Những mốc chính trong cuộc khủng hoảng Cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ tình trạng bong bóng của thị trường nhà đất ở Mỹ tình trạng này diễn ra khoảng năm 2005 - 2006 với những khoản vay d
Trang 1Khủng hoảng tài chính Mỹ 2008- Những mốc chính và Góc nhìn từ Việt Nam
I Diễn biến và nguyên nhân
1 Những mốc chính trong cuộc khủng hoảng
Cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ tình trạng bong bóng của thị trường nhà đất ở Mỹ (tình trạng này diễn ra khoảng năm 2005 - 2006) với những khoản vay dưới chuẩn có nguy cơ rủi ro cao và các khoản thế chấp có lãi suất điều chỉnh Từ vài năm trước đó, giá nhà tăng cao cùng với việc được phép vay với điều kiện rất đơn giản, nhiều khách hàng đã tranh thủ tiền của các ngân hàng đầu tư để đầu cơ vào bất động sản với hi vọng kiếm được nhiều tiền
từ các khoản mua bán chênh lệch
Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 tại Mỹ lần này thực chất là biểu hiện rõ nét nhất của một quá trình “khủng hoảng” rất lâu trước đó Điểm lại những mốc sự kiện chính trong chuỗi này để thấy khủng hoảng đã diễn ra như thế nào:
• Năm 2002-2004: Giá cả ở các bang Arizona,California, Florida, Hawaii, và Nevada
tăng trên 25% một năm Sự bùng nổ nhà đất ở Mỹ bắt đầu
• Năm 2005: Bong bóng nhà đất ở Mỹ vỡ vào tháng 08/2005 Thị trường bất động sản
tạm gián đoạn trên một vài bang ở Mỹ vào cuối mùa hè năm 2005 khi tỷ lệ lãi suất tăng từ 1% lên đến 5.35% do có nhiều nhà kinh doanh bất động sản đã đánh giá thấp thị trường
• Năm 2006: Thị trường bất động sản tiếp tục suy giảm Giá giảm, kinh doanh bất động
sản, dẫn đến một lượng nhà dư thừa đáng kể Chỉ số Xây dựng Nhà ở tại Mỹ hồi giữa tháng 08 giảm hơn 40% so với một năm trước đó
• Năm 2007: Kinh doanh bất động sản tiếp tục thất bại Số lượng nhà tồn ước tính cao
nhất từ năm 1989 Ngành kinh doanh bất động sản suy giảm với hơn 25 tổ chức cho vay dưới chuẩn tuyên bố phá sản Gần 1,3 triệu bất động sản nhà ở bị tịch thu để thế chấp nợ, tăng 79% từ năm 2006 Thư ký bộ tài chính Mỹ gọi bong bóng bất động sản lần này là
“mối nguy hiểm ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế”
- Ngày 05/02: Công ty Mortage Lenders Network USA đứng thứ 15 trong số các nhà cho vay dưới chuẩn nhiều nhất ở Mỹ, với tổng dư nợ 3.3 tỷ đô la thời điểm quý 3 năm 2006, tuyên bố phá sản
- Ngày 02/04: New Century Financial, nhà cho vay dưới chuẩn lớn nhất Mỹ, tuyên bố phá sản
Trang 2- Ngày 19/07: Chỉ số Dow Jones đóng cửa với mức 14.000 điểm, lần đầu tiên trong lịch sử
- Tháng 8: Khủng hoảng tín dụng toàn cầu, mà chính xác là chứng khoán dựa trên các khoản nợ thế chấp dưới chuẩn, được phát hiện trong các danh mục vốn đầu tư và quỹ trên khắp thế giới từ BNP Paribas cho đến Ngân hàng Trung Quốc Nhiều nhà cho vay ngừng cho vay tín dụng mua nhà Cục dữ trữ liên bang đã cho các ngân hàng vay 100 tỷ đô la với lãi suất thấp
- Ngày 16/08: Tập đoàn tài chính Countrywide, đơn vị cho vay thế chấp lớn nhất nước
Mỹ, đã phải tránh phá sản bằng cách vay khẩn cấp 11 tỷ đô la từ một nhóm các ngân hang khác
- Ngày 17/08: Cục dự trữ liên bang đã phải hạ mức hệ số chiếu khấu 50 điểm cơ bản từ mức 6.25% xuống 5.75%
- Ngày 14/09: Ngân hàng Northern Rock (Anh) đã gặp vấn đề nghiêm trọng về khả năng thanh khoản liên quan đến khủng hoảng cho vay dưới chuẩn
- Ngày 15–17/10: Liên minh các ngân hàng Mỹ được hỗ trợ bởi chính phủ thông báo lập một siêu quỹ trị giá 100 tỷ đô la để mua lại các chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản thế chấp mà giá trị thị trường đã bị sụt giảm do khủng hoảng vay dưới chuẩn Chủ tịch Cục
dự trữ Liên bang Ben Bernake và Bộ trưởng Bộ tài chính Mỹ đều đưa ra những cảnh báo về mối nguy hiểm của việc vỡ bong bóng bất động sản
- Ngày 31/10: Cục dự trữ liên bang hạ lãi suất quỹ liên bang 25 điểm xuống 4.5%
- Tháng 11: Cục dự trữ liên bang bơm thêm 41 tỷ đô la cho các ngân hàng vay với lãi suất thấp Đây là lần xuất tiền lớn nhất của cục dự trữ liên bang kể từ 19 tháng 9 năm 2001 (50.35 tỷ đô la)
• Năm 2008 với những mốc đáng nhớ sau:
- Ngày 16/03: Bear Stearns bán lại cho JP Morgan Chase với giá 2 đôla một cổ phiếu để tránh phá sản Cục dự trữ liên bang phải cung cấp 30 tỷ đô la để trợ giúp các khoản lỗ của Bear Stearn
- Ngày 17/07: Các ngân hàng lớn và các tổ chức tài chính trên thế giới đã báo cáo thua lỗ lên đến 435 tỷ đôla
- Ngày 07/09: Cục dự trữ liên bang dành quyền kiểm soát hai tập đoàn Fannie Mae và Freddie Mac
- Ngày 14/09: Merrill Lynch được bán cho Bank of America với giá 50 tỷ đô la
- Ngày 15/9: Lehman Bothers tuyên bố phá sản Ngay sau đó, 3 loại chỉ số ở Mỹ bao gồm chỉ số Dow Jones, NASDAQ và S&P 500 sụt giảm mạnh nhất kể từ sau sự kiện 11/9/2001
- Ngày 17/09: Cục dự trữ liên bang Mỹ cho AIG vay 85 tỷ đô la để giúp công ty này tránh
Trang 3phá sản.
- Ngày 19/09: Kế hoạch giải cứu tài chính của bộ trưởng tài chính Paulson trị giá 700 tỷ
đô la được công bố sau một tuần bất ổn trên thị trường tài chính và nợ tín dụng Tuy nhiên, quốc hội Mỹ đã không thông qua bản dự thảo này
- Ngày 26/9: Ngân hàng Washington Mutual – ngân hàng tiết kiệm lớn nhẩt Mỹ được chính phủ tiếp quản và sau đó được bán lại cho JP Morgan Chase& Co với giá 1.9 tỷ đôla
- Ngày 29/09: Quốc hội Mỹ bác bỏ kế hoạch giải cứu thị trường tài chính Mỹ do bộ Tài chính Mỹ đề xuất
- Ngày 30/09: Ngân hàng khổng lồ Wachovia của Mỹ, đồng thời là ngân hàng cho vay dưới chuẩn lớn nhất Mỹ đồng ý bán lại bộ phận ngân hàng bán lẻ cho đối thủ Citigroup
Danh sách các tổ chức tài chính bị phá sản hoặc phải sáp nhập trong cuộc khủng
hoảng Mĩ
1 Lehman Brothers
Tổng tài sản: 639 tỷ đôla
Tổng vốn góp cổ phần:
$22490 tỷ đôla
Số lượng nhân viên:
26200 người
Là một trong 4 ngân hàng đầu tư lớn nhất của Hoa Kỳ
Nợ ngân hàng:
613 tỷ đôla
Nợ trái phiếu:
155 tỷ đôla
Cổ phiếu mất giá trên 90% vào ngày 15/09/2008
15/09/2008: nộp đơn phá sản theo chương 1 Luật Phá sản Mỹ
Là vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ
2 Merrill Lynch
Tổng tài sản: 1,02 nghìn tỷ đôla
Số lượng nhân viên:
60.000 người Xếp thứ 32 trong danh sách Global 2000 (các công ty lớn nhất thế giới)
Thua lỗ quý IV/2007: 9,83 tỷ đô
Thua lỗ ròng quý I/2008: 1,97 tỷ đôla
mất giá tài sản (2007): 16,7 tỷ đôla
Bán cho ngân hàng Mỹ (BoA) với giá 50 tỷ đôla
3
AIG Tổng tài sản: 1,05 nghìn tỷ đôla
Tổng vốn góp ổ phần 78,09 tỷ đôla
Số lượng nhân viên:
116.000 người Xếp thứ 6 trong danh sách Global 2000 (các công ty lớn nhất thế
Cổ phiếu mất giá 60% vào ngày 16/09/2008 Thua lỗ 6 tháng đầu năm 2008:
13,2 tỷ đôla
16/09/2008: Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) cấp tín dụng 80 tỷ tương đương 79,9 % cổ phần
Trang 44 Countrywide
Financial
Tổng tài sản: 211 tỷ đôla
Là tập đoàn chiếm 20% tổng thế chấp của
Mỹ, tương đương 3,5 GDP
Tổ chức tiết kiệm và cho vay lớn thứ 3, đồng thời là ngân hàng
có tốc độ phát triển nhanh nhất trong lịch
sử nước Mỹ
Thua lỗ (2007):
2,5 tỷ đôla Mất giá tài sản (2007): 1 tỷ đôla
01/07/2008: Bán cho ngân hàng Mỹ với giá 4,1
tỷ đôla
5 Bear Stearns
Tổng tài sản: 350,4 tỷ đôla
Tổng vốn góp cổ phần:
66,7 tỷ đôla
Số lượng nhân viên:
15.500 người
Là công ty chứng khoans lớn thứ 7 thế giới
Thiệt haiij quý IV/2007: 859 triệu đôla Mất giá tài sản (2007): 1,9 tỷ đôla
30/05/2008: Bán cho JP Morgan Chase với giá 1,1
tỷ đôla
6 IndyMac
Tổng tài sản: 32 tỷ đô
Là tổ chức cho vay và gửi tiết kiệm lớn nhất
ở Los Angeles Đồng thời là tổ chức thế chấp lớn thứ 7 ở Hoa Kỳ
Tiền gửi khách hàng: 19 tỷ đô Chi phí 8,9 tỷ đô cho bảo hiểm tiền gửi
Chi phí 541 triệu
đô cho các khoản tiền gửi vượt mức bảo hiểm
11/07/2008: Tập đoàn Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang Mỹ FDIC tiếp quản
7 Freddie Mac
Tổng tài sản: 794,4 tỷ đôla
Tổng vốn góp cổ phần:
26,7 tỷ đôla
Số lượng nhân viên:
5.281 ngườich
Là công ty công lớn thứ 20 trên thế giới
là công ty tài chính lớn thứ 2 về thế chấp tại Mỹ
Thua lỗ (2007):
4,6 tỷ đôla Thua llox quý II/2008: 821 triệu đôla
07/09/2008: FED kí hợp đồng bỏ ra 1 tỷ đô hỗ trợ cho Freddie Mac, đổi lại giành quyền kiểm soát các cổ phiếu ưu đãi đặc biệt của công ty này
8 Fannie Mae Tổng tài sản: 882,5 tỷ
đôla Tổng vốn góp cổ phần:
Thua lỗ (2007): 2
tỷ đôla Thua lỗ quý
07/09/2008: cùng với Freddie Mac bị FED tiếp quản
Trang 544 tỷ đôla
Là tổ chức hàng đầu trong thị trường thế chấp dưới chuẩn của Mỹ
II/2008: 2,3 tỷ đôla
9 New Century Financial
Corp
Tổng thu nhập (năm 2006): 417 triệu đôla Giá bán trên thị trường: 1,75 tỷ đôla
Số lượng ngân viên:
7.200 người
Là tập đoàn cho vay dưới chuẩn lớn nhất của Mỹ
Cổ phiếu mất 90% giá trị (tháng 03/2007)
Giá trị thị trường giảm xuống còn
55 triệu đôla
Nộp đơn phá sản theo chương 11 Luật Phá sản Mỹ
10 Ameri Bank Tổng tài sản: 115 triệu đôla
Tiền gửi khách hàng: 102 triệu đôla
Chi phí 42 triệu đôla cho quỹ bảo hiểm tiền gửi
19/09/2008: Tập đoàn Bảo hiểm Tiền gửi Liên Bang Mỹ FDIC tiếp quản
11 Washington Mututal Inc
Tổng tài sản: 307 tỷ đôla
Washington Mutual là ngân hàng tiết kiệm lớn nhất Mỹ
Thua lỗ 53 tỷ đôla để từ tháng 6
và 17 tỷ đôla trong 2 tuần gần đây
26/09/2008: Chính phủ tiếp quản và sau đó bán lại cho JP Morgan Chase
& Co với giá 1,9 tỷ đôla
12 Wachovia
Là ngân hàng lớn thứ 6
ở Mỹ Tổng tài sản: 327,9 tỷ đôla
Giá cổ phiếu của Wachovia đã sụt giảm tới 81,6%, còn 1,84 USD/ cổ phiếu
Thua lỗ 9,7 tỷ đôla trong nửa đầu năm nay
30/09/2008: bị bán lại hco Citi Group với giá 2,16 tỷ đôla
2 Nguyên nhân:
Cuộc khủng hoảng lần này không phải là quá bất ngờ với giới tài chính Mỹ nói riêng và thế giới nói chung Nó là kết quả của một chuỗi những rủi ro liên tiếp mà chính các tổ chức tài chính, ngân hàng ở Mỹ tạo ra cho chính mình
Có thể tóm lại một số nguyên nhân chính, mà thực chất là hệ quả của nhau – đã dẫn đến cuộc khủng hoảng tất yếu này ở Mỹ
• Cho vay dưới chuẩn
Trang 6Các ngân hàng đầu tư Mỹ đã sử dụng nghiệp vụ chứng khoán hóa (securitisation) để biến các khoản cho vay mua bất động sản thành các gói trái phiếu có gốc bất động sản (MBS, CDO) đầy rủi ro cung cấp cho thị trường
Khi nền kinh tế đi xuống, người vay tiền mua nhà không trả được các khoản vay mua nhà thì rủi ro tín dụng được chuyển sang các gói trái phiếu có các danh mục tín dụng bất động sản làm tài sản đảm bảo Khủng hoảng càng gia tăng thì việc phát mại tài sản càng tăng làm giá bất động sản càng giảm Điều này có nghĩa giá trị tài sản đảm bảo của trái phiếu càng giảm và rủi ro tín dụng càng tăng
Vòng xoáy khủng hoảng cứ tiếp tục như vậy, làm cho giá chứng khoán sụt giảm mạnh Các ngân hàng đầu tư mặc dù không nắm giữ toàn bộ rủi ro nhưng cũng trực tiếp hoặc gián tiếp duy trì một số danh mục chứng khoán liên quan đến bất động sản Hậu quả là hàng loạt ngân hàng đầu tư lần lượt báo cáo các khoản lỗ kinh doanh
• Mua bán khống
Khi giới đầu cơ đoán chắc rằng cổ phiếu của những tập đoàn dính líu đến cho vay dưới chuẩn sẽ sụt giảm, họ ồ ạt vay những cổ phiếu này rồi ồ ạt bán ra, tạo nên một áp lực giảm giá lớn không gì cứu vãn nổi Sau khi giá giảm đến một mức nào đó, họ sẽ mua và trả lại nơi cho vay cộng thêm một ít phí, còn bao nhiêu tiền chênh lệch họ sẽ hưởng trọn
Thậm chí, họ còn áp dụng cách thức mua bán khống đến hai lần (naked short sale), tức là không thèm vay chứng khoán nữa mà cứ ra lệnh bán theo kiểu “đánh xuống” vì lợi dụng khe hở, mua bán ba ngày sau mới giao cổ phiếu Bộ trưởng Tư pháp bang New York, Andrew Cuomo than: “Họ giống như kẻ hôi của sau một cơn bão”
• Thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ
Có tiền, các công ty cứ thoải mái cho người vay bằng tiền của các ngân hàng đầu tư cung cấp thông qua mua lại danh mục cho vay của các công ty này Các ngân hàng này trên cơ sở danh mục cho vay vừa mua lại sẽ phát hành CK để vay tiền Danh mục cho vay được chia
ra, ít rủi ro, rủi ro cao, tùy định mức tín nhiệm, nhà đầu tư tha hồ lựa chọn theo sự mạo hiểm của mình Có loại CK không cần định mức tín nhiệm, có thể thu lãi cao nhưng rủi ro cũng lớn
Như vậy, rủi ro trong cho vay đã được chuyển từ bên cho vay là công ty tài chính sang NH đầu tư Nhà đầu tư lắm tiền trên thế giới đã đổ tiền mua CK này, nhờ vậy đã cung cấp một lượng vốn khổng lồ cho thị trường BĐS ở Mỹ tăng nóng
Giáo sư kinh tế Joseph Stiglitz, người được giải thưởng kinh tế Nobel kinh tế 2001, kết luận: “Hệ thống tài chính của Mỹ đã không thực hiện được hai trách nhiệm chính của mình
đó là quản lý rủi ro và phân chia vốn Cả hệ thống tài chính Mỹ đã không làm những gì mà
nó đáng ra phải làm - chẳng hạn như tạo ra các sản phẩm để giúp người Mỹ quản lý được
Trang 7những rủi ro nguy hiểm nghiêm trọng của mình, như là giữ lại được nhà khi mức lãi suất cho vay tăng cao hoặc khi giá nhà rớt giá”
• Khủng khoảng niềm tin
Theo GS Joseph Stiglitz, cuộc khủng hoảng bắt đầu tư sự sụp đổ thảm khốc của niềm tin Các ngân hàng đánh đố lẫn nhau về mức độ cho vay cũng như tài sản Những giao dịch phức tạp được tạo ra để loại bỏ rủi ro và che giấu những trượt giá giá trị tài sản thực của ngân hàng Đây là một trò chơi mà con người ta khi bắt đầu cảm nhận thấy mùi của sự thua
lỗ và nhìn vào hệ thống tài chính, khi đó thua lỗ xuất hiện, cả thị trường xuống dốc và tất cả mọi người đều bị thua lỗ
Thị trường tài chính xoay quanh trục nguyên tắc độ tin cậy, và độ tin cậy đó đã bị xói mòn, xuống cấp Sự sụp đổ của Lehman là biểu tượng đánh dấu mức độ tin cậy đã xuống một mức thấp mới và dư âm của nó sẽ còn tiếp tục
Liên hệ với Việt Nam:
VN chưa nhiều tiền để mua CK từ
tín dụng dưới chuẩn vì thế không bị
ảnh hưởng trực tiếp Cũng khó để
nói rằng ta giống họ Với tín dụng
BĐS, theo một quan chức NH Nhà
nước, hầu hết tín dụng BĐS ở VN
đều có thế chấp, người vay phải có
thu nhập ổn định, vay 1 tỉ phải thế
chấp tài sản tối thiểu 1,5 tỉ đồng
Có một ít trường hợp vay thế chấp
bằng chính tài sản hình thành từ
vốn vay nhưng người vay được
chọn lọc, phải có thu nhập cao và
NH trực tiếp kiểm soát nợ vay
Cũng có NH dùng vốn ngắn cho
vay dài hạn BĐS, đã được NH Nhà
nước cảnh báo từ cuối năm 2007 và
chấn chỉnh khi thực hiện thắt chặt
tiền tệ Điều quan trọng là tỉ trọng
cho vay BĐS không lớn, tại
TP.HCM khoảng 11% tổng dư nợ
nhưng gồm cả cho vay làm nhà
xưởng, khu công nghiệp, nhà ở
Trang 8II Liệu Việt Nam có bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng này?
Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ có tác động trực tiếp thế nào đến Việt Nam? Điều đó phụ thuộc vào mối quan hệ kinh tế giữa 2 nước Xét trên khía cạnh Đầu tư, hiện nay, Mỹ đứng thứ 6 trong số các nước đầu tư vào Việt Nam Mỹ cũng là nhà đầu tư (NĐT) lớn, nếu cộng
cả giá trị đầu tư qua các nước thứ 3 thì Mỹ là NĐT số 1 vào Việt Nam trong nhiều năm qua Các dự án từ Mỹ vào Việt Nam phần lớn là giai đoạn đầu và tập trung nhiều vào hạ tầng dài hạn Ngược lại, quan hệ về ngắn hạn chúng ta xuất sang Mỹ nhiều hơn Trên lĩnh vực thương mại, Mỹ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm tỷ trọng khoảng 23-25% Còn lại, quan hệ giữa 2 hệ thống tài chính, ngân hàng gần như không đáng kể
Về các tác động gián tiếp, Việt Nam chưa vào sâu trong cuộc chơi toàn cầu nên đang có lợi thế là cơn tác động này chưa lan tới Các nền kinh tế khác trong những ngày qua đã bị ảnh hưởng Lợi thế này tạo cho chúng ta cái nhìn tốt về một nền kinh tế “an bình” không bị bão táp làm tan vỡ Chính điều này đã quyết đinh tính chất và quy mô của cơn địa chấn này đến nền kinh tế nước ta
• Đối với ngành ngân hàng
Thạc sỹ Đinh Thế Hiển nhận định: “Ngành ngân hàng Việt Nam bị ảnh hưởng không đáng
kể bởi hầu hết các NH Việt Nam là NH thương mại, phục vụ cho vay tiêu dùng, cho vay doanh nghiệp, độ phân tán rủi ro cao và không có sự liên thông đầu tư với các ngân hàng đầu tư lớn của Mỹ như các nước khác
Sự ảnh hưởng nếu có thì chỉ do tác động tâm lý nhất thời của nhà đầu tư Nếu có chăng cũng chỉ có thể xảy ra khả năng một số nhóm nhà đầu tư sẽ làm động tác “xả hàng” cổ phiếu ngành ngân hàng nhằm làm trầm trọng thêm tình hình để kéo giá cổ phiếu ngân hàng xuống“
Nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Cao Sỹ Kiêm, thành viên Hội đồng tư vấn tiền tệ quốc gia cho rằng: “Ảnh hưởng của khủng hoảng ở Mỹ có tác động đến thị trường tiền tệ của chúng ta Điều này do các nhà đầu tư Mỹ (gián tiếp, trực tiếp) đã vào Việt Nam nên khi nền kinh tế bị rung rinh thế này thì vốn ở chính quốc ít đi và do đó có thể họ sẽ xem lại việc rút vốn về để giải quyết vấn đề trong nước Còn nếu chúng ta vẫn làm ăn hiệu quả thì họ vẫn để phát triển
Chủ yếu tác động với chúng ta đó là về các dòng vốn thông qua thị trường chứng khoán hay hệ thống đầu tư và qua một số ngân hàng liên kết tiếp vốn.”
Đối với Đầu tư:
Các chuyên gia đều nhân định cơn địa chấn này sẽ chỉ gây ra những tác động nhỏ, gián tiếp đến dòng vốn đầu tư vào nước ta Ảnh hưởng nhỏ được các chuyên gia lý giải bằng nhiều nguyên nhân Có nguyên nhân do đồng tiền của Việt Nam chưa có tính chuyển đổi Có nguyên nhân do lượng tiền đầu tư của Việt Nam vào thị trường tài chính Mỹ không đáng
kể Có nguyên nhân do các chỉ số kinh tế vĩ mô của Việt Nam đang chuyển biến tích cực, từ
Trang 9lạm phát, nhập siêu, đầu tư trực tiếp nước ngoài, tăng trưởng nông nghiệp, công nghiệp, thu ngân sách, Có nguyên nhân do tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng, tính thanh khoản của quốc gia được cải thiện, tỷ giá ổn định,
Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam vốn cao và thường mang tính dài hạn nên sẽ không bị ảnh hưởng nhiều lắm, nhưng vốn đầu tư gián tiếp (FII) thì có thể có chịu ảnh hưởng ở mức độ nào đó
Đối với Bất động sản:
Chỉ có FDI vào lĩnh vực khu cao ốc văn phòng, resort cao cấp là có thể bị ảnh hưởng, tuy nhiên sự suy giảm trong lĩnh vực đầu tư này không phải là điều đáng quan ngại (Th.S Đinh Thế Hiển)
Đối với Thị trường chứng khoán
Sự ảnh hưởng nếu có thì chỉ do tác động tâm lý nhất thời của nhà đầu tư (NĐT) Còn hoạt động của thị trường chứng khoán vẫn do các yếu tố nội tại của nền kinh tế nước ta quy định
Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng ở thị trường nước ngoài có thể khiến nguồn vốn đầu tư vào TTCK Việt Nam không được dồi dào Nguồn tiền của các tổ chức đầu tư ở Việt Nam cũng
là tiền từ các công ty mẹ ở nước ngoài Nếu các công ty ở nước ngoài khó khăn thì công ty con ở Việt Nam cũng phải dè dặt trong đầu tư Điều này làm hạn chế nguồn cung của thị trường, làm cho TTCK khó có thể tăng quá nhanh như vừa qua
Đối với ngành Xuất nhập khẩu:
Hầu hết hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ đều là hàng tiêu dùng, do đó khả năng Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng gián tiếp, tức là một khi mà người tiêu dùng Mỹ thắt chặt hầu bao thì nhiều nền kinh tế dựa chủ yếu vào nguồn lợi từ xuất khẩu chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn (Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành)
Đối với ngành du lịch:
Ngành du lịch Việt Nam cũng sẽ không bị tác động nhiều vì khách du lịch vào Việt Nam rất
đa dạng chứ không tập trung ở phân khúc khách cao cấp (Th.S Đinh Thế Hiển)
Như vậy, có thể thấy, do tính chất và mối liên hệ giữa hai nền kinh tế có sự khác biệt rõ ràng, do đó Việt Nam bị tác động rất ít từ cuộc khủng hoảng này, có chăng cũng phải một thời gian nữa, khi hậu quả của cuộc khủng hoảng tác động lên đời sống người Mỹ Lúc đó Việt Nam và một số nước khác sẽ chịu một số ảnh hưởng gián tiếp vào ngành xuất khẩu khẩu, ngành du lịch hay chứng khoán …
Nguyên nhân sâu xa dẫn tới cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ
12:55' 5/4/2008
Trang 10Mặc dù Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã giảm lãi suất và tăng lượng tiền mặt cấp cho các ngân hàng nhưng cuộc khủng hoảng của kinh tế Mỹ dường như vẫn đang trầm trọng hơn Nhiều chuyên gia kinh tế thế giới đã phân tích và đưa ra những yếu
tố dẫn tới tình trạng hiện nay của kinh tế Mỹ.
Yếu tố thứ nhất bắt đầu từ năm 2001 Lạm phát bị đầy lui và lãi suất hạ, nhất là sau vụ
khủng bố 11-9 Nhưng cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay cũng bắt đầu từ đây Đó là thời điểm mà FED đã bơm tiền vào nền kinh tế của Mỹ và giảm dần lãi suất cơ bản từ mức 3,5% năm hồi tháng 8-2001 xuống còn 1% vào giữa năm 2003
Giải pháp nới lỏng tiền tệ nhìn chung đã giúp cho việc vay tiền ngân hàng dễ dàng hơn và
hạ thấp chi phí trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế nhưng đồng thời nó cũng làm đồng tiền bị mất giá và dẫn tới lạm phát Hơn nữa, FED đã giữ lãi suất quá thấp như vậy trong một thời gian quá dài
Yếu tố thứ hai là những khoản vay lãi suất thấp kích thích việc mua nhà Vào thời điểm
2006-2007, các ngân hàng thương mại và đầu tư đã tạo nới lỏng việc cho vay mua nhà dành cho những đối tượng vay ít tin cậy FED đã không kiểm soát những thực tế giống như “con dao hai lưỡi” này Kết quả là bất kỳ ai cũng có thể vay tiền mua nhà, cho dù họ ít có khả năng và thậm chí không có khả năng trả nợ
Lãi suất thấp khiến nhiều người đổ xô mua nhà đã thổi lên “bong bóng” địa ốc Giá nhà lên cao khiến các ngân hàng cảm thấy an toàn để đem tiền cho những người không có khả năng trả nợ vay bởi các ngân hàng cho rằng, nếu những người vay không trả nợ được, họ sẽ tịch thu nhà với giá trị đã được đẩy lên cao hơn Mọi việc cứ suôn sẻ như vậy chừng nào giá nhà vẫn tăng, nhưng một khi giá nhà lên đến đỉnh điểm và bắt đầu giảm, các điều kiện cho vay bị thắt chặt, khi đó các ngân hàng bỗng thấy họ đang sở hữu những ngôi nhà mà giá trị của nó không đủ bù đắp giá trị của các khoản vay
Yếu tố thứ ba chính là câu trả lời cho câu hỏi vì sao cả một hệ thống tài chính hùng mạnh
bị điêu đứng khi mà những loại nợ tín dụng địa ốc (được hình thành do việc cho vay tiền mua nhà) trên thị trường tài chính Mỹ chỉ khoảng 500 tỉ USD - một con số nhỏ so với năng lực của thị trường?
Để trả lời câu hỏi trên, nhiều chuyên gia kinh tế phân tích: Trước hết phải bắt đầu giải thích
từ phép đòn bẩy trong kinh doanh Khi làm ăn có lời, ai cũng có thể nghĩ đến việc vay thêm tiền để phát triển hoạt động Người ta gọi đó là tác dụng đòn bẩy nhờ tiền đi vay Nhưng khi đi vay thì phải có gì đó làm vật đảm bảo Trong hệ thống tài chính Mỹ, vật đảm bảo này nhiều khi là một gói nợ hay một tờ giấy nợ quy định một tài sản sẽ trở thành lưu hoạt, thành tiền mặt, khi đến kỳ đáo hạn
Tưởng tượng rằng gói nợ ấy là một “cái kén” có nhiều lớp, bên trong chứa nhiều loại nợ tín dụng địa ốc Công ty tài trợ địa ốc đã lấy tiền hoa hồng của khách sau khi nắm lấy tờ giấy
nợ, họ bán giấy nợ ấy cho một tổ hợp tài chính khác Tổ hợp này gom các giấy nợ đó thành gói như một cái kén, bên trong có đủ loại xấu tốt, và dùng đó làm tài sản cầm thế để vay thêm tiền tiếp tục kinh doanh trong lĩnh vực khác Các ngân hàng và tổ hợp đầu tư tài chính
đã trao đổi những “kén thối” ấy trong những quan hệ chằng chịt như tơ vò mà không thể biết đích xác bên trong xấu, tốt ra sao Các bản quyết toán của ngân hàng khi đó xuất hiện