TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Nguyễn Anh Vũ Tên luận văn: Sử dụng đệm lót lên men vi sinh vật trong chăn nuôi lợn thịt tại Hiệp Hòa, Bắc Giang Phương pháp nghiên cứu Nội dung nghiên cứ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Tuyết Lê
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Anh Vũ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Tuyết Lê đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian
và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Dinh dưỡng và thức ăn, Khoa Chăn Nuôi - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn ông Nguyễn Văn Nghiệp thôn Đồng Tâm – xã Thường Thắng – huyện Hiệp Hòa – Tỉnh Bắc Giang đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Anh Vũ
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình và biểu đồ vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Thực trạng ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi lợn 3
2.2 Các phương pháp xử lý chất thải chăn nuôi 6
2.2.1 Phương pháp sinh học 6
2.2.2 Phương pháp vật lý 11
2.2.3 Xử lý bằng phương pháp hoá học 12
2.3 Các nghiên cứu về xử lý chất thải trong và ngoài nước 13
2.3.1 Nghiên cứu ngoài nước 13
2.3.2 Nghiên cứu xử lý chất thải chăn nuôi trong nước 14
2.4 Giới thiệu phương pháp chăn nuôi trên đệm lót sinh học (đệm lót lên men vi sinh vật) 16
2.4.1 Nguyên ký cơ bản của kỹ thuật chăn nuôi sử dụng đệm lót vi sinh vật 18
2.4.2 Cơ chế hoạt động của đệm lót lên men trong xử lý chất thải 18
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 20
3.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 20
3.1.1 Đối tượng 20
3.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 20
3.2 Nội dung nghiên cứu 20
Trang 53.2.1 Đánh giá một số chỉ tiêu kỹ thuật của đệm lót lên men 20
3.2.2 Đánh giá một số chỉ tiêu về tiểu khí hậu chuồng nuôi 20
3.2.3 Đánh giá hiệu quả của chăn nuôi lợn thịt trên đệm lót lên men 20
3.3 Phương pháp nghiên cứu 20
3.3.1 Vật liệu nghiên cứu 20
3.3.2 Bố trí thí nghiệm 20
3.3.3 Phương pháp làm đệm lót lên men 21
3.3.4 Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi 21
3.4 Phương pháp xử lý số liệu 24
Phần 4 Kết quảvà thảo luận 25
4.1 Xác định một số chỉ tiêu kỹ thuật của đệm lót lên men 25
4.1.1 Chất lượng đệm lót lên men trước thí nghiệm 25
4.1.2 Đánh giá chất lượng đệm lót trong thời gian thí nghiệm 27
4.2 Đánh giá sự tác động của đệm lót đối với một số chỉ tiêu tiểu khí hậu chuồng nuôi 31
4.2.1 Kết quả xác định nồng độ một số khí độc trong chuồng nuôi 31
4.2.2 Sự tiêu hủy phân trong đệm lót 34
4.3 Đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn nuôi trên lớp đệm lót lên men 36
4.3.1 Đánh giá khả năng tăng trưởng của lợn được nuôi trên đệm lót lên men 36
4.3.2 Kết quả theo dõi tiêu tốn thức ăn của đàn lợn thí nghiệm 37
4.3.3 Kết quả xác định tần số hô hấp 38
4.3.4 Kết quả theo dõi tình hình dịch bệnh của lợn thí nghiệm 41
4.3.5 Đánh giá hiệu quả sử dụng đệm lót trong chăn nuôi lợn thịt 43
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 46
5.1 Kết luận 46
5.2 Kiến nghị 46
Tài liệu tham khảo 47
Phụ lục 53
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 21
Bảng 4.1 Sự biến đổi nhiệt độ, độ ẩm và số lượng VKHKTS ở giai đoạn làm và hoàn thiện đệm lót (n=3) 26
Bảng 4.2 Biến đổi nhiệt độ, độ ẩm và số lượng vi sinh vật của đệm lót lên men trong thời gian thí nghiệm 28
Bảng 4.3 Kết quả theo dõi nồng độ một số khí độc trong chuồng nuôi 31
Bảng 4.4 Khả năng tăng khối lượng của lợn thí nghiệm 36
Bảng 4.5 Hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn thí nghiệm 37
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của đệm lót lên men đến thân nhiệt và tần số hô hấp của lợn thí nghiệm 39
Bảng 4.7 Kết quả theo dõi tỷ lệ mắc bệnh của lợn thí nghiệm 41
Bảng 4.8 Ước tính sơ bộ hiệu quả chăn nuôi 43
Trang 8DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 4.1 Đệm lót lên men vi sinh vật của lô TN 30
Biều đồ 4.1 Nồng độ H2S trong chuồng nuôi của lợn thí nghiệm 32
Biểu đồ 4.2 Nồng độ khí NH3 qua các tháng nuôi 33
Hình 4.2 Sự phân hủy của phân trong đệm lót 35
Hình 4.3 Lợn nuôi trên nền đệm lót luôn sạch và đảm bảo vệ sinh hơn lợn nuôi trên nền xi măng ở lô ĐC 42
Hình 4.4 Mức độ tiêu chảy của lợn lô TN và lô ĐC 43
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Anh Vũ
Tên luận văn: Sử dụng đệm lót lên men vi sinh vật trong chăn nuôi lợn thịt tại Hiệp Hòa, Bắc Giang
Phương pháp nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Đánh giá một số chỉ tiêu kỹ thuật của đệm lót lên men
Nội dung 2: Đánh giá một số chỉ tiêu về tiểu khí hậu chuồng nuôi
Nội dung 3: Đánh giá hiệu quả của chăn nuôi lợn thịt trên đệm lót lên men
Nguyên vật liệu
- Chế phẩm sinh học BALASA N01 được cung cấp bởi Cơ sở sản xuất Minh Tuấn, Trâu Quỳ - Gia Lâm - Hà Nội
- Trấu và mùn cưa dùng làm đệm lót với tỷ lệ 1:1
Phương pháp nghiên cứu
Bố trí thí nghiệm theo phương pháp phân lô so sánh: lô thí nghiệm (TN) và lô đối chứng (ĐC), mỗi lô có 8 con lợn ngoại lai (PiDu x LY) nuôi trên diện tích chuồng nuôi 20m2 Lô đối chứng được nuôi trên nền xi măng, lô thí nghiệm nuôi trên đệm lót lên men Khối lượng bắt đầu của lợn con trung bình từ 6.55-6.80kg, thời gian nuôi trong 90 ngày, mỗi thí nghiệm được lặp lại 3 lần
Nhiệt độ và độ ẩm không khí chuồng nuôi được xác định hàng ngày ở cách bề mặt đệm lót khoảng 50 cm, sử dụng máy đo đa thông số LM – 8010 (Đài Loan) Nhiệt độ của lớp đệm lót đo bằng nhiệt kế thủy ngân thang nhiệt độ từ 0-100oC Khí CO2 đo bằng máy
đo khí độc IBRIDTM MX6 của Mỹ; Khí NH3: sử dụng kít đo thương mại của hãng Komyo Rikagaku Kitagawa, Nhật (KITAGAMA - Gas detector tube system)DT 105SD giải đo từ 0,2-20ppm; Khí H2S: Sử dụng phương pháp so màu quang điện Điểm xác định hàm lượng các khí được xác định ở cách bề mặt đệm lót khoảng 50cm (hoặc ngang đầu lợn)
Trang 10Số lượng vi sinh vật tổng số của lớp đệm lót được đếm bằng phương pháp pha loãng nồng độ Các chỉ số được sử dụng để đánh giá hiệu quả của chăn nuôi lợn thịt gồm: Khối lượng tăng bình quân hàng ngày (gr/ngày), tiêu tốn thức ăn cho một (kg) tăng khối lượng cơ thể, tỷ lệ mắc một số bệnh về đường tiêu hóa, hô hấp, Tần số hô hấp (lần/phút);
Tỷ lệ mắc bệnh (%), Tỷ lệ chết (%)
Phân tích thống kê: Phân tích phương sai được thực hiện trên môi trường nhiệt và
dữ liệu hiệu suất Phương pháp điều trị được so sánh sử dụng thử nghiệm Tukey ở mức ý nghĩa 5% với Minitab 14
- Đệm lót lên men giúp giảm nồng độ khí NH3 so với lô ĐC từ 2,15-2,47 lần;
- Tăng khả năng tăng trưởng của lợn 5,06% so với lô ĐC;
- Làm giảm tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng trong khoảng 4,1%;
- Làm giảm tỷ lệ mắc bệnh đường tiêu hóa 12,5% so với lô ĐC Giảm tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp 16,67%;
- Hiệu quả chăn nuôi sơ bộ ước tính cao hơn so với lô ĐC là 48.503 đồng/con
Trang 11THESIS ABSTRACT
Master candidate: Nguyen Anh Vu
Thesis title: Using microbial fermented bedding in pigproduction at Hiep Hoa, Bac Giang Major: Animal Science Code: 60.62.01.05
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Research Objectives
The aim of this study was to evaluate the effect of using microbial fermented bedding on somemicro-environmental parameters and growth performance of fattening pigs at Hiep Hoa, Bac Giang
Materials and Methods
Three main subjects:
- Evaluation of some parameters of microbial fermented bedding;
- Evaluation of some micro-environmental parameters of pig houses;
- Evaluation of growth performance of fattening pigs on fermented bedding
Materials
Microbial product: BALASA-N01 (Minh-TuanCo., Ltd) Fermented bedding using 50% rice hulls and 50% sawdust was produced based on Advanced Technology (Nr 263/QĐ-CN-MTCN on the 9th October 2013)
Study methods
Two treatment were compared: Control group (ĐC)using solid concrete floor and experimental group (TN) using fermented bedding Each treatment was applied to a 20m2pen with 8 pigs ((PiDu x LY) Average initialbody weight of pigs varied from 6.55-6.80kg Experiment duration was 90 days Three replicates were conducted
-The litter temperature was measured through a thermometer (0-100oC) both in the surface and at 20cm of the depth Atmospheric temperature and relative humidity were determined 70cm above the floor surface for each pen with Multifunction Environment Meter (LM-8010, Taiwan)
Measurements of ammonia levels (ppm) were taken with commercial kit (KITAGAMA - Gas detector tube system); CO2 gas was measured with a portable electrochemical gas sensor (IBRIDTM MX6, USA); H2S contain was measured by spectrophotometric method at 0,50m above floor (animal head heigh)
Total number of microorganisms was calculated using serial dilution method The common performance indicators were used to evaluate the pig performance including
Trang 12average daily gain (g/day), daily feed intake (kg), and feed to gain ratio or feed conversion (FCR), morbidity (%), mortality (%), rectal temperature (oC) and respiratory rate (breath/minute)
Statistical Analysis: Analysis of variance was performed on the thermal environment and performance data Means of the treatments were compared using Tukey’s test at 5% significance level with Minitab 14
Main results and conclusions
Using fermented bedding was decreased significally environmental pollution in pig production:
- The amount of H2S measured in both control and experimental groups was in the normal range but H2S content of ĐCgroup was 2.5 to 5 times higher than that of TN group;
- Using fermented bedding was decreased the NH3 concentration in the experimental group from 2.15 to 2.47 times to compare with control group;
- Growth rate of pig in the experimental group was increased 5.06% to compare with control group The efficiency of feed utilization for gain or feed conversion ratio is also reduce 4,1% to compare with control group;
- The morbidity of digestive diseases as well as respiratory diseases in TN group was 12.5% and 16.67% lower than that in ĐC grouprespectively;
- Estimated gross margin per fattened pig in TN group was higher than that in control group 48,503 VND
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây chăn nuôi lợn đã có những bước phát triển mạnh
mẽ về số lượng đầu con cũng như sản lượng thịt Theo báo cáo thống kê năm
2015, tổng đàn lợn của cả nước đạt 27,7 triệu convới tổng sản lượng thịtlợn hơi xuất chuồng đạt 3,5 triệu tấn, tăng 4,2% so với năm 2014 (Tổng cục thống kê, 2015) Tuy nhiên, song song với sự phát triển đó thì vấn đề chất thải trong chăn nuôi cũng đặt ra những thách thức không nhỏ trong việc xử lý môi trường chăn nuôi Theo thống kê năm 2010 của Cục Chăn nuôi, cả nước có khoảng 8,5 triệu
hộ chăn nuôi quy mô gia đình và 18.000 trang trại chăn nuôi tập trung Tuy nhiên, mới chỉ có 8,7% số hộ chăn nuôi ứng dụng công trình khí sinh học - hầm biogas trong xử lý chất thải chăn nuôi Tỷ lệ các hộ gia đình có chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh cũng chỉ chiếm 10% và chỉ 0,6% số hộ chă nuôi có cam kết bảo
vệ môi trường Vẫn còn khoảng 23% số hộ chăn nuôi không xử lý chất thải bằng bất kỳ phương pháp nào mà xả thẳng ra môi trường bên ngoài Với tổng đàn 300 triệu con gia cầm và hơn 37 triệu con gia súc, nguồn chất thải từ chăn nuôi ra môi trường lên tới 84,45 triệu tấn Trong đó, nhiều nhất là chất thải từ lợn với 24,96 triệu tấn Vì vậy, vấn đề ô nhiễm do chất thải chăn nuôi đã, đang và sẽ trở thành vấn đề bức xúc trong chăn nuôi nói chung cũng như chăn nuôi lợn nói riêng
Một số biện pháp xử ký ô nhiễm đang sử dụng hiện nay như: thu gom chất thải, sử dụng bể bioga, ủ phân, làm thức ăn cho cá… đã giải quyết được một phần chất thải trong chăn nuôi Song đối với các trang trại nuôi lợn với quy mô lớn, các hộ nuôi nhỏ lẻ trong khu dân cư việc giải quyết một cách triệt để vấn đề
ô nhiễm môi trường (mùi hôi thối, phân, nước tiểu…) còn gặp nhiều hạn chế Hiện nay trên thế giới đã áp dụng nhiều phương thức như chăn nuôi hữu cơ, chăn nuôi an toàn sinh học và gần đây là công nghệ chăn nuôi sinh thái không chất thải; dựa trên nền tảng lên men vi sinh đệm lót nền chuồng Với công nghệ này toàn bộ phân và nước tiểu được vi sinh vật phân giải không còn mùi hôi thối; không phải rửa chuồng và tắm cho gia súc nên không gây ô nhiễm nguồn nước
và môi trường xung quanh, ngăn chặn được dịch bệnh Cũng nhờ những lợi thế
về mặt vệ sinh và môi trường trên mà sản phẩm chăn nuôi có độ vệ sinh an toàn thực phẩm rất cao Hơn nữa, chất lượng sản phẩm tốt nhờ đảm bảo được các điều kiện tốt nhất về Quyền động vật (animal welfare), con vật được vận động nhiều, không bị stress hay bệnh tật, lại tiêu hóa và hấp thu tốt
Trang 14Vấn đề ô nhiễm môi trường do chăn nuôi đang được cả thế giới và trong nước ngày càng quan tâm Do vậy việc tìm ra giải pháp xử lý chất thải hiệu quả, triệt
để, dễ áp dụng là việc làm cần thiết, đáp ứng yêu cầu cấp bách của thực tiễn sản xuất Chính vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành đề tài:
“Sử dụng đệm lót lên men vi sinh vật trong chăn nuôi lợn thịt tại Hiệp Hòa, Bắc Giang”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu chung
Đánh giá hiệu quả của mô hình chăn nuôi lợn thịt trên nền đệm lót nền chuồng lên men vi sinh vật trong việc đảm bảo năng suất chăn nuôi và vệ sinh môi trường
Trang 15PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TRONG CHĂN NUÔI LỢN
Trên thế giới hiện nay xu thế chăn nuôi nói chung theo con đường thâm canh công nghiệp hóa đang diễn ra mạnh mẽ Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng này đã nảy sinh ra một vấn đề, đó là sự ô nhiễm môi trường, sự lây lan dịch bệnh có chiều hướng tăng cao Ô nhiễm từ chuồng nuôi động vật là một trong những thách thức lớn của chăn nuôi công nghiệp, hoạt động chăn nuôi là nguồn gốc của rất nhiều chất gây ô nhiễm cho không khí như H2S, CH4, NH3, bụi, mùi và các vi sinh vật
Theo Cục chăn nuôi (2007), trong 5 năm từ 2001 - 2006 chăn nuôi trang trại ở nước ta đã tăng từ 1.761 lên 17.721 trang trại, bình quân tăng 58,7%/năm Việc tăng số lượng cũng như quy mô đàn gia súc, gia cầm đồng nghĩa với việc tăng lượng chất thải chăn nuôi thải ra môi trường
Chỉ tính riêng năm 2007, lượng chất thải từ chăn nuôi khoảng 61 triệu tấn, nhưng chỉ 40% trong số này được xử lý, còn lại xả trực tiếp ra môi trường Lượng chất thải không được xử lý và tái sử dụng lại chính là nguồn cung cấp phần lớn các chất khí gây hiệu ứng nhà kính (chủ yếu là CO2, N2O) làm trái đất nóng lên, ngoài ra còn làm rối loạn độ phì đất, nhiễm kim loại nặng, ô nhiễm đất, gây phì dưỡng và ô nhiễm nước Chưa kể nguồn khí thải CO2 phát tán do hơi thở của vật nuôi
Theo Trịnh Quang Tuyên và cs (2010), khi điều tra thực trang ô nhiễm môi trường trong các trang trại chăn nuôi lợn tập trung tại Hà Nội, Thái Bình, Ninh Bình đã báo cáo rằng, Trang trại chăn nuôi lợn tập trung có quy mô từ 30 đến dưới 100 lợn nái nuôi khép kín chiếm số lượng lớn Khoảng cách các trang trại đế cộng đồng dân cư chủ yếu từ 10 đến 100 mét Các trang trại chăn nuôi lợn
có khoảng cách đến cộng đồng dân cư trên 100 mét thì không ảnh hưởng tiếng ồn cho cộng đồng dân cư Với khoảng cách này mùi hôi vẫn ảnh hưởng tới cộng đồng dân cư, quy mô chăn nuôi càng lớn thì tỷ lệ các trang trại gây ảnh hưởng mùi hôi càng nhiều Các trang trại chăn nuôi lợn đều chưa có biện pháp xử lý phân sau khi thu gom Nhà chứa phân chỉ tập trung nhiều ở trang trại quy mô trên
200 lợn nái Phân lợn chủ yếu dùng trồng trọt và bán, nhưng đều sử dụng ở dạng tươi gây ô nhiễm môi trường Xử lý nước thải tại các trang trại chăn nuôi lợn chủ yếu bằng bề biogas Ao chứa nước thải tập chung ở những trang trại có quy mô
Trang 16trên 100 lợn nái và không có biện pháp xử lý Nước thải trong chăn nuôi lợn tập trung khi chảy ra môi trường tại các trang trại điều tra đều không đảm bảo các chỉ tiêu cho phép theo TCVN 5945-2005 loại B
Đánh giá mức độ ô nhiễm nước mặt tại các trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, Cao Trường Sơn và cs (2011), cho thấy nguồn chất thải phát sinh từ các trang trại chăn nuôi lợn là khoảng 30 tấn chất thải rắn và 600 m3 nước thải/ngày Hiện tại các trang trại nuôi lợn của Văn Giang áp dụng khá nhiều các biện pháp xử lý chất thải khác nhau trong đó phổ biến nhất là các biện pháp như: Biogas với 47,62%; bón cho cây là 38,10%; sử dụng làm thức ăn cho cá với 52,38%; thu gom phân để bán 28,57%, ủ compose là 9,52% Tuy nhiên tỷ lệ chất thải không xử lý mà thải bỏ trực tiếp ra ngoài môi trường vẫn còn ở mức cao với 28,57% Chất lượng môi trường nước mặt của các trang trại lợn là khá xấu Trong đó, mức độ ô nhiễm nước ở các ao nuôi Cá trong mô hình VAC và AC nhẹ hơn nhiều so với mức độ ô nhiễm ở các ao, hồ, kênh, mương xung quanh hai
hệ thống VC và C Nước ngầm hầu hết các trang trại lợn đều bị nhiễm bẩn nitơ
vô cơ, trong đó nồng độ NH4+ đã vượt quá ngưỡng cho phép của QCVN09/BTNMT và QCVN01/BYT Mùi và tiếng ồn phát sinh từ các trang trại nuôi lợn chỉ tác động trong phạm vi 100 m quanh trang trại nên chỉ các trang trại nằm trong khu dân cư mới ảnh hưởng tới đời sống của người dân
Như vậy, quy mô chăn nuôi càng lớn thì lượng chất thải bao gồm chất thải rắn (phân lợn) và chất thải lỏng (nước tiểu, nước rửa chuồng) càng nhiều và nguy
cơ gây ô nhiễm môi trường cũng tăng nếu không có các biện pháp xử lý chất thải phù hợp
Trong khi các trang trại chăn nuôi quy mô lớn đã bắt đầu chú ý đến vấn đề bảo vệ môi trường (có các biện pháp quản lý chất thải) thì các hộ chăn nuôi nhỏ
lẻ vấn đề ô nhiễm do chất thải chăn nuôi càng trở lên nghiêm trọng hơn Theo thống kê sơ bộ của Cục chăn nuôi thì cứ 5 hộ dân sống ở nông thôn thì có 3 hộ chăn nuôi lợn, đạt gần 60% trong tổng số hộ dân sống ở nông thôn Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực về mặt kinh tế - xã hội thì việc phát triển chăn nuôi lợn một cách nhanh chóng ở các vùng nông thôn cũng đã để lại những tác động tiêu cực về mặt môi trường
Mặt khác, chăn nuôi lợn nông hộ thường phát triển một cách tự phát, thiếu những quy hoạch cụ thể về chuồng trại, hệ thống xử lý nước thải, phân thải, cộng với trình độ kỹ thuật hạn chế và ý thức bảo vệ môi trường của người
Trang 17dân chưa cao Theo Hồ Thị Lam Trà và cs (2008), khoảng 80% lượng chất thải chưa được xử lý mà thải trực tiếp ra môi trường là nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm mặt nước Việc nguồn nước mặt bị ô nhiễm sẽ làm ảnh hưởng rất xấu đến tình hình vệ sinh môi trường và sức khỏe của người dân Các thủy vực bị ô nhiễm cũng là nơi để các mầm bệnh phát sinh và làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm
Nghiên cứu ảnh hưởng của chăn nuôi lợn tại hộ gia đình trên địa bàn xã Lai Vu tới chất lượng nước mặt của Hồ Thị Lam Trà và cs (2008), cho thấy: Hoạt động chăn nuôi lợn tại gia đình không ngừng tăng lên trong những năm vừa qua, mật độ chăn nuôi cao và số lượng lợn nuôi lớn đã làm phát sinh một lượng phân thải, nước rửa chuồng trại khổng lồ gây tác động xấu tới môi trường nước mặt trên địa bàn xã Nước mặt của xã Lai Vu đã bị ô nhiễm bởi các hợp chất hữu
cơ và chất lượng nước không đảm bảo cho việcbảo vệ đời sống của các loài sinh vật thủy sinh theo QCVN 08/A2, hầu hết các chỉ tiêu BOD5, COD, DO, NH4+ và
PO4+ đều vượt quá ngưỡng cho phép nhiều lần Mức độ ô nhiễm trong các đối tượng thủy vực khác nhau là khác nhau Trong đó các ao tự nhiên có mức độ ô nhiễm nước nghiêm trọng nhất và chất lượng nước tại các ao nuôi cá bị ô nhiễm ở mức độ nhẹ nhất Chất lượng nước mặt của xã Lai Vu cũng bị suy giảm theo thời gian, khi mà giá trị của các chỉ tiêu chất lượng nước đều tăng lên qua các năm
Nguyên nhân chính là do lượng phân thải và nước thải từ hoạt động chăn nuôi tăng lên theo số lượng lợn nuôi hàng năm trên địa bàn xã.Chất thải chăn nuôi là một trong những nguồn chủ yếu làm tăng lượng khígây hiệu ứng nhà kính Trong quá trình dự trữ, xử lý và tái sử dụng phân chuồng một lượng lớn các khí gây hiệu ứng nhà kính như CO2, CH4, N2O sẽ được phát tán vào khí quyển Trong chăn nuôi lợn, N2O (nitrous oxide) và CO2 là hai chất khí thải có khả năng gây hiệu ứng nhà kính là chủ yếu.Nghiên cứu đánh giá hiệu quả xử lý chất thải bằng bể biogas của một sốtrang trại chăn nuôi lợn vùng đồng bằng sông Hồng,
Vũ Đình Tôn và cs (2008), tiến hành tại 12 trang trại chăn nuôi lợn của ba tỉnh Hải Dương, Hưng Yên và Bắc Ninh Kết quả cho thấy, Trung bình mỗi một trang trại có lượng chất thải rắn và chất thải lỏng được thải ra hàng ngày tương đối lớn (50 - 260 kg chất thải rắn; 3 - 20 m3 nước thải) Việc sử dụng hệ thống biogas để
xử lý chất thải đã giảm thiểu đáng kể nồng độ BOD5 và COD trong nước thải: BOD5 trong nước thải ở chuồng lợn nái giảm 75,0 - 80,8 %, chuồng lợn thịt giảm 75,89 - 80,36 %; COD ở chuồng lợn nái giảm 66,85 %, ở chuồng lợn thịt
Trang 18giảm 64,94 - 69,73% Tuy nhiên, nồng độ COD sau khi xử lý qua hầm biogas vẫn còn cao hơn chỉ tiêu vệ sinh cho phép (CTVSCP) Nồng độ sulfua hoà tan giảm được đáng kể, song vẫn còn cao hơn CTVSCP từ 3,63 - 7,25 lần Nitơ tổng
số giảm 10,1 - 27,46 % Nồng độ Cl- thay đổi không đáng kể khi qua hầm biogas Nồng độ Cu2+ và Zn2+ trong nước thải sau khi đã qua hầm biogas đều nằm trong giới hạn cho phép
Với những thực trạng trên, khiến vấn đề xử lý chất thải trong chăn nuôi trở nên cấp bách hơn bao giờ hết Nó sẽ trở thành vấn nạn của ngành chăn nuôi trong thời gian tới, từ đó đặt ra vấn đề phải có biện pháp, phương thức giải quyết nó chất thải trong chăn nuôi triệt để, hạn chế tối đa ảnh hưởng của chất thải chăn nuôi đến môi trường và sức khỏe con người
2.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI CHĂN NUÔI
Có rất nhiều công nghệ xử lý chất thải chăn nuôi như:
- Sử dụng phương pháp vật lý để tách chất thải rắn - lỏng
- Sử dụng phương pháp lọc sinh học để giảm mùi và khí
- Xử lý bằng phương pháp sinh học: lên men yếm khí hoặc hiếu khí
Các công nghệ này có thể dùng riêng biệt hoặc kết hợp với nhau để cải thiện hiệu quả xử lý cũng như hiệu quả kinh tế của quá trình xử lý Các giải pháp xử lý chất thải chăn nuôi có thể được phân thành các nhóm như sau:
2.2.1 Phương pháp sinh học
a Các phương pháp ủ phân truyền thống
Ở Việt Nam, xử lý phân bằng phương pháp ủ truyền thống cũng đã được áp dụng từ rất lâu đời ở những vùng chuyên canh như vùng đồng bằng Bắc Bộ Nguyên tắc của phương pháp ủ phân truyền thống là dựa trên sự hoạt động của các loại vi sinh vật trong điều kiện yếm khí hoặc xen kẽ giữa điều kiện hiếu khí và yếm khí
Hiện tại ở Việt Nam có 3 phương pháp ủ phân bao gồm: Phương pháp ủ nóng; phương pháp ủ nguội và phương pháp ủ nóng trước nguội sau:
+ Phương pháp ủ nóng: Khi lấy phân ra khỏi chuồng để ủ, phân được xếp thành từng lớp ở nơi có nền không thấm nước, nhưng không được nén Sau đó, tưới nước phân lên, giữ độ ẩm trong đống phân 60 - 70% Có thể trộn thêm 1% với bột (tính theo khối lượng) trong trường hợp phân có nhiều chất độn Trộn
Trang 19thêm 1 - 2% supe lân để giữ đạm Sau đó trát bùn bao phủ bên ngoài đống phân Hàng ngày tưới nước phân lên đống phân
Sau 4 - 6 ngày, nhiệt độ trong đống phân có thể lên đến 600C Các loài vi sinh vật phân giải chất hữu cơ phát triển nhanh và mạnh Các loài vi sinh vật hiếu khí chiếm ưu thế Do tập đoàn vi sinh vật hoạt động mạnh cho nên nhiệt độ trong đống phân tăng nhanh và đạt mức cao Để đảm bảo cho các loài vi sinh vật hiếu khí hoạt động tốt cần giữ cho đống phân tơi, xốp, thoáng
Phương pháp ủ nóng có tác dụng tốt trong việc tiêu diệt các hạt cỏ dại, loại trừ các mầm mống sâu bệnh Thời gian ủ tương đối ngắn Chỉ 30 - 40 ngày là
ủ xong, phân ủ có thể đem sử dụng Tuy vậy, phương pháp này có nhược điểm là
để mất nhiều đạm
+ Phương pháp ủ nguội: Với phân nhiều chất xơ nên dùng phương pháp ủ nguội: Rải một lớp phân 10 - 15cm rắc một lớp lân và vôi bột, vun thành đống với độ cao từ 0,5 - 0,6m, rộng 0,8 - 1,0m, dài tùy ý sau đó nén chặt đống phân rồi trát một lớp bùn dày 1 - 2cm chỉ chừa một lỗ ở đỉnh Do bị nén chặt cho nên bên trong đống phân thiếu oxy, môi trường trở lên yếm khí, khí cacbonic trong đống phân tăng Vi sinh vật hoạt động chậm, bởi vậy nhiệt độ trong đống phân không tăng cao và chỉ ở mức 30 - 350C Đạm trong đống phân chủ yếu ở dạng amôn cacbonat, là dạng khó phân huỷ thành amoniac, nên lượng đạm bị mất giảm đi nhiều Theo phương pháp này, thời gian ủ phân phải kéo dài 5 - 6 tháng phân ủ mới dùng được Nhưng phân có chất lượng tốt hơn ủ nóng
+ Phương pháp ủ nóng trước nguội sau: Phân chuồng lấy ra xếp thành lớp không nén chặt ngay Để như vậy cho vi sinh vật hoạt động mạnh trong 5 - 6 ngày Khi nhiệt độ đạt 50 - 600C tiến hành nén chặt để chuyển đống phân sang trạng thái yếm khí Sau khi nén chặt lại xếp lớp phân chuồng khác lên, không nén chặt Để 5 - 6 ngày cho vi sinh vật hoạt động Khi đạt đến nhiệt độ 50 - 600C lại nén chặt Cứ như vậy cho đến khi đạt được độ cao cần thiết thì trát bùn phủ xung quanh đống phân Quá trình chuyểnhoá trong đống phân diễn ra như sau: Ủ nóng cho phân bắt đầu hoại, sau đó chuyển sang ủ nguội bằng cách nén chặt lớp phân
để giữ cho đạm không bị mất
Để thúc đẩy cho phân chóng hoại ở giai đoạn ủ nóng, người ta dùng một
số phân khác làm men như phân bắc, phân tằm, phân gà, vịt… Phân men được cho thêm vào lớp phân khi chưa bị nén chặt Ủ phân theo cách này có thể rút ngắn được thời gian so với cách ủ nguội, nhưng phải có thời gian dài hơn cách ủ
Trang 20nóng Tùy theo thời gian có nhu cầu sử dụng phân mà áp dụng phương pháp ủ phân thích hợp để vừa đảm bảo có phân dùng đúng lúc vừa đảm bảo được chất lượng phân
Theo dõi khả năng chuyển hóa của sản phẩm sau khi ủ của ba phương pháp này cho thấy rằng các dạng chất độn khác nhau có ảnh hưởng đến khả năng phân giải chất hữu cơ và hàm lượng đạm bị mất Cùng một phương pháp ủ nóng nếu chất độn là rơm rạ tỷ lệ chất hữu cơ bị mất sau ủ là 32,6% và tỷ lệ đạm mất khoảng 31,4% Nếu chất độn bằng than bùn thì tỷ lệ hữu cơ mất 40,0% và tỷ lệ đạm mất chỉ có 25,2% So sánh giữa ba phương pháp ủ (ủ nóng, ủ nguội và ủ nóng trước nguội sau) cho thấy ủ nóng thường dẫn đến tỷ lệ đạm bị bay hơi và chất hữu cơ bị mất sau khi ủ cao hơn so với hai phương pháp còn lại Phương pháp ủ nguội được coi là tương đối hiệu quả trong việc hạn chế tỷ lệ chất hữu cơ
bị mất và hiện tượng đạm bay hơi do bề mặt của khối ủ đã được phủ kín bằng lớp bùn dày từ 1 - 2cm
Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản dễ làm, có thể áp dụng được mọi nơi, trong gia đình hoặc ngay trên đồng ruộng Sản phẩm sau ủ là dạng phân đã hoại mục, cây trồng dễ hấp thu, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho con người
và hạn chế được sự lây lan của một số bệnh hại nguy hiểm qua tàn dư thực vật
Nhược điểm của phương pháp ủ phân truyền thống là thời gian ủ tương đối dài từ 4 - 6 tháng Trong quá trình ủ nếu không bảo quản kỹ thì tỷ lệ mất đạm cao do quá trình chuyển hóa từ NH4+ sang NH3
b Xử lý phân lợn bằng chế phẩm vi sinh
Ở nước ta việc xử lý chất thải chăn nuôi nhỏ lẻ theo phương pháp truyền thống rất đơn giản: Chất thải rắn thành thức ăn nuôi cá hoặc ủ phân bón ruộng, còn chất thải lỏng được dùng để tưới cây Tuy nhiên, quy mô chăn nuôi ngày một
mở rộng, chất thải chăn nuôi ngày một nhiều nên phương pháp xử lý truyền thống không còn thích hợp đã gây ra ô nhiễm làm ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của nhiều vùng nông thôn
Xử lý phân theo phương pháp truyền thống chỉ áp dụng cho quy mô chăn nuôi nhỏ ở quy mô hộ gia đình, không thể áp dụng tại các cơ sở chăn nuôi tập trung vì không có đủ điều kiện cơ sở hạ tầng và nhân công Phương pháp ủ nhanh
có sự trợ giúp của vi sinh vật khởi động là hướng đi đáp ứng được yêu cầu của sản xuất với quy mô trang trại chăn nuôi tập trung
Trang 21Hiện nay ứng dụng công nghệ vi sinh trong xử lý chất thải chăn nuôi đã được áp dụng ở Việt Nam Hầu hết các vi sinh vật sử dụng để xử lý phế thải chăn nuôi là các chủng VSV đa chức năng có tác dụng phân giải cellulose, protein, phân giải lân, khử mùi hôi thối vv giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường, ngoài ra sản phẩm sau ủ còn sử dụng như loại phân hữu cơ bón cho cây trồng Phân hữu cơ sản xuất theo phương pháp này không chỉ bảo đảm độ an toàn
về vệ sinh thực phẩm mà còn là một sản phẩm hàng hóa có giá trị đáp ứng yêu cầu quản lý tổng hợp dinh dưỡng cây trồng và phát triển nông nghiệp bền vững
Lê Tấn Hưng và cs (2003) đã tiến hành nghiên cứu và ứng dụng chế phẩm BIO-F để xử lý nguồn phân chuồng, biến thứ chất thải này thành phân bón hữu
cơ vi sinh Chế phẩm BIO-F là loại chế phẩm vi sinh có chứa các vi sinh vật do nhóm phân lập và tuyển chọn bao gồm: xạ khuẩn Streptomyces sp, nấm mốc Trichoderma sp và vi khuẩn Bacillussp Những vi sinh vật trên có tác dụng phân huỷ nhanh các hợp chất hữu cơ trong phân lợn, gây mất mùi hôi Phân lợn sau khi được thải ra sẽ thu gom (độ ẩm thích hợp của phân lợn là 50 - 60%), sau đó ủ với chế phẩm BIO-F Sau ba ngày, các vi sinh vật hữu ích nói trên bắt đầu phát triển mạnh, phân giải và làm mất mùi phân Nhiệt độ trong khối ủ cũng tăng lên tới 60 - 700C, tiêu diệt các vi sinh vật gây bệnh và trứng giun trong phân Sau 7 -
10 ngày, giai đoạn kết thúc và sản phẩm thu được là phân bón hữu cơ vi sinh có chất lượng cao, có tác dụng phòng chống nấm hại cây trồng
NH4 nhưng khí này ít bị bốc hơi vào không khí do hệ thống xử lý được bịt kín
Có khoảng 70% nitơ tổng số ở dạng NH4 trong nước thải sau biogas
Xử lý kỵ khí có thể sử dụng trước hoặc sau khi phân tách chất thải rắn - lỏng Ở châu Âu, các bể kỵ khí thường sử dụng nguyên liệu là chất thải rắn sau phân tách Các chất này có hàm lượng carbon cao do đó đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn trong sản sinh khí metan
Trang 22Ưu điểm của xử lý kỵ khí là tạo ra năng lượng (khí sinh học) tuy nhiên, cần có công tác quản lý tốt để duy trì hoạt động của hệ vi sinh vật (nhiệt độ, độ
ẩm, độ pH ) Ở các nước ôn đới, hệ thống xử lý kỵ khí có chi phí đầu tư cao (hơn 100.000 USD) và chi phí cho vận hành cao do cần năng lượng để duy trì nhiệt độ thích hợp Ở Nam Mỹ, bể phân huỷ được đào sâu hoặc đắp đất được phủ kín bằng vật liệu chất dẻo kín không để dò khí ra ngoài Hồ kiểu này không cần phải cấp nhiệt mà hoạt động ở nhiệt độ môi trường Thời gian lưu của loại hồ này thường nằm trong khoảng từ 30 đến 40 ngày hoặc dài hơn tuỳ thuộc vào kích thước của hồ Ở nhiệt độ trung bình từ 25 - 350C bể phân hủy hoạt động rất ổn định, giảm mùi rõ rệt, chất thải ở lối ra nhiều dinh dưỡng rất tốt để làm phân bón cho đồng ruộng, các vi khuẩn gây bệnh và mầm cỏ dại hầu như bị triệt tiêu hoàn toàn Ngoài ra, một số trang trại còn dùng khí gas sinh ra từ các bể này để thay thế cho năng lượng điện Nhiệt từ khí gas có thể dùng để sưởi cho lợn con ở cơ
sở chăn nuôi lợn Ở các nước phát triển, bể kỵ khí được sử dụng để cải thiện chất lượng phân và để giảm mùi Tuy nhiên, ở các vùng nông thôn của các nước đang phát triển, nơi nguồn năng lượng khan hiếm và chi phí cho năng lượng cao, bể xử
lý kỵ khí là nguồn bổ sung năng lượng điện và nhiệt cho trang trại
lý được các nguồn nước thải đầu vào có mức độ ô nhiễm hữu cơ không cao lắm,
có BOD dưới 500 mg/l Vì vậy nếu đưa nước sau biogas vào hồ sinh học thì trong nhiều trường hợp hồ này phải có diện tích rất lớn và nước phải được lưu thông liên tục thì mới tránh được bị phù dưỡng Điều kiện này không phải ở chỗ nào cũng thực hiện được
Thực vật nổi thu nhận các chất dinh dưỡng và các nguyên tố cần thiết qua
bộ rễ Loại này bao gồm các loại bèo như: Eichornia crasipes, valvina,
Trang 23trong môi trường nước thải Bộ rễ của bèo còn là nơi cư trú của vi khuẩn hấp thụ
và phân huỷ chất hữu cơ Trong các hồ nuôi trồng thực vật bậc cao hiệu quả khử BOD có thể đạt tới 95%, khử nitơ amoni và phốt pho đến 97% Ở Việt Nam các
hồ, ao thuỷ sinh thường sử dụng các thực vật nổi như bèo lục bình Tuy nhiên các
hồ thuỷ sinh ít được vận hành đúng cách như để bèo phát triển kín hết cả mặt hồ không có mặt thoáng để trao đổi không khí, không tạo được dòng chảy liên tục nên hiệu quả xử lý không đạt hiệu quả cao
Hiện nay một số cơ sở chăn nuôi có diện tích rộng còn xây dựng hệ thống
xử lý nước thải bằng các mương thuỷ sinh dùng bèo hoa tấm hoặc bèo hoa dâu để tận dụng được nguồn sinh khối của bèo làm thức ăn cho cá hoặc cho gia cầm Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc lợi dụng sinh khối của bèo tấm hoặc bèo hoa dâu làm thức ăn chăn nuôi vẫn bảo đảm nguồn dinh dưỡng cao lại giảm được lượng thức ăn tinh cần thiết đem lại lợi nhuận cho người chăn nuôi Sử dụng cỏ Vetivernhập ngoại để chống xói mòn đất và bảo vệ môi trường trong đó có thử nghiệm xử lý nước thải chăn nuôi lợn Cỏ Vetiver tỏ ra thích hợp cho những hồ thuỷ sinh dạng đất ngập nước, sống tốt cả 4 mùa và có năng suất xử lý dưỡng chất N và P cao
2.2.2 Phương pháp vật lý
Chất thải chăn nuôi lợn là hỗn hợp của nước, chất khoáng và các chất hữu
cơ Một số chất khoáng có thể hòa tan trong nước còn các chất khác có xu hướng lắng đọng hoặc nổi trên bề mặt Sử dụng phương pháp vật lý để phân tách chất rắn và lỏng là khâu đầu tiên trong quá trình xử l ý chất thải chăn nuôi Phân tách chất thải rắn và lỏng giúp làm giảm đáng kể hàm lượng nước trong chất thải, giảm diện tích hồ để chứa phân và tăng giá trị dinh dưỡng trong phân rắn Phần chất rắn có thể tiếp tục xử lý để tạo thành phân hữu cơ bón cho cây trồng hoặc dùng để sản sinh năng lượng Phần lớn hàm lượng phốt pho trong chất thải ở dạng phân tử rắn nên sau khi phân tách, phần chất lỏng có thể đem tưới cho cây trồng mà không gây ô nhiễm phốt pho Tuy nhiên phần chất rắn có chứa nhiều phốt pho nên cần phải xử lý trước khi đem sử dụng
Các phương pháp vật lý để phân tách chất thải rắn và lỏng bao gồm:
* Phương pháp lắng cặn: Lợi dụng sự khác nhau về tỷ trọng để tách chất rắn khỏi chất lỏng Phân lợn được đưa vào vào một bể tĩnh cho phép chất rắn lắng xuống dưới đáy Thời gian lưu biến động tùy theo đặc tính của từng loại chất thải chăn nuôi, có khi cần đến 100 phút để chất rắn tách khỏi phần nước thải
Trang 24loãng Bể chứa nước thải được đặt gần cánh đồng lọc còn bể lắng thường được đặt gần vùng cần bón phân cho cây trồng Chất thải rắn cần được lấy ra định kỳ
để duy trì hiệu quả xử lý của hệ lắng cặn và bảo đảm dung lượng xử lý Nếu bể lắng được thiết kế phù hợp và quản lí tốt, khoảng 30% nitơ và phốt pho trong nước phân lợn được tách theo chất rắn
* Phương pháp sử dụng máy tách chất rắn: Các thiết bị thường được dùng
để tách chất rắn ra khỏi hỗn hợp chất thải chăn nuôi Có hai loại thiết bị được chế tạo theo hai nguyên lý khác nhau là máy ép trục vít và máy ly tâm Thông thường, máy ly tâm tách nước tốt hơn máy ép trục vít nhưng vận hành và bảo dưỡng phức tạp hơn, chi phí cho vận hành cao do tiêu tốn nhiều năng lượng nên
ít được ứng dụng trong thực tế
* Phương pháp lọc: Thiết bị lọc có thể là màng lọc hay chất đệm lọc thông thường như rơm Đệm rơm có độ dày 5cm rải trên nền xi măng trong nhà chứa chất thải, sau đó nước phân lợn được bơm vào và đổ trên bề mặt đệm rơm Các phân tử rắn sẽ được giữ lại trên bề mặt đệm rơm, chất lỏng sau khi lọc được đưa vào bể chứa Sau 4 tuần vận hành, khi khả năng lọc của đệm rơm đã giảm do tích lũy nhiều chất thải rắn trên bề mặt, đệm rơm và chất thải rắn được đem xử lý như đối với chất thải rắn Melse và Verdoes (2005) đã đánh giá các hệ thống xử lý chất thải lỏng tại trang trại chăn nuôi lợn ở Hà Lan trong đó hệ thống sử dụng đệm rơm có chi phí đầu tư và chi phí vận hành thấp nhất Hàm lượng phốt pho trong nước phân giảm từ 1,8g/kg xuống còn dưới 0.001g/kg
2.2.3 Xử lý bằng phương pháp hoá học
Một phương pháp khác được dùng để tách chất thải rắn và lỏng chính là phương pháp hoá học Các chất điện ly đơn giản hoặc các chất điện ly polyme có thể bơm và trộn cùng với hỗn hợp chất thải Các tác giả đã tìm ra rằng hiệu quả tách chất rắn có thể tăng tới 82% nếu như chất điện ly được cho vào hỗn hợp chất thải trước khi tách cơ học Hầu hết các hoá chất thường được dùng để keo tụ và kết bông các phân tử rắn trong hỗn hợp chất thải là các chất polyme như polyacrylamide và các muối kim loại như sắt clorua, muối nhôm và vôi Các chất này làm tăng đáng kể tính kỵ nước của phân và làm cho các chất rắn liên kết với nhau tạo ra các phân tử có kích thước lớn hơn và kết lắng nhanh hơn
Khi tăng pH của hỗn hợp phân chuồng lên 12 trong vòng 30 phút sẽ tiêu diệt phần lớn các vi sinh vật sống trong phân Kết quả là sẽ làm giảm thiểu sự
Trang 25(Ca(OH)2) thường được dùng cho mục đích này Tuy nhiên việc xử lý này làm mất một phần amoni trong phân và cần phải quan tâm tới an toàn laođộng khi tiếp xúc với hoá chất
2.3 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ XỬ LÝ CHẤT THẢI TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.3.1 Nghiên cứu ngoài nước
Chăn nuôi hiện nay là một trong những ngành có vai trò rất lớn trong việc góp phần làm biến đổi về khí hậu và môi trường Vì vậy, để giảm thiểu các khí thải nhà kính và các chất thải thì các nhà nghiên cứu cần phải tìmra các giải pháp mới cho các chuồng trại chăn nuôi để phù hợp với sự biến đổi khí hậu và đặc biệt làm giảm ô nhiễm môi trường
Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của các kiểu chuồng đến sự thải amoniac
và hàm lượng amoniac trong chuồng (Bhamidi-marri and Pandey, 1996) Các tác giả đã báo cáo rằng, kiểu chuồng nuôi lợn đã ảnh hưởng tới nồng độ khí NH3 thải
ra Nồng độ khí NH3 thấp nhất (10ppm) đã đo được ở nhóm lợn nuôi trên lớp độn lót nền rơm lúa mạch dày và được thay hàng tuần so với nhóm nuôi sàn và nuôi nền bê tông Blanes-Vidal et al (2008) cho biết, nền chuồng bổ sung rơm lúa mạch hoặc thân cây ngô ủ có tác dụng làm giảm sự thải NH3 ra môi trường, tuy nhiên sự thải CH4 không bị ảnh hưởng khi bổ sung rơm, than cây ngô ủ hoặc thân
gỗ nghiền nhỏ Sự giảm tốc độ thải khí ammoniac theo các tác giả là do sự hình thành một lớp hàng rào che phủ phía trên ngăn cản khí NH3 bốc hơi Việc bổ sung chất độn lót cũng làm giảm pH của phân từ đó làm giảm sự thải NH3
Chăn nuôi quy mô công nghiệp hiện nay đang đặt ra một vấn đề về khía cạnh ”Quyền lợi của động vật” Nhiều nghiên cứu cho rằng, những xung đột ”xã hội” trong chuồng lợn do chuồng nuôi quá chật chội hay do ghép đàn hoặc do thiếu các chất độn lót nền là những nhược điểm của phương thức nuôi công nghiệp Điều này được phản ánh qua tỷ lệ gia súc mắc các bệnh tổn thương về
da, cắn đuôi, stress cao và năng suất chăn nuôi thấp (Beattie et al., 2000) Vì vậy, kiểu chuồng nuôi với lớp độn lót nền dày đã trở nên phổ biến ở nhiều nước từ như là phương thức chăn nuôi tiết kiệm chi phí so với các phương thức truyền thống với nền cứng (bê tông, sắt hoặc nhựa) Việc sử dụng mùn cưa và các nguyên liệu khác như rơm lúa mạch, lõi ngô, gỗ nghiền để hấp thụ phân, nước tiểu, giảm mùi tương và đặc biệt là cung cấp cho vật nuôi một môi trường sống thoải mái, gần với tự nhiên hơn đã được nhiều trang trại áp dụng ở nhiều nước
Trang 26như Đài Loan, Hongkong, Nhật Bản, Newzealand, Hà Lan (Hong et al., 1997; Corrêa et al., 2000) Một số nghiên cứu đã báo cáo rằng, với mô hình chăn nuôi này, lượng phân trong chuồng giảm rõ rệt do bị phân hủy nhanh, đồng thời tăng
sự tích tụ một số chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng như N, phospho, potassium và sinh khối vi sinh vật (Cheung et al., 1983)
Bên cạnh đó, rất nhiều nghiên cứu đã cho thấy, lợn sử dụng 80% thời gian của chúng để nằm (Ekkel et al., 2003) Việc sử dụng các chất độn lót nền chuồng có liên quan đặc biệt tới sự thoải mái và tập tính tự nhiên của con lợn Các chất độn lót như rơm, mùn cưa có ảnh hưởng rõ rệt đến sự giảm tình trạng stress của lợn khi so sánh với phương pháp nuôi nền bê tông (Beattie et al., 1995)
2.3.2 Nghiên cứu xử lý chất thải chăn nuôi trong nước
Đã có rất nhiều các nghiên cứu cũng như đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường do chăn nuôi gây ra Các nghiên cứu trong nước chủ yếu tập trung vào các biện pháp xử lý chất thải chăn nuôi Có thể kể đến như:
Xử lý nước thải chăn nuôi bằng phương pháp cơ học nhằm mục đích tách các chất không hòa tan và các chất dạng keo ra khỏi nước Xử lý bằng phương pháp cơ học chỉ là bước đầu chuẩn bị cho xử lý sinh học Trong phương pháp này thường trải qua các giai đoạn sau:
- Bể lắng để tách các chất lơ lửng có trọng lượng riêng lớn hơn trọng lượng riêng của nước
- Bể lọc nhằm tách các chất ở trạng thái lơ lửng có kích thước nhỏ
Phương pháp cơ học có thể loại bỏ 60% các tạp chất không hòa tan có trong nước thải và giảm BOD đến 20% Đây là giai đoạn xử lý sơ bộ trong công đoạn xử lý hoàn chỉnh
Nghiên cứu xử lý nước thải chăn nuôi bằng phương pháp lý, hóa như: sử dụng các chất có khả năng oxi hóa kỵ khí để khử ammonium trong nước thải chăn nuôi (anammox system) (Phạm Khắc Liệu và cs., 2005; Lê Công Nhất Phương và cs., 2007; 2011)
Nghiên cứu xử lý chất thải chăn nuôi bằng phương pháp sinh học: là quá trình phân giải các hợp chất hữu cơ chứa trong nước thải bằng hệ sinh vật với nhiều chủng loại Hiện nay các chất thải rắn trong chăn nuôi ở Việt Nam, được
xử lý chủ yếu là ủ nóng và hầm biogas Trong khi đó, các chất thải lỏng 30% được xử lý qua hầm biogas, 30% được xử lý qua hồ sinh học và 40% sử dụng trực tiếp để tưới hoa màu, nuôi cá hoặc đổ trực tiếp vào hệ thống thoát nước chung của cộng đồng (Đào Lệ Hằng, 2009) Thực tế cho thấy, số lượng đầu vật
Trang 27nuôi tăng đã làm tăng khối lượng chất thải chăn nuôi, đây là nguồn nguyên liệu tiềm năng cho xử lý và sản xuất khí biogas Hiện nay có khoảng 30.000 công trình biogas du nhập vào nước ta có cải tiến công nghệ Biogas trên thế giới (Nguyễn Quang Khải, 2002) Lượng khí biogas sinh ra được dùng để phục vụ nhu cầu của chính trang trại như đun, chạy máy phát điện, sưởi ấm cho lợn và thắp sáng Lượng chất thải rắn sau khi xử lý bằng phương pháp ủ, 100% được dùng để bón cây Trong khi đó phần lớn chất thải rắn không được xử lýchiếm tới 79,69% Lượng chất thải rắn không được xử lý phần lớn được đưa xuống ao nuôi
cá chiếm tới 56,14%, dùng để bán chiếm 35,66% và tỉ lệ thấp nhất dành cho bón cây chiếm 8,2% (Vũ Đình Tôn và cs., 2009)
Tuy nhiên, phương pháp này còn gặp phải một số khó khăn như: Vốn đầu tư phát triển hệ thống biogas cho các trang trại còn thiếu, nhiều trang trại chăn nuôi qui mô nhỏ, diện tích hạn hẹp, nhà chăn nuôi chưa nắm bắt ích lợi quan trọng của qui trình xử lý chất thải, luật về bảo vệ môi trường áp dụng cho chăn nuôi chưa thống nhất (Vũ Đình Tôn và cs., 2008; Dương Nguyên Khang, 2009; Đỗ Thành Nam, 2009)
Nghiên cứu ứng dụng các chế phẩm sinh học trong chăn nuôi và xử lý chất thải: Một trong những chế phẩm được biết đến sớm nhất là chế phẩm vi sinh EM (Effective Microoganisms) có nguồn gốc từ Nhật Bản Chế phẩm EM có từ 80 –
125 loài vi sinh vật khác nhau bao gồm các loại vi khuẩn (quang hợp cố định đạm, vi khuẩn lactic, axid acetid …), các loại xạ khuẩn nấm men, nấm sợi … Theo các tác giả: Phùng Thị Vân và cs., 2004; Lê Khắc Quảng, 2004; Nguyễn Xuân Bách, 2004; Bùi Hữu Đoàn, 2009 cho biết một số nghiên cứu sử dụng EM trong chăn nuôi có tác dụng khử mùi hôi, ruồi, muỗi, ve gây bệnh, cải thiện sức khỏe gia súc và chất lượng sản phẩm Đối với chế phẩm EM, do không nhận được giống gốc, không biết cụ thể thành phần các chủng vi sinh vật cụ thể trong chế phẩm nên không đảm bảo sự nhân truyền giống tốt và nhiều lí do khác mà chế phẩm EM đã không duy trì được những hiệu quả tác dụng ban đầu Hiện nay
sử dụng trên thị trường có chăng chỉ là phiên bản của nó và thực tế không đem lại hiệu quả như mong muốn Vì vậy các nhà khoa học đã nghiên cứu chế tạo các chế phẩm khác trên nguyên lý của chế phẩm EM Các tác giả Lê Tấn Hưng và cs., 2003; Võ Thị Hạnh và cs., 2004), VEM và BIO-F (Võ Thị Hạnh và cs., 2004); Viện sinh học nhiệt đới, 2005 đã nghiêm cứu và đưa ra được một số loại chế phẩm có thể kể đến như: Chế phẩm BIO II gồm hỗn hợp vi sinh vật sống và enzyme tiêu hóa
Trang 28Một số chế phẩm sinh học khác cũng đã được nghiên cứu sử dụng trong
xử lý chất thải chăn nuôi như OPENAMIX – LSC (Trần Thanh Nhã, 2009); chế phẩm De-odorase 30% (Phùng Thị Vân và cs., 2004) Nguyễn Đăng Vang và cs (2000) đã tiến hành bổ sung chế phẩm Micro – Aid vào thức ăn để giảm mùi hôi thối ở phân
Gần đây là nghiên cứu sử dụng chế phẩm vi sinh tổng hợp BALASA N01
để làm đệm lót lên men trong chăn nuôi lợn và gà nhằm mục đích xử lý chất thải, giảm mùi và nâng cao hiệu quả chăn nuôi
Về hiệu quả tác động của đệm lót lên men đến môi trường chăn nuôi cũng như sinh trưởng của vật nuôi đã được nghiên cứu trong những năm gần đây Các tác giả Đỗ Quang Đại (2011), Vũ Gia Doanh (2012) đã báo cáo kết quả sử dụng chế phẩm BALASA-N01 làm đệm lót lên men trong chăn nuôi lợn thịt tại Tân Yên, Bắc Giang trong việc làm giảm các nồng độ khí độc trong chuồng nuôi như
NH3, CO2…từ 3,99-8,77 lần so với lô đối chứng và ở trong ngưỡng cho phép Theo Lại Thị Nhung (2013), sử dụng chế phẩm BALASA-N01 để làm đệm lót lên men trong chăn nuôi lợn thịt tại Kim Bảng, Hà Nam cũng đã giảm nồng độ khí độc trong chuồng nuôi như NH3 từ 2,43-3,98 lần so với lô đối chứng; Nồng
độ khí H2S giảm từ 1,75-4,88 lần so với lô đối chứng
Các tác giả Lương Đức Kiên (2011), Trần Thanh Xuân (2012) đã sử dụng chế phẩm BALASA N01 trong chăn nuôi gà thịt tại xã Liên Chung, Bắc Giang
và xã Thanh Bình, Chương Mỹ, Hà Nội cho biết, độ ẩm không khí chuồng nuôi cũng như nồng độ các khí NH3, H2S và CO2 của lô sử dụng đệm lót lên men đều thấp hơn so với lô đối chứng
Trên đối tượng gà đẻ, các tác giả Đỗ Thị Thu Hường (2011) và Trương Văn Bằng (2012) cũng báo cáo kết quả sử dụng chế phẩm BALASA N01 để làm đệm lót trong chăn nuôi gà đẻ trứng với hiệu quả cải thiện tiểu khí hậu chuồng nuôi như giảm nồng độ khí độc NH3 từ 1,2-4,0 lần so với đối chứng Các tác giả đều cho biết phương thức chăn nuôi trên đệm lót lên men với chế phẩm BALASA N01 đều không ảnh hưởng tới năng suất và hiệu quả chăn nuôi của cà hai đối tượng lợn và gà
2.4 GIỚI THIỆU PHƯƠNG PHÁP CHĂN NUÔI TRÊN ĐỆM LÓT SINH HỌC (ĐỆM LÓT LÊN MEN VI SINH VẬT)
Hiện nay trên thế giới đã áp dụng nhiều phương thức chăn nuôi như chăn nuôi hữu cơ, chăn nuôi an toàn sinh học … và mới đây là công nghệ chăn nuôi
Trang 29chuồng Với công nghệ này toàn bộ phân và nước tiểu nhanh chóng được vi sinh vật phân giải và chuyển thành nguồn thức ăn protein sinh học cho chính gia súc Hơn nữa, chăn nuôi theo công nghệ này không phải dùng nước rửa chuồng và tắm cho gia súc nên không có nước thải từ chuồng nuôi gây ô nhiễm nguồn nước
và môi trường xung quanh Trong chuồng nuôi không có mùi hôi thối vì vi sinh vật hữu ích trong chế phẩm sử dụng đã cạnh tranh và tiêu diệt hết các vi sinh vật
có hại và sinh mùi khó chịu Vì không sử dụng nước rửa và tắm cho gia súc nên trong chuồng không có chỗ cho muỗi sinh sôi và vì vi sinh vật nhanh chóng phân giải phân nên cũng không có chỗ cho ruồi đẻ trứng Nhờ hệ vi sinh vật hữu ích tạo được bức tường lửa ngăn chăn các vi sinh vật gây bệnhnên chăn nuôi theo công nghệ này hạn chế được tới mức thấp nhất sự lây lan bệnh tật giữa gia súc với nhau cũng như giữa gia súc với người
Cũng nhờ những lợi thế về mặt vệ sinh và môi trường trên mà sản phẩm chăn nuôi có độ vệ sinh an toàn thực phẩm rất cao Hơn nữa chất lượng sản phẩm rất tốt nhờ đảm được các điều kiện tốt nhất về Quyền động vật (animal welfare), con vật được vận động nhiều, không bị stress hay bệnh tật, lại tiêu hóa và hấp thu được nhiều axit amin Thịt mềm, có màu, mùi và vị ngọt tự nhiên nên được người tiêu dùng đánh giá cao
Về mặt kinh tế, đây là một công nghệ đưa lại hiệu quả cao nhờ tiết kiệm được 80% nước dùng (chỉ dùng nước cho uống và phun giữ ẩm), tiết kiệm được 60% sức lao động chăn nuôi (không phải tắm cho gia súc, không phải rửa chuồng và dọn phân), tiết kiệm được 10% thức ăn (nhờ lợn ăn được nguồn vi sinh vật sinh ra trong độn lót không những cung cấp nguồn protein chất lượng cao về dinh dưỡng và còn là một nguồn probiotics có tác dụng kích thích tiêu hóa và kích thích vi sinh vật có lợi trong đường ruột phát triển), giảm thiểu được chi phí thuốc thú y (do lợn ít khi bị bệnh và chết) Theo tính toán ở Trung Quốc thì mỗi con lợn thịt chăn nuôi theo công nghệ này tiết kiệm được khoảng 150 tệ (khoảng 400.000 VNĐ) Đó là chưa tính đến khả năng bán được các sản phẩm chăn nuôi sinh thái với giá cao hơn bình thường Vấn đề ô nhiễm môi trường do chăn nuôi đang được cả thế giới và trong nước ngày càng quan tâm Do vậy việc áp dụng công nghệ chăn nuôi sinh thái này là hết sức có ý nghĩa Trước khi áp dụng, việc kiểm chứng những lợi ích về mặt năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế của phương pháp chăn nuôi này trong điều kiện Việt Nam là cần thiết
Trang 302.4.1 Nguyên ký cơ bản của kỹ thuật chăn nuôi sử dụng đệm lót vi sinh vật
Nguyên lý cơ bản của phương pháp chăn nuôi trên đệm lót vi sinh vật là đảm bảo quyền sống của động vật, đem lại lợi ích trực tiếp cho động vật nuôi, đó
là tạo một môi trường trong sạch không ô nhiễm, gần với tự nhiên làm khôi phục bản năng sống tự nhiên của chúng: tự do đi lại chạy nhẩy, đào bới…do đó chúng
có được tâm trạng thoải mái, không có áp lực về tâm lý, giảm căng thẳng (stress), tăng cường dinh dưỡng (nhờ được cung cấp một nguồn protein vi sinh vật có giá trị trong đệm lót) do đó tăng được tỷ lệ tiêu hóa hấp thu, tăng sức đề kháng, tăng sinh trưởng và sinh sản… Đó chính là thiết lập một môi trường chăn nuôi có được sự cân bằng sinh thái
2.4.2 Cơ chế hoạt động của đệm lót lên men trong xử lý chất thải
Thành phần cơ bản của đệm lót lên men bao gồm: các chủng loại VSV
có lợi đã được tuyển chọn + nguyên liệu làm chất độn (chất xơ)
+ Vai trò của các chủng loại VSV:
- Tạo ra các hợp chất hữu cơ như rượu, axit có tác dụng giữ cho đệm lót ở
độ pH ổn định, có lợi cho vi sinh vật có ích và không có lợi cho các vi sinh vật gây bệnh trong đệm lót
- Phân giải mạnh và đồng hóa tốt: các thành phần có trong chất thải động vật để chuyển hóa thành các chất vô hại thành các protein của bản thân các vi sinh vật có ích
- Sử dụng các thành phần khí thải gây độc hại: sử dụng khí thải để sinh trưởng phát triển và khử được khí độc ở chuồng nuôi (tổng hợp protein từ nguồn dinh dưỡng là NH3, NH4+; oxi hóa NH3, NH4+ thành NO2 và NO3; sử dụng hoặc oxi hóa H2S thành các muối sunfat)
- Ức chế các vi khuẩn có hại, vi khuẩn gây thối rữa Chlostridium perfringens, các vi khuẩn gây bệnh đường ruột E.coli, Salmonella… do có khả năng sản sinh ra các các chất kháng vi khuẩn như axit lactic, axit axetic, rượu ethylic, ester, H2O2, bacterioxin
Bên cạnh đó các chủng VSV phải có khả năng thích ứng cao trong những điều kiện biến đổi của ngoại cảnh (nhiệt độ cao và độ axit cao), đồng thời phải quan hệ cộng sinh, cộng tồn do đó tạo nên sự cân bằng sinh thái ổn định
+ Vai trò của nguyên liệu làm đệm lót:
Tạo ra môi trường sống cho hệ VSV Yêu cầu của nguyên liệu phải có thành phần xơ cao, không độc và không gây kích thích Đặc biệt nguyên liệu phải
Trang 31bền vững với sự phân giải của VSV, đảm bảo thời gian sử dụng kéo dài Các loại chất độn xếp theo thứ tự về chất lượng là: mùn cưa, thóc lép nghiền, trấu, vỏ hạt bông, vỏ lạc, thân cây bông, lõi ngô, thân cây ngô…
Khi sử dụng, đệm lót VSV sẽ tạo ra vòng tuần hoàn sinh vật Gia súc thải phân, nước tiểu trên đệm lót sẽ cung cấp dinh dưỡng cho VSV sử dụng Đồng thời, VSV phân giải phân và nước tiểu tạo thành các chất trao đổi và protein của bản thân chúng, cung cấp dinh dưỡng làm tăng dinh dưỡng cho gia súc; trợ giúp quá trình tiêu hóa, nâng cao miễn dịch cho con vật sử dụng VSV sinh trưởng phát triển ở mức độ nhất định đảm bảo sinh ra một nhiệt lượng nhất định để tránh sinh nhiệt lớn trong mùa hè, nhưng cũng đảm bảo nhiệt cung cấp đủ ấm cho động vật nuôi trong mùa đông Vòng tuần hoàn được luân chuyển trong thời gian dài tạo ra một môi trường không chất thải
Trang 32PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Đối tượng
- Lợn thịt thương phẩm: lợn lai (PiDu x LY)
- Đệm lót lên men với chế phẩm BALASA N01 (công ty Minh –Tuấn, Trâu Quy-Gia Lâm, Hà Nội cung cấp)
3.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Nghiên cứu được triển khai ở trang trại của ông Nguyễn Văn Nghiệp tại thôn Đồng Tâm - xã Thường Thắng - huyện Hiệp Hòa - tỉnh Bắc Giang
- Thời gian tiến hành thí nghiệm từ tháng 2/2016 – 8/2016
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.2.1 Đánh giá một số chỉ tiêu kỹ thuật của đệm lót lên men
- Độ ẩm, nhiệt độ và số lượng VSV hiếu khí tổng số của đệm lót
3.2.2 Đánh giá một số chỉ tiêu về tiểu khí hậu chuồng nuôi
Nhiệt độ, độ ẩm không khí chuồng nuôi
Nồng độ một số khí độc: NH3, CO2, H2S
3.2.3 Đánh giá hiệu quả của chăn nuôi lợn thịt trên đệm lót lên men
Khả năng sinh trưởng phát triển qua các chỉ tiêu: tăng khối lượng, hiệu quả sử dụng thức ăn
Khả năng kháng bệnh của lợn khi nuôi trên đệm lót lên men: thân nhiệt, Tần số hô hấp, Tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ chết
Ước tính sơ bộ hiệu quả chăn nuôi
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.3.1 Vật liệu nghiên cứu
- Chế phẩm sinh học BALASA N01 được cung cấp bởi Cơ sở sản xuất Minh Tuấn, Trâu Quỳ - Gia Lâm - Hà Nội
- Trấu và mùn cưa dùng làm đệm lót với tỷ lệ 1:1
3.3.2 Bố trí thí nghiệm
Tổng số 48 con lợn ngoại lai (PiDu x LY) với tỷ lệ đực: cái là 2:1 Thí nghiệm được bố trí vào thí nghiệm vào vụ xuân hè, thời gian bắt đầu từ tháng 3 đến hết tháng 5/2016
Trang 33Bố trí thí nghiệm theo phương pháp phân lô so sánh: lô thí nghiệm và lô đối chứng mỗi lô 8 con theo bảng 3.1
(sau cai sữa -60 kg)
90 ngày (sau cai sữa – 60kg)
Điều kiện thí nghiệm giống nhau:
- Kiểu chuồng nuôi: chuồng thoáng có kết hợp bạt che
- Thức ăn được sử dụng theo khuyến cáo của Công ty Greenfeed Tùy các giai đoạn sinh trưởng khác nhau mà sử dụng các loại thức ăn GF02, GF03, GF04
Cả hai lô đều dùng loại thức ăn giống nhau và lượng sử dụng cũng như nhau
- Phương thức cho ăn và phương thức cho uống nước là tự do
- Lợn nuôi thịt đều được tiêm phòng vaccine, tẩy giun sán, đảm bảo vệ sinh, chăm sóc, phòng bệnh như nhau
- Các lô đều đảm bảo đồng đều về khối lượng cơ thể bắt đầu nuôi thịt, chế
độ nuôi dưỡng, mật độ
- Điều kiện khác nhau: Lô thí nghiệm nuôi trên đệm lót lên men; lô đối chứng nuôi trên nền xi măng
3.3.3 Phương pháp làm đệm lót lên men
Đệm lót lên men sử dụng trong thí nghiệm được làm theo hướng dẫn của Tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới với “Chế phẩm sinh học BALASA-N01” và
“Quy trình sử dụng chế phẩm BALASA-N01 để làm đệm lót lên men trong chăn nuôi” Quyết định số 263/QĐ-CN-MTCN ngày 9/10/2013
3.3.4 Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi
a Đo hàm lượng một số khí trong chuồng nuôi:
- Khí CO2 đo bằng máy đo khí độc IBRIDTM MX6 của Mỹ
Trang 34Phạm vi đo: Carbon Dioxide (CO2) từ 0 đến 5% VOL độ nhậy 0,01%
- Khí NH3: sử dụng kít đo thương mại của hãng Komyo Rikagaku Kitagawa, Nhật (KITAGAMA - Gas detector tube system)DT 105SD giải đo từ 0,2-20ppm
- Khí H2S: Sử dụng phương pháp so màu quang điện Đo tại Phòng TN phân tích môi trường, Trung tâm nghiên cứu quan trắc và mô hình hóa môi trường, 334 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
Điểm xác định hàm lượng các khí được xác định ở cách bề mặt đệm lót khoảng 50 cm (hoặc ngang đầu lợn) Đo ở các vị trí: 4 góc và giữa chuồng, để lấy giá trị trung bình (Shao-Y Sheen, 2005) Đo vào buổi sáng trước khi cho ăn; Mỗi tháng đo 1 lần vào giữa tháng Mỗi lần đo 3 ngày liên tiếp
b.Đo độ ẩm, nhiệt độ không khí trong chuồng nuôi:
Sử dụng máy đo đa thông số LM – 8010 (Đài Loan)
- Thang đo độ ẩm : 10 ~ 95%
- Thang đo nhiệt độ : 0 ~ 50oC
Nhiệt độ và độ ẩm không khí được xác định hàng ngày ở cách bề mặt đệm lót khoảng 50 cm (hoặc ngang đầu lợn) Đo ở thời điểm sáng từ 6-7h, trưa từ 11-12h, chiều từ 5-6h và tối từ 10-11h, từ đó tính nhiệt độ, độ ẩm trung bình trong ngày và trong tháng
c Đo nhiệt độ và độ ẩm của lớp độn lót lên men vi sinh vật:
- Nhiệt độ: sử dụng nhiệt kế thủy ngân thang nhiệt độ từ 0-100oC
- Độ ẩm của lớp độn lót nền: Xác định bằng phương pháp sấy ở 105oC đến khối lượng không đổi
Đo nhiệt độ và độ ẩm đệm lót được xác định ở lớp bề mặt và ở độ sâu cách mặt đệm lót 20 cm Nhiệt độ, độ ẩm của đệm lót được theo dõi vào các thời điểm: Giai đoạn làm đệm lót xác định trong 5 ngày liên tiếp; Sau khi thả lợn mỗi tháng xác định 3 đợt gồm đầu tháng, giữa tháng và cuối tháng Mỗi đợt xác định
5 ngày liên tiếp cho đến khi xuất chuồng (thời gian 3 tháng) Vị trí đặt máy đo: giữa chuồng, ngang đầu lợn (Akyuz và Boyaci, 2010)
d Số lượng vi sinh vật tổng số của lớp độn lót:
Sau khi thả lợn mỗi tháng lấy mẫu 3 lần vào đầu, giữa và cuối tháng Mẫu