1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận phân tích các nội dung pháp lý cơ bản về dịch vụ logistics

19 1K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 160,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể tại khoản 1 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005 thì:“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của phá

Trang 1

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự gia tăng của hoạt động xuất khẩu và đầu tư, dịch vụ logistics Việt Nam đang có bước phát triển mạnh mẽ.Để hiểu rõ hơn các nội dung của pháp lý về dịch vụ logistics, từ đó tìm ra giải pháp tạo cơ sở cho thị trường logistics Việt Nam phát triển, nhóm đã chọn đề tài:

“Phân tích các nội dung pháp lý cơ bản về dịch vụ logistics” làm đề tài cho bài tập

nhóm

I.Khái quát về dịch vụ logistics:

1.Khái niệm dịch vụ logistics:

Điều 233 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Dịch vụ logistics là hoạt động

thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao”

Như vậy ta có thể hiểu: dịch vụ logistics là việc thực hiện và kiểm soát hàng hóa cùng những thông tin có liên quan từ nơi hình thành nên hàng hóa đến nơi tiêu thụ hàng hóa cuối cùng

2.Đặc điểm của dịch vụ logistics:

Thứ nhất: quan hệ dịch vụ logistics có chủ thể gồm hai bên: người làm dịch vụ

và khách hàng Trong đó, người làm dịch vụ bắt buộc phải là thương nhân và có đăng

ký kinh doanh dịch vụ logistics Thương nhân bao gồm: công ty Cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty TNHH một thành viên trở lên, công ty Hợp doanh, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ gia đình, cá nhân kinh doanh,

cá nhân kinh doanh Pháp luật quy định cụ thể thủ tục đăng ký kinh doanh dịch vụ này phụ thuộc vào hình thức pháp lý của thương nhân Cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, trong đó có ghi rõ ngành nghề kinh doanh là loại dịch vụ logistics cho thương nhân

Khách hàng có thể là thương nhân hoặc là không phải là thương nhân Họ là những người có nhu cầu sử dụng dịch vụ (người có hàng hóa cần gửi hoặc cần nhận), là người vận chuyển hoặc là người làm dịch vụ logistics khác Họ có thể sở hữu hoặc không phải chủ sở hữu hàng hóa

Thứ hai:Nội dung của dịch vụ logistics rất đa dạng, bao gồm các công việc như:

 Nhận hàng từ người gửi để tổ chức vận chuyển: đóng gói bao bì, ghi ký

mã hiệu; chuyển hàng từ từ kho của người gửi tới cảng, bến tàu, bến xe và địa điểm giao hàng khác theo thỏa thuận giữa người vận chuyển với người thuê vận chuyển;

 Làm các thủ tục, giấy tờ cần thiết (thủ tục hải quan, vận đơn vận chuyển, làm thủ tục gửi giữ hàng hóa, làm các thủ tục nhận hàng…) để gửi hàng hóa hoặc nhận hàng hóa được vận chuyển đến;

Trang 2

 Giao hàng hóa cho người vận chuyển; xếp hàng hóa lên phương tiện vận chuyển theo quy định; nhận hàng hóa được vận chuyển đến;

 Tổ chức nhận hàng, lưu kho, lưu bãi, bảo quản hàng hóa hoặc thực hiện việc giao hàng hóa được vận chuyển đến cho người có quyền nhận hàng

Thứ ba: Dịch vụ logistics là một loại hoạt động dịch vụ Thương nhân kinh doanh

dịch vụ giao nhận hàng hóa được khách hàng trả tiền công và các khoản chi phi hợp lý khác từ việc cung ứng dịch vụ

Thứ tư, cơ sở pháp lý của hoạt động cung ứng dịch vụ logistics là hợp đồng dịch

vụ logictics giữa thương nhân kinh doanh dịch vụ logictics và khách hàng

Ngoài ra ta còn có thể tìm thấy những đặc điểm khác của dịch vụ Logistics như:

 Logistics là tổng hợp các hoạt động của doanh nghiệp trên ba khía cạnh chính

là: Logistics sinh tồn (có liên quan tới các nhu cầu cơ bản của cuộc sống, là bản chất

và nền tảng của logistics nói chung); Logistics hoạt động (là bước phát triển mới của

logistics sinh tồn và gắn với toàn bộ quá trình và hệ thống sản xuất các sản phẩm của

doanh nghiệp); Logistics hệ thống (giúp cho việc duy trì hệ thống hoạt động, với các

yếu tố như máy móc thiết bị, nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng, nhà xưởng…)

 Logistics hỗ trợ cho hoạt động của các doanh nghiệp: hỗ trợ toàn phần quá trình hoạt động của doanh nghiệp, ngay cả khi sản phẩm đó ra khỏi dây chuyền sản xuất và đến tay người tiêu dung

 Logistics là sự phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải giao nhận Vận tải giao nhận gắn liền và nằm trong logistics

 Logistics là sự phát triển hoàn thiện của dịch vụ vận tải đa phương thức

3 Các loại dịch vụ logistics:

Điều 4 Nghị định 140/2007/NĐ-CP quy định có các loại hình dịch vụ sau:

1 Các dịch vụ logistic chủ yếu, bao gồm: dịch vụ bốc xếp hàng hoá, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container; dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị; dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa; dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi lô-gi-stíc; hoạt động xử

lý lại hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và thuê mua container

2 Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải, bao gồm: dịch vụ vận tải hàng hải; dịch

vụ vận tải thuỷ nội địa; dịch vụ vận tải hàng không; dịch vụ vận tải đường sắt; dịch vụ vận tải đường bộ; dịch vụ vận tải đường ống

3 Các dịch vụ logistics liên quan khác, bao gồm: dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật; dịch vụ bưu chính; dịch vụ thương mại bán buôn; dịch vụ thương mại bán lẻ, bao

Trang 3

gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa, phân phối lại và giao hàng; Các địch vụ hỗ trợ vận tải khác

4.Vai trò của dịch vụ logistics:

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới theo hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa, dịch vụ logistics đóng vai trò hết sức quan trọng và ngày càng thể hiện được những ưu thế so với dịch vụ khác:

-Dịch vụ logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí trong

quá trình sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp.

Với việc hình thành và phát triển dịch vụ logistics sẽ giúp các doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân giảm được chi phí trong chuỗi logistics, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh tinh giản hơn và đạt hiệu quả hơn Logistics giúp giảm chi phí trong sản xuất, quá trình sản xuất kinh doanh tinh giản, hiệu quả sản xuất kinh doanh được nâng cao, góp phần tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường

-Dịch vụ logistics có tác dụng tiết kiệm và giảm chi phí trong hoạt động lưu thông

phân phối.

Giá cả hàng hóa chính bằng giá sản xuất công với chi phí lưu thông Chi phí lưu thông hàng hóa, chủ yếu là chi phí vận tải chiếm một tỷ trọng không nhỏ và là bộ cấu thành giá cả hàng hóa trên thị trường, đặc biệt là hàng hóa trong buôn bán quốc tế Vận tải là yếu tố quan trọng của lưu thông, có nhiệm vụ đưa hàng hóa đến nơi tiêu dùng và tạo khả năng để thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa Thương mại quốc tế, chi phí vận tải chiếm tỷ trọng khá lớn Theo số lượng thống kê của UNCTAD thì chi phí vận tải đường biển chiếm trung bình 10-15 % giá FOB, hay 8-9% giá CIF, mà vận tải là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống logistics cho nên dịch vụ logistics ngày càng hoàn thiện và hiện đại sẽ tiết kiệm cho chi phí vận tải và các chi phí khác phát sinh trong quá trình lưu thông dẫn đến tiết kiệm và giảm chi phí lưu thông

-Dịch vụ logistics góp phần gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận

tải giao nhận.

Dịch vụ logistics là loại dịch vụ có quy mô rộng và phức tạp hơn nhiều so với hoạt động vận tải giao nhận thuần túy Trước kia, người kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận chỉ cung cấp cho khách hàng những dịch vụ đơn giản, thuần túy và đơn lẻ Ngày nay, do sự phát triển của sản xuất, lưu thông, các chi tiết của một sản phẩm có thể do nhiều quốc gia cung ứng và ngược lại một sản phẩm của doanh nghiệp có thể tiêu thụ tại nhiều quốc gia, nhiều thị trường khác nhau Vì vậy, dịch vụ mà khách hàng yêu cầu

từ người kinh doanh vận tải giao nhận phải đa dạng và phong phú Người kinh doanh vận tải giao nhận hiện nay đã triển khai cung cấp các dịch vụ nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế của khách hàng Họ trở thành người cung cấp dịch vụ logistics (logistics service provider) Rõ ràng, dịch vụ logistics đã góp phần làm gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải giao nhận

Trang 4

-Logistics phát triển góp phần mở rộng thị trường trong thương mại quốc tế.

Sản xuất có mục đích là phục vụ tiêu dùng, cho nên sản xuất kinh doanh, vấn đề thị trường luôn là vấn đề quan trọng và luôn được các nhà sản xuất và kinh doanh quan tâm Các nhà sản xuất kinh doanh muốn chiếm lĩnh và mở rộng thị trường cho sản phẩm của mình phải cần sự hỗ trợ của dịch vụ logistics Dịch vụ logistics có tác dụng như chiếc cầu nối trong việc dịch chuyển hàng hóa trên các tuyến đường mới đến các thị trường mới đúng yêu cầu về thời gian và địa điểm đặt ra Dịch vụ logistics phát triển

có tác dụng rất lớn trong việc khai thác và mở rộng thị trường kinh doanh cho các doanh nghiệp

-Dịch vụ logistics phát triển góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa

chứng từ trong kinh doanh quốc tế.

Thực tiễn, một giao dịch trong Thương mại quốc tế thường phải sử dụng các loại giấy tờ, chứng từ Theo ước tính của Liên Hợp Quốc, chi phí về về giấy tờ để phục vụ cho mọi mặt giao dịch thương mại trên thế giới hàng năm đã vượt quá 420 tỷ USD Theo tính toán các chuyên gia, riêng các loại giấy tờ, chứng từ rườm rà hàng năm khoản chi phí tiêu tốn cho nó cũng chiếm tới hơn 10% kim ngạch mậu dịch quốc tế, ảnh hưởng rất lớn tới các hoạt động buôn bán quốc tế Logistics đã cung cấp các dịch

vụ đa dạng trọn gói có tác dụng giảm rất nhiều các chi phí giấy tờ, chứng từ trong buôn bán quốc tế Dịch vụ vận tải đa phương thức do người kinh doanh dịch vụ logistics cung cấp đã loại bỏ đi rất nhiều chi phí cho giấy tờ thủ tục, nâng cấp và chuẩn hóa chứng từ cũng như giảm khố lượng công việc văn phòng trong lưu thông hàng hóa, từ

đó nâng cao hiệu quả buôn bán quốc tế

Ngoài ra, cùng với sự phát triển của logistics điện tử (electronic logisticis) sẽ tạo ra cuộc cách mạng trong dịch vụ vận tải và logistics, chi phí cho giấy tờ, chứng từ trong lưu thông hàng hóa càng được giảm tới mức tối đa, chất lượng dịch vụ logistics ngày càng được nâng cao sẽ thu hẹp hơn nữa cản trở về mặt không gian và thời gian trong dòng lưu chuyển nguyên vật liệu và hàng hóa Các quốc gia sẽ xích lại gần nhau hơn trong hoạt động sản xuất và lưu thông

II.Những nội dung pháp lý cơ bản về dịch vụ logistics ở Việt Nam:

1 Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics:

Luật Thương mại 2005 không quy định cụ thể về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics.Tuy nhiên tại Điều 234 Luật Thương mại đã quy định: thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải là doanh nghiệp có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật

Tại Nghị định 140/2007/NĐ-CP ngày 5/9/2007, Chính phủ đãhướng dẫn chi tiết Luật thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics Quy định này được coi là hành lang

Trang 5

pháp lý quan trọng để phát triển loại hình dịch vụ này tại Việt Nam, theo đó điều kiện kinh doanh đối với ba loại hình logistics như đã nêu trên được quy định như sau:

1.1 Điều kiện kinh doanh các dịch vụ logistics chủ yếu:

Điều 5 Nghị định 140/2007/NĐ-CP quy định thương nhân kinh doanh các dịch vụ logistics chủ yếu phải đáp ứng các điều kiện sau:

- Thứ nhất, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải là doanh nghiệp có

đăng ký kinh doanh hợp pháp theo pháp luật Việt Nam, đáp ứng các điều kiện của Luật Doanh nghiệp cũng như các văn bản hướng dẫn Cụ thể tại khoản 1 Điều 4 Luật

Doanh nghiệp 2005 thì:“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có

trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.Theo đó thì thương nhân kinh doanh

dịch vụ logistics có thể là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh…Bên cạnh đó thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics cũng phải đáp ứng đầy

đủ các quy định của pháp luật về loại hình đăng ký kinh doanh của mình

Bên cạnh điều kiện là doanh nghiệp, thương nhân muốn kinh doanh dịch vụ

logistics còn phải: “Có đủ phương tiện, thiết bị, công cụ đảm bảo tiêu chuẩn an toàn,

kỹ thuật và có đội ngũ nhân viên đáp ứng yêu cầu” Các phương tiện, thiết bị, công cụ

ở đây được hiểu là:xe nâng hạ hàng hóa, dây chuyền, phương tiện đóng gói mã hàng hóa, hệ thống đường ống, đèn chiếu sáng… Đội ngũ nhân viên phải được đào tạo đáp ứng nhu cầu công việc, phải đáp ứng được các yêu cầu trình độ, năng lực, chuyên môn

nghiệp vụ và kiến thức hiểu biết pháp luật trong nước cũng như pháp luật quốc tế Ví dụ: Đối với thương nhân tiến hành kinh doanh dịch vụ đại lý vận tải thì phải có đội ngũ

nhân viên thông thuộc mạng lưới giao thông vận tải để tính toán, lựa chọn phương án tối ưu theo yêu cầu của chủ hàng, giải quyết việc tiếp chuyển giữa các phương tiện vận tải và các chứng từ hàng hóa liên quan đến quá trình vận chuyển, đồng thời phải am hiểu pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế và vận dụng có hiệu quả pháp luật Việt Nam, tập quán thương mại quốc tế trong công việc

Đối với thương nhân nước ngoài khi tham gia kinh doanh dịch vụ logistics bên cạnh việc phải đáp ứng các yêu cầu như đã nêu trên còn phải đáp ứng các điều kiện cụ thể về vốn góp, tỷ lệ vốn góp, hình thức tồn tại, các điều kiện khác và tuân thủ các cam kết của Việt Nam về mở cửa thị trường kinh doanh dịch vụ logistic khi gia nhập WTO

Khoản 3 Điều 5 của NĐ 140/2007/CP quy định: “Thương nhân nước ngoài kinh doanh

dịch vụ lô-gi-stíc ngoài việc đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này chỉ được kinh doanh các dịch vụ lô-gi-stíc khi tuân theonhững điều kiện cụ thể sau đây: a) Trường hợp kinh doanh dịch vụ bốc dỡ hàng hoá thì chỉ được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 50%; b) Trường hợp kinh doanh dịch vụ kho bãi thì được thành lập công ty liên doanh, trong

đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%; hạn chế này chấm dứt vào năm 2014;

Trang 6

c) Trường hợp kinh doanh dịch vụ đại lý vận tải thì được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%, được thành lập công ty liên doanh không hạn chế tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài kể từ năm 2014;

d) Trường hợp kinh doanh dịch vụ bổ trợ khác thì được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%; hạn chế này là 51%

kể từ năm 2010 và chấm dứt hạn chế vào năm 2014.”

1.2 Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics liên quan đến vận tải:

Điều 6 Nghị định 140/2007/NĐ-CP quy định về điều kiện đối với thương nhân

kinh doanh dịch vụ logistics liên quan đến vận tải như sau: thứ nhất “là doanh nghiệp

có đăng ký kinh doanh hợp pháp theo pháp luật Việt Nam”, điều kiện thứ hai có sự

khác nhau do liên quan đến lĩnh vực khác nhau nhưng đều phải “Tuân thủ các điều

kiện về kinh doanh vận tải theo quy định của pháp luật Việt Nam”.

Ví dụ: Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics liên quan đến vận tải đường biển

thì phải tuân thủ các quy định của Bộ luật Hàng hải và các văn bản liên quan; thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics liên quan đến vận tải đường không thì phải tuân thủ các quy định của Luật Hàng không dân dụng, điều lệ vận chuyển hàng hóa quốc tế của hãng hàng không quốc gia Việt Nam và các văn bản hướng dẫn Luật Hàng không dân dụng

Tóm lại, ngoài các quy định của Luật Thương mại, Nghị định 140/2007/NĐ-CP, các chủ thể muốn kinh doanh dịch vụ logistics liên quan đến vận tải còn phải tuân thủ các văn bản pháp luật chuyên ngành

Riêng với thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics liên quan đến vận

tải, ngoài việc đáp ứng 2 điều kiện “là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hợp pháp

theo pháp luật Việt Nam”và “tuân thủ các điều kiện về kinh doanh vận tải theo quy định của pháp luật Việt Nam” thìcòn phải đáp ứng những điều kiện cụ thể khác quy

định tại khoản 3 Điều 6 NĐ 140/2007/NĐ-CP: “Thương nhân nước ngoài kinh doanh

dịch vụ lô-gi-stíc ngoài việc đáp ứng các điều kiện quy định tại các khoản 1, 2 Điều này chỉ được kinh doanh các dịch vụ lô-gi-stíc khi tuân theo những điều kiện cụ thể sau đây:

a) Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hải thì chỉ được thành lập công ty liên doanh vận hành đội tàu từ năm 2009, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%; được thành lập liên doanh cung cấp dịch vụ vận tải biển quốc

tế trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%, hạn chế này chấm dứt vào năm 2012;

b) Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải thuỷ nội địa thì chỉ được thành lập công

ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%; c) Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không thì thực hiện theo quy định của Luật hàng không dân đụng Việt Nam;

Trang 7

d) Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải đường sắt thì chỉ được thành lập công

ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%; đ) Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải đường bộ thì được thành lập công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%; hạn chế này là 51% kể từ năm 2010;

e) Không được thực hiện dịch vụ vận tải đường ống, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác”.

1.3 Điều kiện kinh doanh các dịch vụ logistics liên quan khác

Điều 7 Nghị định 140/2007/NĐ-CP quy định :

“1 Là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hợp pháp theo pháp luật Việt Nam.

2 Thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc chỉ được kinh doanh các dịch

vụ lô-gi-stíc khi tuân theo những điều kiện cụ thể sau đây:

a) Trường hợp kinh doanh dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật:

Đối với những dịch vụ được cung cấp để thực hiện thẩm quyền của Chính phủ thì chỉ được thực hiện dưới hình thức liên doanh sau ba năm hoặc dưới các hình thức khác sau năm năm, kể từ khi doanh nghiệp tư nhân được phép kinh doanh các dịch vụ đó.

Không được kinh doanh dịch vụ kiểm định và cấp giấy chứng nhận cho các phương tiện vận tải.

Việc thực hiện dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật bị hạn chế hoạt động tại các khu vực địa lý được cơ quan có thẩm quyền xác định vì lý do an ninh quốc phòng b) Trường hợp kinh doanh dịch vụ bưu chính, dịch vụ thương mại bán buôn, dịch

vụ thương mại bán lẻ thực hiện theo quy định riêng của Chính phủ.

c) Không được thực hiện các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác”.

Các thương nhân phải đáp ứng rất nhiều điều kiện để có thể kinh doanh dịch vụ logistics, ngoài việc đáp ứng yêu cầu chung thì thương nhân còn phải đáp ứng các yêu cầu riêng của loại hình dịch vụ mình muốn cung ứng theo quy định của pháp luật chuyên ngành

2 Quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics:

Quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là nội dung cơ bản của quy định pháp luật về dịch vụ logistics nằm rải rác trong các quy định của hệ thống pháp luật chung và hệ thống pháp luật chuyên ngành điều chỉnh dịch vụ này Điều 235 Luật Thương mại 2005 quy định quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics như sau:

“1 Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

Trang 8

a) Được hưởng thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác;

b) Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng thì thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng, nhưng phải thông báo ngay cho khách hàng;

c) Khi xảy ra trường hợp có thể dẫn đến việc không thực hiện được một phần hoặc toàn bộ những chỉ dẫn của khách hàng thì phải thông báo ngay cho khách hàng để xin chỉ dẫn;

d) Trường hợp không có thoả thuận về thời hạn cụ thể thực hiện nghĩa vụ với khách hàng thì phải thực hiện các nghĩa vụ của mình trong thời hạn hợp lý.

2 Khi thực hiện việc vận chuyển hàng hóa, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải tuân thủ các quy định của pháp luật và tập quán vận tải.”

Như vậy các chủ thể kinh doanh dịch vụ logistics có quyền thỏa thuận với nhau về quyền và nghĩa vụ.Pháp luật luôn ưu tiên sự thỏa thuận của các chủ thể Trong trường hợp các chủ thể không thỏa thuận được thì theo quy định, họ có các quyền và nghĩa vụ

theo quy định tại Điều 235 Luật thương mại, quyền được “hưởng thù lao dịch vụ và

các chi phí hợp lý khác”.

Về nguyên tắc, khi thực hiện hợp đồng, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải tuân thủ các quy định về nghĩa vụ trong hợp đồng trong đó có việc tuân theo các

chỉ dẫn của khách hàng Tuy nhiên, “Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do

chính đáng vì lợi ích của khách hàng thì thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng, nhưng phải thông báo ngay cho khách

hàng” Hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn cách hiểu thế nào là “có lý do chính

đáng”nên việc xác định thế nào là lý do chính đáng nếu không được thỏa thuận ghi

trong hợp đồng gây rất nhiều khó khăn trong việc giải quyết khi có tranh chấp Ta có

thể hiểu “lý do chính đáng” có thể là do thời tiết, hay một lý do khách quan nào khác,

để đảm bảo lợi ích cho khách hàng thương nhân kinh doanh dịch vụ này không làm theo các chỉ dẫn của khách hàng Các chỉ dẫn này thường được ghi rõ trong hợp đồng

có thể là chỉ dẫn về phương tiện để vận chuyển hàng hóa, chỉ dẫn về hình thức bảo quản hàng…

Để đảm bảo quyền lợi cho các thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics, Nhà nước đã có những quy định cụ thể các quyền của thương nhân, trong đó tại khoản 1

Điều 239 Luật Thương mại 2005 quy định: “Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

có quyền cầm giữ một số lượng hàng hoá nhất định và các chứng từ liên quan đến số lượng hàng hoá đó để đòi tiền nợ đã đến hạn của khách hàng nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho khách hàng” Trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày thông báo

cầm giữ hàng hóa cùng các chứng từ liên quan đến hàng hóa mà khách hàng nợ mà khách hang không trả lời thì thương nhân có quyền định đoạt số hàng hóa đó tương ứng với số tiền mà khách hàng đã nợ mình và chi phí liên quan.Bên cạnh quyền được cầm giữ và định đoạt hàng hóa thì thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics còn có các

Trang 9

nghĩa vụ được quy định tại Điều 240 Luật Thương mại: “Bảo quản, giữ gìn hàng hóa”,

“Không được sử dụng hàng hóa nếu không được bên có hàng hóa bị cầm giữ đồng ý”,

“Bồi thường thiệt hại cho bên có hàng hóa bị cầm giữ trong trường hợp để hư hỏng

mất mát hàng hóa” Nghĩa vụ này chỉ được đặt ra trong trường hợp khi thương nhân

chưa thực hiện quyền định đoạt của mình, còn sau khi đã định đoạt thì nghĩa vụ này không được đặt ra, bởi khi đó về thực chất không còn hàng hóa nữa

Ngoài các quyền và nghĩa vụ được quy định trong Luật Thương mại thì các thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics còn có các quyền và nghĩa vụ cụ thể được quy định trong các luật chuyên ngành

Ví dụ: Đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics vận chuyển đường biển:

nghĩa vụ của họ được quy định tại Điều 75 Bộ luật Hàng hải như: người vận chuyển phải mẫn cán để trước khi bắt đầu chuyến đi, tàu biển có đủ khả năng đi biển, có thuyền bộ thích hợp, được cung ứng đầy đủ trang thiết bị…

Ngoài các quyền, nghĩa vụ quy định ở các văn bản pháp luật trong nước thì quyền và nghĩa vụ của các thương nhân kinh doanh dịch vụ này còn được quy định ở các Công ước quốc tế, Điều ước quốc tế mà Việt Nam gia nhập ký kết như: Công ước của Liên Hợp Quốc về vận tải hàng hóa quốc tế đa phương thức năm 1980, Công ước Kyoto…

3 Giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics:

Thông thường, giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics thực hiện theo quy định của pháp luật hoặc do các bên tự thỏa thuận Giới hạn trách nhiệm đến đâu thường được các bên thể hiện rất rõ trong hợp đồng Điều khoản về giới hạn trách nhiệm bao giờ cũng được các bên rất quan tâm, đặc biệt là thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

Theo Điều 238 Luật Thương mại năm 2005 thì: “Trừ trường hợp có thoả thuận

khác, toàn bộ trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không vượt quá giới hạn trách nhiệm đối với tổn thất toàn bộ hàng hoá” Đây là trách nhiệm cao

nhất được đặt ra đối với thương nhân, tủy nhiên quy định cũng chưa chỉ rõ giới hạn tổn thất cho khách hàng là giới hạn tổn thất hiện tại hay giới hạn tổn thất cho khách hàng trong tương lai.Thực tế có những tổn thất xuất hiện tại thời điểm hàng hóa bị hư hỏng,

nhưng có những tổn thất có tính “tương lai”.Ví dụ: Do hàng hóa bị giao chậm, ảnh

hưởng đến thu nhập hình thành trong tương lai của khách hàng

Thương nhân sẽ không được hưởng giới hạn trách nhiệm bồi thường này trong

trường hợp: “nếu người có quyền và lợi ích liên quan chứng minh được sự mất mát, hư

hỏng hoặc giao trả hàng chậm là do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics cố ý hành động hoặc không hành động” Trong trường hợp này thương nhân không được

hưởng quyền giới hạn trách nhiệm, nghĩa là lúc này thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có thể phải chịu trách nhiệm lớn hơn tổn thất gây ra đối với toàn bộ hàng hóa

Trang 10

Điều 8Nghị định 140/2007/NĐ-CP quy định chi tiết giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh trong lĩnh vực vận tải, theo đó:

“1 Giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc liên quan đến vận tải thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan về giới hạn trách nhiệm trong lĩnh vực vận tải.

2 Giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc không thuộc phạm vi khoản 1 Điều này do các bên thoả thuận Trường hợp các bên không có thoả thuận thì thực hiện như sau:

a) Trường hợp khách hàng không có thông báo trước về gía trị của hàng hoá thì giới hạn trách nhiệm tối đa là 500 triệu đồng đối với mỗi yêu cầu bồi thường.

b) Trường hợp khách hàng đã thông báo trước về giá trị của hàng hoá và được thương nhân kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc xác nhận thì giới hạn trách nhiệm là toàn bộ giá trị của hàng hoá đó.

3 Giới hạn trách nhiệm đối với trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ lô gi-stíc

tổ chức thực hiện nhiều công đoạn có quy định giới hạn trách nhiệm khác nhau là giới hạn trách nhiệm của công đoạn có giới hạn trách nhiệm cao nhất.”Trong lĩnh vực vận

tải, giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ vận tải phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật về vận tải

Ví dụ: Giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh vận tải đa phương thức quy

định tại Điều 121 Bộ luật Hàng hải: “Trường hợp hàng hóa bị mất, hư hỏng xảy ra ở

một phương thức vận tải nhất định của quá trình vận chuyển, các quy định của pháp luật tương ứng điều chỉnh phương tiện vận tải đó của vận tải đa phương thức Như

vậy, nếu họ sử dụng tàu biển để vận chuyển hàng hóa thì giới hạn trách nhiệm cụ thể của họ được quy định tại Bộ luật Hàng hải, Nghị định 115/2007/NĐ-CP ngày 5/7/2007

về điều kiện kinh doanh dịch vụ vận tải biển

Nhưng ta cũng phải lưu ý rằng giới hạn trách nhiệm do các bên thỏa thuận được coi là ưu tiên số một trong hợp đồng Trong trường hợp họ không thỏa thuận thì các

nhà làm luật cũng đưa ra mức tối đa: “Trường hợp khách hàng không có thông báo

trước về giá trị của hàng hoá thì giới hạn trách nhiệm tối đa là 500 triệu đồng đối với mỗi yêu cầu bồi thường” Tuy nhiên, giới hạn trách nhiệm tối đa 500 triệu đồng chỉ áp

dụng trong “Trường hợp khách hàng không có thông báo trước về giá trị của hàng hoá

đó”, còn trong trường hợp khách hàng đã thông báo về giá trị của hàng hóa thì “giới hạn trách nhiệm là tòan bộ giá trị của hàng hóa đó” Đây là quy định nhằm đảm bảo

lợi ích cho khách hàng trong trường hợp họ đã thông báo trước về giá trị của hàng hóa

và thương nhân kinh doanh dịch vụ cũng đã xác nhận, đồng thời quy định này cũng bảo

vệ quyền lợi cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics bởi thực tế đã có trường hợp khi có tổn thất về hàng hóa, khách hàng nói khống giá trị của hàng hóa lên, khi đó giới hạn trách nhiệm của thương nhân gần như không có, dẫn đến nhiều tranh chấp xảy ra

Ngày đăng: 13/11/2018, 22:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w