1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NĂNG LƯỢNG VÀ MÔI TRƯỜNG TIỀM NĂNG CỦA CHẤT THẢI RẮN Ở BRAZIL

19 108 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 73,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MFC: microbial fuel cells (nhiên liệu tế bào vi sinh) AD: anaerobic digestion (phân hủy yếm khí ) HRT: hydraulic retention time (thời gian lưu nước ) OLR: organic loading rate (tỉ lệ tải trọng hữu cơ) SCWO: supercritical water oxidation (quá trình oxy hóa nước siêu tới hạn) SRT: sludge retention time (thời gian lưu bùn) AOP: advanced oxidation process (quá trình oxy hóa bậc cao ) USEPA: United States Environmental Protection Agency ( Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kì) WWTP: wastewater treatment plant (nhà máy xử lý nước thải)

Trang 1

Topic 1:

NĂNG LƯỢNG VÀ MÔI TRƯỜNG TIỀM

NĂNG CỦA CTR Ở BRAZIL Nhóm 21: Ngô Thị Ngọc Bích – 1022026

Phùng Thị Lý – 1022172

Nguyễn Thị Tường Vi - 1022375

Tóm tắt

Tiến bộ về kinh tế và phát triển bền vững có liên quan đến việc tối ưu hóa năng lượng

và bảo tồn năng lượng Phương thức sản xuất thông thường và việc sử dụng năng lượng

có tác động không tốt đối với môi trường, do đó thách thức đối với các nhà khoa học cần phải tìm ra cơ chế sản xuất năng lượng và sử dụng chúng mà ít gây hại đối với môi trường Các nghiên cứu chỉ ra rằng chất thải rắn của thành phố có tiềm năng năng lượng tuyệt vời về tái sử dụng nó, đặc biệt là sản xuất khí sinh học từ bãi chôn lấp và tái chế chất thải rắn hiện là một cơ chế ưu đãi để tối ưu hóa sử dụng năng lượng và bảo vệ nó Điều tra này bao gồm các khoản tiết kiệm năng lượng và tránh phát thải CO2 vào bầu không khí như một kết quả của việc tái chế và sản xuất khí sinh học từ bãi rác ở một đô thị với hơn 1 triệu dân ở Brazil Kết quả cho thấy tỷ lệ CH4 sinh ra từ các bãi chôn lấp chất thải của Brazil có thể tận dụng khoảng 41,7 MW và tái sử dụng vật liệu tái chế có thể tận dụng hệ thống năng lượng và thêm vào khoảng 286 GJ/tháng đủ cho việc tiêu thụ 318.000 gia đình

1 Giới thiệu

Phát triển năng lượng trong thế kỷ XX, tăng tiêu thụ năng lượng bình quân đầu người trên thế giới hơn mười lần so với mức tiêu thụ của người nguyên thủy Trong giai đoạn 1973-2006, nguồn cung cấp năng lượng của thế giới tăng từ 6115 Mtoe ( đơn vị tiêu thụ năng lượng tương đương với tấn dầu) đến 11.741 Mtoe, đó là trong thời hạn 33 năm được ghi nhận là tăng 92 Điều này cho thấy năng lượng đã trở thành một mặt hàng thiết yếu trong cuộc sống Rất khó để tưởng tượng cuộc sống không có điện, mặt khác tác động

Trang 2

môi trường của sản xuất và sử dụng năng lượng đã được che đậy Khí thải nhà kính, carbon dioxide (CO2) và mêtan (CH4) được phát thải bởi chính hoạt động của con người, mang lại hậu quả không thể thay đổi đối với nhân loại như trong báo cáo các tài liệu tiếp theo từ liên bang chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) kể từ năm 1990 (IPCC, 2007)

Sự gia tăng liên tục của sản xuất và tiêu thụ năng lượng và hậu quả của những tác động này đòi hỏi phải có một sự thay đổi về ý thức của toàn xã hội và nghiên cứu các phương tiện thay thế cho việc sử dụng và tái sử dụng nguồn năng lượng mới Chất thải rắn là 1ví dụ để tạo thành các nguồn năng lượng mới

Chất thải rắn là một sản phẩm từ hoạt động của con người, gây tác động tiêu cực với con người và môi trường khi xử lý không hợp lý Do số lượng phát sinh CTR liên tục gia tăng, đặc biệt là ở thủ đô và các trung tâm đô thị lớn, những thách thức đối với chính phủ

là giảm lượng chất thải tác động có hại cho cả sức khỏe và môi trường

Cơ chế của việc giảm những tác động này bao gồm hệ thống ủ chất thải rắn hữu cơ để sản xuất phân bón hữu cơ nhằm mục đích nông nghiệp, tái chế chất thải rắn như giấy, bìa các tông, kính và kim loại màu chuyển sang khu vực sản xuất để thay thế một phần nguyên liệu hoặc thay thế hoàn toàn, và cuối cùng là biến chất thải thành năng lượng, theo cơ chế phân hủy yếm khí chuyển đổi các chất hữu cơ lắng đọng trong bãi chôn lấp

để lấy CH4 cho sản xuất năng lượng

Khí bãi rác hoặc khí sinh học, bao gồm chủ yếu CH4 và CO2 được chứng minh là có nhiều ứng dụng hấp dẫn như trong sản xuất điện cho những vùng bị cô lập, thúc đẩy dịch

vụ công cộng như xe buýt và xe tải và nhiều ứng dụng đáng quan tâm khác Nhiều ví dụ

về cách làm này đã được xác nhận ở châu Âu, Mỹ và Canada(IPCC, 2007)

Trong năm 1994, Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (USEPA) đã thành lập Chương trình thu hồi khí mê-tan tại các bãi rác để khuyến khích việc thực hiện các dự án thu hồi khí bãi rác làm nguồn năng lượng tại Hoa Kỳ Chương trình xác định các bãi chôn lấp có tiềm năng tạo ra năng lượng với chi phí cạnh tranh và không có rào cản không cần thiết đối với các lĩnh vực khác nhau của chính phủ Sáng kiến này là một phần của kế hoạch biến đổi khí hậu Trong năm 2001, khí sinh học từ khoảng 950 bãi rác đã được sử dụng

Trang 3

Ở Brazil, khí sinh học từ bãi rác đang đc sử dụng với qui mô nhỏ Trong năm 1970, hai dự án đã được thực hiện Một cho các công ty khí của São Paulo (Comgas) và hai công ty khác ở Rio de Janeiro, State Gas Company and Municipal Urban Công ty đầu tiên phân phối khí từ bãi chôn lấp đến một khu dân cư gần đó Trong trường hợp công ty thứ hai dùng khí sinh học thu thập được, làm tinh khiết và tiêm vào trong hệ thống phân phối khí đốt cung cấp khí cho thành phố Rio de Janeiro Khoảng 1000 m3/ ngày đêm đã được đặt trong mạng lưới Trong năm 1985, khí đã trở thành nhiên liệu cho hạm đội của

150 xe tải thành phố và cũng cho một đội xe taxi Dự án này kéo dài 10 năm

Bên cạnh khí sinh học từ bãi rác, tái chế chất thải rắn cũng là một cơ chế tạo ra năng lượng và tiết kiệm nguyên vật liệu Nghiên cứu về đề tài này cho thấy tái chế là quá trình

mà khi áp dụng, xem xét các khía cạnh kỹ thuật và khoa học có thể có năng lượng đáng

kể và lợi ích về vấn đề môi trường

Trong ngành công nghiệp tái chế, chẳng hạn như tái chế giấy và các tông, nhựa, thủy tinh và kim loại thì được phân loại, xử lí, chuẩn bị và đưa lại vào dây chuyền sản xuất Điều này dẫn đến việc sử dụng ít hơn số lượng nguyên liệu trong lĩnh vực công nghiệp, giảm nước và năng lượng và do đó tránh được lượng khí thải CO2 vào khí quyển,tạo ra các công việc mới, tăng tuổi thọ hữu ích của các bãi chôn lấp, giảm chi phí cho xử lý chất thải trong khu vực lắng đọng và cuối cùng là hòa nhập xã hội cho công dân chưa đủ điều kiện làm việc

Bài viết này trình bày những đánh giá về tiết kiệm năng lượng bằng cách tái chế, lượng khí thải CO2 tương ứng mà không thải ra khí quyển cũng như số lượng CH4 và CO2 được tạo ra bởi sự phân hủy chất thải hữu cơ lắng đọng trong các bãi chôn lấp ở Brazil và một trong những thành phố lớn nhất nước,Sao Paulo, đó là thành phố Campinas Các tính toán cũng đã được mở rộng đến các khía cạnh kinh tế xã hội của việc tái chế

2 Chất thải rắn

Chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động như công nghiệp, khu dân cư, thương mại, khách sạn, nông nghiệp và các hoạt động tương tự là cấu tạo của vật chất hữu cơ phân hủy (thức ăn thừa, giấy ), các chất hữu cơ khó phân hủy (nhựa) và các chất vô cơ không

Trang 4

phân hủy (thủy tinh, kim loại và…) Các vật liệu này sau khi được đưa ra các môi trường xung quanh, có thể mất hàng trăm năm để phân hủy và tích lũy dẫn đến giảm thời gian hữu dụng của các bãi chôn lấp Ở một số nước phát triển như Nhật Bản, Thụy Điển, Bỉ và Đan Mạch, chỉ số tái sử dụng chất thải rắn là trên 90% Ở các nước trong khu vực châu Á

và châu Mỹ La tinh, không phải tất cả các chất thải rắn đều được thu gom và ở các nước đông dân như Trung Quốc và Ấn Độ và 1 số nước khác như Thổ Nhĩ Kỳ, Mexico và Brazil gần 90% chất thải rắn (mà phần lớn là hữu cơ) được xem là nguồn chủ yếu sản xuất ra CH4, ở bãi chôn lấp và bãi tự do giải phóng một lượng lớn các CO2 và CH4 vào bầu khí quyển

2.1 Chất thải rắn ở Brazil

Brazil là quốc gia lớn nhất ở châu Mỹ Latinh chiếm khoảng 50 % diện tích lãnh thổ của châu lục với dân số 194 triệu trong năm 2010, trong số đó 84% tập trung ở các khu vực đô thị Theo số liệu của Viện Địa lý và Thống kê Brazil, cả nước thu thập về khoảng228,5 x 103 tấn / ngày lượng chất thải rắn từ các khu dân cư và công nghiệp Số lượng này chiếm 95,3% chất thải rắn thu thập được trong nước , trong đó 95 % là từ bãi rác và bãi chôn lấp

Năm 2000, có 5993 bãi rác có thể nhận về mỗi ngày khoảng 48.600 tấn / ngày, có khoảng 84.600 tấn / ngày đã được xử lý từ 1868 ở các bãi chôn lấp có kiểm soát , khoảng 83.000 tấn / ngày từ 1452 các bãi chôn lấp hợp vệ sinh, và 2000 tấn/ngày tại các địa điểm không cố định , 1600 tấn / ngày tại các địa điểm không xác định, trong đó khoảng 1000 tấn / ngày đã được giao cho 325 lò đốt , 6500 tấn / ngày được đưa vào 260 nhà máy ủ phân và 2300 đã được gửi đến 596 nhà máy tái chế

Số lượng chất thải rắn được thu gom từ khu dân cư ở Brazil đại diện cho 55 % tổng số thu trong nước hoặc125x103 tấn / ngày hoặc giá trị trung bình 0,74 kg /ngày/ người Hầu như 77 % chất thải rắn khu dân cư này là chất hữu cơ và phần còn lại , 23% là chất vô

cơ Thông tin này được thu được từ IBGE ( Năm 2002 ) so với năm 2000, khi dân số của Brazil là 169 hàng triệu cư dân

Trang 5

2.1 Chất thải rắn : sản xuất và tái chế khí sinh học

Khí bãi rác được tạo ra từ chất thải hữu cơ trong các bãi chôn lấp bởi quá trình phân hủy yếm Theo ước tính, mỗi tấn chất thải rắn tạo ra khoảng 160 - 250 m3 khí sinh học, trong tỷ lệ khoảng 55 % CH4, 44 % CO2 và 1 % các khí khác Do đó , một tấn chất thải rắn đô thị sản xuất khoảng 88-138 m3 CH4 Do đó, người ta ước tính rằng 40.000.000-60.000.000 tấn CH4 được tạo ra hàng năm từ các bãi chôn lấp

Theo ước tính của tờ Humer và Lechner (1999) , một bãi rác đô thị đi vào hoạt động với độ dày 20m có một hệ số phát thải của khoảng 340 lít CH4 /m2/ ngày Ước tính việc sản xuất CH4 trong các bãi chôn lấp là khoảng 10,5 triệu tấn / năm Ước tính khác cho thấy lượng khí thải toàn cầu của CH4 trong các bãi chôn lấp là 60 triệu tấn / năm , trong

đó 15 % là do bãi chôn lấp ở Trung Quốc Các bãi chôn lấp có thể sản xuất khoảng 125

m3 CH4 mỗi tấn chất thải trong một khoảng thời gian 10-40 năm Theo Công ty Công nghệ Vệ sinh Môi trường , Cetesb (2001) ,lượng chất sinh ra này ở Brazil là 677 tấn / năm và chiếm khoảng 945 triệu m3/ năm

Nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng khí sinh học được sản xuất tại các bãi chôn lấp

có thể tạo ra lợi ích môi trường và lợi ích kinh tế từ nguồn năng lượng cho chính địa phương Lượng điện được ước tính là 300-500 MW từ chất thải rắn đô ở Brazil , mà tương ứng với 650.000 tấn CH4 mỗi năm Bởi phân hủy kị khí của chất thải rắn hữu cơ lắng đọng trong bãi chôn lấp, các CH4 được sản xuất( một loại khí nhà kính rất có hại , lớn hơn CO2 21 lần) sẽ không được phát tán vào không khí và có thể được chuyển đổi thành dạng carbon Ngoài ra nó có thể làm giảm đáng kể hoặc thậm chí tránh nguy cơ cháy nổ trong các bãi chôn lấp là do nồng độ cao của CH4 trong khí sinh học

Tái chế có thể được sử dụng như là một cách khác để tái sử dụng nguyên liệu và năng lượng liên quan đến việc tái chế chất thải ( giấy , bìa cứng, nhựa, thủy tinh và kim loại màu )

Sản xuất giấy trên thực tế là sợi cellulose ướt liên kết lại với nhau tạo thành những liên kết hydro khi sấy khô ở áp suất thấp Về cơ bản, tái chế giấy đảo ngược quá trình này bằng cách làm ướt, khuấy trộn và sau đó tách các sợi cellulose Giấy và các tông tái chế

Trang 6

có thể được lặp đi lặp lại nhiều nhất khoảng bốn lần Hiệu quả của tái chế là khoảng 85% Các chi tiết của quá trình tái chế của các sợi sẽ thay đổi theo các điều kiện thay thế của bột giấy Các chất thải bỏ như nước thải và bùn được tạo ra bởi quá trình tái chế được xử

lí và bỏ đi

Hầu hết các kính được chế tạo bằng một quá trình mà trong đó nguyên liệu được chuyển đổi ở nhiệt độ cao (1420-1600 độ C) để một tan chảy đồng nhất, sau đó hình thành nên sản phẩm Kính vụn thường được sử dụng như một loại vật liệu hàng loạt để tăng cường độ tan chảy thủy tinh và hạ thấp nhiệt độ cần thiết để làm tan chảy các nguyên liệu Thông thường các vật liệu tái chế có thể chiếm 70-80% của hỗn hợp, thủy tinh tái chế phải đi qua một quá trình phân loại thủ công, tiếp theo làm sạch và loại bỏ các chất thải kim loại, sau đó nghiền nát và làm nguyên liệu cho dây chuyền sản xuất để tạo thành hỗn hợp được nấu chảy

Thép thực chất là một hợp kim của sắt và cacbon, ít hơn 2% carbon Có ba loại lò chính được sử dụng trong sản xuất thép Các lò thổi ôxy cho thép tấm và sử dụng 25% thép phế liệu Các lò điện hồ quang và lò sưởi mở truyền thống sử dụng thép phế liệu gần như 100% Nhu cầu năng lượng cho ba quá trình sản xuất thép như dưới đây: Lò sưởi mở

¼ 14,24 MJ / tấn nguyên liệu Quá trình oxy cơ bản ¼ 14,42 MJ / tấn nguyên liệu Quá trình điện ¼ 5,99 MJ / tấn nguyên liệu Việc sử dụng các phế liệu cho sản xuất thép đem lại kết quả lớn trong việc giảm ô nhiễm không khí, sử dụng nước (tiết kiệm 40%), và chất thải khai thác mỏ và trong tiêu thụ năng lượng tổng ( thép tinh cần 36 GJ / tấn trong khi thép tái chế đòi hỏi chỉ có 18 GJ / tấn)

Nhựa được chế tạo từ dầu, khí thiên nhiên, than đá và muối, nguyên liệu cung cấp chủ yếu là dầu và được sản xuất bằng phương pháp trùng hợp Có nhiều cách chế biến đa dạng và các phương pháp tạo hình, nhưng các quá trình ép trồi và ép phun là phổ biến nhất Sau khi phân ly, nhựa có thể ở dạng cơ học hoặc hóa học tái chế (rất đắt tiền) Các

Trang 7

vật chất tái chế phải chịu được sự nung nóng dưới áp lực và được phun vào các khuôn mẫu

Ở các nước phát triển như Nhât bản, Mỹ và Đức tái chế được tách biệt và cung cấp chủ yếu bởi dân cư ở các địa phương cụ thể hoắc trên các lề đường cho việc thu gom Ở các nước đang phát triển như Brazil, quá trình chiếm ưu thế là lựa chọn chất thải thu gom

từ nhà ở

Các báo cáo về những trải nghiệm khác nhau của việc tái chế có sẵn trong các tài liệu

Ví dụ, ở Anh các chương trình tái chế là một trong những ưu tiên của chính phủ Bắt đầu với việc tiết lộ khối lượng và các chương trình tuyên truyền liên tục cùng với việc đánh giá liên tục của hệ thống tái chế là một trong những chiến lược để khuấy động sự tham gia của quần chúng Kết quả là trong 4 năm hiệu quả của hoạt động tái chế đã tăng từ 9%-13% Những trải nghiệm khác liên quan đến thu gom chọn lọc và tái chế ở các nước phát triển

Ở Bzaril, thu gom chọn lọc được thực hiện ở Thủ đô và các trung tâm đô thị lớn, nơi

mà việc thu gom được thực hiện bởi các dịch vụ công cộng, thu gom chất thải được tổ chức trong các hợp tác xã và thu gom chất thải không chính thức Các chất tái chế được tách theo từng loại của vật chất, nén chặt, đóng gói và thành phẩm Để điều tra những tác động của các chất thải rắn hoạt động, thành phố Capinas đã được lựa chọn như một ví dụ cho việc phân tích hiện tại

2.2 Chất thải rắn ở Campinas

Campinas là đô thị thứ 3 của bang Sao Paulo (Brazil), cả trong khu dân cư và hộ gia đình cũng phát sinh chất thải rắn Các hệ thống thu gom công cộng bao gồm 100% các khu vực đô thị với sự ủng hộ của 98% hộ gia đình theo thống kê của chính quyền đô thị Theo quá trình đánh giá đặc tính được thực hiện bởi các cơ quan đô thị chịu trách nhiệm về dịch vụ này, các thành phần chất thải rắn ở hộ gia đình là 66% chất hữu cơ và 34% chất vô cơ Từ đó người ta có thể tìm thấy các vật liệu có thể tái chế lên tới 41% Chương trình thu gom chọn lọc được khởi xướng vào năm 1991 và năm 2005, thu gom vật liệu tái chế đã được thực hiện bởi 2 hệ thống Hệ thống đầu tiên chiếm ưu thế là thu gom tại nhà ở Hỗn hợp tái chế được thu nhận từ bên ngoài các ngôi nhà ở khu dân cư

Trang 8

sau đó hỗn hợp tái chế được thu gom bởi các xe tải nén Trong hệ thống thu gom với ưu điểm là thu gom tập trung, thu gom chọn lọc được thực hiện tại khu công cộng lớn và nguồn sinh chất thải từ các khu tư nhân như trường học, khu mua sắm, công viên, khu dân cư…vv Dịch vụ thu gom ở khu dân cư được thực hiện bởi một hợp đồng của công ty

tư nhân Công ty này cũng nhận ra được hôn hợp thu gom chất thải rắn thông thường Trong hệ thống thu gom tập trung, việc thu gom được thực hiện bởi bộ phận dịch vụ đô thị với sự có mặt của các chất thải rắn lớn được phát hiện

Dân số của Campinas là 1.039237 dân, ước tính các chất tái chế mỗi ngày trên đầu người là khoảng 0,26 kg/ngày Trong năm 2005, tổng số các thu gom thông thường và chọn lọc chất thải rắn là 655tấn/ngày

3 Phương pháp phân tích

Để đánh giá năng lượng, môi trường và lợi ích KTXH có thể thu đc từ chất thải rắn ở Brazil, các phân tích đã được tiến hành như sau:

1 Năng lượng và đánh giá môi trường của các chất thải hữu cơ được đưa đến các bãi rác ở Campinas và Brazil

2 Năng lượng và đánh giá môi trường tái chế tại Campinas và Brazil

3 Tính chất xã hội và đánh giá tiềm năng kinh tế của việc tái chế ở Campinas và Brazil

Để ước tính lượng khí có thể sinh ra từ các bãi chôn lấp chất thải rắn ở Brazil được cân nhắc khoảng 46% và 52% tổng số CTR lắng và CTR hữu cơ từ Campinas và Brazil, tương ứng Dựa trên các giá trị đó có thể tính toán tỉ lệ khí sinh ra thông qua giá trị CH4

sinh ra có sẵn trong các tài liệu Khi biết được giá trị năng lượng của CH4 và các thành phần khí, từ đó có thể tính toán tổng số năng lượng có thể tạo ra và đương lượng CO2

không thải ra khí quyển

Đánh giá năng lượng và phát sinh khí hiệu quả trong việc sử dụng tái chế đã được thực hiện bởi các dữ liệu liên quan đến việc thu gom chọn lọc ở Campinas, được thực hiện bởi các dịch vụ công cộng và các đơn vị hợp tác của bộ phận thu gom chất thải Theo phân tích đặc tính trọng lực thực hiện bởi các PMC(1996), số lượng có thể tái chế chứa trong tổng số CTR thu gom được khoảng 41%

Trang 9

Thu gom chọn lọc bao gồm các vật kiệu tái chế và các vật chất khác mà không tái chế được hoặc thậm chí bị ô nhiễm sau quá trình phân loại và đc thải bỏ Sự thiếu hiểu biết về địa chỉ chính thức của chương trình tái chế, quá trình phân tích tái chế và những gì có thể

đc tái chế là một trong những yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự biến đổi của các mục bị loại bỏ

Khu dân cư thường phân loại khi tái chế bao gồm thức ăn thừa, lon bẩn, chai và các vật liệu khác gây ô nhiễm tái chế Sự thay đổi của các loại này có thể là do văn hóa, tập quán, nhận thức về môi trường xung quanh

Các loại vật chất tái chế bị thải bỏ được tính toán khoảng 21,7% dựa trên các dữ liệu ở Campinas Việc thu thập CTR có ích được sử dụng để tính toán năng lượng và phát thải tương ứng bằng cách sử dụng năng lượng được lưu bởi Hekkert và cộng sự Trong tính toán của chúng tôi, chúng tôi sử dụng giá trị năng lượng giảm đã lưu được sử dụng trong việc vận chuyển thu gom CTR có thể tái chế

Trong các tính toán tại Brazil, CTR dân cư đô thị thực tế thu được dựa trên việc điều tra dân số cuối năm 2000 Sau đó sử dụng các mục tính toán thải bỏ trước đó để tính toán các CTR hữu ích thực tế thu được Lượng tái chế trong các khu dân cư thu được là 31% lượng CTR theo chính quyền Brazil điều tra dân số năm 2000

Tái chế các vật chất thải sau khi thu gom đều được sắp xếp riêng biệt theo từng loại sau đó được xử lý bằng các phương pháp đặc biệt và phương pháp kĩ thuật( cơ học, hóa học), chúng biến đổi về hiệu quả và năng lượng theo sự cần thiết, và các công nghệ có sẵn tại thời điểm và địa phương.Qúa trình xử lý vật liệu tái chế là phù hợp và được chuẩn

bị để giới thiệu trong các dây truyền sản xuất để thay thế hoặc như một sự kết hợp

Trong nghiên cứu này việc tính toán tiết kiệm năng lượng cho từng vật liệu tái chế dựa trên dữ liệu từ McDougall và cộng sự, (2001) và Hekkert và cộng sự (2000a, b) Như một sự thay đổi chúng tôi đã loại bỏ việc sử dụng năng lượng cho việc vận chuyển thu gom chọn lọc từ các giá trị năng lượng của họ Một sự thay đổi khác liên quan đến các năng lượng đã lưu trên thực tế của từng loại vật chất có thể tái chế Năng lượng đã lưu của một loại vật liệu tái chế là khác nhau giữa năng lượng tiêu thụ khi sử dụng vật liệu thô và khi sử dụng vật liệu tái chế

Trang 10

Giá trị năng lượng đã lưu được tính toán xem xét các thành phần của hỗn hợp tái chế

và giá trị năng lượng lưu lại cho từng loại có thể tái chế Băng cách này có thể tính toán giá trị năng lượng trung bình lưu lại cho hỗn hợp như là giá trị tải trọng trung bình sử dụng trong phân tích hiện tại

Từ kết quả tính toán và không sử dụng CTR có thể tính toán năng lượng và ngăn ngừa phát thải của CO2 ở Campinas và Brazil

Ước tính lợi ích kinh tế xã hội của tái chế trên các dự liệu tái chế ở Campinas và Brazil đã được sử dụng để tính toán lợi ích tài chính bằng cách sử dụng giá phổ biến trên thị trường Những con số trong việc thu gom chất thải bao gồm cả trong thị trường công việc hay xã hội được đánh giá dựa trên mức lương tối thiểu ở Brazil và số lượng gia đình tài trợ có thể được tạo ra dựa trên giá trị chính thực của các cấp

Các dữ liệu thu thập bao gồm các thông tin khác sau đây:

 Lượng tái chế thu được

 Lượng vật chất bị loại bỏ trong qúa trình thu gom chọn lọc

 Tổng số nhiên liệu tiêu thụ của xe tải thu gom và giá trị thương mại của 1 tấn vật liệu tái chế

Những thông tin được sử dụng để tính toán các thông số :

 Lượng tái chế thu gom trong mỗi km

 Chỉ số loại bỏ của tái chế thu gom

 Năng lượng sơ cấp tiết kiệm đc do việc sd vật liệu tái chế trong các ngành công nghiệp

 Lượng khí thải CO2 tránh được do tiết kiệm năng lượng (CO2) và lợi ích tài chính do thương mại hóa các vật liệu tái chế thu gom được

4 Kết quả và thảo luận

Như đã nói ở trên các chất hữu cơ tích tụ ở các bãi chôn lấp ở Brazil được đánh giá từ năng lượng và quan điểm môi trường

4.1 Chuyển hóa chất thải thành năng lượng ở bãi chôn lấp

Như đã đề cập trước đó là hơn 95% chất thải thu gom được là Destinated tới bãi rác

Ngày đăng: 13/11/2018, 16:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w