1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu động cơ và trở ngại khi tham gia thể thao chuyên nghiệp của vận động viên một số đội tuyển tập huấn tại trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia TP Hồ Chí Minh

170 471 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 460,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thể thao thành tích cao là một bộ phận cấu thành của thể thao Việt Nam cũng đã có những bước phát triển vượt trội, góp phần nâng cao vị thế và đưa nền thể thao nước nhà nhanh chóng hội nhập với nền thể thao trong khu vực, châu lục và thế giới. Tuy nhiên, những thành tích đạt được còn khiêm tốn. Vì vậy, ngành Thể dục thể thao (TDTT) nước ta đã xác định: “Phát triển thể thao thành tích cao” là một trong ba nhiệm vụ xuyên suốt của ngành mà trước tiên phải hoàn chỉnh hệ thống đào tạo tài năng thể thao Quốc gia.Chiến lược phát triển thể thao thành tích cao và những chương trình, kế hoạch hành động cụ thể được xây dựng trên cơ sở khoa học, sát thực với những điều kiện cũng như những nhu cầu mới của công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước, nhờ đó vị thế của thể thao Việt Nam đã được cải thiện đáng kể. Nhiều môn thể thao thành tích cao của Việt Nam đã dần chiếm lĩnh và tiếp cận đỉnh cao tại các giải vô địch khu vực, châu lục và thế giới. Thể thao chuyên nghiệp nằm trong hệ thống thể thao thành tích cao và thể thao giải trí.Khác với hoạt động thể dục thể thao quần chúng và thể thao giải trí, thể thao chuyên nghiệp có những đặc thù riêng, trong đó đối tượng tham gia là những vận động viên được tuyển chọn và huấn luyện khoa học theo các tiêu chuẩn khắt khe về năng lực thể chất, trình độ kỹ thuật và kỹ năng. Phát triển thể thao chuyên nghiệp là nhiệm vụ quan trọng trong phát triển TDTT nói chung. Thành tích của Thể thao Việt Nam tại các Đại hội thể thao khu vực từng bước khẳng định vị trí 1 trong 3 quốc gia có nền thể thao mạnh ở Đông Nam Á và đứng trong tốp các quốc gia có nền thể thao phát triển mạnh ở châu Á. Ngoài những môn thế mạnh, nhiều lần giành thứ hạng cao tại các giải vô địch thế giới như Wushu, Pencak Silat, Taekwondo, Cầu mây nữ, Cờ Vua,... các môn đạt vị trí cao tại khu vực và châu lục như: Karatedo, Cờ Tướng, Thể dục Thể hình, Xe đạp thì nay đã xuất hiện thêm một số môn như: Cử tạ, Vật, Điền Kinh, TDDC, BilliardsSnooker cũng đang từng bước khẳng định vị trí trên đấu trường thể thao tầm cỡ thế giới. Những thành tích đó của Thể thao Việt Nam đã được minh chứng cụ thể bằng số lượng huy chương mà các vận động viên (VĐV) Việt Nam đã giành được tại các đấu trường thể thao lớn như: Olympic, Asiad, SEA Games 37.Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia TP.HCM là nơi tập huấn, đào tạo các VĐV chuẩn bị tham gia các giải thể thao trong nước và quốc tế. Trung tâm đã từng bước khẳng định vai trò, vị thế của mình, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao thành tích các đội tuyển quốc gia tại các đấu trường khu vực và quốc tế như: SEA Games, Asian Games, Olympic. Hiện nay có một số đội tuyển tham gia tập huấn dài hạn trong đó có kể đến như môn: Xe đạp, Judo, Karatedo, Bơi lội, Cờ vua, Bóng ném nữ, Bóng rổ, Điền kinh, Thể dục dụng cụ.... mỗi đội trên dưới 20 VĐV, trong đó có một số VĐV được gọi lên đội tuyển tập huấn nhưng không tập trung được. Việc nắm bắt được động cơ của VĐV khi tham gia vào con đường thể thao chuyên nghiệp; hay hiểu được trở ngại của VĐV khi tham gia vào con đường thể thao chuyên nghiệp và thi đấu tại các đấu trường trong nước và quốc tế…. Đến nay chưa có nghiên cứu nào về những động cơ và trở ngại của các VĐV khi tham gia vào con đường thể thao chuyên nghiệp. Đây là một yếu tố quan trọng để các nhà quản lý nắm bắt được thực trạng hiện tại và qua đó có những giải pháp thu hút nhân tài thể thao từ các địa phương. Nhận thấy điều đó là hết sức cần thiết nên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu động cơ và trở ngại khi tham gia thể thao chuyên nghiệp của vận động viên một số đội tuyển tập huấn tại Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia TP. Hồ Chí Minh”.

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CÚU 3

1.1 Động cơ 3

1.1.2Động cơ nghề nghiệp 10

1.1.3Động cơ tham gia thể thao .12

1.2 Trở ngại 18

1.2.1 Khái quát chung về trở ngại: 18

1.2.2 Trở ngại trong hoạt động thể thao: 21

1.3 Vận động viên 23

1.3.1 Định nghĩa vận động viên 23

1.3.2 Đặc điểm vận động viên 23

1.3.3 Phân loại vận động viên 24

1.4 Thể thao chuyên nghiệp 24

1.4.1 Một số khái niệm cơ bản về chuyên nghiệp và thể thao chuyên nghiệp.24 1.4.2 Khái quát thể thao chuyên nghiệp trên thế giới và Việt Nam 27

1.5 Khái quát về Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia TP.HCM 36

1.5.1 Vị trí và chức năng 36

1.5.2 Nhiệm vụ và quyền hạn 36

1.5.3 Cơ cấu tổ chức 38

1.5.4 Công tác huấn luyện, đào tạo VĐV 38

1.6 Các công trình nghiên cứu có liên quan 39

CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 42

2.1 Phương pháp nghiên cứu 42

2.1.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu 42

Trang 2

2.1.4 Phương pháp phân tích SWOT 47

2.2 Tổ chức nghiên cứu 47

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 47

2.2.2 Khách thể nghiên cứu 47

2.2.3 Kế hoạch nghiên cứu 48

2.2.4 Địa điểm nghiên cứu 48

2.2.5 Đơn vị - cá nhân phối hợp thực hiện 48

2.3 Phạm vi nghiên cứu 48

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 49

3.1 Kết quả xây dựng các tiêu chí đánh giá động cơ và trở ngại khi tham gia thể thao chuyên nghiệp của một số đội tuyển tập huấn tại Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia TP.HCM 49

3.1.1 Kết quả kiểm định độ tin cậy của các tiêu chí đánh giá động cơ và trở ngại khi tham gia thể thao chuyên nghiệp 49

3.1.2 Kết quả phân tích nhân tố khám phá 56

3.1.3 Bàn luận kết quả xây dựng các tiêu chí đánh giá động cơ và trở ngại khi tham gia thể thao chuyên nghiệp của một số đội tuyển tập huấn tại Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia Tp Hồ Chí Minh 59

3.2 So sánh kết quả đánh giá sự khác biệt về động cơ tham gia và các yếu tố trở ngại của một số đội tuyển khi tham gia thể thao chuyên nghiệp tại Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia Tp Hồ Chí Minh 60

3.2.1 Thống kê mô tả (Descriptives) về nhân khẩu học 60

3.2.2 Kết quả so sánh sự khác biệt giữa nhân khẩu học và các yếu tố về động cơ 62

Trang 3

3.2.4 Bàn luận kết quả đánh giá sự khác biệt về động cơ tham gia và các yếu tố trở ngại của một số đội tuyển khi tham gia thể thao chuyên nghiệp tại Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia Tp Hồ Chí Minh 76 3.3 Đề xuất các giải pháp để tăng tính hiệu quả cho công tác quản lý một số đội tuyển khi tham gia thể thao chuyên nghiệp tại Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia Tp Hồ Chí Minh 83

3.3.1 Phân tích SWOT kết quả về các yếu tố trở ngại của một số đội tuyển khi tham gia thể thao chuyên nghiệp tại Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia Tp Hồ Chí Minh 83 3.3.2 Đề xuất giải pháp để tăng tính hiệu quả cho công tác quản lý một

số đội tuyển khi tham gia thể thao chuyên nghiệp tại Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia Tp Hồ Chí Minh 86 3.3.3 Kết quả đánh giá của chuyên gia về các nhóm giải pháp được đề xuất 89 3.3.4 Bàn luận về các nhóm giải pháp tăng tính hiệu quả cho công tác quản lý một số đội tuyển khi tham gia thể thao chuyên nghiệp tại Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia Tp Hồ Chí Minh 94

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

CHỮ VIẾT TẮT NỘI DUNG CHỮ VIẾT TẮT

CLB Câu lạc bộ CSVC Cơ sở vật chất

ĐH Đại học HCB Huy chương bạc HCĐ Huy chương đồng HCV Huy chương vàng HLTTQG Huấn luyện thể thao quốc gia HLV Huấn luyện viên

NXB Nhà xuất bản TDDC Thể dục dụng cụ

TDTT Thể dục thể thao THCN Trung học chuyên nghiệp TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh

TT Thể thao TVH Thế vận hội VĐV Vận động viên

Trang 5

Bảng 3.1 Các tiêu chí (dự kiến) đánh giá động cơ khi tham gia thể thao chuyên nghiệp của VĐV 49

Bảng 3.2 Các tiêu chí (dự kiến) đánh giá trở ngại khi tham gia thể thao chuyên nghiệp của VĐV

Bảng 3.3 Phân tích độ tin cậy nội tại về động cơ 51

Bảng 3.4 Phân tích tổng quan các biến về động cơ 51

Bảng 3.5 Phân tích độ tin cậy nội tại về trở ngại 52

Bảng 3.6 Phân tích tổng quan các biến về trở ngại 52

Bảng 3.7 Mã hóa lại các biến về động cơ

Bảng 3.8 Mã hóa lại các biến về trở ngại

Bảng 3.9 Phân tích độ tin cậy nội tại về động cơ 55

Trang 6

3.23

So sánh khác biệt giữa tiền lương/tiền công hàng

Trang 7

BIỂU ĐỒ NỘI DUNG TRAN G

Biểu đồ 3.1 Kết quả đánh giá của chuyên gia về các nhóm giải pháp 90

Biểu đồ 3.2 Kết quả đánh giá của chuyên gia trong nhóm “Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ”

Biểu đồ 3.3 Kết quả đánh giá của chuyên gia trong nhóm “Giải pháp phát triển nguồn nhân lực” 92

Biểu đồ 3.4 Kết quả đánh giá của chuyên gia trong nhóm “Giải pháp nâng cao cơ sở vật chất” 92

Biểu đồ 3.5 Kết quả đánh giá của chuyên gia trong nhóm “Giải pháp phát triển nguồn tài chính” 93

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thể thao thành tích cao là một bộ phận cấu thành của thể thao Việt Nam cũng

đã có những bước phát triển vượt trội, góp phần nâng cao vị thế và đưa nền thể thaonước nhà nhanh chóng hội nhập với nền thể thao trong khu vực, châu lục và thế giới.Tuy nhiên, những thành tích đạt được còn khiêm tốn Vì vậy, ngành Thể dục thể thao(TDTT) nước ta đã xác định: “Phát triển thể thao thành tích cao” là một trong banhiệm vụ xuyên suốt của ngành mà trước tiên phải hoàn chỉnh hệ thống đào tạo tàinăng thể thao Quốc gia

Chiến lược phát triển thể thao thành tích cao và những chương trình, kế hoạchhành động cụ thể được xây dựng trên cơ sở khoa học, sát thực với những điều kiệncũng như những nhu cầu mới của công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước, nhờ đó vịthế của thể thao Việt Nam đã được cải thiện đáng kể Nhiều môn thể thao thành tíchcao của Việt Nam đã dần chiếm lĩnh và tiếp cận đỉnh cao tại các giải vô địch khu vực,châu lục và thế giới Thể thao chuyên nghiệp nằm trong hệ thống thể thao thành tíchcao và thể thao giải trí

Khác với hoạt động thể dục thể thao quần chúng và thể thao giải trí, thể thaochuyên nghiệp có những đặc thù riêng, trong đó đối tượng tham gia là những vậnđộng viên được tuyển chọn và huấn luyện khoa học theo các tiêu chuẩn khắt khe vềnăng lực thể chất, trình độ kỹ thuật và kỹ năng Phát triển thể thao chuyên nghiệp lànhiệm vụ quan trọng trong phát triển TDTT nói chung

Thành tích của Thể thao Việt Nam tại các Đại hội thể thao khu vực từng bướckhẳng định vị trí 1 trong 3 quốc gia có nền thể thao mạnh ở Đông Nam Á và đứngtrong tốp các quốc gia có nền thể thao phát triển mạnh ở châu Á Ngoài những mônthế mạnh, nhiều lần giành thứ hạng cao tại các giải vô địch thế giới như Wushu,Pencak Silat, Taekwondo, Cầu mây nữ, Cờ Vua, các môn đạt vị trí cao tại khu vực

và châu lục như: Karatedo, Cờ Tướng, Thể dục Thể hình, Xe đạp thì nay đã xuất hiệnthêm một số môn như: Cử tạ, Vật, Điền Kinh, TDDC, Billiards-Snooker cũng đangtừng bước khẳng định vị trí trên đấu trường thể thao tầm cỡ thế giới Những thànhtích đó của Thể thao Việt Nam đã được minh chứng cụ thể bằng số lượng huy chương

mà các vận động viên (VĐV) Việt Nam đã giành được tại các đấu trường thể thao lớnnhư: Olympic, Asiad, SEA Games [37]

Trang 9

Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia TP.HCM là nơi tập huấn, đào tạo cácVĐV chuẩn bị tham gia các giải thể thao trong nước và quốc tế Trung tâm đã từngbước khẳng định vai trò, vị thế của mình, góp phần không nhỏ vào việc nâng caothành tích các đội tuyển quốc gia tại các đấu trường khu vực và quốc tế như: SEAGames, Asian Games, Olympic Hiện nay có một số đội tuyển tham gia tập huấn dàihạn trong đó có kể đến như môn: Xe đạp, Judo, Karatedo, Bơi lội, Cờ vua, Bóng ném

nữ, Bóng rổ, Điền kinh, Thể dục dụng cụ mỗi đội trên dưới 20 VĐV, trong đó cómột số VĐV được gọi lên đội tuyển tập huấn nhưng không tập trung được

Việc nắm bắt được động cơ của VĐV khi tham gia vào con đường thể thaochuyên nghiệp; hay hiểu được trở ngại của VĐV khi tham gia vào con đường thể thaochuyên nghiệp và thi đấu tại các đấu trường trong nước và quốc tế… Đến nay chưa

có nghiên cứu nào về những động cơ và trở ngại của các VĐV khi tham gia vào conđường thể thao chuyên nghiệp Đây là một yếu tố quan trọng để các nhà quản lý nắmbắt được thực trạng hiện tại và qua đó có những giải pháp thu hút nhân tài thể thao từcác địa phương Nhận thấy điều đó là hết sức cần thiết nên tôi tiến hành nghiên cứu

đề tài “Nghiên cứu động cơ và trở ngại khi tham gia thể thao chuyên nghiệp của

vận động viên một số đội tuyển tập huấn tại Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia TP Hồ Chí Minh”

Mục đích nghiên cứu của đề tài là các động cơ và các yếu tố trở ngại khi thamgia thể thao chuyên nghiệp của vận động viên một số đội tuyển, từ đó đưa ra các giảipháp nhằm khắc phục những trở ngại của VĐV khi tham gia tập huấn tại Trung tâmhuấn luyện thể thao quốc gia TP.HCM

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài giải quyết ba nhiệm vụ sau:

Nhiệm vụ 1: Xây dựng các tiêu chí đánh giá động cơ và trở ngại khi tham gia

thể thao chuyên nghiệp của VĐV một số đội tuyển tập huấn tại Trung tâm huấn luyệnthể thao quốc gia Tp Hồ Chí Minh

Nhiệm vụ 2: So sánh kết quả đánh giá sự khác biệt về động cơ tham gia và các

yếu tố trở ngại của VĐV một số đội tuyển khi tham gia thể thao chuyên nghiệp tạiTrung tâm huấn luyện thể thao quốc gia Tp Hồ Chí Minh

Nhiệm vụ 3: Đề xuất các giải pháp để tăng tính hiệu quả cho công tác quản lý

VĐV một số đội tuyển khi tham gia thể thao chuyên nghiệp tại Trung tâm huấn luyệnthể thao quốc gia Tp Hồ Chí Minh

Trang 10

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CÚU 1.1 Động cơ

1.1.1 Các khái niệm và quan điểm về động cơ

Thuật ngữ “động cơ” có nguồn gốc từ chữ di chuyển (move), động cơ là tập hợpcác thái độ và các giá trị sẽ dẫn đến hành động cụ thể và định hướng mục tiêu củamột người (Purchgott and Furchgott, 1999; trích Peiyulin, 2007)

Động cơ – Motif (Latin), Motivation (Anh) có nghĩa là nguyên nhân thúc đẩycon người hành động Nguyên nhân này nằm bên trong chủ thể, có thể xuất phát từnhu cầu sinh lý hoặc tâm lý [13]

X.L.Rubinstein (1960), động cơ là ý chí xuất phát từ ham muốn, nhu cầu, xúccảm, tính cách, tư tưởng, nhận thức trước những nhiệm vụ mà đời sống đã đặt ra [12]

“Động cơ thúc đẩy là chuyển biến (thay đổi) quan trọng nơi thái độ cử chỉ.Động cơ thúc đẩy đưa cá nhân tới đáp ứng” Động cơ diễn ra theo các giai đoạn: giaiđoạn dẫn đưa cá nhân hoạt động để thỏa mãn nhu cầu, giai đoạn biểu thị thái độ cóđáp trả và giai đoạn giảm nhu cầu, sự đáp trả làm thỏa mãn nhu cầu[12]

Ronald E.Smith (1997), định nghĩa động cơ như là một quá trình bên trong cóảnh hưởng đến hướng, tính bền vững và sức mạnh của hành vi có mục đích Động cơ

là những ý nghĩ và tình cảm của con người có liên quan đến nhận thức về nhu cầu vàkích thích con người hành động để làm thỏa mãn nhu cầu đó

Nhà tâm lý học người Nga A.N.Leonchiep khi bàn về động cơ cho rằng: Thứnhất động cơ và nhu cầu là hai hiện tượng tâm lý gắn bó chặt chẽ với nhau Thứ haiđộng cơ chính là đối tượng có khả năng đáp ứng nhu cầu đã được thể hiện trên trigiác, biểu tượng, tư duy hay nói khác đi, đó chính là sự phản ánh chủ quan về đốitượng thỏa mãn nhu cầu Thứ ba là động cơ có chức năng định hướng thúc đẩy vàđịnh hướng hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu

Có rất nhiều ý kiến khác nhau về động cơ của con người, song mọi quan điểmđều cho rằng: Động cơ là một hiện tượng tâm lý thúc đẩy, quy định sự lựa chọn và

Trang 11

hướng của hành vi Việc nghiên cứu về động cơ thực chất là quá trình lý giải nguyênnhân dẫn đến hành vi đó.

Động cơ là một mô hình lý thuyết được sử dụng để giải thích hành vi của conngười Động cơ là đại diện cho những lý do để thực hiện một hành động, ham muốn

và đáp ứng nhu cầu của con người Động cơ cũng có thể được định nghĩa là hướngcủa một người với hành vi hoặc những gì gây ra một người để muốn lặp lại một hànhđộng [16]

Jex và Britt (2008) chia lý thuyết động cơ làm việc ra làm 4 nhóm: Lý thuyếtnhu cầu, thuyết nhận thức (cognitive theory), thuyết hành vi và thuyết cơ sở côngviệc Để tìm kiếm và xây dựng một thang đo đáng tin cậy cho việc đo lường động cơlàm việc nghiên cứu này sử dụng lý thuyết “Tự xác định” (Self-DeterminationTheory) được hoàn thiện bởi Blais và ctv (1993; trích Tremblay và ctv., 2009) TheoTremblay và ctv (2009), lý thuyết tự xác định tập trung vào bản chất của động cơ, lýthuyết này dựa trên giả định rằng một cách tự nhiên, con người có khuynh hướng hợpnhất các cảm xúc thành một khối cũng như hòa mình vào một tổ chức xã hội lớn hơn(Ryan & Deci, 2000) [24]

Thuyết tự xác định chia động cơ làm việc ra làm hai nhóm: động cơ bên trong(trực tiếp) và động cơ bên ngoài (gián tiếp):

- Động cơ bên trong xuất hiện khi con người làm một việc gì đó bởi vì họ vốnthích thú và hài lòng khi thực hiện nó, còn động cơ bên ngoài xuất hiện khi làm mộtviệc gì đó bởi một lý do từ bên ngoài (Deci & Ryan, 2000)

- Động cơ bên ngoài được chia thành nhiều loại khác nhau và các loại động cơnày có thể được sắp theo một chuỗi mức độ để thể hiện sự tiếp nhận các mục tiêu(Ryan & Connel, 1989; Tremblay và ctv, 2009) Nói một cách đơn giản, động cơ bênngoài có thể chia thành 5 nhóm với mức độ động cơ tăng dần (Ryan & Deci, 2002;Tremblay và ctv, 2009) Đầu tiên là sự thụ động (Amotivation - AMO), là các cánhân thiếu ý định để hành động hoặc hành động một cách thụ động Tiếp theo là sựđiều chỉnh từ bên ngoài (External Regulation - ER), tức là làm một việc chỉ để cóphần thưởng Kế đến là sự điều chỉnh do ý thức (Introjected Regulation - INTRO), là

sự điều chỉnh hành vi thông qua sự tự đánh giá (ví dụ như tự tôn, tự biết lỗi) Tiếp

Trang 12

nữa là sự điều chỉnh theo mục tiêu (Identified Regulation - IDEN), có nghĩa là mộtngười làm một việc gì đó bởi vì người đó xác định được ý nghĩa hay giá trị của nó vàxem nó như là của bản thân mình Cuối cùng là sự điều chỉnh để hòa nhập(Intergrated Regulation - INTEG), là sự xác định rằng giá trị của một hoạt động trởthành một phần cảm giác cá nhân của người đó [2]

K Lewin là một nhà tâm lý học nghiên cứu sâu về vấn đề động cơ Theo ông thìtâm lý học phải nghiên cứu quy luật hình thành và thể hiện của động cơ, vì hành vi củacon người được hình thành bởi các nhu cầu từ bên trong của họ Khi nghiên cứu về lĩnhvực này, Lewin cho rằng tâm lý học cần phải khắc phục quan điểm xem xét động cơnhư một lực bên trong khép kín, tác động không phụ thuộc vào môi trường, phải đi từcách nhìn nhận các khách thể như những vật thể đến cách nhìn nhận chúng trong cácmối quan hệ Cần phải xem xét hành vi của con người như là kết quả tác động trực tiếplẫn nhau giữa cá nhân và môi trường xung quanh cá nhân đó

Lý thuyết về động cơ của Lewin liên quan đến một số khái niệm về nhu cầu.Theo ông thì nhu cầu là lực thúc đẩy hành động Nhu cầu được ông hiểu là trạng tháiđộng xuất hiện ở con người khi người đó thực hiện một dự định hay một hành độngnào đó Nhu cầu của con người được ông gọi là nhu cầu xã hội Lewin gọi nhu cầucủa con người là nhu cầu xã hội không phải có ý nói đến tính quy định xã hội củachúng mà muốn nhấn mạnh rằng, nhu cầu xét về bản chất không phải mang tính bẩmsinh, cũng không phải là một hiện tượng tâm lý có tính sinh vật Mà nhu cầu có tínhđộng, xuất hiện ở những thời điểm cụ thể [34]

Luận điểm của trường phái Tâm lý học này cho rằng hiện tượng tâm lý xuấthiện tại đây, vào thời điểm này đã được ông sử dụng để giải thích tính qui định củahành vi con người Ông phân biệt nhu cầu xuất hiện trong một thời điểm cụ thể vớicác nhu cầu bền vững khác của con người như nhu cầu nghề nghiệp, nhu cầu tựkhẳng định Đồng thời Lewin đặc biệt coi trọng nhu cầu xã hội, vì theo ông chínhnhững nhu cầu ấy thúc đẩy hoạt động thường ngày của con người Nhu cầu xã hội có

xu hướng thỏa mãn, có nghĩa là giải toả sự căng thẳng Nhu cầu xã hội khi có bất kìmột hệ thống trương lực nào đó xuất hiện trong một hoàn cảnh cụ thể, đảm bảo cho

sự hoạt động của con người hướng tới giải tỏa trương lực

Trang 13

Frankl là một nhà sinh lí học người Áo, ông lý giải về các động cơ cơ bản củacon người Theo quan điểm của ông thì lực thúc đẩy cơ bản của con người chính làcuộc đấu tranh vì ý nghĩa cuộc sống Việc tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời là dấu hiệu tồntại đích thực, vì vậy con người nhất thiết phải thấy được ý nghĩa tồn tại của mình Sựthiếu hụt hay mất đi ý nghĩa cuộc đời sẽ làm cho con người cảm thấy trống rỗng vềtinh thần, cuộc sống trở nên nặng nề [34]

Ông cho rằng ý nghĩa cuộc sống mang bản sắc cá nhân và con người không thểtìm thấy ý nghĩa cuộc sống bên trong bản thân mình (trong tâm hồn hay trong cơ thể),

mà chỉ có thể tìm thấy trong môi trường xung quanh Do đó tồn tại người không phải là

sự tự thể hiện mà là sự tự chuyển vào cái khác Điều này được hiểu như sau: Thứ nhất

là con người có thể đạt được ý nghĩa cuộc sống bằng cách thực hiện hành động Hai là,con người tìm thấy ý nghĩa cuộc sống qua việc chăm sóc cho người khác, trong tìnhyêu với mọi người Ba là, con người có được ý nghĩa cuộc sống khi xây dựng quanđiểm rõ ràng đối với những hoàn cảnh sống khác nhau

A Bandura là một nhà tâm lý học Mỹ chịu nhiều ảnh hưởng của tâm lí học hành

vi, nên ông chú trọng nhiều đến yếu tố môi trường qui định hành vi Tuy nhiên, trongquan điểm của mình về động cơ, ông nhấn mạnh đến tầm quan trọng của các quátrình nhận thức nằm giữa kích thích và hành vi trả lời Theo ông thì hành vi của conngười được hiểu như là kết quả của sự tác động qua lại giữa cái mà con người nghĩ vàđiều kiện mà con người đang sống [34]

Giống như nhiều nhà lí thuyết học tập khác, Bandura cho rằng hậu quả mà hành

vi gây ra có tác động mạnh lên hành vi Ngoài ra ông còn cho rằng phần thưởng hayhình phạt có thể có từ bên ngoài, cũng có thể có từ bên trong Ông nhấn mạnh đếntầm quan trọng của phần thưởng hay hình phạt từ bên trong của cái tôi, ở đây ôngmuốn nói đến sự tự điều chỉnh hành vi bởi cái tôi thông qua các quá trình bên trongnhư những gì khác với bên ngoài Ông cho rằng, nếu chúng ta nhấn mạnh đến các quátrình nhận thức- quá trình điều chỉnh bên trong - thì mới có thể lí giải được sự pháttriển đạo đức của chúng ta Ông đưa ra mô hình về mối quan hệ hành vi- môi trườngnhư sau:

Trang 14

Sơ đồ 1.1: Mô hình về mối

quan hệ tác động qua lại giữa hành vi,

Con người và môi trường

Trong số những nhân tố điều chỉnh hành vi của con người thì ông nhấn mạnhđến tầm quan trọng của sự cảm nhận của con người về hiệu lực cái tôi của cá nhân,niềm tin của người đó về năng lực của bản thân trong việc thực hiện hành vi Ông chorằng, những người có hiệu lực cái tôi cao có niềm tin vào năng lực thực hiện nhữnghành vi cần thiết để thỏa mãn nhu cầu

Còn J Piagiex thì cho rằng tính định hướng tích cực, có chọn lọc của hành vitạo thành bản chất của hiện tượng được xác định là động cơ

Có thể nói rằng trong toàn bộ hệ thống lý thuyết của Freud thì có hai ý tưởngsau đây là cơ sở kích thích cơ bản nhất, từ đó mà ông giải thích cơ chế vận hành củađộng cơ con người

Đầu tiên, ông cho rằng ý thức là một phần tương đối nhỏ và có tính chất tạm thờitrong toàn bộ đời sống con người Nếu như chúng ta xem xét phần vô thức và ý thứccủa con người như là hai phần của tảng băng trôi, thì tất cả những gì chúng ta biếtđược, nhớ được là phần nổi trên mặt nước Chính phần chìm này quyết định trọng tâmcủa toàn bộ tảng băng và phần lớn những vận động, phương hướng của tảng băng đó.Hay nói khác đi phần vô thức mới là phần quyết định ý thức của con người

Thứ hai, trong lý thuyết của Freud, quan hệ giữa cá nhân và xã hội dường nhưluôn luôn đối kháng Trong quá trình sống con người luôn luôn muốn những nhu cầu

có tính bản năng của mình nhưng không thể cưỡng lại những đòi hỏi của xã hội,những yêu cầu của người khác … Cho nên hầu hết các cá nhân phải từ bỏ phần lớncác xung lực bản năng hướng tới thỏa mãn những nhu cầu của mình

Từ hai quan điểm trên cộng với một số kinh nghiệm trong quá trình làm trị liệu

Trang 15

mà Freud rút ra cơ chế vận hành động cơ như sau:

Theo ông cái ấy là một bình chứa năng lượng chung mà từ đó tất cả các cấp tâmtrí có thể rút ra Năng lượng có được đầu tư vào một biểu tượng, một đối tượng cũng cóthể được chuyển vào những cái khác có liên quan đến những cái ban đầu bằng mộtchuỗi liên tưởng.Những quá trình chuyển đi, chuyển lại như vậy thường xuyên diễn ratrong các hoạt động của vô thức Chính sự phân phối liên tục của hệ thống tâm trí làyếu tố có vai trò quan trọng để lý giải những ứng xử bình thường cũng như những rốiloạn ứng xử của con người Đồng thời Freud cho rằng giữa các cá nhân luôn có xungđột giữa các xung năng Chẳng hạn như xung đột giữa các xung năng tính dục và xungnăng tự bảo tồn Những xung năng ấy được hoạt động theo các cơ chế tự vệ của cái tôi.Thường có các cơ chế tự vệ là: dồn nén, phóng chiếu, thay thế và thăng hoa

Tất cả những quá trình trên đều diễn ra một cách vô thức, song hoàn toàn khôngmang tính ngẫu nhiên, mà trên thực tế nó là cơ chế tự vệ của con người Các cơ chếnày luôn cùng tồn tại, đan xen vào nhau và hỗ trợ cho nhau làm cho con người dễ tạo

sự cân bằng nội tâm và thích nghi với hoàn cảnh sống

Với cách lý giải theo quan điểm của Freud, toàn bộ hệ thống động cơ của conngười, của xã hội được nhìn nhận như là cách thức thỏa mãn, là sự thể hiện dưới hìnhthức kí hiệu những mong muốn bên trong của con người Thuyết động cơ củaAbraham Maslow đã tìm cách giải thích tại sao những thời điểm khác nhau, người talại bị thôi thúc bởi những nhu cầu khác nhau Tại sao có người đã dành ra nhiều thờigian và sức lực để đảm bảo an toàn cá nhân và có người lại cố gắng giành được sựkính trọng của người xung quanh? Ông cho rằng nhu cầu của con người được sắp xếptrật tự theo thứ bậc, từ cấp thiết nhất đến ít cấp thiết nhất Theo thứ tự tầm quan trọngcác nhu cầu đó được sắp xếp như sau: Những nhu cầu sinh lý (1), những nhu cầu antoàn (2), những nhu cầu xã hội (3), những nhu cầu được tôn trọng (4) và những nhucầu tự khẳng định mình (5) Con người sẽ cố gắng thỏa mãn trước hết là những nhucầu quan trọng nhất Khi người ta đã thỏa mãn được một nhu cầu quan trọng nào đóthì nó sẽ không còn là động cơ hiện thời nữa và người ta lại cố gắng thỏa mãn nhucầu quan trọng nhất tiếp theo [34]

Khác với quan điểm trên, Maurie Reuchlin cho rằng khi nghiên cứu động cơ

Trang 16

chính là sự phân tích các yếu tố gây ra hành động, hướng nó vào mục đích nào đó,cho phép nó kéo dài nếu chưa đạt được mục đích hoặc ngưng lại nếu chưa đạt đượcmục đích… và phân tích các cơ chế cắt nghĩa tác dụng của các yếu tố đó.

Những giải thích đầu tiên về động cơ con người theo quan điểm duy vật cơ họcmáy móc ban đầu là gắn động cơ với những nhu cầu sinh lý như đói, khát …

Và chính cách nhìn nhận động cơ của con người như những bản năng dẫn đếnchỗ đối lập cá nhân với xã hội và xem môi trường xã hội chỉ như là điều kiện để cácbản năng vốn có của con người dần dần được bộc lộ trong quá trình phát triển màthôi Bên cạnh đó, các nhà tâm lý học hành vi cổ điển bằng con đường duy vật giảithích hành vi của con người một cách máy móc, theo mô hình phản xạ có điều kiện.Quan điểm này thường phủ nhận hoặc không đánh giá đúng mức tính tích cực củacon người

Theo dòng lịch sử phát triển của khoa học, ngày càng có nhiều nhà khoa họcnhận thấy nhược điểm của những quan điểm trên Chúng ta có thể nêu ra một số điểmđáng lưu ý về động cơ thông qua những kết quả nghiên cứu dựa trên quan điểm duyvật biện chứng và duy vật lịch sử như sau:

Đầu tiên động cơ là sự phản ánh tâm lý về đối tượng có khả năng thỏa mãn nhucầu của chủ thể Bởi như chúng ta đã biết nhu cầu bao giờ cũng mang tính đối tượng– nhu cầu về một cái gì đó Tuy nhiên, khi ở chủ thể xuất hiện trạng thái cần cái gì đóthì đối tượng thỏa mãn nhu cầu chưa được xác định rõ Chỉ khi nhu cầu gặp được đốitượng có khả năng thỏa mãn thì nhu cầu mới mang tính đối tượng Đối tượng thỏamãn nhu cầu được con người tri giác, tư duy thúc đẩy và định hướng hành động củachủ thể sẽ trở thành động cơ Như vậy động cơ là tất cả những gì xuất hiện ở cấp độphản ánh tâm lý thôi thúc con người hành động nhằm thỏa mãn nhu cầu

Động cơ phản ánh những mong muốn, những nhu cầu của con người và là lý docủa hoạt động Nhu cầu của con người rất đa dạng, trong đó có những nhu cầu nổi bậttrong một thời điểm nào đó Động cơ chính là nhu cầu mạnh nhất của con người trongmột thời điểm nhất định và nhu cầu này quyết định hoạt động của con người [17]

Tóm lại, động cơ là yếu tố làm cho một người thực hiện một hành động nào

đó, hoặc ít nhất là phát triển một khuynh hướng cho hành vi cụ thể Động cơ là

Trang 17

nguyên nhân trực tiếp của hành vi, là một hiện tượng tâm lý giúp con người lựa chọnhướng của hành vi Ví dụ, khi một người nào đó ăn thức ăn để thỏa mãn cơn đói củamình, điều này cho thấy có một sự kết nối giữa những gì chúng ta làm và lý do tại saochúng ta làm điều đó [29]

1.1.2 Động cơ nghề nghiệp

Chúng ta đã tìm hiểu hứng thú, năng lực, lý tưởng, đạo đức và lương tâm nghềnghiệp Những biểu hiện tâm lý này có sức mạnh thúc đẩy con người làm việc Sứcmạnh đó được gọi là động cơ Động cơ đúng sẽ làm cho hoạt động của con ngườimang theo những ý nghĩa tốt đẹp Động cơ sai sẽ làm cho nhân cách con người trongmọi hoạt động trở thành bé nhỏ

Trong việc chọn nghề nghiệp tương lai, động cơ đúng có ý nghĩa hết sức quantrọng Đi vào nghề nào? Vì sao lại chọn nghề đó? Những câu hỏi như vậy cần đượcmỗi chúng ta tự giải đáp Chọn nghề là một hành động cụ thể Điều thôi thúc ta chọnnghề này hay nghề kia sẽ rất quyết định con đường lao động lâu dài, có thể là suốtđời Sự phát triển nhân cách của mỗi chúng ta phụ thuộc rất lớn vào nội dung phươngpháp lao động nghề nghiệp mà chúng ta đã lựa chọn…

Động cơ chọn nghề đúng thường bộc lộ ở ý thức con người đối với những ýnghĩa sau đây của nghề:

- Ý nghĩa xã hội của nghề

- Ý nghĩa kinh tế của nghề

- Ý nghĩa giáo dục của nghề

- Ý nghĩa nhân đạo của nghề, v.v…

Động cơ chọn nghề đúng đắn, nhất là động cơ về ý nghĩa xã hội, nhân đạo củanghề, sẽ giúp người chọn nghề về sau có thể đạt đến đỉnh cao danh vọng, thực hiệnđược lý tưởng cao đẹp phục vụ dân tộc, đất nước, mặc dù họ chấp nhận cuộc sống vậtchất cá nhân có khi chỉ ở mức khiêm nhường trong xã hội Nhiều VĐV đã mang lạinhiều vinh quang cho tổ quốc, cống hiến cho màu cờ sắc áo, mặc dù mức lương VĐVhiện nay chưa cao so với các nước trong khu vực Đông Nam Á

Nếu chọn nghề chỉ đơn thuần theo lao động cá nhân nhỏ hẹp, vì lợi ích trước

Trang 18

mắt về vật chất (miễn sao có nhiều tiền bằng mọi cách)… thì khi vào đời không đạtđược ý đồ sẽ chán nản, thất vọng hoặc sẽ chịu nhiều bi kịch khác.

Nghề nghiệp thể thao [10]

Nghề nghiệp thể thao là những công việc của con người gắn liền với các hoạtđộng thể thao và thông qua các hoạt động đó sẽ mang lại những lợi ích cho conngười Ví dụ: vận động viên, huấn luyện viên, giáo viên thể dục,

Có lẽ nghề nghiệp thể thao là một nghề nghiệp “đặc biệt” trong xã hội, bởi sựđặc thù về công việc và môi trường lao động Bên cạnh đó, thành quả lao động màcon người tạo ra cũng hết sức khác biệt so với thành quả của các ngành nghề kháctrong xã hội

Vận động viên là những người được đào tạo để thi đấu các môn thể thao đòi

hỏi sức bền, sức khỏe và tốc độ VĐV có thể là người thi đấu thể thao chuyên nghiệphoặc nghiệp dư Phần lớn các vận động viên chuyên nghiệp có thể hình cân đối cóđược nhờ một quá trình tập luyện lâu dài kèm theo một chế độ dinh dưỡng nghiêmngặt

Huấn luyện viên là người trực tiếp huấn luyện, đào tạo và hướng dẫn các hoạt

động của một đội thể thao hoặc của một cá nhân VĐV

Giáo viên thể dục thể thao là người trực tiếp giảng dạy và hướng dẫn các bài

tập thể thao, các môn thể thao cho mọi người

Khi thể thao nói chung đang tiến lên chuyên nghiệp và trở thành một nghềnghiệp được xã hội công nhận thì nghề nghiệp thể thao hiển nhiên được coi là ngườilao động thật sự, lao động cật lực Rất nhiều môn thể thao đòi hỏi con người phải làmquen từ rất sớm, thể dục dụng cụ là một ví dụ điển hình Những câu chuyện về các cô

bé, cậu bé ở thế hệ đầu tiên của thể dục dụng cụ Việt Nam mới 5 - 6 tuổi đã phải xagia đình, sang Trung Quốc “tầm sư, học đạo” cả chục năm trời, giờ đây không còn làmới với người hâm mộ Ký ức của các em trong chuỗi ngày trường kỳ khổ luyện giannan trên đất bạn đã trở thành ấn tượng không thể quên, mỗi khi người ta nhắc đếnnhững cái tên như Ngân Thương, Thùy Dương, Hà Thanh

Vẫn biết, sự đóng góp và thành quả “lao động” mà mỗi cá nhân tạo ra là khácnhau Song có điều chắc chắn, không giấy mực nào có thể ghi nhận hết những hy sinh

Trang 19

thầm lặng của lớp lớp thế hệ vận động viên vẫn đang ngày đêm chạy đua cùng thờigian, luôn vững tin với hy vọng sẽ mang vinh quang về cho đất nước.

Định hướng nghề nghiệp thể thao là sự thông tin về sự phát triển và mức độcần thiết của các nghề nghiệp có liên quan đến thể thao để con người, đặc biệt lànhững con người đang hoạt động trong lĩnh vực thể dục thể thao nắm bắt từ đó cóhướng đi đúng đắn trong việc lựa chọn hay tiếp tục theo đuổi sự nghiệp thể thao Vídụ: Việc định hướng nghề nghiệp cho các vận động viên nghiệp dư của các câu lạc

bộ, các trung tâm hay những vận động viên của các trường, các địa phương sẽ giúp

họ có cái nhìn đúng đắn về nghề nghiệp thể thao từ đó giúp họ lựa chọn nghề nghiệpcủa bản thân sau này

1.1.3 Động cơ tham gia thể thao

Động cơ tham gia thể thao là một mặt ý thức của người tập trong đó phản ánh

tư tưởng, tình cảm thúc đẩy họ tập luyện Động cơ miêu tả trạng thái kích thích bêntrong, điều khiển và chỉ đạo hành vi [35]

Động cơ tham gia thể thao ở từng lứa tuổi, giới tính, thành phần xã hội,…trong từng thời kỳ là rất khác nhau và cần thiết để nâng cao chất lượng cuộc sống củangười dân

Động lực có thể là hứng thú, ước vọng, mục đích, lý tưởng khác nhau Mụcđích của hoạt động thể hiện ở chỗ con người muốn làm gì hoặc được cái gì, động lựcnói rõ vì sao họ muốn làm điều đó Động lực có quan hệ mật thiết với mục đích, khiđộng lực phù hợp hoàn toàn với mục đích thì hiệu suất hoạt động sẽ rất cao và ngượclại Động lực có thể không được con người ý thức ngay từ đầu đôi khi chỉ từng phần.Trong mỗi con người không chỉ có một động lực hoạt động, người ta phân thànhđộng lực chủ đạo và thứ yếu tùy thuộc vào lứa tuổi, giới tính, trình độ tập luyện, điềukiện sống, giáo dục, tính phổ cập của môn thể thao, những yếu tố này có liên quan vàtương hỗ với nhau tạo thành một hệ thống động lực Động lực có nội dung, sức mạnh

và sự ổn định Nội dung của động lực quyết định bởi mục đích hoạt động Sức mạnhcủa động lực phụ thuộc vào độ lớn của nhu cầu Độ ổn định của động lực được quyếtđịnh bởi sự ổn định và mức độ thỏa mãn nhu cầu

Schiffman & Kanuk (2001) đề xuất cho một định nghĩa chung cho động cơ

Trang 20

phản ánh quá trình với 5 giai đoạn: Nhu cầu về sự thừa nhận; giảm bớt căng thẳng;trạng thái nỗ lực; sự mong muốn; mục tiêu hướng tới hành vi [27]

Miline và McDonald (1999) đề xuất một loạt các nhân tố động cơ tiềm năngcho những người tham gia hoạt động thể thao như: thể chất sung mãn; giảm căngthẳng; liên kết; xã hội; tạo thuận lợi; lòng tự trọng; thành tích; nắm vững các kỹ năng;thẩm mỹ [36]

Trong lịch sử tâm lý học đã tồn tại rất nhiều quan điểm về động cơ Ph

Anghen đã viết: “Con người quen giải thích hành động của mình bằng tư duy của họ,

mà đáng nhẽ ra phải giải thích chúng từ nhu cầu”

Nhà tâm lý học người Nga A N Leonchiep khi bàn về động cơ đã cho rằng:Thứ nhất, động cơ chính là đối tượng có khả năng đáp ứng nhu cầu đã được thể hiệntrên tri giác, biểu tượng tư duy Hay nói khác đi, đó chính là sự phản ánh chủ quan vềđối tượng thỏa mãn nhu cầu Thứ hai là động cơ có chức năng định hướng thúc đẩy

và định hướng hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu

Đến nay, càng ngày càng có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về động cơ dựatrên những quan điểm của những nhà nghiên cứu trước Chúng ta có thể nêu một sốđiểm đáng lưu ý về động cơ thông qua những kết quả nghiên cứu sau:

Đầu tiên, động cơ là sự phản ánh tâm lý về đối tượng có khả năng thỏa mãnnhu cầu của chủ thể Bởi như chúng ta biết, nhu cầu bao giờ cũng mang tính đốitượng (nhu cầu về cái gì đó) Tuy nhiên, khi chủ thể xuất hiện trạng thái cần cái gì đóthì đối tượng thỏa mãn nhu cầu chưa xác định rõ Chỉ khi nhu cầu gặp được đối tượng

có khả năng thỏa mãn thì nhu cầu mới mang tính đối tượng Đối tượng thỏa mãn nhucầu được con người tri giác, tư duy và định hướng hành động của chủ thể sẽ trở thànhđộng cơ Nhu vậy, động cơ là tất cả những gì xuất hiện ở cấp độ phản ánh tâm lý thôithúc con người hành động nhằm thỏa mãn nhu cầu

Như đã trình bày, thì ở đây xuất hiện vấn đề về mối quan hệ giữa động cơ vànhu cầu Khi bàn về động cơ, người ta không thể không bàn đến nhu cầu Ngược lại,khi nói đến nhu cầu thì không thể nói đến động cơ – động cơ thúc đẩy con người thỏamãn nhu cầu Do đó, nếu nhìn nhận nhu cầu như là một tất yêu khách quan thể hiện đòihỏi của chủ thể về những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển thì động cơ là

Trang 21

biểu hiện chủ quan của tất yếu khách quan đó Tuy nhiên, nhu cầu và động cơ có quan

hệ không đồng nhất Những nhu cầu giống nhau được thỏa mãn bởi những động cơkhác nhau Ngược lại, những động cơ giống nhau có thể là những nhu cầu khác nhau.Đây chính là tính chất đa dạng về phương thức thỏa mãn nhu cầu con người

Thứ hai, động cơ đặc trưng của con người mang tính lịch sử - xã hội Luậnđiểm này có ý nghĩa phương pháp luận rất lớn Bởi trước hết, luận điểm này khẳngđịnh rằng các động cơ đặc trưng của con người nảy sinh và hình thành trong quá trìnhphát triển cá thể, chứ không phải là một cái gì đó có sẵn từ khi đứa trẻ được sinh ra

Do đó, một vấn đề cơ bản và quan trọng là phải nghiên cứu các cơ sở quy định quátrình hình thành các động cơ đặc trưng của con người và các cơ chế của quá trình đó.Hiện nay, hầu hết các nhà tâm lý học đều khẳng định rằng hệ thống động cơ của conngười được hình thành trên cơ sở sự hoạt động và giao tiếp của chủ thể trong hệthống các quan hệ xã hội, các nhóm xã hội nhất định, ma ở đó mỗi chủ thể thực hiệnvai trò của mình Tính lịch sử xã hội của các nhân được thể hiện ở chỗ, đối tượngthỏa mãn nhu cầu của con người thường là sản phẩm của quá trình sản xuất xã hội.Những sản phẩm đó với tư cách là những phản ánh tâm lý về đối tượng đó nên cácđộng cơ của con người thường mang tính xã hội Đối với nhưng nhu cầu đơn giản, sơcấp, mang tính bản năng thì cách đáp ứng nhu cầu đó cũng mang tính xã hội thuộcvào điều kiện sống cụ thể, nên văn hóa, lối sống của mỗi người, mỗi nhóm người [28]

Như vậy có thể nói rằng, động cơ là một hiện tượng tâm lý giúp con người lựachọn hướng hành vi Động cơ là phản ánh tâm lý thúc đẩy con người hành động nhằmthỏa mãn nhu cầu

Động cơ tham gia thể thao là một chủ đề cổ điển trong các nghiên cứu về hành

vi tiêu dùng thể thao Hầu hết các nghiên cứu có liên quan đã tập trung vào các động

cơ để tham gia học thể thao, rất khó tìm thấy các nghiên cứu động cơ tham gia thểthao có tổ chức trong các nghiên cứu thể thao Trong thực tế, đa số các nghiên cứu từtâm lý học thể thao và khoa học thể dục thể thao

Động cơ hoạt động thể thao là một mặt ý thức của VĐV trong đó phản ánh tưtưởng, tình cảm thúc đẩy họ tích cực tập luyện Động cơ là nguyên nhân bên trongthúc đẩy con người hoạt động

Trang 22

Động cơ là nền tảng của tất cả các nỗ lực và thành tích thể thao Nếu không cómong muốn và quyết tâm để cải thiện thành tích thể thao thì tất cả những yếu tố tâm

lý khác như sự tự tin, tập trung và cảm xúc đều vô nghĩa Để trở thành VĐV tốt nhất

có thể, VĐV phải được thúc đẩy để làm những gì cần thiết nhằm tối ưu hóa khả năng

và đạt được mục tiêu đặt ra (Jim Taylor, 2009).

Động cơ có thể là những hứng thú, ước vọng, mục đích, lý tưởng khác nhau.Chính những hiện tượng tâm lý này tích cực hóa hành động, kích thích con ngườikhắc phục mọi khó khăn trở ngại để đạt được mục đích

Khi ý thức được nhu cầu, trong con người xuất hiện sự căng thẳng về tâm lý

Sự căng thẳng tâm lý này bị thôi thúc bởi sự ham muốn Sự ham muốn kích thích tínhtích cực của con người, hình thành động cơ thôi thúc con người hành động Đồng thờivới việc hình thành động cơ, trong ý thức con người cũng hình thành biểu tượng vềmục đích hoạt động, chính là biểu tượng về kết quả hoạt động (kiến thức, kỹ năng kỹxảo tiếp thu được, thành tích thể thao đạt được…) Mối quan hệ giữa nhu cầu, động

cơ và hành động thể hiện như sau:

Nhu cầu → Ham muốn → Căng thẳng tâm lý → Động cơ → Hành động.Cần phân biệt động cơ và mục đích hành động Mục đích phản ánh cái cần đạtđến, kết quả cần phải đạt được của hành động Còn động cơ phản ánh nguyên nhâncủa hành động Do đó, có thể có cùng mục đích nhưng động cơ hành động khác nhau,hay ngược lại, có cùng động cơ nhưng có thể mục đích khác nhau Ví dụ: Mục đíchđạt chức vô địch trong một giải thi đấu của một VĐV có thể có những động cơ khácnhau (vì muốn làm hài lòng HLV, vì muốn được tôn vinh, vì tiền thưởng hoặc cũng

có thể vì những động cơ khác)

Động cơ có thể không được con người nhận thức ngay hoặc chỉ nhận thứctừng phần Các động cơ trong hoạt động TDTT thường có tính chất đa dạng, biếnđộng và phụ thuộc vào lứa tuổi, giới tính, trình độ tập luyện, điều kiện sống, môitrường số và giáo dục

Đối với một mục đích, thông thường không chỉ có một động cơ hoạt động mà

là một hệ thống các động cơ có liên quan tương hỗ nhau Trong tâm lý học TDTT,động cơ hoạt động được chia thành 2 nhóm: Động cơ bên trong hay động cơ trực tiếp

Trang 23

(intrinsic motivation) và động cơ bên ngoài hay động cơ gián tiếp (extrinsicmotivation).

Động cơ bên trong đề cập đến việc một cá nhân tham gia vào một hoạt độngnào đó đơn giản chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu tham gia hoạt động Những VĐV nàykhông cần phần thưởng cho việc tham gia của họ và được xem là dạng tự động viên(self-motivated)

Động cơ bên ngoài đề cập đến một số tác động bởi yếu tố bên ngoài, như phầnthưởng, danh hiệu hay những vị thế thành đạt trong xã hội… khi đạt được mục đíchtham gia thi đấu (chiến thắng, vô địch…) (Li & Hammer,1996) Ngoài ra cũng cótình trạng, hiếm khi xảy ra, VĐV tham gia hoạt động thể thao mà không có động cơ(amotivation) hay thiếu động cơ, là tình trạng một cá nhân có cảm giác không mongmuốn gì

Động cơ bên trong và động cơ bên ngoài khi đó hầu như không có tác động lênnhững cá nhân này và những cá nhân này cũng không thể cho biết lý do tại sao họctham gia và tiếp tục tập luyện thể thao Theo nhiều nghiên cứu, động cơ bên trong cótác dụng thúc đẩy mạnh mẽ hơn vì thông qua hành động đã trực tiếp làm thỏa mãnnhu cầu cá nhân Với động cơ bên ngoài thì tác dụng thúc đẩy ít hơn và không ổnđịnh vì phụ thuộc vào đáp ứng bên ngoài, ví dụ: tiền lương hay tiền thưởng ít haynhiều, danh hiệu được công nhận ở quy mô nào…

Động cơ hoạt động TDTT bên trong (trực tiếp) [25] :

- Cảm giác thỏa mãn, dễ chịu, sảng khoái, hạnh phúc… trong hoạt độngTDTT (giải trí tinh thần)

- Vì sức khỏe và sự hoàn thiện năng lực thể chất của bản thân

- Thỏa mãn nhu cầu được thể hiện khả năng của bản thân (về thể chất lẫn tinhthần), thỏa mãn mong muốn được thể hiện lòng dũng cảm, tính quyết đoán trong cáctình huống nguy hiểm của tập luyện và thi đấu thể thao

- Thỏa mãn được tham gia thi đấu, bị cuốn hút bởi các tình huống gay cấn,sôi nổi, hồi hộp của các cuộc thi đấu Rung cảm bởi vẻ đẹp, tính nghệ thuật của cácđộng tác, tư thế trong thi đấu

- Muốn đạt được thành tích, kỷ lục, chiến thắng

Trang 24

Động cơ hoạt động TDTT bên ngoài (gián tiếp) [25] :

- Ý thức trách nhiệm với tập thể, cộng đồng (vì danh dự, vì màu cờ sắc áo của

tổ quốc, của đơn vị…)

- Phải thực hiện theo nghĩa vụ (phải hoàn thành chương trình giáo dục thểchất bắt buộc trong nhà trường)

- Muốn đạt được hiệu quả cao trong công việc, học tập nên phải tập luyện để

có sức khỏe tốt hơn

- Mong muốn có một thể hình đẹp, cường tráng Đây là ước muốn của mọi cánhân, đặc biệt thể hiện hiện rõ ở nam nữ thanh niên

- Muốn được tôn vinh, có danh tiếng, được mọi người ngưỡng mộ

- Mong muốn thu được những quyền lợi vật chất

Thông thường động cơ tập luyện thể thao được chia làm 3 giai đoạn: Tậpluyện ban đầu, chuyên môn hóa thể thao và nâng cao thành tích Ở mỗi giai đoạn cácđộng cơ hoạt động có đặc điểm tâm lý riêng

- Ở giai đoạn tham gia tập luyện ban đầu thì các động cơ có đặc điểm phântán, tản mạn, không bền vững; động cơ mang tính bên trong (trực tiếp), nặng về cảmtính (do phong trào lôi cuốn, do tình cờ, do ngưỡng mộ một ngôi sao thể thao nàođó); Động cơ thường liên quan đến điều kiện khách quan thuận lợi với môn thể thao(tập bơi do nhà gần sông, hồ bơi; chơi bóng đá do nhà gần sân bóng đá; nhiều VĐVquần vợt xuất thân từ những chú bé nhặt bóng ở sân quần vợt…); do bị bắt buộc bởicha mẹ hoặc do quy định của chương trình giáo dục thể chất trong nhà trường

- Ở giai đoạn chuyên môn hóa thể thao: giai đoạn này người tập chỉ tậpchuyên sâu một môn thể thao Động cơ có các đặc điểm là bắt đầu ổn định và hứngthú thể thao theo một xu hướng chính xác; mong muốn được thể hiện khả năng vàphát triển khả năng trong môn thể thao chuyên sâu; bắt đầu có khát vọng về thànhtích cao, mong muốn được tôn vinh; bị hấp dẫn bởi chính môn thể thao chuyên sâu;lượng vận động thể lực căng thẳng cũng đã trở thành thói quen, nhu cầu

- Ở giai đoạn nâng cao thành tích thể thao thường có các động cơ: Duy trìtrình độ thể thao đã đạt được và cố gắng đạt thành tích cao hơn; Mong muốn mang lạivinh quang cho tổ quốc, đơn vị, tập thể; Mong muốn truyền đạt kinh nghiệm, kiến

Trang 25

thức cho các VĐV khác; Mong muốn duy trì và tăng cường danh tiếng, thu nhập từhoạt động thể thao.

Với thực tiễn thể thao tại Việt Nam việc nghiên cứu động cơ tham gia thể thaochuyên nghiệp còn rất ít vì vậy từ các thuyết trên, đề tài dựa vào thuyết Jim Taylor(2009) để xây dựng các tiêu chí đánh giá động cơ khi tham gia thể thao chuyênnghiệp tại Trung tâm HLTTQG TP.HCM

Sơ đồ 1.2 Động cơ tham gia

Tóm lại, động cơ hoạt động được chia thành 2 nhóm: Động cơ bên trong hayđộng cơ trực tiếp (intrinsic motivation) và động cơ bên ngoài hay động cơ gián tiếp(extrinsic motivation)

Động cơ bên trong đề cập đến việc một cá nhân tham gia vào một hoạt động nào

đó đơn giản chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu tham gia hoạt động Những VĐV này khôngcần phần thưởng cho việc tham gia của họ và được xem là dạng tự động viên (self-motivated)

Động cơ bên ngoài đề cập đến một số tác động bởi yếu tố bên ngoài, như phầnthưởng, danh hiệu hay những vị thế thành đạt trong xã hội… khi đạt được mục đíchtham gia thi đấu (chiến thắng, vô địch…) (Li & Hammer,1996) Ngoài ra cũng cótình trạng, hiếm khi xảy ra, VĐV tham gia hoạt động thể thao mà không có động cơ(amotivation) hay thiếu động cơ, là tình trạng một cá nhân có cảm giác không mongmuốn gì

1.2 Trở ngại

1.2.1 Khái quát chung về trở ngại:

Trong thực tế cuộc sống mỗi khi không hoàn thành một công việc, nhiệm vụhay một mục đích nào đó, người ta thường tìm ra những nguyên nhân đã kìm hãm kết

Bên trong (trực tiếp)

(8 tiêu chí)

Động cơ tham giaBên ngoài (gián tiếp)

(10 tiêu chí)

Trang 26

quả mà mình mong muốn đạt tới Người ta thường nói do nguyên nhân này haynguyên nhân khác làm cản trở hoạt động của mình Nói khác đi, đó là những khókhăn hay trở ngại (gồm cả yếu tố khách quan và chủ quan) đã tác động đến quá trìnhhoạt động của con người Vì vậy, có thể coi trở ngại là những rào cản, những vướngmắc, những khó khăn khiến cho con người không thể dễ dàng thực hiện được nhiệm

vụ hay hoạt động, hành động của mình, nhiều khi nó khiến cho con người không thểđạt được kết quả mong muốn cuối cùng

Trở ngại trong cuộc sống hoạt động của con người có nghĩa bao hàm rất rộng,hoạt động của con người đa dạng và phong phú bao nhiêu, thì những trở ngại thể hiệntrong cuộc sống cũng phong phú và đa dạng bấy nhiêu

Về mặt ngôn ngữ trong cuốn từ điển Tiếng Việt, nhà xuất bản Đà Nẵng giảithích như sau: Trở ngại là gây khó khăn, làm cho không tiến hành được dễ dàng, suôn

sẻ Như vậy, trên bình diện lý luận, trở ngại trong cuộc sống cũng được nhìn nhậnbao gồm tất cả những yếu tố nào gây cho chủ thể những khó khăn, những sự cản trởkhi tiến hành một hoạt động nào đó Những khó khăn đó do yếu tố chủ quan haykhách quan tạo ra, trong đó:

- Những yếu tố khách quan hay nói cách khác là những yếu tố bên ngoài,chúng bao gồm môi trường sống, môi trường công tác, làm việc, học tập… Conngười tồn tại và hoạt động trong những môi trường đó lại trực tiếp hay gián tiếpchịu các tác động của nền văn hóa, các yếu tố địa lý (đất đai, khí hậu…) điều kiện,phương tiện làm việc… Những yếu tố này tồn tại xung quanh con người, bên ngoàicon người, không chịu tác động của con người do đó được coi là những nhân tốkhách quan

- Những yếu tố chủ quan hay còn gọi là yếu tố bên trong đó là những khókhăn, trở ngại nảy sinh do đặc điểm sinh lý, đặc điểm cơ thể, hoặc do chính đặc điểmtâm lý tạo ra như: tính tích cực, kinh nghiệm, năng lực tư duy, ngôn ngữ, kỹ năngchưa hoàn thiện… của chính bản thân chủ thể Những yếu tố này nằm bên trong conngười – chủ thể tâm lý, do đặc điểm tâm lý tạo ra, nên có thể coi là những trở ngạitâm lý trong hoạt động con người

Trở ngại tâm lý trong hoạt động là nói đến những hàng rào tâm lý kìm hãm

Trang 27

hoạt động đạt kết quả, mục đích đặt ra từ trước Nhiều nghiên cứu khác nhau về trởngại tâm lý trong hoạt động đã đưa ra nhiều ý kiến khác nhau, tựa chung lại có thểsắp xếp thành 3 nhóm ý kiến như sau:

Nhóm ý kiến thứ nhất: Trở ngại tâm lý là trạng thái tâm lý thể hiện tính thụ

động lúng túng của chủ thể khi gặp những tình huống, những điều kiện thay đổi làmcản trở quá trình hành động và làm sai lệch kết quả hoạt động Trong từ điển tâm lýhọc, tác giả Vũ Dũng nêu: ở hàng rào tâm lý là trạng thái tâm lý thể hiện ở tính thụđộng quá mức của chủ thể, gây cản trở trong việc thực hiện hành động Cơ chế diễnbiến của hàng rào tâm lý là sự gia tăng những mặc cảm và tâm lý tiêu cực: hổ thẹn,cảm giác tội lỗi, sợ hãi, lo lắng, tự đánh giá thấp bản thân mình… Trong hành vi xãhội hàng rào tâm lý xuất hiện như những ngăn cách trong giao tiếp

Nhóm ý kiến thứ hai: Trở ngại tâm lý là tổ hợp các thuộc tính, các trạng thái,

các đặc điểm nhân cách không phù hợp với đối tượng, làm cho quá trình hoạt độnggặp khó khăn, làm cho chủ thể không phát huy được khả năng của mình, dẫn đến kếtquả hoạt động bị hạn chế Nhóm ý kiến này có quan niệm rộng hơn so với nhóm ýkiến thứ nhất Với ý kiến trên tác giả B.Đ.Parughin cho rằng: hàng rào tâm lý đượchiểu ngầm như các quá trình, các thuộc tính, các trạng thái của con người nói chung,bao bọc tiềm năng trí tuệ, tình cảm của con người

Đồng hành với ý kiến trên, tác giả Phạm Ngọc Viễn cho rằng: khi phân tíchcác biện pháp cơ bản của công tác huấn luyện tâm lý chung cho các VĐV thể thao, đãđồng thời nêu ra các khó khăn, trở ngại về nhận thức xuất hiện khi các VĐV thể thaophản ánh không đúng về bản thân và tình huống cụ thể; trở ngại về cảm xúc phụthuộc vào trạng thái của VĐV với nhiệm vụ được giao; tương tự như vậy trở ngại vềđạo đức nảy sinh khi nhận thức và rung cảm về những yêu cầu của xã hội [20]

Nhóm ý kiến thứ ba: Gồm những ý kiến nhận định, trở ngại tâm lý là sự thiếu

thích ứng, thiếu linh hoạt của chủ thể trong quá trình hoạt động và trong việc thựchiện mục tiêu, nhiệm vụ tức thời, khiến cho chủ thể không kịp thời huy động đượcnhững đặc điểm cá nhân cho phù hợp với yêu cầu, nội dung, đối tượng và hoàn cảnh

Trang 28

công việc.

Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng ba nhóm ý kiến trên đã khái quát quá rõ nét

về bản chất và biểu hiện của hiện tượng trở ngại tâm lý trong hoạt động của conngười, trong đó các ý kiến đề cập đến trên mọi phương diện, từ các trạng thái tâm lý,cảm xúc; cho đến tổ hợp các thuộc tính, các đặc điểm nhân cách; đến sự thích ứngcủa chủ thể với môi trường, hoàn cảnh khách quan…

1.2.2 Trở ngại trong hoạt động thể thao:

Các khó khăn trở ngại là những vấn đề hiển nhiên trong thế giới, sự tham giahoạt động thể thao cũng không thể thoát khỏi điều kiện này Theo nghiên cứu củaKraus (1997), có những yếu tố có khuynh hướng ngăn chặn hay hạn chế sự tham giacác hoạt động thể thao Điều quan trọng là không phải chỉ hiểu được lý do tại sao conngười tham gia theo đuổi các hoạt động thể thao và đạt được những gì từ các hoạtđộng đó, mà còn phải nắm được nguyên nhân gì làm cho họ không nắm bắt những cơhội đó

Kraus (1997) cũng tuyên bố một số nghiên cứu đề nghị một số lượng lớn cácyếu tố xã hội và cá nhân liên quan đến quá trình chọn lọc và tham gia các hoạt độngthể thao Những yếu tố này bao gồm các nhân tố như lứa tuổi, giới tính… Ngoài ra,các khó khăn trở ngại còn liên quan đến yếu tố tài chính, khả năng thể chất và tinhthần, thiếu kỹ năng hay cảm thấy không tự tin hoặc nỗi lo sợ bị người khác từ chối[26]

Hoạt động thể thao là một trong những loại hình hoạt động có liên quan nhiềutới vấn đề khắc phục vô vàn khó khăn trở ngại Ở đây độ khó trong hoạt động củaVĐV nhiều lúc đạt tới mức tột đỉnh

Trong các sách giáo khoa tâm lý học nói chung và những tài liệu có liên quanđến hiện tượng khó khăn và trở ngại chưa được phân định ranh giới rõ ràng, các tácgiả chỉ dừng lại ở mức phân loại chung các khó khăn trở ngại thành 2 loại mang tínhchất bên trong (chủ quan) và bên ngoài (khách quan) Trong tâm lý học thể thao, ranhgiới của hai khái niệm trên lại còn khó phân biệt hơn

Trang 29

Năm 1974, P.A Ruđích chỉ sử dụng thuật ngữ khó khăn trong đó bao hàm cảyếu tố trở ngại và phân loại thành 2 nhóm khó khăn khách quan và khó khăn chủquan Còn Cos TS A.X Punhi thì chỉ sử dụng thuật ngữ trở ngại (bao hàm ý nghĩkhó khăn) và được phân loại theo thang bậc và mức độ khó khăn của nó mà thôi.Theo tác giả bài báo này, các thuật ngữ trên cần được hiểu theo góc độ tâm lý họcnhư sau:

Trở ngại: Là những điều kiện khách quan của môi trường bên ngoài, cũng

như bản thân gây cản trở cho quá trình hoàn thành mục đích thực thi các nhiệm vụvận động [29]

Đó chính là những chướng ngại do vật thể gây ra như: Trọng lượng của tạ,chiều dài cự ly chạy, lực cản của gió, những trở lực khi thực hiện các động tác kỹthuật, cùng các vướng mắc đột xuất như kết quả thi đấu tạm thời, sự quá khích củađối thủ, sự không minh bạch của trọng tài, sự đe dọa đến an toàn cá nhân …

Khó khăn: là những mâu thuẫn nội tại xuất hiện trên cơ sở có sự bất cập tạm

thời về năng lực hoặc yếu tố thông tin so với yêu cầu thực hiện bài tập vận động Đó

là các mâu thuẫn nội tại nửa có tính chất mâu thuẫn trong vận động, cũng như mâuthuẫn riêng của chính bản thân mình [30]

- Khó khăn mang tính chất hoạt động thường xảy ra trong tình huống túng

quẫn, thao tác khi phải chống đỡ trọng lượng quá tải so với khả năng của cơ thể hoặc

bộ phận của cơ thể VĐV Đó là khó khăn thuộc về năng lực thể lực khi chống đỡ vậtcản hoặc khi phải vượt qua sự mệt mỏi để giữ được cường độ vận động lâu dài hoặctốc độ nhanh Tức là khó khăn do thiếu sức mạnh, không có sức bền, sức nhanh…

Cũng có thể là khó khăn về mặt kỹ thuật như: rối loạn phối hợp động tác về mặtkhông gian hay thời gian, các biểu hiện: “mất cảm giác chuyên môn”, “khó hiểu”

- Khó khăn mang tính chất riêng tư: như xúc động, căng thẳng quá mức, rối

loạn các quá trình tâm lý gây nhiễu động tác Nguyên nhân gây ra khó khăn này thuộc

về yếu tố giảm sút tâm lý sẵn sàng khi hoạt động, cũng như lơi lỏng ý chí, các biểu hiệntâm lý của khó khăn riêng tư như: Có cảm giác thấm mệt, “sợ hãi một cách quá mức”,

“vô vọng” Trong thể thao loại khó khăn này xuất hiện do bị dồn ép tăng sức và bứcxúc về thời gian Đặc biệt do rối loạn nội tiết tự nhiên, các biểu hiện trạng thái tâm lý

Trang 30

khi xuất hiện khó khăn này là “cảm giác lo lắng, hồi hộp, bồn chồn, lú lẫn” trong hành

vi Có thể coi khó khăn này là khó khăn về xúc động tâm lý mạnh mẽ [33]

Tóm lại có thể khái quát khó khăn trong hoạt động như sau:

+ Khó khăn mang tính riêng tư

+ Khó khăn mang tính chất thể lực yếu

+ Khó khăn do bị xúc động mạnh gây rối loạn kỹ, chiến thuật

+ Khó khăn mang tính hoạt động

Các trở ngại thường gây ảnh hưởng trực tiếp tới tâm lý VĐV khi thực hiện cácbài tập thể lực Còn khó khăn thường xảy ra dưới 2 khía cạnh: tâm thể lực và tâm lý

kỹ thuật

Tự điều chỉnh có ý thức tâm lực và tâm kỹ thuật được thực hiện theo cơ chế tựtác động lên chính bản thân mình Tính chất chủ yếu của nó được căn cứ vào những

cơ chế tâm lý rất khó phân biệt

Tóm lại, trở ngại là những điều kiện khách quan của môi trường bên ngoài,cũng như bản thân gây cản trở cho quá trình hoàn thành mục đích thực thi các nhiệm

vụ vận động Các khó khăn trở ngại liên quan đến nhiều yếu tố như: lứa tuổi, giớitính, tài chính, khả năng thể chất và tinh thần, thiếu kỹ năng hay cảm thấy không tựtin, hoặc nỗi lo sợ bị người khác từ chối…

1.3 Vận động viên

1.3.1 Định nghĩa vận động viên [39]

Theo Wikipedia, VĐV là những người được đào tạo để thi đấu các môn thểthao đòi hỏi sức bền, sức khỏe và tốc độ VĐV có thể là người thi đấu thể thao chuyênnghiệp hoặc nghiệp dư

Phần lớn các VĐV chuyên nghiệp có thể hình cân đối có được nhờ một quátrình tập luyện lâu dài kèm theo một chế độ dinh dưỡng nghiêm ngặt

Một VĐV là một người cạnh tranh trong một hoặc nhiều môn thể thao có liênquan đến thể lực, tốc độ hoặc sức chịu đựng

Theo wiktionary, VĐV người hoạt động thể thao đã đạt tới một trình độ nhấtđịnh

1.3.2 Đặc điểm vận động viên [32]

Trang 31

- Xác định rõ mục tiêu để họ đánh giá bản thân và không ngừng đổi mới.

- Có niềm tin mạnh mẽ rằng họ sẽ đạt được mục tiêu đặt ra

- Thực hiện trong nhiều khía cạnh của cuộc sống cũng như trong nghề nghiệp

mà họ đã chọn hoặc tập trung chủ yếu

- Có khả năng học hỏi làm thế nào để có được tốt hơn ở hầu hết những điều

mà mình đảm nhiệm

- Có khả năng để vượt qua nghịch cảnh

- Hy sinh và làm việc chăm chỉ để phát triển tài năng của mình cho sự thành công

- Có khả năng tập trung

- Có kỷ luật

- Có một mức độ tin cậy cao

1.3.3 Phân loại vận động viên [21]

Phân loại theo đẳng cấp:

1.4 Thể thao chuyên nghiệp

1.4.1 Một số khái niệm cơ bản về chuyên nghiệp và thể thao chuyên nghiệp.

Theo từ điển Việt Nam (Viện Ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng, 2006) về mặttính từ, chuyên nghiệp nghĩa là: chuyên là một nghề, lấy một việc, một hoạt động nào

đó làm nghề chuyên môn; phân biệt với nghiệp dư Theo từ điển Anh – Anh – Việt(NXB Văn hóa thông tin, 1999) professional (chuyên nghiệp): doing as a jod forwhich others do only as an interest or a hobby (tạm dịch: là một việc gì đó như mộtcông việc mà người khác làm chỉ vì hứng thú hoặc sở thích) Như vậy, chuyên nghiệp

có thể hiểu theo nghĩa đơn giản nhất, là chuyên tâm vào nghề nghiệp, công việc Mụcđích của sự chuyên nghiệp là nhằm tạo ra sự hoàn chỉnh, chất lượng, hiệu quả và tincậy, những điều đó chỉ có được khi tất cả các chi tiết dù là nhỏ nhất đều phải được

Trang 32

thiết lập đồng bộ, nhất quán, hợp lý [3].

Tính chuyên nghiệp không phải cái gì đó phức tạp, khó thực hiện, mà ngượclại nó được thể hiện, đánh giá ở những việc đơn giản thường ngày Đối với ngànhnghề, công việc khác nhau, tính chuyên nghiệp có những yêu cầu khác nhau Để đạttới tính chuyên nghiệp của cả một tập thể, một tổ chức thì mỗi vị trí công việc cầnphải được xác định rõ từng nhiệm vụ và mỗi cá nhân phải hiểu rõ, đồng thời có khảnăng thực hiện chuyên nghiệp

Theo Luật Thể dục, Thể thao ban hành năm 2007 của nhà xuất bản TDTT định

nghĩa “Thể thao chuyên nghiệp là hoạt động thể thao, trong đó huấn luyện viên, vận

động viên lấy huấn luyện, biểu diễn, thi đấu thể thao là nghề của mình” Những

người tham gia thi đấu trong thể thao chuyên nghiệp là những người thi đấu hoặchuấn luyện thể thao vì vấn đề tài chính [6]

Những vận động viên tham gia thể thao chuyên nghiệp sẽ dành hết thời giancủa mình để nâng cao kỹ năng, thể chất cũng như kinh nghiệm thi đấu để từ đó nângcao thành tích thi đấu

Thể thao chuyên nghiệp được hiểu là một hoạt động có tính chuyên môn hóarất cao, tức là kế hoạch, chương trình huấn luyện đều phải được tính toán kỹ lưỡngtheo từng chu kỳ, thời kỳ và theo một quy trình chặt chẽ

Thể thao chuyên nghiệp còn được thể hiện trong việc mua bán thương hiệugiải đấu

Theo Coakley (1998), thể thao chuyên nghiệp được xem là hình thái thể thaothể hiện rõ ràng nhất tiềm lực cũng như trình độ phát triển thể thao của một quốc gia.Thể thao chuyên nghiệp được tổ chức và quản lý dưới sự tổ chức và chỉ đạo của các

tổ chức nhà nước Thể thao chuyên nghiệp càng phát triển, thì vị thế của quốc gia đấytại các giải quốc tế sẽ được nâng cao hơn [3]

Còn theo nghiên cứu và tìm hiểu của Consineau (1998), thể thao chuyênnghiệp thường được tập trung vào một số những môn thể thao thế mạnh, những mônthể thao thường xuyên đạt thành tích cao, được quản lý và lên kế hoạch tập luyện dựatrên các lịch tập huấn, thi đấu các giải quốc gia và quốc tế, với sự trang bị đầy đủtrang thiết bị, cơ sở vật chất… Bên cạnh đó, thể thao chuyên nghiệp còn nhận được

Trang 33

sự hỗ trợ của Chính phủ trong các hoạt động về đào tạo, huấn luyện… với sự thamgia của các cá nhân, HLV, chuyên gia có trình độ cao Thể thao chuyên nghiệp cònđược xem là hình thái thể thao mang tính chọn lọc, không kêu gọi sự tham gia đôngđảo như thể thao quần chúng [3].

Thể thao chuyên nghiệp, thông thường là một hoạt động kinh tế chỉ việc cungcấp các sản phẩm thể thao giải trí cho người tiêu dùng thể thao (người xem, ngườinghe), bảo đảm trả thù lao cho các vận động viên chuyên nghiệp và những người kinhdoanh tổ chức giải đấu chuyên nghiệp, người có đội thi đấu chuyên nghiệp (loại mônthể thao chuyên nghiệp sống nhờ vào thành tích thi đấu thể thao cao) Trong loại mônthể thao chuyên nghiệp này, các vận động viên trở thành hàng hóa đặc biệt, có giá trịtrên thị trường Giá trị của mỗi vận động viên hoàn toàn được thể hiện qua hình thứckinh tế dịch vụ trong thị trường lao động thể thao

Thể thao chuyên nghiệp tồn tại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, thể thaochuyên nghiệp là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa vận hành trong thị trường thiđấu thể thao, vì vậy thể thao chuyên nghiệp được coi là một bộ phận đặc thù của kinh

tế TDTT Thể thao chuyên nghiệp là một số môn thể thao hoặc CLB thể thao vậnhành trong môi trường chuyên nghiệp và mang lại giá trị kinh tế cao trong các hoạtđộng của nó Ở hầu hết các nước có nền kinh tế phát triển thì thể thao chuyên nghiệpcũng phát triển mạnh và ngược lại các nước chậm phát triển về kinh tế thì thể thaochuyên nghiệp cũng không thể phát triển

Thể thao chuyên nghiệp là chỉ một số môn thể thao trong hệ thống thể thaothành tích cao và thể thao giải trí có điều kiện vận hành và tồn tại nhờ kinh doanh tàisản thể dục thể thao Thế giới phân chia thể thao thành tích cao thành hai loại: nghiệp

dư và nhà nghề Trung Quốc phân chia thể thao thành tích cao thành hai loại: chuyênnghiệp và nhà nghề Tuyệt đại đa số các môn thể thao thành tích cao ở Trung Quốc xếpvào loại chuyên nghiệp, vận động viên được hưởng lương và mọi chế độ chính sáchcủa Nhà nước theo khung lương và các khoản phụ cấp lương của vận động viên thểthao chuyên nghiệp (điền kinh, bơi lội, cử tạ, thể dục dụng cụ, bóng chuyền…) Ở nước

ta, hệ thống thể thao thành tích cao tạm coi như có hai loại: nghiệp dư và chuyênnghiệp (nhà nghề) Số ít môn thể thao chuyên nghiệp ở đây tức là các môn thể thao nhà

Trang 34

nghề, với số môn tương tự như ở Trung Quốc và một số nước Châu Á khác Còn tuyệtđại đa số các môn thể thao thành tích cao còn lại ở nước ta thực chất là nghiệp dư -chuyên nghiệp, do Trung ương và địa phương bảo trợ để tồn tại Nhưng kể từ năm

1970 trở đi, vận động viên thể thao không có khung lương và phụ cấp của Nhà nước(riêng cho thể thao) Tùy từng điều kiện cụ thể, từng địa phương, ta đang vận dụngkhung lương của các ngành nghề khác cho vận động viên thể thao thành tích cao Vìvậy, nhìn chung đa số vận động viên thể thao thành tích cao vẫn hưởng lương của Nhànước, biên chế Nhà nước hoặc hợp đồng dài hạn (đối với các môn thể thao nghiệp dư -chuyên nghiệp như điền kinh, bơi lội…) [3]

Xã hội hiện đại càng phát triển, nhu cầu thưởng thức các trận đấu thể thao đỉnhcao của con người ngày càng cao, điều đó đòi hỏi phải phát triển thể thao chuyênnghiệp, sự phát triển của thể thao chuyên nghiệp lại gắn liền với sự phát triển của nềnkinh tế, chính trị và xã hội

TDTT nước ta trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa muốnphát triển mạnh mẽ, cần phải thực hiện chủ trương xã hội hóa TDTT và phát triểnkinh tế TDTT Từ đó tăng nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật cho TDTTngoài việc sử dụng nguồn ngân sách nhà nước

Ở nước ta đã bước đầu hình thành lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế TDTT.Tuy nhiên, chúng ta chưa nhận thức được nền tảng hay cơ sở vật chất - kỹ thuật đểphát triển kinh tế TDTT chính là thể thao chuyên nghiệp Ở các quốc gia có thể thaochuyên nghiệp phát triển cao, cũng là các quốc gia phát triển mạnh về kinh tế như

Mỹ, Nga, Đức, Pháp… Thậm chí người ta coi nghĩa rộng của thể thao chuyên nghiệp

là kinh tế TDTT Chính vì vậy nghiên cứu về thể thao chuyên nghiệp ở nước ta dù chỉ

là bước đầu, nhưng vẫn là vấn đề mới

Việt Nam trước hết phải phát triển các môn thể thao phù hợp với đặc điểm vàthể chất của người Việt Nam, từng bước nâng cao trình độ thi đấu và trình độ tổ chứccác giải thể thao chuyên nghiệp Thể thao chuyên nghiệp là các môn thể thao có tínhgiải trí cao, mức độ thương mại hóa, thị trường hóa khá cao, có thể dẫn dắt sự pháttriển của ngành kinh doanh, dịch vụ TDTT và ngành công nghiệp thể thao, ví dụ nhưgiải bóng đá vô địch thế giới, giải tennis grand Slam, giải đua ô tô công thức 1, giải

Trang 35

bóng rổ nhà nghề Mỹ… Những môn thể thao chuyên nghiệp này đã nhanh chóng nổilên trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế trong những năm gần đây.

Thể thao chuyên nghiệp là một bộ phận của ngành thể thao, thỏa mãn nhu cầuhưởng thụ và giải trí thể dục thể thao Thể thao chuyên nghiệp bao gồm tất cả các yếu

tố từ cơ chế, chính sách, luật, tổ chức thi đấu, đào tạo VĐV, dinh dưỡng, ứng dụngkhoa học công nghệ…đều phải mang tính chuyên nghiệp

1.4.2 Khái quát thể thao chuyên nghiệp trên thế giới và Việt Nam

1.4.2.1 Thể thao chuyên nghiệp trên thế giới [14],[15]

Trung Quốc [23] : trước những năm 1990, thể thao ở Trung Quốc cũng như

ở một số nước Đông Âu chưa hướng theo sự phát triển của thị trường mà vẫn nhờ sựbao cấp ngân sách từ Chính Phủ Năm 1994, bóng đá Trung Quốc là môn đầu tiêndẫn đường cho các Liên đoàn, Hiệp hội thể thao khác của Trung Quốc đi theo hướngphát triển ngành công nghiệp thể thao để thu lợi nhuận

Ngay sau đó, một loạt các môn thể thao đã xây dựng và phát triển theo hướngthể thao chuyên nghiệp như: Bóng rổ, Bóng chuyền, Bóng bàn và Cờ vây Nhiều giảithi đấu thể thao chuyên nghiệp đã được tổ chức thu được nhiều khoản lợi nhuận từdoanh thu bán vé, quảng cáo, nghề cầu thủ, phát thanh truyền hình và các hoạt độngthương mại khác

Nhờ vào sự phát triển của thể thao chuyên nghiệp, trong những năm gần đây,giá trị tổng sản lượng ngành công nghiệp dụng cụ thể thao cũng tăng khoảng 50 tỷnhân dân tệ mỗi năm Một số hàng hóa thể thao thương hiệu đã xuất hiện như: LiNing, Deng Yaping, 3600,…

Bên cạnh sự phát triển của thể thao chuyên nghiệp cũng kéo theo việc một sốcác VĐV chuyên nghiệp của Trung Quốc có khả năng tham gia vào các giải đấuchuyên nghiệp của một số quốc gia khác trên thế giới

Theo báo cáo của kênh truyền hình Qilu, 3 vận động viên có thu nhập cao nhấttrong giới thể thao Trung Quốc là Yao Ming (VĐV Bóng rổ nam với thu nhập 250triệu nhân dân tệ), Liu Xiang (110m vượt rào nam: 70 triệu nhân dân tệ) và GuoJingjing (Lặn nữ: 15 triệu nhân dân tệ) Thu nhập này được tính theo tổng số mứclương hàng năm, tiền các giải thưởng mà họ đạt được và các khoản thu nhập khác

Trang 36

Đối với số đông các VĐV của Trung Quốc, các VĐV vẫn chưa có được mứclương cũng như các hợp đồng chuyển nhượng cao như các VĐV chuyên nghiệp ở cácnước Mỹ và Châu Âu Nhưng hiện tại, Trung Quốc đang bắt dần kịp với mức lương

và hợp đồng chuyển nhượng như Mỹ và các nước Châu Âu

Mỹ: các đội tuyển thể thao chuyên nghiệp hoạt động dưới sự điều hành

của các liên đoàn Không có hệ thống quảng cáo và riêng biệt trong thể thao chuyênnghiệp Mỹ Các Liên đoàn thể thao cấp cao có quyền bầu cử Mỗi năm, có từ 30-32đội tuyển chơi trong Liên đoàn trừ khi họ chuyển đến thành phố khác hoặc Liên đoànkết nạp thêm thành viên mới

Tất cả các Liên đoàn thể thao Mỹ đều có lịch thi đấu giống nhau Sau khi kếtthúc mùa giải, thông thường, 8-16 đội tuyển có thành tích tốt nhất sẽ tham gia giảiđấu quyết định để giành chức vô địch Thể thao Mỹ, trừ Bóng đá, không có giảinào tương tự hoạt động đồng thời với các Liên đoàn thể thao châu Âu

Đối với thể thao Mỹ, các trận thi đấu quốc tế không được quan tâm nhiều bằngcác nước khác, mặc dù các giải hockey trên băng và bóng rổ đã thu hút được sựchú ý của đông đảo quần chúng Giải bóng chày quốc tế đầu tiên World BaseballClassic diễn ra năm 2006 với những vận động viên hàng đầu cũng thu được nhữngtín hiệu tích cực

Môn thể thao Bóng chày của Mỹ, hầu hết đội ngũ các VĐV được chọn lọc

và đầu tư thông qua hệ thống tuyển chọn nhân sự từ các Giải, các CLB nhà nghề cóquy mô nhỏ hơn, hoặc được ký hợp đồng sau khi tốt nghiệp THPT Với môn Bóng

rổ nhà nghề Mỹ, hầu hết các VĐV chuyên nghiệp đều được tuyển chọn và đầu tưngay từ khi còn đang thi đấu tại các CLB đại diện cho trường Đại học

Lương chi trả cho các VĐV tại các CLB chuyên nghiệp chính tại Mỹ

thường rất cao, theo thống kê năm 2008, trung bình vào khoảng 2,9 triệu la/năm, với mức lương thấp nhất cho các VĐV dự bị là 300.000 đô-la/năm và caonhất là 20 triệu đô-la/năm giành cho các siêu cầu thủ, các VĐV hạng siêu sao

đô-Liên đoàn Bóng bầu dục Mỹ và các CLB thi đấu ở Giải ngoại hạng có mức

Trang 37

chi trả cho nhân viên cao nhất, lên đến 128 triệu đô-la vào năm 2009 vừa qua Sovới mặt bằng chung của các Liên đoàn và CLB thì đây là một con số khổng lồ vàngoài sức tưởng tượng Bên cạnh đó, cũng làm cho các ông chủ và nhà quản lýCLB cảm thấy khá khó khăn trong việc hoàn thiện các khoản chi Vì vậy, trướcmùa giải 2011 bắt đầu, các ông bầu, nhà tài trợ và Liên đoàn Bóng bầu dục Mỹ đã kýmột bản quyết định với mức trần cao nhất cho lương các VĐV là 120 triệuđô-la/năm và mức sàn thấp nhất là 108 triệu đô-la/năm.

Trong khi đó, phương thức chi trả lương cho các VĐV của môn Bóng chày

tại Mỹ lại nằm trong khoản chia doanh thu sau mỗi mùa giải, tương ứng với

những thành tích mà CLB giành được Đặc biệt là, khoản hỗ trợ tài chính từ Chínhphủ giành cho Liên đoàn Bóng chày không có

Tuy nhiên, do sự hâm mộ và lưu tâm của người hâm mộ tới môn thể thaonày tại Mỹ là rất lớn, kết hợp với nhiều khoản đầu tư khác từ phía các hãngtruyền thông, nên nguồn kinh phí chi trả cho các VĐV, các quan chức quản lý trongCLB, các ông chủ CLB là một con số không hề khiêm tốn CLB Bóng chày New YorkYankees trong năm 2006 là CLB có số tiền chi trả cho VĐV cao nhất, với 194 triệu đô-la/năm, gần gấp đôi số lương mà Liên đoàn Bóng bầu dục được Chính phủ hỗ trợ

Canada: thể thao ở Canada rất phong phú và đa dạng Mặc dù ở Canada

có rất nhiều môn thể thao được ưa chuộng nhưng phổ biến nhất là Khúc côn cầu trênbăng, Lacrosse (bóng vợt), Bóng bầu dục Canada, Bóng đá, Bóng rổ, Curling vàBóng chày Ngoại trừ Curling và Bóng đá, tất cả các môn còn lại được coi là mônthể thao nội địa vì chúng hoặc được phát minh bởi người Canada hoặc có nguồn gốc

từ Canada

VĐV Canada được xếp hạng thế giới trong nhiều môn thể thao, ví dụ thểthao mùa đông gồm: Trượt tuyết trên núi, Trượt tuyết xuyên quốc gia, Trượt băngnghệ thuật, Trượt tuyết tự do, Quần vợt, Trượt băng tốc độ, Trượt ván tuyết, Bóngbầu dục 13 người và Điền kinh phối hợp trên băng (biathlon), Khúc côn cầu trênbăng lứa tuổi dưới 20 và dưới 18; Thể thao mùa hè gồm: Bóng đá, Điền kinh và hầu

Trang 38

hết các môn trong TVH mùa hè.

Canada có các liên đoàn thể thao cho hầu hết các môn thể thao Quỹ tài trợ chothể thao nghiệp dư được chính phủ, công ty tư nhân hoặc các cá nhân cung cấp thôngqua các hoạt động quyên góp

Quỹ tài trợ VĐV xuất sắc (AEF)

Quỹ tài trợ VĐV xuất sắc của UB Olympic Canada (COC) là chương trình hỗtrợ và trao thưởng cho các VĐV Canada dành huy chương tại TVH Olympic vớigiá trị giải thưởng là 20.000 đô-la Canada cho HCV, 15.000 đô-la Canada cho HCB

và 10.000 đô-la Canada cho HCĐ Quỹ cũng tài trợ kinh phí 5000 đô-la Canadatrong thời gian không có TVH

Sau TVH mùa đông 2010, COC đã trao thưởng tổng cộng 1,7 triệu đô-laCanada cho các VĐV có huy chương 26 huy chương là thành tích tốt nhất màCanada dành được trong lịch sử tham gia TVH mùa đông và 14 HCV mà Canadadành được cũng là một thành tích xuất sắc, do từ trước đến nay chưa nước nào đạtđược kết quả cao như vậy tại 1 kỳ TVH mùa đông

Quỹ tài trợ AEF trao thưởng lần đầu sau khi TVH 2008 kết thúc với tổng giátrị là 515.000 đô-la Canada cho 34 VĐV

Quỹ tài trợ AEF là sự phát triển của chương trình hỗ trợ ghi nhận thànhtích (PRSP) được đưa ra vào năm 2003 COC lần đầu giới thiệu về khái niệmchương trình trực tiếp hỗ trợ và khuyến khích VĐV với quỹ tài trợ VĐV (AthleteFund) năm 1997

Hội đồng VĐV đã phát triển tiêu chí cho quỹ tài trợ AEF mới và sau đó được

UB điều hành của COC phê duyệt Cụ thể, quỹ tài trợ AEF bao gồm:

*Tổng ngân sách của quỹ là 5.200.000 đô-la Canada từ 2009-2012 với ngânsách trung bình là 1,3 triệu đô-la Canada mỗi năm, gần gấp đôi chương trình PRSP

*Không giống như chương trình PRSP trước đó, các VĐV đã nghỉ hưu vẫn cóthể nhận tài trợ AEF dựa trên thành tích đã đạt được mà không cần thành tíchtrong tương lai

*Thông qua các Liên đoàn thể thao quốc gia để có thể xin tài trợ trong những

Trang 39

năm không có TVH.

Quỹ tài trợ sau chu kỳ 4 năm là:

Năm 1: VĐV trong Top 5 thế giới, 5000 đô-la Canada

Năm 2: VĐV trong Top 5 thế giới, 5000 đô-la Canada

Năm 3: VĐV trong Top 4 thế giới, 5000 đô-la Canada

Olympic: HCV: 20.000 đô-la Canada, HCB: 15.000 đô-la Canada,

HCĐ:10.000 đô-la Canada

Singapore: mặc dù không phải là một nước có thế mạng về thể thao

nhưng các vận động viên Singapore đã giành được nhiều thành tích cao tại các giảikhu vực và quốc tế, đặc biệt là Bóng bàn, Cầu lông, Cầu mây, Bowling, Đua thuyền,Pencak Silat, Bới lội và Bóng nước

Với những tiến bộ đạt được trong thể thao, thể thao chuyên nghiệp Singapore

đã có sự phát triển trên nhiều mặt, tạo ra những bước tiến lớn trong khoa học thể thao,huấn luyện, quản lý thể thao Tất cả những điều này đóng góp tích cực trong việc thúcđẩy sự thành công của thể thao Singapore Trong năm 2006, Singapore đã có nhiềuvận động viên đủ điều kiện tham gia nhiều sự kiện thể thao quốc tế và giành đượcnhiều huy chương tại các giải khu vực và quốc tế

Những thành tựu đó là kết quả trực tiếp từ những việc làm của Ủy ban thể thaoSingapore, Liên đoàn thể thao quốc gia, huấn luyện viên, vận động viên và cácchương trình mục tiêu hỗ trợ tài chính

Singapore từ lâu luôn có ngân sách rất dồi dào cho những người hùng thể thaocủa mình Họ là cường quốc thể thao ở khu vực nhưng chưa có tên trên bảng vàngOlympic, vì thế nếu VĐV nào đứng trên bục cao nhất sẽ nhận được số tiền khổng lồchừng 1 triệu đô la Singapore (750.000 USD, gần gấp 100 lần tiền thưởng HoàngXuân Vinh) Năm nay, hy vọng lớn nhất của quốc gia này tập trung vào kình ngưJoseph Schooling

Thái Lan: với mục tiêu dựa vào thể thao chuyên nghiệp Thái Lan phát

triển một cách toàn diện nhất ở khu vực Đông Nam Á và Châu Á Thái Lan đã đưa ra

9 định hướng cụ thể cho phát triển thể thao chuyên nghiệp của đất nước như sau [19]:

1 Tăng số lượng vận động viên đủ điều kiện và đạt tiêu chuẩn quốc tế lên ít

Trang 40

nhất 5%/năm.

2 Tăng số lượng vận động viên đạt huy chương vàng và tăng số lần phá kỷ lục

ở nhiều môn thể thao tại các giải đấu quốc tế

3 Có hệ thống luôn cung cấp sự hỗ trợ và thúc đẩy thể thao chuyên nghiệp

4 Cung cấp địa điểm và trang thiết bị thể thao đạt tiêu chuẩn quốc tế tại cácgiải đấu quốc tế và các giải thể thao chuyên nghiệp

5 Tham gia ít nhất 12 môn thể thao tại các giải đấu chuyên nghiệp

6 Tăng số lượng vận động viên ít nhất lên 2% mỗi năm và tăng lượng khángiả ít nhất 5% mỗi năm

7 Phân bổ doanh thu trên ngân sách cho thể thao chuyên nghiệp

8 Mạng lưới liên kết thể thao cung cấp hiệu quả và kết nối ở mọi cấp độ

9 Tăng sự hài lòng của người sử dụng lên ít nhất 3% mỗi năm

Thái Lan có chính sách khen thưởng cho VĐV đạt huy chương tại Olympic,VĐV cử tạ Sopita Tanasan sẽ nhận ngay 10 triệu baht (hơn 6 tỷ đồng) từ Quỹ Pháttriển thể thao quốc gia với chiến tích đoạt HCV Olympic 2016 Ngoài ra, cô sẽ nhậnthêm chừng 12 triệu baht nữa (hơn 7,2 tỷ đồng) từ các công ty tư nhân khác Quốc gianày luôn có chính sách tốt cho VĐV nếu đạt thành tích cao nhưng nhiều trường hợpkhông chi tiền thưởng một lần, mà trải dần trong 20 năm để họ đảm bảo cuộc sốngsau khi chia tay sự nghiệp

Trước khi đến với nghiệp thể thao, hầu hết mỗi người đều thấy được tố chất cósẵn của mình Ngoài niềm đam mê một số còn xem đến với thể thao để đem lại thunhập chính cho cuộc sống của bản thân và giúp đỡ gia đình Trải qua quá trình luyệntập, rèn giũa không ngừng nghỉ, những giọt mồ hôi, những giọt nước mắt, nhữngchấn thương đeo bám hay cuộc sống xa nhà có người bỏ cuộc, song cũng còn nhiềungười đã đến đích Họ có thể tự hào với những đồng lương xứng đáng bù đắp cho quátrình khổ ải mài giũa “tay nghề”

1.4.2.2 Thể thao chuyên nghiệp ở Việt Nam hiện nay [3]

Trong những năm qua, khái niệm về thể thao chuyên nghiệp, VĐV chuyênnghiệp hay giải đấu chuyên nghiệp đã được nhắc tới trong thể thao Việt Nam Ở một

số môn như Bóng đá, bóng chuyền đã và đang hoàn thiện các quy chế thể thao

Ngày đăng: 13/11/2018, 18:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w