ảnh hưởng rất rõ ràng
và có ý nghĩa đến năng suất sinh sản của lợn nái Chế độ nuôi dưỡng, bệnh tật, phương thức phối, lứa đẻ, mùa vụ, nhiệt độ, thời gian chiếu sáng đều có ảnh hưởng tới các chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái
a) Chế độ dinh dưỡng
Điều quan trọng đối với cái hậu bị và lợn nái là cần đủ số lượng và chất lượng dinh dưỡng cần thiết để đảm bảo cho khả năng sinh sản tốt Các mức ăn khác nhau trong giai đoạn từ khi lợn nái cai sữa con đến lúc động dục trở lại và phối giống có ảnh hưởng tới tỉ lệ thụ thai Cho ăn mức năng lượng cao trong vòng 7 - 10 ngày của chu kỳ động dục trước khi phối giống, số trứng rụng đạt được tối đa Tuy nhiên, nếu tiếp tục cho ăn với mức năng lượng cao vào đầu giai đoạn có chửa sẽ làm tăng tỉ lệ chết phôi và giảm số lượng lợn con sinh ra trong ổ Cho lợn ăn quá mức không những làm lãng phí mà còn làm tăng khả năng chết thai (Diehl et al., 1996) Bên cạnh đó, một số nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng thiếu trầm trọng vitamin, khoáng cũng có thể gây chết toàn bộ phôi
Ảnh hưởng của mức ăn trong giai đoạn nuôi con và giai đoạn chờ phối sau cai sữa đến năng suất sinh sản của lợn nái đã được nghiên cứu từ rất sớm Mức
ăn cao trong giai đoạn chờ phối sau cai sữa có ảnh hưởng tích cực tới tỷ lệ rụng trứng và số con sơ sinh /ổ của lứa đẻ tiếp theo nhưng mức ăn trong giai đoạn nuôi con không ảnh hưởng tới tỷ lệ rụng trứng, số con trong mỗi lứa đẻ tiếp theo và tỷ
lệ hao hụt của lợn con (King and Williams, 1984) Cũng theo tác giả này thì trong giai đoạn nuôi con, tốc độ sinh trưởng của lợn con tăng lên khi lượng thức ăn ăn vào tăng lên và các ảnh hưởng này chủ yếu xảy ra trong tuần cuối cùng trước khi cai sữa (King, 1986) Khối lượng trung bình của lợn con 21 ngày tuổi không bị ảnh hưởng bởi mức cho ăn, nhưng những con nái được cho ăn với mức ăn thấp
có tỷ lệ hao mòn cơ thể lớn hơn những con nái được cho ăn mức ăn cao trong giai đoạn nuôi con, đặc biệt là tuần cuối trước khi cai sữa Để đáp ứng đủ cho nhu cầu tiết sữa, những con nái được cho ăn mức ăn thấp phải huy động lượng
mỡ dự trữ trong cơ thể, nên tỷ lệ hao mòn của những con nái này tăng lên
Trang 29(Johnston et al., 1986) Trong thực tế sản xuất, các dữ liệu thu thập theo từng cá thể hay nhóm cá thể về mức ăn hầu như rất khó thực hiện, do vậy các ảnh hưởng này thường được quy chung về phương thức cho ăn, chăm sóc nuôi dưỡng khi thiết lập các nhóm tương đồng trong đánh giá di truyền
b) Mùa vụ, nhiệt độ và chế độ chiếu sáng
Các biểu hiện sinh sản bị ảnh hưởng theo mùa vụ có thể dễ nhận biết như lợn nái chậm thành thục về tính, thời gian chờ phối sau cai sữa kéo dài, tỷ lệ chết thai cao hơn và tỷ lệ xảy thai tăng lên cũng như số con sơ sinh /ổ giảm Tuy vậy, ảnh hưởng quan trọng nhất của mùa vụ là giảm tỷ lệ phối giống đậu thai và
tỷ lệ đẻ trong đàn nái Nhiều nghiên cứu đã chia các ảnh hưởng này thành hai nhóm, bao gồm các ảnh hưởng của quang kỳ và các ảnh hưởng của nhiệt độ Paterson et al., (1978) đã cho biết nhiệt độ cao trên 320C vào những tháng mùa
hè ở Úc đã làm tăng tỷ lệ không đậu thai của lợn nái lên 19,7% trong khi các mùa khác là 12,7% Điều này đã được tác giả giải thích rằng chính các stress nhiệt vào thời điểm phối giống có thể ảnh hưởng đến quá trình rụng trứng và làm mất cân bằng nội tiết của các lợn nái Ngoài ra, stress nhiệt còn ảnh hưởng đến quá trình tiết sữa của lợn nái trong giai đoạn nuôi con (Black et al., 1993) Các gia súc tiết sữa có những cơ chế đặc biệt điều tiết giảm tiết sữa khi phải chịu đựng các bức
xạ nhiệt từ môi trường nhiệt độ cao Nghiên cứu của Gourdine et al., (2006) đã chỉ ra rằng ảnh hưởng của mùa vụ đến lượng thức ăn tiêu thụ của lợn nái trong giai đoạn tiết sữa là rất rõ rệt ở giống Yorkshire so với giống địa phương ở vùng Caribbean
Koketsu et al., (1997), khi phân tích các nhân tố ảnh hưởng cho thấy, nái
đẻ vào mùa hè và mùa xuân có thời gian từ cai sữa đến phối có chửa lứa tiếp theo
là dài nhất, trong đó nái đẻ vào mùa hè có khối lượng cai sữa/ổ thấp hơn nái đẻ vào mùa xuân Lorvelec et al., (1998) nghiên cứu về ảnh hưởng của mùa vụ đến khả năng sinh sản của lợn nái Large White đã đưa ra kết luận số con sơ sinh/ổ của lợn nái đẻ ra trong mùa khô, mát cao hơn 25% so với mùa lạnh, ẩm ướt Vázquez et al., (1998) nghiên cứu trên 524 lứa đẻ từ năm 1987 - 1989 của 171 lợn nái đã nhận thấy yếu tố mùa vụ ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến 4 tính trạng: số con sơ sinh/ổ, số con sơ sinh sống/ổ, khối lượng toàn ổ ở các thời điểm
21 và 56 ngày tuổi Ngược lại, Samanta et al., (1998) lại cho rằng mùa đẻ ảnh hưởng không có ý nghĩa thống kê đến các tính trạng số con sơ sinh/ổ và số con cai sữa/ổ
Trang 30Đặng Vũ Bình (1999) phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến các tính trạng năng suất sinh sản trong một lứa đẻ của lợn nái ngoại đã kết luận yếu tố mùa vụ ảnh hưởng đến hầu hết các tính trạng (trừ tính trạng số con 35 ngày tuổi, khối lượng toàn ổ giai đoạn sơ sinh và 21 ngày tuổi) Khối lượng toàn ổ sơ sinh ở mùa đông cao hơn mùa thu (P < 0,01) Trần Thị Minh Hoàng và cs., (2008); Phạm Thị Kim Dung và Trần Thị Minh Hoàng (2009) cũng cho biết yếu tố mùa
vụ ảnh hưởng đến tất cả các tính trạng sinh sản mà các tác giả đã nghiên cứu c) Ảnh hởng của lợn đực phối, số lần phối và phương thức phối giống
Trong phối giống trực tiếp, lợn đực phối ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái Việc lựa chọn lợn đực giống phù hợp để giao phối với lợn nái là rất quan trọng, ảnh hưởng của cá thể đực giống đối với tỉ lệ thụ thai là rất
rõ rệt Sử dụng đực giống quá già cũng sẽ làm giảm số con trong một lứa đẻ Có thể tăng thêm tỉ lệ thụ thai và số con sinh ra trong ổ bằng cách sử dụng hơn một đực cho một lợn nái (phối kép) Điều này tạo cơ hội để sử dụng tối đa lợn đực có khả năng thụ tinh và khả năng phù hợp trên lợn cái (Diehl et al., 1996)
Nghiên cứu của Clark and Leman (1986) nhận thấy, số lần phối giống trong một lần động dục ở lợn nái ảnh hưởng tới số con sơ sinh /ổ, phối đơn trong một chu kỳ động dục ở lúc động dục cao nhất có thể đạt được số con sơ sinh /ổ cao, nhưng phối hai lần trong một chu kỳ động dục làm tăng số con đẻ ra/ổ Tilton and Cole (1982) thấy rằng khi phối giống cho lợn nái trực tiếp ba lần, mỗi lần cách nhau 24 giờ tăng hơn 1,3 con/ổ so với phối hai
Theo Colin (1998), phối giống bằng thụ tinh nhân tạo, tỷ lệ thụ thai và số con sơ sinh/ổ đều thấp hơn (0-10%) so với phối giống trực tiếp, phối giống kết hợp giữa thụ tinh nhân tạo và nhảy trực tiếp có thể làm tăng 0,5 lợn con so với phối riêng
d) Ảnh hưởngcủa yếu tố lứa đẻ
Khi tổng kết về ảnh hưởng của lứa đẻ đến số con sơ sinh/ổ, một số tác giả
đã cho biết số con sơ sinh/ổ thấp nhất ở lứa thứ nhất, tăng dần và đạt tối đa ở lứa thứ ba, lứa thứ tư và lứa thứ năm, sau đó ổn định và giảm dần ở các lứa tiếp theo (Yen và cs., 1987) Tuy nhiên, các tác giả này cũng lưu ý rằng trong mỗi lứa đẻ, các yếu tố ảnh hưởng đến số con sơ sinh/ổ cũng cần được xác định nhằm tránh lẫn lộn các ảnh hưởng của lứa đẻ với các yếu tố này
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố lứa đẻ đến các tính trạng sinh sản
Trang 31trên đàn lợn Landrace, Yorkshire nuôi tại An Khánh, Mỹ Văn và Tam Đảo, Trần Thị Minh Hoàng và cs., (2008) cho biết yếu tố lứa đẻ ảnh hưởng đến hầu hết các tính trạng (trừ tính trạng số con để nuôi) Trên đàn lợn Landrace và Yorkshire nuôi tại Mỹ Văn, Trạm nghiên cứu và phát triển giống lợn hạt nhân Thụy Phương
và Trạm nghiên cứu và phát triển giống lợn hạt nhân Tam Điệp, tác giả Trần Thị Minh Hoàng và cs., (2008) cho biết yếu tố lứa đẻ ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê
rõ rệt đến tất cả các tính trạng năng suất sinh sản Phạm Thị Kim Dung và Trần Thị Minh Hoàng (2009) cũng có kết luận tương tự
Về khả năng tiết sữa, nhiều tác giả đã chỉ ra rằng sản lượng sữa của những lợn nái kiểm định (lứa thứ nhất) thấp hơn khoảng 20% so với những lợn nái đẻ từ lứa hai trở lên Sự khác biệt này có thể do lượng thức ăn tiêu thụ thấp hơn và nhu cầu đáp ứng cho tăng trưởng tiếp tục của lợn nái kiểm định Thông thường, khả năng tiết sữa và nuôi con của lợn nái được đánh giá thông qua khối lượng lợn con
21 ngày tuổi/ổ Chỉ tiêu năng suất này đạt cao nhất ở lứa thứ hai, rồi giảm dần trong các lứa tiếp theo (Rodigruez et al., 1994; Rydhmer et al., 1989) Như vậy, khi đánh giá di truyền trên các tính trạng số con sơ sinh sống/ổ và khối lượng 21 ngày tuổi/ổ, các yếu tố ảnh hưởng như tuổi phối giống lần đầu hay lứa đẻ của lợn nái nhất thiết phải được theo dõi ghi chép chính xác, đầy đủ
2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.3.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Xuất phát từ nhu cầu ngày càng cao của con người, từ nhu cầu chỉ cần “ăn
no mặc ấm” đến nay nhu cầu cần phải “ ăn ngon mặc đẹp”, các nhà sản xuất nói chung và các nhà chăn nuôi nói riêng phải chạy theo đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng theo kim chỉ nam “sản xuất và cung ứng cái thị trường cần”
Vì vậy, mọi ngành hàng, trong đó có chăn nuôi, các nhà làm công tác nghiên cứu
và chọn tạo giống đã và đang không ngừng phát triển đa dạng các giống để phù hợp với thị hiếu
Hiện nay, các giống lợn Landrace, Yorkshire được nuôi phổ biến ở tất
cả các nước có nghề chăn nuôi lợn hướng nạc phát triển và nhân ra khắp thế giới bởi các ưu điểm của nó là khối lượng cơ thể lớn, tăng trọng nhanh, tỷ lệ nạc cao, năng suất sinh sản khá, khả năng thích nghi tốt Ở Liên Xô (cũ) lợn Yorkshire chiếm 85%, còn ở Châu Âu chiếm khoảng 54% Năm 1960, tỷ lệ Landrace trong
cơ cấu đàn lợn của Cộng hoà dân chủ Đức là 56,5% Chính vì vậy mà cho đến nay có rất nhiều nghiên cứu và thông báo về khả năng sinh sản của 2 giống lợn
Trang 32Yorkshire và Landrace
White et al., (1991) nghiên cứu trên lợn nái Yorkshire cho kết quả tuổi động dục lần đầu là 201 ngày (số mẫu nghiên cứu là 444); số con sơ sinh sống của 20 ổ ở lứa 1 trung bình là 7,2 con/ổ
Stoikov et al., (1996) nghiên cứu về khả năng sinh sản của lợn nái Yorkshire và Landrace có nguồn gốc khác nhau được nuôi lở Bungari cho kết quả số con sơ sinh/ổ ở các giống là khác nhau Cụ thể là lợn Yorkshire Anh 9,7 con/ổ, Yorkshire Thụy Điển 10,6 con/ổ, Yorkshire Ba Lan 10,5 con/ổ, Landrace Anh là 9,8 con, Landrace Bungari là 10 con, Landrace Bỉ là 8,5 con/ổ
Nghiên cứu của Koketsu et al., (1997) cho biết tuổi phối lần đầu của lợn nái Landrace và Yorkshire lần lượt là 237 và 249 ngày; số con sơ sinh/ổ là 12; 12,22 con; số con sơ sinh sống/ổ ở cả hai giống Landrace và Yorkshire là 11,3 con
Tác giả Tummaruk et al., (2000) nghiên cứu năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire Thụy Điển được thu từ 19 đàn hạt nhân bao gồm
20275 lứa đẻ của 6989 nái thuần từ giai đoạn 1994-1997 cho kết quả số con sơ sinh/ổ của lợn Landrace và Yorkshire lần lượt là 11,61; 11,54 con; số con sơ sinh sống/ổ lần lượt là 10,94; 10,58 con; thời gian từ cai sữa/phối giống là 5,6; 5,4 ngày; tỷ lệ đẻ là 82,8; 80,9%; tuổi đẻ lứa đầu là 355,6; 368 ngày; khoảng cách giữa hai lứa đẻ là 167,9; 168,3 ngày
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Trong những năm gần đây, phong trào chăn nuôi lợn ngoại phát triển mạnh mẽ Một số lợn ngoại như Landrace, Yorkshire, Duroc, Hamshire, Pietrain được nhập vào Việt Nam để cải tiến giống lợn nội, thông qua việc lai giữa hai giống với nhau tạo con lai có ưu thế lai cao góp phần đẩy mạnh phong trào nạc hóa đàn lợn Trong đó, giống lợn Landrace và Yorkshire thể hiện được những ưu điểm vượt trội so với các giống ngoại nhập khác Nhiều đề tài nghiên cứu về hai giống này đã được tiến hành và công bố kết quả
Tác giả Nguyễn Thiện và cs., (1992) nghiên cứu năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire cho kết quả số con sơ sinh/ổ của lợn nái Landrace
và Yorkshire lần lượt là 9,57; 8,4 con; khối lượng sơ sinh/ổ là 11,89; 11,3 kg; khối lượng 21 ngày/ổ là 31,3; 33,67 kg
Tác giả Đinh Văn Chỉnh và cs., (1995) nghiên cứu năng suất sinh sản trên đối tượng lợn nái Landrace và Yorkshire nuôi tại Trung tâm giống gia súc Hà Tây cho kết quả tuổi phối lần đầu của lợn nái Landrace và Yorkshire lần lượt là
Trang 33254,11; 282 ngày; tuổi đẻ lứa đầu là 367,1; 396,3 ngày; số con sơ sinh sống/ổ là 8,2; 8,3 con; khối lượng sơ sinh/ổ là 9,12; 10,89 kg; khối lượng 21 ngày/ổ là 40,7; 42,1 kg; khối lượng 21 ngày/con là 5,1; 5,2 kg
Tác giả Đặng Vũ Bình và cs., (2001) nghiên cứu năng suất sinh sản của đàn lợn nái ngoại được nuôi ở các tỉnh miền Bắc trong khoảng thời gian từ 1996-
2001 cho kết quả số con sơ sinh/ổ của lợn nái Landrace và Yorkshire lần lượt là 10,41; 10,12 con; số con sơ sinh sống/ổ là 9,11; 9,7 con; số con cai sữa/ổ là 8,29; 8,25 con; khối lượng sơ sinh/ổ là 12,96; 12,41 kg; khối lượng sơ sinh/con là 1,31; 1,28 kg; tuổi đẻ lứa đầu là 401,15; 395,33 ngày; khoảng cách lứa đẻ là 179,62; 183,85 ngày Tác giả cũng cho biết trại giống, lứa đẻ và năm là ba yếu tố ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến hầu hết các tính trạng năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire
Tác giả Đoàn Xuân Trúc và cs., (2001) nghiên cứu năng suất sinh sản của đàn lợn nái Landrace và Yorkshire nuôi tại Xí nghiệp Giống vật nuôi Mỹ Văn cho kết quả tuổi phối lần đầu của lợn Landrace và Yorkshire lần lượt là 253,7-262,74; 251,6-260,7 ngày; số lợn sơ sinh sống/ổ là 10,01; 9,76 con; số lợn cai sữa/nái/năm là 16,5; 17,2 con
Tác giả Phan Xuân Hảo và cs., (2001) cho biết năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire ở lứa đẻ đầu tiên tuổi động dục lần đầu của lợn nái Landrace và Yorkshire lần lượt là 197,36; 203,39 ngày; tuổi phối lần đầu là 264,71; 251,74 ngày; tuổi đẻ lứa đầu là 374,49; 367,91 ngày; số con sơ sinh/ổ là 10,05; 9,6 con; số con 21 ngày/ổ là 8,95; 8,44 con; khối lượng 21 ngày/con là 5,38; 5,35 kg
Tác giả Hoàng Nghĩa Duyệt (2008) nghiên cứu tình hình chăn nuôi lợn nái Landrace, lợn nái Landrace phối với đực Yorkshire và lợn nái Yorkshire ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam cho kết quả số con sơ sinh/ổ của lợn nái Landrace, lợn nái Landrace phối với đực Yorkshire và lợn nái Yorkshire lần lượt là 10,0; 10,3; 9,67 con; khối lượng sơ sinh/con là 1,38; 1,44; 1,41; số con cai sữa là 9,33; 9,5; 9,0 con; thời gian cai sữa là 27,1; 26,1; 27,1 ngày; tiêu tốn thức ăn/kg lợn cai sữa là 6,5; 6,3; 6,8 kg
Tác giả Lê Đình Phùng và cs., (2011) nghiên cứu trên lợn nái Landrace, Yorkshire và lợn nái Yorkshire phối với đực Landrace cho kết quả tuổi phối lần đầu của lợn nái Landrace, Yorkshire và lợn nái Yorkshire phối với đực Landrace lần lượt là 269,6; 269; 275,7 ngày; tuổi đẻ lứa đầu là 385,2; 384,2; 391,6 ngày; số
Trang 34con sơ sinh/ổ là 10,9; 11,2; 11,3 con; số con cai sữa là 9,8; 9,8; 10,3 con; khối lượng sơ sinh/con là 1,44; 1,41; 1,38 kg; khối lượng cai sữa/con là 6,25; 6,14; 6,03 kg; thời gian cai sữa là 24,7; 24,4 và 23,8 ngày; tỷ lệ sống đến cai sữa là 89,8; 86,3; 89,3%
Tác giả Hoàng Thị Thủy (2011) nghiên cứu năng suất sinh sản trên lợn nái Landrace và Yorkshire ở bốn công thức nái Landrace nhân thuần, nái Landrace phối với đực Yorkshire, nái Yorkshire nhân thuần và nái Yorkshire phối với đực Landrace nuôi tại Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương cho kết quả tuổi phối lần đầu của bốn công thức trên lần lượt là 227,73; 226,83; 227,88; 227,56 ngày; tuổi đẻ lứa đầu lần lượt là 342,97; 341,54; 343,11; 341,90 ngày; số con sơ sinh/ổ lần lượt là 9,72; 10,14; 9,94; 10,25 con; số con sơ sinh sống/ổ lần lượt là 9,60; 9,91; 9,82; 10,07 con; tỷ lệ sơ sinh sống lần lượt là 98,62; 97,48; 98,57; 97,95%; khối lượng sơ sinh/ổ lần lượt là 13,08; 13,65; 13,13; 13,63kg; khối lượng sơ sinh/con lần lượt là 1,37; 1,39; 1,34; 1,36kg; số con để nuôi lần lượt là 9,37; 9,60; 9,55; 9,75 con; sổ con cai sữa/ổ lần lượt là 8,80; 9,09; 9,01; 8,98 con; tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa lần lượt là 91,91; 90,78; 90,86; 89,19%; khối lượng cai sữa/ổ lần lượt là 55,56; 59,54; 57,90; 55,29kg; khối lượng cai sữa/con lần lượt là 6,34; 6,56; 6,42; 6,15kg; thời gian cai sữa lần lượt là 22,69; 22,59; 22,64; 22,63 ngày; khoảng cách lứa đẻ lần lượt là 153,98; 150,56; 150,01; 152,63 ngày
Tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo (2015) nghiên cứu trên đàn lợn nái Landrace nuôi tại trang trại chăn nuôi Hưng Thịnh CP 63 – Hưng Yên cho kết quả công thức nái Landrace phối với đực Yorkshire cho kết quả tuổi phối lần đầu
là 241 ngày; số con sơ sinh/ổ là 11,78 con; số con sơ sinh sống/ổ là 10,50 con; số con để nuôi là 10,39 con; số con cai sữa/ổ là 9,66 con; khối lượng sơ sinh/ổ là 15,12 kg; khối lượng sơ sinh/con là 1,44 con; khối lượng cai sữa/ổ là 63,06 kg; khối lượng cai sữa/con là 6,53 kg; tỷ lệ sơ sinh sống là 83,09 %; tỷ lệ nuôi sống
là 93,68 %; thời gian cai sữa là 22,20 ngày; thời gian phối lại có chửa là 4,93 ngày; khoảng cách lứa đẻ là 141,78 ngày
Tác giả Đoàn Phương Thúy (2015) nghiên cứu trên lợn nái Landrace và Yorkshire cho kết quả tuổi đẻ lứa đầu của lợn nái Landrace và Yorkshire lần lượt
là 357,55; 358,17 ngày; khoảng cách lứa đẻ lần lượt là 147,83; 145,35 ngày; số con sơ sinh/ổ lần lượt là 11,47; 11,91 con; số con sơ sinh sống/ổ lần lượt là 10,48; 10,85 con; số con để nuôi/ổ lần lượt là10,49; 10,48 con; số con cai sữa/ổ lần lượt là 10,35; 10,31 con
Trang 35PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Lợn nái Landrace (103 con) và lợn nái Yorkshire (149 con) Trong đó, lợn nái Landrace có 37 nái nhân thuần với 196 ổ đẻ và 66 nái phối với đực Yorkshire với 357 ổ đẻ; lợn nái Yorkshire có 44 nái nhân thuần với 257 ổ đẻ và 105 nái phối với đực Landrace với 477 ổ đẻ
3.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
* Địa điểm nghiên cứu: Tổng công ty chăn nuôi Việt Nam – Chi nhánh chăn nuôi Mỹ Văn – Hưng Yên
* Thời gian nghiên cứu:
- Số liệu từ năm 2011 đến tháng 11/2015: kế thừa số liệu từ cơ sở
- Số liệu từ tháng 12/2015 đến tháng 7/2016: theo dõi và thu thập
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.2.1 Năng suất sinh sản của lợn nái
Các chỉ tiêu thu thập và theo dõi:
+ Tuổi phối giống lần đầu và tuổi đẻ lứa đầu
+ Thời gian cai sữa và thời gian phối lại có chửa sau cai sữa
+ Khoảng cách giữa hai lứa đẻ
+ Số con sơ sinh/ổ và số con sơ sinh sống/ổ
+ Số con để nuôi/ổ và số con cai sữa/ổ
+ Tỷ lệ sơ sinh sống và tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa
+ Khối lượng sơ sinh/ổ và khối lượng sơ sinh/con
+ Khối lượng cai sữa/ổ và khối lượng cai sữa/con
3.2.2 Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa
Các chỉ tiêu thu thập và theo dõi:
- Thức ăn cho lợn nái (chờ phối, chửa và nuôi con) (kg)
- Thức ăn cho lợn con tập ăn (kg)
- Khối lượng cai sữa/ổ (kg)
Trang 36- Thời gian cai sữa (ngày) và TTTA/kg lợn cai sữa (kg)
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.3.1 Điều kiện nuôi dưỡng
Các đàn lợn nái Landrace và Yorkshire được theo dõi đảm bảo nguyên tắc đồng đều về độ tuổi, thức ăn, chuồng trại, chăm sóc và nuôi dưỡng…
3.3.2 Các chỉ tiêu về năng suất sinh sản
Thu thập và theo dõi 252 nái (103 nái Landrace và 149 nái Yorkshire)
từ lứa 1 đến lứa 6 tại Công ty chăn nuôi Việt Nam – Chi nhánh Mỹ Văn – Hưng Yên
- Thu thập, kế thừa số liệu các chỉ tiêu về năng suất sinh sản của lợn nái Landrace, Yorkshire từ năm 2011 đến tháng 11/2015
- Theo dõi, ghi chép số liệu các chỉ tiêu về năng suất sinh sản của lợn nái Landrace, Yorkshire từ tháng 12/2015 đến tháng 7/2016
- Với các chỉ tiêu số lượng: tiến hành đếm số con sơ sinh/ổ, số con sơ sinh sống/ổ, số con để nuôi/ổ và số con cai sữa/ổ
- Với các chỉ tiêu khối lượng: tiến hành cân xác định khối lượng lợn con ở các thời điểm sơ sinh và cai sữa bằng một loại cân thống nhất ở tất cả các lần cân
3.3.3 Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa
Theo dõi tổng lượng thức ăn đã sử dụng cho lợn nái và lợn con từ ngày cai sữa lứa đẻ trước đến ngày cai sữa lứa đẻ sau của 10 ổ lợn nái Landrace nhân thuẩn, 10 ổ lợn nái Landrace phối với đực Yorkshire, 10 ổ lợn nái Yorkshire nhân thuần và 10 ổ lợn nái Yorkshire phối với đực Landrace bao gồm: thức ăn giai đoạn chờ phối, chửa kỳ 1, kỳ 2, giai đoạn nuôi con và thức ăn cho lợn con lúc tập ăn đến cai sữa
Trong đó:
P1: Thức ăn cho lợn chờ phối (kg)
P2: Thức ăn cho nái chửa kì I (kg)
TTTA/kg lợn cai sữa(kg) =
P1 + P2 + P3 + P4 + P5
Pcai sữa
Trang 37P3: Thức ăn cho nái chửa kì II (kg)
P4: Thức ăn cho nái nuôi con (kg)
P5: Thức ăn cho lợn con tập ăn (kg)
Pcai sữa: Tổng khối lượng lợn con cai sữa (kg)
Tùy thuộc vào từng giai đoạn và thể trạng của mỗi con nái, mức cho ăn đối với mỗi nái cũng khác nhau Đàn lợn nái Landrace và Yorkshire nuôi tại cơ
sở được cho ăn thức ăn công nghiệp dạng ép viên do cơ sở tự phối trộn Dưới đây
là bảng định mức chung của lợn nái và lợn con tập ăn
Bảng 3.1 Khẩu phần và giá trị dinh dưỡng/kg thức ăn hỗn hợp
cho lợn nái và lợn con tập ăn
Giá trị dinh dưỡng của 1 kg thức ăn hỗn hợp Protein thô
Trang 38PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI LANDRACE VÀ
YORKSHIRE
4.1.1 Năng suất sinh sản chung của lợn nái Landrace và Yorkshire
Năng suất sinh sản của lợn nái được cấu thành từ nhiều yếu tố, bởi vậy khi đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái cần phải đánh giá dựa trên các yếu tố cấu thành Việc nghiên cứu và đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái có vai trò rất quan trọng trong chăn nuôi bởi nó là tiền đề, là cơ sở cung cấp nguyên liệu để các nhà làm công tác chọn giống chọc lọc và tạo ra các giống có năng suất cao và phẩm chất tốt phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng
Kết quả theo dõi năng suất sinh sản chung của lợn nái Landrace và Yorkshire nuôi tại Tổng công ty chăn nuôi Việt Nam – Chi nhánh chăn nuôi Mỹ Văn – Hưng Yên được trình bày ở bảng 4.1
Kết quả bảng 4.1 cho thấy, đa số các chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire là tương đương nhau Tuy nhiên, một số chỉ tiêu bao gồm khối lượng sơ sinh/con; số con để nuôi/ổ; số con cai sữa/ổ; thời gian cai sữa và khoảng cách lứa đẻ là khác nhau, sự sai khác là rõ ràng và có ý nghĩa thống kê (P < 0,05)
- Tuổi phối giống lần đầu
Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, việc xác định tuổi phối lần đầu của lợn hậu bị rất quan trọng bởi nó ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái cũng như hiệu quả kinh tế của người chăn nuôi
Kết quả theo dõi bảng 4.1, tuổi phối giống lần đầu của lợn nái Landrace và Yorkshire tương ứng là 260,41; 250,17 ngày Như vậy, tuổi phối lần đầu của lợn nái Landrace cao hơn lợn nái Yorkshire Tuy nhiên, sự sai khác không rõ ràng và không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05)
Kết quả này tương đương với kết quả nghiên cứu của một số tác giả, cụ thể: Đoàn Xuân Trúc và cs., (2001) tuổi phối lần đầu của lợn nái Landrace và Yorkshire tương ứng là 253,7-262,74; 251,6-260,7 ngày; Phan Xuân Hảo và cs., (2001) là 264,71; 251,74 ngày Tuy nhiên, kết quả này cao hơn so với kết quả nghiên cứu của một số tác giả, cụ thể: Koketsu et al., (1997) tuổi phối giống lần đầu của lợn nái Landrace và Yorkshire tương ứng là 237; 249 ngày; Hoàng Thị Thủy (2011) là 227,73; 227,88 ngày Ở công bố khác, kết quả này thấp hơn so