Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp, trong đó : a, Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; b, Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiể
Trang 1MỤC LỤC
Mở đầu
Nội dung
I Khái quát về công ty cổ phần
1 Khái niệm công ty cổ phần
2 Đặc điểm của công ty cổ phần
3.Khái quát chung về vốn của công ty cổ phần
II Một số hình thức huy động vốn của công ty cổ phần
1 Phát hành cổ phiếu
2 Phát hành trái phiếu
3 huy động vốn thông qua hình thức tín dụng III Một số nhân xét về các quy định của pháp luật vốn trong công ty cổ phần và giải pháp nhằm sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về huy động vốn của công ty cổ phần
KẾT LUẬN
Các từ viết tắt trong bài :
LDN : Luật Doanh nghiệp
LCK : Luật chứng khoán
CTCP : công ty cổ phần
Trang 2MỞ ĐẦU
Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp phổ biến trong nền kinh tế thị trường, nó góp phần phát triển nên kinh tế và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường Trên thế giới, công ty cổ phần và pháp luật về công ty cổ phần có lịch sử phát triển khá lâu đời, tuy nhiên ở Việt Nam, công ty cổ phần còn là một điều khá mới mẻ và chưa được nhiều người biết đến Để giúp mọi người hiểu hơn về loại hình công ty
này, em xin trình bày đề bài : “ Tìm hiểu pháp luật về huy động vốn của công ty cổ phần”.
Bài làm này là sự cố gắng nghiên cứu, tìm tòi của em trong thời gian qua, tuy nhiên vì thời gian và kiến thức có hạn nên bài làm không tránh khỏi những sai xót, rất mong thầy cô góp ý để bài làm của em hoàn thiện hơn
Em xin trân thành cảm ơn !
NỘI DUNG
I Khái quát về công ty cổ phần.
1 Khái niệm công ty cổ phần.
Công ty cổ phần là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn, vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, người sở hữu cổ phần gọi là
cổ đông, chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty cho đến hết giá trị cổ phần mà họ sở hữu
Trong hệ thống khoa học pháp lý của các quốc gia khác nhau có nhiều cách định nghĩa khác nhau về công ty cổ phần Pháp luật Việt Nam hiện hành không đưa ra định nghĩa về công ty cổ phần mà chỉ đưa ra những dấu hiệu nhận biết về công ty cổ phần, được quy định rõ tại khoản 1 Điều 77 Luật doanh nghiệp năm
2005 :
“1 Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp, trong đó :
a, Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
b, Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế tối đa;
c, Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ về tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
d, Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 54 của luật này.
Trang 32.Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
3.Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn”.
2 Đặc điểm của công ty cổ phần
Đặc điểm cơ bản của công ty cổ phần giúp chúng ta phân biệt với những loại hình công ty khác,đó là:
- Về thành viên công ty: Trong suốt quá trình hoạt động ít nhất phải có ba thành viên tham gia công ty cổ phần
- Về vốn công ty: vốn do các cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định được ghi trong Điều lệ tạo thành vốn điều lệ của công ty
- Tính tự do chuyển nhượng phần vốn góp: Phần vốn góp( cổ phần) của các thành viên được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu Các cổ phiếu do công ty phát hành là một loại hàng hóa Người có cổ phiếu có thể tự do chuyển nhượng theo quy định của pháp luật
- Về chế độ trách nhiệm: Công ty cổ phần chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của công ti Các cổ đông chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ti trong phạm vi số vốn đã góp vào công ti ( tức là đến hết phần giá trị cổ phần mà họ sở hữu)
- Trong quá trình hoạt động, công ti cổ phần có quyền phát hành chứng khoán (như cổ phiếu, trái phiếu) ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán để huy động vốn Điều này thể hiện khả năng huy động vốn lớn của công ti
cổ phần
- Công ti cổ phần là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân Công ti có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
3.Khái quát chung về vốn của công ty cổ phần.
Khái niệm vốn của công ty cổ phần.
Cũng như các chủ thể kinh doanh khác, CTCP phải có vốn Dưới khía cạnh kinh tế có thể hiểu vốn của CTCP là giá trị toàn bộ tài sản tính bằng tiền của CTCP được đầu tư vào hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm mục đích kiếm lợi nhuận cho công ty Dưới khía cạnh pháp lý thì cho đến nay vốn của CTCP vẫn chưa có một định nghĩa chính thức và đầy đủ
Trang 4Đặc điểm về vốn của công ty cổ phần.
Thứ nhất, vốn của CTCP được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó
chủ yếu là vốn huy động từ bên ngoài
Thứ hai, đặc trưng về vốn của CTCP thường biểu hiện ở vốn điều lệ Khác với
vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn, vốn của CTCP bắt buộc phải chia thành những phần nhỏ nhất có giá trị bằng nhau gọi là cổ phần
Thứ ba, vốn của CTCP có ảnh hưởng tới tổ chức nội bộ của CTCP.
Thứ tư, phần vốn của các cổ đông trong công ty có thể tự do chuyển nhượng
thông qua việc chuyển quyền sở hữu cổ phần (trừ một số trường hợp nhất định) mà biểu hiện về mặt hình thức là chuyển nhượng cổ phiếu
Thứ năm, vốn của CTCP có sự liên quan mật thiết tới thị trường chứng khoán.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, CTCP có quyền phát hành các loại chứng khoán ra công chúng để huy động vốn Trong quá trình huy động vốn, CTCP là chủ thể sản xuất “hàng hóa” cho thị trường chứng khoán Ngoài ra, hoạt động sản xuất kinh doanh của CTCP còn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của thị trường chứng khoán Nếu CTCP làm ăn có lãi, các nhà đầu tư sẽ yên tâm, giá cổ phiếu tăng, thị trường sẽ phát triển, ngược lại, công ty làm ăn không hiệu quả, hoặc
có hành vi lừa lọc, làm mất lòng tin của các nhà đầu tư, giá cổ phiếu giảm gây phản ứng không tốt cho thị trường
Cấu trúc vốn của công ty cổ phần
CTCP là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn Cơ cấu tổ chức bộ máy quản
lý, những vấn đề quản lý nội bộ, quyền và nghĩa vụ của các cổ đông được giải quyết chủ yếu dựa trên nguyên tắc đối vốn (nghĩa là dựa trên giá trị cổ phần mà các cổ đông nắm giữ) Mặt khác với cấu trúc vốn linh hoạt, khả năng chuyển cổ phần dễ dàng trên thị trường làm cho công ty cổ phần có phạm vi, quy mô kinh doanh lớn, số lượng cổ đông đông đảo Khi tham gia vào CTCP các cổ đông không quan tâm đến nhân thân của nhau mà chỉ quan tâm đến phần vốn góp Cổ phần của công ty gồm: cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi Sự đa dạng hóa các loại cổ phần với các quyền và mức độ khác nhau cho phép công ty cổ phần tạo lập được cấu trúc vốn linh hoạt phù hợp với khả năng, yêu cầu phát triển cũng như yêu cầu quản lý công ty
Với tính chất đa sở hữu, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, cơ chế quản lý trong CTCP dựa trên sức mạnh kinh tế của các nhóm sở hữu trong công ty Trong cơ cấu
Trang 5tổ chức bộ máy quản lý trong công ty có sự phân chia quyền lực rõ ràng giữa các
bộ phận Sự phân chia quyền lực này trước hết phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp của các
cổ đông, nhằm đảm bảo một cơ cấu tổ chức quản lý chặt chẽ, bảo vệ đến mức tối
đa quyền lợi của các cổ đông Về cơ bản, bộ máy quản lý của doanh nghiệp đối vốn có sự phân chia quyền lực và cơ cấu hoàn chỉnh, rõ ràng hơn so với doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh CTCP là một trong những loại hình doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức chặt chẽ nhất và hoàn thiện nhất, có sự phân chia quyền lực rõ ràng nhất đồng thời cơ cấu tổ chức này chịu sự chi phối quyết định của cấu trúc vốn
Ưu thế của công ty cổ phần trong việc huy động vốn
* Khả năng tiếp cận thị trường vốn của CTCP đa dạng hơn các loại hình doanh nghiệp khác
Khoản 3 Điều 77 Luật Doanh nghiệp 2005: “Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn Trong các loại chứng khoán ấy, cổ phiếu là
công cụ đặc biệt của CTCP, nó đem đến ưu thế rất lớn cho CTCP nhờ khả năng thu hút vốn dễ dàng, có thể huy động được một nguồn vốn lớn do mở rộng đối tượng huy động, giảm chi phí huy động vốn do tiếp cận trực tiếp với người đầu tư Trong khi đó, khoản 3 Điều 130 và khoản 2 Điều 141 Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì
công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân “không được phát hành bất kì loại chứng khoán nào” Bên cạnh đó, khả năng huy động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn
có nhiều thuận lợi hơn nhưng cũng “không được quyền phát hành cổ phần” (theo
quy định tại khoản 3 Điều 38 Luật Doanh nghiệp năm 2005)
* Ưu thế của CTCP trong việc thu hút các nhà đầu tư
CTCP có cấu trúc vốn rất linh hoạt, đáp ứng được nhu cầu của các nhà đầu tư Phần vốn của cổ đông có thể tự do chuyển nhượng thông qua việc chuyển quyền sở hữu cổ phần với hình thức chuyển nhượng cổ phiếu (trừ một số trường hợp do pháp luật quy định) Việc chuyển nhượng cổ phiếu mang lại cho nền kinh tế sự vận động nhanh chóng của vốn đầu tư mà không phá vỡ tính ổn định của tài sản công ty
* Ngòai ra cổ phần có mệnh giá nhỏ kết hợp với tính thanh khoản (tính lưu động) và chuyển nhượng đã khuyến khích các cá nhân, tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư Chính vì thế, CTCP có thể huy động được một nguồn vốn lớn đáp ứng được
Trang 6các dự án đầu tư cần nguồn vốn lớn và lâu dài, mở rộng và đa dạng hóa các ngành nghề kinh doanh một cách thuận lợi và dễ dàng
II Một số hình thức huy động vốn của công ty cổ phần.
1 Phát hành cổ phiếu
a Cổ phiếu
Cổ phiếu là một loại chứng khoán do công ty cổ phần phát hành chứng nhận việc góp vốn vào công ty của các cổ đông Cổ phiếu chính là bằng chứng chứng minh quyền sở hữu cổ phần của cổ đông công ty
Điều 85 Luật doanh nghiệp năm 2005 quy định : “cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó…”
Cổ phiếu có nhiều loại khác nhau Theo quy định của pháp luật, công ty cổ phần được phép phát hành cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi Cổ phiếu phổ thông là loại cổ phiếu mà tất cả các công ty cổ phần được phép phát hành Loại cổ phiếu này là loại chứng khoán không có kỳ hạn, tồn tại cùng với sự tồn tại của công ty phát hành ra nó Cổ phiếu phổ thông không có lãi xuất cố định mà phụ thuộc vào khả năng kinh doanh của công ty
b, Phát hành cổ phiếu
Phát hành cổ phiếu là việc chào bán cổ phần của công ty cổ phần cho người đầu tư nhằm đáp ứng yêu cầu về vốn của công ty Kết quả của việc chào bán cổ phần sẽ đảm bảo huy động đủ vốn điều lệ trong quá trình thành lập công ty hoặc sẽ làm tăng vốn điều lệ của công ty trong trường hợp công ty đang hoạt động
Phát hành cổ phiếu có nghĩa là bán một phần quyền sở hữu công ty cho người mua cổ phiếu, tức là người mua cổ phiếu sẽ trở thành chủ sở hữu công ty Các cổ đông nắm giữ quyền sở hữu công ty tùy thuộc vào tỷ lệ phần vốn góp của họ trên vốn điều lệ Nên khi cổ phần mới được bán hết thì một phần quyền sở hữu công ty của cổ đông cũ bị giảm sút do có sự tăng vốn điều lệ Điều này dẫn đến việc thay đổi vị thế của từng cổ đông và vì vậy có thể thay đổi cơ cấu quản lý và kiểm soát công ty Do vậy, việc quyết định số lượng cổ phiếu, loại cổ phiếu phát hành cũng như phương thức phát hành phải được cân nhắc thận trọng Việc chào bán cổ phần ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổ đông hiện có trong công ty nên việc quyết
Trang 7định loại cổ phần, tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng loại thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông
c, Quy định của pháp luật về phát hành cổ phiếu.
Phát hành cổ phiếu lần đầu tiên khi thành lập công ty.
Khoản 4 Điều 84 LDN 2005 quy định: “Trường hợp các cổ đông sáng lập không đăng ký mua hết số cổ phần được quyền chào bán thì số cổ phần còn lại phải được chào bán và phải bán hết trong thời hạn ba năm, kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh” Điều này được đặt ra để yêu cầu
CTCP nếu đã tiến hành chào bán cổ phiếu thì phải thực hiện đến cùng để huy động được số vốn điều lệ như đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh Việc quy định thời hạn này có liên quan đến thời hạn mà cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập được tự do chuyển nhượng, nhằm gắn trách nhiệm của cổ đông sáng lập đối với công chúng đầu tư cũng như đối với CTCP phát hành trong giai đoạn đầu thành lập, buộc cổ đông sáng lập chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người khác không phải là cổ đông sáng lập của công ty khi CTCP đã hoàn thành đợt phát hành cổ phiếu lần đầu Tuy nhiên, vì không quy định về trách nhiệm pháp lý khi CTCP không thực hiện đúng điều luật nên việc thực hiện điều luật này trên thực tế gặp nhiều khó khăn
Phát hành cổ phiếu của công ty cổ phần trong quá trình hoạt động
Phát hành cổ phiếu có thể thực hiện bằng hai phương thức:
Phát hành riêng lẻ( phát hành hẹp): là phương thức trong đó cổ phiếu có thể
được bán cho phạm vi một số người nhất định với khối lượng hạn chế Phát hành hẹp thường không chịu ràng buộc về điều kiện và thủ tục phát hành Điều 87 LDN quy định về việc CTCP phát hành thêm cổ phần phổ thông và chào bán cổ phần
phổ thông cho tất cả các cổ đông theo tỷ lệ cổ phần hiện có của họ tại công ty: “ Hội đồng quản trị quyết định thời điểm, phương thức và giá chào bán cổ phần trong số cổ phần được quyền chào bán Giá chào bán cổ phần không được thấp hơn giá trị thường tại thời điểm chào bán hoặc giá trị được ghi trong sổ sách của
cổ phần tại thời điểm gần nhất, trừ những trường hợp sau đây:
a, Cổ phần chào bán lần đầu tiên cho những người không phải cổ đông sáng lập.
Trang 8b, Cổ phần chào bán cho tất cả cổ đông theo tỷ lệ cổ phần hiện có của công ty họ.
c, Cổ phần chào bán cho người môi giới hoặc người bản lãnh Trong trường hợp này, số chiết khấu hoặc tỷ lệ chiết khấu cụ thể phải được sự chấp thuận của số
cổ đông đại diện cho ít nhất 75% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết.
d, Các trường hợp khác và mức chiết khấu trong các trường hợp đó do Điều
lệ công ty quy định.”[…]
Nhưng hiện nay, việc chào bán cổ phần riêng lẻ không chỉ hướng tới các thành viên trong CTCP mà còn mở rộng ra các nhà đầu tư bên ngoài có nhu cầu
Do đó, để đảm bảo cho thị trường chứng khoán phát triển ổn định, sôi nổi và để đưa phương thức này vào khuôn khổ có sự quản lý của pháp luật thì Chính phủ đã ban hành Nghị định số 01/2010/NĐ-CP quy định về chào bán cổ phần riêng lẻ Căn cứ vào khoản 1 Điều 4 của Nghị định có thể hiểu phát hành cổ phiếu riêng lẻ là hình thức phát hành cổ phiếu trong đó cổ phần được chào bán hoặc quyền mua cổ phần một cách trực tiếp và không sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng cho một trong các đối tượng sau: các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; dưới 100 nhà đầu tư không phải là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp
Phát hành ra công chúng ( phát hành rộng rãi): Căn cứ vào khoản 12 Điều 6
Luật chứng khoán năm 2006 (LCK 2006) về chào bán chứng khoán ra công chúng thì phát hành cổ phiếu ra công chúng được hiểu là phương thức phát hành trong đó
cổ phiếu được bán rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn nhà đầu tư với khối lượng cổ phiếu phát hành đạt độ lớn nhất định theo một trong các phương
thức sau đây: Thông qua phương tiện thông tin đại chúng, kể cả Internet; Chào bán chứng khoán cho từ một trăm nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; Chào bán cho một số lượng nhà đầu tư không xác định.
Phát hành cổ phiếu ra công chúng phải chịu sự ràng buộc của pháp luật chứng khoán về điều kiện, trình tự, thủ tục phát hành Ngoài ra công ty phải thực hiện chế
độ báo cáo, công bố thông tin và chịu sự giám sát chặt chẽ theo quy định của pháp luật
Tóm lại, trình tự ,thủ tục phát hành cổ phiếu ra công chúng bao gồm các giai đoạn:
Giai đoạn chuẩn bị phát hành: Công ty cổ phần quyết đinh loại, số lượng,
mệnh giá, mẫu mã của cổ phiếu dự kiến phát hành, lựa chọn và ký hợp đồng với tổ
Trang 9chức bảo lãnh phát hành hoặc tổ chức đại lý phát hành, chuẩn bị tài liệu hồ sơ xin phép phát hành sau đó nộp hồ sơ xin phép phát hành đến UBCK Nhà nước
Giai đoạn phát hành cổ phiếu: Sau khi được cấp giấy phép phát hành, công ty
thực hiện các hoạt động phát hành chứng khoán, công bố việc phát hành , thời hạn phát hành, tiến hành đăng ký, lưu giữ, chuyển giao và thanh toán cổ phiếu sau khi kết thúc đợt phân phối
d, Điều kiện chào bán cổ phẩn
Đối với cổ phần phổ thông : LDN 2005 quy định: “các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán và phải thanh toán đủ số cổ phần đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày,
kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh” Yêu cầu này
đặt ra thường nhằm vào các CTCP mới thành lập và phát hành cổ phiếu lần đầu Bởi vì đối với các công ty này, đây là thời điểm công ty chưa khẳng định được năng lực hoạt động của mình cũng như khả năng tài chính để đảm bảo an toàn trong các quan hệ với đối tác bên ngoài và với công chúng đầu tư Chính vì vậy, pháp luật đưa ra quy định này để gắn chặt quyền lợi và trách nhiệm của các cổ đông sang lập (thường là những người thông qua Điều lệ đầu tiên của CTCP) với lợi ích của công ty và đề cao trách nhiệm của họ trong giai đoạn đầu thành lập của CTCP đối với công chúng đầu tư
Điều kiện để chào bán cổ phần riêng lẻ:
Theo quy định tại Nghị định số 01/2010/NĐ – CP ngày 04/01/2010 về chào bán cổ phần riêng lẻ : Chào bán cổ phần riêng lẻ là việc chào bán cổ phần hoặc quyền mua cổ phần trực tiếp và không sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng cho một trong các đối tượng sau:
- Các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp
- Dưới 100 nhà đầu tư không phải nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp Theo đó, điều kiện chào bán cổ phần riêng lẻ gồm có:
- Có quyết định thông qua phương án chào bán cổ phần riêng lẻ và phương án
sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán của Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị theo Điều lệ công ty hoặc ủy quyền của Đại hội đồng cổ đông cho Hội đồng quản trị ( đối với công ty cổ phần); hoặc Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty ( đối với công ty trách nhiệm hữu hạn chuyển thành công ty cổ phần); hoặc
Trang 10chủ doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, Hội đồng quản trị doanh nghiệp liên doanh ( đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi thành công ty
cổ phần)
Phương án chào bán phải xác định rõ đối tượng và số lượng nhà đầu tư được chào bán dưới 100 nhà đầu tư, và hạn chế chuyển nhượng cổ phần tối thiểu trong vòng 1 năm kể từ ngày hoàn thành đợt chào bán
Trường hợp chào bán phải xác định rõ đối tượng và số lượng nhà đầu tư được chào bán phải xây dựng tiêu chí xác định, lựa chọn đối tác chiến lược Đối tác chiến lược là các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có năng lực tài chính, quản trị doanh nghiệp, chuyển giao công nghệ mới, cung ứng nguyên vật liệu, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm, gắn bó với lợi ích lâu dài của doanh nghiệp;
Những người có quyền lợi liên quan đến đợt chào bán riêng lẻ không được tham gia biểu quyết thông qua Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông về việc này
- Có hồ sơ đăng ký chào bán cổ phần riêng lẻ đầy đủ và hợp lệ theo quy định gửi tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền chậm nhất 20 ngày trước ngày dự kiến thực hiện việc chào bán, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác
Đối với phát hành cổ phiếu ra công chúng.
- Doanh nghiệp có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ 10 tỷ đồng trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ sách kế toán ( điều kiện này đã thỏa mãn vì Công ty đã phát hành được 2 triệu cổ phiếu tương đương với mức vốn là 20 tỷ đồng)
- Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ lũy tiến đến năm đăng ký chào bán
- Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua
Sau khi đã đáp ứng các điều kiện trên, doanh nghiệp sẽ nộp hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng lên Ủy ban chứng khoán nhà nước để xin phép phát hành
2 Phát hành trái phiếu.
a Trái phiếu.
Trái phiếu là chứng từ xác nhận quyền làm chủ một món nợ và quyền hưởng lãi trên món nợ đó của người sở hữu đối với công ty cổ phần Người sở hữu trái