Vai trò của giáo dục có vị trí hết sức quan trọng, là yếu tố quyết định phát triển tiềm năng con người, là đòn bẩy mạnh mẽ để tiến vào tương lai. Có thể nói Giáo dục Đào tạo đóng vai trò bậc nhất trong công cuộc phát triển đất nước, phát triển con người trong thời đại mới. Với đường lối của Đảng và Nhà nước ta hiện nay, công tác giáo dục thể chất là một trong những nội dung giáo dục không thể thiếu được trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Bởi vì giáo dục thể chất có mục đích tăng cường sức khỏe cho người tham gia tập luyện và là nhân tố tác động trực tiếp đến các mặt giáo dục khác, góp phần tích cực giáo dục học sinh, SV trở thành con người phát triển toàn diện. Cùng với sự phát triển của đất nước, thể dục thể thao đã và đang không ngừng phát triển để trở thành một bộ phận quan trọng không thể thiếu của nền văn hóa xã hội, chính sách phát triển kinh tế xã hội mà Đảng và Nhà nước đề ra nhằm đem lại vốn quý nhất cho con người đó là sức khỏe, qua đó góp phần bồi dưỡng nhân cách đạo đức, tạo môi trường sống lành mạnh nói chung, góp phần phát triển con người toàn diện, đồng thời vươn tới mục tiêu xa hơn là đưa thể thao Việt Nam đến gần hơn với thể thao khu vực và thế giới, qua đó góp phần mở rộng quan hệ giao lưu, hợp tác quốc tế. Tập luyện thể dục thể thao thường xuyên sẽ đem lại những biến đổi thích nghi về hình thái chức năng có lợi cho cơ thể. Ngày nay với trang thiết bị hiện đại, dụng cụ thể dục thể thao cho phép xác định chính xác sự biến đổi các chức năng cơ thể, điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc đánh giá trình độ tập luyện và năng lực hồi phục của những người tham gia luyện tập, cũng như công tác huấn luyện, giảng dạy. Việc đánh giá chính xác chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục thể chất cũng như sự phát triển thể lực của SV dưới tác dụng của bài tập là một vấn đề hết sức quan trọng cần được tiến hành một cách khoa học, thường xuyên nhằm xây dựng hệ thống dữ liệu, phục vụ cho công tác kiểm định, đánh giá hiệu quả công tác đào tạo trong nhà trường. Trường Đại học Đồng Nai là trường công lập duy nhất của tỉnh Đồng Nai, có nhiệm vụ đào tạo nguồn lao động trực tiếp cho tỉnh và các tỉnh lân cân. Cùng với sự phát triển ngày càng lớn mạnh, đang từng bước chuyển mình trên mọi lĩnh vực của cả nước, thể dục thể thao Trường Đại học Đồng Nai là cầu nối tạo sự đoàn kết hữu nghị giữa các trường trên địa bàn Tỉnh và các tỉnh lân cân. Qua thực tế công tác GDTC tại Trường Đại học Đồng Nai còn chuyển biến rất chậm và gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện định hướng GDTC cho SV, bên cạnh còn phụ thuộc vào chương trình khung của Bộ giáo dục đào tạo, trường chưa mạnh dạn xây dựng cho mình một chương trình và phương pháp dạy cải tiến chương trình GDTC, tạo sự đam mê, yêu thích tập luyện cho SV. Ở góc độ nhà trường cũng được sự đồng tình của ban giám hiệu với việc tạo điều kiện về cơ sở vật chất cho các môn thể thao tự chọn Bóng chuyền và là cơ sở phát triển cho các môn thể thao. Cùng đội ngũ giáo viên tương đối đầy đủ, với nhu cầu SV tự lựa chọn cho mình một môn thể thao ưa thích rèn luyện thể chất thường xuyên. Với những lý do nêu trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài cải tiến chương trình môn thể thao phù hợp với nhu cầu SV: Nghiên cứu chương trình giảng dạy môn Bóng chuyền vào giờ giáo dục thể chất nội khóa tự chọn tại Trường Đại học Đồng nai.
Trang 1ĐÀM XUÂN
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY MÔN BÓNG CHUYỀN VÀO GIỜ GIÁO DỤC THỂ CHẤT NỘI KHÓA TỰ CHỌN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI”.
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Tp Hồ Chí Minh, Năm 2016
Trang 2Chuyên ngành: Giáo dục thể chất
Mã số : 60140103
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Lê Đức Chương
Trang 4quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳcông trình nào khác.
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Đàm Xuân
Trang 5CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1.Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác GDTC 4
1.2.Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với công tác GDTC trong trường học .8
1.3 Công tác GDTC và Thể thao trường học 13
1.3.1 Một số khái niệm liên quan 13
1.3.2 GDTC với sự phát triển thể chất của SV 20
1.3.3 Đặc điểm phát triển các tố chất thể lực của sinh viên 21
1.3.3 Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung GDTC trong trường đại học 23 1.4 Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng chương trình 26
1.4.1.Cấu trúc chương trình 26
1.4.2 Nguyên tắc biên soạn 27
1.5 Đặc điểm chung về môn Bóng chuyền: 30
1.5.1 Nội dung và phương pháp huấn luyện môn Bóng chuyền 31
1.5.2 Đặc điểm tâm sinh lý trong môn Bóng chuyền 32
1.6 Giới thiệu về trường Đại học Đồng Nai 34
1.7 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài: 36
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 39
2.1 Phương pháp nghiên cứu 39
2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 39
2.1.2 Phương pháp điều tra xã hội học 39
2.1.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm 39
2.1.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm: 43
Trang 62.2.2 Khách thể nghiên cứu 46
2.3 Kế hoạch tổ chức nghiên cứu 46
CHƯƠNG IIIKẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 48
3.1 Thực trạng công tác GDTC cho SV Trường Đại học Đồng Nai 48
3.1.1 Thực trạng về nội dung chương trình GDTC tại Trường Đại học Đồng Nai 48
3.1.2 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ công tác GDTC 52
3.1.3 Thực trạng đội ngũ giảng viên bộ môn GDTC 54
3.1.4 Thực trạng thể lực SV Trường Đại học Đồng Nai 56
3.1.5 Thực trạng kết quả học tập chương trình GDTC của SV từ năm 2010 đến nay 59
3.1.6 Đánh giá của SV đối với giờ học tự chọn môn Bóng chuyền 61 3.1.7 Bàn luận về thực trạng công tác GDTC cho SV tại trường Đại học Đồng Nai 64
3.2 Nghiên cứu xây dựng chương trình giảng dạy môn Bóng chuyền vào giờ GDTC nội khóa tự chọn tại Trường Đại học Đồng Nai 66
3.2.1 Cơ sở thực tiễn xây dựng chương trình giảng dạy môn Bóng chuyền tự chọn cho SV Trường Đại học Đồng Nai 66
3.2.2 Lựa chọn nội dung giảng dạy môn Bóng chuyền cho SV Đại học Đồng Nai 67
3.2.3 Giáo án, chương trình giảng dạy môn Bóng chuyền 71
3.2.4 Tổ chức thực nghiệm chương trình môn Bóng chuyền tại trường Đại học Đồng Nai 75
Trang 7Bóng chuyền vào giờ GDTC nội khóa tự chọn đối với việc phát triển thểchất của SV Trường Đại học Đồng Nai 773.3.1 So sánh thể lực của 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng trướcthực nghiệm sư phạm 773.3.2 So sánh thể lực của 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng sauthực nghiệm sư phạm 803.3.3 Nhịp tăng trưởng thể lực của nam SV nhóm thực nghiệm vànhóm đối chứng sau thực nghiệm sư phạm 833.3.4 Nhịp tăng trưởng thể lực của nữ SV nhóm thực nghiệm vànhóm đối chứng sau thực nghiệm sư phạm 853.3.5 Bàn luận hiệu quả của việc thực hiện chương trình giảng dạymôn Bóng chuyền vào giờ GDTC nội khóa tự chọn đối với việcphát triển thể chất của SV Trường Đại học Đồng Nai 87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8HL Huấn luyện
HLTT Huấn luyện thể thao
HLV Huấn luyện viên
Trang 9Bảng 3.2: Tiến trình giảng dạy môn Bóng chuyền tự chọn cho SV Trường Đại
học Đồng Nai (trước năm 2014) 50
Bảng 3.3 Thống kê số lượng giảng viên Bộ môn GDTC 54
Bảng 3.4 Đánh giá, phân loại thể lực SV lứa tuổi 20 theo tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo 56
Bảng 3.5: Kết quả xếp loại thể lực của Nam SV Trường Đại học Đồng Nai 57
Bảng 3.6: Kết quả xếp loại thể lực của Nữ SV Trường Đại học Đồng Nai 58
Bảng 3.7: Phân loại kết quả học tập môn GDTC của SV Trường Đại học Đồng Nai 60
Bảng 3.8: Những nhận xét đánh giá của SV (n = 400) 62
Bảng 3.9 Kết quả phỏng vấn về việc lựa chọn nội dung giảng dạy môn Bóng chuyền tự chọn 69
Bảng 3.10: Bảng Phân phối thời gian của chương trình giảng dạy môn phổ tu Bóng chuyền tại trường Đại học Đồng Nai 73
Bảng 3.11: Bảng phân phối thời gian cụ thể của chương trình giảng dạy Môn phổ tu Bóng chuyền tại trường Đại học Đồng Nai 74
Bảng 3.12: Thể lực của nam SV trước thực nghiệm sư phạm 77
Bảng 1.13: Thể lực của nữ SV trước thực nghiệm sư phạm 79
Bảng 3.14: Thể lực của nam SV sau thực nghiệm sư phạm 80
Bảng 3.15: Thể lực của nữ SV sau thực nghiệm sư phạm 82
Trang 102014 61Biểu đồ 3.2: Nhịp tăng trưởng thể lực của nam SV nhóm thực nghiệm và
nhóm đối chứng sau thực nghiệm sư phạm 84Biểu đồ 3.3: Nhịp tăng trưởng thể lực của nữ SV nhóm thực nghiệm và
nhóm đối chứng sau thực nghiệm sư phạm 85
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Vai trò của giáo dục có vị trí hết sức quan trọng, là yếu tố quyết địnhphát triển tiềm năng con người, là đòn bẩy mạnh mẽ để tiến vào tương lai Cóthể nói Giáo dục - Đào tạo đóng vai trò bậc nhất trong công cuộc phát triểnđất nước, phát triển con người trong thời đại mới
Với đường lối của Đảng và Nhà nước ta hiện nay, công tác giáo dục thểchất là một trong những nội dung giáo dục không thể thiếu được trong hệthống giáo dục Việt Nam Bởi vì giáo dục thể chất có mục đích tăng cườngsức khỏe cho người tham gia tập luyện và là nhân tố tác động trực tiếp đếncác mặt giáo dục khác, góp phần tích cực giáo dục học sinh, SV trở thành conngười phát triển toàn diện
Cùng với sự phát triển của đất nước, thể dục thể thao đã và đang khôngngừng phát triển để trở thành một bộ phận quan trọng không thể thiếu của nềnvăn hóa xã hội, chính sách phát triển kinh tế xã hội mà Đảng và Nhà nước đề
ra nhằm đem lại vốn quý nhất cho con người đó là sức khỏe, qua đó góp phầnbồi dưỡng nhân cách đạo đức, tạo môi trường sống lành mạnh nói chung, gópphần phát triển con người toàn diện, đồng thời vươn tới mục tiêu xa hơn làđưa thể thao Việt Nam đến gần hơn với thể thao khu vực và thế giới, qua đógóp phần mở rộng quan hệ giao lưu, hợp tác quốc tế
Tập luyện thể dục thể thao thường xuyên sẽ đem lại những biến đổithích nghi về hình thái chức năng có lợi cho cơ thể Ngày nay với trang thiết
bị hiện đại, dụng cụ thể dục thể thao cho phép xác định chính xác sự biến đổicác chức năng cơ thể, điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc đánh giá trình độtập luyện và năng lực hồi phục của những người tham gia luyện tập, cũng nhưcông tác huấn luyện, giảng dạy Việc đánh giá chính xác chất lượng, hiệu quảcông tác giáo dục thể chất cũng như sự phát triển thể lực của SV dưới tác
Trang 12dụng của bài tập là một vấn đề hết sức quan trọng cần được tiến hành mộtcách khoa học, thường xuyên nhằm xây dựng hệ thống dữ liệu, phục vụ chocông tác kiểm định, đánh giá hiệu quả công tác đào tạo trong nhà trường.
Trường Đại học Đồng Nai là trường công lập duy nhất của tỉnh ĐồngNai, có nhiệm vụ đào tạo nguồn lao động trực tiếp cho tỉnh và các tỉnh lâncân Cùng với sự phát triển ngày càng lớn mạnh, đang từng bước chuyểnmình trên mọi lĩnh vực của cả nước, thể dục thể thao Trường Đại học ĐồngNai là cầu nối tạo sự đoàn kết hữu nghị giữa các trường trên địa bàn Tỉnh vàcác tỉnh lân cân
Qua thực tế công tác GDTC tại Trường Đại học Đồng Nai còn chuyểnbiến rất chậm và gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện định hướng GDTCcho SV, bên cạnh còn phụ thuộc vào chương trình khung của Bộ giáo dục đàotạo, trường chưa mạnh dạn xây dựng cho mình một chương trình và phươngpháp dạy cải tiến chương trình GDTC, tạo sự đam mê, yêu thích tập luyện cho
SV
Ở góc độ nhà trường cũng được sự đồng tình của ban giám hiệu vớiviệc tạo điều kiện về cơ sở vật chất cho các môn thể thao tự chọn Bóngchuyền và là cơ sở phát triển cho các môn thể thao Cùng đội ngũ giáo viêntương đối đầy đủ, với nhu cầu SV tự lựa chọn cho mình một môn thể thao ưathích rèn luyện thể chất thường xuyên Với những lý do nêu trên tôi tiến hànhnghiên cứu đề tài cải tiến chương trình môn thể thao phù hợp với nhu cầu SV:
Nghiên cứu chương trình giảng dạy môn Bóng chuyền vào giờ giáo dục thể chất nội khóa tự chọn tại Trường Đại học Đồng nai.
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài tiến hành giải quyết cácnhiệm vụ sau:
Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác GDTC cho SV
Trường Đại học Đồng Nai
Trang 13Nhiệm vụ 2: Nghiên cứu xây dựng chương trình giảng dạy môn Bóng
chuyền vào giờ GDTC nội khóa tự chọn tại Trường Đại học Đồng Nai
Nhiệm vụ 3: Đánh giá hiệu quả của việc thực hiện chương trình giảng
dạy môn Bóng chuyền vào giờ GDTC nội khóa tự chọn đối với việc phát triểnthể chất của SV Trường Đại học Đồng Nai
Trang 14CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác GDTC.
Bác Hồ - vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam và là nhà văn hoá lớn.Sinh thời, Bác rất quan tâm đến hoạt động TDTT, lịch sử đã chứng minh: Bác
Hồ là người khai sinh, người sáng lập nền TDTT cách mạng nước ta Tưtưởng bao trùm của Bác Hồ trong việc đặt nền tảng xây dựng nền TDTT mớicủa nước ta là sự khẳng định có tính chất cách mạng của công tác TDTT, lànhu cầu khách quan của một xã hội phát triển, là nghĩa vụ của mỗi một ngườidân yêu nước.Mục tiêu cao đẹp của TDTT là bảo vệ, tăng cường sức khoẻ củanhân dân, góp phần cải tạo nòi giống, làm cho dân cường nước thịnh.Những ýtưởng đó, được xuyên suốt trong các lời huấn thị, văn kiện, bài viết của Bác
Hồ [15]
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến mọi lĩnh vực hoạtđộng của đất nước, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì sự tiến bộ vàhạnh phúc của nhân dân Thể dục thể thao là một trong những lĩnh vực đượcChủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, chỉ đạo, xây dựng và phát triển ngay từ sauCách mạng Tháng Tám thành công và trong suốt quá trình xây dựng và bảo
vệ đất nước [47]
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “Thể dục thể thao là một công táccách mạng”, tức là Người đã đặt thể dục thể thao ngang hàng với các công táckhác, như công tác chính trị tư tưởng, công tác tổ chức, công tác văn hoá, giáodục Công tác thể dục thể thao có nhiệm vụ “nghiên cứu phương pháp vàthực hành thể dục trong toàn quốc” nhằm “tăng bổ sức khoẻ quốc dân và cảitạo nòi giống Việt Nam” [47]
Trang 15Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt niềm tin, sự quan tâm đặc biệt vào thế
hệ trẻ Theo quan niệm của Người “Một năm khởi đầu từ mùa xuân.Một đờikhởi từ tuổi trẻ.Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội” [47].Tuổi trẻ gắn liền vớitiền đồ, tương lai của đất nước, dân tộc Bởi vậy, Người rất quan tâm đến việcgiáo dục toàn diện “trí, đức, thể, mỹ” cho thế hệ trẻ Việt Nam.Trong đó, việcGDTC là điều kiện để phát huy các mặt giáo dục khác đạt hiệu quả cao nhất
Trong bối cảnh đất nước bị thực dân đô hộ, đời sống nhân dân vô cùngcực khổ, ngay cả các em thiếu niên cũng bị vắt kiệt sức lao động Sự tàn tạ vềsức khoẻ, lạc hậu về văn hoá, yếu kém về trí tuệ của nhân dân ta, nhất là đốivới thanh niên Việt Nam khiến Người luôn day dứt, thôi thúc tìm con đườngcách mạng để đem lại quyền sống, quyền làm người cho nhân dân trong đó,sức khoẻ là một trong những quyền sống cơ bản nhất và cao nhất của conngười
Vào những năm 19101911, khi làm thầy giáo tại trường Dục Thanh Phan Thiết, Người có nhãn quan mới về giáo dục để phát triển hài hoà cácmặt đạo đức, tri thức và thể chất cho học sinh Bên cạnh việc dạy hán văn vàquốc ngữ, Người còn được phân công dạy thể dục cho học sinh toàntrường.Người luôn nhắc nhở học sinh “Cái quý nhất của con người là sứckhỏe Các em chịu khó tập thể dục là giữ gìn cái quý báu nhất của con người”.Nói là làm, mỗi buổi sáng thầy Nguyễn Tất Thành hướng dẫn học sinh tập thểdục, nhảy cao, nhảy xa, kéo xà đơn, chơi bóng rổ, rồi thì luyện đôi chân bằngcách đi bộ ra bãi biển Thương Chánh để tập bơi Việc dạy thể dục cho họcsinh trong trường thực sự là việc làm có tính chất cách mạng đối với nền giáodục Việt Nam lúc bấy giờ
-Sau khi ra đi tìm đường cứu nước trở về, một trong những vấn đề quantâm hàng đầu của Người là vấn đề giáo dục thế hệ trẻ Trong 10 chính sáchlớn của Mặt trận Việt Minh, đã đề cập đến việc xây dựng nền giáo dục quốc
Trang 16dân mới, trong đó có GDTC “khuyến khích nền giáo dục quốc dân làm chonòi giống ngày càng thêm mạnh” và “Nhi đồng được chính phủ săn sóc đặcbiệt về thể dục và trí dục”.
Tháng 3 năm 1941, trong chương trình cứu nước của mặt trận ViệtMinh, Bác Hồ nêu rõ: “Khuyến khích và giúp đỡ nền TDTT quốc dân, làmcho nòi giống thêm khoẻ mạnh” Sau khi nước nhà vừa mới độc lập, chínhquyền Cách mạng còn non trẻ, đã phải đương đầu với muôn vàn khó khănnhư thù trong, giặc ngoài, kinh tế đói kém, xã hội chưa ổn định Vậy mà vớitầm nhìn chiến lược, Hồ Chủ Tịch đã ký sắc lệnh thành lập Nhà thể dục trungương thuộc bộ thanh niên, trên cơ sở: “Xét vấn đề thể dục rất cần thiết, để bồi
bổ sức khoẻ quốc dân và cải tạo nòi giống Việt Nam” [47]
Cách mạng tháng Tám thành công, với cương vị là Chủ tịch nước, HồChí Minh nhắc nhở cán bộ và các cơ quan chức năng bốn việc cần quan tâm
đó là: Công tác phòng bệnh, công tác thể dục thể thao, công tác vệ sinh vàthực hiện đời sống mới Người cho rằng: Việc xây dựng nước nhà, gây đờisống mới việc gì cũng cần có sức khỏe mới làm thành công [34] Trong nềngiáo dục cách mạng, Hồ Chí Minh coi trọng tất cả các mặt đức, trí, thể,mỹ.Người chỉ rõ, GDTC là một mặt cần thiết, quan trọng như các mặt giáodục khác Hơn nữa, GDTC được Người đưa lên hàng đầu chính là nói lên vaitrò tiền đề của GDTC đối với tất cả các mặt khác, bởi nó đem lại cho tuổi trẻsức khoẻ - vốn quý báu nhất của con người
Ngày 27/6/1946, Người ký sắc lệnh thành lập Nhà Thanh niên và Thểdục thuộc Bộ Quốc gia giáo dục nhằm triển khai công tác GDTC trong họcsinh, thanh thiếu niên cả nước Đây được xem là một dấu mốc quan trọngtrong sự hình thành và phát triển của nền thể dục thể thao cách mạng Từ đóđến nay, công GDTC trong tuổi trẻ học đường không ngừng được quan tâm
và phát triển Trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Người
Trang 17từng căn dặn "Phải rèn luyện thân thể cho khoẻ mạnh Khỏe mạnh thì mới có
đủ sức để tham gia một cách dẻo dai bền bỉ những công việc ích nước lợidân" [32]
Đồng thời, Bác còn luôn quan tâm đến sức khỏe của nhân dân, Bác rấttin yêu và luôn quan tâm đến sự phát triển thể chất của thế hệ trẻ Về thămtrường Trung cấp TDTT năm 1961 (nay là trường ĐH TDTT Bắc Ninh), Bác
đã căn dặn: “Các chấu học TDTT ở đây không phải đạt ông kiện tướng này,
bà kiện tướng kia mà cái chính là làm người cán bộ phục vụ đắc lực cho nhândân, đem hiểu biết của mình hướng dẫn mọi người cùng tập luyện để nângcao sức khỏe, đẩy lùi bệnh tật” [47]
GDTC cho tuổi trẻ trong nhà trường phải gắn liền với việc rèn luyệnthể chất còn được thực hiện ngoài trường học, bằng các động tác, bài tập hoặcnhững môn thể thao phù hợp Hai hình thức đó rất cần thiết đối với giáo dục
và rèn luyện tuổi trẻ, đều cùng mục tiêu là phát triển thể chất cân đối, nângcao thể lực Trong hai hình thức đó, Người nhấn mạnh, GDTC trong nhàtrường là cơ bản, vì nó gắn liền với các mặt giáo dục trí dục, đức dục, cho độtuổi thiếu nhi và thanh niên; đồng thời giáo dục và rèn luyện thể chất gắncùng với biện pháp giữ gìn vệ sinh phòng bệnh, có tác dụng thiết thực đếnviệc bảo vệ sức khoẻ, tăng cường thể lực, nâng cao tầm vóc cho tuổi trẻ họcđường [47]
Có thể thấy rằng, đối với Chủ Tịch Hồ Chí Minh, công tác GDTC làmột bộ phận quan trọng không thể thiếu trong nền giáo dục của nước nhà.Vàcho đến ngày nay, tư tưởng ấy vẫn giữ nguyên giá trị và có ý nghĩa thời sựtrong công cuộc xây dựng đất nước thời kỳ đổi mới, hiện đại và hội nhậpquốc tế
Trang 181.2 Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với công tác GDTC trong trường học.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tácGDTC Sự nghiệp TDTT đã và đang phát triển mạnh mẽ, đúng hướng, gópphần quan trọng vào thành tựu chung của công cuộc đổi mới đất nước, từngbước đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của quần chúng nhân dân Đảng lãnhđạo công tác TDTT bằng việc hoạch định đường lối, quan điểm, chính sách,kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện kế hoạch, đưa công tác TDTT lên một tầmcao mới
Đường lối quan điểm của Đảng được thể hiện ở nhiều nghị quyết, chỉthị trong suốt thời kỳ lãnh đạo cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân và tiếnlên xây dựng CNXH, qua các thời kỳ Đại Hội Đại biểu toàn quốc của Đảng:
“Từng bước xây dựng nền TDTT XHCN phát triển cân đối, có tính chất dântộc, khoa học và nhân dân”, “Công tác TDTT cần coi trọng, nâng cao chấtlượng GDTC trong các trường học, tổ chức hướng dẫn và vận động đông đảonhân dân rèn luyện thân thể hàng ngày” [12],[13]
Ngày 9/10/2000, Chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa ViệtNam công bố lệnh về việc ban hành Pháp lệnh TDTT đã được ủy ban thường
vụ Quốc hội khóa X thông qua ngày 25/9/2000 Pháp lệnh có 9 chương, 59điều Trong đó, điều 14, 15 của chương 1 quy định về TDTT trường học nhưsau:
- Điều 14 của pháp lệnh: “TDTT trường học bao gồm GDTC vàhoạt động TDTT ngoại khóa cho người học GDTC trong trường học làchế độ GDTC bắt buộc nhằm tăng cường sức khỏe, phát triển thể chất,góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu giáo dụctoàn diện người học Nhà nước khuyến khích hoạt động TDTTngoạikhóa trong nhà trường”
Trang 19- Điều 15 của pháp lệnh quy định: “Bộ giáo dục đào tạo phối hợpvới ủy ban TDTT thực hiện các nhiệm vụ: xây dựng, chỉ đạo thực hiệnchương trình GDTC Quy định tiêu chuẩn rèn luyện thân thể và đánhgiá kết quả rèn luyện thân thể của người học Đào tạo, bồi dưỡng vàđảm bảo đủ giáo viên, giảng viên TDTT Quy định hệ thống thi đấuTDTT trường học".
Luật giáo dục được Quốc hội khóa XI nước Cộng Hòa Xã Hội ChủNghĩa Việt Nam thông qua ngày 14/6/2005: “Nhà nước coi trọng TDTTtrường học, nhằm phát triển và hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thanh thiếuniên, nhi đồng Giáo dục thể chất là nội dụng bắt buộc đối với học sinh, sinhviên, được thực hiện trong hệ thống giáo dục quốc dân, từ Mầm non đến Đạihọc”
Luật TDTT được Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XI thông qua ngày
29 tháng 11 năm 2006, điều 20, chương II quy định “Giáo dục thể chất là mônhọc chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹnăng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vậnđộng, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện Hoạt động thể thaotrong nhà trường là hoạt động tự nguyện của người học được tổ chức theophương thức ngoại khoá phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khoẻnhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triểnnăng khiếu thể thao Nhà nước khuyến khích thể dục thể thao ngoại khóatrong nhà trường” [38]
Có thể thấy rằng một trong những nhiệm vụ cơ bản quan trọng củaGDTC là không ngừng nâng cao sức khỏe, nâng cao trình độ chuẩn bị thể lựccho học sinh, sinh viên Nôvicốp A D; Mátvêép L P (1993); khẳng định:
“thể lực là một trong những nhân tố quan trọng nhất, quyết định hiệu quả hoạt
Trang 20động của con người, trong đó những đặc điểm cơ bản, nổi bật của quá trìnhGDTC”.
Quyết định số 72 /2008/QĐ-BGDĐT ngày 23 tháng 12 năm 2008 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, quy định việc tổ chức hoạt động thể thaongoại khoá cho học sinh, sinh viên hệ chính quy trong các cơ sở giáo dục phổthông, cơ sở giáo dục đại học và trung cấp chuyên nghiệp Tổ chức các hoạtđộng thể thao ngoại khoá trong nhà trường nhằm động viên, khuyến khíchhọc sinh, sinh viên tự giác tham gia tập luyện thể thao; hình thành thói quenrèn luyện thân thể thường xuyên cho học sinh, sinh viên; Hoạt động thể thaongoại khoá phải được quan tâm, chỉ đạo sâu sát, chặt chẽ, xây dựng kế hoạchphù hợp và đảm bảo về tài chính, cơ sở vật chất, sân bãi, dụng cụ, đáp ứngnhu cầu của học sinh, sinh viên; Việc tổ chức hoạt động thể thao ngoại khoácho học sinh, sinh viên trong nhà trường phải bảo đảm các nguyên tắc sau:
+ Phù hợp với đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, điều kiện
cụ thể của từng địa phương, cơ sở giáo dục, tránh lãng phí, hình thức
+ Nguời tham gia phải tự nguyện, tự giác, phù hợp với sở thích, giớitính, lứa tuổi và sức khoẻ
+ Có chương trình, kế hoạch và có thể được lồng ghép với các hoạtđộng có ý nghĩa giáo dục của nhµ trường
+ Xã hội hóa đối với các hoạt động thể thao ngoại khoá của học sinh,sinh viên [33]
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành quyết định số BGDĐT ngày 18/9/2008 Ban hành quy định về việc đánh giá, xếp loại thểlực học sinh, sinh viên, quy định cụ thể từng nội dung và chuẩn thành tíchkiểm tra thể lực cho học sinh, sinh viên từ 6 đến 20 tuổi [3]
53/QĐ/2008-Về GDTC trong trường học, trong báo cáo đã khẳng định bên cạnhnhững kết quả đạt được báo cáo đưa ra những tồn tại trong lĩnh vực GDTC:
Trang 21“Công tác GDTC trong trường học vẫn còn nhiều hạn chế và đang đứng trướcnhững thử thách to lớn Nghiêm trọng hơn đội ngũ giáo viên TDTT nhàtrường còn thiếu kinh nghiệm tổ chức Giờ học thể dục bắt buộc chưa thựchiện đầy đủ Còn thiếu những hình thức thích hợp để mở rộng TDTT ngoạikhóa và các hoạt động thể thao tự nguyện của học sinh Vị trí của môn thể dụctrong nhà trường còn bị xem nhẹ, chưa bình đẳng với các môn học khác”, cơ
sở vật chất TDTT còn rất thiếu thốn và lạc hậu, nhất là trong trường học Tính chung trong cả nước mỗi học sinh chỉ có 1 mét vuông đất cho hoạt độngTDTT Từ yếu kém trên, ngành TDTT phối hợp với ngành Giáo dục cần nhấnmạnh: “Để phát triển TDTT trong trường học, phải quan tâm xây dựng độingũ giáo viên TDTT, trước hết cần phải đảm bảo định biên thể dục chotrường học” Từ nhiệm vụ chung của ngành TDTT, mục tiêu cụ thể mà BộGD-ĐT đưa ra là:
Quy mô và chất lượng của công tác GDTC và TT trong học sinh, sinhviên được mở rộng và nâng cao, cơ sở hạ tầng TDTT trường học được phát triểnđồng bộ theo nhiều cấp độ khác nhau, nhằm đảm bảo có chất lượng và hiệu quảcao trong GDTC, bồi dưỡng và phát triển tài năng thể thao của đất nước
Các công trình TDTT trường học được hiện đại hóa, ngang tầm với nhàtrường của các nước tiên tiến trong khu vực
Đội ngũ cán bộ, giáo viên TDTT có khả năng sáng tạo về lý luận vàphương pháp GDTC, vận dụng công nghệ tiên tiến trong công tác GDTC vàthể thao học đường; tham gia hoạt động có hiệu quả trong các tổ chức thểthao học sinh, sinh viên khu vực và thế giới Đào tạo đủ giáo viên TDTT chotrường học, theo tiêu chuẩn 250 học sinh có một giáo viên TDTT chuyênnghiệp Đối với các trường Đại học và Cao đẳng là 150 học sinh/giáo viên
Để đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng cho chiến lược đào tạo conngười phát triển toàn diện, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh
Trang 22xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, với quan điểm TDTT là công tác cáchmạng Đảng – Chính phủ luôn quan tâm đến công tác TDTT nói chung vàGDTC nói riêng, thấm nhuần quan điểm của Đảng với TDTT – GDTC, haingành GD &ĐT và TDTT đã phối kết hợp, chỉ đạo nội dung công tác GDTCtrong tình hình mới, phục vụ đắc lực mục tiêu đào tạo con người phát triển toàndiện góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Giáo dục con người phát triển toàn diện phải kết hợp hài hòa sự phongphú về tinh thần, sự trong sáng về đạo đức, sự toàn diện về thể chất Sự cườngtráng về thể chất là nhu cầu của bản thân con người đồng thời là vốn quý tạo
ra sản phẩm về trí tuệ và vật chất cho xã hội
Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 1/12/2011 của Bộ chính trị khóa XI vềphát triển TDTT Tăng cường sự quản lý của Đảng, tạo bước phát triển mạnh
về TDTT đến năm 2020 Tiếp tục hoàn thiện bộ máy tổ chức, đổi mới quản
lý, nâng cao đội ngũ cán bộ thể dục, thể thao, tăng cường cơ sở vật chất, đẩymạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ làm nền tảng phát triển mạnh mẽ vàvững chắc sự nghiệp TDTT đến năm 2020 Phấn đấu 90% học sinh, sinh viênđạt tiêu chuẩn thân thể, các trường học, xã, phường, thị trấn, khu công nghiệp
có đủ cơ sở vật chất thể dục, thể thao phục vụ tập luyện của nhân dân, trình
độ một số môn thể thao trọng điểm được nâng lên tầm châu Á và thế giới;đảm bảo các điều kiện để đăng cai tổ chức các sự kiện thể thao của châu Á vàthế giới
Thông tư số 25/2015/TT-BGDĐT ngày 14 tháng 10 năm 2015 quyđịnh về chương trình môn học giáo dục thể chất thuộc các chương trình đàotạo trình độ đại học [4]
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác Giáo dục Thểchất và Thể thao trường học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều văn bảnpháp quy để chỉ đạo thực hiện đến các cơ sở
Trang 23Có thể nói rằng, Đảng và Nhà nước luôn coi trọng sức khỏe nhân dân,nhất là thanh thiếu niên Chăm lo cho mọi người về sức khỏe là chiến lược ổnđịnh và phát triển nguồn nhân lực, đó là cơ sở vững chắc cho sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tóm lại, qua những chỉ thị và Nghị quyết trên cho thấy: Đảng và Nhànước rất coi trọng việc tăng cường sức khỏe cho nhân dân, nhất là đốì vớitầng lớp học sinh, SV Trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước củathời đại hiện nay, việc giáo dục và phát triển thể chất là một trong những biệnpháp tích cực nhất góp phần tăng cường và bảo vệ sức khỏe, cải tạo nòigiống Đó cũng là vấn đề cốt lõi mà Đảng và Nhà nước ta quan tâm hàng
đầu, để góp phần xây dựng một đất nước “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh”và phấn đấu đạt vị trí ngang tầm với các nước tiên
tiến trên thế giới trong tương lai
1.3 Công tác GDTC và Thể thao trường học
1.3.1 Một số khái niệm liên quan
1.3.1.1 Thể chất
Thể chất chỉ chất lượng thân thể con người Đó là những đặc trưngtương đối ổn định về hình thái và chức năng của cơ thể được hình thành vàphát triển do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống (bao gồm cả giáo dục, rènluyện) TDTT gắn bó chặt chẽ với quá trình phát triển thể chất Đó là một quátrình hình thành, biến đổi tuần tự theo quy luật trong cuộc đời từng người(tương đối lâu dài) về hình thái, chức năng và cả những tố chất thể lực vànăng lực thể chất Thể chất bao gồm thể hình, khả năng chức năng và khảnăng thích ứng Thể hình gồm hình thái, cấu trúc của cơ thể, bao gồm trình độphát triển, những chỉ số tuyệt đối về hình thái và tỷ lệ giữa chúng cùng tưthế.Năng lực thể chất lại chủ yếu liên quan với những khả năng chức năng củacác hệ thống, cơ quan trong cơ thể thể hiện chính qua hoạt động cơ bắp Nó
Trang 24bao gồm các tố chất thể lực (sức mạnh, sức nhanh, sức bền, độ dẻo, sự khéoléo vận động…) và những năng lực vận động cơ bản của con người (đi, chạy,nhảy, ném, leo trèo, bò, mang vác ) Khả năng thích ứng chỉ trình độ (nănglực) thích ứng chủ yếu về chức năng của cơ thể con người với hoàn cảnh bênngoài, bao gồm cả sức đề kháng với các bệnh tật Trạng thái thể chất chủ yếunói về tình trạng cơ thể qua một số dấu hiệu về thể trạng, được xác định bằngcác cách đo tương đối đơn giản về chiều cao, cân nặng, vòng ngực, dung tíchsống, lực tay, chân, lưng trong một thời điểm nào đấy Đặc trưng của sựphát triển thể chất phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tạo thành (điều kiện bêntrong và bên ngoài) và sự biến đổi của nó theo một số quy luật về tính ditruyền và khả biến, sự phát triển theo lứa tuổi và giới tính, sự thống nhất hữu
cơ giữa cơ thể và môi trường, giữa hình thức - cấu tạo và chức năng của cơthể Từng người và xã hội không thể tuỳ ý thay bỏ hoặc làm ngược lại nhữngquy luật khách quan này Mà chỉ có thể đạt hiệu quả phát triển thể chất tốt nếuhiểu ra được và vận dụng, tác động thích hợp theo nhưng phương hướng, mụcđích nhất định, nhằm đáp ứng những nhu cầu và lợi ích của từng cá nhân và
xã hội [17]
1.3.1.2 Giáo dục thể chất
Mátvêép L.p, Nôvicốp A.D khái niệm rằng “Giáo dục thể chất là một
quá trình giải quyết những nhiệm vụ giáo dục- giáo dưỡng nhất định mà đặcđiểm của quá trình này là có tất cả các dấu hiệu chung của quá trình sư phạm,hoặc là được thực hiện dưới hình thức tự giáo dục” [24]
Nguyễn Toán đã mô tả GDTC và khái niệm: “Giáo dục thể chất là một bộphận của thể dục thể thao Giáo dục thể chất còn là một trong những hoạt động
cơ bản, có định hướng rõ của thể dục thể thao trong xã hội, một quá trình tổ chức
để truyền thụ và tiếp thu những giá trị của TDTT trong hệ thống giáo dục - giáodưỡng chung (chủ yếu là trong nhà trường) Giáo dục thể chất là một loại hình
Trang 25giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển
có chủ định các tố chất vận động của con người” [ 44]
Vũ Đức Thu, Nguyễn Xuân Sinh, Lưu Quang Hiệp và một số tác giảkhác đưa ra khái niệm: Giáo dục thể chất làm một quá trình sư phạm, nhằmgiáo dục và đào tạo thế hệ trẻ hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng caokhả năng làm việc và kéo dài tuổi thọ của con người [52]
GDTC là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy họcvận động (động tác) và phát triển có chủ đích các tố chất vận động của conngười Thuật ngữ “GDTC” có từ lâu trong ngôn ngữ nhiều nước Riêng ởnước ta, do bắt nguồn từ gốc Hán - Việt nên cũng có người gọi tắt GDTC làthể dục theo nghĩa tương đối hẹp Vì theo nghĩa rộng của từ Hán - Việt cũ, thểdục còn có nghĩa là TDTT Thông thường, người ta coi GDTC là một bộ phậncủa TDTT Nhưng chính xác hơn, đó còn là một trong những hình thức hoạtđộng cơ bản có định hướng rõ của TDTT trong xã hội, một quá trình có tổchức để truyền thụ và tiếp thu những giá trị của TDTT trong hệ thống giáodục - giáo dưỡng chung (chủ yếu trong các nhà trường) Cũng như các hìnhthức giáo dục khác, GDTC theo đặc trưng chung, cũng là một quá trình giáodục với đầy đủ những dấu hiệu chung của nó (vai trò chủ đạo của nhà giáodục trong quá trình dạy học, tổ chức hoạt động theo những nguyên tắc sưphạm ) Nhưng đặc trưng cơ bản, chuyên biệt thứ nhất của GDTC là dạy họcvận động (qua các động tác) Nói rõ và đầy đủ hơn, đó là truyền thụ và tiếpthu có hệ thống những cách thức điều khiển hợp lý sự vận động của conngười qua đó sẽ hình thành những kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản cần thiết
và những hiểu biết có liên quan Đặc trưng cơ bản thứ hai của GDTC là sự tácđộng có chủ đích đến sự phát triển theo định hướng các tố chất thể lực nhằmnâng cao sức lực vận động của con người Việc dạy học động tác và phát triển
Trang 26các tố chất vận động có liên quan chặt chẽ, làm tiền đề cho nhau thậm chí cóthể “chuyển” lẫn nhau.
Liên quan với các khái niệm trên, sự hoàn thiện thể chất lại là mức tối
ưu của trình độ chuẩn bị thể lực toàn diện và phát triển thể chất cân đối, đápứng đầy đủ những yêu cầu của lao động và những hoạt động cần thiết kháctrong đời sống, phát huy cao độ, đầy đủ những năng khiếu bẩm sinh về thểchất của từng người phù hợp với những quy luật phát triển toàn diện nhâncách và giữ gìn, nâng cao sức khoẻ để hoạt động tích cực, bền lâu và có hiệuquả [52]
Trạng thái thể chất: chủ yếu nói về trạng thái cơ thể qua một số dấu
hiệu về thể trạng được xác định bằng các cách đo tương đôi đơn giản nhưchiều cao, cân nặng, vòng ngực, chân, tay trong một thời điểm nào đó [43 ]
Phát triển thể chất: là quá trình biến đổi và hình thành các tính chất tự
nhiên về hình thái và chức năng cơ thể trong đời sống tự nhiên và xã hội Haynói cách khác, phát triển thể chất là một quá trình hình thành biến đổi tuần tựtheo quy luật trong cuộc đời từng người về hình thái, chức năng kể cả những
tố chất thể lực và năng lực vận động [43]
Phát triển thể chất phụ thuộc nhiều vào yếu tố tạo thành và sự biến đổicủa nó diễn ra theo quy luật di truyền và các quy luật phát triển sinh học tựnhiên theo lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, phương pháp và biện pháp giáodục cũng như môi trường sống
Hoàn thiện thể chất: Hoàn thiện thể chất là phát triển thể chất lên một
trình độ cao, nhằm đáp ứng một cách hợp lý các nhu cầu của hoạt động laođộng, xã hội, chiến đấu và kéo dài tuổi thọ sáng tạo của con người [33]
Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn cũng đưa ra khái niệm “Hoàn thiệnthể chất là mức tối ưu (tương đối), với một giai đoạn lịch sử nhất định củatrình độ chuẩn bị thể lực toàn diện và phát triển thể chất cân đối; đáp ứng đầy
Trang 27đủ những yêu cầu của lao động và những hoạt động cần thiết khác của đờisống; phát huy cao độ, đầy đủ những năng khiếu bẩm sinh về thể chất củatừng người; phù hợp với những quy luật pliát triển toàn diện nhân cách và giữgìn, nâng cao sức khỏe để hoạt động tích cực, lâu bền và có hiệu quả ” [44].
Để nhấn mạnh tới phương hướng, mục đích của giáo dục thể chất trongtrường đại học, chuẩn bị thể lực được Vũ Đức Thu khái niệm như sau:
“Chuẩn bị thể lực là một nội dung của quá trình giáo dục thể chất, đây ỉà hoạtđộng chuyên môn hóa nhầm chuẩn bị thể lực cho con người học tập, lao động
và bảo về Tổ Quốc” [52]
1.3.1.3 Chất lượng GDTC
Chất lượng giáo dục luôn luôn là một vấn đề được toàn xã hội quantâm, bởi lẽ, đây là sự phản ánh giá trị đích thực của một nền giáo dục và là cơ
sở, tiền đề cho sự phát triển của mỗi cá nhân và toàn xã hội Tuy nhiên, khái
niệm “chất lượng” nói chung và “chất lượng giáo dục” nói riêng là những
khái niệm cơ bản, nhưng rất đa chiều, đa nghĩa, rất khó định danh chính xácbởi nội dung của nó rất rộng Vì vậy, đã có rất nhiều tác giả đề xuất các khái
niệm “chất lượng” khác nhau.
Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng, “chất lượng” được hiểu là: "cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật" hoặc chất lượng được hiểu là "cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia".
Bộ Tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế ISO.9000 đã xác định "chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể, tạo cho thực thể đó có những khả năng thoả mãn những nhu cầu đã được công bố hoặc còn tiềm ẩn".
Mục đích cuối cùng của giáo dục là nhằm phát triển cá nhân và đào tạonguồn nhân lực để kế thừa, cải tạo, phát triển chính xã hội đó Do đó, nếuđánh giá theo mục đích cuối cùng thì chất lượng giáo dục được giới hạn trongphạm vi đánh giá sự phát triển của cá nhân sau mỗi quá trình học tập và sự
Trang 28phát triển xã hội khi họ tham gia vào các lĩnh vực hoạt động kinh tế, chính trị
- xã hội, văn hoá - thể thao Theo Nguyễn Văn Đản, mức độ kết quả học tậpđạt được so với mục tiêu cá nhân được gọi là chất lượng giáo dục ở cấp độnhân cách Nguồn nhân lực được đào tạo bao gồm các cá nhân được đào tạo.Mức độ kết quả đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng các yêu cầu xã hội đặt ra chogiáo dục được gọi là chất lượng giáo dục ở cấp độ xã hội
Ở những góc độ khác nhau, người ta có thể đưa ra những tiêu chí đánhgiá chất lượng học tập khác nhau: Giáo viên đánh giá chất lượng học tập bằngmức độ mà SV nắm vững các kiến thức, kỹ năng, phương pháp và thái độ họctập của cá nhân SV đánh giá chất lượng học tập bằng việc nắm vững và vậndụng kiến thức vào thực hành bài tập, bài kiểm tra, bài thi Cha mẹ SV vàngười sử dụng sản phẩm đào tạo lại có cách đánh giá chất lượng đào tạo khácnhau
Như vậy, có thể xác định khái niệm “chất lượng” như sau:
Chất lượng là những thuộc tính bản chất vốn có của sự vật, hiện tượng,
là "cái" để phân biệt nó với sự vật, hiện tượng khác
Chất lượng là giá trị, mức độ thể hiện của sản phẩm với những chỉ tiêu,quy chuẩn đã định
Chất lượng là sự thoả mãn với những nhu cầu của người sử dụng
Chất lượng là sự phù hợp với những mục tiêu
“Chất lượng” được hiểu là "cái" tạo nên bản chất, phẩm chất, giá trị vàmức độ phù hợp với yêu cầu, mục tiêu đã định; chất lượng của sản phẩm vừa
có đặc tính chủ quan, vừa có đặc tính khách quan “Chất lượng” là "cái" tạonên bản chất, phẩm chất, giá trị Vì vậy, khi xem xét về chất lượng thì phảicăn cứ vào bản chất, phẩm chất, giá trị trong sản phẩm do nó tạo ra Đâychính là cơ sở khoa học và thực tiễn rất quan trọng cho việc "đó", “thẩm
định” và đánh giá chất lượng.
Trang 29Từ định nghĩa "chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu" ta có thể xác định: “Chất lượng GDTC là sự phù hợp với mục tiêu GDTC”, là kết quả tổng hợp của quá trình GDTC, phản ánh trong các phẩm chất và năng lực, đặc biệt là các năng lực thể chất của người học, phù hợp với mục tiêu GDTC cho từng cấp học, bậc học và ngành nghề đào tạo.
1.3.1.4 Thể lực
Từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1996 của nhà xuất bản Từ điển Đà
Nẳng khái niệm, “Thể lực là sức lực của con người”.
Theo Nguyễn Mạnh Liên: thể lực là một nội dung nằm trong định nghĩachung về sức khỏe” Tác giả cho rằng, để đánh giá thể lực, cần có các chỉ tiêu
về hình thái, giải phẫu và sinh lý con người trong đó có hai chỉ tiêu cơ bản làchiều cao đứng và cân nặng Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khái niệm sứckhỏe như sau: “sức khỏe là một trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và
xã hội chứ không phải đơn thuần là không bệnh tật, cho phép mọi người thíchứng nhanh chóng với các biến đổi của môi trường, giữ được lâu dài khả nănglao động và lao động có kết quả Sức khỏe gồm có sức khỏe cá nhân, sức khỏegia đình, sức khỏe cộng đồng và sức khỏe xã hội Sức khỏe phụ thuộc vàomôi trường sống, quá trình nuôi dưỡng, quá trình rèn luyện, những vấn đềchung của từng nước và cộng đồng thế giới Như vậy, thể lực là một yếu tốtạo nên sức khỏe [44] Theo Aulic I.A, năng lực thể lực là tiềm năng của vậnđộng viên, để đạt được những thành tích nhất định trong môn thể thao đượclựa chọn và năng lực thể lực được biểu hiện theo các thông số sư phạm nhưsức nhanh, sức mạnh, sức bền, khả năng phối hợp vận động
Như vậy, có thể nhận thấy ở những góc độ khác nhau khái niệm thể lựcđược các tác giả đề cập đến không hoàn toàn giống nhau Từ các kết quả phân
tích trên đây có thể hiểu: Thể lực là năng lực tự nhiên của con người, được
phát triển, hoàn thiện dưới tác động của lượng vận động và bộc lộ ra bên
Trang 30ngoài cơ thể cao hay thấp.
1.3.2 GDTC với sự phát triển thể chất của SV.
GDTC là một quá trình sư phạm nhằm hoàn thiện về mặt thể chất vàchức năng cơ thẻ con người, nhằm hình thành và củng cố những kỹ năng kỹxảo vận động cơ bản trong đời sống, trong lao động GDTC là một bộ phậncủa TDTT, là một trong những hình thái cơ bản có định hướng rõ của TDTTtrong xã hội.Hay cụ thể nói một cách khác, GDTC là loại hình giáo dục mànội dung chuyên biệt là dạy học động tác và phát triển các tố chất thể lực củacon người [43]
GDTC và thể thao trong trường học duy trì sức khỏe, nâng cao trình độthể lực cho SV, rèn luyện thân thể theo tiêu chuẩn thể lực đã được qui định,trang bị cho SV những kiến thức lý luận cơ bản và những nội dung, phươngpháp tập luyện, kỹ năng và những kỹ thuật cơ bản của một môn thể thao, rènluyện tinh thần tập thể, xây dựng lối sống văn minh, tạo mọi điều kiện thuậnlợi để xây dựng phong trào thể thao mạnh mẽ, sâu rộng
GDTC trong các trường đại học góp phần quan trọng trong việc “nângcao dân trí đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài ”, xây dựng lớp chủ nhântương lai của đất nước Trên những cơ sở đó, GDTC đối với SV là một mặtkhông thể thiếu trong công tác giáo dục và đào tạo Đại học Sức khỏe là vốnquý nhất của con người, là tài sản của mỗi quốc gia Nhà nước ta đặt công tácGDTC luôn ngang hàng với những mặt công tác cách mạng khác [17]
Công tác GDTC trường học là một bộ phận quan trọng của nền giáodục chung nhằm góp phần đào tạo con người mới phát triển toàn diện Chínhnhờ sự quan tâm của Nhà nước cùng với sự cố gắng chung của toàn ngànhGiáo dục và Đào tạo từ Trung ương đến địa phương, công tác GDTC trườnghọc đã có bước phát triển đáng ghi nhận, góp phần đào tạo nguồn nhân lực
Trang 31mới phục vụ cho công cuộc đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích, những ưu điểm thì nhìn chung TDTT ởnước ta trình độ còn rất hạn chế, số người tham gia tập luyện thể thao khôngnhiều, hiệu quả công tác GDTC trường học còn thấp kém và còn nhiều hạnchế chưa đáp ứng được với nhu cầu hiện nay.
Qua tìm hiểu, theo dõi việc thực hiện chương trình GDTC ở các trườnghọc trong địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có thể rút ra một số nhận xét sau:Hầu hết các trường đều cố gắng chấp hành nghiêm chỉnh chương trình giảngdạy TDTT quy định của Bộ Giáo Dục Tuy nhiên, thực chất giờ GDTC tại cáctrường học nhiều năm qua vẫn còn nhiều bất cập:
- Cơ sở vật chất: Cơ sở vật chất hiện tại phục vụ cho việc tập luyệncũng như học tập các môn GDTC của các trường còn nhiều hạn chế Chỉ ítcác trường trong thành phố có nhà tập luyện và thi đấu TDTT riêng, còn lạihầu như các trường đều thiếu thốn sân bãi tập luyện, nhiều trường phải đi thuêsân bãi hoặc ra công viên tập
- Trang thiết bị: Trang thiết bị phục vụ cho giờ học còn là vấn đề khókhăn hơn hiện tại dụng cụ hỗ trợ cho SV tập luyện còn nhiều thiếu thốn một
số trường phải bỏ bớt một số môn trong chương trình khung của Bộ hoặc hạnchế một số dụng cụ tập luyện như tạ, hố cát, nệm, xà…
- Đội ngũ giáo viên: Đội ngũ giáo viên chuyên trách còn thiếu và trình
độ chuyên môn hạn chế không đồng đều
- Chương trình giảng dạy: Chương trình giảng dạy khung dành chomôn GDTC Bộ GD-ĐT quy định cũng còn nhiều bất cập so với thực tế
1.3.3 Đặc điểm phát triển các tố chất thể lực của sinh viên.
Sự thay đổi các tố chất thể lực trên cơ sở của sự phát triển hình thái,chức năng Nó thay đổi theo lứa tuổi, giới tính, có tính làn sóng và tính giaiđoạn Sự phát triển các tố chất thể lực trong quá trình trưởng thành diễn ra
Trang 32không đồng bộ, mỗi tố chất phát triển theo nhịp độ riêng và vào từng thời kỳkhác nhau Các tố chất thể lực bao gồm: sức mạnh, sức nhanh, sức bền, mềmdẻo, khéo léo.
1.3.3.1 Khái niệm Sức mạnh:
Sức mạnh phụ thuộc vào hệ vận động vì nó có liện hệ mật thiết với các
tổ chức xương, cơ, dây chằng, năng lực khống chế và điều hòa cơ Ở tuổitrưởng thành, sự phát triển các nhóm cơ không đồng đều nên tỷ lệ sức mạnhcủa các nhóm cơ cũng thay đổi theo lứa tuổi Trong khi đó sức mạnh của cácnhóm cơ duỗi phát truyển nhanh hơn nhóm cơ co, cơ hoạt động nhiều sẽ pháttriển nhanh hơn cơ hoạt động ít, ở độ tuổi 18 – 21 thì sức mạnh cơ bắp có sựphát triển với nhịp độ cao và có tính chất đột biến [17]
1.3.3.2 Khái niệm Sức nhanh:
Tốc độ như một tố chất vận động được đặc trưng bởi thời gian tiềmtàng của phản ứng, tần số động tác và tốc độ động tác đơn lẻ Trong hoạt độngthể lực, tốc độ biểu hiện một cách tổng hợp Tốc độ của động tác đơn lẻ biếnđổi rõ rệt trong quá trình phát triển Nếu được tập luyện thì tốc độ của độngtác đơn lẻ sẽ phát triển tốt hơn [17]
1.3.3.3 Khái niệm Sức bền:
Sức bền phát triển đến 21 – 22 tuổi thì đạt đỉnh cao, sức bền có liênquan mật thiết đến chức năng hệ thống tuần hoàn, hô hấp, … và khả năng ổnđịnh của cơ thể, tố chất sức bền cũng biến đổi đáng kể trong các hoạt độngtĩnh lực cũng như động lực Sức bền ưa khí phát triển mạnh vào độ tuổi 18 –
22, trong khi sức bền yếm khí phát triển mạnh ngay ở lứa tuổi 12 – 17 [17]
1.3.3.4 Khái niệm Khéo léo:
Tố chất vận động khéo léo thể hiện khả năng điều khiển các yếu tố thểlực, không gian, thời gian của động tác Một trong các yếu tố quan trọng củakhéo léo là định hướng chính xác trong không gian.Khả năng này phát triển
Trang 33cao nhất ở lứa tuổi 7 – 10 tuổi Từ 10 – 12 tuổi khả năng này ổn định và ở tuổi
14 – 15 giảm xuống đến 16 – 17 tuổi khả năng định hướng trong không gian
sẽ đạt mức độ người lớn [17]
1.3.3.5 Khái niệm Mềm dẻo:
Tố chất mềm dẻo là góc độ hoạt động của các khớp của cơ thể conngười, nó là khả năng kéo dải của dây chằng và cơ bắp Độ mềm dẻo khôngphát triển đồng đều theo sự phát triển của lứa tuổi Độ linh hoạt của cột sống
ở nam tuổi 7 – 14 nâng cao rõ rệt và đạt chỉ số lớn nhất vào tuổi 15.Khi lớnlên phát triển chậm lại.Độ linh hoạt phát triển cao vào độ tuổi 12 – 13 Biên
độ khớp hông lớn nhất vào độ tuổi 7 – 10 sau đó phát triển chậm lại [17]
1.3.4 Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung GDTC trong trường đại học.
Nâng cao năng lực thể lực và sức khỏe cho học sinh, SV là một trongnhững mục tiêu chiến lược của Đảng, Nhà nước, của ngành Giáo dục và Đàotạo nước ta trong giai đoạn hiện nay Để thực hiện mục tiêu giáo dục toàndiện ở tất cả các bậc học, nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóađất nước thì nhất thiết phải coi công tác Giáo dục thể chất trong trường học.Đặc biệt là khối đại học, cao đẳng chuyên nghiệp vì SV là những nhân tố lựclượng nòng cốt để phát triển đất nước
Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán: về mục tiêu công tác giáo dục thểchất và thể thao trường học nhằm góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo độingũ cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế và văn hóa xã hội, phát triển hàihòa, có thể chất cường tráng, đáp ứng yêu cầu chuyên môn, nghề nghiệp và
có khả năng tiếp cận với thực tiễn lao động sản xuất của nền kinh tế thịtrường theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa [22]
Căn cứ vào mục tiêu nêu trên, giáo dục thể chất và thể thao trongtrường học phải giải quyết ba nhiệm vụ:
-Góp phần giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, rèn luyện tinh thần tập thể,
Trang 34ý thức tổ chức kỷ luật, xây dựng niềm tin, lối sống lành mạnh, tinh thần tự giácrèn luyện thân thể, sẵn sàng phục vụ lao động sản xuất và bảo vệ Nước nhà.
- Cung cấp cho SV những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung vàphương pháp tập luyện thể dục thể thao, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bảnmột số môn thể thao thích hợp Trên cơ sở đó, bồi dưỡng khả năng sử dụngcác phương tiện để rèn luyện thân thể, tham gia tích cực vào việc tuyên truyền
và tổ chức các hoạt động thể dục thể thao của nhà trường và xã hội Góp phầnduy trì và củng cố sức khỏe, nâng cao trình độ thể lực cho SV, phát triển cơthể hài hòa, cân đối, rèn luyện thân thể, đạt những tiêu chuẩn thể lực quyđịnh
- Có thể thấy rằng, một trong những nhiệm vụ cơ bản quan trọng củagiáo dục thể chất là không ngừng nâng cao sức khỏe, nâng cao trình độ chuẩn
bị thể lực cho SV, Nôvicốp A.D; MátVêp L.p (1993); khẳng định: thể lực còn
là một trong những nhân tố quan trọng nhất, quyết định hiệu quả hoạt độngcủa con người, trong đó những đặc điểm cơ bản, nổi bật của quá trình giáodục thể chất”
Nội dung chương trình: Quán triệt sâu sắc nội dung các nghị quyết, chỉthị của Đảng, Hiến pháp nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam, các văn bản phápluật của chính phủ về công tác TDTT trong tình hình mới, cũng tiếp tục khẳngđịnh, cần phải khắc phục thực trạng giảm sút thể lực của SV hiện nay Haingành Giáo dục- Đào tạo và TDTT đã thông nhất những nội dung, biện pháp
và hợp đồng trách nhiệm chỉ đạo, nhằm thúc đẩy nhanh và nâng cao chất
lượng GDTC cho SV: “Hai ngành nhất trí xây dựng chương trình mục tiêu, cải tiến nâng cao chất lượng GDTC”.
Với nội dung phối hợp giữa hai ngành, Bộ GD & ĐT đã chỉ đạo cáccấp giảng dạy thể dục nội khóa, theo chương trình kế hoạch có nề nếp, đảmbảo thực hiện nghiêm túc các quy phạm đánh giá quá trình dạy - học thể dục,
Trang 35quy chế GDTC SV Nghiên cứu và điều chỉnh chương trình thể dục các cấp,thực hiện kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho SV Từng bước áp dụngthông nhất giữa các vùng, khu vực trên toàn quốc Điều chỉnh và ban hành tàiliệu giảng dạy, sách giáo khoa cho từng cấp Đảm bảo cơ sở vật chất tối thiểu
để phục vụ việc thực hiện chương trình ngoại khóa, phát động phong trào
rộng khắp trong nhà trường với mục tiêu: “Mỗi SV biết chơi một môn thể thao”, chỉ đạo và cải tiến chương trình hình thức hoạt động TDTT ngoại
khóa, mở rộng mạng lưới câu lạc bộ TDTT SV Tập trung hỗ trợ về cán bộ,
cơ sở vật chất để cũng cố, thành lập câu lạc bộ TDTT mới, thu hút nhiều SVtham gia tập luyện
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành quy chế số 931/RLTC ngày
29/04/1993 về công tác GDTC trong nhà trường là: “Các trường từ Mầm non đến Đại học phải đảm bảo thực hiện dạy môn thể dục theo quy định cho học sinh, SV” GDTC bao gồm nhiều hình thức có liên quan chặt chẽ với nhau.
Giờ học thể dục, tập luyện thể thao theo chương trình, giờ tự tập của học sinh,
SV, giữ vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường Chương trình thể dục và cáchình thức GDTC khác được sắp xếp phù hợp với trình độ sức khỏe, giới tính
và lứa tuổi Hàng năm, SV tự tập luyện thể thao ngoại khóa ở trường, ở nhà.Nhà trường phải có kế hoạch hướng dẫn học sinh, SV tập luyện thườngxuyên, tổ chức các ngày hội thể thao của trường và xây dựng thành nề nếp
truyền thông “Kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo lứa tuổi và chỉ tiêu phát triển thể lực cho học sinh, SV theo quy định của chương trình GDTC”.
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình GDTC trong các trườnghọc theo quyết định số 203/QT - TDTT, ngày 23/1/1989, quyết định3244/GT-DT ngày 12/01/1995 và số 1262/GT-ĐT ngày 12/04/1997 Sau khihoàn thành chương trình GDTC, các trường cần tổ chức cấp chứng chỉ SVtheo đúng quy định tại chương 2, điều 1, khoản 1 của quy chế GD-ĐT số
Trang 3614/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 3/5/2001 Nội dung khái quát như sau [3]:
Chương trình gồm 150 tiết, với 5 học phần, tương ứng với 5 đơn vị họctrình TDTT Mỗi đơn vị học trình TDTT được học trong một học kỳ, như vậy,chương trình GDTC được tiến hành trong hai năm rưỡi đầu của chương trìnhhọc tập
Chương trình bao gồm hai phần: Phần lý thuyết 14 tiết, phần thực hành
136 tiết Phần lý luận, được học xen kẽ vào trong các học kỳ của giai đoạn 1.Phần thực hành, ngoài kiểm tra kỹ chiến thuật, còn phải kiểm tra lý thuyết củamôn học
Cuối mỗi năm học, ngoài kiểm tra lý thuyết, kỹ chiến thuật môn thểthao đã học, SV phải kiểm tra TĐCBTL theo quy định của Bộ hay tiêu chuẩncủa trường SV tích lũy điểm của 5 học phần, trong đó có điểm “đạt” tiêuchuẩn rèn luyện thân thể (RLTT) mới được cấp chứng chỉ môn học
Ngoại khóa là nội dung học tập bắt buộc của chương trình GDTC cho
SV và được cán bộ giảng dạy TDTT quản lý
1.4 Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng chương trình.
1.4.1.Cấu trúc chương trình.
Chương trình dạy học TDTT là một văn bản dựa vào kế hoạch giảngdạy chung của trường để quy định nội dung dạy học và chỉ đạo dạy họcTDTT Chương trình chỉ rõ phương hướng dạy học, quy định mật độ, phạm vi
và hệ thống nội dung dạy học, cũng như những yêu cầu cơ bản đối với dạyhọc Nó là chỗ dựa để biên soạn giáo trình TDTT và giáo viên tiến hành dạyhọc, là căn cứ để quản lý công tác dạy học Chương trình và giáo trình dạyhọc TDTT trường học các cấp do Bộ Giáo dục và Đào tạo thẩm định và banhành
Kết cấu chương trình dạy học TDTT nói chung bao gồm 3 phần cơ bảnsau đây:
Trang 37Thuyết minh chương trình, gồm các phần sau:
- Mục tiêu và nhiệm vụ dạy học TDTT
- Nguyên tắc xây dựng chương trình
- Phân phối thời gian (số giờ) của các nội dung dạy học
- Yêu cầu cơ bản của công tác dạy học TDTT
Chương trình chi tiết:
Đây chính là phần chính của chương trình, có hình thức diễn đạt ngắngọn, rõ ràng, quy định nội dung chương trình và độ nông sâu của nó Cách thứcdiễn đạt có 3 loại:
- Phân phối nội dung theo năm học
- Phân phối theo hệ thống nội dung: Đây là cách sắp xếp nội dung khôngphân theo năm học, nên có tính linh hoạt nhất định và khá thích ứng với mọi tìnhhuống Cách này thường được áp dụng ở bậc Đại học và Cao đẳng
- Phân phối nội dung áp dụng cả hai cách trên.
Nội dung và tiêu chuẩn thi, kiểm tra kết thúc:
Phần này quy định biện pháp kiểm tra, nội dung kiểm tra và tiêu chuẩnđánh giá giờ học
1.4.2 Nguyên tắc biên soạn.
Trong quá trình biên soạn chương trình giảng dạy cần quán triệt cácnguyên tắc sau:
Kết hợp giữa tăng cường thể chất và phát triển toàn diện:
- Xây dựng quan niệm về giá trị dạy học TDTT hiện đại: Ngoài giá trịsinh học, còn có giá trị tâm lý học, giáo dục học, xã hội học và mỹ học
- Đảm bảo SV vừa phát triển toàn diện cơ thể, vừa xúc tiến phát triểntâm đức
Quán triệt trong các giai đoạn dạy học, đặc biệt là khi xác định nhiệm
vụ dạy học, lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học
Trang 38Kết hợp giữa vai trò của giáo viên và tính tích cực tự giác của SV Thầygiáo làm tốt việc dạy người trước, dạy chữ sau, có đạo đức, học thức, kỹ thuậttoàn diện, gần gũi với SV, có uy tín cao.
SV phải xác định động cơ học tập đúng đắn, động não và tích cực chủđộng học tập hoàn thành đầy đủ mọi yêu cầu và nhiệm vụ
lý, chú ý cả LVĐ bên ngoài và LVĐ bên trong
Sắp xếp LVĐ sinh lý (chủ yếu nói về 3 mặt: cảm xúc, chú ý và ý chí)phải phối hợp với LVĐ sinh lý và tiến trình dạy học
Xuất phát từ đặc điểm LVĐ sinh lý và tâm lý để sắp xếp khoa họcphương thức và thời gian nghỉ ngơi nhằm đạt tới hiệu quả mong muốn
Đánh giá chất lượng lên lớp TDTT cần chú ý phân tích xem LVĐ vànghỉ ngơi sắp xếp có hợp lý hay không
Kết hợp giữa thống nhất yêu cầu và đối xử cá biệt
Tiến hành đi sâu điều tra nghiên cứu tìm hiểu đầy đủ thực trạng, qua đó
để vừa nắm được tình hình chung, vừa nắm được tính đặc thù cá biệt
Khi viết giáo án lên lớp cần xuất phát từ số đông để đưa ra yêu cầuchung, đồng thời trên cơ sở đó có các yêu cầu khác nhau đối với cá biệt SV vềLVĐ
Đảm bảo sự giao lưu thông tin kịp thời giữa thầy và trò bằng các hình
thức khác nhau như giảng giải, thị phạm, tập luyện, hỏi đáp, thi đấu
Tăng mật độ tập luyện và số lần lặp lại động tác để nâng cao trình độ
Trang 39Có kế hoạch giảng dạy thiết thực để hiện thực hóa tính hệ thống trongthực tiễn Từ giáo án đến kế hoạch học kỳ, năm, phải đảm bảo tính hệ thống.
Sắp xếp nội dung dạy học cần đảm bảo tính hệ thống và có suy nghĩ tớimối quan hệ dọc, ngang giữa các nội dung với nhau
Cần đặc biệt chú ý đến nội dung trọng điểm, nhất là trong việc phânphối giờ dạy và thời điểm dạy phù hợp
Lượng vận động cũng cần tăng lên một cách có hệ thống: Đầu khóa họcthì LVĐ nhỏ, sau đó thì tăng lên, đến cuối khóa học và ở giai đoạn ôn tậpLVĐ nên giảm xuống
Trong một buổi học cũng vậy: Để nâng cao khả năng thích ứng đối vớiLVĐ, ở mỗi buổi tập luyện can luân phiên hợp lý giữa vận động và nghỉ ngơi,ởmỗi học kỳ LVĐ cũng cần thay đổi theo hình sóng, luân phiên LVĐ hợp lý
Kết hợp giữa trực quan, tư duy và thực tiễn:
- Tăng cường sử dụng các loại hình thức trực quan đa dạng, khác nhau,thường xuyên chú ý tới mục đích trực quan và thời cơ sử dụng trực quan
- Động viên SV tư duy tích cực, khắc phục lặp lại và mô phỏng máymóc động tác đơn thuần, bồi dưỡng tư duy vận động nâng cao năng lực pháthiện và giải quyết vấn đề
- Tăng cường sử dụng phương pháp dạy học tích cực bằng cách thông
Trang 40qua các phương pháp, cách thức dẫn dắt SV sử dụng tích cực và kết hợpchặt chẽ với thực tiễn.
- Xử lý chính xác mối quan hệ giữa 3 mặt của quá trình nhận thức:
“Trực quan là tiền đề, tư duy là hạt nhân, thực tiễn là mấu chốt” [21]
1.5 Đặc điểm chung về môn Bóng chuyền [8]
Bóng chuyền là môn thể thao tập thể mang tính chất đối kháng khôngtrực tiếp, thi đấu giữa hai đội chơi trên sân có lưới phân cách ở giữa.Trận đấuđược tổ chức thi đấu trên sân có kích thước 18m x 9m giữa hai đội
Quá trình thi đấu hình thành hai đội hai bên sân gồm 6 người có lưới vàvạch ngăn giữa sân.Số lần chạm bóng của mỗi đội không quá 3 lần, thời gianthi đấu không hạn chế Đội thắng 3 ván trước là đội thắng trận, số điểm thắngtối thiểu ở 4 ván đầu là 25, ván 5 là 15
Từ năm 1999, FIVB chính thức áp dụng luật thi đấu Bóng chuyền mới,với nhiều thay đổi, đã mang lại cho môn Bóng chuyền có nhiều thay đổi tronghình thức và hoạt động thi đấu
Hoạt động thi đấu trong môn Bóng chuyền là hoạt động không có chu
kỳ, các tình huống diễn ra trên sân thay đổi liên tục giữa hai mặt tấn công vàphòng thủ Các kỹ thuật tùy theo tình huống thi đấu cụ thể trên sân mang tínhchất đối lập nhau và hình thành một hệ thống liên hoàn giữa tấn công vàphòng thủ
Ví dụ: Phát bóng – đỡ chuyền một, đập – chắn, đập – phòng thủ hàng sau…Một đặc trưng rất quan trọng của Bóng chuyền là vị trí các VĐV trongquá trình thi đấu luôn có sự theo thứ tự xoay vòng đến các khu vực quy địnhtheo chiều kim đồng hồ Các VĐV hàng sau không được tấn công hay chắnbóng trên vạch 3m, nghĩa là các VĐV phải thi đấu cả hàng trước cũng nhưhàng sau trong tấn công cũng như phòng thủ Do vậy yêu cầu năng lực toàndiện vầ tấn công và phòng thủ của các VĐV ảnh hưởng đến hiệu quả thành