1. Tính cấp thiết của đề tài. Quy định về nơi cư trú là một chế định pháp lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng liên quan đến các quan hệ dân sự của một cá nhân và quan hệ hành chính giữa một công dân với Nhà nước. Nơi cư trú của một cá nhân không chỉ đơn thuần là nơi hằng ngày diễn ra những sinh hoạt cá nhân của một người mà còn là nơi diễn ra các mối liên hệ, quan hệ chủ yếu của người đó với mọi chủ thể dân sự khác, nơi mở thừa kế, nơi xác định một cá nhân mất tích hoặc đã chết, là căn cứ lựa chọn thẩm quyền giải quyết, lựa chọn pháp luật áp dụng khi giải quyết các tranh chấp có yếu tố nước ngoài, nơi công dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với nhà nước trong quan hệ hành chính,… Do đó, việc xác định không đúng nơi cư trú của một cá nhân chắc chắn sẽ gây ảnh hưởng bất lợi cho một trong các bên có liên quan khi tham gia vào các quan hệ pháp luật nói chung và quan hệ pháp luật dân sự nói riêng. Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng, trên thực tế hiện nay nhận thức của các cơ quan pháp luật về việc xác định nơi cư trú của cá nhân vẫn chưa thực sự chính xác, dẫn đến sự thiếu thống nhất trong việc áp dụng pháp luật, đặc biệt là trong lĩnh vực tố tụng dân sự. Để có cái nhìn cụ thể và chi tiết hơn về vấn đề này, tôi xin đưa ra đề tài “Pháp luật về xác định nơi cư trú của bị đơn – Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện”, qua đó phân tích và làm rõ những quy định về pháp luật cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật về xác định nơi cư trú của người bị kiện, từ đó đưa ra kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề này.
Trang 1MỤC LỤC
I Khái quát chung về nơi cư trú của bị đơn 4
1.1 Khái niệm về nơi cư trú 4
1.2 Mối quan hệ giữa BLDS và Luật Cư trú trong việc xác định nơi cư trú của cánhân 5
1.3 Ý nghĩa của việc xác định nơi cư trú của bị đơn trong quan hệ tố tụng dân sự
6
II Thực trạng về việc xác định nơi cư trú của bị đơn 7
2.1 Thực trạng pháp lí7
2.1.1 Thực trạng trong quy định về nơi cư trú và nơi cư trú cuối cùng của bị đơn
7
2.1.2 Thực trạng trong quy định về trả lại đơn kiện khi người khởi kiện khôngsửa đổi, bổ sung đơn kiện 9
2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật 12
2.2.1 Thực tiễn về việc Tòa án từ chối nhận đơn khởi kiện 12
2.2.2 Thực tiễn về việc Tòa án xác định sai nơi cư trú của bị đơn 14
2.2.3 Thực trạng xét xử của Tòa án về vấn đề xác minh địa chỉ của bị đơn thôngqua vụ án cụ thể và ảnh hưởng của nó đến quá trình thi hành án 16
2.3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về việc xác định nơi cư trú của bị đơn
22
KẾT LUẬN 24DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân
sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởikiện lại vụ án
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Quy định về nơi cư trú là một chế định pháp lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng liênquan đến các quan hệ dân sự của một cá nhân và quan hệ hành chính giữa một côngdân với Nhà nước Nơi cư trú của một cá nhân không chỉ đơn thuần là nơi hằng ngàydiễn ra những sinh hoạt cá nhân của một người mà còn là nơi diễn ra các mối liên hệ,quan hệ chủ yếu của người đó với mọi chủ thể dân sự khác, nơi mở thừa kế, nơi xácđịnh một cá nhân mất tích hoặc đã chết, là căn cứ lựa chọn thẩm quyền giải quyết, lựachọn pháp luật áp dụng khi giải quyết các tranh chấp có yếu tố nước ngoài, nơi côngdân thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với nhà nước trong quan hệ hành chính,… Do
đó, việc xác định không đúng nơi cư trú của một cá nhân chắc chắn sẽ gây ảnh hưởngbất lợi cho một trong các bên có liên quan khi tham gia vào các quan hệ pháp luật nóichung và quan hệ pháp luật dân sự nói riêng Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng, trênthực tế hiện nay nhận thức của các cơ quan pháp luật về việc xác định nơi cư trú của cánhân vẫn chưa thực sự chính xác, dẫn đến sự thiếu thống nhất trong việc áp dụng phápluật, đặc biệt là trong lĩnh vực tố tụng dân sự
Để có cái nhìn cụ thể và chi tiết hơn về vấn đề này, tôi xin đưa ra đề tài “Pháp luật về xác định nơi cư trú của bị đơn – Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện”, qua đó
phân tích và làm rõ những quy định về pháp luật cũng như thực tiễn thực hiện phápluật về xác định nơi cư trú của người bị kiện, từ đó đưa ra kiến nghị góp phần hoànthiện các quy định của pháp luật về vấn đề này
2 Tình hình nghiên cứu.
Vì tính chất đặc thù của đề tài là nghiên cứu về một vấn đề pháp lý được quy địnhtrong BLTTDS 2015 vừa có hiệu lực từ ngày 01/7/2016, cho đến thời điểm nghiên cứuthì Bộ luật chỉ được thi hành được một năm, các văn bản hướng dẫn thi hành chưa cónhiều, nên các đề tài nghiên cứu về các chế định trong BLTTDS hiện hành khôngnhiều Qua tìm hiểu thì tác giả kết luận rằng chưa có một đề tài nào nghiên cứu về vấn
Trang 4đề xác định nơi cư trú của bị đơn và ảnh hưởng của việc xác định sai đến quá trình thihành án theo pháp luật hiện hành Tuy nhiên, về vấn đề xác định nơi cư trú của bị đơnđược quy định trong BLTTDS 2004, cũng như các văn bản hướng dẫn Bộ luật này đãđược nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu, nhưng cụ thể vấn đề này được nghiên cứutrong sự so sánh, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, cũng như nghiên cứu
nó trong mối liên quan đến pháp luật thi hành án thì vẫn chưa có ai nghiên cứu
Những công trình nghiên cứu, cũng như bài viết liên quan đến vấn đề xác định
nơi cư trú của bị đơn mà tác giả tìm hiểu được là: bài viết “Trao đổi về việc xác định nơi cư trú và nơi cư trú cuối cùng” của tác giả Phạm Thái Quý – Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Quảng Bình; bài viết “Những khó khăn, vướng mắc khi xác định nơi cư trú của đương sự trong tố tụng dân sự” của tác giả Trần Thị Xuân Thanh – VKSND quận Sơn Trà; bài viết “Bàn về một số vướng mắc thường gặp trong giải quyết vụ việc dân sự” của tác giả Đỗ Văn Chỉnh đăng trên Tạp chí TAND số 19 năm
2008
3 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu.
* Cách tiếp cận: Đề tài được tiếp cận theo hướng từ lý luận đến thực tiễn Từ
những lý luận chung về quy định nơi cư trú của bị đơn được nêu tại Chương I, sang tìmhiểu những bất cập trong quy định của pháp luật, cũng như phân tích thực trạng củavấn đề tại Chương II, kết hợp lý luận và thực tiễn để đưa ra kết luận, đề xuất kiến nghịmang tính khách quan, khoa học
* Phương pháp nghiên cứu: Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề
tài đó là: phương pháp phân tích, phương pháp so sánh – đối chiếu, phương pháp diễndịch, phương pháp quy nạp
* Phạm vi nghiên cứu:
Về phần lý luận:
Đề tài đi nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện hành về xác định nơi cưtrú của bị đơn và ảnh hưởng của việc xác định sai đến quá trình thi hành án, trong đó
có tham khảo thêm những quy định trong pháp luật cũ của BLDS cũng như BLTTDS
2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành các Bộ luật này Đặc biệt, trong phạm vi bài
viết, tác giả còn đề cập đến văn bản Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP trong sự so sánh,
đối chiếu, nhằm làm rõ vấn đề một cách tổng quát
Trang 5để phân tích những bất cập trên thực tế gặp phải, qua đó xem xét giải quyết nó trongviệc áp dụng pháp luật mới, thông qua đó, chỉ ra được những vấn đề nào đã được khắcphục, những vấn đề nào đang còn thiếu sót mà văn bản mới chưa giải quyết được, từ đó
có những kiến nghị để hoàn thiện pháp luật
4 Bố cục đề tài.
Bố cục đề tài được chia thành hai mục lớn cơ bản:
I: Khái quát chung về nơi cư trú của bị đơn.
II: Thực trạng về việc xác định nơi cư trú của bị đơn.
Trang 6I Khái quát chung về nơi cư trú của bị đơn.
1.1 Khái niệm về nơi cư trú.
Thuật ngữ “Nơi cư trú” được xác định trong BLDS, theo đó “Nơi cư trú của cánhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống Trường hợp không xác định được nơi cưtrú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của cá nhân là nơingười đó đang sinh sống”1 Dưới góc độ pháp luật dân sự, nơi cư trú của cá nhân phải
là nơi người đó thường xuyên sinh sống, là địa điểm chủ yếu để xác lập, thực hiện cácquyền, nghĩa vụ dân sự của người đó Họ có thể sinh sống tại ngôi nhà thuộc quyền sởhữu của mình, hoặc nhà đi thuê của người khác hay đi thuê của Nhà nước, sinh sống tạinơi ở của con cái đã trưởng thành… Như vậy, nơi sinh sống thường xuyên của mộtngười phải là nơi người đó thường xuyên sử dụng để phục vụ cuộc sống riêng tư của cánhân và gia đình mình Đây chính là yếu tố để phân biệt nơi sinh sống thường xuyêncủa một người với nơi sản xuất kinh doanh hay nơi làm việc của họ2
Quy định trên thoáng hơn so với quy định trong BLDS 1995 Theo đó, ngoài việcxác định nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống, BLDS 1995còn quy định điều kiện để xác định nơi cư trú là nơi cá nhân đó đăng ký hộ khẩu3 Tức
là, việc sinh sống thường xuyên của người này phải được pháp luật công nhận bằngmột loại giấy tờ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, đó là sổ hộ khẩu Quy định này
đã làm cho khái niệm “nơi cư trú” trở nên cứng nhắc và trong nhiều trường hợp khó cóthể xác định được chính xác nơi cư trú của một người Việc công dân đăng ký hộ khẩutại một địa chỉ nhất định giúp cho Nhà nước dễ dàng thực hiện việc quản lý công dân,đồng thời công dân sẽ được hưởng các chính sách xã hội tại nơi đăng ký hộ khẩuthường trú, là cơ sở để bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ công dân, là cơ sởphát sinh mối quan hệ của cá nhân đối với Nhà nước Còn việc cá nhân quyết định nơithường xuyên sinh sống của mình chủ yếu nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt của mình,
1 Điều 52 BLDS 2005, Điều 40 BLDS 2015.
2 Xem Bình luận khoa học BLDS 2005, tập 1 – PGS.TS Hoàng Thế Liên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.123.
3 Xem Điều 48 BLDS 1995.
Trang 7của gia đình mình…4 Mặt khác, một người có thể đăng ký hộ khẩu ở một nơi nhưng lạithường xuyên sinh sống tại một nơi khác nên khó có thể xác định nơi người đó cư trú.Với tình hình xã hội như hiện nay, trong điều kiện nền kinh tế nước ta vận hành theo
cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng sự phát triển và cải tiến khôngngừng của các ngành khoa học công nghệ, sự năng động và nhạy bén trong hoạt độngsản xuất, kinh doanh thương mại, sự linh hoạt trong việc lực chọn ngành nghề và nơilàm việc của mọi cá nhân thì việc một người ở địa phương này chuyển đến làm ăn, sinhsống và học tập ở một địa phương khác nhưng không cắt hộ khẩu thường trú hoặckhông đăng ký tạm trú là chuyện khá phổ biến hiện nay5 Chính vì thế, nếu xác địnhnơi cư trú theo quy định của BLDS 1995 cũ thì sẽ không hợp lý và thiếu khoa học.Nhận thức được điều này, các nhà làm luật đã xây dựng nên BLDS 2005, cũng nhưBLDS 2015 hiện nay theo hướng tiến bộ hơn, đó chính là bãi bỏ yếu tố quản lý hànhchính (hộ khẩu) mà chỉ quan tâm đến việc người đó thường xuyên sinh sống hoặc đangsinh sống tại đâu để xác định nơi cư trú của cá nhân
1.2 Mối quan hệ giữa BLDS và Luật Cư trú trong việc xác định nơi cư trú của cá nhân.
Theo quy định của Luật Cư trú 2006, Nghị định số 107/2007/NĐ-CP ngày25/6/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Cư trú thì nơi
cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống Nơi cư trúcủa công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú6 Theo đó, Luật cư trú và văn bảnhướng dẫn thi hành quy định xác định nơi cư trú của công dân là dựa trên cơ sở chỗ ởhợp pháp của cá nhân, nơi mà người đó đăng ký thường trú hoặc đăng ký tạm trú, tứcdựa vào yếu tố quản lý hành chính Như vậy, quy định về việc xác định nơi cư trú của
cá nhân trong hai văn bản BLDS và Luật Cư trú là có sự khác nhau, nhưng vấn đề cầnbàn là sự khác nhau này có mâu thuẫn và triệt tiêu lẫn nhau hay không, hiểu và áp dụngnhư thế nào trong từng quan hệ pháp luật?
Trước hết, chúng ta phải hiểu hai văn bản quy phạm pháp luật này có định hướngđiều chỉnh mục đích gì Có thể nói rằng, BLDS là nguồn của pháp luật dân sự điềuchỉnh hành vi xử sự của các chủ thể trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình,
4 Xem Bình luận khoa học BLDS 2005, tập 1 – PGS.TS Hoàng Thế Liên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.124.
5 Xem bài “Trao đổi về việc xác định nơi cư trú và nơi cư trú cuối cùng”, tác giả Phạm Thái Quý – Văn
phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Quảng Bình, trang web: toaan.gov.vn.
6 Điều 12 Luật Cư trú 2006.
Trang 8kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự)7, còn Luật Cưtrú là nguồn của pháp luật hành chính điều chỉnh mối quan hệ giữa nhà nước với côngdân trong quan hệ pháp luật hành chính về lĩnh lực cư trú8 Hai văn bản quy phạm phápluật này điều chỉnh hai mảng lĩnh vực quan hệ xã hội khác nhau và thuộc hai ngànhluật khác nhau nên tuy có quy định khác nhau nhưng hoàn toàn không mâu thuẫn vàkhông triệt tiêu lẫn nhau Hiện nay trong các văn bản quy phạm pháp luật dân sự hoàn
toàn không dùng thuật ngữ “công dân” như trước đây mà đã được thay bằng thuật ngữ
“cá nhân” đây là hệ quả tất yếu của thời kỳ hội nhập quốc tế vì trong quan hệ dân sự
không chỉ có công dân Việt Nam tham gia mà còn có cả các cá nhân là người nướcngoài, người không quốc tịch,… Trong khi đó ở Luật Cư trú hoàn toàn không dùng
thuật ngữ “nơi cư trú của cá nhân” mà dùng thuật ngữ “nơi cư trú của công dân” vì
đây là văn bản quy phạm pháp luật hành chính điều chỉnh quan hệ giữa nhà nước vớicông dân (người có quốc tịch Việt Nam) trong lĩnh vực cư trú9 Chính vì thế, trongquan hệ pháp luật dân sự và quan hệ pháp luật tố tụng dân sự bắt buộc phải căn cứ vàoquy định của BLDS, cụ thể là Điều 52 BLDS 2005 hoặc Điều 40 BLDS 2015 để xácđịnh nơi cư trú của cá nhân
1.3 Ý nghĩa của việc xác định nơi cư trú của bị đơn trong quan hệ tố tụng dân sự.
Thứ nhất, nơi cư trú của bị đơn là tiêu chí để xác định thẩm quyền giải quyết vụ
việc dân sự của Tòa án, được quy định tại Điều 35 BLTTDS 2004, điểm a, khoản 1Điều 39 BLTTDS 2015 Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị kiện và bị “bắt buộc”tham gia tố tụng, do đó việc tham gia tố tụng của bị đơn mang tính chất bị động10 Xét
về mặt tâm lý bị đơn thường không muốn tham gia và thường nêu ra những khó khăn
để không đến Tòa án Việc quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết về nguyên tắc làTòa án nơi cư trú, làm việc của bị đơn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho bị đơn tham gia tốtụng, cũng như cung cấp chứng cứ, đi lại có mặt khi được tòa án triệu tập, qua đó bảo
vệ tối đa quyền lợi của bị đơn, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án trong việcxác minh và nắm được các vấn đề của vụ việc, trên cơ sở đó có đường lối giải quyếtphù hợp, cũng như giúp cho cơ quan thi hành án tiến hành thi hành bản án, quyết định
7 Điều 1 BLDS 2005.
8 Điều 1 Luật Cư trú 2006.
9 Xem bài “Trao đổi về việc xác định nơi cư trú và nơi cư trú cuối cùng”, tác giả Phạm Thái Quý – Văn
phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Quảng Bình, trang web: toaan.gov.vn.
10 Xem “Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi”, Nxb Lao động – Xã hội, 2011, tr.45.
Trang 9của Tòa một cách thuận lợi nhất, bảo đảm việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền vàlợi ích hợp pháp của các đương sự, giúp tiết kiệm công sức, tiền bạc và thời gian củangười tham gia tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng
Thứ hai, xác định nơi cư trú của bị đơn không đúng sẽ dẫn đến việc xác định nơi
cư trú cuối cùng cũng sai Cụ thể, đối với trường hợp người bị yêu cầu tìm kiếm khivắng mặt tại nơi cư trú, người bị yêu cầu tuyên bố mất tích, bị yêu cầu tuyên bố là đãchết trước khi họ vắng mặt tại nơi cư trú, mất tích, chết thì họ đã chuyển đến sinh sốngmột nơi khác mà không có đăng ký thường trú, tạm trú tại nơi mới Vậy nếu Tòa án tạinơi thường trú, tạm trú ban đầu giải quyết vụ việc thì sẽ dẫn tới việc xác minh khôngchính xác, ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị yêu cầu
Thứ ba, nơi cư trú của bị đơn là một trong những nội dung quan trọng trong đơn
khởi kiện, việc xác định không đúng địa chỉ của người bị kiện sẽ dẫn đến việc Tòa ánkhông thụ lý và trả lại đơn kiện hoặc có thể đình chỉ giải quyết vụ việc nếu như đã thụ
lý Và điều này sẽ ảnh hưởng đến cả quá trình giaỉ quyết vụ việc và cả quá trình thihành án sau đó
II Thực trạng về việc xác định nơi cư trú của người bị kiện.
cư trú của cá nhân trong quan hệ pháp luật dân sự và pháp luật tố tụng dân sự đượcmềm dẻo và linh hoạt hơn Tuy nhiên pháp luật lại không quy định rõ thế nào là
“thường xuyên sinh sống”, mức tối thiểu mà họ đã sống ở đó là bao nhiêu: ba tháng,sáu tháng, một năm hay phải lâu hơn nữa? Tại Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP cóquy định nơi cư trú của người bị kiện là địa chỉ chỗ ở hợp pháp mà người bị kiệnthường trú hoặc tạm trú hoặc đang sinh sống theo quy định của Luật Cư trú11 Như vậy,theo Nghị quyết này thì việc xác định nơi cư trú của người bị kiện là dựa vào Luật Cưtrú Tuy nhiên, để phù hợp với quy định của BLDS 2015, đảm bảo tính đồng bộ, thống
11 Điểm a, khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 04/2017/ NQ-HĐTP.
Trang 10nhất trong hệ thống văn bản thì kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao sớm có văn bảnhướng dẫn quy định nêu trên trong BLDS 2015.
Hiện nay, pháp luật về nơi cư trú quy định về quản lý nơi ở của một công dân cònchưa chặt chẽ, không có cơ chế ràng buộc trách nhiệm của cá nhân khi cá nhân khôngcòn sống tại nơi đăng ký thường trú hoặc tạm trú mà đã di chuyển đến sinh sống tại địaphương mới nhưng không có đăng ký tạm trú tại địa phương mới thì rất khó để xácđịnh nơi cá nhân đó thực tế đang sinh sống Mặc dù, BLDS 2015 hiện hành có ghi nhận
“trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới”12, “Khi bên có quyền thay đổi nơi cư trú hoặc trụ sở thì phải báo cho bên có nghĩa vụ và phải chịu chi phí tăng lên do việc thay đổi nơi cư trú hoặc trụ sở, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”13, tuy nhiên việc áp dụng nó vẫn gặp không ít khó khăn trên thực tế khi cá nhânthay đổi nơi cư trú của mình nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ với bên kia
Theo quy định của pháp luật thì trong trường hợp không xác định được nơi người
bị kiện thường xuyên sinh sống, cũng như đang sinh sống thì sẽ dựa vào việc xác địnhnơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người bị kiện14 Vấn đề này đãđược Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định rõ tại khoản 3 Điều 5
Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP, cụ thể “Địa chỉ “nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ
sở cuối cùng” của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan quy định tại điểm đ, e khoản 4 Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là địa chỉ người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã từng cư trú, làm việc hoặc có trụ sở
mà người khởi kiện biết được gần nhất tính đến thời điểm khởi kiện và được cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh” Như vậy, việc
xác định như thế nào là cuối cùng sẽ dựa vào sự nhận thức từ phía người khởi kiện, do
đó sẽ có trường hợp nơi đó không phải là nơi cư trú thực tế cuối cùng của người bị kiệnđứng dưới góc độ người bị kiện vì thực tế họ đang sinh sống tại nơi cư trú khác, nhưng
đó sẽ là nơi cư trú cuối cùng của người bị kiện mà người khởi kiện nhận biết được.Trước kia, chưa có văn bản pháp luật nào hướng dẫn về vấn đề này, mặc dù BLTTDS
2004 có ghi nhận thuật ngữ “nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng”, nhưng
các văn bản Nghị quyết hướng dẫn số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 và số
12 Khoản 3 Điều 40 BLDS 2015.
13 Điểm b, khoản 2, Điều 277 BLDS 2015
14 Điểm đ khoản 4 Điều 189 BLTTDS 2015.
Trang 1105/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tốicao vẫn không làm rõ khái niệm này, điều này đã gây ra nhiều khó khăn cho các Thẩmphán trong công tác xét xử Cho đến thời điểm hiện tại thì Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP mới có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2017, đã ghi nhận cụ thể về vấn đề này, đây
là việc làm tất yếu mà Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên có hướng dẫn
từ lâu, để sớm khắc phục vướng mắc trên thực tế
2.1.2 Thực trạng trong quy định về trả lại đơn kiện khi người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn kiện.
Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì khi khởi kiện dân sự, người khởikiện phải cung cấp địa chỉ của người bị kiện Đây được xem là nội dung bắt buộc phải
có trong đơn khởi kiện Cụ thể, tại điểm đ, khoản 4 Điều 189 BLTTDS 2015 có quy
định đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây: “…Tên, nơi cư trú, làm việc của người bị kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người bị kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có) Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người bị kiện thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người bị kiện…” So với quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 164 BLTTDS thì quy định hiện hành đã cụ thể và làm rõ hơn về việc “địa chỉ của người bị kiện”, quy định trước kia chung chung, không rõ ràng đã gây ra sự khó hiểu và áp dụng
pháp luật không đồng bộ của các chủ thể có liên quan trong quan hệ tố tụng dân sự.Trong trường hợp, đơn khởi kiện không có đủ các nội dung theo quy định củapháp luật, trong đó có nội dung về địa chỉ của người bị kiện thì Thẩm phán thông báobằng văn bản nêu rõ những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung cho người khởi kiện để họ sửađổi, bổ sung trong thời hạn do Thẩm phán ấn định Trường hợp người khởi kiện đã sửađổi, bổ sung đơn khởi kiện theo đúng quy định thì Thẩm phán sẽ tiếp tục thụ lý vụ án;nếu họ không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện và tàiliệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện mà không được thụ lý vụ án15 Theo quyđịnh tại khoản 2, Điều 169 BLTTDS 2004 thì Tòa án sẽ trả lại đơn kiện trong trườnghợp người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của Tòa án, nhưng căn cứnày lại không được chính thức ghi nhận cụ thể ở Điều 168 BLTTDS 2004 , vì theo điềuluật này Tòa án chỉ được trả đơn trong các trường hợp đó, ngoài các trường hợp này,Tòa án sẽ không được trả đơn kiện Chính vì sự quy định không thống nhất này, cácnhà làm luật đã kịp thời bổ sung vào Điều 192 BLTTDS 2015 căn cứ Thẩm phán sẽ trả
15 Điều 193 BLTTDS 2015.
Trang 12lại đơn kiện khi người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầucủa Thẩm phán và ghi nhận ngay trường hợp ngoại lệ không trả lại đơn khởi kiện khixác định người bị kiện cố tình giấu địa chỉ mà vẫn phải tiến hành thụ lý, giải quyết theothủ tục chung16 trong BLTTDS chứ không quy định trong Nghị quyết hướng hướngdẫn văn bản BLTTDS cũ trước kia Sự thay đổi này là hợp lý, vừa đảm bảo tính thốngnhất, vừa đảm bảo tính cụ thể của văn bản.
Một sự thay đổi lớn nữa mà Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP hiện nay đã giải thích
rõ như thế nào là người khởi kiện đã “ghi đầy đủ và đúng địa chỉ” nơi cư trú, làm việchoặc nơi có trụ sở của người bị kiện Cụ thể tại điểm a, b, khoản 2 Điều 6 Nghị quyết
04/2017/NQ-HĐTP có quy định để được coi là ghi đầy đủ và đúng địa chỉ khi “người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản”; “nếu người bị kiện là cơ quan, tổ chức có quốc tịch Việt Nam thì địa chỉ của cơ quan, tổ chức được xác định là nơi cơ quan, tổ chức đó có trụ sở chính hoặc chi nhánh theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo quy định của pháp luật”.
Việc quy định trên đã giải quyết được những vướng mắc trên thực tế hiện nay gặp phải
đó là trường hợp người khởi kiện đã ghi đúng theo địa chỉ mà bên bị kiện cung cấp lúcgiao kết hợp đồng nhưng vẫn bị Tòa án trả lại đơn vì tại thời điểm nộp đơn, người bịkiện đã không còn cư trú, làm việc hay có trụ sở tại địa chỉ cũ nữa, mà đã bỏ đi không
rõ đi đâu Chính thực trạng này đã gây khó khăn cho người khởi kiện, ảnh hưởng đếnquyền quyết định và tự định đoạt của đương sự Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP rađời là sự sáng suốt và tiến bộ của hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật tốtụng dân sự về việc trả lại đơn khởi kiện nói riêng khi đã bổ sung vấn đề này
Theo quy định của BLTTDS 2015 thì người bị kiện xác định là cố tình che giấuđịa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện khi họ không có nơi cư trú ổn định,
thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà “không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết” Quy định này đã có sự thay đổi so với văn bản trước kia Cụ thể, theo
Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 hướng thi hành một số quy địnhtrong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS
2004 có quy định người bị kiện không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi
cư trú mà “không thông báo địa chỉ mới cho người khởi kiện, cho Toà án, nhằm mục
16 Điểm e, khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015.
Trang 13đích giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện” thì được coi là trường
hợp người bị kiện cố tình giấu địa chỉ Xét về mặt nguyên tắc thì người bị kiện không
có nghĩa vụ phải thông báo cho người khởi kiện biết về việc thay đổi nơi cư trú củamình, vì vấn đề này là thuộc về yếu tố quản lý hành chính do Nhà nước quy định, do
đó quy định trong BLTTDS 2015 hiện hành là đúng đắn Tuy nhiên, quy định này lạikhông được thống nhất với văn bản BLDS 2015 Theo đó, tại khoản 3 Điều 40 BLDS
2015 quy định “Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới”
và tại điểm b, khoản 2 Điều 277 BLDS 2015 quy định “Khi bên có quyền thay đổi nơi
cư trú hoặc trụ sở thì phải báo cho bên có nghĩa vụ và phải chịu chi phí tăng lên do việc thay đổi nơi cư trú hoặc trụ sở, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”, khoản 1 Điều
79 BLDS 2015 quy định “Trường hợp thay đổi trụ sở thì pháp nhân phải công bố công khai”. Chính vì thế, để khắc phục sự bất hợp lý này, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhândân tối cao đã nhanh chóng ban hành Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP để hướng dẫn về
vấn đề này như sau: “Trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 BLDS 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ” và “Trường hợp cơ quan, tổ chức thay đổi trụ sở mà không công bố công khai theo quy định tại khoản 1 Điều 79 BLDS 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ”17 Xét về mặt pháp lý thì vănbản Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chỉ là văn bản dướiluật, có nhiệm vụ là triển khai, quy định chi tiết các vấn đề mà văn bản luật, bộ luật cònquy định chung chung, chứ không được sửa đổi, hay bổ sung luật Như vậy, việc quyđịnh nêu trên của Nghị quyết là trái pháp luật, đề nghị Tòa án nhân dân tối cao, Việnkiểm sát nhân dân tối cao sớm có văn bản khắc phục sai sót này
Trước kia, thời điểm BLTTDS 2004 còn hiệu lực thì người khởi kiện có nghĩa vụđiền đầy đủ các thông tin liên quan đến người bị kiện vào đơn khởi kiện theo mẫu quyđịnh tại Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006, Nghị quyết số05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tốicao Trường hợp đơn khởi kiện chưa đầy đủ các nội dung theo quy định thì Tòa án cóquyền yêu cầu người khởi kiện sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo quy định tại Khoản
17 Điểm a, b khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP.
Trang 142 Điều 169 BLTTDS 2004 Tuy nhiên, đến thời điểm hiện giờ, BLTTDS 2015 đã cóhiệu lực một năm nhưng vẫn chưa có mẫu đơn khởi kiện cũng như các mẫu văn bảnkhác ban hành kèm theo Nghị quyết Đây chính là lỗ hổng pháp luật, kiến nghị Tòa ánnhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao sớm có văn bản khắc phục lỗ hổngnày, tránh gây khó khăn trong việc khởi kiện cho người dân
2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật.
Hiện nay, hầu hết thực tiễn xét xử vẫn áp dụng BLTTDS 2004 để giải quyết cáctranh chấp trên thực tế, rất khó để tìm thấy bản án hay quyết định của Tòa án giải quyếttheo BLTTDS 2015, Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP Do đó, tác giả sẽ phân tíchnhững bất cập trên thực tế về việc xác định nơi cư trú cũng như trả lại đơn kiện là dựatrên việc đối chiếu với pháp luật cũ, đồng thời có sự đối chiếu với pháp luật mới
2.2.1 Thực tiễn về việc Tòa án từ chối nhận đơn khởi kiện.
Hiện nay, có một thực tế xảy ra là khi người dân nộp đơn khởi kiện thì Tòa án tạimột số địa phương đều yêu cầu người khởi kiện đi xác minh địa chỉ cư trú của người bịkiện, yêu cầu người khởi kiện cung cấp văn bản xác nhận của cảnh sát khu vực nơithường trú, tạm trú của người bị kiện và nếu người khởi kiện không có xác nhận địa chỉ
cư trú, trụ sở của người bị kiện thì Tòa án sẽ từ chối nhận đơn kiện Thực trạng nàykhông phổ biến, nhưng cũng đã xuất hiện ở một số Tòa án quận Gò Vấp, Quận 10,…
* Đối chiếu với quy định của BLTTDS 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành
Bộ luật này thì việc làm nêu trên của Tòa án là không đúng quy định pháp luật Bởi vìcác lý do sau:
Thứ nhất, về nguyên tắc, người khởi kiện có nghĩa vụ điền đúng và đầy đủ các
thông tin liên quan đến người bị kiện vào đơn khởi kiện theo đúng mẫu quy định tạiNghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 và Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Trườnghợp đơn khởi kiện chưa đầy đủ các nội dung theo quy định thì Tòa án có quyền yêucầu người khởi kiện sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo đúng quy định tại BLTTDS.Như vậy, BLTTDS chỉ quy định về việc người khởi kiện phải thực hiện viết đơn khởikiện theo mẫu, trong đó có đầy đủ các thông tin về các đương sự, không có quy địnhnào về việc bắt buộc người khởi kiện phải xin xác nhận địa chỉ cư trú, trụ sở của người
bị kiện