Sự bảo vệ của Luật Phá sản đối với người làm công thể hiện ở chỗ pháp luật cho phép người lao động được quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp hoặc phản đối yêu cầu t
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
BÀI LÀM
I Những vấn đề chung về pháp luật phá sản
1 Cơ sở pháp lý
2 Vai trò của pháp luật phá sản trong nền kinh tế thị trường
3 Thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
II Thực tiễn thực hiện pháp luật về phá sản doanh nghiệp, HTX
1 Những tiến bộ của Luật phá sản năm 2004 so với Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993
2 Những hạn chế, vướng mắc trong thực hiện pháp luật về phá sản doanh nghiệp, HTX
3 Những bất cập của pháp luật về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
4 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
Danh mục tài liệu tham khảo.
Trang 2MỞ ĐẦU
Phá sản là hiện tượng kinh tế khách quan trong nền kinh tế thị trường mà hậu quả của nó là sự xung đột lợi ích của các bên tham gia quan hệ kinh doanh Khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá sản sẽ làm nảy sinh nhiều mối quan hệ phức tạp cần được giải quyết Vì vậy việc giải quyết kịp thời các vấn đề đó có ý nghĩa rất quan trọng nhằm thiết lập một trật tự cần thiết để thúc đẩy sự phát triển kinh tế đồng thời đảm bảo quyền chủ thể của các mối quan
hệ hay các bên liên quan
Luật phá sản doanh nghiệp (PSDN) lần đầu tiên được ban hành vào năm
1993 Sự ra đời của Luật phá sản doanh nghiệp đã góp phần quan trọng vào việc hình thành một cơ chế pháp lý đồng bộ cho hoạt động xử lý nợ của các doanh nghiệp, bảo đảm trật tự, kỷ cương trong lĩnh vực tài chính Tuy nhiên trong thời gian thực hiện Luật PSDN, số lượng các doanh nghiệp được giải quyết theo thủ tục phá sản là rất thấp, chưa phản ánh chính xác số lượng doanh nghiệp phá sản trên thực tế Theo Thông báo của Tòa án nhân dân tối cao, từ khi Luật PS có hiệu lực đến hết quý II/2012, cả nước có hơn 600.000 doanh nghiệp đã ngừng hoạt động, nhưng có rất ít doanh nghiệp trong số đó nộp đơn xin phá sản theo Luật PS (chỉ chiếm khoảng 15% trong tổng số các doanh nghiệp ngừng hoạt động) Đây là một con số thể hiện sinh động nhất tính kém hiệu quả của Luật PSDN trong cuộc sống ở nước ta trong thời gian vừa qua
Đối với nước ta việc phá sản vẫn là một vấn đề mới mẻ Thực tiễn giải quyết phá sản của nước ta trong thời gian qua cũng gặp không ít khó khăn vướng
mắc Vì vậy nên em quyết định chọn câu hỏi số 8: “Thực tiễn thực hiện pháp
luật về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.’ làm bài tập học kỳ để làm rõ hơn
những vấn đề trên
Trang 3BÀI LÀM
I Những vấn đề chung về pháp luật phá sản
1 Cơ sở pháp lý.
Pháp luật hiện hành điều chỉnh các vấn đề liên quan đến phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã dựa trên các cơ sở pháp lý sau:
- Luật phá sản năm 2004;
- Nghị định của Chính phủ số 67/2006/NĐ-CP ngày 11/7/2006 hướng dẫn
áp dụng Luật phá sản với doanh nghiệp đặc biệt và tổ chức hoạt động của tổ quản lý, thanh lí tài sản;
- Nghị định của Chính phủ số 114/2008/NĐ-CP ngày 3/11/2008 hướng dẫn chi tiết thi hành Luật phá sản đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác;
- Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao số 03/2005/ NQ-HĐTP ngày 28/4/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật phá sản
2 Vai trò của pháp luật phá sản trong nền kinh tế thị trường
2.1 Bảo vệ quyền lợi cho chủ nợ:
Luật Phá sản bảo đảm sự bình đẳng của các chủ nợ trong việc đòi nợ Không một con nợ nào được quyền đòi nợ một cách riêng lẻ Không một chủ nợ nào được con nợ trả nợ cho mình trong khi các chủ nợ khác chưa được trả nợ Tất cả các chủ nợ đều phải đợi đến khi Tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp và cùng nhau chia số tài sản còn lại của doanh nghiệp theo những tỷ lệ (trừ những chủ nợ có một sự đảm bảo đặc biệt cho món nợ của mình như có tài sản cầm cố, thế chấp)
2.2 Bảo vệ quyền lợi cho con nợ:
Trang 4Pháp luật tạo điều kiện để cho con nợ khắc phục khó khăn để khôi phục sản xuất kinh doanh Chỉ khi nào không thể cứu vãn nổi mới tuyên bố phá sản Đồng thời, khi bị tuyên bố phá sản, người kinh doanh được giải thoát khỏi các khoản nợ khi đã giao lại toàn bộ tài sản còn lại để chi trả cho các chủ nợ Sau đó một thời gian họ có thể trở lại môi trường kinh doanh khi có cơ hội
2.3 Bảo vệ người lao động:
Khi doanh nghiệp bị phá sản thì những người lao động trong doanh nghiệp
sẽ phải chịu hậu quả trực tiếp, họ sẽ bị mất việc làm, mất nguồn thu nhập để đảm bảo đời sống Sự bảo vệ của Luật Phá sản đối với người làm công thể hiện ở chỗ pháp luật cho phép người lao động được quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp hoặc phản đối yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, quyền được tham gia quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, quyền được
ưu tiên thanh toán nợ lương trước các khoản nợ khác của doanh nghiệp, …
2.4 Góp phần bảo vệ trật tự kỷ cương trong xã hội:
Khi doanh nghiệp bị phá sản thì chủ nợ nào cũng muốn lấy được càng nhiều càng tốt tài sản còn lại của doanh nghiệp bị phá sản Như vậy nếu không
có Luật để đưa vấn đề phân chia tài sản của con nợ theo một trật tự nhất định, nhằm bảo đảm sự công bằng và khách quan mà cứ để mạnh ai người nấy lấy một cách vô tổ chức thì sẽ gây ra tình trạng lộn xộn, mất trật tự, gây ra mâu thuẫn giữa chủ nợ với con nợ, giữa chủ nợ với nhau Bằng việc giải quyết công bằng, thỏa đáng mối quan hệ về lợi ích giữa chủ nợ và con nợ và giữa các chủ nợ với nhau, pháp luật về phá sản góp phần giải quyết mâu thuẫn, hạn chế những căng thẳng có thể có giữa họ với nhau
2.5 Tái tổ chức lại doanh nghiệp và cơ cấu lại nền kinh tế:
Phá sản bao giờ cũng kéo theo những hậu quả về kinh tế xã hội nhất định nhưng phá sản không phải là hiện tượng hoàn toàn tiêu cực Phá sản là một giải pháp hữu hiệu trong việc cơ cấu lại nền kinh tế, là sự đào thải tự nhiên đối với
Trang 5doanh nghiệp làm ăn yếu kém, góp phần duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp làm
ăn có hiệu quả Vì vậy, Luật Phá sản là công cụ răn đe buộc các nhà kinh doanh luôn luôn phải năng động sáng tạo nhưng không được mạo hiểm và liều lĩnh, đồng thời, Luật Phá sản doanh nghiệp là cơ sở pháp lý để xóa bỏ doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh cho các nhà đầu tư
3 Thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
Điều 5 Luật Phá sản 2004 quy định thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã bao gồm: “a) Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản; b) Phục hồi hoạt động kinh doanh; c) Thanh lý tài sản, các khoản nợ; d) Tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản.”
3.1 Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản
+) Nộp đơn yêu cầu
Chủ thể có quyền nộp đơn bao gồm: chủ nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần; người lao động; chủ sở hữu doanh nghiệp Nhà nước, các cổ đông công ty cổ phần, thành viên hợp danh Chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn là bản thân doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản trong thời hạn ba tháng
kể từ khi nhận thấy mình lâm vào tình trạng phá sản
Nộp đơn là một cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền quyết định mở hay không mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp
+) Thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản
Điều 23 đến Điều 24 LPS quy định về việc thụ lý đơn yêu cầu được coi là một hình thức nhằm chính thức hóa trách nhiệm của Tòa án trong quá trình tiến hành giải quyết vụ việc phá sản và buộc các chủ nợ vào một khuôn khổ chung trong quá trình đòi nợ; bảo vệ và giúp doanh nghiệp tránh được các phương thức đòi nợ mang tính “côn đồ”, “luật rừng” có thể có từ phía các chủ nợ
Điều kiện để Tòa án thụ lý đơn là nội dung đơn đã đầy đủ theo quy định; người nộp đơn đã nộp đủ các tài liệu kèm theo, đã nộp tạm ứng lệ phí phá sản;
Trang 6và không thuộc các trường hợp trả lại đơn Thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên
bố phá sản doanh nghiệp thuộc về Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án nhân dân cấp tỉnh
3.2 Hội nghị chủ nợ
Hội nghị chủ nợ là cơ quan quyền lực cao nhất của các chủ nợ do Tòa án triệu tập và chủ trì Hội nghị này được lập ra nhằm giúp cho các chủ nợ và doanh nghiệp có cơ hội đàm phán với nhau để đi đến vấn đề thanh toán ổn thỏa bao gồm 2 trường hợp: phục hồi nếu hội nghị chủ nợ lần thứ nhất thông qua nghị quyết đồng ý với giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh hoặc thanh lý tài sản của doanh nghiệp nếu nghị quyết của hội nghị chủ nợ không đồng ý cho doanh nghiệp cơ hội phục hội hoặc hội nghị chủ nợ không thành thì Tòa sẽ quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản
3.3 Phục hồi hoạt động kinh doanh
Mục tiêu hàng đầu của bất kỳ luật phá sản nào trên thế giới cũng là tạo điều kiện để cứu giúp doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán nợ và chỉ đặt vấn đề thanh lý (chấm dứt tồn tại) nếu thực sự không còn khả năng phục hồi Chính vì vậy, phá sản không chỉ bao gồm trình tự thu hồi tài sản
và thanh toàn (phát mại tài sản) mà thủ tục phá sản còn một khía cạnh khác đáng lưu ý: tạo cơ hội cho con nợ và chủ nợ thỏa thuận tái tổ chức kinh doanh và lập một kế hoạch trả nợ phù hợp, được giám sát thực hiện bởi Tòa án và tạo cơ hội cho các chủ nợ thu hồi được một phần hợp lý các khoản nợ của mình đối với các doanh nghiệp thua lỗ
3.4 Thanh lý tài sản, các khoản nợ
Về nguyên tắc, phương án phân chia tài sản do Hội nghi chủ nợ đề nghị, được Tòa án phê chuẩn và do chấp hành viên phụ trách việc thi hành quyết định tuyên bố phá sản cùng với Tổ quản lý, thanh lý tài sản thực hiện Thủ tục này, ngoài ra cũng mang ý nghĩa nhất định đối với nền kinh tế xã hội, bằng việc thanh
Trang 7lý tài sản, nền kinh tế được cơ cấu lại khi loại bỏ những doanh nghiệp đã yếu kém, tạo điều kiện cho những doanh nghiệp mới phát triển mạnh hơn
3.5 Tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản
Điều 84 của Luật phá sản quy định thẩm phán ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản Tòa án có trách nhiệm thông báo công khai quyết định tuyên bố phá sản như đối với quyết định mở thủ tục phá sản và phải gửi quyết định tuyên bố phá sản cho cơ quan đăng kí kinh doanh để xóa tên doanh nghiệp trong sổ đăng kí kinh doanh Ngoài ra, thời điểm ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản có ý nghĩa là căn cứ để tính thời điểm bắt đầu cho thời hạn cấm đảm nhiệm chức vụ đối với chủ DN tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh, Giám đốc (Tổng giám đốc), Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên của DN (Khoản 3 Điều 94 Luật phá sản)
II Thực hiện pháp luật về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã dưới góc độ thực tiễn
1 Những tiến bộ của Luật phá sản năm 2004 so với Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993
1.1 Hoàn thiện khái niệm phá sản hay khái niệm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Doanh nghiệp, HTX bị coi là lâm vào tình trạng phá sản theo Luật phá sản năm 2004 là khi “không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu”
Như vậy, tiêu chí xác định tình trạng phá sản đã được quy định theo hướng ngắn gọn, đơn giản mà không căn cứ vào thời gian thua lỗ, nguyên nhân của tình trạng thua lỗ cũng như không đòi hỏi doanh nghiệp, HTX con nợ đã áp dụng các biện pháp để tự cứu mình mà không đạt kết quả hay chưa như Luật PSDN năm 1993 đã từng quy định; đây được coi là tiêu chí đã đi được vào bản
Trang 8chất của hiện tượng, đơn giản và hợp lý hơn vì đã không căn cứ vào thời gian thua lỗ, nguyên nhân của tình trạng thua lỗ…
Ngoài ra, quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được mở rộng thêm cho một số đối tượng So với Luật PSDN 1993 thì ngoài chủ nợ không có bảo đảm, con nợ và người lao động; Luật phá sản 2004 đã mở rộng quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho một số đối tượng khác là chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước, cổ động của công ty cổ phần, thành viên hợp danh của công ty hợp danh
1.2 LPS 2004 khẳng định thủ tục phá sản là một thủ tục tư pháp đặc biệt
Theo Điều 5 LPS 2004 thủ tục phá sản là một thủ tục lớn bao gồm nhiều thủ tục cấu thành (thủ tục nhỏ) và giữa những thủ tục cấu thành đó có mối liên
hệ với nhau theo những nguyên tắc khác nhau
Trong Luật PSDN 1993, phục hồi hoạt động kinh doanh gần như là một hoạt động bắt buộc trước hoạt động thanh lý Điểm tiến bộ được ghi nhận trong LPS 2004 chính là những quy định về mối quan hệ đặc thù giữa các thủ tục cấu thành trong thủ tục phá sản Điều này cho phép Tòa án giải quyết yêu cầu tuyên
bố phá sản một cách uyển chuyển tùy thuộc vào những tình huống cụ thể Tòa án
có thể quyết định tuyên bố phá sản với con nợ ngay mà không cần thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản (khoản 1 Điều 87 LPS 2004) hoặc sau khi thụ lý (khoản 2 Điều 87) hoặc khi đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản (Điều 86) Không những thế, khi mà nhiệm vụ của thủ tục này không thể thực hiện được hoặc thực hiện không thành công thì có thể chuyển đổi sang thủ tục thanh lý tài sản ngay (Điều 79, 80)
1.3 LPS 2004 bảo vệ lợi ích của các chủ nợ triệt để hơn
LPSDN 1993 hạn chế khả năng thu hồi vốn của các chủ nợ Ví dụ như quy định về nghĩa vụ của chủ nợ phải chứng minh con nợ mất khả năng thanh toán vì thua lỗ trong hoạt động kinh doanh khi nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản, quy
Trang 9định thời hạn hai năm thua lỗ hoặc khó khăn trong kinh doanh như là một yếu tố bắt buộc của khái niệm “lâm vào tình trạng phá sản”, quy định về trình tự phục hồi như là giai đoạn bắt buộc trong mọi trường hợp sau khi có quyết định mở thủ tục giải quyết tuyên bố phá sản… LPS 2004 đã khắc phục những hạn chế đó, mở rộng khả năng đòi nợ của các chủ nợ
Thứ nhất là quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ nợ Khi thực hiện quyền này chủ nợ không có nghĩa vụ nào ngoài các nghĩa vụ sau: Chứng minh mình là chủ nợ; Chứng minh khoản nợ đã đến hạn thanh toán (xuất hiện quyền đòi nợ); Chứng minh mình đã yêu cầu con nợ thanh toán nợ nhưng con nợ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ của mình
Thứ hai là LPS 2004 đã bổ sung nhiều biện pháp bảo toàn tài sản của con nợ; điều này cũng có nghĩa là mở rộng khả năng thu hồi nợ của các chủ nợ LPS
2004 đã dành hẳn một chương về những biện pháp bảo toàn tài sản của con nợ với nhiều biện pháp chưa được biết đến trong LPSDN 1993 Cụ thể:
+ Cử người quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo yêu cầu của Hội nghị chủ nợ nếu xét thấy người quản lý của doanh nghiệp không có khả năng điều hành hoặc nếu tiếp tục điều hành hoạt động kinh doanh
sẽ không có lợi cho việc bảo toàn tài sản của doanh nghiệp (Điều 30);
+ Bù trừ nghĩa vụ (Điều 48);
+ Đình chỉ thi hành án dân sự (Điều 57);
+ Giải quyết vụ án bị đình chỉ trong thủ tục phá sản (Điều 58);
+ Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 55);
+ Đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực (Điều 54);
+ Chủ nợ không có bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch
vô hiệu (Điều 44)
2 Những hạn chế, vướng mắc trong thực hiện pháp luật về phá sản doanh nghiệp, HTX
Trang 102.1 LPS 2004 chưa làm rõ bản chất của thủ tục phá sản
Quan điểm phổ biến hiện nay không nhìn nhận thủ tục phá sản như là một thủ tục mà trong đó hoạt động của Tòa án là hoạt động thực hiện chức năng xét
xử, theo quan điểm này thì “xét xử” và “giải quyết” là hai khái niệm khác nhau Quan điểm này đã được LPSDN 1993 tiếp thu và LPS 2004 tiếp tục kế thừa Việc phá sản không được thừa nhận như một tranh chấp pháp lý nên hoạt động của Tòa án khi giải quyết phá sản không chịu sự chi phối của những nguyên tắc Hiến định trong hoạt động xét xử của Tòa án Theo Hiến pháp thì Tòa án là cơ quan xét xử (Điều 127) Yêu cầu tuyên bố phá sản là một tranh chấp pháp lý Khi các chủ nợ thực hiện quyền đòi nợ của mình nhưng yêu cầu đó không được đáp ứng từ phía con nợ thì xuất hiện xung đột lợi ích tài sản giữa chủ nợ với con nợ Xung đột này là xung đột pháp lý, bởi lẽ các quan hệ giữa con nợ và chủ nợ luôn
là các quan hệ pháp luật nảy sinh trên cở sở các hợp đồng khác nhau Như vậy, việc phá sản là một tranh chấp pháp lý và giải quyết phá sản là một hình thức thực hiện chức năng xét xử của Tòa án
2.2 Khái niệm phá sản
Điều 3 LPS 2004 không quy định rõ số nợ và thời gian quá hạn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán của con nợ Vì vậy về hình thức, con nợ chỉ cần mắc nợ số tiền là 1.000 đồng và quá hạn thanh toán 01 ngày sau khi chủ nợ có đơn yêu cầu đòi nợ cũng có thể bị xem là lâm vào tình trạng phá sản Điều này
có thể dẫn đến sự lạm dụng quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản từ phía các chủ nợ Ví dụ như Luật Phá sản của Liên bang Nga quy định số nợ không thấp hơn 100.000 rúp với chủ nợ là pháp nhân và 10.000 rúp với chủ nợ là cá nhân Thuật ngữ “các khoản nợ” trong Điều 3 không được giải thích Phân tích Điều 37 cho thấy “các khoản nợ” được hiểu là các nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp hình thành từ các hợp đồng dân sự, thương mại và lao động Còn các khoản nợ thuế, các nghĩa vụ tài sản khác như nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài