Tại Việt Nam, xuất phát từ điều kiện hoàn cảnh trong nước và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 và mới đây nhất là Luật trọng tài thương mại năm 2010 đ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
Hơn lúc nào hết, tranh chấp và giải quyết tranh chấp đang là vấn đề “nổi cộm” của nền kinh tế thế giới hiện nay Có thể khẳng định như vậy, bởi lẽ quá trình hội nhập quốc tế hiện nay đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, trong điều kiện đó mỗi quốc gia không thể đứng ngoài, tự tách mình khỏi quá trình hội nhập quốc tế Quá trình toàn cầu hoá và khu vực hóa cùng với đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng, buộc các nhà sản xuất, kinh doanh không những nâng cao chất lượng sản phẩm, khả năng phục vụ, mà còn mở rộng hợp đồng với rất nhiều đối tác Quá trình liên doanh, liên kết, mở rộng hợp đồng, sự phát sinh ngày càng nhiều các quan hệ tư tất yếu sẽ nảy sinh những vấn đề tranh chấp Sự ra đời của trọng tài như là một hệ quả tất yếu trong việc đa dạng hoá các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp Pháp luật hoàn toàn cho phép các nhà kinh doanh, các cá nhân, tổ chức
có quyền được lựa chọn mô hình mà mình yêu thích để giải quyết những tranh chấp phát sinh Chính điều này đã tạo cơ sở cho sự ra đời của các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn (ADR), mà phương thức có vị trí quan trọng nhất trong
số đó là giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.
Tại Việt Nam, xuất phát từ điều kiện hoàn cảnh trong nước và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 và mới đây nhất là Luật trọng tài thương mại năm 2010 đã được ban hành với nhiều quy định tiến bộ nhằm thúc đẩy sự phát triển của hoạt động trọng tài thương mại ở nước ta, tạo điều kiện phát triển đội ngũ trọng tài viên và nâng cao vai trò của phương thức trọng tài trong cơ chế giải quyết tranh chấp, hoàn thiện cơ bản khung pháp lý cho phương thức này.
Tuy nhiên, thực tiễn thời gian qua cho thấy, vẫn còn rất nhiều doanh nhân, doanh nghiệp chưa quan tâm đến cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài cũng như sự hiện hữu của các Trung tâm Trọng tài thương mại Phương thức trọng tài thương mại hoạt động chưa thực sự sôi nổi, trọng tài chưa phát triển tương xứng với tiềm năng xuất phát từ nhiều nguyên nhân như Luật trọng tài thương mại mới được triển khai thi hành nên chưa tạo được sự chú ý, chưa được các cá nhân, tổ chức kinh doanh biết đến nhiều; Công tác tuyên truyền, giới thiệu về những quy định mới của Luật chưa được tiến hành thường xuyên và trên phạm vi rộng nên hiệu quả của công tác này chưa cao; Hoạt động trọng tài trước đây có quá nhiều bất cập, đặc biệt là việc
Trang 2không có cơ chế cưỡng chế thi hành quyết định trọng tài khiến các bên có liên quan tốn rất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc, nên các doanh nghiệp không tin tưởng và lựa chọn trọng tài…Như vậy, có thể nói, trọng tài thương mại hoàn toàn không phải là điều mới mẻ, nhưng lại vẫn còn quá lạ lẫm, mờ nhạt trên thị trường.
Đứng trước thực trạng trên, đã đến lúc chúng ta cần có một cái nhìn nghiêm túc, toàn diện về trọng tài thương mại tại Việt Nam Đó chính là lý do chúng tôi
lựa chọn vấn đề: “Trọng tài thương mại tại Việt Nam – Thực trạng, nguyên nhân và một số giải pháp” làm nội dung nghiên cứu của bài tiểu luận này.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Tiểu luận không đi sâu làm rõ các quy định của pháp luật Việt Nam về trọng tài thương mại, mà trên cơ sở những phân tích những ưu, nhược điểm của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại, thực trạng của trọng tài thương mại tại Việt Nam trong những năm gần đây, chúng tôi đi sâu vào làm rõ những nguyên nhân của thực trạng trên và đề ra một số giải pháp nhằm khắc phục, nâng cao hiệu quả của hoạt động này.
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ một số vấn đề lý luận về trọng tài thương mại.
Phân tích ưu điểm và hạn chế của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại.
Làm rõ các nguyên nhân và kiến nghị một số giải pháp nhằm khắc phục, nâng cao hiệu quả của hoạt động này.
4 Phạm vi nghiên cứu
Tiểu luận nghiên cứu các vấn đề liên quan, dưới góc độ khoa học pháp lý, tại Việt Nam, trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay.
5 Bố cục tiểu luận
Để giải các vấn đề được đặt ra, chúng tôi xây dựng tiểu luận làm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về trọng tài thương mại
Chương 2: Ưu điểm và nhược điểm của phương thức giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài thương mại
Chương 3: Thực trạng, nguyên nhân và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tại thương mại tại Việt Nam hiện nay.
Trang 3CHƯƠNG 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
1.1 Một số khái niệm liên quan
Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được tiến hành theo trình tự, thủ tục do các bên thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật Việc giải quyết tranh chấp được tiến hành bởi Hội đồng Trọng tài thuộc một Trung tâm trọng tài nhất định hoặc bởi Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập, tùy thuộc vào quyền lựa chọn của các bên.
Theo Điều 2, Khoản 3, Pháp lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003, hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li-xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật.
1.2 Lược sử về trọng tài thương mại
Trên thế giới
Khoa học pháp lý chưa khẳng định được chính xác phương thức trọng tài bắt đầu xuất hiện từ khi nào Song, từ lâu, người Hy Lạp và La Mã cổ đại đã biết sử dụng phương thức này để giải quyết tranh chấp Quy định sơ khai về trọng tài trong luật mua bán hàng hóa cho phép các lái buôn được tự phân xử bất hòa của mình không cần có sự can thiệp của nhà nước Về sau, Luật La Mã cho phép mở rộng phạm vi tranh chấp, không chỉ trong biên giới lãnh thổ, mà còn ở những nước La Mã có trao đổi hàng hóa, có nghĩa là trải rộng trên hầu khắp lục địa Châu Âu Trong hệ thống luật của Anh, phán quyết đầu tiên của trọng tài ở Anh được đưa ra vào năm 1610
Trước sự phát triển mạnh mẽ của thương mại thế giới, phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ngày càng phát triển, dẫn tới việc hình thành những tổ chức trọng tài quốc tế để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong các hợp đồng thương mại quốc tế Tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ngày càng được thừa nhận rộng rãi, đặc biệt là trong các thập kỷ gần đây Các quốc gia sửa đổi luật pháp về trọng tài cho phù hợp với tình hình thực tế; các điều ước quốc tế về trọng tài đang có thêm những thành viên mới; trọng tài trở thành một môn học trong chương trình đào tạo ngành luật; các doanh nghiệp ngày càng tin tưởng vào một phương thức giải quyết tranh chấp linh hoạt, công bằng, với phán quyết được công nhận rộng rãi trên phạm vi thế giới.
Trên cơ sở đó, cuối thế kỷ 19, người ta đã cố gắng hợp thức hoá tính cách pháp lý cho hình thức trọng tài qua hai Hội nghị Quốc tế Đó là hội nghị Hoà bình tổ chức tại La
Trang 4– Hay Hà Lan vào năm 1899 và 1907 Hai hội nghị này đã đi đến việc soạn thảo quy chế
và thủ tục và nỗ lực hướng dẫn các quốc gia áp dụng triệt để các hiệp ước trọng tài Định
nghĩa sớm nhất về trọng tài được nêu trong Công ước La-Hay năm 1988, theo đó: “Trọng tài là nhằm để giải quyết những bất đồng giữa các bên thông qua một người thứ ba do chính các bên lựa chọn trên cơ sở tôn trọng luật pháp”
Tại Việt Nam
Pháp luật nói chung và pháp luật về trọng tài nói riêng đã có những bước phát triển gắn liền với những điều kiện, hoàn cảnh và chủ trương của Đảng và Nhà nước ta ở mỗi thời kỳ.
Nhìn khái quát từ góc độ lịch sử, Trọng tài kinh tế từ chỗ là cơ quan Nhà nước có chức năng chủ yếu là xử lý các vi phạm hợp đồng kinh tế (Nghị định số 20/TTg ngày 14/01/1960), đã phát triển thành một cơ quan Nhà nước có chức năng chủ yếu là quản lý công tác hợp đồng kinh tế (Nghị định số 75/CP ngày 14/04/1975, Nghị định số 24/HĐBT ngày 10/08/1981, Nghị định số 62/HĐBT ngày 17/04/1984, Pháp lệnh Trọng tài kinh tế ngày 12/01/1990) Quá trình phát triển đó của Trọng tài kinh tế tương ứng với việc ngày càng mở rộng vai trò của hợp đồng kinh tế Trọng tài kinh tế Nhà nước có chức năng, nhiệm vụ: giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế; kiểm tra, kết luận và xử lý các hợp đồng kinh tế trái pháp luật; hướng dẫn thực hiện pháp luật hợp đồng kinh tế và trọng tài kinh tế; bồi dưỡng nghiệp vụ công tác hợp đồng kinh tế và trọng tài kinh tế.
Khi đất nước chuyển sang cơ chế kinh tế mới, phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế cũng đòi hỏi phải đổi mới Chính vì vậy, từ ngày 28/12/1993, theo Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Tòa kinh tế chuyên trách được hình thành trong hệ thống Tòa án nhân dân với chức năng giải quyết các tranh chấp kinh
tế Đồng thời, hệ thống trọng tài được giải thể Trước những đòi hỏi khách quan về đa dạng hoá các hình thức và phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh phù hợp với đặc điểm của cơ chế thị trường, cũng như góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập quốc tế, ngày 05/09/1994, Chính phủ đa ban hành Nghị định số 116-CP về tổ chức và hoạt động của các Trung tâm Trọng tài kinh tế Theo các quy định của Nghị định này, Trọng tài kinh tế thực sự được xác định là một tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tức là tổ chức phi chính phủ có thẩm quyền giải quyết một số tranh chấp theo quy định, hoàn toàn tách rời với chức năng quản lý Nhà nước như trước đây
Ngày 25/02/2003, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Trọng tài số 08/2003/PL-UBTVQH và ngày 15/01/2004, Chính phủ ban hành Nghị định số 25/2004/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Trọng tài thương mại
Nhằm khắc phục những hạn chế, tăng cường hiệu quả và năng lực của các Trung tâm
Trang 5trọng tài và đội ngũ Trọng tài viên,
1.3 Đặc điểm của trọng tài thương mại
Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của trọng tài viên, với tư cách là bên thứ 3 độc lập nhằm chấm dứt xung đột trong quá trình tiến hành các hoạt động thương mại bằng việc đua ra một phán quyết.
Đặc điểm của phương pháp giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài:
Trọng tài thương mại là hình thức giải quyết tranh chấp không mang ý chí quyền lực nhà nước, mà đó là phán quyết của trọng tài thương mại đã được các bên lựa chọn theo thủ tục linh hoạt, mềm dẻo.
Phán quyết của trọng tài thương mại sẽ mang tính bảo mật, từ đó đảm bảo tối đa uy
tín của các bên tranh chấp, không làm ảnh hưởng tới hoạt đông thương mại của các bên trong nền kinh tế thị trường nhiều cạnh tranh.
Trọng tài thương mại là một tổ chức giải quyết tranh chấp phi chính phủ, được thể hiện như sau: Các hội đồng trọng tài, các tổ chức trọng tài không được thành lập bởi nhà nước mà được thành lập do sáng kiến của trọng tài viên và được pháp luật cho phép; Các thành viên của hội đồng trọng tài, trọng tài viên không nằm trong cơ quan quản lý nhà nước, cũng không thuộc hệ thống cơ quan xét xử; Các tổ chức trọng tài hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải tức nhà nước không cấp kinh phí hoạt động Tuy là một tổ chức phi chính phủ nhưng các trung tâm trọng tài vẫn chịu sự quản lý và hỗ trợ của nhà nước như: nhà nước ban hành các văn bản pháp lý tạo cơ sở cho việc tồn tại và hoạt động của các trung tâm trọng tài…
Hình thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài là sự kết hợp giữa 2 yếu
tố đó là: thỏa thuận và tài phán Cụ thể: Các bên tranh chấp có quyền thõa thuận trung tâm trọng tài nào sẽ đứng ra giải quyết tranh chấp của các bên, các bên được thõa thuận lựa chọn trọng tài viên,…; Khi các bên đã lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thi phán quyết của trọng tài sẽ mang tính ràng buộc các bên.
Trọng tài tồn tại dưới hai hình thức cơ bản: trọng tài vụ việc( trọng tài ad-hoc) và trọng tài thường trực.
+ Trọng tài vụ việc (Trọng tài ad-hoc): là hình thức trọng tài được lập ra để giải quyết các tranh chấp cụ thể khi có yêu cầu và tự giải thể khi giải quyết xong tranh chấp
đó Đặc điểm cơ bản của trọng tài vụ việc là không có trụ sở, không có bộ máy giúp việc
và không lệ thuộc vào bất cứ một quy tắc xét xử nào Các bên khi yêu cầu trọng tài hoc xét xử có quyền lựa chọn thủ tục, các phương thức tiến hành tố tụng Đây là hình thức tổ chức đơn giản, khá linh hoạt, mềm dẻo về phương thức hoạt động nên nói chung phù hợp với những tranh chấp ít tình tiết phức tạp, có nhu cầu giải quyết nhanh chóng và
Trang 6ad-các bên tranh chấp có kiến thức và hiểu biết về pháp luật, cũng như kinh nghiệm tố tụng Trên thực tế, số lượng tranh chấp thương mại được giải quyết bằng trọng tài ad-hoc không nhiều.
+ Trọng tài thường trực là những tổ chức trọng tài có hình thức tổ chức, trụ sở ổn định, có danh sách trọng tài viên và hoạt động theo điều lệ riêng Việc thành lập, tổ chức
và hoạt động chịu sự điều chỉnh của pháp luật mà chủ yếu là luật trọng tài năm 2010 và luật doanh nghiệp năm 2005.
Trang 7CHƯƠNG 2
ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 2.1 Ưu điểm của giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
Trong bối cảnh hội nhập ngày nay, sự ra đời của trọng tài thương mại, một tổ chức
xã hội - nghề nghiệp, do các trọng tài viên thành lập trên cơ sở giấy phép của Bộ Tư pháp nhằm giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh là điều phù hợp và tất yếu Theo đó, cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có nhiều ưu thế khi
mà đất nước tham gia hội nhập với thế giới
Thứ nhất: Thủ tục trọng tài đơn giản và linh hoạt, tôn trọng tối đa ý chí tự do thỏa thuận của các bên
Các bên được lựa chọn trọng tài viên để giải quyết vụ tranh chấp dựa vào niềm tin của họ vào tính chuyên nghiệp, kiến thức chuyên môn, uy tín của các trọng tài viên; Lựa chọn địa điểm để giải quyết vụ tranh chấp; Lựa chọn thời gian để giả quyết tranh chấp; Lựa chọn luật nội dung (đổi với vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài); Lựa chọn ngôn ngữ
sữ dụng trong tố tụng trọng tài (đối với vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài) Sự lựa chọn của các bên luôn được ưu tiên áp dụng và các trọng tài viên phải tôn trọng sự lựa chọn này của các bên1
Luật trọng tài quy định thủ tục tố tụng trọng tài rất đơn giản, chủ yếu dựa trên sự thỏa thuận của các bên - là một trong những tiêu chí mà doanh nghiệp quan tâm khi lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp Luật trọng tài các nước quy định thủ tục trọng tài rất đơn giản, chủ yếu dựa vào thỏa thuận của toàn bộ quá trình tố tụng và hội đồng trọng tài có nghĩa vụ phải thực hiện theo đúng thỏa thuận giữa các bên Luật trọng tài mẫu UNCITRAL đều ưu tiên ý chí thỏa thuận của các bên trong việc lựa chọn hoặc quy định các bước tố tụng2 Pháp luật chỉ đưa ra các quy định trong trường hợp các bên không có thỏa thuận thậm chí ngay cả khi đã ấn định thời hạn và thủ tục trong quy tắc tố tụng, có
tổ chức trọng tài, ví dụ như Hiệp hội trọng tài Hoa Kỳ (AAA) còn cho phép các bên được thỏa thuận sửa đổi một số thủ tục, quy tắc tố tụng.
Ngoài ra, trọng tài thương mại không đại diện cho quyền lực Nhà nước nên rất phù hợp để giải quyết các tranh chấp mà các bên có quốc tịch khác nhau (Toà án nói là được độc lập nhưng cũng dễ bị chi phối bởi quyền lợi dân tộc, do đó các bên tranh chấp có quốc tịch khác nhau thường không thích chọn toà án của nhau) Vì vậy, họ thường thích chọn trọng tài, nhất là trọng tài của nước thứ ba để đảm bảo tính khách quan trong việc
1 theo quy định tại khoản 1 điều 4 luật trọng tài thương mại 2010.
2 (Điều 19)
Trang 8giải quyết tranh chấp Cuối cùng, một ưu thế nữa là các phán quyết của trọng tài được
công nhận và cho thi hành ở nước ngoài Công ước New York 1958 về công nhận và cho thi hành các quyết định của trọng tài nước ngoài đã quy định rằng các nước thành viên của công ước này có nghĩa vụ công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài của nước bên kia cũng là thành viên Các bên được tự do thỏa thuận về toàn bộ quá trình tố tụng Ví dụ như thời gian giải quyết tranh chấp, địa điểm giải quyết tranh chấp Pháp luật chỉ đưa các quy định về thủ tục trong trường hợp các bên không có thỏa thuận.
Thứ hai: Thời gian giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nhanh chóng
Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài chỉ xét xử một lần, không xét xử nhiều cấp Đảm bảo giải quyết nhanh, tiết kiệm thời gian cho doanh nghiệp Thậm chí không cần phải mở phiên họp xét xử trực tiếp mà có thể giải quyết ngay trên cơ sở tài liệu, chứng cứ
do các bên cung cấp, không cần sự có mặt của các bên liên quan Theo thủ tục tố trụng trọng tài, thời gian thụ lý giải quyết tranh chấp chỉ thu gọn trong vài tháng Ở đây không
có quá trình điều tra, xác minh mà tự các bên liên quan phải cung cấp đầy đủ căn cứ, tài liệu theo luật định cho trung tâm trọng tài Hội đồng trọng tài sẽ dựa trên những chứng cứ
đó và các bộ luật để phân tích, đánh giá, phán quyết Khi cần yêu cầu bổ sung thêm tài liệu, hồ sơ, trung tâm trọng tài sẽ thông báo cụ thể đến bên liên quan và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các bên thực hiện nhiệm vụ và bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình
Thứ ba: Tính trung lập, vô tư khách quan và tính chuyên nghiệp cao của trọng tài viên.
Một trong những yêu cầu căn bản của việc giải quyết tranh chấp là cơ quan giải quyết tranh chấp phải hoàn toàn mang tính trung lập Tuy nhiên, hệ thống tòa án nhiều khi không đáp ứng được điều này, hoặc ít ra là theo cảm nhận của các bên là như vậy Ví
dụ, trong cùng một quốc gia, việc tòa án tỉnh của nơi đương sự sống và làm việc thụ lý vụ
án cũng có thể khiến cho bên đương sự kia có cảm giác sẽ bị “bất lợi” Điều này thể hiện
rõ nhất khi tranh chấp là giữa các bên đến từ các quốc gia khác nhau Nếu tranh chấp giữa một nhà đầu tư nước ngoài và một bên Việt Nam được xét xử tại tòa án Việt Nam, do các thẩm phán Việt Nam xét xử, thì chắc chắc bên nước ngoài sẽ có những cảm nhận về sự không trung lập của tòa án, cho dù điều này có trên thực tế hay không Cảm nhận này sẽ khiến cho nhà đầu tư nước ngoài không muốn mang tranh chấp ra tòa án Việt Nam xét
xử, và hệ quả có thể là nhà đầu tư phải thỏa hiệp trong tranh chấp, hoặc hơn nữa có thể là nhà đầu tư ngay từ đầu đã quyết định không tham gia quan hệ thương mại với bên Việt Nam vì khoan ngại rằng nếu có tranh chấp xảy ra, sẽ không được xét xử công bằng Nhưng nếu theo cơ chế trọng tài thì khoan ngại trên hoàn toàn được giải quyết Các bên
có toàn quyền thỏa thuận thành lập một hội đồng trọng tài để giải quyết tranh chấp, trong
đó thành phần hội đồng trọng tài, tiêu chuẩn trọng tài viên, cách thức chỉ định trọng tài
Trang 9viên, quốc tịch trọng tài viên hoàn toàn do các bên quyết định Việc này sẽ đảm bảo tính trung lập, công bằng cao hơn, tạo sự an tâm cho các bên tranh chấp.
Thẩm quyền được hình thành dựa trên sự thỏa thận của các bên nên trọng tài luôn nhấn mạnh các tiêu chí vô tư, khách quan của trọng tài viên Điều này cũng được quy định tại khoản 2, điều 4 luật trọng tài thương mại 2010 Bên cạnh đó, các trọng tài viên thường là những người có nhiều kiến thức và kinh nghiệm trong một số lĩnh vực cụ thể.
Ví dụ như bảo hiểm, tài chình, vận tải, xây dựng Những tranh chấp chuyên ngày này đòi hỏi người phân xử phải có kiến thức rộng và am hiểu trong lĩnh vực đó Do vậy, việc giải quyết sẽ được chính xác và khách quan hơn Tại Điều 20, Luât trọng tài thương mại
2010, quy định tiêu chuẩn tối thiểu đối với trọng tài viên nhằm hình thành ở nước ta đội ngũ trọng tài viên nòng cốt, có năng lực, có tính chuyên nghiệp, có chuyên môn và uy tín
xã hội Do đó sẽ đảm bảo được vụ tranh chấp được giải quyết khách quan, khoa học, và nhanh chóng
Trong xu thế hiện đại, ngoài các tổ chức trọng tài lớn có thể giải quyết tranh chấp trong nhiều lĩnh vực , một số nước đã thành lập các tổ chức trọng tài chuyên ngành như:
Ủy ban hàng hải Tokyo (The Tokyo Marytime Arbtration Comission – TOMAC), Hiệp hội mua bán gạo và lúa mạch ở Lon Don (The Lon Don based Grain and Fead Trade Association – GAFTA) Chỉ riêng tại Châu Âu, đã có 6 quốc gia tổ chức giám sát tố tụng trọng tài cho tranh chấp liên quan tới cà phê, các tổ chức này thường không nằm tại thủ
đô các nước (ở Bỉ là phòng trọng tài cà phê Antwerp, ở Ý là phòng trọng tài cà phê Italia
ở Genoa và phòng trọng tài ở Trieste)…
Ngoài ra, tại Việt Nam, Luật trọng tài thương mại cũng không quy định trọng tài viên phải có quốc tịch Việt Nam Nghĩa là người nước ngoài cũng có thể được chỉ định làm trọng tài viên ở Việt Nam nếu các bên tranh chấp hoặc tổ chức trọng tài tín nhiệm họ Điều này đã một phần đáp ứng nhu cầu thực tế trong giai đoạn Việt Nam tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế.
Thứ tư: giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đảm bảo tính bí mật
Nguyên tắc giải quyết tranh chấp trọng tài là không công khai Đây là điểm khác biệt
so với việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án và là ưu điểm của phương thức trọng tài Trong quá trình kinh doanh, bí mật kinh doanh là yếu tố quan trọng, nhất là trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, công nghệ cao Điều 6, Điều lệ của Trung tâm trọng tài quốc tế
của Phòng thương mại quốc tế (ICC) quy định: “Công việc của trọng tài mang tính chất
bí mật và những người tham gia vào công việc đó, dù ở bất cứ cương vị nào cũng cần được tôn trọng Trung tâm quy định các nguyên tắc liên quan tới người tham dự các cuộc gặp của Tòa án , các Ủy ban của Tòa án và những người có quyền tiếp cận với những tài liệu nộp lên Tòa án và Ban thư ký”
Trang 10Theo khoản 1, Điều 55, Luật trọng tài thương mại 2010 có quy định “phiên họp giải quyết tranh chấp được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác” Như vậy, nguyên tắc giải quyết tranh chấp tại trọng tài là không công khai Nếu
giải quyết tranh chấp tại trọng tài thì nội dung tranh chấp sẽ được giữ kín Như vậy các doanh nghiệp sẽ giữ được uy tín của mình cũng như các bí mật kinh doánh quan trọng đặc biệt là trong lĩnh vực sỡ hữu trí tuệ, công nghệ cao.
Thứ năm: Phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm và ràng buộc các bên, tạo nên một cơ chế giải quyết tranh chấp dứt điểm
Nguyên tắc chung thẩm được ghi nhận rộng rãi trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia Ví dụ, theo quy định của nguyên tắc tó tụng trọng tài UNCITRAL (1976) thì:
“Quyết định trọng tài là chung thẩm và ràng buộc giữa các bên , các bên cam kết thực thi quyết định không chậm chễ”
Khi xét xử tại tòa án, một vụ tranh chấp có thể phải đi qua nhiều cấp sơ thẩm, phúc thẩm v.v trước khi bản án có hiệu lực pháp luật Việc này có thể kéo dài, phức tạp, gây tốn kém về thời gian, chi phí cho các bên Ngược lại, phán quyết trọng tài thông thường được coi là cuối cùng (chung thẩm), giúp các bên giải quyết dứt điểm tranh chấp, để tiếp tục với các hoạt động khác của mình
Những ưu điểm nói trên là đặc biệt quan trọng đối với các hoạt động đầu tư thương mại Chính những ưu điểm đó đảm bảo rằng nếu có một luật trọng tài tốt và các bên ưu
tiên giải quyết tranh chấp qua trọng tài, thì sẽ: (i) Giảm rủi ro, khoan ngại cho bên nước ngoài khi quyết định tham gia đầu tư, thương mại tại Việt Nam; (ii) Tạo thuận lợi cho các bên nước ngoài và cả bên Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp tại Việt Nam.
Theo quy định tại khoản 5, Điều 61 và khoản 5, Điều 4, Luật trọng tài thương mại
2010 thì “phán quyết trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành ” Với
quy định như vậy sẽ đảm bảo rút ngắn thời gian giải quyết vụ tranh chấp đồng thời đảm bảo vụ tranh chấp sẽ được giải quyết triệt để Ngoài ra những quy định tại Luật trọng tài thương mại 2010 còn hạn chế nguy cơ phán quyết của trọng tài bị tòa án tuyên hủy Cụ thể là, tại Điều 71, quy định thủ tục tòa án xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài chỉ
có một cấp và có giá trị chung thẩm Qua đó đảm bảo các phán quyết của trọng tài được thực thi.
Thứ sáu: Sự công nhận quốc tế
Đây là một ưu thế quan trọng đối với các quyết định trọng tài có yếu tố nước ngoài Thông qua một loạt các điều ước quốc tế và đặc biệt là công ước New York năm 1985 về công nhận và thi hành các quyết định trọng tài nước ngoài, các quyết định trọng tài sẽ được công nhận và cho thi hành tại 142 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới.
Trang 11Như vậy, việc tạo điều kiện xây dựng một hệ thống trọng tài có chất lượng, đáng tin tưởng, sẽ “kéo” hoạt động giải quyết tranh chấp quay trở lại Việt Nam, tạo thuận lợi nhiều cho các bên, nhất là các bên Việt Nam, góp phần thúc đầy ngành trọng tài, và xa hơn nữa, điều này có thể hấp dẫn những bên tranh chấp ngoài Việt Nam đến giải quyết tranh chấp tại Việt Nam (giống như trường hợp của Hồng Kông và Singapore hiện nay) Việc khuyến khích giải quyết tranh chấp qua đường trọng tài cũng sẽ giảm tải gánh nặng
về công việc cho hệ thống tòa án và góp phần nâng cao chất lượng và sự tin cậy đối với
hệ thống Toà án Tất cả điều này sẽ góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thúc đẩy hơn nữa các hoạt động dân sự, thương mại nhất là trong hoàn cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
2.2 Nhược điểm của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
Thứ nhất là các trọng tài viên có thể gặp khó khăn trong quá trình điều tra, xác minh
và thu thập chứng cứ và triệu tập nhân chứng vì tuy pháp luật có ghi nhận các quyền này tại điều 45, 46 và 47 Luật trọng tài năm 2010 nhưng quyền của họ chỉ dừng lại ở mức được “yêu cầu” còn việc có cung cấp chứng cứ hay không phải dựa vào sự tự nguyện và thiện chí của các bên và người làm chứng.
Thứ hai là trọng tài ad-hoc phải phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chí của các bên Nếu
một bên không có thiện chí, quá trình tố tụng sẽ luôn có nguy cơ bị trì hoãn, và nhiều khi không thể thành lập được Hội đồng Trọng tài bởi vì không có quy tắc tố tụng nào được
áp dụng và không có tổ chức nào giám sát việc tiến hành trọng tài và giám sát các Trọng tài viên Vì vậy, kết quả phần lớn phụ thuộc vào việc tiến hành tố tụng và khả năng kiểm soát quá trình tố tụng của các Trọng tài viên Cả Trọng tài viên và các bên sẽ không có cơ hội nhận được sự ủng hộ và trợ giúp đặc biệt từ một tổ chức trọng tài thường trực trong trường hợp phát sinh sự kiện không dự kiến trước và trong trường hợp các Trọng tài viên không thể giải quyết được vụ việc Sự hỗ trợ duy nhất mà các bên có thể nhận được là từ các Tòa án.
Thứ ba là hình thức Trọng tài quy chế có nhược điểm là tốn kém nhiều chi phí Rõ
ràng giải quyết tranh chấp tại Trọng tài quy chế, ngoài việc phải trả chi phí thù lao cho các Trọng tài viên, các bên còn phải trả thêm các chi phí hành chính để nhận được sự hỗ trợ của các trung tâm trọng tài Ngoài ra trong một số trường hợp quá trình giải quyết tranh chấp bị kéo dài mà Hội đồng Trọng tài các các bên bắt buộc phải tuân thủ vì phải tuân theo các thời hạn theo quy định của quy tắc tố tụng trọng tài làm giảm hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài.