1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

hiện trạng chăn nuôi bò thịt và nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian nuôi vỗ béo đến năng suất và chất lượng thịt bò lai sind tại điện biên

72 151 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Nội dung 1: Điều tra khảo sát thực trạng chăn nuôi bò và tình hình sử dụng phụ phẩm nông nghiệp trong chăn nuôi bò tại khu vực nghiên cứu - Nội dung 2: Ảnh hưởng của thời gian vỗ béo đ

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

VŨ MINH TUẤN

HIỆN TRẠNG CHĂN NUÔI BÒ THỊT VÀ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN NUÔI VỖ BÉO ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG THỊT BÒ LAI SIND

TẠI ĐIỆN BIÊN

Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Kim Cương

PGS TS Bùi Quang Tuấn

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả thu được là do bản thân trực tiếp theo dõi, thu thập với một thái độ hoàn toàn khách quan trung thực Các tài liệu đã trích dẫn của các tác giả đều được liệt kê đầy đủ, không sao chép bất cứ tài liệu nào mà không có trích dẫn

Hà Nội, ngày 05 tháng 10 năm 2016

Tác giả luận văn

Vũ Minh Tuấn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn nghiên cứu này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của các thầy cô giáo khoa Chăn Nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam cũng như các đồng nghiệp và người thân

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới TS Phạm Kim Cương, bộ môn Dinh dưỡng và Thức ăn chăn nuôi, Viện Chăn nuôi; PGS.TS Bùi Quang Tuấn trưởng bộ môn dinh dưỡng thức ăn, khoa Chăn Nuôi, Học Viện Nông nghiệp Việt Nam, đã luôn tạo điều kiện giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt thời gian học tập, thực hiện luận văn

Bên cạnh đó, tôi cũng gửi lời cám ơn chân thành và sâu sắc tới các bạn bè, đồng nghiệp, các thầy cô giáo đang công tác tại khoa Chăn nuôi – Học viện Nông Nghiệp Việt Nam, Trung tâm Phát triển chăn nuôi Điện Biên đã luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi, sẵn lòng giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài này

Cuối cùng cho phép tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới những người thân trong gia đình, những người đã mang lại cho tôi sự tự tin ngày hôm nay

Hà Nội, ngày 05 tháng 10 năm 2016

Tác giả luận văn

Vũ Minh Tuấn

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục sơ đồ, biểu đồ viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 3

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

2.1.1 Đặc điểm cơ bản về tiêu hoá ở dạ cỏ của động vật nhai lại 3

2.1.2 Quá trình tiêu hóa thức ăn và trao đổi chất trong dạ cỏ của động vật nhai lại 5

2.1.3 Quá trình tổng hợp vi sinh vật trong dạ cỏ 9

2.2 Một số chỉ tiêu và phương pháp đánh giá khả năng sinh trưởng và cho thịt của bò 12

2.3 Chất lượng thịt và các yếu tố ảnh hưởng chất lượng thịt bò 14

2.3.1 Màu sắc của thịt bò 14

2.3.2 Khả năng giữ nước của thịt bò 15

2.3.3 Độ pH của thịt bò 16

2.3.4 Độ dai của thịt bò 16

2.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng thịt bò 17

2.4 Thức ăn bổ sung cho gia súc nhai lại ăn khẩu phần cơ sở là rơm 18

2.4.1 Bổ sung nitơ phi protein (NPN) 19

2.4.2 Bổ sung các axit béo đồng phân có 4 và 5 carbon 20

2.4.3 Bổ sung protein "thoát qua" (escape protein) 21

2.5 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 23

2.5.1 Tình hình nguyên cứu trong nước 23

Trang 5

2.5.2 Tình hình nguyên cứu ngoài nước 26

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 28

3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 28

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 28

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 28

3.1.3 Thời gian nghiên cứu 28

3.2 Nội dung nghiên cứu 28

3.2.1 Điều tra khảo sát thực trạng chăn nuôi bò và tình hình sử dụng phụ phẩm nông nghiệp trong chăn nuôi bò tại khu vực nghiên cứu 28

3.2.2 Ảnh hưởng của thời gian vỗ béo đến năng suất và chất lượng thịt 28

3.3 Phương pháp nghiên cứu 28

3.3.1 Phân tích thành phần hóa học 28

3.3.2 Thí nghiệm in vitro gas production 29

3.3.3 Thực trạng chăn nuôi bò và tình hình sử dụng phụ phẩm nông nghiệp trong chăn nuôi bò tại khu vực nghiên cứu 29

3.3.4 Thí nghiệm vỗ béo bò Lai Sind với các thời gian vỗ béo khác nhau 30

3.3.5 Đánh giá năng suất và chất lượng thịt bò 31

3.3.6 Xử lý số liệu 32

Phần 4 Kết quả và thảo luận 33

4.1 Điều tra khảo sát thực trạng chăn nuôi bò và tình hình sử dụng phụ phẩm nông nghiệp trong chăn nuôi bò tại khu vực nghiên cứu 33

4.1.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp của xã Thanh Yên, huyện Điện Biên 33

4.1.2 Tình hình phát triển chăn nuôi của xã Thanh Yên 34

4.1.3 Quy mô chăn nuôi bò 35

4.1.4 Phương thức chăn nuôi bò 36

4.1.5 Ước tính tiềm năng phụ phẩm nông nghiệp có thể sử dụng chăn nuôi bò 37

4.2 Ảnh hường của thời gian vỗ béo đến năng suất và chất lượng thịt của bò thí nghiệm 38

4.2.1 Giá trị dinh dưỡng của thức ăn tinh và rơm ủ urê 38

4.2.2 Tốc độ và đặc điểm sinh khí khi lên men in vitro gas production thức ăn vỗ béo 39

4.2.3 Khả năng thu nhận thức ăn của đàn bò thí nghiệm 41

Trang 6

4.2.4 Khối lượng, khả năng tăng khối lượng và hiệu quả sử dụng thức ăn của

bò trong thời gian thí nghiệm 42

4.2.5 Đánh giá năng suất và chất lượng thịt bò sau từng đợt thí nghiệm 45

4.2.6 Chất lượng thịt bò vỗ béo 48

4.3 Sơ bộ tính toán hiệu quả kinh tế vỗ béo bò 50

Phần 5 Kết luận và đề nghị 52

5.1 Kết luận 52

5.2 Đề nghị 52

Tài liệu tham khảo 53

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Ảnh hưởng của việc bổ sung urê vào khẩu phần rơm lúa mì không

xử lý và xử lý NaOH đến vật chất khô ăn vào và tiêu hoá vật chất

khô ở cừu 20

Bảng 2.2 Năng suất của bò tơ ăn khẩu phần hạn chế là rơm lúa mì nghiền có bổ sung urê và bột cá ở mức cao và thấp 22

Bảng 3.1 Sơ đồ thí nghiệm 30

Bảng 3.2 Tỷ lệ phối trộn và giá trị dinh dưỡng hỗn hợp thức ăn tinh 31

Bảng 4.1 Cơ cấu cây trồng chính của xã Thanh Yên, huyện Điện Biên năm 2015 33

Bảng 4.2 Số lượng và tốc độ phát triển đàn bò của xã Thanh Yên, huyện Điện Biên 34

Bảng 4.3 Quy mô chăn nuôi bò của xã Thanh Yên 35

Bảng 4.4 Phương thức chăn nuôi bò xã Thanh Yên 36

Bảng 4.5 Khối lượng phụ phẩm từ trồng trọt của xã Thanh Yên 37

Bảng 4.6 Giá trị dinh dưỡng của thức ăn vỗ béo 39

Bảng 4.7 Tốc độ và đặc điểm sinh khí in vitro gas production thức ăn vỗ béo 40

Bảng 4.8 Lượng thức ăn ăn vào và hiệu quả sử dụng thức ăn 41

Bảng 4.9 Khối lượng, tăng khối lượng và hiệu quả sử dụng thức ăn của bò thí nghiệm 43

Bảng 4.10 Năng suất thịt của bò qua các thời gian vỗ béo khác nhau 46

Bảng 4.11 Thành phần hóa học thịt của bò qua các thời gian vỗ béo 47

Bảng 4.12 Một số chỉ tiêu chất lượng thịt của bò qua các thời gian vỗ béo khác nhau 48

Bảng 4.13 Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế của vỗ béo bò 50

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Con đường tiêu hoá prôtein và carbohydrate trong dạ cỏ 5

Sơ đồ 2.2 Quá trình chuyển hoá hợp chất chứa ni tơ trong dạ cỏ của gia súc nhai lại 8

Sơ đồ 2.3 Các chất dinh dưỡng cần thiết cho tổng hợp VSV dạ cỏ 9

Biểu đồ 4.1 Số lượng bò qua các năm 2011 đến 2015 35

Biểu đồ 4.2 Lượng khí sinh ra (ml) ở các thời điểm ủ rơm ủ urê và thức ăn hỗn hợp với dịch dạ cỏ trong điều kiện in vitro 40

Biểu đồ 4.3 Tăng khối lượng bình quân/ngày bò vỗ béo qua các thời gian nuôi khác nhau 44

Biểu đồ 4.4 Hiệu quả sử dụng thức ăn của bò vỗ béo (kg chất khô/kg tăng khối lượng) 45

Biểu đồ 4.5 Năng suất thịt của bò qua các thời gian vỗ béo khác nhau 46

Biểu đồ 4.6 Thành phần hóa học thịt của bò qua các thời gian vỗ béo 47

Biểu đồ 4.7 Hiệu quả kinh tế của vỗ béo bò (nghìn đồng) 51

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Vũ Minh Tuấn

Tên Luận văn: Hiện Trạng Chăn Nuôi Bò Thịt Và Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Thời Gian Nuôi Vỗ Béo Đến Năng Suất Và Chất Lượng Thịt Bò Lai Sind Tại Điện Biên

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng chăn nuôi bò thịt tại Điện Biên

- Xác định thời gian vỗ béo bò phù hợp để nâng cao hiệu quả chăn nuôi bò tại Điện Biên

Phương pháp nghiên cứu

a/ Đề tài có hai nội dung chính

- Nội dung 1: Điều tra khảo sát thực trạng chăn nuôi bò và tình hình sử dụng phụ phẩm nông nghiệp trong chăn nuôi bò tại khu vực nghiên cứu

- Nội dung 2: Ảnh hưởng của thời gian vỗ béo đến năng suất và chất lượng thịt b/ Nguyên vật liệu

- 18 bê đực Lai Sind có độ tuổi trung bình 15 tháng tuổi, khối lượng trung bình

150 kg

- Rơm ủ 4% urê

- Hỗn hợp thức ăn tinh: sắn lát, cám gạo, ngô, đậu tương

c/ Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp tiến hành đối với nội dung 1: Điều tra 30 nông hộ chăn nuôi bò được tiến hành tại xã Thanh Yên, huyện Điện Biên

- Nhu cầu thức ăn thô được tính theo vật chất khô dựa vào khối lượng cơ thể của gia súc (2,5% khối lượng cơ thể)

- Khối lượng phụ phẩm nông nghiệp được ước tính dựa vào khối lượng chính phẩm Phương pháp tiến hành đối với nội dung 2:

- 18 bê đực Lai Sind được chia làm 3 nhóm vỗ béo trong thời gian 4; 8 và 12 tuần

- Khả năng thu nhận thức ăn, khối lượng, khả năng tăng khối lượng và hiệu quả sử dụng thức ăn của đàn bò trong thời gian thí nghiệm

- Đánh giá năng suất và chất lượng thịt bò

- Hiệu quả kinh tế của vỗ béo bò thịt

Trang 11

Tổng sinh khối phụ phẩm là 6.630 tấn chất khô có thể nuôi được khoảng 3400

bò (nuôi hiện tại là 705 con) Do đó tiềm năng chăn nuôi bò còn lớn nếu sử dụng hiệu quả nguồn phụ phẩm nông nghiệp

Bò vỗ béo 8 tuần đạt tăng trọng và lãi suất cao nhất tương ứng 0,789 kg/con/ngày và 3.125.000 đồng/con

Trang 12

THESIS ABSTRACT Master student: Vu Minh Tuan

Thesis title: Current Status Of Beef Cattle Production And Study On Effects Of Duration Time Of Feeding On Finishing Lai Sind Cattle Performance And Carcass Traits In Dien Bien

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives:

- Assessment of current situation in beef production in Dien Bien

- Determine the fattening period appropriate to improve the efficiency of cattle production in Dien Bien

Materials and Methods

a / Two main contents

- Content 1: Survey on the current situation in cattle production and use of agricultural byproducts as cattle feed in the study area

- Content 2: Effect of fattening time to yield and meat quality

b / Materials

- 18 growing bull of Lai Sind at 15 months old, average weighing around 150 kg

- Urea treated rice straw 4%

- Concentrate: dried cassava, rice bran, ground corn and soya bean

Procedure for content 2:

- 18 growing bull of Lai Sind divided to 3 groups base on live weight and fattening

in 4; 8 và 12 weeks

Trang 13

- Feed intake, live weight change and feed efficiency ratio during experiment

- Evaluate the productivity and quality of meat

- Economic benefits of fattening

Main findings and conclusions

In recent years, cattle production in Thanh Yen is strong growth, the number of cattle in the period of 2011 - 2015 increased by 31.67% Methods of semi-grazing livestock accounted for the highest proportion (80%) while grazing obtained (20%), no household do install feeding

Total biomass by-products is 6630 tons of dry matter that can be fed on 3400 cattle (currently cattle population of 705 heads) Therefore, the potential cattle production is greater if used of agricultural byproducts efficiently

The time of fattening cattle for 8 weeks achieved the highest of average daily gain and benefit is 0,789 kg / head / day and 3.125 million VND / head respectively

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp phát triển, dân số sống chủ yếu

ở nông thôn Nguồn thu nhập chính của nông dân là các sản phẩm của chăn nuôi

và trồng trọt Trong đó, chăn nuôi trâu bò đã và đang góp phần quan trọng làm tăng giá trị sản xuất nông nghiệp, đồng thời nâng cao nguồn thu nhập cho người chăn nuôi

Trong những năm gần đây chăn nuôi đại gia súc đang phát triển mạnh mẽ

ở khắp các tỉnh thành trong cả nước đặc biệt là vùng núi Tây Bắc, tổng đàn trâu

bò của tỉnh Điện Biên năm 2014 là 163.900 con (Niên giám thống kê, 2014) Chăn nuôi gia súc đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân, giúp người dân Tây Bắc xóa đói nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống Chăn nuôi trâu bò phát triển mạnh những năm gần đây Theo số liệu thống kê, mặc dù là miền núi khó khăn nhưng năm 2014, tỉnh Điện Biên đã sản xuất được 76.100 tấn ngô và 170.600 tấn lúa (Niên giám thống kê, 2014) Như vậy, nguồn phụ phẩm trồng trọt có thể sử dụng nuôi bò tương đối phong phú

Tuy nhiên, đặc điểm của phụ phẩm trồng trọt thường có hàm lượng protein và khoáng chất thấp, khả năng tiêu hóa thấp do lượng xơ cao, carbohydrate hòa tan thấp (Preston and Leng 1987; Sundstol 1988a), vì vậy, để

sử dụng hiệu quả phụ phẩm trong khẩu phần thường phải bổ sung thức ăn giàu năng lượng (ngũ cốc, rỉ mật, khô dầu) hoặc thức ăn giàu protein (đậu tương, bột cá) Hơn nữa, người chăn nuôi chưa có tập quán sử dụng phụ phẩm nông nghiệp

để nuôi bò, chủ yếu dựa vào nguồn thức ăn trên bãi chăn hoặc triền đồi và bìa rừng Do giao đất và giao rừng cho các hộ gia đình nên việc chăn thả trâu bò trên đồng bãi cũng ngày càng hạn chế Đặc biệt quan trọng hơn nữa là người dân chưa chú trọng đến dự trữ thức ăn cho bò vào mùa đông Trong khi các nguồn phụ phẩm nông nghiệp không được người nông dân tận dụng lại bị bỏ phí trên đồng ruộng hoặc đốt đi gây ô nhiễm môi trường và rất lãng phí

Xuất phát từ vấn đề trên, việc xây dựng các khẩu phần giá rẻ từ các nguồn thức ăn sẵn có tại địa phương để nuôi vỗ béo bò thịt là yêu cầu cần thiết nhằm giúp người chăn nuôi tăng thêm thu nhập đồng thời đảm bảo nông nghiệp phát một cách bền vững, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hiện trạng chăn

Trang 15

nuôi bò thịt và nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian nuôi vỗ béo đến năng suất và chất lượng thịt bò Lai Sind tại Điện Biên”

1.2 MỤC TIÊU

 Đánh giá thực trạng chăn nuôi bò thịt tại Điện Biên

 Xác định thời gian vỗ béo bò phù hợp để nâng cao hiệu quả chăn nuôi

bò tại Điện Biên

Trang 16

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

2.1.1 Đặc điểm cơ bản về tiêu hoá ở dạ cỏ của động vật nhai lại

Động vật nhai lại được xem là xã hội cộng sinh giữa gia súc và vi sinh vật (VSV), nhờ vậy mà nó có khả năng sống và phát triển dựa vào khẩu phần thức ăn giàu xơ (Brockman, 1993) Các nguồn phụ phẩm nông nghiệp và các loại thức ăn giàu xơ khác mà con người và động vật dạ dày đơn không thể sử dụng vẫn có thể được xem là nguồn thức ăn có giá trị cho gia súc nhai lại, chúng có khả năng tổng hợp các sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho con người từ các loại thức

ăn có giá trị thấp Nhờ vậy, gia súc nhai lại có tiềm năng lớn để cải thiện cuộc sống con người (Beever, 1993)

Quá trình lên men và trao đổi chất trong dạ cỏ đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp năng lượng, protein cho gia súc nhai lại, tham gia điều khiển lượng thức ăn ăn vào và ảnh hưởng sâu sắc đến sức sản xuất của gia súc

Quá trình trao đổi chất trong dạ cỏ bao gồm hai quá trình chính:

- Sự phân huỷ các thành phần thức ăn bởi VSV (chủ yếu là carbohydrates

glucosid nằm trong vách tế bào thực vật và có khả năng tổng hợp đại phân tử protein từ N-NH3

Chất chứa dạ cỏ là một hỗn hợp gồm thức ăn ăn vào, vi sinh vật dạ cỏ, các sản phẩm trao đổi trung gian, nước bọt và các chất chế tiết vào dạ cỏ Đây là một

hệ sinh thái phức hợp trong đó liên tục có sự tương tác giữa thức ăn, hệ vi sinh vật và động vật chủ

Trang 17

Môi trường dạ cỏ với các đặc điểm thiết yếu cho sự lên men: độ ẩm cao: 85-90%; pH dao động khoảng 6,4-7,0 luôn luôn được đệm bởi bicarbonate và

khí Các chất chứa luôn luôn được nhào trộn bởi sự co bóp của dạ cỏ, nhờ vậy dinh dưỡng được lưu thông liên tục, sản phẩm cuối cùng của quá trình lên men ra khỏi dạ cỏ và các cơ chất được nạp vào thông qua thức ăn Có sự chế tiết vào dạ

cỏ những chất cần thiết cho vi sinh vật phát triển và khuếch tán ra ngoài những sản phẩm tạo ra trong dạ cỏ Điều này làm cho áp suất thẩm thấu của dạ cỏ luôn

ổn định Thời gian thức ăn tồn lưu trong dạ cỏ kéo dài tạo điều kiện cho vi sinh vật công phá Những điều kiện đó là lý tưởng cho sự phát triển của VSV dạ cỏ Điều này được đánh giá bởi sự phong phú về chủng loại và mật độ VSV Nước bọt đổ vào dạ cỏ liên tục và duy trì thức ăn ở dạng lỏng, tạo thuận tiện cho VSV tiêu hoá thức ăn Cộng đồng VSV cũng ảnh hưởng đến lượng tiết nước bọt

cùng của quá trình lên men dạ cỏ Hầu hết các chất khí được thải ra ngoài thông qua quá trình ợ hơi

Sự vận chuyển sản phẩm cuối cùng ra khỏi dạ cỏ có ảnh hưởng to lớn đến

sự cân bằng sinh thái trong dạ cỏ và vì thế nó biến dạ cỏ thành môi trường lên men liên tục Các vật liệu đã được biến hóa và sinh khối VSV được thường xuyên chuyển xuống phần dưới đường tiêu hóa Vì vậy, số lượng VSV luôn luôn duy trì ở mức ổn định Vận tốc di chuyển chất chứa dạ cỏ xuống ruột là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá quá trình tiêu hóa dạ cỏ và nó được xác định bởi một

số yếu tố như: dung tích dạ cỏ, nhu động dạ cỏ, lượng thức ăn ăn vào và quá trình lên men

Hệ sinh vật dạ cỏ rất phức tạp và phụ thuộc nhiều vào khẩu phần thức

ăn Tính từ năm 1941 những công trình nghiên cứu đầu tiên về vi sinh vật dạ cỏ đến nay đã có tới hơn 200 loài vi sinh vật dạ cỏ được mô tả và ít nhất có 20 loài protozoa đã được xác định Vi sinh vật dạ cỏ bao gồm: vi khuẩn, nấm, protozoa, mycoplasma, các loại virus và thể thực khuẩn Mycoplasma, virus và thể thực khuẩn không đóng vai trò quan trọng trong tiêu hoá xơ Quần thể vi sinh vật dạ

cỏ có sự biến đổi theo thời gian và phụ thuộc vào tính chất của khẩu phần ăn Mật độ vi khuẩn, protozoa và nấm theo thứ tự biến động trong khoảng 109 - 1010,

Trang 18

105 - 106, 103 - 105 trong 1 ml dịch dạ cỏ Gia súc nhai lại được thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng nhờ vào các sản phẩm của quá trình lên men trong dạ cỏ tế bào vi sinh vật; a xít béo bay hơi (AXBBH) và trong một số trường hợp từ các chất dinh dưỡng thoát qua Thành phần của tế bào vi sinh vật dạ cỏ tương đối ổn định:

Vì sự vắng mặt ô xy trong các dạ trước nên vi sinh vật có thể giải phóng một lượng năng lượng nhỏ từ thức ăn, khoảng 4 - 5 phân tử ATP từ quá trình lên men 1 phân tử glucoza Sự phát triển vi sinh vật không chỉ cần năng lượng mà

Trang 19

chúng còn cần nguồn ni tơ, khoáng cho quá trình tổng hợp sinh khối

Các thành phần dinh dưỡng quan trọng trong thức ăn của gia súc nhai lại bao gồm: Carbohydrates, hợp chất chứa ni tơ và lipít Các quá trình trao đổi chất của từng thành phần dinh dưỡng được tổng hợp như sau:

* Tiêu hoá carbohydrates (CHO)

Carbohydrates chiếm khoảng 70 - 80% vật chất khô trong khẩu phần gia súc nhai lại và được phân chia thành CHO cấu trúc và CHO phi cấu trúc của vách

tế bào thực vật (Van Soest, 1994) Loại CHO không có cấu trúc bao gồm: đường, tinh bột và pectins Các loại đường tự do hoặc là carbohydrates hòa tan là những đường đơn hay đường đa chứa 2 đến 6 phân tử glucoza Pectin là phần liên kết với vách tế bào thực vật nhưng không liên kết với phần đã lignin hóa ở vách tế bào Carbohydrates cấu trúc bao gồm xenluloza, hemixenluloza và phenolic lignin Những thành phần này nằm ở vách tế bào thực vật và không hòa tan trong dung dịch trung tính Carbohydrates cấu trúc bao gồm phần không hòa tan có thể tiêu hóa và phần không tiêu hóa được

Quá trình lên men carbohydrates cấu trúc bắt đầu sau pha chậm Trong pha chậm này vi khuẩn bám chặt vào các thành phần không hòa tan của thức ăn và các men được tổng hợp Một lượng nhỏ carbohydrates hòa tan trong khẩu phần

có vai trò thúc đẩy quá trình phân giải carbohydrates không hòa tan bằng cách thúc đẩy sự tăng sinh khối vi khuẩn

Carbohydrates phi cấu trúc không đòi hỏi pha chậm và quá trình lên men với tốc độ nhanh, diễn ra ngay sau khi ăn vào Đường tự do được xem như lên men ngay lập tức Mặc dù tỷ lệ phân giải tiềm tàng cao, nhưng một số carbohydrates như là tinh bột, fructosans được thoát qua dạ cỏ Nhìn chung khoảng 90% của tổng số xenluloza, hemixenluloza, pectic và đường tự do tiêu hoá được phân giải ở dạ cỏ, phần còn lại được tiêu hóa ở túi mù

Sản phẩm của quá trình lên men được hấp thu ở dạ cỏ là các axít béo bay hơi (AXBBH), chủ yếu là axít acetic, propionic và butyric Tỷ lệ giữa các axít này tùy thuộc rất lớn vào cấu trúc khẩu phần ăn Ngoài ra quá trình lên men còn tạo ra các loại khí: carbonic, metan

Các axit béo bay hơi sản sinh trong quá trình lên men ở dạ cỏ được hấp thu vào máu qua vách dạ cỏ Đó chính là nguồn năng lượng cho động vật

Trang 20

nhai lại, nó cung cấp khoảng 70 - 80% tổng số năng lượng được hấp thu bởi gia súc nhai lại ATP cũng được hình thành trong quá trình lên men carbohydrates Sự sinh trưởng của VSV dạ cỏ phụ thuộc rất lớn vào nguồn cung cấp năng lượng này

* Chuyển hoá các hợp chất chứa nitơ:

Hợp chất chứa ni tơ trong thức ăn của gia súc nhai lại bao gồm: protein thực và ni tơ phi protein (NPN) Protein thô có thể được phân thành loại hòa tan và loại không hòa tan Cũng giống như carbohydrates, protein thô loại hòa tan được phân giải hầu như hoàn toàn và ngay lập tức sau khi ăn vào Loại protein không hòa tan chứa cả phần được phân giải và phần không được phân giải ở dạ cỏ

Theo NRC, (2001) protein thô có thể phân chia thành 3 thành phần như sau: protein hòa tan, protein có tiềm năng phân giải và protein không phân giải trong dạ cỏ (RUP) Protein hòa tan và protein có tiềm năng phân giải trong dạ cỏ

là khác nhau về đặc điểm phân giải nhưng có thể được xếp vào một nhóm là protein phân giải dạ cỏ (RDP) Như vậy sẽ có loại protein phân giải nhanh, trung bình và chậm Tốc độ phân giải tùy thuộc vào đặc điểm của thức ăn, hoạt động phân giải của VSV và môi trường dạ cỏ

Cả vi khuẩn, protozoa, nấm dạ cỏ đều tham gia vào quá trình phân giải các hợp chất chứa ni tơ Tuy vậy, vi khuẩn dạ cỏ là thành phần quan trọng nhất trong quá trình tiêu hoá Khoảng 30-50% loài vi khuẩn được phân lập từ dạ cỏ

là có khả năng phân giải protein và đóng góp hơn 50% hoạt động phân giải protein trong dạ cỏ Khả năng phân giải protein của protozoa cao hơn vi khuẩn song chỉ có khoảng 10-20% protozoa hoạt động phân giải protein (Nugent và Mangan, 1981)

Quá trình chuyển hoá các hợp chất chứa nitơ trong dạ cỏ của gia súc nhai lại có thể được tóm tắt qua sơ đồ 2.2

Protein không bị phân giải ở dạ cỏ (escaped protein) là loại protein có nguồn gốc từ thức ăn không phân giải bởi VSV dạ cỏ và được tiêu hóa ở ruột Trong loại này có thành phần dễ bị phân giải song do có tốc độ chuyển dời nhanh, không đủ thời gian cho VSV tấn công

Trang 21

Sơ đồ 2.2: Quá trình chuyển hoá hợp chất chứa ni tơ trong dạ cỏ

của gia súc nhai lại

* Quá trình chuyển hoá lipid trong dạ cỏ

Lipid trong thức ăn của gia súc nhai lại thường có hàm lượng thấp Trong các loại cỏ và các loại hạt ngũ cốc hàm lượng lipid chỉ có khoảng 4-6% Tuy nhiên, trong nhiều loại hạt chứa dầu cao làm thức ăn bổ sung cho gia súc nhai lại

có chứa hàm lượng lipid cao tới 36% như hạt lanh (Bo Gohl, 1975) Các dạng lipid là triglycerid, galactolipid (thành phần chính lipid trong các loại thức ăn xơ)

và phospholipid Enzyme của cây cỏ và vi khuẩn đều liên quan đến quá trình phân giải lipid Có nhiều bằng chứng rõ ràng của quá trình trao đổi lipid diễn ra ở

dạ cỏ là phản ứng phân giải lipid, quá trình hydrogen hoá của các axít béo không

no và quá trình tổng hợp lipid vi sinh vật Các axít béo không no nhanh chóng bị hydrogen hoá trước để tạo thành phân tử monoenoic axít và cuối cùng tạo thành stearic axít Quá trình này được thực hiện chủ yếu bởi vi khuẩn (Jenkins, 1993)

Một vấn đề quan trọng nữa là nếu hàm lượng lipid cao trong khẩu phần

Trang 22

của gia súc nhai lại làm giảm quá trình tiêu hoá vách tế bào thực vật vì nó tạo ra ảnh hưởng âm tính đến khu hệ vi sinh vật dạ cỏ, ảnh hưởng đến quá trình thuỷ phân lipid và quá trình no hoá các axít béo Nhiều ý kiến cho rằng mức độ cao của lipid trong khẩu phần có thể gây độc cho protozoa trong dạ cỏ (Armentano

và cộng sự, 1993)

2.1.3 Quá trình tổng hợp vi sinh vật trong dạ cỏ

Protein vi sinh vật dạ cỏ có vai trò quan trọng trong dinh dưỡng gia súc nhai lại Nó chứa khoảng 50-75% protein thực đựơc hấp thu ở ruột non và vì vậy cung cấp một lượng lớn amino axít cho vật chủ (Preston và Leng, 1991) Quá trình sinh tổng hợp protein vi sinh vật dạ cỏ có thể được tóm tắt qua sơ đồ 2.3

ở dạ cỏ, lượng vi sinh vật trôi xuống phần sau của ống tiêu hoá Bauchop và Elsden, (1960) đề nghị để diễn tả hiệu suất sinh trưởng vi sinh vật là Y ATP, có nghĩa là số gam vật chất khô vi sinh vật được sản xuất trên 1 phân tử gam ATP có

Protein

vi sinh vật

Trang 23

sẵn Hiệu suất tổng hợp protein vi sinh vật (eMCP) và lượng protein sẵn có được tiêu hoá ở ruột non khác nhau đáng kể ở các khẩu phần ăn khác nhau Poppi và cộng sự, (1997) cho biết eMCP giá trị thấp khoảng 33 g MCP/kg chất hữu cơ tiêu hoá (DOM) ở cỏ khô nhiệt đới chất lượng thấp, đối với cỏ ôn đới chất lượng cao giá trị eMCP là 215 g/kgDOM Giá trị eMCP của các hệ thống nuôi dưỡng gia súc hiện tại trong khoảng 130 đến 162 gMCP/kgDOM Hiệu suất sinh tổng hợp cũng chịu ảnh hưởng bởi môi trường lý, hoá dạ cỏ như tốc độ pha loãng, áp suất thẩm thấu, pH, khả năng đệm (Satter, 1986)

Quá trình tổng hợp protein của vi sinh vật dạ cỏ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Một số yếu tố cơ bản sau đây đã ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình sinh tổng hợp protein vi sinh vật và ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi gia súc nhai lại

* Ảnh hưởng của hợp chất chứa nitơ đến sinh tổng hợp protein của vi sinh vật

Nguồn nitơ chính cho quá trình sinh tổng hợp protein vi sinh vật trong dạ

cỏ là ammonia, vì vậy đảm bảo nồng độ ammonia thích hợp trong dạ cỏ để cung cấp nguồn nitơ cho sinh trưởng của vi sinh vật được xem là ưu tiên số một nhằm tối ưu hoá quá trình lên men thức ăn Ammonia có thể là nguồn nitơ duy nhất cho sinh tổng hợp protein và các hợp chất chứa ni tơ khác ở vi khuẩn dạ cỏ (Nolan và Leng, 1972) Vi khuẩn có khả năng tổng hợp tất cả các axit amin từ sản phẩm cuối cùng và sản phẩm trao đổi trung gian của quá trình phân giải carbohydrates, protein hoặc là NPN (sơ đồ 2.3) Nhiều tài liệu cho rằng 80 - 82 % các loại vi khuẩn dạ cỏ có khả năng tổng hợp protein từ amoniac (Maeng và cộng sự, 1976)

hợp sinh khối vi sinh vật Các loài phân giải xenluloza có thể sử dụng ammoniac cho quá trình tổng hợp amino axit, tuy nhiên đòi hỏi một số a xít mạch nhánh

Nồng độ NH3 tối thiểu trong dịch dạ cỏ cho tối đa hiệu suất tổng hợp ni tơ của vi sinh vật được ước tính trong tiêu hoá in vitro xấp xỉ 50mg/lit dịch dạ cỏ và trong tiêu hoá in vivo cũng rất khác nhau tuỳ thuộc khẩu phần ăn, trong khoảng 20-80mg/lít dịch dạ cỏ (Satter, 1986) Pisulewski và cộng sự, (1981) cho rằng tỷ

lệ mất mát chất khô của cỏ khô Heterogen contortus cao nhất từ túi nylon khi

và Leng, (1984) tỷ lệ mất mát chất khô cao nhất của vỏ trấu yến mạch và bông từ

100mg/lít cho tới 200mg là có hiệu quả cao cho tổng hợp vi sinh vật Mehrez và

Trang 24

cộng sự, (1977) đề nghị nồng độ tối thiểu NH3 trong dịch dạ cỏ cừu ăn hạt lúa mạch cho tối đa phân giải chất khô ở dạ cỏ là 200-270mg/lít Theo Harrison và

cần thiết cho quá trình sinh tổng hợp protein vi sinh vật phụ thuộc rất lớn vào pH dịch dạ cỏ, vì thế có sự liên quan tỷ lệ NH3/NH4+; pH dạ cỏ thường ổn định trong khoảng 6,5 -7 khi gia súc được nuôi khẩu phần thức ăn xơ thô không được bổ sung thức ăn tinh, pH dịch dạ cỏ sẽ thấp xuống khi gia súc được bổ sung thức ăn tinh vào khẩu phần Visek (1968) chỉ ra rằng ion NH4+ là dạng chính của ammoniac cho quá trình sinh tổng hợp protein của vi sinh vật và có thể kết luận

* Ảnh hưởng của năng lượng đến sinh tổng hợp protein vi sinh vật

Giống như các sinh vật khác, vi sinh vật dạ cỏ cũng cần năng lượng cho duy trì và sinh trưởng Trong dạ cỏ nguồn năng lượng ở dạng ATP là sản phẩm của quá trình lên men carbohydrates

Quá trình tăng sinh khối vi sinh vật dạ cỏ đòi hỏi nguồn năng lượng và nguyên liệu ban đầu cho các phản ứng sinh hóa tổng hợp nên các đại phân tử Trong đó quan trọng nhất là protein, axit nucleic, polysaccarides và lipid Các vật chất ban đầu và năng lượng cho quá trình phát triển của vi sinh vật được sinh ra

từ quá trình phân giải vật chất trong dạ cỏ Sự phát triển của khu hệ sinh vật dạ

cỏ tùy thuộc rất lớn vào nguồn năng lượng sẵn có như ATP cho các phản ứng sinh hóa Vì vậy hiệu suất sinh trưởng vi sinh vật được diễn đạt bằng gam VCK

vi sinh vật hoặc là protein vi sinh vật /đơn vị năng lượng sẵn có (Y ATP)

* Ảnh hưởng của sự đồng bộ cung cấp năng lượng và protein đến quá trình sinh tổng hợp protein vi sinh vật

Nhiều báo cáo cho rằng có ảnh hưởng của sự đồng bộ năng lượng và ni tơ cung cấp cho sinh trưởng vi sinh vật Sumsel và Cs, (1994); Sinclair và Cs, (1995) quan sát thấy rằng sự đồng bộ giữa năng lượng và protein trong dạ cỏ đã làm tăng sản lượng protein vi sinh vật từ 11-12%

Nhiều nghiên cứu (Poppi và McLennan, 1997; Mupangwa và Cs, 2000) các tác giả đều chỉ ra rằng hiệu quả tổng hợp protein vi sinh vật dạ cỏ phụ thuộc rất lớn vào nguồn carbohydrates dễ lên men và sự đồng bộ giữa tốc độ hình

Trang 25

thành ammonia và tốc độ lên men carbohydrates Tương tự như vậy sử dụng các đoạn peptid cho sinh tổng hợp protein vi sinh vật cũng phụ thuộc vào nguồn carbohydrates dễ lên men sẵn có Russell và cộng sự, (1992) cho rằng thiếu hụt carbohydrates dễ lên men dẫn đến quá trình chuyển hoá các đoạn peptid thành ammonia thay vì sử dụng trực tiếp cho tổng hợp nên protein của vi sinh vật Smith và Oldham, (1983) cho rằng một lượng tinh bột nhỏ trong khẩu phần

ăn là rất cần thiết để tối ưu hiệu suất sinh trưởng của vi sinh vật Lượng carbohydrates dễ lên men này nhằm cung cấp năng lượng cho các phản ứng sinh hoá trong quá trình tổng hợp nên đại phân tử protein vi sinh vật

2.2 MỘT SỐ CHỈ TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ CHO THỊT CỦA BÒ

Khối lượng của bò ở các tháng tuổi chính là độ sinh trưởng tích lũy, đường cong lý thuyết có dạng chữ S khi gia súc còn nhỏ, dốc dựng khi bò ở giai đoạn sinh trưởng nhanh và sau đó đường cong có xu hướng nằm ngang khi bò đạt tuổi trưởng thành, con vật thành thục về thể vóc

Sinh trưởng tuyệt đối là tăng trọng đạt được trong một thời gian nhất định Đường cong biểu diễn tăng trọng tuyệt đối theo kiểu hình chuông tăng dần đạt giá trị cực đại và sau đó giảm dần Nuôi bò thịt thường kết thúc ở thời kỳ cuối cùng của giai đoạn nuôi vỗ béo, khi đường cong bắt đầu đi xuống Tăng trưởng tuyệt đối đạt được phụ thuộc vào phẩm giống Các giống bò chuyên dụng sản xuất thịt cho tăng trọng tuyệt đối cao hơn so với các giống bò kiêm dụng hoặc các giống bò địa phương

Độ sinh trưởng tương đối là mức độ tăng trưởng đạt được tính theo tỷ lệ (%), đường cong sinh trưởng tương đối của bò là đường hyperbol Bò càng lớn tuổi quá trình sinh trưởng càng chậm lại

Kích thước các chiều đo và các chỉ số cấu tạo thể hình là sự biểu hiện cụ thể của quá trình sinh trưởng, phát triển của gia súc Mỗi loại gia súc có một ngoại hình sản xuất riêng Kích thước các chiều đo là tính trạng chịu nhiều ảnh hưởng của yếu tố giống và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng Hệ số di truyền của

= 0,63; vòng ngực h2 = 0,28

Agasti và Cs (1984)cho thấy bò lai giữa giống Jersey, Holstein với bò Hariana có dài thân chéo 181,75 - 186,85 cm, rộng ngực 45,12 - 50,26 cm lúc bò

Trang 26

đạt khối lượng tương ứng 314,86 - 353,85 kg

Trần Trọng Thêm (1986) nhận thấy chiều dài thân chéo, vòng ngực của bò lai Holstein với bò Lai Sindhi cao hơn Lai Sindhi, các chỉ số tròn mình 105,62%

- 113,16%, chỉ số dài thân 122,45% - 129,8%

Để đánh giá khả năng cho thịt người ta sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, trong đó phương pháp mổ khảo sát tách riêng thân thịt xẻ thành từng loại riêng rẽ là phương pháp chính xác nhất Nhưng do tính phức tạp và nó không còn ý nghĩa đối với con giống khi bắt buộc phải giết mổ, nên nhiều nghiên cứu

đã tiến hành xem xét các mối tương quan giữa thân thịt với các chỉ tiêu khác đơn giản hơn và dễ thực hiện hơn Hàng loạt các nghiên cứu đã cho thấy tương quan giữa các tính trạng diện tích cơ dài lưng với khối lượng thịt xẻ có r = 0,23 - 0,66; tương quan giữa tỷ lệ thịt xẻ với diện tích cơ dài lưng có r = 0,36; độ dày mỡ với diện tích cơ dài lưng có r = 0,01 (Koots và Cs, 1994)

Để đánh giá năng suất thân thịt người ta sử dụng các nhóm chỉ tiêu, khối lượng khi giết mổ, tăng trọng ngày, tiêu tốn thức ăn, tuổi giết thịt, khối lượng thịt xẻ, khối lượng thịt tinh Đây là những chỉ tiêu quan trọng của trong chăn nuôi bò thịt

Để nghiên cứu quá trình sinh trưởng của gia súc nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra và ứng dụng các hàm hồi quy tuyến tính và phi tuyến tính để mô tả quá trình sinh trưởng của sinh vật Gompertz (1825), đưa ra mô hình để xác định các quá trình sinh trưởng của sinh vật, mô hình có dạng:

Y = m EXP(-aEXP(-bx)

Alessandra và Cs (2002), đã sử dụng các hàm Gompertz, Brody và hàm Logistic

để mô tả quá trình sinh trưởng của bò cái tơ Holstein từ sơ sinh đến 24 tháng tuổi, ứng dụng trong chương trình cải tiến bò sữa, các tác giả đã chỉ ra kết quả của các mô hình như sau:

Tác giả cho rằng sử dụng hàm Gompert mô tả sinh trưởng cho bò cái tơ từ

sơ sinh đến 24 tháng tuổi phù hợp hơn so với hai hàm logistic và Brody nói trên

Đã có rất nhiều các nghiên cứu mô hình hóa quá trình sinh trưởng của vật nuôi Kohn và Cs (2007) mô hình hóa quá trình sinh trưởng của lợn giống Goettingen Lambe và Cs (2006) dùng các mô hình khác nhau để mô tả quá trình

Trang 27

sinh trưởng của hai giống cừu Brown và Cs (1976) sử sụng mô hình phi tuyến tính để mô tả mối quan hệ giữa khối lượng và tuổi của bò Trần Quang Hân (1996) ứng dụng mô hình Gompertz và mô hình Shumaker để mô tả quá trình sinh trưởng của lợn Trắng Khánh Hòa và con lai F1(Yorkshire × TKH) Phạm Thế Huệ (1997) ứng dụng mô hình Gompertz để mô tả sinh trưởng của bò Lai Sind Nguyễn Ngọc Lung (1987), Alder (1980) và nhiều tác giả khác đã ứng dụng các mô hình toán để nghiên cứu các quá trình sinh trưởng của sinh vật nhằm dự đoán năng suất Nguyễn Thị Mai (2000) ứng dụng hàm Wood để mô tả sinh trưởng của dê Bách Thảo và dê lai hướng sữa trong chương trình chọn lọc

và nhân thuần giống dê Bách Thảo

2.3 CHẤT LƯỢNG THỊT VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CHẤT

- Các chỉ số cảm quan: màu sắc, mùi, vị, độ mềm

- Các chỉ số ảnh hưởng đến công nghệ chế biến và tiêu thụ sản phẩm: khả năng giữ nước, độ pH

- Các chỉ số về vệ sinh, an toàn thực phẩm: số lượng vi sinh vật, hàm lượng các chất tồn dư

Ở thị trường trong nước, các chỉ tiêu này chưa được đánh giá cao Bò thịt giết ở nhiều lứa tuổi và nhiều loại hình khác nhau, nhiều loại bò loại thải do quá già, người tiêu dùng chưa đòi hỏi cao về chất lượng sản phẩm thịt bò Ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, nhu cầu thịt bò chất lượng cao ngày một tăng, các siêu thị và các nhà hàng cao cấp đã có yêu cầu về chất lượng của thịt bò Các đặc tính thị trường này bao gồm: tuổi, giới tính, khối lượng thân thịt, độ dày mỡ, vết thâm tím, mặt nghiêng của mông, sự phân bố mỡ, màu sắc thịt, độ vân

2.3.1 Màu sắc của thịt bò

Màu sắc của thịt là một chỉ tiêu quan trọng trong thị trường tiêu thụ thịt

bò, đặc biệt là các thị trường tiêu thụ cao cấp Tiêu chuẩn đánh giá đầu tiên của người tiêu dùng là màu sắc của thịt Khi mua thịt bò người tiêu dùng có xu

Trang 28

hướng chọn thịt có màu đỏ tươi, vì nó gắn liền với độ tươi của sản phẩm Màu sắc phụ thuộc vào cấu trúc vật lý của cơ, nguồn sắc tố tự nhiên và chất lượng của sắc tố tự nhiên Màu sắc liên quan chủ yếu đến hàm lượng mioglobin, tình trạng

đủ oxy hoặc bị oxy hóa của mioglobin cũng làm thay đổi màu sắc của thịt bò, mioglobin thu nhỏ không có oxy có màu đỏ tía, còn mioglobin thu nhỏ có oxy làm cho thịt có màu đỏ tươi Khi mioglobin bị oxy hóa làm cho thịt có màu nâu

đỏ, là loại thịt mà người tiêu dùng không ưa chuộng Màu sắc của thịt cũng liên quan tới siêu cấu trúc của thịt, cấu trúc này bị ảnh hưởng bởi độ pH của thịt, thịt

bò đạt độ pH cuối cùng cao sẽ có màu đỏ sẫm khác thường Người tiêu dùng quan tâm đến màu sắc của thịt tươi, sự đồng nhất của nó và không có sự biến đổi màu trong suốt quá trình bảo quản và chế biến Màu sắc của thịt là khả năng phản chiếu bước sóng ánh sáng quan sát được, ánh sáng này nằm trong khoảng 380 nano mét (tia cực tím) và 780 nano mét (tia hồng ngoại) Có 3 yếu tố liên quan đến màu sắc thịt:

+ Nguồn sáng trong một giới hạn có thể quan sát được

+ Vật thể, tùy thuộc vào đặc tính, hấp thụ nhiều hay ít ánh sáng tới và phản chiếu nhiều hay ít

+ Người cảm nhận: Mắt hoặc cơ quan cảm nhận tiếp nhận ánh sáng phản hồi

Màu sắc của thịt bò đỏ tươi có liên quan tới đặc điểm của từng phẩm giống và phương thức nuôi dưỡng Clinquart và Cs (1993) (1994) nghiên cứu trên bò BBB với kiểu gen BBBm, con lai BBBc và bò Holstein với kiểu gen H cho thấy giá trị L* tương ứng 41,5; 37,9; 37,7 và tỷ lệ a*/b* có giá trị tương ứng 1,4; 1,7; 1,7, tương ứng hàm lượng mioglobin đạt 2,2; 3,2 và 2,4 mg/g

Màu sắc thịt bò liên quan tới chất lượng thịt, giá trị L* có hệ số di truyền biến động h2 = 0,27 - 0,3; giá trị a* có h2 = 0,16 - 0,17; giá trị b* có h2 = 0,08 - 0,13 (Koots và Cs, 1994)[106]

Màu sắc của thịt bò phụ thuộc vào tuổi giết thịt và kiểu cơ, bò non màu sắc nhạt hơn, cơ hoạt động nhiều có màu sắc đậm hơn

2.3.2 Khả năng giữ nước của thịt bò

Thịt có khả năng giữ nguyên lượng nước sẵn có hay lượng nước thêm vào Chỉ tiêu này liên quan tới lợi nhuận trong vận chuyển gia súc và liên quan tới chất lượng thịt Vì vậy phải xác định được khả năng giữ nước trong quá trình bảo

Trang 29

quản (mất nước do tự thoát hơi nước) và mất nước trong quá trình đun nấu (mất nước do đun nấu) Độ ngọt, độ mềm của thịt có liên quan tới các chỉ tiêu này Nước chiếm ¾ khối lượng cơ thể, trong cơ thăn nước chiếm tỷ lệ 73 - 75% khối lượng của cơ Trong cơ thể chỉ có 4 - 5% nước liên kết chặt với protein của cơ, phần còn lại là nước tự do

Đặc tính giữ nước của thịt liên quan chặt chẽ với độ pH của thịt, mức độ này tác động ở những bộ phận, tổ chức có nhiệt độ cao gây ra sự biến tính của protein trong màng tế bào cơ, sự biến tính của protein tế bào tạo các lỗ thông của vách tế bào và dịch tế bào sẽ đi ra ngoài

2.3.3 Độ pH của thịt bò

Theo Hofman (1998); Bruce và Ball (1990), độ pH là một chỉ số hóa học

Độ pH thường được xếp vào loại các đặc thù công nghệ bởi nó có ảnh hưởng lớn đến khả năng bảo quản và vận chuyển thịt Độ pH trong cơ bắp đo được trong cơ thể bò gần bằng 7, sau khi giết mổ ta quan sát sợi cơ và thấy độ pH giảm xuống

do sự tích tụ axit lactic gây ra bởi sự suy giảm glucogen trong cơ Khi trữ lượng glucogen cạn kiệt, độ pH ổn định trở lại đạt đến gần 5,5 đó là độ pH tối đa hay là

độ pH cuối cùng Giá trị pH cuối cùng ảnh hưởng lớn đến khả năng bảo quản thịt Độ pH vượt quá 6 sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển của vi sinh vật hoạt động làm biến đổi mùi, vị của thịt và vi sinh vật gây bệnh (Morin, 1998) Theo Shakelford (1994) độ pH cuối cùng ở thịt bò đạt được sau khi giết thịt 24h, trong khi đó ở thịt heo chỉ cần vài giờ đã đạt giá trị pH cuối cùng Sự tăng lên của độ

pH không đồng nhất trong toàn thân mà nó thay đổi tùy theo từng cơ quan bộ phận Sự khác biệt về loài giống, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, điều kiện nuôi dưỡng trước khi giết mổ có liên quan đến độ pH của thịt Hàm lượng glycogen trong cơ ảnh hưởng quyết định tới độ pH của thịt

2.3.4 Độ dai của thịt bò

Độ mềm của cơ có thể được xem như một thành phần cơ học trong kết cấu của thịt, xếp thứ hai sau tính giữ nước (Dranfield, 1994) Thịt mềm là thịt dễ cắt, nhiều người xếp chỉ tiêu này lên hàng đầu trong số các chỉ tiêu xác định chất lượng thịt Ouali (1991) cho biết độ rắn của thịt phụ thuộc vào vào hai thành phần cấu trúc protein:

+ Thành phần thứ nhất là collagen, chất chủ đạo trong mô liên kết Collagen không thay đổi trong thịt sau khi giết mổ, sức bền cơ học của nó không

Trang 30

thay đổi và được gọi là độ rắn ban đầu

+ Thành phần thứ hai bao gồm các sợi cơ, đặc biệt là các protein có trong sợi cơ, sức bền của chúng không ổn định sau khi giết mổ Sức bền của chúng trải qua ba giai đoạn, đầu tiên là giai đoạn cứng đờ, lúc đó cấu trúc cơ bị thả lỏng Giai đoạn 2 là giai đoạn cứng đờ toàn thân vài giờ sau giết mổ ứng với lực cắt tối

đa của một mẫu thịt, thông thường lực cắt đạt tối đa 1-2 ngày sau giết mổ Cuối cùng ta quan sát được sức bền cơ học của thịt giảm xuống, chính là lúc cấu trúc đang mềm đi Sự tạo thành độ rắn trong sợi cơ ban đầu có thể thay đổi tùy thuộc các yếu tố như loài, giống, giới tính, tuổi, kỹ thuật giết mổ

Sự biến đổi chất lượng thịt: Người tiêu dùng hết sức quan tâm tới sự biến đổi chất lượng thịt, trong thị trường tiêu thụ thịt bò nếu chất lượng thay đổi quá lớn người tiêu dùng sẽ từ chối sản phẩm Chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá chất lượng thịt bò là độ mềm Người tiêu dùng không những chỉ đòi hỏi thịt mềm

mà phải luôn luôn mềm

2.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng thịt bò

Chất lượng thịt của bò là một tính trạng chịu tác động của các yếu tố di truyền và chăm sóc nuôi dưỡng khác nhau

Giống bò là yếu tố quyết định chất lượng thịt, các giống chuyên dụng sản xuất thịt cho nhiều thịt và chất lượng thịt ngon Các giống bò khác nhau có tốc độ sinh trưởng, khả năng tích lũy thịt, mỡ khác nhau, hàm lượng dinh dưỡng khác nhau, cấu trúc cơ khác nhau do vậy chất lượng thịt khác nhau Sự tích lũy mỡ trong trong thịt bò phụ thuộc từng giống, nó liên quan tới màu sắc của thịt Giống

bò có tác động tới độ dai, màu sắc của thịt, hàm lượng nước, hàm lượng protein, hàm lượng chất béo

Lan, Brahman và bò F1 Charolais cho thấy hàm lượng mỡ trong thịt từng giống khác nhau: 0,77; 1,83 và 8,58% Màu sắc thịt bò Thái Lan, Brahman và bò F1 Charolais khác nhau ở, giá trị L* tương ứng 37,76; 35,01 và 38,76 Realini và Cs (2004) cho biết: thịt bò Uruguay có giá trị màu sắc L* 33,80 - 36,34, giá trị a* 20,42-20,95 và giá trị b* 8,77-9,22, độ pH 5,7

Chất lượng thịt bò bị tác động của các yếu tố dinh dưỡng và phương thức nuôi dưỡng Trong cùng một giống nhưng chế độ nuôi dưỡng khác nhau sẽ cho chất lượng thịt, màu sắc, độ dai và tỷ lệ mất nước khác nhau Khẩu phần thức ăn

Trang 31

khác nhau cho tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ thịt tinh, tỷ lệ mỡ khác nhau Vỗ béo là dùng biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng, sử dụng thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao nhằm làm cho tăng trưởng nhanh, chất lượng thịt được cải tiến rõ rệt Nhiều nghiên cứu về vỗ béo được tiến hành ở trong nước cũng như trên thế giới nhằm cải tiến chất lượng thịt

Realini và Cs (2004) cho biết bò Uruguay chăn thả trên đồng cỏ và nuôi

vỗ béo có độ dai tương ứng 4,7 và 4,5 kg; độ dày mỡ 3,8 và 6,1 mm; hàm lượng

mỡ tương ứng 1,68; 3,18% Mandell và Cs (1998) sử dụng khẩu phần 95% cỏ alfalfa ủ chua hoặc ngô có độ ẩm 68% nuôi bò đực Limousin Kết quả cho thấy hàm lượng mỡ lần lượt là 2,61%; 1,68%; độ dai tương ứng 41,70 N; 44,06 N; tỷ

lệ mất nước bảo quản 4,1% và 3,4% Gazzola (2005) cho rằng độ mềm của thịt liên quan tới nhiều yếu tố như giống bò, phương pháp giết mổ, độ pH của cơ

Bò được giết mổ khi đạt khối lượng 600 kg, các đặc trưng toàn thân ít thay đổi ngoại trừ lượng mỡ tích lũy trong cơ thể nhưng các tính trạng khác thay đổi khá lớn Các biến đổi chủ yếu liên quan tới hàm lượng mỡ trong cơ, độ mềm của thịt Các biến đổi chất lượng thể hiện bằng các chỉ số đo màu sắc độ sáng, màu đỏ, màu vàng

Chất lượng thịt chịu ảnh hưởng của các yếu tố giống rất rõ rệt Các nghiên cứu của Clinquart (1994) cho thấy trong điều kiện nuôi dưỡng như nhau, kiểu gen khác nhau sẽ cho chất lượng thịt khác nhau Bò thịt với kiểu gen BBBC; BBBm; H (Holstein) cho hàm lượng vật chất khô 24,9%; 26,3% và 27%; với giá trị màu sắc L* tương ứng 41,5; 37,9 và 37,7 cũng như tỷ lệ mất nước khi đun nấu cũng có sai khác nhau theo kiểu gen của bò thịt

Như vậy các kiểu gen khác nhau, giống khác nhau cho chất lượng thịt khác nhau Lượng mỡ trong cơ bắp của loại bò có kiểu gen BBBC liên quan tới hàm lượng axit béo chưa bão hòa tạo nên sự vượt trội về dinh dưỡng

Ngoài các yếu tố giống, chăm sóc nuôi dưỡng, chất lượng thịt bị chi phối bởi giới tính và tuổi giết thịt

2.4 THỨC ĂN BỔ SUNG CHO GIA SÚC NHAI LẠI ĂN KHẨU PHẦN

CƠ SỞ LÀ RƠM

Với những hiểu biết về sinh lý tiêu hoá, chúng ta ngày càng biết rõ rằng lượng rơm ăn vào thấp và việc sử dụng không hiệu quả các chất dinh dưỡng của

Trang 32

rơm ở gia súc nhai lại là do mất cân đối về các chất dinh dưỡng trong khẩu phần (Preston và Leng, 1986) Việc chọn các loại thức ăn bổ sung cho gia súc nhai lại ăn khẩu phần cơ sở là rơm phụ thuộc vào các hiểu biết về ảnh hưởng của các loại thức ăn bổ sung khác nhau đến sự biến đổi trật tự các chất dinh dưỡng ñược hấp thu Các thức ăn bổ sung đã ảnh hưởng đến tỷ lệ của các sản phẩm cuối cùng trong quá trình lên men cũng như ảnh hưởng đến tỷ lệ các chất dinh dưỡng "thoát qua" và cuối cùng là ảnh hưởng ñến cân bằng các sản phẩm lên men ñược hấp thu (Nolan và Cs, 1986)

Việc bổ sung thức ăn cho khẩu phần cơ sở là rơm đã chế biến là nhằm mục đích tăng tối đa lượng thức ăn ăn vào, tăng tối đa tốc ñộ và qui mô phân giải hydrat-cacbon của vách tế bào thực vật ở dạ cỏ và làm tăng hấp thu các chất dinh dưỡng ở gia súc nhằm đáp ứng đủ cho các nhu cầu sinh trưởng, sản xuất, nuôi thai

2.4.1 Bổ sung nitơ phi protein (NPN)

Một yếu tố hết sức quan trọng hạn chế lượng thức ăn ăn vào, tốc độ và qui

trong dạ cỏ gia súc ăn khẩu phần cơ sở là rơm thường thấp, khi bổ sung NPN liên tục (thường là urê) đã làm tăng lượng thức ăn ăn vào, tăng tỷ lệ tiêu hoá rơm, ổn đinh cân bằng nitơ, tăng tốc độ lưu chuyển protein vi sinh vật trong dạ cỏ, tăng nồng độ axit béo bay hơi tổng số trong dịch dạ cỏ, do đó làm tăng khả năng sản xuất của gia súc và tăng hiệu quả sử dụng thức ăn (Campling và cs, 1962 Ở những khẩu phần thiếu lưu huỳnh (S), bổ sung NPN (N) không đạt hiệu quả tốt bởi vì thiếu S là yếu tố hạn chế đầu tiên đến hoạt động của các vi sinh vật dạ cỏ

Bổ sung S vào khẩu phần theo tỷ lệ N/S khoảng 10:1 đến 15:1 sẽ vượt qua hạn chế nêu trên (Kandylis, 1984b)

Rơm xử lý amoniac được trâu bò ăn nhiều hơn và tỷ lệ tiêu hoá tăng lên có thể một phần quan trọng là do ảnh hưởng của NPN đến phát triển của vi sinh vật Tuy nhiên, các thông tin về vấn đề này còn chưa nhiều, nhưng nghiên cứu của Orskov và cs, (1978) trên rơm không xử lý và xử lý bằng NaOH đã cho thấy có mối tương tác rõ rệt giữa việc bổ sung urê và xử lý rơm bằng xút Các tác giả này

đã thông báo rằng lượng vật chất khô ăn vào và vật chất khô tiêu hoá ở cừu ăn rơm luá mì xử lý bằng NaOH có bổ sung urê đã tăng lên rõ rệt, nhưng lại không thấy ảnh hưởng này trên cừu ăn rơm không xử lý

Trang 33

Bảng 2.1: Ảnh hưởng của việc bổ sung urê vào khẩu phần rơm lúa mì không

xử lý và xử lý NaOH đến vật chất khô ăn vào và tiêu hoá vật chất khô ở cừu Urê bổ sung

(g/kg)

Chất khô ăn vào (g/ngày)

Chất khô tiêu hoá (g/kg)

Chất khô ăn vào (g/ngày)

Chất khô tiêu hoá (g/kg)

2.4.2 Bổ sung các axit béo đồng phân có 4 và 5 carbon

Có rất nhiều bằng chứng cho rằng các axit béo mạch vòng, mạch nhánh: iso-butyric, 2-methylbutyric, iso-valeric và axit béo mạch thẳng là những chất dinh dưỡng cần thiết ít nhất là cho sự phát triển của một số vi sinh vật tiêu hoá xenluloza trong dạ cỏ

Việc bổ sung thêm muối của các axit béo mạch nhánh iso-C4 và C5 vào khẩu phần thức ăn thô có hàm lượng protein thấp đã làm tăng lượng thức ăn ăn vào, tỷ lệ tiêu hoá thức ăn, nồng độ NH3 và axit béo bay hơi tổng số trong dịch

dạ cỏ, cũng như tăng tốc độ vận chuyển nhũ chất, nitơ tích luỹ, tăng độ ổn định của quá trình cho sữa, năng suất sữa, tăng protein, chất khô sữa và tăng khối lượng cơ thể

Vì các loại thức ăn thô có hàm lượng protein thấp, cũng như hàm lượng các axit amin có mạch nhánh valine, isoleucine, và leusine và axit amin mạch thẳng thấp (Van Gylswyk, 1970), gây nên nồng độ các axit béo iso- butyric, 2-methylbutyric, iso-valeric và n-valeric trong dạ cỏ cũng thấp, (n-valeric là sản phẩm ñược tạo ra từ axit axetic và propionic)

Đến nay vẫn chưa có những nghiên cứu so sánh về ảnh hưởng của bổ sung các axit đồng phân có 4 và 5 carbon cho gia súc nhai lại ăn khẩu phần rơm không

xử lý hoặc xử lý amoniac, nhưng dường như những gia súc được ăn rơm xử lý amoniac có lượng thức ăn ăn vào, tốc độ phân giải xơ cao hơn những gia súc ăn

Trang 34

rơm không xử lý, do đó, nồng độ vi sinh vật dạ cỏ ở những gia súc này lớn hơn, nồng độ axit béo bay hơi cũng cao hơn

2.4.3 Bổ sung protein "thoát qua" (escape protein)

Quá trình tổng hợp protein vi sinh vật trong dạ cỏ có thể tăng lên bằng cách cung cấp cho dạ cỏ một số lượng và tỷ lệ các chất dinh dưỡng thích hợp Tuy nhiên, ở gia súc nhai lại năng suất cao, đặc biệt bò sữa năng suất sữa cao thì nhu cầu các axit amin của vật chủ luôn luôn cao hơn số lượng axit amin được phân giải từ protein vi sinh vật trôi xuống ruột non Sự thiếu hụt này có thể được

bù đắp bằng việc bổ sung protein "thoát qua" không bị phân giải ở dạ cỏ (Orskov (1980) Protein "thoát qua" không bị phân giải ở dạ cỏ và được tiêu hoá ở ruột non sẽ có lợi cho vật chủ Nói một cách chính xác, những protein này nên ñược coi như là "protein thoát qua có thể tiêu hoá được" (Leng và cs, 1991)

Bò non luôn luôn cần cả hai loại protein: protein tiêu hoá ở dạ cỏ và protein "thoát qua", trong khi đó bò khối lượng trên 200 kg với nhu cầu tăng trọng thấp hơn 0,75 kg/ngày không có nhu cầu về protein thoát qua khi chúng ăn khẩu phần có hàm lượng năng lượng thấp (ARC, 1990) Khi gia súc có khối lượng lớn hơn thì lượng thức ăn ăn vào và axit amin do vi sinh vật sản xuất trên đơn vị khối lượng sống của chúng cũng sẽ tăng cao hơn Orskov (1980) đã tính toán rằng, khẩu phần cho bò đực thiến nặng 400 kg tăng trọng 2 kg/ngày không cần đến protein thoát qua trong khẩu phần, lượng protein có thể sử dụng được từ các vi sinh vật dạ cỏ vẫn còn cao hơn nhu cầu Tuy nhiên, tính toán của Orskov (1980) đã giả thiết rằng các axit amin từ vi sinh vật dạ cỏ chỉ được sử dụng bởi vật chủ để tổng hợp protein Giả thiết này có thể không hoàn chỉnh khi rơm là thành phần chính trong khẩu phần Với các khẩu phần cơ sở là rơm, một phần các axit amin có thể được sử dụng như là các tiền chất để tạo glucoza

Những nghiên cứu của Smith và cs, (1980) cho thấy có sai khác rõ rệt về tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn ở bò đang lớn (282 kg) ăn rơm có

bổ sung bột cá thay cho urê Hai khẩu ăn do Smith và cs, (1980) xây dựng tương

tự về lượng chất khô ăn vào cũng như lượng nitơ và năng lượng trao đổi, nhưng khi bổ sung nguồn protein ổn định (bột cá) thì hiệu quả sử dụng thức ăn tăng gấp

3 lần so với hiệu quả này ở bò được bổ sung nguồn nitơ (urê) phân giải ở dạ cỏ Điều này khẳng ñịnh rằng hiệu quả sử dụng các chất dinh dưỡng phụ thuộc rất lớn vào thành phần của thức ăn hàng ngày

Trang 35

Bảng 2.2 Năng suất của bò tơ ăn khẩu phần hạn chế là rơm lúa mì nghiền

có bổ sung urê và bột cá ở mức cao và thấp

Cố định lượng chất khô ăn vào (kg/con) 4,9 5,0 4,9 5,0 Năng lượng trao đổi ăn vào (MJ/ngày) 44,0 44,0 44,3 44,8

mg NH3-N/lít (2,5 giờ sau khi ăn) 148 252 135 138

Hiệu quả sử dụng thức ăn (kg tang

Nguồn: Smith và cs (1980)

Khẩu phần bổ sung bột cá có mức năng lượng và nitơ giống như khẩu phần được bổ sung urê, nhưng hiệu quả khác nhau như đã nêu ở trên, điều đó đã gợi ý rằng: bột cá đã cung cấp các chất dinh dưỡng đang thiếu cho quá trình lên men dạ cỏ, do đó kích thích phát triển của hệ vi sinh vật dạ cỏ, ñồng thời cũng gợi ý rằng bổ sung bột cá làm cho hiệu quả sử dụng thức ăn cho quá trình sinh trưởng của gia súc Một điều đáng quan tâm trong nghiên cứu của Smith và cs, (1980) là bổ sung bột cá đã làm tăng đáng kể nồng độ các axit béo đồng phân (P<0,05) trong dịch dạ cỏ, kích thích lên men và tốc độ lưu chuyển của vi sinh vật

dạ cỏ Ảnh hưởng của bổ sung protein "thoát qua" đã có tác dụng khác nhau rõ rệt

khẩu phần này có hàm lượng nitơ giống nhau Nelson và cs, (1981) đã bổ sung một

Trang 36

hỗn hợp có protein "thoát qua" cho 2 nhóm bò ăn khẩu phần lõi ngô xử lý NH3 và lõi ngô bổ sung urê đã nhận thấy việc bổ sung này ít ảnh hưởng đối với bò ăn khẩu phần lõi ngô không chế biến có bổ sung urê, nhưng lại làm tăng lượng nitơ của vi

nitơ của vi khuẩn ra khỏi dạ cỏ ở khẩu phần lõi ngô xử lý NH3 có thể là do lượng cơ chất tiêu hoá mà vi sinh vật có thể sử dụng được ở khẩu phần này cao hơn và vì thế tốc độ chuyển dịch ra khỏi dạ cỏ của vi sinh vật cao hơn

Đối với những khẩu phần cơ sở là thức ăn thô chất lượng thấp, lượng thức ăn ăn vào ở bò và cừu ăn những khẩu phần này có bổ sung protein "thoát qua" cao hơn so với bò và cừu ăn khẩu phần như trên có bổ sung urê

Việc bổ sung protein "thoát qua" và urê vào khẩu phần đã bổ sung urê cho

bò và cừu hoặc có ảnh hưởng tích cực hoặc không ảnh hưởng gì đến lượng thức ăn ăn vào ở khẩu phần cơ sở là thức ăn thô Bò ăn khẩu phần bổ sung protein

"thoát qua" thường tăng trọng nhanh hơn bò ăn khẩu phần bổ sung nitơ phi protein (NPN) trong cùng một thí nghiệm (Smith và cs, 1980) Hơn nữa bò ăn khẩu phần đã bổ sung urê và có bổ sung protein "thoát qua" cũng tăng trọng nhanh hơn bò ăn khẩu phần chỉ bổ sung urê

2.5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

2.5.1 Tình hình nguyên cứu trong nước

Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước về vấn đề sử dụng, bảo quản và nâng cao giá trị dinh dưỡng của rơm làm thức ăn thô xơ cho trâu bò Mục đích của các công trình nghiên cứu là nhằm cải thiện giá trị dinh dưỡng của rơm và mở rộng thêm nguồn thức ăn thô xơ cho trâu

bò, đặc biệt là vào mùa khan hiếm thức ăn thô xanh

Nguyễn Trọng Tiến, (1991); Nguyễn Xuân Bả, (1997) đã thực hiện nghiên cứu xử lý rơm với các mức urê (0,3,4) với thời gian ủ (0,10, 30, 60, 90 ngày) đã đưa ra kết luận là các thành phần VCK, xơ thô của rơm xử lý giảm dần theo thời gian ủ và làm tăng hàm lượng Protein thô Cũng theo Nguyễn Trọng Tiến, (1993) việc xử lý rơm với 3% urê là phù hợp với thời gian là 10 ngày Trong thí nghiệm in-sacco Đặng Thái Hải và Nguyễn Trọng Tiến, (1995) đã cho thấy rơm xử lý 3,

4, 5 % urê thời gian ủ 21 ngày, độ ẩm 50% thì tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng nâng lên rõ rệt Việc xử lý đã làm tăng mật độ vi khuẩn nhưng không ảnh hưởng

Ngày đăng: 14/11/2018, 00:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Văn Cải (2007) Nuôi bò thịt kỹ thuật – kinh nghiệm – hiệu quả , Nhà xuất bản nông nghiệp, Tr 127 – 132 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi bò thịt kỹ thuật – kinh nghiệm – hiệu quả
Tác giả: Đinh Văn Cải
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 2007
2. Đinh Văn Mười (2012). Nghiên cứu xác định tỷ lệ tiêu hoá, giá trị dinh dưỡng và xây dựng phương trình chẩn đoán các giá trị này của một số loại thức ăn dùng cho gia súc nhai lại , Luận án tiến sĩ nông nghiệp, Viện Chăn nuôi 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xác định tỷ lệ tiêu hoá, giá trị dinh dưỡng và xây dựng phương trình chẩn đoán các giá trị này của một số loại thức ăn dùng cho gia súc nhai lại
Tác giả: Đinh Văn Mười
Nhà XB: Viện Chăn nuôi
Năm: 2012
3. Đoàn Đức Vũ (1997). Đánh giá và cải tiến khẩu phần ăn của bò sữa trong chăn nuôi hộ gia đình khu vực TP. Hồ Chí Minh , Báo cáo khoa học chăn nuôi - thú y, Nha Trang 20 - 22/ 8/ 1997, tr. 210 - 221 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá và cải tiến khẩu phần ăn của bò sữa trong chăn nuôi hộ gia đình khu vực TP. Hồ Chí Minh
Tác giả: Đoàn Đức Vũ
Nhà XB: Báo cáo khoa học chăn nuôi - thú y
Năm: 1997
4. Lê Khắc Thận (1974). Giáo trình sinh học động vật. Nxb Nông thôn, tr. 101 - 102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh học động vật
Tác giả: Lê Khắc Thận
Nhà XB: Nxb Nông thôn
Năm: 1974
5. Lê Viết Ly, Bùi Văn Chính (1996). Kết quả nghiên cứu chế biến và sử dụng một số phụ phẩm nông nghiệp chính ở Việt Nam làm thức ăn cho gia súc , Hội thảo Quốc gia về khoa học và phát triển chăn nuôi đến năm 2000, 26 - 28/11/1996, Hội chăn nuôi Việt Nam, tr. 96 - 101 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu chế biến và sử dụng một số phụ phẩm nông nghiệp chính ở Việt Nam làm thức ăn cho gia súc
Tác giả: Lê Viết Ly, Bùi Văn Chính
Nhà XB: Hội chăn nuôi Việt Nam
Năm: 1996
7. Nguyễn Văn Thưởng, Trần Doãn Hối, Vũ Văn Nội (1985). Kết quả nghiên cứu Dùng bò đực Zebu giống Red sindhi lai cải tạo bò vàng Việt Nam . Trang 79-84.Tuyển tập các công trình nghiên cứu chăn nuôi 1969-1984. NXB nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu Dùng bò đực Zebu giống Red sindhi lai cải tạo bò vàng Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Thưởng, Trần Doãn Hối, Vũ Văn Nội
Nhà XB: NXB nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1985
8. Nguyễn Xuân Trạch và Cù Xuân Dần (1999b). Ảnh hưởng của thành phần hóa học của rơm lúa khi sử lý bằng urê và vôi , kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thật khoa chăn nuôi thú y, 1996- 1998, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của thành phần hóa học của rơm lúa khi sử lý bằng urê và vôi
Tác giả: Nguyễn Xuân Trạch, Cù Xuân Dần
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1999
9. Nguyễn Xuân Trạch, Chu Mạnh Thắng, Vũ Văn Thành,(2001). Ảnh hưởng của xử lý và bổ sung dinh dưỡng khi sử dụng rơm làm thức ăn nuôi bê sinh trưởng , Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp - ĐHNNI, Số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của xử lý và bổ sung dinh dưỡng khi sử dụng rơm làm thức ăn nuôi bê sinh trưởng
Tác giả: Nguyễn Xuân Trạch, Chu Mạnh Thắng, Vũ Văn Thành
Nhà XB: Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp - ĐHNNI
Năm: 2001
11. Đinh Văn Muời (2012). Nghiên cứu xác định tỷ lệ tiêu hóa, giá trị dinh dưỡng và xây dựng phương trình chẩn đoán các giá trị này của một số loại thức ăn dùng cho gia súc nhai lại. Luận án Tiến sỹ nông nghiệp, Viện chăn nuôi, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xác định tỷ lệ tiêu hóa, giá trị dinh dưỡng và xây dựng phương trình chẩn đoán các giá trị này của một số loại thức ăn dùng cho gia súc nhai lại
Tác giả: Đinh Văn Muời
Nhà XB: Viện chăn nuôi
Năm: 2012
12. Bùi Quang Tuấn (2007). Điều tra tình hình sử dụng các nguồn phụ phẩm nông nghiệp, công nghiệp làm thức ăn chăn nuôi , Báo cáo tổng kết đề tài Trường Đại học Nông nghiệp I – Hà Nội, số 1/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra tình hình sử dụng các nguồn phụ phẩm nông nghiệp, công nghiệp làm thức ăn chăn nuôi
Tác giả: Bùi Quang Tuấn
Nhà XB: Báo cáo tổng kết đề tài Trường Đại học Nông nghiệp I – Hà Nội
Năm: 2007
14. Đặng Thái Hải, Nguyễn Trọng Tiến (1995). Ảnh hưởng của xử lý rơm bằng urê tới tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng trong dạ cỏ bò , Kỷ yếu kết quả nghiên cứu khoa học chăn nuôi - thú y 1991 - 1995, ĐHNN I - Hà Nội, Nxb Nông nghiệp, tr.118 - 120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của xử lý rơm bằng urê tới tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng trong dạ cỏ bò
Tác giả: Đặng Thái Hải, Nguyễn Trọng Tiến
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
15. Đỗ Đức Lực, Nguyễn Chí Thành, Nguyễn Hoàng Thịnh, Nguyễn Công Oánh, Phan Văn Chung và Đặng Vũ Bình (2009). Khảo sát một số chỉ tiêu chất lượng thịt trâu, bò , Tạp chí Khoa học và Phát triển, trường ĐHNN Hà Nội, Tập VII, Số 1, tr. 17 - 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát một số chỉ tiêu chất lượng thịt trâu, bò
Tác giả: Đỗ Đức Lực, Nguyễn Chí Thành, Nguyễn Hoàng Thịnh, Nguyễn Công Oánh, Phan Văn Chung, Đặng Vũ Bình
Nhà XB: Tạp chí Khoa học và Phát triển, trường ĐHNN Hà Nội
Năm: 2009
16. Lê Doãn Diện (1975). Hoá sinh thực vật, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 122 - 125 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoá sinh thực vật
Tác giả: Lê Doãn Diện
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1975
17. Nguyễn Xuân Bả (1997). Sử dụng rơm xử lý urê làm thức ăn cho gia súc . Tuyển tập những công trình nghiên cứu khoa học nông nghiệp và kinh tế nông nghiệp 1967 - 1997, ĐH Nông lâm Huế, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 157 - 160 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng rơm xử lý urê làm thức ăn cho gia súc
Tác giả: Nguyễn Xuân Bả
Nhà XB: ĐH Nông lâm Huế
Năm: 1997
18. Nguyễn Xuân Trạch (2003). Ảnh hưởng của kiềm hoá đến giá trị dinh dưỡng của rơm và sinh trưởng của Bê , Tạp chí chăn nuôi , Số 8/2003, tr. 6 -8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của kiềm hoá đến giá trị dinh dưỡng của rơm và sinh trưởng của Bê
Tác giả: Nguyễn Xuân Trạch
Nhà XB: Tạp chí chăn nuôi
Năm: 2003
20. Nguyễn Xuân Trạch và Trần Thị Uyên (1997). Một số yếu tố ảnh hưởng đến thành phần hoá học của rơm khi xử lý bằng urê , Tạp chí thông tin khoa học và kỹ thuật nông nghiệp số 2 - 29, Trường ĐHNN I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố ảnh hưởng đến thành phần hoá học của rơm khi xử lý bằng urê
Tác giả: Nguyễn Xuân Trạch, Trần Thị Uyên
Nhà XB: Tạp chí thông tin khoa học và kỹ thuật nông nghiệp
Năm: 1997
21. Nguyễn Xuân Trạch, Cù Xuân Dần (1998). Đặc điểm phân giải ở dạ cỏ của rơm được xử lý bằng urê và vôi , Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật chăn khoa nuôi - thú y 1996 - 1998, ĐHNN I, Hà Nội, Nxb Nông nghiệp, tr. 30 - 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm phân giải ở dạ cỏ của rơm được xử lý bằng urê và vôi
Tác giả: Nguyễn Xuân Trạch, Cù Xuân Dần
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
22. Nguyễn xuân Trạch, Cù Xuân Dần (1999a). Ảnh hưởng của một số công thức kiềm hoá đến tính chất và thành phần hoá học của rơm , Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật khoa chăn nuôi thú y, 1996- 1998, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của một số công thức kiềm hoá đến tính chất và thành phần hoá học của rơm
Tác giả: Nguyễn xuân Trạch, Cù Xuân Dần
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1999
24. Vũ Văn Nội, Phạm Kim Cương và Đinh Văn Tuyền (1999). Sử dụng phế phụ phẩm và nguồn thức ăn sẵn có tại địa phương để vỗ béo bò . Báo cáo khoa học CNTY, Huế 28-30/6/1999; trang 25-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng phế phụ phẩm và nguồn thức ăn sẵn có tại địa phương để vỗ béo bò
Tác giả: Vũ Văn Nội, Phạm Kim Cương, Đinh Văn Tuyền
Nhà XB: Báo cáo khoa học CNTY
Năm: 1999
1. AFRC (1993). Energy and Protein Requirements of Ruminants , CAB International, Walling ford, UK Sách, tạp chí
Tiêu đề: Energy and Protein Requirements of Ruminants
Tác giả: AFRC
Nhà XB: CAB International
Năm: 1993

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w