Những mốc chính trong khủng hoảng ngân hàng Nhật Năm 1989, thị trường chứng khoán lập đỉnh cao Giai đoạn 1: Chững lại Năm 1990, giá nhà đất lên đỉnh cao Năm 1994, ngân hàng Hyogo sụp đổ
Trang 1IMF: "Thập kỷ mất mát" của Nhật và bài học cho ngày nay
Nhà hoạch định chính sách kinh tế nên tránh sai lầm trước đây của Nhật để ngăn thế giới rơi vào thập kỷ mất mát lần thứ hai.
Nhà hoạch định chính sách kinh tế nên tránh sai lầm trước đây của Nhật để ngăn thế giới rơi vào thập kỷ mất mát lần thứ hai.
Những mốc chính trong khủng hoảng ngân hàng Nhật
Năm 1989, thị trường chứng khoán lập đỉnh cao
Giai đoạn 1: Chững lại
Năm 1990, giá nhà đất lên đỉnh cao
Năm 1994, ngân hàng Hyogo sụp đổ
Năm 1996, một loạt công ty cho vay bất động sản đóng cửa
Giai đoạn 2: Khủng hoảng leo thang và hồi phục nhẹ
Năm 1997, công ty chứng khoán Yamaichi và Hokkaido Takushoku ngừng hoạt động
Năm 1998, chính phủ bắt đầu bơm tiền vào các ngân hàng
Chính phủ Nhật quốc hữu hoá ngân hàng Long Term Credit Bank và Nippon Credit Bank
Năm 1999, chính phủ bơm tiền lần 2 vào các ngân hàng
Ngân hàng Trung ương Nhật áp dụng chính sách lãi suất cơ bản 0%
Trang 2Một loạt các ngân hàng lớn sáp nhập
Năm 2000, Ngân hàng Trung ương Nhật dỡ bỏ chính sách lãi suất 0%
Giai đoạn 3: Áp lực mới về hệ thống
Năm 2001, Ngân hàng Trung ương Nhật hạ lãi suất và áp dụng chính sách nới lỏng định lượng
Năm 2002, việc bảo đảm tài khoản tiền gửi được dỡ bỏ
Chương trình hồi sinh ngành tài chính (Financial Revitalization
Program) được khởi động
Ngân hàng Trung ương Nhật bắt đầu mua cổ phiếu các ngân hàng
Năm 2003, chính phủ quốc hữu hoá ngân hàng Resona
Tập đoàn hồi sinh ngành công nghiệp (Industrial Revitalization
Corporation – IRCJ) được thành lập
Chính phủ Nhật quốc hữu hoá ngân hàng Ashikaga
Hồi phục
Năm 2006, Ngân hàng Trung ương Nhật ngừng áp dụng chính sách nới lỏng định lượng (tăng cung tiền thông qua nghiệp vụ thị trường mở)
Thập kỷ “mất mát”
Trong 4 năm, thị trường chứng khoán Nhật tăng điểm gấp 3 lần để rồi đến đầu thập niên 1990, thị trường nước này sụp đổ Suốt 12 năm sau
Trang 3đó, thị trường không thể tăng điểm lại mức trước đó nữa Thị trường giảm điểm mạnh nhất trong 2 năm rưỡi từ khi khủng hoảng bắt đầu
Năm 1991, thị trường bất động sản đi xuống Từ năm 1985 đến năm
1990, giá nhà đất tăng gấp 3, tính từ năm 1991 đến năm 2000, giá nhà đất giảm về mức cũ
Việc thị trường chứng khoán và thị trường nhà đất sụp đổ cản trở quá trình phát triển kinh tế thời kỳ hậu chiến tại Nhật, tuy nhiên ảnh hưởng của nó không xảy ra lập tức Sau khi tăng trưởng 4% vào đầu thập niên
1990, kinh tế trì trệ cho đến giữa thập kỷ, tốc độ tăng trưởng trung bình chỉ khoảng 1%
Tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, lạm phát giảm dần từ mức đỉnh cao 3,5% dù tín dụng vẫn tăng trưởng và tỷ lệ các khoản nợ xấu thấp Các chuyên gia đã kỳ vọng kinh tế sẽ đi lên từ thời kỳ đi xuống mang tính chu kỳ
và vì thế không cần phải can thiệp mạnh tay bằng chính sách
Trên thực tế, trong khoảng thời gian từ năm 1994 đến đầu năm 1997, kinh tế có hồi phục, kinh tế có tăng trưởng và lạm phát tăng lên, thị trường chứng khoán hồi phục
Những vấn đề của Nhật bắt đầu lộ diện khi ngành ngân hàng bắt đầu khủng hoảng hệ thống vào năm 1997 Bong bóng tài sản Nhật vỡ, hệ thống tài chính Nhật đương đầu với những khoản vay xấu và rủi ro từ nền kinh tế yếu kém
6 năm sau khi bong bóng trên thị trường nhà đất vỡ, thua lỗ của các khoản vay trên thị trường nhà đất và giá nhà đất hạ dẫn đến thị trường liên ngân hàng đóng băng, làn sóng các ngân hàng đóng cửa tăng cao Mọi chuyện khó khăn hơn bởi những tác động từ khủng hoảng tài chính châu Á
Trang 4Kinh tế đi xuống hai năm liên tiếp, lần đầu tiên tính từ khủng hoảng dầu mỏ năm 1970, tăng trưởng kinh tế về mức âm
Kinh tế trong giai đoạn điều chỉnh trong hai năm 1999 và năm 2000 nhờ sự phát triển mạnh mẽ của lĩnh vực công nghệ thông tin trên toàn cầu
Thế nhưng sau khi bong bóng IT vỡ vào năm 2001, tình hình diễn biến
tệ hại hơn bởi lợi nhuận doanh nghiệp giảm gây tổn hại đến hệ thống ngân hàng và hậu quả áp lực tài chính thời gian sau đó còn cao hơn
Kinh tế gần như không tăng trưởng trong năm 2001 và năm 2002 Tình hình sản xuất đi xuống, giảm phát ngày một trầm trọng hơn, tín dụng thắt chặt
Chính sách thông thường được áp dụng trong thời suy thoái kinh tế mất
đi tính hiệu quả bởi tỷ lệ lãi suất đã giảm xuống 0% và các khoản chi tiêu không đủ để cứu kinh tế Năm 2002, tỷ lệ thất nghiệp tăng lên mức cao nhất trong thời kỳ hậu Chiến tranh Thế giới thứ Hai là 5,5%, tỷ lệ
nợ xấu lên mức đỉnh cao 9%
Trong lúc đó, tỷ lệ nợ công tiếp tục leo thang, tỷ lệ nợ công tăng gấp đôi lên mức 75% GDP trong khoảng thời gian năm 1997 và 2002, tỷ lệ này cao nhất trong nhóm các nước phát triển
Mọi chuyện cuối cùng đã thay đổi vào năm 2002 Chính phủ đưa ra một loạt biện pháp giải quyết các khoản vay xấu, khan vốn cùng với việc quốc hữu hoá hai ngân hàng lớn, giải cứu một số tổ chức tài chính
và tín dụng nhỏ đã giảm thiểu được áp lực trong hệ thống “Sức khoẻ” ngành ngân hàng cải thiện, các doanh nghiệp thu được nhiều thành công trong việc cắt giảm đi chi phí, nợ và lao động dư thừa
Trang 5Việc giải quyết thành công khủng hoảng tài chính đặt nền móng cho thời kỳ tăng trưởng mạnh dài nhất thời hậu chiến mà không cần đến quá nhiều sự can thiệp của chính phủ do xuất khẩu tăng trưởng mạnh, lợi nhuận doanh nghiệp cao, thị trường việc làm biến chuyển tích cực
Kinh tế tăng trưởng tốt với mức độ 2% trong suốt năm 2007, thị trường chứng khoán nhảy vọt Áp lực giá cả vẫn ở mức thấp, tỷ lệ lạm phát toàn phần mãi đến năm 2006 mới tăng lên mức dương
Cuối cùng khủng hoảng của Nhật cũng được giải quyết, dù vậy Nhật đã trải qua cả một thập kỷ mất mát: tăng trưởng kinh tế trì trệ, giảm phát giá hàng hoá, tài sản, tỷ lệ nợ xấu tại các ngân hàng không có xu thế giảm
Năm 2000, GDP chỉ bằng 40% so với nếu đà tăng trưởng những năm
1980 tiếp tục, giá cả lúc đó rơi vào vòng xoáy suy giảm Thua lỗ của các ngân hàng lên tới 20% GDP, chính phủ phải dành tới 10% GDP để dàn xếp các khoản nợ xấu và tái cấp vốn các ngân hàng
Ứng phó
Ban đầu, Ngân hàng Trung ương Nhật ứng phó với khủng hoảng bằng cách đưa ra một số chính sách tiền tệ thông thường đó là cắt giảm lãi suất tái chiết khấu Ngoại trừ một lần ngắt quãng vào năm 1994, Ngân hàng Trung ương Nhật đều đặn hạ lãi suất trong khoảng giữa năm 1991 đến giữa năm 1995
Lãi suất đã được hạ đến 8 lần trong khoảng thời gian trên Ngân hàng Trung ương Nhật sau đó chuyển mục tiêu sang lãi suất cơ bản, mức lãi suất mục tiêu là 0,5%
Trong bất kỳ trường hợp nào khi hoạt động kinh tế cải thiện và lạm phát tăng lên, hoạt động cho vay của ngân hàng trở nên sôi động hơn,
Trang 6nhu cầu nới lỏng chính sách tiền tệ cũng giảm bớt.
Năm 1997, việc một số tổ chức tài chính lớn sụp đổ cho thấy rõ hơn về quy mô khủng hoảng và cho thấy cần đưa ra thêm nhiều biện pháp để làm giảm căng thẳng điều kiện tín dụng Môi trường kinh tế vĩ mô đi xuống nhanh chóng, điều kiện tín dụng thắt chặt Tuy nhiên Ngân hàng Trung ương không còn có thể tiếp tục nới lỏng
Để tiếp tục hỗ trợ thanh khoản và đóng vai trò thay thế cho thị trường liên ngân hàng đang gặp khó khăn, Ngân hàng Trung ương Nhật mở rộng biên độ và sự linh hoạt của các công cụ tiền tệ: tăng bảo đảm trái phiếu doanh nghiệp, thương phiếu đảm bảo bằng tài sản và một số loại hình chứng khoán đảm bảo bằng tài sản khác, cung cấp thanh khoản trong dài hạn
Câu chuyện về Nhật và ý nghĩa với hiện nay
Khi áp lực suy giảm chững lại và khả năng giảm phát tăng, Ngân hàng Trung ương không nên tránh can thiệp mạnh tay Bất chấp một số ảnh hưởng tiêu cực có thể xảy ra khi nới lỏng tín dụng, Ngân hàng Trung ương nên đưa ra các biện pháp táo bạo khi khủng hoảng đã dịu bớt
Khi thị trường tư nhân vẫn còn chưa hoạt động đúng chức năng, những biện pháp trực tiếp để làm dịu áp lực trên thị trường tín dụng nên được cân nhắc
Nên có sự phối hợp nhất định giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ Ngân hàng Trung ương tăng mua trái phiếu, kinh tế có thể được
hỗ trợ bởi mức lợi tức dài hạn giảm Thế nhưng những rủi ro đối với bảng cân đối kế toán và sự độc lập của Ngân hàng Trung ương cần phải được cân bằng
Nên có thông điệp rõ ràng đến thị trường và công chúng Theo Ngân
Trang 7hàng Trung ương Nhật, nên cho công chúng nắm vững rằng ngân hàng
sẽ vẫn tiếp tục hỗ trợ thị trường cho đến khi kinh tế phục hồi Ngân hàng Trung ương châu Á nên nâng cao tính minh bạch bằng cách thông báo rõ ràng về các mục tiêu ngắn hạn