3. Phương pháp quan sát Đối tượng nghiên cứu: trẻ. Địa điểm: Trường mầm non Hà An, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Số lượng: 20 trẻ Mục đích: quan sát sự hứng thú của trẻ, quan sát hoạt động của giáo viên đối với trẻ 45 tuổi nhằm tìm hiểu những biện pháp tích cực nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 4 5 tuổi. 4. Phương pháp đàm thoại Đối tượng nghiên cứu: trẻ. Địa điểm: Trường mầm non Hà An, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Số lượng: 20 trẻ. Mục đích: đàm thoại với giáo viên về sự nhận thức của trẻ, những khó khăn khi thực hiện. 5. Pương pháp tổng kết kinh nhiệm Địa điểm: Trường mầm non Hà An, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh Mục đích: nhận xét rút kinh nghiệm. 6. Phương pháp thực nghiệm Đối tượng nghiên cứu: trẻ.
Trang 1Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm lớpmẫu giáo 4 tuổi trường mầm non Hà An đã tạo điều kiện thuận lợi để emhoàn thành bài tập tốt nghiệp này.
Tôi cũng xin cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân và tập thể lớp Mầm NonK9A đã quan tâm, giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong quá trình học tập vànghiên cứu
Quảng Yên , ngµy 1 th¸ng 08 n¨m 2014
Tác giả
Bùi Thị Hạnh
Trang 2MỤC LỤC
A Phần mở đầu
I Lý do chọn đề tài
II Mục đích nghiên cứu
III Nhiệm vụ nghiên cứu
IV Phương pháp nghiên cứu
B Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Khảo sát thực trạng việc phát triển vốn danh từ cho trẻ mẫu giáo nhỡ
thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh chủ đề thế giới thực vật
Chương 3: Đề xuất các biện pháp phát triển vốn danh từ cho trẻ mẫu giáo nhỡ
thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh chủ đề thế giới thực vật
C Phần kết luận
D Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 3A PHẦN MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
- Chăm sóc giáo dục mầm non hiện nay đây là vấn đề mà cả xã hội quantâm, là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trongquá trình chăm lo đào tạo bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành chủ nhân tương lai củađất nước Giáo dục mẫu giáo là khâu đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân
là mảnh đất thuận lợi cho việc hình thành nhân cách con người mới Chính vìthế mà lúc sinh thời Bác Hồ đã dạy:
“ Vì lợi ích mười năm phải trồng cây
Vì lợi ích trăm năm phải trồng người ”
Sự nghiệp trồng người là trách nhiệm chung của toàn xã hội, trong đó giáo dục đào tạo là then chốt Chính vì vậy Đảng và nhà nước ta có những
đường lối chính sách ưu tiên cho giáo dục phát triển Đặc biệt trong nghị quyết trung ương II, đã chỉ rõ mục tiêu của giáo dục đào tạo là: “ Nâng cao dân trí, đàotạo nhân tài ” để đáp ứng được yêu cầu Xây dựng nền kinh tế nước nhà trong giai đoạn công nghiệp hóa- hiện đại hóa trong hệ thống giáo dục quốc dân, hệ thống giáo dục mầm non, có vai trò đặc biệt quan trọng đó là nền tảng, là cơ sở giáo dục các bậc học, là lớp học đầu tiên trong cuộc đời đi học của trẻ đòi hỏi phải công phu để trẻ có tâm thế vững vàng Chính vì vậy mục đích của giáo viênmầm non nhằm hình thành ở trẻ những cơ sở ban đầu của nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam, như sự khỏe mạnh nhanh nhẹn, cơ thể phát triểnhài hòa cân đối, giáo dục trẻ lòng yêu thương, biết quan tâm nhường nhịn nhữngngười gần gũi xung quanh mình, thật thà, lễ phép, mạnh dạn tự tin, hồn nhiên, trẻ biết yêu cái đẹp trong cuộc sống Từ đó giáo dục trẻ lòng nhân ái, tính vị tha, giúp đỡ người khác khi gặp khó khăn
- Do vậy nhiệm vụ của trường mầm non là chăm sóc giáo dục trẻ phát triển toàn diện để trẻ có đủ thể lực, đủ trí tuệ trong học trường phổ thông, một trong những tiền đề để trẻ phát triển nhân cách toàn diện về mọi mặt dặt nền móng cho sự phát triển trí tuệ, năng lực phẩm chất, nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa trong đó ngôn ngữ là mấu chốt
Trang 4- Việc phát triển ngôn ngữ ở trường mầm non được tích hợp trong các
hoạt động và trong những tiền đề để trẻ hoạt động đem lại hiệu quả cao cho trẻ
phát triển ngôn ngữ là hoạt động làm quen với môi trường xung quanh chính vì thế mà em chọn đề tài “ Một số biện pháp phát triển vốn danh từ cho trẻ mẫu
giáo nhỡ qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh chủ đề thế giới
thực vật ”
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Để tìm ra những biện pháp thích hợp để phát triển vốn từ cho trẻ nhằm giúp trẻ phát
triển ngôn ngữ thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh
III NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài
Tổng hợp các tư liệu có liên quan đến đề tài, đề cập đến một số vấn đề cốt lõi
về phát triển vốn danh từ qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh về thế giới thực vật cho trẻ 4-5 tuổi
2 Nghiên cứu thực trạng việc phát triển vốn danh từ cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh
3 Đề xuất một số biện pháp phát triển vốn danh từ cho trẻ mầu giáo nhỡ qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh về thế giới thực vật
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Phương pháp đọc tài liệu và xử lí thông tin
Chúng tôi nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài và sử dụng các phươngpháp như: phân tích, so sánh, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa để làm rõvấn đề nghiên cứu, để tìm hiểu các khía cạnh, xác định các thành phần trong cấutrúc của thông tin đó, để tìm ra những đặc điểm riêng biệt của nó, đồng thời lĩnhhội những nhân tố tích cực, chỉ ra được các biện pháp tích cực nhằm phát triểnvốn từ cho trẻ 4- 5 tuổi
2 Sử dụng phương pháp điều tra
- Tôi tiến hành điều tra đối tượng là giáo viên mầm non và trẻ mầm non
- Địa điểm: lớp mẫu giáo 4 tuổi A1 trường mầm non Hà An, thị xã Quảng Yên,tỉnh Quảng Ninh
Trang 5- Số lượng: 20 trẻ.
- Thời gian: từ ngày 9/9 đến ngày 9/11 năm 2013
- Mục đích: Điều tra để làm rõ nhận thức, tổ chức hoạt động giáo dục mầm non
3 Phương pháp quan sát
- Đối tượng nghiên cứu: trẻ
- Địa điểm: Trường mầm non Hà An, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
- Số lượng: 20 trẻ
- Mục đích: quan sát sự hứng thú của trẻ, quan sát hoạt động của giáo viên đốivới trẻ 4-5 tuổi nhằm tìm hiểu những biện pháp tích cực nhằm phát triển vốn từcho trẻ 4- 5 tuổi
4 Phương pháp đàm thoại
- Đối tượng nghiên cứu: trẻ
- Địa điểm: Trường mầm non Hà An, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
- Số lượng: 20 trẻ
- Mục đích: đàm thoại với giáo viên về sự nhận thức của trẻ, những khó khănkhi thực hiện
5 Pương pháp tổng kết kinh nhiệm
- Địa điểm: Trường mầm non Hà An, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
- Mục đích: nhận xét rút kinh nghiệm
6 Phương pháp thực nghiệm
- Đối tượng nghiên cứu: trẻ
- Địa điểm: Trường mầm non Hà An, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
Trang 6B PHẦN NỘI DUNG
Chương I Cơ sở lí luận của đề tài
I Cơ sở sinh lí
1 Sự phát triển của bán cầu đại não liên quan đến việc phát triển ngôn ngữ
Cho tới lúc ra đời, não bộ của trẻ vẫn chưa được phát triển đầy đủ, mặc dùhình thái và cấu tạo giải phẫu của nó không khác với não người lớn là mấy Nó
có kích thước nhỏ hơn và trọng lượng khoảng 370- 392 g Trọng lượng của nãotăng lên mạnh mẽ trong 9 năm đầu tiên Lớp trong của não bộ phát triển chậm sovới lớp vỏ ngoài, chính sự phát triển quá mạnh đó của lớp vỏ tạo thànhnhuwngxneeps nhăn, những rãnh trên vỏ não
Một đặc điểm phát triển của vỏ não là sự phát triển của dduwwongf dẫntruyền diễn ra rất mạnh mẽ theo sự tăng lên của tuổi
Sự myêlin hóa các sợi thần kinh là một giai đoạn phát triển quan trọng củanão bộ Quá trình này có một ý nghĩa sinh học to lớn, bởi nó góp phần làm chohưng phấn được truyền đi một cách riêng biệt theo các sợi thần kinh, do đó hưngphấn đi đến vỏ não một cách chính xác hơn, làm cho hoạt động của đứa trẻ đượchoàn thiện hơn
Não của trẻ em được lập trình sẵn về mặt di truyền với các quá trình cần thiếtcho việc học tập và đặc biệt là học tập ngôn ngữ Thông qua ngôn ngữ, trẻ cũngbiết gì nên, không nên, từ đó sẽ dần hình thành ở trẻ những khái niệm ban đầu
về đạo đức Khi não xử lý nhiều thông tin ngôn ngữ nhập vào hơn, não sex trởthành một bộ xử lý ngôn ngữ có kỹ năng và hiệu quả hơn
2 Sự phát triển của bộ máy phát âm
Mỗi người sinh ra đã có sẵn bộ máy phát âm, đó là tiền đề vật chất để sản sinh
âm thanh ngôn ngữ Nó là một trong những điều kiện vạt chất quan trọng nhất
mà thiếu nó không thể có ngôn ngữ, nếu như trong cấu tạo của nó có khiếmkhuyết nào đó ( chẳng hạn như hở hàm ếch, lưỡi ngắn, sứt môi 0nthif việc hìnhthành lời nói cũng hết sức khó khăn
Khi sinh ra, mỗi con người không phải đã có ngay bộ máy phát âm hoànchỉnh Chính lứa tuổi mầm non là giai đoạn hoàn thiện dần bộ máy đó: sự xuất
Trang 7hiện và hoàn thiện dần của hai hàm răng, sự vận động của môi, lưỡi, của hàmdưới Quá trình đó diễn ra tự nhiên theo các quy luật sinh học Tuy nhiên, bộmáy phát âm hoàn chỉnh mới chỉ là tiền đề vật chất Cùng với thời gian, quátrình học tập, rèn luyện một cách có hệ thống sẽ làm cho bộ máy phát âm đápứng được nhu cầu thực hiện các chuẩn mực âm thanh ngôn ngữ.
Rèn luyện bộ máy phát âm: phát triển sự linh hoạt của lưỡi, lưỡi có thểchuyển động, phối hợp nhịp nhàng với các bộ phận khác như: răng, môi,ngạc, phát triển sự linh hoạt của môi ( kéo môi về phía trước, làm tròn môi,giãn môi, mím môi, tạo khe hở giữa môi và răng, ) phát triển kĩ năng làm chohàm dưới trong tư thế xác định phù hợp
II Cơ sở tâm lí
1 Đặc điểm tư duy của trẻ mẫu giáo nhỡ
- Đầu tuổi mẫu giáo, trẻ đã biết tư duy bằng những hình ảnh trong đầu,nhưng do biểu tượng cong nghèo nàn và tư duy mới được chuyển từ bìnhdiện bên ngoài vào bìn diện bên trong nên trẻ mới chỉ giải được một số bàitoán đơn giản theo kiểu tư duy trực quan hình tượng Cùng với sự hoàn thiệnhoạt động vui chơi và sự phát triển các hoạt động khác như kể chuyện, đichơi, dạo chơi, vốn biểu tượng của trẻ mẫu giáo nhỡ được giàu lên thêm rấtnhiều, chức năng kí hiệu phát triển mạnh, lòng ham hiểu biết và hứng thútăng lên rõ rệt Đó là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tư duy trực quan –hình tượng, đây cũng là thời điểm kiểu tư duy đó phát triển mạnh mẽ nhất
- Trẻ bắt đầu đề ra cho mình những bài toán nhận thức, tìm tòi cách giải thíchnhững hiện tượng mà mình nhìn thấy được Trẻ thường thực nghiệm, chămchú quan sát các hiện tượng và suy nghĩ về những hiện tượng đó để rút ra kếtluận
- Phần lớn ở trẻ mẫu giáo nhỡ đã có khả năng suy luận Trẻ có khả năng giảicác bài toán bằng các phép thử ngầm trong óc, dựa vào các biểu tượng, kiểu
tư duy trực quan hình tượng bắt đầu chiếm ưu thế
- Tư duy trực quan- hình tượng phát triển mạnh cho phép trẻ em ở độ tuổimẫu giáo nhỡ giải được nhiều bài toán thực tiễn mà trẻ thường gặp trong đời
Trang 8sống Tuy vậy, vì chưa có khả năng tư duy trừu tượng nên trẻ chỉ mới dựavào những biểu tượng đã có, những kinh nghiệm đã trải qua để suy luận ranhững vấn đề mới Do vậy nhiều trường hợp chỉ dừng lại ở các hiện tượngbên ngoài mà chưa đi được vào bản chất bên trong.
2 Khả năng chú ý và ghi nhớ của trẻ mẫu giáo nhỡ.
- Trẻ mẫu giáo 4- 5 tuổi, sự chú ý phát triển mạnh Nhưng sự thay đổi cơ bản
của chú ý ở lứa tuổi này là ở chỗ trẻ bắt đầu biết điều khiển chú ý của mình,biết tự giác hướng chú ý của mình vào đối tượng nhất định, có nghĩa là chú ý
có chủ định bắt đầu hình thành ở tuổi mẫu giáo nhỡ
- Chú ý có chủ định gắn liền với hành động có mục đích , với ngôn ngữ.
- Ở lứa tuổi này chú ý có chủ đã được hình thành nhưng chú ý không chủ
định vẫn chiếm ưu thế
- Trẻ mẫu giáo nhỡ trí nhớ không chủ định vẫn chiếm ưu thế, ở lứa tuổi này,
tài liệu trực quan được ghi nhớ tốt hơn nhiều so với tài liệu chỉ bằng ngônngữ Đến độ tuổi này trí nhớ ngôn ngữ cũng tăng một cách đáng kể, với tốc
độ có khi nhanh hơn cả trí nhớ trực quan,
- Bên cạnh trí nhớ không chủ định, vào tuổi mẫu giáo nhỡ ghi nhớ có chủ
định bắt đầu hình thành Có những thay đổi đó là vì điều kiện hoạt động phứctạp hơn, người lớn yêu cầu cao hơn, buộc trẻ không những định hướng vàohiện tại mà cả vào quá khứ và tương lai nữa
III Cơ sở giáo dục học
1 Nói về quan điểm giáo dục hiện đại
- Quan điểm giáo dục hiện đại hướng tới quan điểm “ Lấy trẻ làm trung tâm ”hay còn gọi là xu hướng giáo dục “ hướng vào đứa trẻ ”, “ vì lợi ích củachính bản thân đứa trẻ ”
Trẻ em vừa là sản phẩm vừa là chủ thể của hoạt động Những kinh nghiệm,tri thức của trẻ phải là sản phẩm của chính hành động trực tiếp của trẻ vớimôi trường xung quanh Tính tích cực là một phẩm chất quan trọng của nhâncách, có vai trò quyết định đến hiệu quả hoạt động của con người nói chung
và trẻ mẫu giáo nói riêng
Trang 9Hứng thú và nhu cầu là nguồn gốc bên trong của tính tích cực, là động lựcthúc đẩy con người hoạt động Trong quá trình giáo dục, người lớn phải chú
ý đến trẻ, hướng vào đứa trẻ, phải lấy trẻ làm trung tâm, vì sự phát triển củachính đứa trẻ, tạo điều kiện cho chúng tích cực hoạt động
Mọi tác động giáo dục muốn có hiệu quả cần phải chú ý đến biện pháp giáodục phù hợp với từng đứa trẻ, giúp cho mỗi đứa trẻ trở thành chính nó, tránhlối giáo dục đồng loạt Trẻ em chính là một chủ thể tích cực trong hoạt độngnhưng chúng rất cần đến sự giúp đỡ và hợp tác của cô giáo, của bạn bè
Khi tổ chức cho trẻ hoạt động, nhà giáo dục không áp đặt trẻ theo ý muốnchủ quan của họ mà luôn luôn cho trẻ tự do chọn góc chơi, tự do hoạt độngtheo nhu cầu hứng thú của mình Tạo cơ hội, điều kiện cho trẻ được trảinghiệm, được thực hành, được chia sẻ, được khám phá mình trong thế giớimuôn hình muôn vẻ xung quanh chúng
Nhà giáo dục với tư cách là “ thang đỡ ”, là “ điểm tựa ” của trẻ, trong quátrình giáo dục trẻ, giáo viên quan tâm đến dòng suy nghĩ của trẻ hơn là nhữngđiều trẻ hiểu biết Họ quan tâm đến cách dạy trẻ học như thế nào hơn là chotrẻ học cái gì Họ tạo điều kiện, cơ hội cho trẻ tích cực hoạt động, kích thích
óc sáng tạo của trẻ trong các hoạt động của chúng ở trường mầm non
Việc lấy trẻ là trung tâm, luôn luôn coi trẻ là chủ thể tích cực trong mọihoạt động của chúng và nhà giáo dục tạo điều kiện, cơ hội thuận lợi cho trẻbộc lộ tính tự lập, tự quyết định làm những điều chúng muốn, chúng thích vàchúng nghĩ là một nguyên tắc cơ bản mang tính định hướng quan trọng tronggiáo dục mầm non
Theo “ Lí thuyết hoạt động ” của Leeonchep thì nhân cách của con người,trong đó có trẻ em mầm non chỉ hình thành trong hoạt động và thông quahoạt động Sự phát triển của trẻ em là một quá trình liên tục, trải qua nhiềugiai đoạn khác nhau và mỗi giai đoạn lại có một hoạt động chủ đạo mang nétđặc thù riêng ở lứa đó Thông qua hoạt động chủ đạo để giáo dục và pháttriển toàn diện cả về thể chất, tinh thần và trí tuệ của trẻ
Trang 10Chỉ trong quá trình hoạt động tích cực thì trẻ mới có thể hiểu được và hiểuđúng những quy luật của thế giới xung quanh và trên cơ sở đó mới có thểbiến đổi và cải tạo nó Quá trình giáo dục trẻ không thể tồn tại nếu thiếu tínhtích cực của chính bản thân trẻ mà tính tích cực này của trẻ là do nhà giáodục tạo ra Chỉ ở trong đều kiện như vậy, trẻ mới có thể chiếm lĩnh được trithức mới và nắm được các kĩ năng mới, phát triển được các năng lực vàphẩm chất tâm lí cá nhân.
Quan điểm của giáo dục mầm non của nước ta cũng rất quan trọng nguyêntắc “ lấy trẻ làm trung tâm ” trong quá trình giáo dục và phát huy tính tíchcực của trẻ trong hoạt động, coi đó là điều kiện bắt buộc trong đổi mới giáodục mầm non hiện nay Nhấn mạnh quá trình chăm sóc – giáo dục phảihướng vào đứa trẻ, giáo dục phải xuất phát từ nhu cầu, hứng thú của trẻ, nhàgiáo dục không được áp đặt trẻ theo ý muốn chủ quan của mình, đứa trẻ phảiđược coi là chủ thể tích cực trong các hoạt động của chúng còn giáo viên giữvai trò là “ điểm tựa ”, là người tổ chức hướng dẫn, tạo cơ hội, điều kiệnthuận lợi cho trẻ trong các hoạt động của hchungs trong trường mầm non
2 Vấn đề giáo dục tích hợp ở trường mầm non
Trường mầm non cần phải là nơi đào tạo và đảm bảo cho những giá trịquan trọng của xã hội, cần phải phát triển những năng lực của Giáo viênkhông chỉ có chức năng truyền thụ kiến thức và thông tin cho trẻ em học màphải là người giúp đỡ và dạy cho trẻ em biết sử dụng vốn kiến thức, kinhnghiệm của mình vào những tình huống có ý nghĩa đối với chúng
Ngày nay, trong giáo dục mầm non, vấn đề cần hay không cần tích hợp cácmôn học cũng như các hoạt động giáo dục trẻ không đặt ra nữa mà hiểnnhiên đã được khẳng định chắc chắn rằng, cần tích hợp các “ tiết học ”, cáchoạt động của trẻ với nhau Xu hướng tiếp cận tích hợp trong giáo dục mầmnon cũng xuất phát từ nhận thức thế giới tự nhien- xã hội con người nóichung và trẻ ở lứa tuổi mầm non nói riêng là một tổng thể thống nhất Trẻđược phát triển trong hoạt động và chỉ thông qua hoạt động mà hoạt động
Trang 11nào cũng liên quan đến nhiều lĩnh vực kiến thức, kỹ năng Vì thế mà cầnphải cung cấp cho trẻ những kiến thức, kinh nghiệm sống một cách tổng thể.
Có nhiều cách tích hợp trong giáo dục mầm non và một trong những cách
đó là tích hợp theo chủ đề Cách tiếp cận này xoay quanh một “ môn học ”hoặc một hoạt động “ công cụ ”, “ môn học ” hoặc hoạt động này có đặcđiểm là chỉ có một phần nội dung là đặc thù nhưng lại có thể nhận nhữngmôn khác làm nội dung của mình Ví dụ như hoạt động với đồ vật là hoạtđộng chủ đạo của trẻ lứa tuổi ấu nhi và hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo
có thể trở thành hoạt động chính để tích hợp, lồng ghép và đan cài các hoạtđộng khác của trẻ theo các chủ đề gần gũi với cuộc sống thực của chúng.Tích hợp, lồng ghép, đan cài nội dung đó thông qua các hoạt động giáo dục
đa dạng, phong phú và tạo điều kiện cho trẻ vận dụng những điều đã biết vàonhững hoàn cảnh mới, tình huống mới, tạo cơ hội cho trẻ phát huy tính độclập, chủ động và sáng tạo trong hoạt động thực tiễn của mình
Giáo dục tích hợp đòi hỏi cô giáo quan tâm đến tiềm năng phát triển củađứa trẻ hơn là tạo ra cơ hội tương ứng với mức độ phát triển hiện tại củachúng Cô giáo nâng đỡ trẻ bằng cách giảm dần mức độ trợ giúp khi trẻ cókhả năng hơn trong việc tự điều khiển hoạt động của mình
Giáo dục tích hợp theo chủ đề dựa trên quan điểm tiến bộ lấy trẻ làm trungtâm, khai thác tiềm năng vốn có của trẻ, dựa vào các đặc điểm cá nhân, phùhợp với hứng thú, nguyện vọng và năng khiếu trên tinh thần tự do, tựnguyện, chủ động tích cực tham gia vào hoạt động của đứa trẻ, giáo viên giữvai trò là người tổ chức hướng dẫn, giúp đỡ trẻ trong những lúc cần thiết, kịpthời động viên khích lệ trẻ
Giáo dục tích hợp ở trường mầm non chính là quá trình tác động sư phạmmột cách phù hợp với sự phát triển tình cảm, đạo đức và trí tuệ của trẻ, chotrẻ được tham gia vào nhiều hoạt động theo chủ đề nhằm cung cấp cho trẻnhiều cơ hội được học tập và luyện tập để trở thành nhà nghiên cứu, trẻ tíchcực, năng động trong việc tìm hiểu, khám phá, kích thích trẻ tư duy tích cực,
Trang 12vận dụng các kiến thức, kỹ năng, lựa chọn và đưa ra quyết định tron hoàncảnh có ý nghĩa đối với cuộc sống thực của chúng.
Tích hợp trong giáo dục mầm non cần được hiểu và thể hiện trong quá trìnhchăm sóc- giáo dục trẻ Xây dựng chương trình giáo dục mầm non khôngxuất phát từ logic phân chia các bộ môn khoa học như ở trường phổ thông
mà phải xuất phát từ yêu cầu hình thành những năng lực chung nhằm hướngtới sự phát triển của trẻ
IV Cơ sở ngôn ngữ
1 Danh từ tiếng việt
* Khái niệm: Danh từ là những từ chỉ về người, sự vật, sự việc ý tưởng
* Đặc điểm
- Danh từ có ý nghĩa khái quát chỉ sự vật ( sự vật được hiểu theo nghĩa kháiquát nhất: đồ vật, con vật, cây cối, người, khái niệm )
- Danh từ có khả năng kết hợp với các từ chỉ số lượng ở trước và từ chỉ định
ở sau để tạo nên cụm danh từ mà nó là thành tố trung tâm
Ví dụ: hai ngôi nhà ấy, những người này
- Danh từ có khả năng đảm nhiệm thành phần chính và thành phần phụ trongcâu
Ví dụ: Hoa là học sinh giỏi ( Hoa là chủ ngữ )
Mẹ Hoa là công nhân ( Hoa là định ngữ )
Học sinh được tặng bằng khen là Hoa ( Hoa là vị ngữ )
Trang 13Ví dụ: sách vở, gà vịt, quần áo
+ Danh từ trừu tượng: là những danh từ chỉ các khái niệm trừu tượng thuộcphạm vi tinh thần
Ví dụ: tư tưởng, thái độ, ý nghĩ, đạo đức, niềm vui, nỗi buồn
+ Danh từ cụ thể: là những danh từ chỉ sự vật cụ thể, có thể tri nhaannj bằngcác giác quan ( nghe, nhìn, sờ, ngửi ) Danh từ cụ thể có thể phân thành cácnhóm sau:
Danh từ đơn vị: chỉ các đơn vị sự vật Danh từ đơn vị bao gồm:
Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên: chiếc, cái, con, bức, tờ, tẩm,
Danh từ chỉ đơn vị đo lường: mẫu, sào, tạ, tấn,
Danh từ chỉ đơn vị tập thể: tốp, bọn, lũ, đống
Danh tù chỉ đơn vị thời gian: giờ, phút, giây, năm, tháng,
Danh từ chỉ đơn vị tổ chức hành chính: làng, xã, tỉnh, huyên,
Danh từ chỉ đơn vị hành động, sự việc: cuộc, chiến, phen, lần,
Danh từ chỉ sự vật đơn thể: là những danh từ chỉ các sự vật có thể tồn tại thành từng đơn vị cụ thể
Ví dụ: sách, quần áo, chó, lợn,
Danh từ chỉ chất liệu: là những danh từ chỉ các chất, không phải các vật
Ví dụ: nước, đường, sữa,
2 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ
- Trẻ 4-5 tuổi đã phát triển và thành thục với ngôn ngữ hơn, các lỗi đã giảmnhiều và trẻ bắt đầu tham gia sử dụng ngôn ngữ như là một phương tiện để thamgia vào cuộc sống xã hội và giao tiếp với những người khác, thể hiện nhu cầucủa trẻ và thuật lại những trải nghiệm của chúng
- Vốn từ vựng tăng lên, trẻ có thể nắm được xấp xỉ 700 từ Ưu thế thuộc về danh
từ và động từ Hầu hết các loại từ đã xuất hiện trong vốn từ của trẻ
- Trẻ biết nói đúng ngữ pháp Sử dụng các câu đơn mở rộng thành phần trạngngữ chỉ thời gian, địa điểm
Trang 14- Trẻ thuộc và hiểu được các bài hát, bài thơ dành cho trẻ nhỏ, trẻ có khả năng kểlại câu chuyện.
V Hoạt động làm quen với môi trường xung quanh
1 Nội dung
- Qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh trẻ học được các từ chỉtên gọi đồ vật, sự vật, hành động, hiện tượng Nghe và hiểu nội dung các câuđơn, câu mở rộng Trẻ biết dùng từ để bày tỏ tình cảm, nhu cầu và kinh nghiệmbản thân bằng các câu đơn, câu mở rộng Trẻ trả lời và đặt các câu hỏi: Ai? Cáigì? Quả gì
- Trẻ được làm quen với môi trường tự nhiên xung quanh trẻ gồm các yếu tố nhưnước, không khí, ánh sáng, động vật Là phương tiện để giáo dục trẻ Nó chứađụng các yếu tố cần thiết để hình thành ở trẻ biểu tượng về tự nhiên hữu sinh và
tự nhiên vô sinh, giáo dục tình cảm tốt của trẻ vói chúng
- Hiện thực xã hội chỉ ra cho trẻ thấy mối quan hệ diễn ra trong xã hội , giúp trẻtích lũy kinh nghiệm xã hội, hiểu vị trí của mình trong đó, là thành viên của xãhội loài người, có thể tham gia vào các sự kiện và cải tạo nó
Trang 15Chương II Khảo sát thực trạng việc phát triển vốn danh từ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh chủ đề một số loại quả
I Khái quát địa bàn điều tra
Điều tra ở trường mầm non Hà An thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
1 Đặc điểm của trường
- Trường thành lập năm 1984
- Cơ sở vật chất: Quy mô trường lớp không tập chung ở một điểm trường, cònhiều cơ sở lẻ,trường mầm non Hà An có 4 điểm trường, một điểm chính, 3điểm lẻ Cơ sở vật chất đầy đủ, đồ dùng đồ chơi phong phú đa dạng, không gianrộng rãi, thoáng đủ cho trẻ hoạt động
- Đội ngũ giáo viên: Tổng số giáo viên trong trường là 30 cán bộ giáo viên, trình
độ giáo viên đạt chuẩn 100% , trong đó trên chuẩn chiếm 55 % Nhìn chung độingũ cán bộ giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy, luôn trao đổi học hỏi đồngnghiệp để nâng cao trìnhđộ chuyên môn nghiệp vụ, bên cạnh đó cũng có một sốgiáo viên mới ra trường, tay nghề còn yếu, chưa có kinh nghiệm giảng dạy
2 Đặc điểm dân cư
Sự quan tâm của gia đình dành cho các cháu là không đồng đều Chủ yếu là dotrình độ dân trí của người dân là không đồng đều Một số phụ huynh có trình độnhận thức thấp, họ cho rằng đưa con đến trường là để gửi con để họ đi làm, họnghĩ con mình đến trường chỉ là chơi với các bạn, chơi với các đồ chơi, cô giáo
là người trông trẻ chứ không nghĩ các cô là người dạy, không quan tâm, hỏi hancon được học gì trẻn trường, cô giáo dạy con những gì? Tuy nhiên cũng cónhững phu huynh thì rất quan tâm đén việc cho con đén trường, con được họcnhững gì trên lớp, họ còn có sự hợp tác với nhà trường, với cô giáo, họ hiểuđược công việc của các cô trên lớp Khi con đi học về, phụ huynh hỏi con mìnhxem cô giáo dạy con bài thơ, bài hát gì ? Và cho con đọc lại cho cả nhà cùngnghe
II Đối tượng điều tra