Song song với việc công nhận sự tồn tại của các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thì nhà nước cũng ban hành các văn bản pháp luật quy định về tổ chức và hoạt động của chúng.. Tín
Trang 1KHOA LUẬT- ĐẠI HỌC HUẾ
NIÊN LUẬN
Huế ,1/2013
Đề tài : “Pháp luật về Doanh nghiệp tư nhân Thực trạng và giải pháp”
Giáo viên hướng dẫn: Ths Nguyễn Thị Hà
Sinh viên : Phạm Thị Khánh Linh
Lớp : Luật K34B
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, việc xây dựng một khung pháp lý hoàn thiện để điều chỉnh các quan hệ trong hoạt động kinh tế là một yêu cầu bức thiết Song song với việc công nhận sự tồn tại của các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thì nhà nước cũng ban hành các văn bản pháp luật quy định về tổ chức và hoạt động của chúng Luật doanh nghiệp năm 2005 ra đời trên
cơ sở hợp nhất Luật doanh nghiệp 1999 và Luật doanh nghiệp nhà nước 2003 nhìn chung đã quy định tương đối đầy đủ về các loại hình doanh nghiệp tại nước ta, trong đó có cả doanh nghiệp tư nhân Để góp phần tìm hiểu một số vấn đề về doanh nghiệp tư nhân, bài tiểu luận với đề tài “Pháp luật về Doanh nghiệp tư nhân Thực trạng và giải pháp” hi vọng qua đó góp phần hiểu thêm về những quy định của pháp luật về doanh nghiệp tại Việt Nam
1.1Khái quát về doanh nghiệp tư nhân
1.1.1 khái niệm doanh nghiệp tư nhân
1.1.2 Đặc điểm
1.2 Quy chế pháp lí của doanh nghiệp tư nhân
Trang 31.2.1Quyền và nghĩa vụ
1.2.1.1Quyền của doanh nghiệp tư nhân
1.2.1.2Nghĩa vụ của doanh nghiệp tư nhân
1.2.2 Hình thành và chấm dứt doanh nghiệp tư nhân
1.2.2.1 Thành lập doanh nghiệp tư nhân
1.2.2.2 Chấm dứt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân
Chương 2: THỰC TRẠNG DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN tại việt nam và một số
giải pháp:
2.1Khái quát chung về quá trình phát triển doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam
2.2Đánh giá thực trạng doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam
2.3Một số giải pháp cơ bản thúc đẩy phát triển DNTN tại Việt Nam:
PHẦN KẾT LUẬN
I Mở đầu :
1 Tính cấp thiết của đề tài : Doanh nghiệp tư nhân ởViệt Nam được đánh giá là một trong các hình thức kinh tế năng động và linh hoạt nhất trong tổng thể bức tranh kinh tế hiện nay Với sự hướng dẫn và điều chỉnh của
bộ luật doanh nghiệp từ năm 1990 đến 2005, bộ phận kinh tế này đã khởisắc và có nhiều đóng góp quan trọng cho nền kinh tế quốc gia Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã cải tiến nhiều điều khỏan không còn phù hợpcủa luật Doanh nghiệp năm 1990 và 1999 và đã làm giảm các rào cản về mặt thủ tục đối với các doanh nghiệp tư nhân Việc đăng ký kinh doanh
và nộp đơn xin thành lập doanh nghiệp trở nên dễ dàng hơn rất nhiều so với trước đây Hệ thống doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam cũng có nhiều đóng góp quan trọng cho nền kinh tếquốc gia Các doanh nghiêp tưnhân cũng tuyển một lượng lớn lao động nhân công và giúp giải quyết tình trạng thất nghiệp Chúng ta có thể thấy việc phát triển doanh nghiệp
tư nhân Việt Nam dưới sự điều chỉnh của các bộ luật kinh tế, đặc biệt là
bộ luật doanh nghiệp 2005 là một vấn đề rất đáng quan tâm và cần
Trang 4nghiên cứu tìm hiểu kĩ, đặc biệt đối với các bạn sinh viên Vì vậy qua việc nghiên cứu đề tài này sẽ có thể làm sáng tỏ các vấn đề liên quan đếndoanh nghiệp tư nhân.
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3 Mục tiêu: Niên luận tập trung nghiên cứu và đưa ra những giải pháp hỗ trợ tổng thể trên phương diện vĩ mô nhằm phát triển doanh nghiệp tư
nhân trong việc hỗ trợ phát triển doanh nghiệp tư nhân Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: bài viết tạp trung nghiên cứu pháp
luật Việt Nam về doanh nghiệp tư nhân
5 Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương ph áp luận duy vật lịch sử
và duy vật biện chứng, bài niên luận sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp phân tích, thống kê và phương pháp thực chứng thông qua các công cụ tổng hợp, so sánh từ các dãy số liệu thống kê, điều tra
Trong nghiên cứu, còn tiến hành tham vấn ý kiến của các nhà doanh
nghiệp, các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia nghiên cứu trong lĩnh vực phát triển doanh nghiệp
II Nội dung:
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
1.1Khái niệm:
1.1.1 Khái niệm Doanh nghiệp tư nhân
Khái niệm doanh nghiệp ra đời khá muộn ở Việt Nam Doanh nghiệp tư nhân
ra đời sai Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI của Đảng; khi Nhà nước ban hànhcác văn bản pháp luật thừa nhận sự tồn tại của kinh tế tư nhân nói chung và daonh nghiệp tư nhân nói riêng Văn bản đầu tiên là Nghị định số 27/HĐBT-
1998 của Hội đồng Bộ trưởng Sau đó ngày 21/12/1990 Luật doanh nghiệp tư nhân được ban hành Luật Doanh nghiệp tư nhân quy định: “Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân, thừa nhận
sự bình đẳng trước pháp luật với các doanh nghiệp khác”
Hiến pháp 1992 của Việt Nam cũng ghi nhận: “Nhà nước phát triển nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh
đa dạng, dựa trên sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân”; “ các cơ
sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước
Trang 5pháp luật”.
Qua đó, cho thấy đầu những năm 1990, hình thức doanh nghiệp tư nhân đã được thừa nhận và sau này ngày càng được hoàn thiện hơn qua các văn bản Luật
Một trong những văn bản đánh dấu rõ nét nhất sự hoàn thiện đối với các loại hình doanh nghiệp của Việt Nam nói chung và doanh nghiệp tư nhân nói riêng
là Luật doanh nghiệp 1999 Luật doanh nghiệp 1999 đã bổ sung cả cơ cấu lại các quy định về doanh nghiệp tư nhân, từ khái niệm, cơ cấu tổ chức, trình tự thành lập, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp tư nhân cũng như của chủ doanh nghiệp tư nhân Luật doanh nghiệp năm 1999 đã đặt cơ sở cho sự pháttriển đồng bộ, thống nhất giữa các loại hình doanh nghiệp
Tại Điều 99 của Luật doanh nghiệp 1999, doanh nghiệp tư nhân được quy định như sau: “Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp”
Ngày 29/11/2005, Luật doanh nghiệp 2005 được Quốc hội ban hành thay thế cho Luật doanh nghiệp năm 1999, Luật doanh nghiệp nhà nước 2003, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2000) Luật doanhnghiệp năm 2005 ra đời đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế ngày càng mạnh của Việt Nam và phù hợp với xu hướng phát triển của kinh tế trên thế giới Trong Luật doanh nghiệp 2005, một lần nữa, vị trí và vai trò của doanh nghiệp
tư nhân được khẳng định thông qua sự bổ sung, hoàn thiện hơn nữa các quy định về loại hình doanh nghiệp tư nhân Tại Điều 141 Luật doanh nghiệp 2005quy định: “ Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và
tự chịu trách nhiệm toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ một loại chứng khoán nào; mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân”
1.1.2 Đặc điểm:
Thứ nhất,về chủ sở hữu của doanh nghiệp tư nhân
Theo quy định của pháp luật Việt Nam Doanh nghiệp tư nhân thuộc nhóm
Trang 6doanh nghiệp một chủ sở hữu Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân bỏ vốn ra thành lập và đầu tư, mỗi cá nhân chỉ được quyền sở hữu một doanh nghiệp tư nhân.
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp mà tất cả tài sản thuộc về một chủ sở hữu duy nhất; người chủ này là một cá nhân, một con người cụ thể Cá nhân này vừa là người sử dụng tài sản, đồng thời cũng là người quản lí hoạt động của doanh nghiệp tư nhân
Cá nhân có thể trực tiếp hoặc gián tiếp điều hành quản lý doanh nghiệp Song chủ doanh nghiệp vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp tư nhân chỉ có một chủ đầu tư duy nhất , vì vậy cánhân có quyền quyết định mọi vấn đề lien quan đến tổ chức và hoạtđộng của doanh nghiệp chủ doanh nghiệp tư nhân là người đại diệnpháp luật của doanh nghiệp tư nhân Một trong nhứng ưu điểm của việclựa chọn mô hình doanh nghiệp tư nhân không phải chia sẻ quyền lựcquản lý doanh nghiệp với bất kì đối tượng nào khác Chủ doanh nghiệp
có quyền định đoạt đói với tài sản doanh nghiệp cũng như có toànquyền quyết định đối với tài sản doanh nghiệp cũng như toàn quyềnquyết định việc tổ chức quản lý doanh nghiệp để doanh nghiệp hoạtđộng hiệu quả Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể tự mình quản lý doanhnghiệp trong trường hợp thuê người quản lý, chủ doanh nghiệp vẫnphải chịu pháp lý trước hoạt động doanh nghiệp dưới sự quản lý , điềuhành của người được thuê Giới hạn trách nghiệm được phân chia củachủ doanh nghiệp và người được thuê quản lý thông qua mộ hợp đồng.nhưng về cơ bản , người chịu trách nghiệm trực tiếp trước pháp luật vàcác bên thứ ba đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vẫn làchủ doanh nghiệp tư nhân
Thứ hai, về vốn của doanh nghiệp tư nhân
Vốn của doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tư nhân tự khai, chủ doanh nghiệp tư nhân có nghĩa vụ khai báo chính xác tổng số vốn đầu tư, trong đó nêu rõ: sô vốn bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng
và các tài sản khác Đối với vốn bằng tài sản khác, còn phải ghi rõ loại tài sản,
Trang 7số lượng, giá trị còn lại của mỗi loại tài sản Toàn bộ vốn và tài sản, kể cả vốn vay và tài sản thuê, được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp tư nhân đều phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp tư nhân
Trong quá trình hoạt động, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư của mình vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việc tăng, giảm vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp phải được ghi chép vào sổ kế toán Trường hợp giảm vốn đầu tư xuống thấp hơn vốn đầu tư đã đăng ký, thìchủ doanh nghiệp tư nhân chỉ được giảm vốn sau khi đã khai báo với cơ quan đăng kí kinh doanh
Thứ ba, về trách nhiệm tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân
Chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ đếnhạn của doanh nghiệp Trách nhiệm vô hạn nghĩa là chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình mà không có sự phân biệt tài sản trong kinh doanh và tài sản ngoài kinh doanh
Tài sản trong kinh doanh là những tài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tài sản ngoài kinh doanh là những tài sản tiêu dung hàng ngày như: xe cộ, nhà cửa…không đưa vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Có thể nói rằng, chế độ trách nhiệm tài sản của doanh nghiệp tư nhân khác với chế đố trách nhiệm tài sản của công ty Chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân có những ưu điểm và nhược điểm nhất định.Chế độ trách nhiệm vô hạn có những điểm đáng lưu ý:
Thứ nhất, trách nhiệm của người điều hành doanh nghiệp trong quan hệ với chủ doanh nghiệp không phải là người điều hành doanh nghiệp Trách nhiệm này được giải quyết trên cơ sở hợp đồng của chủ doanh nghiệp với người điều hành doanh nghiệp và các quy định trong pháp luật hợp đồng
Thứ hai, vấn đề tài sản của vợ chồng Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình,
vợ chồng có tài sản riêng Các tài sản riêng của vợ (hoặc của chồng ) không phải là tài sản của chủ doanh nghiệp và không đem ra thanh toán nợ của chủ doanh nghiệp.Thứ ba, chế độ trách nhiệm vô hạn cũng có nhược điểm làm cho các chủ doanh nghiệp tư nhân không dám đầu tư vào những lĩnh vực , khu vực có nhiều rủi ro cao Điều đó có thể dẫn đến sự phát triển mất cân đối của nền kinh tế và có những nhu
Trang 8cầu của xã hội không được đáp ứng.
Thứ tư, về phát hành chứng khoán của doanh nghiệp tư nhân
Theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2005, doanh nghiệp tư nhân
không được phát hành bất kỳ một loại chứng khoán nào
Như vậy, khác với công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân không được quyên huy động vốn bằng việc phát hành các loại chứng khoán như cổ phiếu, trái
phiếu… Đây cũng là một hạn chế của loại hình doanh nghiệp tư nhân
Thứ năm, về tư cách pháp nhân
Doanh nghiệp tư nhân là tổ chức kinh tế không có tư cách pháp nhân Đây là loại hình doanh nghiệp duy nhất không có sự tách bạch về tài sản (chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của doanh nghiệp) Vì thế nó không thỏa mãn một trong các điều kiện cơ bản của một pháp nhân
1.2 Quy chế pháp lý về doanh nghiệp tư nhân:
1.2.1 Quyền và nghĩa vụ cơ bản của doanh nghiệp tư nhân
a)Quyền của doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp tư nhân tham gia vào hoạt động kinh doanh với tư cách là mộtchủ thể kinh doanh độc lập Nhà nước không chỉ thừa nhận sự tồn tại và phát triểnlâu dài của doanh nghiệp tư nhân mà còn thừa nhận là một chủ thể pháp lý độc lập.Điều đó được thể hiện một cách rõ nét trong các quy định về quyền và nghĩa vụ củadoanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp tư nhân có các quyền sau:
- Tự chủ kinh doanh, chủ động chọn ngành, nghề, địa bàn đầu tư; chủ động
mở rộng quy mô và ngành nghề kinh doanh; được nhà nước khuyến khích
ưu đãi và tạo điều kiện thuận lợi tham gia sản xuất, cung ứng sản phẩm,dịch vụ công ích;
Quyền này xuất phát từ nguyên tắc tự do kinh tế Doanh nghiệp tư nhânsau khi thừa nhận về mặt pháp lý , trở thành chủ thể kinh doanh độc lập sẽ
Trang 9có quyền kinh doanh độc lập sẽ có quyền kinh doanh đúng với ngành nghề
đã đăng kí Đó có thể là bất cứ ngàng nghề gì, thuoccj bất cứ lãnh vực nàokhông thuộc danh mục ngành nghề pháp luật cấm kinh doanh Sự lụa chọnhoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của chủ doanh nghiệp tư nhân Chủ doanhnghiệp tư nhân sẽ dựa trên khả năng của chính mình, quy mô kinhdoanh ,nhu cầu của thị trường để quyết định các phương hướng đầu tư,kinh doanh Việc kinh doanh ngành nghề gì, kinh doanh như thế nào khôngnhất thiết phụ thuộc vào ý chí chủ quan ban đầu (ở thời điểm đăng kí kinhdoanh) của chủ doanh nghiệp tư nhân Việc thay đổi ngành nghề kinhdoanh được pháp luật chấp nhận ở bất kì thời điểm nào và cũng hoàn toànphụ thuộc vào ý chí chủ quan của chủ doanh nghiệp
- Lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn
Yếu tố đóng một vai trò rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh, ngay cả đốivới những loại hình doanh nghiệp một chủ vốn cũng là một thứ không thể thiếu tìnhtrạng thiếu thốn vốn chính là đặc điểm thường thấy của doanh nghiệp tư nhân vìvốn của doanh nghiệp có nguồn từ tài sản của một cá nhân duy nhất Luật doanhnghiệp năm 2005 cho phép doanh nghiệp tư nhân lựa chọn những hình thức, cáchthức động vốn linh hoạt và quyền này do chủ doanh nghiệp thực hiện
- Chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng;
Doanh nghiệp tư nhân có quyền tự mình tìm kiếm khách hàng và kí kết hợpđồng , nghĩa là được quyền quyết định xem ai sẽ là đối tác của mình trên thươngtrường
Đây cũng là một trong những công cụ để một loại hình doanh nghiệp một chủ nhưdoanh nghiệp tư nhân có thể có chỗ đứng tồn tại được trong môi trường kinhdoanh mà cạnh tranh chính là động lực chủ yếu của sự phát triển Trong môi trường
đó, buộc chủ doanh nghiệp tư nhân phải tìm kiếm những nơi có đầu tư tương lai,những đối tác làm ăn có lợi Nhà nước không can thiệp vào doanh nghiệp tư nhân
tư nhân quan hệ với những đối tác nào ,quan hệ ra sao nếu như những quan hệ ấyvẫn không nằm ngoài những gì pháp luật cho phép
- Kinh doanh xuất khẩu và nhập khẩu;
Luật doanh nghiệp năm 2005 đã quy định cho doanh nghiệp nói chung
Trang 10quyền kinh doanh xuất khẩu và nhập khẩu như một quyền đương nhiêncủa một doanh nghiệp chứ không phải quyền riêng cảu các doanh nghiệpkinh doanh xuất nhập khẩu trước đây, doanh ngiệp được tự mình quyếtđịnh các phương án xuất nhập hàng hóa, dịch vụ của mình mà không cầnbất cứ một loại giấy phép xuất khẩu nào Như vậy với tư cách là mộtdoanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp, doanh nghiệp tư nhâncũng đương nhiên có quyền này Trong bối cảnh chung đó, doanh nghiệp
tư nhân khi có trong tay quyền kinh doanh xuất nhập khẩu cũng hoàn toàn
có thể sử dụng quyền này như một công cụ để cạnh với các loại hìnhdoanh nghiệp tư nhân khác trên thị trường
- Tuyển dụng, thuê mướn, bố trí, sử dụng lao động theo yêu cầu kinhdoanh;
- Chủ động ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại để nâng cao hiệu quả vàkhả năng cạnh tranh;
- Tự chủ quyết định các công việc kinh doanh và quan hệ nội bộ;
- Chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của doanh nghiệp;
Đây là quyền đầu tiên và cũng là quyền cơ bản nhất của doanh nghiệp tưnhân Không giống như các loại hình công ty như công ty cổ phần, công ty tráchnhiệm hữu hạn nhiều thành viên, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân tư nhânchỉ có một chủ duy nhất Tài sản của doanh nghiệp không được hợp thành từ tài sảnvốn góp của các thành viên như hình thức công ty ,tài sản của doanh nghiệp tư nhân
tư nhân chính là tài sản của cá nhân chủ doanh nghiệp Do đó, so với các hình thứccông ty, tài sản của doanh nghiệp tư nhân tư nhân khó tách bạch với tài sản dân sự
cũ chủ doanh nghiệp tư nhân tư nhân Đồng thời, vốn của chủ doanh nghiệp tưnhân là do chủ doanh nghiệp tư nhân tư nhân tự khai và chủ doanh nghiệp tư nhân
có quyền tự tăng giảm vốn đầu tư mà không phải khai báo với cơ quan đăng kí kinhdoanh, trừ trường hợp giảm vốn đầu tư xuống dưới mức đã đăng kí, vì vậy Tài sảncủa doanh nghiệp tư nhân tại một thời điểm nhất định phụ thuộc hoàn toàn vào
hành vi của chủ doanh nghiệp tư nhân Khái niệm “tài sản của doanh nghiệp” đối
với trường hợp doanh nghiệp tư nhân cũng có thể hiểu đó là tài sản đưa vào kinhdoanh của chủ doanh nghiệp tư nhân Có thể nói, do chế độ trách nhiệm vô hạn củachủ doanh nghiệp đối với những hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân
Trang 11nên không thể có giới hạn giữa tài sản của chủ doanh nghiệp và tài sản của doanhnghiệp tư nhân Một cách khác, có thể hiểu, khối tài sản riêng của doanh nghiệp tưnhân cũng vẫn có thể tồn tại nhưng là trong một khoảng thời gian nhất định và phụthuộc hoàn toàn vào chủ doanh nghiệp tư nhân Về nguyên tắc, doanh nghiệp tưnhân sẽ có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt khối tài sản của doanh nghiệpnhưng trên thực tế, chỉ có chủ doanh nghiệp tư nhân mới có đủ điều kiện, khả năng
để thực hiện quyền này
- Từ chối mọi yêu cầu cung cấp các nguồn lực không được luật quy định;
- Khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nài, tố cáo;
- Trực tiếp hoặc thông qua người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụngtheo quy định của pháp luật;
- Các quyền khác do pháp luật quy định
Luật doanh nghiệp năm 2005 đã thể hiện sự đổi mới thông qua việc nâng cao vàtính tự chủ của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp tư nhân nói riêngtrong quá trình hoạt động kinh doanh trách được các tác động không có lợi từ bênngoài Luật doanh nghiệp năm 2005 đã thể hiện sự dổi mới thông qua việc nâng caotính tự chủ của doanh nghiệp tư nhân trong việc tự mình hạn chế sự can thiệp quan
lieu, tiêu cực tói chính hoạt động của doanh nghiệp, hạn chế đến mức tối đa sự “ sách nhiễu” của các cơ quan chức năng , những người có thế lực đồi với haotj động
kinh doanh của doanh nghiệp
a.2) Nghĩa vụ của doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp tư nhân có các nghĩa vụ sau:
Như vậy, về cơ bản , doanh nghiệp tư nhân có tất cả các quyền và nghĩa vụ củamột doanh nghiệp, ngoài ra ,nó còn có quy định về quyền và nghĩa vụ của chủdoanh nghiệp:
Một là, quyền quản lí doanh nghiệp
Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp, việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các
Trang 12nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.
Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hànhhoạt động kinh doanh Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý doanhnghiệp thì chủ doanh nghiệp tư nhân phải đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh
và vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Chủ doanh nghiệp tư nhân là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụliên quan trước Trọng tài hoặc Toà án trong các tranh chấp liên quan đến doanhnghiệp
Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Hai là, quyền cho thuê doanh nghiệp
Điều 144 luật doanh nghiệp năm 2005 quy định về quyền cho thuê toàn bộ của chủdoanh nghiệp tư nhân Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền cho thuê toàn bộ doanhnghiệp của mình nhưng phải báo cáo bằng văn bản kèm theo bản sao hợp đồng chothuê có công chứng đến cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế Trong thời hạncho thuê, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật với
tư cách là chủ sở hữu doanh nghiệp Quyền và trách nhiệm của chủ sở hữu và ngườithuê đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được quy định trong hợp đồngcho thuê
Ba là, quyền bán doanh nghiệp
Điều 145, Luật doanh nghiệp năm 2005 cho phép chủ doanh nghiệp tư nhân có quyềnbán doanh nghiệp của mình cho người khác Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền bándoanh nghiệp của mình cho người khác Chậm nhất mười lăm ngày trước ngàychuyển giao doanh nghiệp cho người mua, chủ doanh nghiệp phải thông báo bằngvăn bản cho cơ quan đăng ký kinh doanh Thông báo phải nêu rõ tên, trụ sở củadoanh nghiệp; tên, địa chỉ của người mua; tổng số nợ chưa thanh toán của doanhnghiệp; tên, địa chỉ, số nợ và thời hạn thanh toán cho từng chủ nợ; hợp đồng lao động
và các hợp đồng khác đã ký mà chưa thực hiện xong và cách thức giải quyết các hợpđồng đó Sau khi bán doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu tráchnhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác mà doanh nghiệp chưa thực hiện, trừtrường hợp người mua, người bán và chủ nợ của doanh nghiệp có thoả thuận khác.Người bán, người mua doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định của pháp luật về laođộng Người mua doanh nghiệp phải đăng ký kinh doanh lại theo quy định của Luậtnày
Trang 131.2.2 Hình thành và chấm dứt DNTN:
1 a) Thành lập doanh nghiệp tư nhân
a Đối tượng có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tư nhân
Theo Khoản 1, 2 Điều 13 Luật doanh nghiệp 2005, mọi cá nhân có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp, trừ các trường hợp sau:
1 Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sảnnhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vịmình;
2 Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;
3 Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơquan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệptrong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam;
4 Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu nhànước, trừ những người được cử làm đại diện theo uỷ quyền để quản lý phần vốn gópcủa Nhà nước tại doanh nghiệp khác;
5 Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mấtnăng lực hành vi dân sự;
6 Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Toà án cấm hành nghề kinhdoanh;
7 Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản
( theo quy định tại Điều 94 Luật phá sản Doanh nghiệp, Hợp tác xã 2004, thì:
-Người giữ chức vụ Giám đốc, Tổng giám đốc, Chủ tịch và các thành viên Hội đồngquản trị của công ty, tổng công ty 100% vốn nhà nước bị tuyên bố phá sản khôngđược cử đảm đương các chức vụ đó ở bất kỳ doanh nghiệp nhà nước nào, kể từ ngàycông ty, tổng công ty nhà nước bị tuyên bố phá sản
Người được giao đại diện phần vốn góp của Nhà nước ở doanh nghiệp khác màdoanh nghiệp đó bị tuyên bố phá sản không được cử đảm đương các chức vụ quản lý
ở bất kỳ doanh nghiệp nào có vốn của Nhà nước
-Chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh, Giám đốc
Trang 14(Tổng giám đốc), Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viêncủa doanh nghiệp, Chủ nhiệm, các thành viên Ban quản trị hợp tác xã bị tuyên bố phásản không được quyền thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã, không được làm ngườiquản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong thời hạn từ một đến ba năm, kể từ ngày doanhnghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản, trừ trường hợp bị tuyên bố phá sản vì lý dobất khả kháng).
- Thứ nhât, với nghành nghề kinh doanh.
Với điều kiện này, pháp luật quy định doanh nghiệp được kinh doanh tất cảngành nghề mà pháp luật không cấm Về cơ bản, ngành nghề kinh doanh được chiatheo các nhóm: Nhóm ngành nghề kinh doanh tự do, nhóm ngành nghề kinh doanh
có điều kiện ( phải có chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề) và nhómngành nghề kinh doanh bị cấm Như vậy chủ đầu tư có thể lựa chọn bất cứ ngànhnghề nào nằm ngoài nhóm ngành nghề bị cấm kinh doanh, đặc biệt đối với ngànhnghề kinh doanh có điều kiện thì việc chọn ngành nghề kinh doanh được coi là hợppháp khi chủ đầu tư đáp ứng đầy đủ đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của pháp luật liênquan đến ngành nghề đó
- Thứ hai, điều kiện về tên doanh nghiệp
Với điều kiện về tên doanh nghiệp, khoản 1, khoản 2, điều 31 Luật kinhdoanh năm 2005 quy định: tên doanh nghiệp phải được viết tắt bằng tiếng Việt và
có thể kèm theo chữ số và kí hiệu, phải phát âm được và có ít nhất 2 thành tố:loại hình doanh nghiệp và tên riêng Như vậy, với quy định này, tên của các doanh
nghiệp tư nhân phải đều phải kèm theo cụm từ “ Doanh nghiệp tư nhân” Ngoài ra,
pháp luật còn nêu ra một số trường hợp cấm trong khi lựa chọn teen cho doanhnghiệp như: khong đặt tên trùng hoặc tên gây nhầm lẫn với tên doanh nghiệp đãđăng kí, không được sử dụng tên cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhândân, tên của tổ chức chính trị, tổ chức chình trị - xã hội, để làm toàn bộ hoặc mộtphần tên riêng của doanh nghiệp, trừ trường hợp có sự chấp thuận của cơ quan,đơn vị hoặc của tổ chức đó, không được sử dụng từ ngữ, kí hiệu vi phạm truyền
Trang 15thống lịch sử, văn hóa đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc ta để đặt tên riêngcho doanh nghiệp Ngoài ra pháp luật cũng cho phép các doanh nghiệp được dịchtên sang tiếng nước ngoài hoặc viết tắc, tuy nhiên trong mọi trường hợp vẫn phảithể hiện đầy đủ tên của doanh nghiệp bằng tiếng Việt trên biển hiệu của doanhnghiệp.
b Thủ tục thành lập
trước đây, thủ tục thành lập doanh nghiệp tư nhân phải trải qua ba bước: xin phépthành lập, ký quyết định thành lập, đăng ký kinh doanh Hiện nay, việc thành lậpdoanh nghiệp tư nhân nói riêng và các doanh nghiệp khác nói chung đơn giản, gọnnhẹ hơn, chỉ còn một bước duy nhất ký kinh doanh và Đăng báo công khai
Đăng ký kinh doanh là việc ghi nhận về mặt pháp lý sự ra đời của một doanh nghiệp
Kể từ thời điểm đăng kí kinh doanh, được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh,doanh nghiệp tư nhân mới có tư cách chủ thể để tham gia các hoạt động kinh doanhtrên thương trường Địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân chỉ xác nhận khi chủdoanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việc tiếnhành đăng ký kinh doanh được quy định như sau:
Trước hết, chủ doanh nghiệp tư nhân nộp một bộ hồ sơ đăng kí kinh doanh theo quyđịnh của pháp luật tới Phòng đăng ký kinh doanh của tỉnh nơi doanh nghiệp tư nhânđặt trụ sở chính Hồ sơ đăng kí kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân gồm có:
1 Giấy đề nghị đăng kí kinh doanh;
2 Bản sao Giấy chứng minh nhân dân; Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợppháp khác
3 Văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đối vớidoanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải cóvốn pháp định
4 Chứng chỉ hành nghề của Giám đốc và cá nhân khác đối với doanh nghiệpkinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có chứng chỉhành nghề
Cơ quan đăng kí kinh doanh xem xét hồ sơ và cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ, nếu từ chối thì thôngbáo bằng văn bản cho người thành lập doanh nghiệp biết Thông báo phải nêu rõ lí do
và các yêu cầu sửa đổi
Đăng báo công khai: Luật doanh nghiệp quy định, chậm nhất là 30 ngày sau khi nhậnđược giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, chủ doanh nghiệp phải công bố hoạt độngcủa mình trên mạng thông tin doanh nghiệp của cơ quan đăng kí kinh doanh hoặc
Trang 16một trong các loại tờ báo viết hoặc báo điện tử trong ba số liên tiếp về các nội dungsau:
- Tên doanh nghiệp tư nhân;
- Địa chỉ, trụ sở chính của doanh nghiệp tư nhân, chi nhánh, văn phòng đại diện(nếu có);
- Mục tiêu, ngành nghề kinh doanh;
- Họ tên, địa chỉ thường trú của doanh nghiệp tư nhân;
- Nơi đăng kí kinh doanh
Việc đăng báo công khai này có ý nghĩa như một lời tự giới thiệu của doanh nghiệp
để công chúng biết rằng: tại thời điểm này, có một doanh nghiệp được thành lập vàhoạt động trên thương trường
b.2) Chấm dứt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân
-Theo quyết định của chủ doanh nghiệp tư nhân.Đây là trường hợp giải thể
tự nguyện,nghĩa là theo nguyện vọng của chính bản thân chủ doanhnghiệp.Luật doanh nghiệp đã tôn trọng quyền tự do kinh doanh của chủdoanh nghiệp.Việc thành lập doanh nghiệp hay giải thể doanh nghiệp sẽhoàn toàn phụ thuộc vào ý chí và suwjluwaj chọn của chủ doanh nghiệp tưnhân
-Doanh nghiệp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.Đây làtrường hợp giải thể bắt buộc đối với doanh nghiệp tư nhân.Việc quy địnhnày xuất phát từ việc đảm bảo tính pháp chế tuyệt đối trong việc áp dụngluật
-Doanh nghiệp tư nhân sẽ bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanhkhi có sự vi phạm pháp luật.Tại Khoản 2 Điều 165 Luật doanh nghiệp2005quy định doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh
Trang 17và bị xóa tên trong sổ đăng kí kinh doanh trong các trường hợp sau đây: +Nội dung kê khai trong hồ sơ đăng kí kinh doanh là giả mạo;
+Doanh nghệp do những người bị cấm thành lập doanh nghiệp theo quyđịnh của pháp luật;
+Không đăng kí mã số thuế trong thời hạn một năm kể từ ngày được cấpGiấy chứng nhận đăng kí kinh doanh ;
+Không hoạt động tại trụ sở đăng kí đăng kí trong thời hạn sáu tháng liêntục,kể từ ngày được cấp giấy chắng nhận đăng kí kinh doanh hoặc chứngnhận thay đổi trụ sở chính ;
+Không báo cáo về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với cơ quanđăng kí kinh doanh trong mười hai tháng liên tục;
+Ngừng hoạt động kinh doanh một năm liên tục mà không thông báovới cơ quan đăng kí kinh doanh;
+Doanh nghiệp không gửi báo cáo theo quy định đến cơ quan đăng kíkinh doanh trong thời hạn ba tháng ;kể từ ngày có yêu cầu bằng văn bản; +Kinh doanh ngành, nghề bị cấm
c Thủ tục giải thể doanh nghiệp
Việc giải thể doanh nghiệp được thực hiện theo quy định sau đây:
Trước hết phải thông qua quyết định giải thể doanh nghiệp
Quyết định giải thể doanh nghiệp phải có các nội dung chủ yếu sau đây
1.Tên,địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp
2.Lý do giải thể ;
3.Thời hạn ,thủ tục thanh toán hợp đồng và thanh toán các khoản nợ của doanhnghiệp;thời hạn thanh toán nợ;thanh lý hợp đồng không vượt quá 6 tháng ;kể từ ngàythông qua quyết định giải thể;
4.Phương án xử lí các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng lao động;
5.Họ ,tên ,chữ kí của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Chủ doanh nghiệp tư nhân trực tiếp tổ chức thanh lí tài sản doanh nghiệp;trừ trườnghợp Điều lệ công ty quy định thành lập tổ chức thanh lí riêng Trong thời hạn bảyngày làm việc kể từ ngày thông qua, quyết định giải thể phải được gửi đến cơ quanđăng kí kinh doanh, tất cả các chủ nợ, người có quyền, nghĩa vụ và lợi ích liên quan,người lao động trong doanh nghiệp và phải được niêm yết công khai tại trụ sở chính
và chi nhánh của doanh nghiệp