Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ cấu và tái cơ cấu nền kinh tế, về vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nề
Trang 1ĐINH VĂN TRUNG
VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG TÁI CƠ CẤU NỀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2018
Trang 2ĐINH VĂN TRUNG
VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG TÁI CƠ CẤU NỀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án với đề tài "Vai trò của Nhà nước trong tái
cơ cấu nền kinh tế ở Việt Nam" là công trình nghiên cứu khoa học của riêng
tôi Những tài liệu tham khảo, số liệu, thông tin được sử dụng trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định
Tác giả luận án
Đinh Văn Trung
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN VAI
TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG TÁI CƠ CẤU NỀN KINH TẾ 7
1.3 Tổng quan kết quả nghiên cứu của các công trình và khoảng trống
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ
NƯỚC TRONG TÁI CƠ CẤU NỀN KINH TẾ 25 2.1 Khái niệm cơ cấu nền kinh tế và tái cơ cấu nền kinh tế 25 2.2 Nội dung vai trò nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế và tiêu chí
2.3 Sự cần thiết và những nhân tố ảnh hưởng đến vai trò của nhà nước
2.4 Kinh nghiệm của một số quốc gia về thực hiện vai trò nhà nước
trong tái cơ cấu nền kinh tế và bài học cho Việt Nam 52
Chương 3: THỰC TRẠNG VAI TRÒ NHÀ NƯỚC TRONG TÁI CƠ CẤU
NỀN KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011 - 2017 66 3.1 Tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2017 66 3.2 Thực trạng vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế Việt
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ NHÀ
NƯỚC TRONG TÁI CƠ CẤU NỀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM 107 4.1 Bối cảnh thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam hiện nay 107 4.2 Phương hướng phát huy vai trò nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh
4.3 Giải pháp phát huy vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh
tế Việt Nam hiện nay và những năm tiếp theo 115
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢI ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 152
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 153
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH
Trang
Bảng 3.1: So sánh tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam qua các năm 68 Bảng 3.2: Tỷ trọng lĩnh vực kinh tế trong GDP 69 Bảng 3.3: Thâm hụt ngân sách và nợ công 79 Bảng 3.4: Năng suất lao động của một số quốc gia 80 Hình 3.1: Tăng trưởng GDP giai đoạn 2010 - 2017 68 Hình 3.2: Tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế Việt Nam 10 năm qua 69 Hình 3.3: Giá trị xuất nhập khẩu và cán cân thương mại từ 2005 - 2017 70 Hình 3.4: ICOR của nền kinh tế giai đoạn 2011 - 2017 71 Hình 3.5: Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội phân theo khu vực kinh tế 72 Hình 3.6: Mức tăng năng suất lao động của Việt Nam qua các năm 80
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sau hơn 30 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu
ấn tượng Từ nền kinh tế có trình độ lạc hậu, yếu kém, trì trệ, khủng hoảng, Việt Nam đã dần hình thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với cơ cấu nền kinh tế tiến bộ, mang lại hiệu quả kinh tế xã hội thiết thực, có khả năng hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, trong quá trình phát triển đó, nền kinh tế Việt Nam vẫn có nhiều khiếm khuyết, gặp nhiều khó khăn do những nguyên nhân chủ quan, khách quan, đã tạo ra một số khủng hoảng, bất ổn ở những phạm vi, lĩnh vực nhất định của nền kinh tế
Đặc biệt, từ cuối năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới tác động mạnh mẽ làm nền kinh tế Việt Nam bộ lộ rõ hơn những khiếm khuyết, gây bất ổn ở phạm vi rộng, gây hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế Ở cấp độ vĩ mô, tốc độ tăng trưởng suy giảm, lạm phát tăng cao, sản xuất đình trệ Ở cấp độ vi mô, hàng hoá ứ đọng, nợ xấu tăng cao ở một số thị trường trọng điểm như thị trường bất động sản, thị trường tài chính tiền tệ, thị trường hàng hoá Hệ thống tài chính mất an toàn Sức sản xuất của nền kinh tế suy giảm, chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh của nền kinh tế thấp, năng lực cạnh tranh kém Nền kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn khủng hoảng
Nhằm khắc phục khủng hoảng, Việt Nam đã tiến hành tái cơ cấu nền kinh tế Các chủ trương, chính sách, giải pháp tái cơ cấu được ban hành Tái cơ cấu nền kinh
tế được Đảng, nhà nước xác định là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách, cần thực hiện ngay bây giờ và những năm tiếp theo Sau 06 năm thực hiện (từ 2011 đến 2017), nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực Các chỉ số kinh tế vĩ mô như lạm phát, tăng trưởng, cán cân thương mại, tỷ lệ việc làm đã ổn định trở lại Nền kinh tế tiếp tục xu hướng phát triển Đây là kết quả tích cực từ hoạt động tái cơ cấu
Tuy nhiên, sau 06 năm tái cơ cấu, nền kinh tế Việt Nam vẫn tồn tại những bất ổn chưa khắc phục được Đó là việc tái cơ cấu đầu tư công ở một số ngành, địa phương chưa đáp ứng yêu cầu, đầu tư còn dàn trải, thất thoát, lãng phí ở một số dự
án lớn Xử lý nợ đọng trong xây dựng cơ bản chậm Thu hút nguồn lực tư nhân tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng chưa hiệu quả, thiếu minh bạch dẫn đến lợi ích nhóm, lợi ích tư nhân vượt trên lợi ích công gây ra nhiều bức xúc trong nhân dân Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chưa chú trọng đến chuyển giao công nghệ
và vấn đề môi trường Trong lĩnh vực tài chính, nợ xấu ngân hàng vẫn còn và thậm
Trang 7chí còn ở mức nguy hiểm Chất lượng tín dụng và dịch vụ ngân hàng cải thiện chậm, cơ cấu tín dụng chưa phù hợp với yêu cầu phát triển Năng lực tài chính, quản trị của một số tổ chức tín dụng yếu, hoạt động của một số ngân hàng thương mại cổ phần thiếu minh bạch, chưa phù hợp thông lệ quốc tế Trong tái cơ cấu doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhà nước, ngoài biện pháp cổ phần hóa theo hình thức bán phần vốn nhà nước, chưa có giải pháp nào để nâng cao năng lực sản xuất và sức cạnh tranh cho hệ thống doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung Tiến độ cổ phần hóa chậm, tỷ lệ vốn được cổ phần hóa thấp Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước chưa tương xứng với nguồn lực được nắm giữ, có những vi phạm gây thất thoát, lãng phí lớn tại một số doanh nghiệp nhà nước trọng điểm Doanh nghiệp nhà nước chưa thể hiện được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
Nếu xem xét hiệu quả hoạt động tái cơ cấu với các tiêu chí đo lường như hiệu quả đầu tư, năng suất lao động, chỉ số ứng dụng và phát triển khoa học công nghệ, chỉ số cạnh tranh, mức độ tín nhiệm, mức độ minh bạch, hiệu quả của nền kinh tế…thì nền kinh tế Việt Nam vẫn còn ở mức độ và trình độ phát triển thấp, chưa có chuyển biến tích cực, thậm chí có những tiêu chí bị thụt lùi Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng nhận định:
Chất lượng tăng trưởng một số mặt còn thấp, cải thiện còn chậm; năng suất nhiều ngành, lĩnh vực còn thấp; công nghệ sản xuất phần lớn còn lạc hậu Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng còn hạn chế, hệ số sử dụng vốn còn cao Năng lực cạnh tranh quốc gia chưa được cải thiện, nhất là về thể chế kinh tế, kết cấu hạ tầng và đổi mới công nghệ [18, tr.247]
Đánh giá về tái cơ cấu nền kinh tế, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng nhận xét: "Nợ xấu đang giảm dần nhưng vẫn còn ở mức cao, nợ công tăng nhanh Tình trạng đầu tư công dàn trải, thất thoát, lãng phí chậm được khắc phục Việc xây dựng và thực hiện đề án cơ cấu lại tổng thể nền kinh tế thiếu đồng bộ, chưa thật sự gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, kết quả còn hạn chế" [18, tr.85] Điều đó cho thấy tái cơ cấu nền kinh tế thời gian qua vẫn còn những hạn chế và chưa đạt được hiệu quả mong muốn
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những tồn tại trên trong đó có vai trò của nhà nước Việc nhà nước chưa phát huy hết vai trò trong tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn vừa qua đã làm giảm hiệu quả hoạt động tái cơ cấu Ngoài việc phát động chủ trương, đưa ra đường lối chính sách, nhà nước chưa phát huy hết vai trò của
Trang 8mình trong hành động thực tiễn Nhận thức của chính nhà nước về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất là về vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế chưa đủ rõ và còn khác nhau dẫn đến sự thiếu tập trung và nhất quán trong chỉ đạo tái cơ cấu nền kinh tế Việc xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, kế hoạch, cơ chế, chính sách và chỉ đạo, điều hành tái cơ cấu nền kinh tế của nhà nước còn lúng túng, chưa nhất quán, chưa tạo được động lực mạnh mẽ trong tái cơ cấu Khả năng dự báo và hoạch định chính sách của nhà nước còn hạn chế Các đề
án tái cơ cấu nền kinh tế, cơ chế, chính sách, pháp luật về kinh tế nói chung, về tái
cơ cấu nền kinh tế nói riêng chậm được ban hành, chồng chéo, thiếu tính ổn định, nhất quán, có biểu hiện cục bộ, chất lượng thấp, chưa tạo được bước đột phá trong huy động và phân bổ các nguồn lực phát triển Đề án tái cơ cấu được xây dựng nhiều nhưng tính khả thi chưa cao, chưa đáp ứng đúng yêu cầu của thực tiễn Trong tái cơ cấu nền kinh tế, nhà nước chậm cải cách hành chính, bộ máy quản lý nhà nước còn cồng kềnh, chậm đổi mới cũng tạo ra lực cản nhất định, đặc biệt là
bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế Quản lý nhà nước chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của kinh tế thị trường
Rõ ràng, hoạt động tái cơ cấu đang cần một nhân tố trung tâm, có tính quyết định, có quyền lực, chức năng, thẩm quyền, có khả năng huy động, kiểm soát, giám sát các nguồn lực để thực hiện tái cơ cấu theo mục đích, yêu cầu đề ra Nhân tố đó, không ai khác chính là nhà nước Với chức năng và quyền lực của mình, nhà nước phải đóng vai trò tích cực hơn, chủ động hơn trong hoạt động tái cơ cấu, phải là trung tâm của hoạt động tái cơ cấu Việc nhà nước chưa xác định và chưa phát huy hết vai trò của mình dẫn đến việc định hướng nội dung, đối tượng, phương pháp hoạt động tái cơ cấu nền kinh tế chưa toàn diện, làm giảm hiệu quả của hoạt động tái cơ cấu Cơ cấu nền kinh tế vẫn chưa có những biến đổi mang tính cơ bản Những kết quả đạt được mới chỉ là kết quả mang tính tình huống riêng lẻ, trong những lĩnh vực, phạm vi nhất định như đầu tư công, tài chính, doanh nghiệp, nhằm xử lý những khiếm khuyết cụ thể mà chưa có tính hệ thống, chưa đảm bảo sự ổn định lâu dài
Để thực hiện tốt việc tái cơ cấu, Đảng, Nhà nước phải xác định được cơ sở lý luận và những quan điểm cơ bản, những hướng triển khai trọng tâm, cốt lõi định hướng cho quá trình tái cơ cấu, tạo sự thống nhất trong nhận thức, sự tập trung cao trong hành động Về lâu dài, phải xác định chính xác, đầy đủ vai trò, trách nhiệm của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế Từ đó nhà nước xác định chính xác đối tượng, nội dung, phương pháp tái cơ cấu, lấy khâu sản xuất, lấy lực lượng sản xuất
Trang 9làm đối tượng chính trong tái cơ cấu nền kinh tế, qua đó nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế Đây mới là vai trò, nội dung cơ bản mà nhà nước phải hướng tới trong tái cơ cấu nền kinh tế ở Việt Nam
Việc nhà nước chưa xác định và chưa phát huy hết vai trò của mình trong hoạt động tái cơ cấu giai đoạn 2011 - 2017 vừa qua có thể coi là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến những tồn tại, hạn chế, ảnh hưởng tới hiệu quả tái cơ cấu nền kinh tế Từ thực tiễn và lý luận đó, việc nghiên cứu làm rõ vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam giai đoạn hiện nay là điều cần thiết, có giá trị
hữu ích Vì vậy, đề tài "Vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế ở Việt
Nam" được nghiên cứu sinh chọn để nghiên cứu và làm luận án tiến sĩ kinh tế,
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố có liên quan đến luận án để có thể kế thừa hoặc phát triển những kết quả đó Đồng thời xác định khoảng trống mà luận án cần tiếp tục nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về cơ cấu nền kinh tế và tái cơ cấu nền kinh tế
- Xây dựng khung lý thuyết về vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh
tế, trong đó tập trung làm rõ nội dung vai trò nhà nước và sự cần thiết của vai trò nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế
- Phân tích thực trạng vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2017
- Đề xuất phương hướng, giải pháp phát huy vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam nhằm nâng cao năng lực sản xuất, xây dựng cơ cấu nền kinh tế Việt Nam phát triển bền vững trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế ở Việt Nam hiện nay
Trang 103.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận
và thực tiễn về cơ cấu và tái cơ cấu nền kinh tế, về vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế, nghiên cứu thực trạng hoạt động tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011 - 2017, nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát huy vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế ở Việt Nam những năm tiếp theo
- Về không gian nghiên cứu: Trong nền kinh tế Việt Nam Ngoài ra, luận án
có đề cập, phân tích kinh nghiệm thực hiện vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu của một số quốc gia trên thế giới
- Về thời gian: Luận án nghiên cứu giai đoạn thực hiện tái cơ cấu nền kinh
tế từ 2011 đến 2017, đưa ra các dự báo, phương hướng, giải pháp, tầm nhìn đến năm 2030
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án sử dụng cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước về vấn đề quản lý, điều hành kinh tế, về chủ trương, giải pháp tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam giai đoạn hiện nay Đồng thời, luận án cũng sử dụng cơ sở lý luận và phương pháp luận của các nhà kinh tế khác cũng như các lý thuyết về vai trò của nhà nước trong quản lý, điều hành nền kinh tế nói chung, trong tái cơ cấu nền kinh tế nói riêng
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp trừu tượng hóa khoa học kết hợp với các phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính gồm:
- Phương pháp lịch sử, phương pháp hệ thống, phương pháp thống kê nhằm khôi phục hệ thống thông tin, dữ liệu tái cơ cấu trong nền kinh tế theo thời gian
- Phương pháp phân tích - tổng hợp nhằm phân tích làm rõ những nội dung nghiên cứu của luận án Tìm hiểu kinh nghiệm của một số quốc gia, kế thừa, tham khảo các công trình nghiên cứu, số liệu điều tra, tổng kết thực tiễn của các cá nhân,
tổ chức về những nội dung có liên quan đến luận án
- Các phương pháp chuyên gia, hội thảo, thảo luận nhóm, phương pháp đối chiếu so sánh, phương pháp phỏng vấn nhằm thu thập số liệu, thông tin từ các chuyên gia trong các lĩnh vực kinh tế, những kinh nghiệm thực tiễn, tổng kết thực
Trang 11tiễn, những trải nghiệm của các chuyên gia về vấn đề nghiên cứu Qua đó luận án sẽ thu được những thông tin, những yếu tố liên quan tới nội dung nghiên cứu
5 Đóng góp mới của luận án
- Luận án đã tổng hợp và đưa ra hai khái niệm cơ bản là cơ cấu nền kinh tế
và tái cơ cấu nền kinh tế
- Luận án đã nêu được bốn vai trò cơ bản của nhà nước trong tái cơ cấu cùng tiêu chí đánh giá, đồng thời chỉ ra sự cần thiết và những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế và một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Luận án phân tích thực trạng vai trò nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011 - 2017 với một số kết quả cơ bản đạt được, những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân
- Luận án đã đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam những năm tiếp theo
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Luận án sẽ là một sản phẩm khoa học nhằm bổ sung những khoảng trống trong việc nghiên cứu về vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế ở Việt Nam hiện nay Nội dung đạt được của luận án cũng sẽ góp phần bổ sung và làm rõ thêm một số thông tin khoa học, cụ thể:
- Cơ sở lý luận về cơ cấu và tái cơ cấu nền kinh tế cũng như lý luận và thực tiễn về vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế
- Phương hướng, giải pháp phát huy vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế ở Việt Nam giai đoạn hiện nay nhằm khắc phục khiếm khuyết, xây dựng nền kinh tế Việt Nam hiện đại, hiệu quả
Luận án hoàn thành sẽ là tài liệu tham khảo, cung cấp những phương hướng
và giải pháp hữu ích để nâng cao hiệu quả hoạt động tái cơ cấu nền kinh tế ở Việt Nam Luận án cũng có thể là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm nghiên cứu vấn đề tái cơ cấu nền kinh tế cũng như vai trò quản lý, điều hành của nhà nước đối với nền kinh tế
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án gồm 4 chương, 12 tiết
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN VAI TRÒ
CỦA NHÀ NƯỚC TRONG TÁI CƠ CẤU NỀN KINH TẾ
Cơ cấu nền kinh tế chỉ được nhận diện và trở thành đối tượng trực tiếp trong hoạt động quản lý kinh tế của nhà nước khi nó phát triển đủ để tạo thành tính chỉnh thể của nền kinh tế Đồng thời, năng lực quản lý, nhận thức của nhà nước về kinh tế cũng đạt đến trình độ giới hạn nhất định Trên thực tế, chỉ khi cơ cấu nền kinh tế phát triển đến giới hạn nào đó, đạt được tính chỉnh thể cần thiết, nó mới biểu hiện rõ nét tính cơ cấu và tạo ra những tác động mang tính đặc trưng của cơ cấu nền kinh tế đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội Lúc này, sự nhận biết về cơ cấu nền kinh tế sẽ rõ ràng hơn, cần thiết hơn
Từ đầu thế kỷ XX, những biến đổi kinh tế sâu sắc, đặc biệt là cuộc đại khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 đã tạo ra điều kiện thực tiễn quan trọng để các nhà khoa học nghiên cứu Từ đó, cơ cấu nền kinh tế được nghiên cứu như một đối tượng nghiên cứu độc lập trong đó, vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế cũng được nghiên cứu và đề cập trực tiếp Vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh
tế trở thành nội dung nghiên cứu trực tiếp cho những biến đổi kinh tế trên phạm vi toàn cầu, phạm vi khu vực, trong toàn bộ nền kinh tế cũng như từng lĩnh vực, ngành nghề kinh tế của mỗi quốc gia trong đó có Việt Nam Dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, có thể nêu một số công trình nghiên cứu liên quan sau:
1.1 CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI
1.1.1 Công trình nghiên cứu liên quan đến cơ cấu nền kinh tế và tái cơ cấu nền kinh tế
Trong những năm gần đây, một số nghiên cứu về cơ cấu và tái cơ cấu kinh tế
có thể kể đến là Lester R Brown (2001) đề cập đến công cụ tái cơ cấu nền kinh tế, Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển OECD (2002) tái cơ cấu công nghiệp toàn cầu, Paul Krugman (2008) đưa ra tổng hợp về tái cơ cấu nền kinh tế sau các cuộc khủng hoảng từ trước đến nay, Andrew Figura và William Wascher (2008) đề cập đến dấu hiệu sớm từ thế kỷ XXI về nguyên nhân và kết quả tái cơ cấu kinh tế, Báo cáo của Liên hiệp quốc (2009) các đặc điểm cần cải tổ của hệ thống tài chính quốc tế, Viral V.Acharya và Matthew Richardson (2009) cải cách hệ thống tài chính quốc tế, Robert Wade (2010) đánh giá thay đổi chính sách công nghiệp của các quốc gia thu nhập thấp sau khủng hoảng, Sonali Mehta-Rao và Senior Honors Thesis (2010) phân tích ngành nghề theo
Trang 13chương trình tái cơ cấu kinh tế của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Michel Leonard (2010) khẳng định lại tính cấp thiết của việc tái cơ cấu nền kinh tế thế giới thời kỳ sau khủng hoảng Bên cạnh đó còn nhiều công trình nghiên cứu về quá trình tái cơ cấu nền kinh tế
ở một hoặc một vài quốc gia như Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Nga,
Đức, Anh… Một số tác phẩm có nội dung liên quan gần đây gồm:
Bài báo "Fundamental economic structure and structural change in regional economies: a methodological approach" (Cơ cấu nền kinh tế cơ bản và sự thay đổi
cơ cấu nền kinh tế vùng: cách tiếp cận mang tính phương pháp) của Sudhir K Thakur [141] Nội dung hữu ích của bài báo này là tác giả đưa ra khái niệm về cơ
cấu kinh tế Theo tác giả, "cơ cấu nền kinh tế được định nghĩa là kết cấu, cấu tạo
với các thành phần khác nhau hợp thành toàn thể nền kinh tế vĩ mô, thay đổi tương đối về quy mô theo không gian, thời gian và mối quan hệ của nó với phát triển kinh tế" [141, tr.10] Đi vào nội dung cụ thể, tác giả đề cập đến cơ cấu nền kinh tế, biến
đổi cơ cấu và phát triển, phương pháp nghiên cứu sự thay đổi cơ cấu nền kinh tế Cơ cấu nền kinh tế cơ bản - một phương pháp tiến cận gồm: khái niệm, đặc điểm, phương pháp đo lường, khả năng dự đoán, tầm quan trọng, tính ổn định Tác giả đã đưa ra một loạt phương trình toán học với các tham số để xây dựng mô hình kinh tế lượng cho những lý luận của mình
Bài báo "Globalization, structural change and productivity growth" (Toàn
cầu hóa, biến đổi cơ cấu và tăng trưởng sản xuất) của Margaret S McMillan và Dani Rodrik [137] Trong bài báo, các tác giả đề cập đến ba vấn đề là toàn cầu hóa, biến đổi cơ cấu nền kinh tế và tăng trưởng sản xuất cùng mối liên hệ giữa chúng Các tác giả cũng đưa ra mô hình biến đổi cơ cấu nền kinh tế và tăng trưởng sản xuất, xác định những đóng góp của cơ cấu nền kinh tế, giải thích cho những mô hình cơ cấu nền kinh tế theo góc nhìn của toàn cầu hóa và tăng trưởng sản xuất Nói
về sự biến đổi cơ cấu nền kinh tế, các tác giả kết luận: cơ cấu nền kinh tế thay đổi giống như sự phát triển tự thân của nền kinh tế song không phải là một quá trình tự động Nó cần phải có một cú hích thích hợp, trực tiếp Toàn cầu hóa không có khả năng biến đổi cơ cấu nền kinh tế nhưng nó có khẳng năng tạo ra các giá trị, lợi ích thúc đẩy điều này" [137, tr.27]
Bài báo "Structural Change, Globalization and Economic Growth in China and India" (Biến đổi cơ cấu, toàn cầu hóa và tăng trưởng kinh tế ở Trung Quốc và Ấn Độ) của Vittorio Valli, Donatella Saccone [144, tr.133-163] Trong thời kỳ tăng trưởng
Trang 14kinh tế nhanh chóng, Trung Quốc và Ấn Độ đã trải qua những biến đổi cơ cấu nền kinh tế sâu sắc Nội dung của bài báo là phân tích mối quan hệ giữa biến đổi cơ cấu, quá trình toàn cầu hoá và tăng trưởng kinh tế ở hai quốc gia Châu Á lớn nhất này
Bài báo "Economic Restructuring and the Role of SMEs in Singapore" (Tái
cơ cấu nền kinh tế và vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Singapore) của Faizal bin Yahya và Chang Zhi Yang [147] Sự thành công trong cơ cấu nền kinh tế hiện tại của Singapore phụ thuộc rất nhiều vào khả năng của các doanh nghiệp vừa
và nhỏ để tự đổi mới mình Nhà nước công nhận điều này và đã đề ra các chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Mục đích của bài báo này là xem xét vai trò dự kiến của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế được tái cơ cấu của Singapore và đánh giá liệu các chính sách và quy trình hiện tại đang tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi này có hiệu quả hay không Tại phần thứ ba của bài báo, hai tác giả nghiên cứu chi tiết hơn về tái cơ cấu nền kinh tế hiện tại ở Singapore và vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ như thế nào Hai tác giả đánh giá hiệu quả của các chính sách và chương trình phát triển doanh nghiệp vừa
và nhỏ hiện nay Bài viết kết thúc bằng các khuyến nghị chính sách và kết luận
Cuốn The Heart of Economic Reform: China's Banking Reform and State
Enterprise (Trọng tâm của đổi mới kinh tế ở Trung Quốc: Tái cơ cấu doanh nghiệp
nhà nước và đổi mới hệ thống ngân hàng) của Donald D.Tong [127] Xuất phát từ tầm quan trọng của hệ thống doanh nghiệp và hệ thống ngân hàng trong quá trình phát triển kinh tế Trung Quốc, tác giải đi sâu mô tả cơ cấu và phân tích các khía cạnh của hệ thống ngân hàng và doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc Trong tác phẩm, tác giả làm rõ mối liên hệ mật thiết giữa hệ thống tài chính ngân hàng và hệ thống doanh nghiệp, cũng như vai trò, tầm quan trọng của hai nhân tố này đối với phát triển kinh tế Qua đó chỉ ra và nhấn mạnh rằng "muốn tái cơ cấu thành công hệ thống ngân hàng và hệ thống doanh nghiệp, nhà nước nhất quyết phải thực hiện đồng thời và liên hệ chặt chẽ hai nhân tố này với nhau" [127, tr.7] Đây là gợi ý quan trọng nhằm tạo tính đồng bộ cho quá trình tái cơ cấu nền kinh tế ở Việt Nam
Cuốn Eco-Economy: Building an Economy for the Earth (Kinh tế sinh thái:
xây dựng nền kinh tế cho trái đất) của Lester R Brown [135] Trong tác phẩm, tác giả đề cập đến mối liên hệ giữa hệ sinh thái và kinh tế Theo đó, các nhà sinh thái học và các nhà kinh tế học có thể tính toán các chi phí sinh thái của các hoạt động kinh tế khác nhau Những chi phí này sau đó có thể được kết hợp vào giá thị trường
Trang 15của một sản phẩm hay dịch vụ dưới hình thức thuế Và để có một nền kinh tế sinh thái bền vững, tác giả cho rằng cần phải tái cơ cấu nền kinh tế Tại chương 11, tác giả đề cập đến những công cụ cho tái cơ cấu nền kinh tế Có một số công cụ chính sách có thể được sử dụng để tái cơ cấu nền kinh tế bao gồm: chính sách tài khóa, quy định của nhà nước, ghi nhãn sinh thái, giấy phép có thể mua bán
Bài báo "The causes and consequences of economic restructuring: evidence from the early 21st century" (Nguyên nhân và hệ quả của tái cơ cấu nền kinh tế: Bằng chứng từ đầu thế kỷ 21) của Andrew Figura và William Wascher [124] Đây
là tác phẩm nghiên cứu về tái cơ cấu thông qua các mô hình kinh tế lượng rất cụ thể, chi tiết với các hàm số, biến số kinh tế Trong bài báo, các tác giả đề cập đến các nội dung cụ thể gồm: xác định các lĩnh vực tái cơ cấu [124, tr.4], nguyên nhân tái cơ cấu và dấu hiệu của nó [124, tr.9], tái cơ cấu xảy ra như thế nào [124, tr.12], tác động kinh tế của tái cơ cấu [124, tr.16], chi phí kinh tế của tái cơ cấu [124, tr.25] Hai tham số kinh tế chủ yếu được các tác giả đề cập và phân tích trong tái cơ cấu là vốn và lao động Bài báo kết luận:
Về nguyên tắc, tái cơ cấu nền kinh tế có thể xảy ra để đáp ứng với một trong hai nhân tố là cung hoặc cầu những cú sốc Đối với hầu hết các ngành công nghiệp, các mô hình của mối tương quan giữa giá cả, giá trị
bổ sung, tiền lương và năng suất là phù hợp hơn với những cú sốc nhu cầu tương đối và là nguyên nhân chủ yếu Đặc biệt, trong ngành công nghiệp điển hình, cú sốc nhu cầu tương đối dẫn đến một sự suy giảm về nhu cầu lao động và tăng năng suất, cho thấy rằng các ảnh hưởng của cú sốc đã được tập trung ở phân khúc kém hiệu quả của ngành công nghiệp Tuy nhiên, trong một vài ngành công nghiệp, những cú sốc công nghệ (có lẽ thiên vị chống lại lao động) xuất hiện là nguồn gốc của tái cơ cấu kinh tế [124, tr.29-30]
Liên quan đến hậu quả của việc tái cơ cấu, các tác giả cho rằng chi phí kinh tế
là đáng kể Các ngành công nghiệp tái cơ cấu bị suy giảm công việc và sa thải vĩnh viễn lớn hơn các ngành khác, dẫn đến một sự mất mát đáng kể vốn (Nhân lực, vật lực, hoặc tổ chức) dành riêng cho những ngành công nghiệp Và trong khi nền kinh tế xuất hiện để phản ứng tương đối hiệu quả trong việc di chuyển các nguồn lực không cần thiết ra khỏi cơ cấu các ngành công nghiệp, phải mất một số lượng đáng kể thời gian cho các nguồn lực Kết quả là, các chi phí tái cơ cấu sẽ lớn, đặc biệt là chi phí
Trang 16cho nền kinh tế tổng hợp, trong điều kiện vốn cụ thể bị mất và thời gian cần thiết để chuyển các nguồn lực từ chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp sang các ngành khác Đây là bài báo phân tích tính kỹ thuật rất sâu của quá trình tái cơ cấu với các mô hình kinh tế lượng nhằm làm rõ hiệu quả, chi phí của quá trình tái cơ cấu nền kinh tế
Bài báo "Structural Transformation in China and India: The Role of Macroeconomic Policies" (Biến đổi cơ cấu kinh tế ở Trung Quốc và Ấn Độ: Vai trò của chính sách kinh tế vĩ mô) của Codrina Rada và Rudiger von Arnim [125] Trong bài báo, hai tác giả thảo luận về lý do tại sao tăng trưởng kinh tế và cải thiện hiệu quả là cần thiết nhưng không đủ điều kiện cho phát triển kinh tế dài hạn Hai tác giả đã tìm hiểu các chính sách kinh tế vĩ mô có thể duy trì sự thay đổi cơ cấu nền kinh tế ở Trung Quốc và Ấn Độ, xem xét những thay đổi trong đầu tư, tiền lương, xu hướng năng suất lao động, sự mất giá của tiền tệ ảnh hưởng đến kinh tế vĩ
mô và tạo việc làm trong khu vực chính thức… Các tác giả đã sử dụng các mô hình kinh tế lượng, đưa ra mô hình tăng trưởng trong ngắn hạn để minh chứng cho chính sách kinh tế vĩ mô của Trung Quốc và Ấn Độ trong việc duy trì sự biến đổi cơ cấu nền kinh tế trong đó nhấn mạnh các tham số lao động, năng suất lao động
Cuốn Restructuring in Europe 2011 (Tái cơ cấu kinh tế châu Âu, năm 2011)
của Hội đồng châu Âu [129] Cuốn sách đưa ra quan điểm rằng tái cơ cấu kinh tế là
sự cần thiết và thường xuyên của quá trình sản xuất, kinh doanh Nó là quá trình cần thiết để tạo ra áp lực cho các tổ chức duy trì sự thay đổi và cạnh tranh trong thị trường toàn cầu Tại chương 1, tác phẩm đề cập đến nội dung gồm Liên minh châu Âu đối phó với khủng hoảng với các nội dung như mức độ tái cơ cấu trong Liên minh châu
Âu [103, tr.18], hỗ trợ thị trường lao động và tiếp cận thị trường tài chính trong khủng hoảng [103, tr.43], vai trò của chính sách công nghiệp trong tái cơ cấu [103, tr.48] Chương 3, tác phẩm đề cập đến vai trò của Liên minh châu Âu trong việc hỗ trợ tái cơ cấu kinh tế như vai trò hỗ trợ của nhà nước, của các quỹ xã hội cũng như sự tác động của tái cơ cấu đến các vùng ở châu Âu [103, tr.99], việc phát triển các năng lực trong khắc phục các hệ quả của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế Chương 5 đề cập đến những hoạt động hỗ trợ tái cơ cấu kinh tế của nhà nước [103, tr.150] và mười bài học trong thực hiện và quản lý hoạt động tái cơ cấu [103, tr.230]
1.1.2 Công trình nghiên cứu liên quan đến vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế
Bàn về vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế, có rất nhiều tác phẩm kinh
Trang 17điển của các nhà tư tưởng vĩ đại như Platon (427-347 TCN), Aristoteles (384-322 TCN), Francois Quesnay (1694-1774), Anne Robert Jaucques Turgot (1727-1781), Wiliam Petty (1623-1687), Adam Smith (1723-1790), David Ricardo, C.Mác (1818-1883), Ph.Ăng-ghen (1820-1895), Lênin (1870-1924), và nhiều nhà kinh tế học nổi tiếng như John Maynard Keynes (1883-1946), Paul Anthony Samuelson (1915-2009)… đề cập đến với những nội dung rất cơ bản, còn hiện hữu, hữu ích đến ngày nay và nhiều năm sau nữa Trong các tác phẩm của các tác giả này, mặc dù không trực tiếp đề cập đến nội hàm tái cơ cấu nền kinh tế do điều kiện nhận thức và thực tiễn ở mỗi thời kỳ lịch sử là khác nhau, song nhiều tác phẩm có nội dung mà trong điều kiện nhận thức ngày nay, có thể nói, chúng như là đang đề cập đến hoạt động tái cơ cấu nền kinh tế và vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế ở những phương diện, lĩnh vực khác nhau
Mặc dù có nhiều tác phẩm, tác giả nghiên cứu, đề cập ở nhiều khía cạnh nhưng tổng kết chung của tất cả các công trình nghiên cứu đó đến giai đoạn hiện nay, chỉ có hai tư tưởng lớn bao trùm và có sức ảnh hưởng sâu sắc, thể hiện vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế nói chung, vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế nói riêng Theo dòng thời gian, tư tưởng tiêu biểu đầu tiên là lý thuyết
"Bàn tay vô hình" của nhà kinh tế học Adam Smith: thị trường là phương thức hữu hiệu nhất của xã hội loài người trong điều tiết các hoạt động kinh tế Do đó, thị trường nên chiếm vị trí trung tâm và nhà nước chỉ nên đóng một vai trò tối thiểu trong nền kinh tế Theo A.Smith, nhà nước chỉ cần thực hiện 3 chức năng cơ bản: bảo đảm môi trường hoà bình, không để xảy ra nội chiến, ngoại xâm; tạo ra môi trường thể chế cho phát triển kinh tế thông qua hệ thống pháp luật; cung cấp hàng hoá công cộng Ngoài ba chức năng cơ bản đó, tất cả các vấn đề còn lại đều có thể được giải quyết một cách ổn thoả, nhịp nhàng bởi "Bàn tay vô hình" Tư tưởng về
"Bàn tay vô hình" đã thống trị trong các học thuyết kinh tế phương Tây đến đầu thế
kỷ XX trong các trào lưu của học thuyết Tân cổ điển
Năm 1929 - 1933, thế giới diễn ra đại suy thoái kinh tế, học thuyết kinh tế của Jonh Maynard Keynes ra đời đặt nền móng vững chắc và nền tảng lý luận cơ bản cho vai trò "can thiệp" của nhà nước vào nền kinh tế John Maynard Keynes (1884 - 1946), nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh với tác phẩm "Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ" xuất bản tháng 3 năm 1936 Keynes là đại diện tiêu biểu cho tư tưởng tăng cường vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế Trong tác phẩm "Lý thuyết
Trang 18chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ" Keynes cho rằng, cần phải tổ chức lại toàn bộ hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa theo nguyên tắc lý thuyết mới Chính ông đã làm một cuộc cách mạng về lý thuyết kinh tế trong đó nhấn mạnh vai trò của "Bàn tay hữu hình" điều tiết nền kinh tế - vai trò của nhà nước Từ những nguyên lý gốc của Keynes, giữa thế kỷ XX trở đi đã xuất hiện trường phái Keynes và khuynh hướng "Hậu Keynes" Mô hình này không những khắc phục được cuộc đại khủng hoảng kinh tế mà còn tạo ra nhiều nền kinh tế mới, phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan…
Đến cuối thế kỷ XX, vấn đề tái cơ cấu nền kinh tế thường được đề cập đến trong mối liên hệ với các mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế với các nhà nghiên cứu nổi bật như mô hình Ramsey (1928) về tối ưu hóa việc tiêu dùng trong hộ gia đình, Harrod (1939) và Domar (1948) đã kết hợp lý thuyết của Keynes và lượng hóa mối quan hệ giữa tăng trưởng và vốn, Solow (1956) và Swan (1956) chỉ ra yếu tố lao động và công nghệ trong tăng trưởng, Rostow (1960) nêu ra lý thuyết phát triển của nền kinh tế từ thấp đến cao, Romer (1986) và Lucas (1988) với lý thuyết về tăng trưởng nội sinh Về nghiên cứu thực tiễn, các công trình cũng xoay quanh nội dung chính là tăng trưởng, phát triển với nghiên cứu của Holli B.Chenery (1981) và Joyce Kolko (1988) về vấn đề sự cần thiết của tái cơ cấu kinh tế trong bối cảnh giá năng lượng tăng cao, Peacock (1989), Berg (2004), Yu (1997), World bank (1993) với nội dung giải quyết tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, David J.Carrier (1997) nói
về tái cấu trúc ngành công nghiệp, Marcus Powell (2003) tái cấu trúc kinh tế gắn với nguồn lực con người Một số tác phẩm thời gian gần đây có nội dung liên quan gồm:
Cuốn The Politics of Economic Restructuring in India: Economic Governance
and state spatial rescaling (Quan điểm tái cơ cấu kinh tế ở Ấn Độ: Hoạt động của
nền kinh tế và phạm vi tác động của nhà nước) của Loraine Kennedy [136] Trong tác phẩm, tác giả đề cập đến quan điểm của Ấn Độ trong tái cơ cấu nền kinh tế với nội dung là hoạt động của nền kinh tế và phạm vi tác động của nhà nước Từ khi cải cách, kinh tế Ấn Độ liên tục tăng trưởng mạnh mẽ đi liền với việc mở rộng cơ cấu nền kinh
tế Cơ cấu nền kinh tế Ấn Độ mở rộng cả về không gian kinh tế và các nhân tố kinh
tế Tác giả khẳng định, sự phát triển cơ cấu này đến từ các nguồn lực của thị trường, song không thể thiếu sự tác động của nhà nước Ba nội dung chính mà tác phẩm nghiên cứu là: cách thức, phạm vi, mức độ tác động của nhà nước; chính sách kinh tế được tạo ra từ sự phân chia quốc gia; sự ảnh hưởng, sự tác động, tương tác lẫn nhau giữa tác động của nhà nước với hoạt động của thị trường
Trang 19Cuốn The Korean Developmental state (Hàn Quốc - Nhà nước phát triển)
của Iain Pirie [134] Cuốn sách có nội dung bao hàm toàn bộ quá trình Nhà nước Hàn Quốc tái cơ cấu kinh tế kể từ khủng hoảng tài chính 1997 Tác phẩm này có sự khác biệt với những nghiên cứu trước bởi sự nhất quán trong diễn đạt sự thay đổi cơ cấu trong chính sách kinh tế toàn cầu và thể hiện được vai trò quyết định của Nhà nước Hàn Quốc trong các chương trình kinh tế của mình Nội dung cuốn sách đề cập đến cạnh tranh toàn cầu - sự lựa chọn của chủ nghĩa tự do mới, sự tan rã của nhà nước phát triển và thất bại của nền kinh tế tự do tại Hàn Quốc, xây dựng thể chế cho thị trường, phối hợp tái cơ cấu nền tài chính - trụ cốt chính trong khủng hoảng, tác động xã hội của khủng hoàng và tái cơ cấu chủ nghĩa tự do mới Tác phẩm đưa ra những viễn cảnh mới trong kinh nghiệm phát triển kinh tế, tái cơ cấu, khắc phục khủng hoảng của Nhà nước Hàn Quốc, nhấn mạnh tầm quan trong của nó trong xu thế toàn cầu
Cuốn Globalization, economic development and the role of the state (Toàn
cầu hóa, phát triển kinh tế và vai trò của nhà nước) của Ha-Joon Chang [131] Cuốn sách có 3 phần, 9 chương trong đó có phần 1 là phần lý luận với 3 chương Chương
1 tác giả đề cập đến những lý luận về sự can thiệp của nhà nước trong lịch sử Đặc biệt tại chương 2, tác giả đề cập đến vai trò của nhà nước trong việc tạo lập và thay đổi cơ cấu nền kinh tế Theo tác giả:
Dù nền kinh tế thịnh vượng hay khủng hoảng thì vai trò của nhà nước đều có ảnh hưởng mạnh mẽ Việc nhà nước can thiệp vào nền kinh tế là cần thiết bởi sự bất lực của thị trường Khi bộ máy thị trường thất bại trong việc tạo ra các điều kiện tối ưu cho sản xuất kinh doanh, thì nhà nước, với những hiểu biết, quyền lực và trách nhiệm bảo vệ xã hội, được chờ đợi sẽ thay thế để khắc phục những khiếm khuyết của thị trường bằng các biện pháp như thuế, quản lý quyền kinh doanh, quản lý giá cả…Trong cả ba bối cảnh là nền kinh tế phát triển, nền kinh tế khủng hoảng và tạo lập mới cho nền kinh tế, nhà nước cần thể hiện hai vai trò chính trong quá trình thay đổi cơ cấu nền kinh tế, đó là vai trò nhận thức
và quản lý [131, tr.46]
Trong vai trò nhận thức, nhà nước là người trung gian nhằm cung cấp tầm nhìn tương lai cho nền kinh tế với những dự báo, kế hoạch để kiến thiết, xây dựng nền kinh tế Với vai trò quản lý, nhà nước phải kiểm soát những sung đột nảy sinh
Trang 20trong quá trình thay đổi cơ cấu nền kinh tế, đồng thời cung cấp và thực hiện những giải pháp tái cơ cấu nền kinh tế nhằm ổn định kinh tế, ổn định xã hội
Cuốn Restructuring the French Economy: Government and the Rise of
Market competition since world war II (Tái cơ cấu nền kinh tế Pháp: Nhà nước và sự
phát triển thị trường cạnh tranh từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II) của Williams James Adams [142] Trong tác phẩm, tác giả đề cập đến mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và sự biến đổi cơ cấu kinh tế Tác giả đề cập đến giải thích của Simon Kuznet
về sự đồng hành và phối hợp của tăng trưởng và biến đổi cơ cấu nền kinh tế:
Tăng trưởng kinh tề phụ thuộc vào quá trình công nghệ Quá trình công nghệ lại đòi hỏi cơ cấu nền kinh tế phải biến đổi Những trở ngại trong thay đổi cơ cấu nền kinh tế sẽ cản trở tăng trưởng kinh tế Cơ cấu nền kinh tế thay đổi không phải do những giới hạn của tăng trưởng kinh tế Nó thay đổi
do thị hiếu của khách hàng, do công nghệ sản xuất, do những điều kiện cạnh tranh quốc gia mà không phụ thuộc vào tỷ lệ tăng trưởng [142, tr.1]
Chương 2 của tác phẩm, tác giả đề cập đến phạm vi thay đổi cơ cấu nền kinh
tế Pháp Ngay sau chiến tranh thế giới lần thứ II, ngay lập tức Chính phủ Pháp đã có những chính sách nhằm thúc đẩy sự thay đổi cơ cấu nền kinh tế Tác giả khẳng định
"với những dấu tích để lại, không còn nghi ngờ gì nữa, cơ cấu nền kinh tế Pháp đã thay đổi trong bốn thập kỷ qua và toàn bộ những thay đổi này hoàn toàn theo đúng những dự báo của Kuznet" [142, tr.17] Chương 3 tác giả khảo sát những tính toán
của Chính phủ Pháp trong nỗ lực tái cơ cấu nền kinh tế trong đó miêu tả các nguyên
lý và công cụ can thiệp của nhà nước Cuối cùng tác giả nhấn mạnh tác động của chính sách nhà nước tới thái độ của doanh nghiệp và hiệu quả thị trường
Bài báo "Corporate Sector Restructuring: The Role of Government in Times
of Crisis" (Tái cơ cấu toàn thể doanh nghiệp: Vai trò của Chính phủ trong thời gian khủng hoảng) của Mark R Stone [138] Theo tác giả, việc tái cơ cấu doanh nghiệp quy mô lớn là cần thiết do cuộc khủng hoảng tài chính là một trong những thách thức lớn nhất mà các nhà hoạch định chính sách phải đối mặt Đề cập đến vai trò của nhà nước, tác giả khẳng định, tái cơ cấu không thể thành công nếu không có một nền tảng vững chắc được thiết lập bởi hành động của nhà nước thông qua các chính sách kinh
tế Nhà nước buộc phải có vai trò dẫn đầu, trực tiếp vì nhu cầu ưu tiên các mục tiêu chính sách, giải quyết các thất bại của thị trường, cải cách các hệ thống pháp luật và thuế, và đối phó với sự phản kháng của các nhóm lợi ích Mục tiêu của việc tái cơ cấu
Trang 21doanh nghiệp có quy mô lớn là điều cơ bản để tái cơ cấu các tập đoàn kinh tế khả thi
và thanh lý các khoản nợ, khôi phục sức khoẻ của khu vực tài chính, tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế dài hạn Các chính sách tái cơ cấu doanh nghiệp cần thực hiện theo trình tự Thứ nhất là xây dựng chính sách kinh tế vĩ mô và pháp luật làm nền tảng cho việc tái cơ cấu thành công Sau đó, cơ cấu lại tài chính phải bắt đầu thiết lập các ưu đãi phù hợp để các ngân hàng có thể có vai trò trong việc cơ cấu lại và nhận tín dụng lại Chỉ sau đó, việc tái cấu trúc doanh nghiệp mới bắt đầu một cách nghiêm túc với sự tách biệt khỏi các tập đoàn kinh tế phi vật thể - tái cấu trúc nền kinh tế cũ và thanh lý nó Các công cụ tái cơ cấu doanh nghiệp do chính phủ lãnh đạo chính là trung gian, kế hoạch khích lệ, tăng vốn của ngân hàng, các công ty quản lý tài sản, và chỉ định các giám đốc để lãnh đạo cơ cấu lại Sau khi đạt được mục tiêu, nhà nước phải cắt giảm sự can thiệp của mình để doanh nghiệp hoạt động theo bản chất kinh tế Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã đưa ra nhiều nội dung hữu ích đối với việc tái cơ cấu doanh nghiệp như nhiệm vụ tái cơ cấu, lựa chọn nội dung mà nhà nước cần tham gia tái cơ cấu, cách thức giảm vai trò của nhà nước khi thực hiện xong tái cơ cấu và một số ví dụ cụ thể ở các nước Mexico, Chile, Hungary
1.2 CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC
1.2.1 Công trình nghiên cứu liên quan đến cơ cấu nền kinh tế và tái cơ cấu nền kinh tế
Các công trình nghiên cứu liên quan đến cơ cấu và tái cơ cấu nền kinh tế rất nhiều và phong phú về thể loại Đó có thể là sách, bài báo khoa học, Luận án Tiến
sĩ, giáo trình và những công trình mang tính lý luận và thực tiễn khác trong đó các công trình nghiên cứu, phân tích thực tiễn chiếm số lượng lớn Những công trình nghiên cứu tiêu biểu có liên quan có thể kể đến là:
Cuốn Giáo trình kinh tế học phát triển của tập thể tác giả [84] do nhà xuất
bản Chính trị - Hành chính phát hành Trong cuốn giáo trình này, các tác giả đã đưa
ra khái niệm về cơ cấu nền kinh tế với tính chất và các nhân tố ảnh hưởng, phân biệt tái cơ cấu nền kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đưa ra tiêu chí về cơ cấu kinh
tế hợp lý Cuốn Giáo trình cũng đề cập đến nội dung về cơ cấu nền kinh tế Việt Nam tiếp cận theo quy mô, trình độ kỹ thuật công nghệ, cơ cấu theo ngành, lĩnh vực kinh tế, vùng kinh tế, thành phần kinh tế
Cuốn Tái cấu trúc kinh tế theo mô hình tăng trưởng xanh - kinh nghiệp quốc
tế và gợi ý cho Việt Nam của tập thể tác giả [83] Cuốn sách biên tập 18 bài tham
Trang 22luận tham dự hội thảo với các nội dung chính là tái cấu trúc nền kinh tế sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, khuôn khổ lý thuyết và kinh nghiệm quốc tế về kinh tế xanh, hướng tới nền kinh tế - lựa chọn chính sách cho Việt Nam
Cuốn Tập đoàn kinh tế trong việc thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế của Nguyễn
Hữu Đạt và Ngô Tuấn Nghĩa [21] đã khái quát một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hình thành và phát triển tập đoàn kinh tế Quá trình hình thành và hoạt động của một số tập đoàn kinh tế ở Việt Nam Quan điểm, phương hướng, giải pháp phát huy vai trò của các tập đoàn kinh tế trong thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế
Báo cáo tổng quan Đề tài khoa học cấp bộ Tái cấu trúc kinh tế thế giới trong
thời kỳ hậu khủng hoảng kinh tế toàn cầu của Nguyễn Mạnh Hùng [36] đưa ra phần
lý thuyết với các nội dung về tái cơ cấu nền kinh tế Trong đề tài, tác giả thống nhất cụm từ "tái cơ cấu" và "tái cấu trúc" có ý nghĩa như nhau Tác giả đưa ra một số định nghĩa về cơ cấu nền kinh tế, tái cơ cấu nền kinh tế của các tổ chức, trích dẫn khái niệm ở một số tài liệu nghiên cứu khác nhau hoặc quan niệm của một số nhà nghiên cứu nước ngoài Đề tài cũng đã tổng hợp lịch sử tái cơ cấu nền kinh tế thế giới, và tái cơ cấu nền kinh tế ở một số quốc gia nhìn từ các góc độ
Cuốn Giám sát và đánh giá quá trình thực hiện Đề án tái cơ cấu tổng thể
nền kinh tế của Nguyễn Đình Cung và Nguyễn Tú Anh [9] đưa ra nội dung mang
tính tổng quan về tái cơ cấu Đó là khái niệm và nội hàm của tái cơ cấu nền kinh tế, mục tiêu tổng quát, định hướng và điều kiện tiền đề của tái cơ cấu nền kinh tế, nguyên tắc chỉ đạo và những định hướng, giải pháp tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam
Cuốn Những vấn đề chủ yếu về kinh tế phát triển của Ngô Doãn Vịnh [123]
đề cập đến nhiều nội dung mang tính lý luận về kinh tế phát triển Đó là các vấn đề
lý luận về nền kinh tế quốc dân, lý thuyết về phát triển, tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững, đầu tư phát triển và cơ cấu kinh tế Về cơ cấu nền kinh tế, tác giả đã đưa ra những vấn đề mang tính lý thuyết tổng quan như khái niệm và bản chất cơ cấu nền kinh tế, các nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành cơ cấu nền kinh tế, tiêu chí
phân tích, nội dung đánh giá, phân loại cơ cấu nền kinh tế Theo tác giả, "nền kinh
tế quốc dân là một hệ thống Khi đã là một hệ thống thì nhất quyết sẽ có tính cơ cấu Cơ cấu của nền kinh tế biểu thị nội dung, cách thức liên kết, phối hợp giữa các phần tử cấu thành nên hệ thống kinh tế" [123, tr.96] Hai phạm trù nền kinh tế và cơ
cấu nền kinh tế luôn gắn liền với nhau
Trang 23Một số công trình có cách tiếp cận vấn đề tái cơ cấu nền kinh tế theo hai hướng là tổng thể và cụ thể gồm: Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày 19-02-2013 của
Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình
tăng trưởng theo hướng nâng cao hiệu quả, năng suất và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013 - 2020; Các quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt: Đề án cơ
cấu lại hệ thống tín dụng giai đoạn 2011-2015; Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước mà trọng tâm là các tập đoàn, các Tổng công ty Nhà nước giai đoạn 2011-2015; Kế hoạch đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016 - 2020 của Chính
phủ; Cuốn Tái cơ cấu kinh tế để phục hồi tốc độ tăng trưởng của Bùi Tất Thắng,
Trần Hồng Quang, Lưu Đức Hải [90], bài báo "Tái cơ cấu kinh tế: góc nhìn từ khung phân tích những nền tảng tăng trưởng" của Tô Trung Thành [87, tr.21-30],
cuốn Đối diện thách thức tái cơ cấu kinh tế của Nguyễn Đức Thành [88], cuốn Kinh
tế Việt Nam năm 2012: Ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế của
Nguyễn Kế Tuấn [113], cuốn Giám sát và đánh giá quá trình thực hiện Đề án tái cơ
cấu tổng thể nền kinh tế của Nguyễn Đình Cung, Nguyễn Tú Anh [9] Theo hướng
nghiên cứu tổng thể, các nhà nghiên cứu tập trung chỉ ra tính cấp thiết phải tái cơ cấu nền kinh tế, chỉ ra những khiếm khuyết của nền kinh tế vĩ mô Việt Nam, của quá trình điều hành nền kinh tế của nhà nước kèm theo những dẫn chứng như vấn
đề thị trường tài chính, thị trường bất động sản, nợ xấu, tồn kho hàng hóa, về đầu tư công, về hệ thống doanh nghiệp nhà nước… Đồng thời nêu ra và thảo luận làm rõ những nội hàm mang tính lý luận của vấn đề tái cơ cấu như tái cơ cấu là gì, xu hướng và phương pháp tái cơ cấu, những tiền đề và mục tiêu tái cơ cấu… Các nghiên cứu đều đi sâu phân tích khiếm khuyết của nền kinh tế Việt Nam hiện nay, chỉ ra nguyên nhân chủ quan, khách quan, nguyên nhân dài hạn và ngắn hạn Về nội dung này, nhiều nghiên cứu đã thể hiện sự thống nhất trong nhận định nguyên nhân chủ yếu dẫn đến bất ổn hiện nay của nền kinh tế vĩ mô là do các vấn đề thuộc về cơ cấu nền kinh tế và mô hình tăng trưởng
Tiếp cận theo hướng nghiên cụ thể là những nội dung của từng ngành, từng lĩnh vực, từng phạm vi và đối tượng cần tái cơ cấu Các nhà khoa học, nhà quản lý cũng chỉ ra những bất cập, những hạn chế của từng ngành, từng lĩnh vực kinh tế, những ảnh hưởng của chúng tới nền kinh tế chung của đất nước Tổng hợp các nghiên cứu theo nội dung cụ thể của từng ngành, từng lĩnh vực, từng phạm vi và đối tượng, có ba nhóm đối tượng tái cơ cấu được đề cập nhiều nhất, đó là: tái cơ cấu
Trang 24doanh nghiệp nhà nước mà trọng tâm là các tập đoàn, các tổng công ty nhà nước; tái
cơ cấu thị trường tài chính mà trọng tâm là hệ thống ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính; tái cơ cấu đầu tư mà trọng tâm là đầu tư công
Thông qua việc phân tích thực trạng chung của nền kinh tế cũng như từng vấn đề cụ thể, các nhà nghiên cứu đều đưa ra nhận định chắc chắn phải tái cơ cấu nền kinh tế như một giải pháp sống còn mà Đảng, Nhà nước Việt Nam phải thực hiện trong quá trình điều hành nền kinh tế trong thời gian tới nhằm ổn định kinh tế
vĩ mô và phát triển kinh tế bền vững Các tác giả cũng đưa ra phương hướng, giải pháp khắc phục khủng hoảng, thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế với những mục tiêu, yêu cầu cụ thể Mục tiêu chung của việc tái cơ cấu nền kinh tế mà các công trình đưa ra là thay đổi thể chế, cơ chế, công cụ phân bố, quản lý và sử dụng nguồn lực quốc gia theo mô hình tăng trưởng mới với cơ cấu kinh tế hợp lý hơn, hiệu quả hơn, nâng cao khả năng cạnh tranh, bảo đảm phát triển bền vững và phù hợp với xu
hướng toàn cầu hóa
1.2.2 Công trình nghiên cứu liên quan đến vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế
Mặc dù không được đề cập đến như một đối tượng nghiên cứu độc lập nhưng vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu kinh tế luôn được các tác giả đề cập với mức
độ, phạm vi và những khía cạnh khác nhau Cùng chung nội dung đề cập đến vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế nói chung, trong tái cơ cấu kinh tế nói riêng có
cuốn Mỹ điều chỉnh chính sách kinh tế của Nguyễn Thiết Sơn [79], cuốn Điều chỉnh
cơ cấu kinh tế ở Hàn Quốc, Malaysia và Thái Lan của Hoàng Thị Thanh Nhàn [57],
cuốn Nhật Bản trên con đường cải cách của Dương Phú Hiệp và Phạm Hồng Thái [31], Luận án Tiến sĩ Kinh tế Vai trò của nhà nước đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt
Nam của Vũ Hải Nam [53], Luận án Tiến sĩ Triết học Vai trò của nhà nước trong chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay của Hoàng Thị Kim
Oanh [58], Luận án Tiến sĩ Kinh tế Vai trò nhà nước trong việc hạn chế các khuyết
tật của cơ chế thị trường ở Việt Nam của Phạm Văn Linh [43], cuốn Vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế: Kinh nghiệm Pháp của Chu Đức Dũng [11], cuốn Vai trò của nhà nước đối với hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam của Mai Lan Hương
[35] Một số công trình nghiên cứu có nội dung rất cụ thể và hữu ích như:
Cuốn sách Chủ nghĩa tư bản hiện đại: Khủng hoảng kinh tế và điều chỉnh
của Lê Bộ Lĩnh [44] đề cập đến những khủng hoảng mang tính cơ cấu của chủ
Trang 25nghĩa tư bản và những hình thái biểu hiện của nó, phân tích một số cuộc khủng hoảng tiêu biểu cùng những tác động của nó tới sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, giải pháp khắc phục khủng hoảng và ý nghĩa của nó đối với Việt Nam Theo tác giả,
"trong lịch sử kinh tế học, cho đến nay hầu như đã không có nền kinh tế nào kể cả kinh tế kế hoạch không bị khủng hoảng" [44, tr.665] Khủng hoảng kinh tế là hiện
tượng đồng hành trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, thậm chí ở ngay
những nước tư bản phát triển nhất như Mỹ, Nhật Bản, châu Âu "Nhưng chính trong
khủng hoảng, vai trò tái cơ cấu kinh tế của nhà nước mới được phát huy Có thể nói rằng không có sức ép của các cuộc khủng hoảng kinh tế, các chính phủ của các quốc gia khó có thể đã thực hiện những cải cách" [44, tr.656] Tác giả cũng đưa ra
các nhân tố có thể dẫn tới khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam như cơ chế phân bổ nguồn lực, khu vực doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, vấn đề tham nhũng đã là một nguy cơ thực sự Cuối cùng, tác giả đưa ra những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam trong việc phòng ngừa khủng hoảng kinh tế
Cuốn sách Cấu trúc lại nền kinh tế Mỹ từ thập kỷ 70 của thế kỷ trước đến
nay của Vũ Đăng Hinh [29] đề cập đến những hoạt động tái cơ cấu nền kinh tế Mỹ
từ thập kỷ 70 của thế kỷ trước đến nay Theo tác giả, "cơ cấu kinh tế của một nền
kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào nhu cầu của thị trường đó" [29, tr.17] và "cấu trúc lại nền kinh tế là hoạt động mang tính quy luật để duy trì tốc độ phát triển và đáp ứng nhu cầu xã hội trong từng giai đoạn" [29, tr.369] Tác giả đưa ra nguyên nhân cần tái
cơ cấu nền kinh tế Đó là khi một bộ phận sản xuất nào đó không hiệu quả, hoặc để khai thác lợi thế cạnh tranh khi tham gia vào phân công lao động thế giới Vì nhiều lý
do, hoạt động tái cơ cấu đã và đang diễn ra ở Mỹ và nhiều nơi trong thế giới hiện đại
Từ đó tác giả đi sâu phân tích, miêu tả quá trình tái cơ cấu nền kinh tế Mỹ qua các đời Tổng thống từ thập kỷ 70 của thế kỷ trước đến nay Xuyên suốt các hoạt động tái cơ cấu đó, vai trò của Nhà nước Mỹ mà cụ thể là của các Tổng thống Mỹ được thể hiện
rõ nét qua các quyết định chính sách Nhà nước Mỹ thông qua các công cụ quyền lực chính trị, công cụ quản lý kinh tế để thực hiện tái cơ cấu Từ đó các cơ quan nhà nước trực tiếp tham gia tái cơ cấu với những kịch bản điều hành cụ thể, đặc biệt là hoạt động của Cục dự trữ quốc gia liên bang Mỹ với những chính sách tiền tệ, tài chính hiệu quả, hiệu lực Thông qua việc phân tích hoạt động tái cơ cấu nền kinh tế Mỹ, tác phẩm đã cho thấy vai trò cốt yếu của Nhà nước Mỹ trong tái cơ cấu, đồng thời chỉ ra cách thức, nội dung cụ thể mà Nhà nước Mỹ đã làm trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, giúp Mỹ duy trì vị thế cường quốc kinh tế trong hàng chục năm qua
Trang 26Cuốn sách Quản lý nhà nước về kinh tế của Phan Huy Đường [23] có nội
dung rất cơ bản về lý thuyết và thực tiễn quản lý kinh tế của nhà nước Hay nói cách khác, đó chính là vai trò quản lý kinh tế của nhà nước Theo tác giả, quản lý nhà nước
về kinh tế là việc nhà nước nhận thức, vận dụng các quy luật về các mối quan hệ quản
lý liên quan đến sự tồn tại và phát triển của kinh tế - xã hội Trong những yêu cầu của quản lý nhà nước về kinh tế, nhà nước có vai trò, trách nhiệm trong việc ổn định kinh tế
vĩ mô, hạn chế và khắc phục những khiếm khuyết Đây cũng là yêu cầu về vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế Trong cuốn sách, tác giả đã đề cập đến những nội dung như phương pháp và công cụ quản lý nhà nước về kinh tế, bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế, cán bộ, công chức quản lý nền kinh tế Với những nội hàm thông tin nêu ra, đây cũng là nội dung hữu ích cho hoạt động tái cơ cấu nền kinh tế
Cuốn Kinh tế Việt Nam năm 2012: Ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tái cơ
cấu kinh tế của Nguyễn Kế Tuấn [113] khẳng định, ở Việt Nam, nhà nước giữa vai
trò trọng yếu, thậm chí có thể coi là vai trò quyết định trong việc hình thành và vận
hành có hiệu quả của thể chế kinh tế "Việc xác định hợp lý vai trò của nhà nước có
ý nghĩa như nền tảng để xác định phương hướng và nội dung của tái cấu trúc nền kinh tế" [113, tr.120]
Cuốn Đổi mới cách thức tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của Trương Bá Thanh và
Bùi Quang Bình [86] đề cập đến vấn đề tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 1986 - 2014 với các nội dung cơ bản như đặc trưng tăng trưởng, cơ chế huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực sản xuất trong tăng trưởng, cách thức phân bổ sản lượng tạo ra tổng cầu trong tăng trưởng, đánh giá, dự báo về tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2015 - 2020, tầm nhìn 2030 Tuy chủ đề trọng tâm là tăng trưởng, song tác phẩm đã đề cập và đánh giá cao vai trò của nhà nước trong quản lý, điều hành nền kinh tế, trong tái cơ cấu thúc đẩy tăng trưởng - tái cơ cấu chủ động Vấn đề này được tác giả đề cập ở cả phần lý luận với các lý thuyết tăng trưởng kinh
tế của thế giới và thực trạng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1986 - 2014
Cuốn Vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế của Vũ Tuấn Anh [1] đề
cập tương đối cụ thể mô hình tái cơ cấu nền kinh tế ở nhiều quốc gia khác nhau Cuốn sách biên tập những bài viết trong nước và nước ngoài về vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế cũng như trong tái cơ cấu Mở đầu cuốn sách, tác giả
đã trích dẫn nhận xét của một chuyên gia ngân hàng hàng đầu Nhật Bản rằng
Trang 27"không có nhược điểm nào có tác dụng phá hoại các quốc gia chủ yếu trong những năm 1980 hơn là sự bất lực trong việc xác định vai trò của chính phủ trong kinh tế"
[1, tr.11] Để phân tích kỹ vai trò của nhà nước đối với quá trình phát triển kinh tế nói chung, quá trình tái cơ cấu nền kinh tế nói riêng, tác giả biên tập và đưa ra nhiều bài viết liên qua đến vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế và tái cơ cấu kinh
tế các quốc gia tiêu biểu như Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Đài Loan, Malaysia, Inđônêsia Qua đó cho thấy, nhà nước có vai trò hết sức to lớn, có tính quyết định trong phát triển kinh tế cũng như trong tái cơ cấu Trên thế giới ngày nay, không có quốc gia nào không có sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế theo nhiều lý do khác nhau, đặc biệt trong những tình huống bất ổn Vai trò đó hiện ngày càng trở nên tích cực hơn trong bối cảnh kinh tế đương đại Đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, đây là vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu
Cuốn Chính sách phát triển của Vương quốc Anh sau suy thoái kinh tế toàn
cầu 2008 và kinh nghiệm cho Việt Nam của Đỗ Tá Khánh [37] có cách nêu vấn đề
rất ấn tượng Điểm nổi bật của cuốn sách này, ngoài việc miêu tả, phân tích các hoạt động tái cơ cấu nền kinh tế của Vương quốc Anh, tác giả khẳng định, Nhà nước Anh đã có những thay đổi to lớn trong quan niệm, nhận thức về vai trò của nhà
nước trong quản lý, điều hành nền kinh tế, trong khắc phục khủng hoảng kinh tế
Việc can thiệp chính sách mạnh mẽ như những gì đã diễn ra trong năm
2008 - 2009 đã cho thấy phần nào sự thay đổi trong đường lối, tư duy về kinh tế của Vương quốc Anh, vốn luôn ủng hộ nền kinh tế thị trường tự
do, hạn chế tối đa sự can thiệp của nhà nước vào các hoạt động kinh tế… Bàn tay của nhà nước vẫn cần can thiệp để giải quyết những cuộc khủng hoảng và vực dậy nền kinh tế [37, tr.81]
1.3 TỔNG QUAN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC CÔNG TRÌNH VÀ KHOẢNG TRỐNG LUẬN ÁN CẤN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.3.1 Tổng quan kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã được công bố
Các công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài nêu trên đã giải quyết được nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn Một số nội dung cơ bản là:
- Đã đưa ra một số cách tiếp cận về cơ cấu nền kinh tế và tái cơ cấu nền kinh
tế Vấn đề cơ cấu và tái cơ cấu nền kinh tế không phải là vấn đề mới cả về mặt lý luận và thực tiễn Nó đã được các nhà kinh tế đề cập trong nhiều lý thuyết kinh tế
Trang 28nổi tiếng từ hàng trăm năm trở lại đây Nó đã được bàn luận trong chính giới quản
lý, điều hành và được thực hành tại nhiều nền kinh tế từ hàng trăm năm qua Tuy nhiên, cơ cấu nền kinh tế chỉ được nhìn nhận với tư cách là đối tượng độc lập khi tính chỉnh thể của nó đạt đến giới hạn nhất định Do đó, các công trình chỉ đề cập đến cơ cấu và tái cơ cấu nền kinh tế ở những nội dung, phương diện, phạm vi riêng
lẻ mà chưa đạt được tính đồng bộ - tính chỉnh thể của cơ cấu kinh tế
- Về cơ cấu nền kinh tế, có hai xu hướng tiếp cận, đó là cách tiếp cận cụ thể
và cách tiếp cận tổng thể (cách tiếp cận trừu tượng) Theo cách tiếp cận cụ thể, một
số tác phẩm mô tả cơ cấu nền kinh tế thông qua mô hình kinh tế lượng bằng hàm số đầu vào - đầu ra của nền kinh tế Nó dường như bao quát hết các nhân tố của nền kinh
tế với các tham số như vốn, nguyên nhiên vật liệu, lao động, tài nguyên, giá cả, sản lượng, nhu cầu, quản lý, tiền lương, khoa học công nghệ… nhưng nó không phản ánh được hết các mối quan hệ xã hội của các nhân tố này Có tác phẩm tiếp cận cơ cấu nền kinh tế thông qua mối quan hệ của cơ cấu nền kinh tế và tăng trưởng kinh tế, thông qua tác động của toàn cầu hóa và tăng trưởng sản xuất làm biến đổi cơ cấu nền kinh tế, thông qua chính sách kinh tế vĩ mô tác động biến đổi cơ cấu nền kinh tế… rồi
từ đó đưa ra mô hình biến đổi cơ cấu nền kinh tế Theo cách tiếp cận tổng thể, một số tác phẩm đã định nghĩa cơ cấu nền kinh tế là sự kết hợp và tác động qua lại theo quy
mô, không gian, thời gian của các thành phần khác nhau hợp thành nền kinh tế vĩ mô
- Từ sự khác nhau trong cách tiếp cận cơ cấu nền kinh tế, cách tiếp cận về tái
cơ cấu cũng có những khác biệt Những tác phẩm tiếp cận cơ cấu nền kinh tế theo phương pháp cụ thể thường đề cập đến sự biến đổi cơ cấu kinh tế thay vì tái cơ cấu kinh tế Những tác giả theo cách tiếp cận này coi biến đổi cơ cấu kinh tế như một quá trình phát triển tự thân của nền kinh tế khi có cú hích thích hợp Họ thường đề cập đến vấn đề tái cơ cấu ở những phạm vi hẹp, nội dung rất cụ thể như tài chính, ngân hàng, lao động, doanh nghiệp, đầu tư trực tiếp nước ngoài… Họ cho rằng muốn kinh tế phát triển thì cơ cấu nền kinh tế phải biến đổi Cơ cấu nền kinh tế biến đổi dựa trên cơ sở là sự thay đổi nhu cầu thị hiếu của khách hàng, của điều kiện cạnh tranh quốc gia, của khoa học công nghệ Họ đưa ra các mô hình cho sự biến đổi cơ cấu nền kinh tế nhưng không nhấn mạnh tính "cưỡng bức" trong quá trình biến đổi cơ cấu nền kinh tế Họ xây dựng mô hình và điều tiết các tham số kinh tế
để biến đổi cơ cấu nền kinh tế, như vậy sẽ ẩn đi vai trò của nhà nước
Với những tác giả tiếp cận cơ cấu nền kinh tế theo cách tiếp cận tổng thể, họ coi trọng vấn đề tái cơ cấu nền kinh tế hơn Họ quan niệm tái cơ cấu là nhiệm vụ cấp bách, quan trọng trong thời gian khủng hoảng Đó là việc sắp xếp, phân bổ các
Trang 29nguồn lực cho phát triển kinh tế một cách phù hợp, đảm bảo an sinh, ổn định kinh tế
- xã hội Việc tái cơ cấu cần gắn với chính sách kinh tế vĩ mô, vừa cần kíp trước mắt
để giải quyết tình thế bất ổn, vừa lâu dài để đảm bảo tính ổn định cho nền kinh tế
Do đó, tái cơ cấu cần tính đồng bộ, toàn diện
- Về vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế, tất cả các tác giả đều thống nhất ở nhận định rằng nhà nước có vai trò rất quan trọng trong tái cơ cấu nền kinh tế Tuy nhiên, các tác phẩm chưa chỉ ra một cách cụ thể nội dung vai trò nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế là gì Các tác phẩm có đề cập đến vai trò nhà nước trong khủng hoảng kinh tế nhưng tất cả đều chỉ là miêu tả những hành động, chương trình, kế hoạch, công việc mà nhà nước đã thực hiện trong tái cơ cấu nền kinh tế Nhiều tác phẩm tiếp cận cơ cấu nền kinh tế và tái cơ cấu nền kinh tế theo phương pháp mô hình kinh tế lượng làm ẩn đi vai trò của nhà nước trong biến đổi
cơ cấu và tái cơ cấu nền kinh tế
1.3.2 Các vấn đề đặt ra mà luận án cần tiếp tục nghiên cứu
Qua các công trình nghiên cứu có liên quan được đề cập ở trên, chưa có công trình nào đề cập trực tiếp đến vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế ở Việt Nam với tư cách là đối tượng nghiên cứu độc lập Khi nghiên cứu vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu kinh tế ở Việt Nam, có thể có những nội dung, phương pháp trùng lặp với những nội dung nghiên cứu về vai trò chung của nhà nước đối với nền kinh tế, nhưng với những lý luận và cách tiếp cận nền kinh tế theo phương pháp cơ cấu, sẽ còn có những nội dung cần được nghiên cứu làm rõ Đó là:
Về mặt lý luận: Làm rõ và thống nhất quan niệm về cơ cấu và tái cơ cấu nền
kinh tế dưới góc độ của kinh tế chính trị; Nghiên cứu, luận giải những lý luận chung
về vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế
Về mặt thực tiễn: Phân tích hoạt động tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam giai
đoạn 2011 - 2017; Nghiên cứu thực trạng vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế ở Việt Nam thời gian vừa qua; Đề xuất phương hướng, giải pháp phát huy vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế ở Việt Nam
Các câu hỏi nghiên cứu đặt ra:
1) Vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế gồm những nội dung cơ bản gì? 2) Thực trạng vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2017 như thế nào?
3) Phương hướng, giải pháp nào để phát huy vai trò của nhà nước trong tái
cơ cấu nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới?
Trang 30Sản xuất ra của cải vật chất, theo C.Mác, xét về tính chất của nó là sản xuất
xã hội C.Mác viết: "Nhưng bao giờ sản xuất cũng có một cơ thể xã hội nhất định,
một chủ thể xã hội đang hoạt động trong một tổng thể to lớn các ngành sản xuất sản xuất coi như là một tổng thể toàn bộ" [50, tr.13] Sản xuất coi như là một tổng
thể toàn bộ tức là nền kinh tế có thể được coi là một bộ máy sản xuất, phân phối và tiêu dùng của cải vật chất theo tính hệ thống Và khi đã là một hệ thống, một bộ máy, thì nền kinh tế phải mang tính cơ cấu và cần được tiếp cận theo khía cạnh cơ cấu, tức là xem xét nền kinh tế được hình thành, cấu tạo và phối hợp vận hành theo cách thức nào Việc phân tích nền kinh tế thực chất chính là phân tích cơ cấu của
nó, xem xét cơ cấu của nền kinh tế đó có hợp lý không, có tạo được những điều kiện thuận lợi để nền kinh tế hoạt động đạt hiệu quả như mong muốn không, trình độ phát triển, bản chất và sức sản xuất của nền kinh tế có đáp ứng được mục tiêu và yêu cầu mà xã hội đặt ra cho nền kinh tế hay không Khi nghiên cứu về kinh tế, C.Mác có đề cập đến cơ cấu kinh tế Theo C.Mác:
Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan
hệ nhất định, tất yếu, không tuỳ thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy họp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị
và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực
Trang 31của nền kinh tế trong đó có những hoạt động kinh tế đơn thuần (sản xuất, lưu thông, tiêu dùng) và những hoạt động kinh tế mở rộng (hoạt động kinh tế mở rộng là những hoạt động hỗ trợ cho hoạt động kinh tế nhằm mục đích thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo
ra giá trị gia tăng và hiệu quả cho hoạt động kinh tế như hoạt động chính trị, pháp lý,
xu hướng xã hội, tâm lý xã hội… trong đó có cả hoạt động của nhà nước) Tuy nhiên,
để nghiên cứu vai trò của nhà nước với nền kinh tế nói chung và vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế nói riêng, nhà nước và nền kinh tế phải là hai chủ thể có tính độc lập tương đối trong mối quan hệ này Nếu hiểu cơ cấu kinh tế theo nghĩa rộng như trên sẽ bao hàm cả hoạt động của nhà nước Như vậy, sẽ rất khó tách biệt và đánh giá một cách rõ nét vai trò của nhà nước với nền kinh tế
Vẫn theo luồng tư tưởng trên, nhưng đặt nhà nước và nền kinh tế là hai chủ thể có tính độc lập tương đối trong một mối quan hệ, cơ cấu nền kinh tế có thể được hiểu gồm hai khía cạnh là chất lượng và số lượng Cách hiểu này xuất phát từ khái niệm phương thức sản xuất, vì chính phương thức sản xuất là nhân tố kiến tạo cơ cấu nền kinh tế Phương thức sản xuất là những cách thức mà con người sử dụng để tiến hành quá trình sản xuất của xã hội ở những giai đoạn lịch sử nhất định Mỗi xã hội ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định đều có phương thức sản xuất của nó với những đặc điểm riêng Mỗi phương thức sản xuất đều có hai phương diện cơ bản là kỹ thuật và kinh tế Phương diện kỹ thuật của phương thức sản xuất chỉ quá trình sản xuất được tiến hành bằng cách thức kỹ thuật, công nghệ nào để biến đổi các đối tượng lao động Phương diện kinh tế của phương thức sản xuất chỉ quá trình sản xuất được tiến hành với những cách thức tổ chức kinh tế nào Từ cách hiểu này, nội hàm của cơ cấu nền kinh tế có thể hiểu chính là sự phân chia về chất và tỉ lệ về số lượng của những quá trình sản xuất xã hội Như vậy, cơ cấu nền kinh tế là tổng thể các ngành, các lĩnh vực, các bộ phận kinh tế với vị trí, tỉ trọng tương ứng của chúng
và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành
Giải thích về cơ cấu kinh tế, Từ điển Bách khoa Việt Nam đưa ra nội hàm như sau:
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan
hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành Có các loại cơ cấu kinh tế khác nhau: cơ cấu kinh tế quốc dân, cơ cấu theo ngành kinh tế - kĩ thuật, cơ cấu theo vùng, cơ cấu theo đơn vị hành chính - lãnh thổ, cơ cấu theo thành phần kinh tế; trong đó cơ cấu theo ngành kinh tế - kĩ thuật mà trước hết cơ cấu công - nông nghiệp là quan trọng nhất Trong thời kì quá
Trang 32độ xây dựng chủ nghĩa xã hội, chiến lược kinh tế - xã hội Việt Nam hiện nay là xây dựng một cơ cấu kinh tế gồm: 1) Cơ cấu ngành: phát triển các ngành nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, đồng thời tăng tốc độ phát triển các ngành công nghiệp, mở rộng khu vực dịch vụ, từng bước đưa nền kinh tế phát triển toàn diện và theo hướng hiện đại 2) Cơ cấu thành phần: nền kinh tế có nhiều thành phần, trong đó thành phần kinh tế quốc doanh đóng vai trò chủ đạo 3) Cơ cấu vùng: phát triển những vùng chuyên môn hoá sản xuất
có hiệu quả kinh tế - xã hội cao Xác định cơ cấu kinh tế hợp lí và thúc đẩy
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng phụ thuộc vào sự hiểu biết sâu sắc các nhân tố kinh tế, xã hội, kĩ thuật cụ thể ở từng vùng trong từng thời gian và khả năng tổ chức sản xuất, quản lý kinh tế, trên cơ sở đó khai thác và sử dụng có hiệu quả nhất tài nguyên, đất đai, sức lao động, tư liệu sản xuất, tạo ra sự phát triển trên mọi vùng đất nước và tạo điều kiện nâng cao đời sống nhân dân nói chung, khắc phục
sự lạc hậu của nhiều vùng, nhiều dân tộc [33]
Tổng hợp những nội dung và cách tiếp cận như trên, luận án đưa ra định nghĩa
tổng quát cơ cấu nền kinh tế như sau: cơ cấu nền kinh tế là một hệ thống tổng thể bao
gồm các khâu, các thành phần, các lĩnh vực ngành nghề, các nguồn lực tạo ra của cải vật chất và những mối quan hệ giữa chúng nhằm tạo nên tính chỉnh thể, hướng tới thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nền kinh tế, đáp ứng những mục tiêu, yêu cầu của xã hội Theo các khâu của quá trình sản xuất, cơ cấu kinh tế gồm sản xuất,
lưu thông, tiêu dùng Theo thành phần, cơ cấu nền kinh tế gồm những chủ sở hữu gắn với những hình thức sở hữu trong nền kinh tế Theo lĩnh vực, ngành nghề gồm nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ gắn với phân bố địa lý kinh tế vùng miền và hệ thống doanh nghiệp nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, thương nghiệp, dịch vụ Theo các nguồn lực tạo ra của cải vật chất gồm lao động, vốn, tài nguyên, kết cấu hạ tầng, dự trữ quốc gia, khoa học công nghệ Những mối quan hệ
giữa chúng là sự tác động lẫn nhau trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
2.1.2 Khái niệm tái cơ cấu nền kinh tế
Quá trình hình thành và phát triển cơ cấu nền kinh tế là một quá trình lịch sử khách quan, quá trình thay thế, hoàn thiện, bổ sung các yếu tố cần thiết cho sự phát triển kinh tế nói riêng và xã hội nói chung Trong quá trình đó, có những thành
Trang 33phần, những hệ thống chức năng chưa phát triển kịp, có những nguồn lực bị cạn kiệt cần thay thế, có những giá trị lợi ích mới, nhu cầu mới, quan hệ mới xuất hiện Những thay đổi như vậy làm cho tính chỉnh thể của cơ cấu nền kinh tế bị ảnh hưởng, gây ra những tác động nhiều chiều, ảnh hưởng đến hiệu quả và tính ổn định của nền kinh tế Khi đó, các quy luật kinh tế tự nhiên sẽ tác động, điều chỉnh nhằm khắc phục những khiếm khuyết trong cơ cấu nền kinh tế, đưa nền kinh tế về trạng thái vận hành, phát triển cân bằng Đây là quá trình tự nhiên, khách quan gắn liền với sự phát triển của phương thức sản xuất xã hội tương ứng Nếu chúng ta cố tình
đi ngược lại những quá trình tự nhiên này, tức là đi ngược lại sự điều chỉnh khách quan, tất yếu nền kinh tế sẽ gặp nhiều khó khăn Vấn đề của các nhà quản lý kinh tế
là phải nhận thức đầy đủ quá trình phát triển và hoàn thiện của cơ cấu kinh tế để nắm bắt kịp thời những thay đổi nhằm thúc đẩy và ủng hộ tái cơ cấu tự nhiên, tạo sự cân bằng tự nhiên cho nền kinh tế Những thay đổi như vậy là hình thức biến đổi tự nhiên, khách quan do các quy luật kinh tế tác động tạo nên Đây không phải là tái cơ cấu kinh tế mà là quá trình phát triển của nền kinh tế
Quá trình phát triển tự nhiên của nền kinh tế không phải lúc nào cũng hoàn hảo và mang lại hiệu quả Trong quá trình phát triển, nền kinh tế xuất hiện những khiếm khuyết nằm ngoài khả năng tự điều chỉnh của các quy luật, làm suy giảm khả năng sản xuất của nền kinh tế, gây ra những hiệu ứng tiêu cực cho xã hội Các khiếm khuyết cơ bản của nền kinh tế hiện nay là:
- Hiện tượng độc quyền: Là hiện tượng một hay một số nhà sản xuất thống trị, chi phối nền kinh tế Sự lựa chọn quy mô sản xuất độc quyền khác với sự lựa chọn của nền kinh tế thị trường cạnh tranh hoàn hảo dẫn đến việc các nhà sản xuất độc quyền có thể tạo ra lợi nhuận siêu ngạch bằng cách tăng giá mà không sợ những đối thủ mới cùng tham gia sản xuất Độc quyền dẫn đến người tiêu dùng phải trả giá cao hơn cho hàng hóa và dịch vụ, gây thiệt hại cho người tiêu dùng, làm giảm phúc lợi, ảnh hưởng tới công bằng xã hội
- Các hiệu ứng ngoại vi của kinh tế: Là những hệ quả nằm ngoài phạm vi kinh tế nhưng được tạo ra bởi các hoạt động của nền kinh tế Có thể có những hệ quả tích cực song cũng có những hệ quả tiêu cực Ví dụ như khi mở rộng quy mô sản xuất của một nhà máy sẽ làm gia tăng lượng chất thải ra môi trường Tới giới hạn nhất định, lượng chất thải tích tụ đủ hàm lượng sẽ gây tác hại xấu cho môi trường xung quanh Những hiệu ứng ngoại vi của kinh tế không được nhận biết bởi
Trang 34các quy luật kinh tế cũng như không ảnh hưởng tới các hoạt động kinh tế Do đó, các hiệu ứng ngoại vi này không được cập nhật trong quá trình chọn lọc, điều chỉnh
tự nhiên của các hoạt động kinh tế Để phù hợp với lợi ích chung của xã hội, nhiều hiệu ứng ngoại vi cần được hạn chế và khắc phục, mà bản thân những người tham gia trong nền kinh tế không có ý thức tự điều chỉnh
- Hàng hóa công: Khi xã hội phát triển đến giới hạn nhất định sẽ xuất hiện hình thức hàng hóa công Ví dụ như hệ thống giao thông vận tải, cầu cống, đường
sá, dịch vụ truyền hình, an ninh quốc phòng, chiếu sáng công cộng Đây là những hàng hóa và dịch vụ hữu ích cho xã hội, nhưng không thể chia nhỏ thành từng đơn
vị tiêu dùng Lợi ích tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ công chỉ có thể được hưởng thụ chung cho tất cả mọi người Hàng hóa công không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng Điều này giường như đi ngược với một số quy luật kinh tế
- Thông tin không hoàn hảo: Ngày nay, thông tin trở thành một trong những nhân tố đầu vào quan trọng của quá trình sản xuất Việc khó khăn trong thu thập thông tin, cung cấp thông tin không chính xác dẫn đến sự phân bổ các nguồn lực sản xuất bị sai lệch Ví dụ như thông tin sai về kết quả mùa màng sẽ làm sai lệch giá cả thị trường, làm các nhà sản xuất phải nghĩ đến nguyên liệu thay thế, làm tăng giá nguyên liệu thay thế trong khi nguyên liệu chính lại dư thừa Thông tin trở thành một yếu tố vật chất, là công cụ quản lý, điều hành của nền kinh tế song lại hoạt động theo các cách thức khác so với các quy luật kinh tế Thông tin không chính xác sẽ phá vỡ tính kết cấu tương thích của các hệ thống chức năng của cơ cấu kinh
tế, làm sai lệch tính định hướng trong hoạt động của các hệ thống chức năng
- Mất cân đối trong kinh tế vĩ mô: Thống kê quá trình phát triển của các nền kinh tế cho thấy những bất ổn, khủng hoảng kinh tế xảy ra ngày càng nhiều và mang tính chu kỳ như lạm phát, thất nghiệp, khủng hoàng tiền tệ và những khủng hoảng khác Nguyên nhân của những khủng hoảng và bất ổn này lại đến từ chính những khiếm khuyết nền kinh tế nên các quy luật kinh tế khách quan không thể tự điều chỉnh được Nếu để tự nền kinh tế giải quyết sẽ mất thời gian rất lâu, gây ra rất nhiều tổn thất cho xã hội và có thể đưa nền kinh tế vào tình trạng rối loạn Ngày nay, ổn định kinh tế vĩ mô là mục đích hàng đầu trong hoạt động quản lý, điều hành nền kinh tế của mỗi quốc gia
- Công bằng và hiệu quả xã hội: Động lực cơ bản của nền kinh tế là lợi ích Dưới tác động của quy luật lợi ích, nhiều giá trị xã hội bị đe dọa Quy luật lợi ích
Trang 35tạo ra sự phát triển không đồng đều do sự khác biệt về năng lực và các điều kiện kinh tế - xã hội khác Nếu không đảm bảo công bằng và hiệu quả xã hội, hệ quả của quá trình phát triển kinh tế sẽ là một xã hội bất ổn, thiếu công bằng Các vấn đề môi trường, văn hóa, giáo dục, y tế và những vấn đề khác của xã hội sẽ mất cân đối nghiêm trọng Những vấn đề này lại không nằm trong phạm vi nhận thức và điều chỉnh của hoạt động kinh tế Do đó, nhà nước phải điều chỉnh vì sự phát triển chung của toàn xã hội
Những khiếm khuyết trên là hệ quả khách quan của quá trình phát triển kinh
tế, của quá trình nhận thức và tác động tự nhiên vào nền kinh tế của con người Vì động lực kinh tế, những hoạt động kinh tế riêng lẻ của con người tất yếu cũng nằm trong các quy luật kinh tế như quy luật giá trị, lợi nhuận, cạnh tranh Do đó, những quy luật kinh tế không tự điều chỉnh để khắc phục khiếm khuyết đó một cách hiệu quả Những khiếm khuyết này chỉ được điều chỉnh bởi một nhân tố có quyền lực, có tính độc lập tương đối với nền kinh tế, có khả năng điều chỉnh xã hội Đó chính là nhà nước Trước những bất ổn, khủng hoảng của nền kinh tế, với trách nhiệm đảm bảo ổn định xã hội, nhà nước phải tác động vào nền kinh tế nhằm nhanh chóng ổn định kinh tế, ổn định xã hội Bằng quyền lực của mình, thông qua hệ thống các công
cụ, giải pháp, nhà nước sẽ tác động làm thay đổi quá trình sản xuất, thay đổi nguồn lực phục vụ sản xuất, thay đổi các ngành, các lĩnh vực sản xuất, thay đổi định hướng của nền kinh tế Những thay đổi như vậy làm cơ cấu nền kinh tế thay đổi, khắc phục được khiếm khuyết, đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu ổn định nền kinh tế,
ổn định xã hội Đây là hoạt động tái cơ cấu nền kinh tế
Nếu quá trình phát triển, hoàn thiện cơ cấu nền kinh tế là hoạt động diễn ra liên tục, không ngừng thì hoạt động tái cơ cấu nền kinh tế không phải lúc nào cũng diễn ra Hoạt động tái cơ cấu nền kinh tế chỉ diễn ra khi nền kinh tế xuất hiện những khiếm khuyết gây ra khủng hoảng, bất ổn ở những khâu, những thành phần, những
hệ thống chức năng của nền kinh tế Hoạt động tái cơ cấu có thể diễn ra ở nhiều mức độ, phạm vi với những công cụ, giải pháp khác nhau tùy thuộc khiếm khuyết xảy ra và năng lực quản lý, điều hành nền kinh tế của nhà nước Trong thực tế, có những quốc gia đã tái cơ cấu toàn diện nền kinh tế như các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, chuyển toàn bộ từ cơ cấu nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang cơ cấu nền kinh tế thị trường Nền kinh tế càng phát triển, càng nhiều khiếm khuyết thì hoạt động tái cơ cấu diễn ra càng nhiều Hoạt động tái cơ cấu không phải là điều
Trang 36đáng lo ngại, không phải là tín hiệu xấu mà là những hoạt động thể hiện khả năng nhận thức và năng lực quản lý, điều hành nền kinh tế của nhà nước
Từ những phân tích trên, luận án đưa ra định nghĩa tái cơ cấu nền kinh tế như
sau: Tái cơ cấu nền kinh tế là những tác động trực tiếp của nhà nước vào nền kinh
tế để điều chỉnh hoạt động kinh tế vĩ mô và vi mô nhằm mục đích khắc phục những khiếm khuyết của nền kinh tế, giúp nền kinh tế ổn định, tạo công bằng xã hội hoặc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế của nhà nước thông qua việc xây dựng cơ cấu nền kinh tế phù hợp Tái cơ cấu nền kinh tế gồm những chiều cạnh như:
- Tái cơ cấu các khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng: đầu tư, sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng
- Tái cơ cấu thành phần kinh tế: thành phần kinh tế nhà nước, tư nhân, tập thể, thành phần kinh tế có vốn nước ngoài, cổ phần hóa
- Tái có cấu lĩnh vực, ngành nghề trong nền kinh tế: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ Tái cơ cấu các vùng kinh tế, khu vực kinh tế
- Tái cơ cấu các yếu tố sản xuất: vốn, lực lượng lao động, đất đai, tài nguyên khoáng sản, khoa học và công nghệ, tri thức và tư liệu sản xuất
Tái cơ cấu kinh tế là một chuỗi hành động có chủ đích, trước tiên và bắt đầu
từ nhà nước, sau đó là đến các đối tượng khác trong nền kinh tế, hành động thống nhất theo kế hoạch chung của nhà nước Tái cơ cấu nền kinh tế là quá trình tổ chức lại hoạt động kinh tế bằng các hình thành mới, cắt bỏ đi, tăng hay giảm các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế để xác lập một cơ cấu kinh tế hiệu quả, phù hợp Đây là cuộc cải cách mạnh mẽ, quyết liệt giúp nền kinh tế phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn, phát triển ổn định hơn, khắc phục khiếm khuyết, tránh đi những thiệt hại Hoạt động tái cơ cấu có thể diễn ra trong ngắn hạn, trung hạn, dài hạn tùy theo mức độ của khiếm khuyết của nền kinh tế Tuy nhiên, các khiếm khuyết thường xảy mang tính chu kỳ nên hoạt động tái cơ cấu cũng phải có thời hạn nhất định Thời hạn cũng là tiêu chí đánh giá mức độ thành công của hoạt động tái cơ cấu Vì vậy, hoạt động tái
cơ cấu phải có kế hoạch và được ấn định về mặt thời gian
Hiện nay, tái cơ cấu thường được thực hiện với mục đích là khắc phục khiếm khuyết của nền kinh tế Hoạt động này chủ yếu được nhà nước thực hiện một cách
bị động, tức là chỉ khi nào xảy ra khủng hoảng thì tái cơ cấu mới được triển khai thực hiện mạnh mẽ Trong nền kinh tế hiện đại, với thành tựu của khoa học công nghệ, nhà nước có nhiều công cụ, giải pháp quản lý, điều hành nền kinh tế chủ
Trang 37động, có khả năng nhận biết, dự báo sớm những diễn biến của nền kinh tế và căn cứ
đề ra kế hoạch phát triển kinh tế một cách khả thi Do đó, để đề phòng khủng hoảng, đảm bảo ổn định kinh tế dài hạn, đảm bảo công bằng xã hội, xây dựng cơ cấu nền kinh tế hiện đại, hiệu quả, bền vững, nhà nước cần nghiên cứu và đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế chủ động, tức là chủ động thực hiện tái cơ cấu nhằm phát huy thế mạnh, tạo ra thời cơ, vượt qua thách thức, đáp ứng yêu cầu mới, khai thác
và phát triển những khả năng mới của nền kinh tế, ngăn ngừa khủng hoảng, nâng cao hiệu quả hoạt động cho nền kinh tế Đây sẽ là giải pháp thường xuyên trong nền kinh tế hiện đại, là mục tiêu thứ hai đặt ra cho hoạt động tái cơ cấu trong giai đoạn phát triển kinh tế hiện nay và những năm tiếp theo
2.2 NỘI DUNG VAI TRÒ NHÀ NƯỚC TRONG TÁI CƠ CẤU NỀN KINH
TẾ VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ
2.2.1 Nội dung vai trò nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế
Nằm chung trong nội dung và chức năng quản lý, điều hành nền kinh tế, nhưng trong hoạt động tái cơ cấu nền kinh tế, nhà nước có những vai trò nổi bật riêng Điều này xuất phát từ bối cảnh kinh tế, mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể mà việc tái
cơ cấu nền kinh tế đặt ra Vai trò của nhà nước lúc này không chỉ dừng ở những nội dung tổng quát chung như định hướng phát triển nền kinh tế, tạo lập môi trường cho
sự phát triển, kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế… Lúc này, nhà nước phải tập trung phát huy vai trò của mình vào những việc cụ thể nhằm khắc phục khủng hoảng, ổn định kinh tế - xã hội hoặc thiết lập cơ cấu nền kinh tế hiệu quả hơn, bền vững hơn Nội dung vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu nền kinh tế gồm:
2.2.1.1 Vai trò nhận thức
Mọi thứ đều bắt đầu từ nhận thức Vai trò nhận thức của nhà nước chính là vai trò tổng kết thực tiễn, xây dựng lý luận, tuyên truyền, giáo dục nhằm phổ biến những nhận thức này cho hệ thống chính trị và toàn xã hội Thực hiện vai trò này, nhà nước có thể huy động các nguồn lực xã hội, nghiên cứu, thảo luận, xây dựng giải pháp, mô hình, kiến nghị, đề xuất… Song chỉ có nhà nước mới có quyền lực, chức năng để công nhận và đưa vào áp dụng những kết quả của quá trình nhận thức, quá trình tổng kết, nghiên cứu thực tiễn đó, đồng thời xây dựng định hướng, kế hoạch hành động Trong tái cơ cấu cần nhấn mạnh vai trò này vì hoạt động tái cơ cấu nền kinh tế là hoạt động mang tính "cưỡng bức kinh tế" do tính cấp thiết của nó Tái cơ cấu nền kinh tế là tình huống mới nảy sinh trong quá trình quản lý, điều hành nền kinh tế của nhà nước Mặc
dù nhà nước đã có một quá trình dài về nhận thức trong quản lý, điều hành nền kinh tế
Trang 38song trong tình trạng khủng hoảng, toàn bộ hoặc một phần nhận thức đó có thể đã trở nên lạc hậu, không phù hợp với thực tiễn, gây ảnh hưởng xấu tới sự phát triển kinh tế -
xã hội Nhà nước cần có những nhận thức lại, và trong thời gian ngắn cần phải có những quyết sách điều chỉnh để ổn định kinh tế - xã hội
Mặt khác, hoạt động nhận thức này chỉ được thực hiện bởi nhà nước Trong tình huống nền kinh tế có vấn đề gây ảnh hưởng xấu, song ảnh hưởng này không phải toàn bộ nền kinh tế đã nhận thức được ngay Chỉ có nhà nước, với chức năng kinh tế vĩ mô mới có thể nhận biết và dự đoán được những khiếm khuyết, bất ổn của nền kinh tế Các chủ thể khác của nền kinh tế là người dân và doanh nghiệp không thể nhận thức được những vấn đề này do phạm vi ảnh hưởng và trách nhiệm
xã hội không đòi hỏi họ làm điều đó Thực tế các cuộc khủng hoảng, bất ổn kinh tế
ở mọi quốc gia, mọi thời điểm cho thấy, khi khủng hoảng hay bất ổn diễn ra, các nhân tố của nền kinh tế trở nên rối loạn, mất phương hướng, mất khả năng tự điều chỉnh Chỉ có nhà nước mới có khả năng nhận thức, dự báo được khủng hoảng hay bất ổn kinh tế Và bằng quyền lực của mình, nhà nước mới có đủ thẩm quyền tuyên
bố tình trạng khủng hoảng, bất ổn kinh tế - xã hội
Xem lại lịch sử các cuộc tái cơ cấu nền kinh tế, chúng ta thấy vai trò nhận thức của nhà nước là rất quan trọng và có ý nghĩa quyết định sự thành công hay thất bại của quá trình tái cơ cấu Tất cả các cuộc khủng hoảng trên thế giới đều được nhận thức và được xác nhận bởi các nhà nước cầm quyền Nếu nhà nước không nhận thức được, không xác định tình trạng khủng hoảng, làm suy giảm hiệu quả hoạt động của nền kinh tế thì sẽ không có hành động tái cơ cấu Ví dụ tiêu biểu là hoạt động tái cơ cấu nền kinh tế Mỹ sau cuộc đại khủng hoảng kinh tế 1929-1931, Nhà nước Mỹ đã chọn Lý thuyết kinh tế của Jonh Maynard Keynes làm cơ sở nhận thức và lý luận cho tái cơ cấu Để đi đến lựa chọn lý thuyết này, Nhà nước Mỹ đã trải qua một cuộc đấu tranh về tư duy, lý luận sâu sắc Đây chính là nhận thức của Nhà nước Mỹ trong quá trình khủng hoảng và khắc phục khủng hoảng Với nội dung là những lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ, Keynes cho rằng, cần phải tổ chức lại toàn bộ hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa theo nguyên tắc lý thuyết mới Như vậy, Nhà nước Mỹ nói riêng và các nhà nước tư bản nói chung đã phải gạt
bỏ những lý luận và cách làm cũ, đồng thời gạt bỏ nhiều đề xuất về cách làm mới khác để chọn Lý thuyết kinh tế của Jonh Maynard Keynes làm giải pháp khắc phục khủng hoảng Đây là quá trình nhận thức của chính nhà nước Sau đó nhà nước lại
Trang 39phải chuyển hóa những nhận thức đó thành nhận thức và hành động của toàn xã hội Nhà nước nhận thức đúng sẽ đưa ra được chương trình hành động đúng và kết quả cuộc đại khủng hoảng đã được khắc phục Kết quả cụ thể của quá trình nhận thức về tái cơ cấu đó là, nhà nước công nhận tình trạng khủng hoảng và ban hành chủ trương tái cơ cấu nền kinh tế Nhà nước cân đối các nguồn lực, lựa chọn mục tiêu, thiết lập hệ thống các giải pháp, phương hướng thực hiện tái cơ cấu, đề ra các mục tiêu, nhiệm vụ cho hoạt động tái cơ cấu Đây là việc lựa chọn mô hình, nội dung tái
cơ cấu, xác định đối tượng, phương pháp, phạm vi, lực lượng, thời gian, các kịch bản, cách thức tiến hành tái cơ cấu
Vai trò nhận thức của nhà nước trong tình huống khủng hoảng, bất ổn kinh tế
là rất quan trọng Nó vừa là điểm khởi đầu cho quá trình tái cơ cấu, song nó cũng là nội dung xuyên suốt quá trình tái cơ cấu Vai trò nhận thức của nhà nước sẽ quyết định nội dung, giải pháp tái cơ cấu Như định nghĩa trên, tái cơ cấu có hai mục đích
là khắc phục khiếm khuyết và tái cơ cấu để phát triển Do đó, nội dung tái cơ cấu không cố định mà tùy thuộc điều kiện cụ thể do nhà nước nhận thức được Từ nhận thức của nhà nước, tái cơ cấu có thể được thực hiện một cách toàn diện ở tất cả các khía cạnh như trong phần định nghĩa hoặc có thể thực hiện ở từng nội dung, đối tượng cụ thể Lúc đó, biểu hiện vai trò của nhà nước trong tái cơ cấu cũng có những nội dung riêng phù hợp với đối tượng, mục tiêu tái cơ cấu
Tái cơ cấu nền kinh tế không chỉ được tiến hành bởi riêng nhà nước, mà nó còn cần phải được chuyển hóa thành hành động chung của nền kinh tế, của xã hội
Do đó, nhà nước phải vừa tự nhận thức được tình huống tái cơ cấu, vừa phải tuyên truyền, chuyển hóa những nhận thức này tới những chủ thể khác trong nền kinh tế, đặc biệt là hệ thống doanh nghiệp để đạt sự thống nhất chung về mặt nhận thức trong thực hiện tái cơ cấu
2.2.1.2 Vai trò định hướng hoạt động tái cơ cấu kinh tế
Trong quá trình quản lý, điều hành nền kinh tế, nhà nước xây dựng, hoạch định các chương trình, kế hoạch, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cũng như những giải pháp thực hiện trong ngắn hạn, trung hạn, dài hạn Đây là những vấn đề mang tính vĩ mô của nền kinh tế Căn cứ các chương trình, kế hoạch, mục tiêu, giải pháp này, nhà nước sử dụng các công cụ quản lý kinh tế của mình tác động vào nền kinh tế như công cụ chính sách, thuế, tiền tệ, tài chính, chính sách tài khóa, thành phần kinh tế nhà nước… Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động vi mô
Trang 40của nền kinh tế Do đó, không có phần phân công công việc, tổ chức thực hiện, không có các chế định hoặc xây dựng các cơ chế kiểm soát riêng cho các chương trình, kế hoạch, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Tất cả sẽ được thể hiện qua hiệu quả chung của nền kinh tế thông qua các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô
Tuy nhiên, trong tái cơ cấu nền kinh tế đòi hỏi nhà nước phải trực tiếp thực hiện, tức là nhà nước phải tác động vào nền kinh tế bằng việc tổ chức lại hoạt động kinh tế với các hình thức mới, cắt bỏ đi, tăng hay giảm các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế để xác lập một cơ cấu kinh tế hiệu quả, phù hợp Với tích chất trực tiếp, cấp bách, cưỡng chế, nhà nước không chỉ can thiệp bằng công cụ quản lý kinh tế và phải sử dụng cả công cụ quản lý hành chính để tác động vào nền kinh tế Nhà nước không chỉ quản lý vĩ mô mà cũng phải can thiệp vào những hoạt động vi mô nhất định, đặc biệt là hệ thống doanh nghiệp, các lĩnh vực, ngành nghề trong nền kinh tế
Vì vậy, cần nhấn mạnh vai trò định hướng hoạt động tái cơ cấu kinh tế của nhà nước Đó là việc nhà nước xây dựng chương trình, kế hoạch, kịch bản cụ thể cho hoạt động tái cơ cấu nhằm xác định đúng đắn, đầy đủ hành động của nhà nước và các chủ thể khác trong nền kinh tế trong hoạt động tái cơ cấu kinh tế Nói cách khác, nhà nước phải định hướng cụ thể mô hình cơ cấu kinh tế mà chúng ta cần đạt được để khắc phục bất ổn, ổn định kinh tế, xây dựng cơ cấu nền kinh tế phù hợp
Khác với hoạt động quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô, chương trình, kế hoạch tái cơ cấu có đối tượng rất cụ thể là các hạn chế, khiếm khuyết trong cơ cấu nền kinh tế hoặc các mục tiêu phát triển kinh tế cụ thể Nếu phương pháp thực hiện chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội vĩ mô chủ yếu là các phương pháp kinh tế thì phương pháp thực hiện chương trình, kế hoạch trong tái cơ cấu bao gồm
cả các phương pháp kinh tế và phương pháp hành chính Nội dung của vai trò định hướng này có thể được cụ thể hóa qua một số hoạt động và quy trình sau:
Bước 1: Từ thực trạng của nền kinh tế hoặc mục tiêu mong muốn, nhà nước xác định các vấn đề bất ổn, các vấn đề cần thay đổi Nội dung bước 1 gồm:
- Khảo sát thực tiễn tổng thể và từng vấn đề cần thay đổi
- Nghiên cứu, thảo luận, phân tích tính hiệu quả và đề xuất phương hướng, giải pháp giải quyết vấn đề trên cơ sở các nguồn lực khả thi và yêu cầu về mục tiêu, kết quả Đưa ra những dự báo tình hình, xu hướng, xu thế vận động của nền kinh tế trong ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, lập bài toán hình định lượng cho các mô hình kinh tế