1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích và bình luận các quy định về các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm

18 293 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 49,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp luật dựa trên nguyên tắc suy đoán để xác định các trường hợp miễn trách nhiệm đối với bên vi phạm hợp đồng, nếu bên vi phạm hợp đồng có khả năng lựa chọn xử sự nào khác ngoài

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG CHÍNH 2

I.Khái quát chung về miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm 2

II Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm 4

1 Miễn trách nhiệm theo thoả thuận 4

2.Miễn trách nhiệm trong trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng 6

3.Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên bị vi phạm 10

4.Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước 11

III- Hoàn thiện quy định về các trường hợp miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thương mại 13

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO, nền kinh tế thị trường của nước ta có những chuyển biến rõ rệt, hoạt động thương mại ngày càng phát triển, số lượng giao dịch thông qua hợp đồng trong lĩnh vực thương mại ngày càng phổ biến Những sự cố nằm ngoài khả năng dự đoán có thể xảy ra khiến cho một hoặc cả hai bên không thể thực hiện được nghĩa vụ của mình dẫn đến việc vi phạm hợp đồng Trong một số điều kiện nhất định, bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm, không phải chịu các chế tài do hành vi vi phạm gây ra Vậy những điều kiện đó được pháp luật quy định như thế nào? Ý nghĩa của nó trong hoạt động thương mại ra sao? Em xin chọn đề tài

“Phân tích và bình luận các quy định về các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm” để làm rõ hơn vấn đề này.

NỘI DUNG CHÍNH

I.Khái quát chung về miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm

Miễn trách nhiệm hợp đồng trong kinh doanh, thương mại là việc bên vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng trong kinh doanh, thương mại không phải chịu các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng Các bên trong hợp đồng trong kinh doanh, thương mại

có quyền thoả thuận về giới hạn trách nhiệm và miễn trách nhiệm hợp đồng trong những trường hợp cụ thể do các bên dự liệu khi giao kết hợp đồng Ngoài ra, việc miễn trách nhiệm hợp đồng còn được áp dụng theo các trường hợp khác do pháp luật quy định Theo Điều 294 Luật Thương mại về miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm:

“1 Bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong các trường hợp sau đây: a) Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận;

b) Xảy ra sự kiện bất khả kháng;

Trang 3

c) Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia;

d) Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.

2 Bên vi phạm hợp đồng có nghĩa vụ chứng minh các trường hợp miễn trách nhiệm.”

Về bản chất, các trường hợp trách nhiệm hợp đồng là những trường hợp loại trừ yếu tố lỗi của bên vi phạm.Cơ sở để miễn trách nhiệm cho bên vi phạm hợp đồng chính là ở chỗ họ không có lỗi khi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng Pháp luật dựa trên nguyên tắc suy đoán để xác định các trường hợp miễn trách nhiệm đối với bên vi phạm hợp đồng, nếu bên vi phạm hợp đồng có khả năng lựa chọn xử sự nào khác ngoài xử sự gây thiệt hại mà không lựa chọn thì bị coi là có lỗi, ngược lại nếu không có khả năng lựa chọn xử sự nào khác thì được coi là không có lỗi và không phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình

Các bên trong hợp đồng thương mại có quyền thỏa thuận về giới hạn trách nhiệm

và miễn trách nhiệm hợp đồng trong những trường hợp cụ thể do các bên dự liệu khi giao kết hợp đồng Việc cho phép các bên thỏa thuận trước về các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng thể hiện sự tôn trọng nguyên tắc tự do hợp đồng, tự do thỏa thuận của các bên trong quan hệ hợp đồng thương mại

Khi áp dụng quy định về các trường hợp miễn trách nhiệm hợp đồng, việc chứng minh các trường hợp được miễn trách nhiệm thuộc nghĩa vụ của bên có hành vi vi phạm hợp đồng Bên vi phạm nếu muốn được miễn trách nhiệm hợp đồng thì phải có đầy đủ chứng cứ để chứng minh các trường hợp miễn trách nhiệm hợp đồng theo quy định của pháp luật

Ngoài ra, khi xảy ra trường hợp được miễn trách nhiệm hợp đồng, bên vi phạm hợp đồng còn phải thông báo ngay (bằng văn bản) cho bên kia về trường hợp được

Trang 4

miễn trách nhiệm và những hậu quả có thể xảy ra Nếu bên vi phạm không thông báo hoặc thông báo không kịp thời cho bên kia thì phải bồi thường thiệt hại Quy định này được nêu rõ trong Điều 295, Luật thương mại 2005 về thông báo và xác nhận trường hợp miễn trách nhiệm:

“1 Bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên kia về trường hợp được miễn trách nhiệm và những hậu quả có thể xảy ra.

2 Khi trường hợp miễn trách nhiệm chấm dứt, bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết; nếu bên vi phạm không thông báo hoặc thông báo không kịp thời cho bên kia thì phải bồi thường thiệt hại.

3 Bên vi phạm có nghĩa vụ chứng minh với bên bị vi phạm về trường hợp miễn trách nhiệm của mình”

II Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm

1 Miễn trách nhiệm theo thoả thuận

Xét điểm a khoản 1 điều 294 Luật thương mại 2005 Bên vi phạm hợp đồng được

miễn trách nhiệm nếu : “Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả

thuận” Theo quy định này thì bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng được miễn trừ trách

nhiệm nếu tại thời điểm ký kết hợp đồng các bên có thỏa thuận về sự miễn trừ đó

Có thể thấy, pháp luật thương mại đề cao tính tự do trong hợp đồng Do vậy, các bên được quyền tự thỏa thuận các trường hợp miễn trách nhiệm khi giao kết hợp đồng thương mại Thỏa thuận giữa các bên về trường hợp miễn trách nhiệm phải tồn tại trước khi xảy ra vi phạm và có hiệu lực đến thời điểm bên bị vi phạm áp dụng chế tài Khi hợp đồng được giao kết bằng văn bản, thì thỏa thuận miễn trách nhiệm được ghi nhận trong nội dung hợp đồng hoặc trong phụ lục hợp đồng Nhưng kể cả khi hợp đồng đã ký kết các bên vẫn có thể thỏa thuận bằng lời nói hoặc hành vi cụ thể hoặc sửa đổi, bổ sung vào hợp đồng các trường hợp miễn trách nhiệm Khi hợp đồng được giao kết bằng lời nói hoặc hành vi cụ thể thì thỏa thuận miễn trách nhiệm cũng có thể

Trang 5

được thể hiện bằng lời nói hoặc hành vi cụ thể Tuy nhiên, việc chứng minh sự tồn tại một thỏa thuận không bằng văn bản sẽ gặp những khó khăn nhất định

Do bởi, pháp luật về hợp đồng của Việt Nam không có sự phân định rõ ràng về lỗi cố ý và lỗi vô ý nên quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 294 nêu trên được hiểu và

áp dụng cho mọi trường hợp: vi phạm cố ý và vi phạm vô ý Với cách quy định này

có thể xảy ra trường hợp, bên không trung thực sẽ lợi dụng sự tồn tại của thỏa thuận miễn trừ để vi phạm hợp đồng

Ví dụ : Trong hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa người bán A và người

mua B, các bên thoả thuận thời điểm giao hàng là 1/1/2012 Cũng trong hợp đồng,

các bên thỏa thuận một điều khoản cho phép bên bán sẽ không phải chịu trách nhiệm trước người mua nếu việc giao hàng chậm không quá 15 ngày, (trước ngày 16/10) Ngày 30/9, bên A chuẩn bị đủ hàng để giao cho bên B theo thoả thuận của hợp đồng Tuy nhiên, cùng ngày 30/9, một người khác (người mua C), là đối thủ cạnh tranh trực tiếp của người mua B, đã tìm đến A và đề nghị người bán A bán số hàng đó cho họ với giá cao hơn 20% giá trong hợp đồng giữa A và B Người bán A lợi dụng thoả thuận giữa họ với người mua B, đồng ý bán cho người mua C số hàng lẽ ra phải giao cho người mua B, bởi vì họ nghĩ rằng trong thời hạn 15 ngày, họ có thừa khả năng chuẩn bị đủ hàng để giao cho người mua B Ngày 15/10 người mua B nhận hàng theo hợp đồng, thế nhưng lúc này do hàng hóa đã đến tay của đối thủ cạnh tranh C trước nên nhu cầu mua của thị trường đã bão hòa Vì thế, người mua B buộc phải bán rẻ hàng hóa và phải chịu những thiệt hại nhất định Tuy nhiên, nếu căn cứ theo điểm a, khoản 1 điều 294, Luật thương mại hiện hành, rõ ràng người mua B không có quyền yêu cầu người bán yêu cầu bồi thường thiệt hại

Như vậy, trong ví dụ này B đã bị thiệt hại bởi hành vi không thiện chí của A (vì số tiền lời được tăng thêm nên đã bán hàng cho C) Có thể dễ dàng thấy được hành vi

đó của A là lợi dụng điều kiện thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm trong hợp đồng để vi

Trang 6

phạm hợp đồng Và với ví dụ trên, chứng tỏ pháp luật chưa có chế tài đối với kẻ không thiện chí trung thực

Thực tiễn trong giao kết hợp đồng thương mại cho thấy ít khi các bên chấp nhận việc thỏa thuận trực tiếp và rõ ràng về các trường hợp miễn trách nhiệm, vì có thể bên

vi phạm sẽ vin vào điều này để không tuân thủ hợp đồng Do đó, các bên có thể thỏa thuận gián tiếp miễn trách nhiệm ở một chừng mực nhất định Tuy vậy, để hạn chế tối đa khả năng “mượn luật” để “chơi xấu” trong kinh doanh của các bên trong hợp đồng thương mại, nên bổ sung vào điểm a khoản 1 điều 294 của Luật thương mại

2005 như sau: “thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm không có giá trị pháp lý nếu hành vi

vi phạm là cố ý” Và đương nhiên lúc này, bên bị vi phạm sẽ phải có trách nhiệm

chứng minh hành vi vi phạm của bên vi phạm là cố ý để đòi lại quyền lợi của mình trước pháp luật

2.Miễn trách nhiệm trong trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng

Theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 294 của pháp luật thương mại, thì bên

vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong trường hợp “xảy ra sự kiện bất khả

kháng” Điều này có nghĩa dù hợp đồng có quy định hay không thì khi xảy ra sự kiện

bất khả kháng dẫn đến việc vi phạm hợp đồng, bên vi phạm vẫn được miễn trách nhiệm

Theo khoản 1 Điều 161 Bộ luật dân sự, sự kiện bất khả kháng được định nghĩa là

là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép

Ví dụ: Ngày 10/10/2008, Công ty A ( trụ sở Nghệ An) ký hợp đồng xuất khẩu dưa

chuột cho công ty B (trụ sở Hà Nội), thời hạn giao hàng là 30 ngày kể từ ngày mở L/

C không huỷ ngang Ngày 20/10/2008, Ngân hàng công ty B mở L/C không huỷ ngang cho người thụ hưởng là Công ty A Nhưng mãi đến tận 15/01/2009, Công ty A vẫn không giao hàng cho Công ty B Công ty B khiếu nại thì Công ty A trả lời rằng

do trong thời gian tháng 11/2008, lũ lụt xảy ra ở khu vực miền Trung, ảnh hưởng đến

Trang 7

vụ mùa dưa chuột của người dân các tỉnh nơi đây, nên không thể gom đủ hàng giao cho Công ty B, vì vậy Công ty A đề xuất hoàn trả lại tiền cho Công ty B và đề nghị được miễn trách nhiệm vì lý do bất khả kháng Trong tình huống này, yếu tố lũ lụt được coi là căn cứ chứng minh miễn trách nhiệm do xảy ra sự kiện bất khả kháng cho phía công ty A

Như vậy, "Sự kiện bất khả kháng" xảy ra sau khi ký hợp đồng, không phải do lỗi của bất kỳ bên tham gia hợp đồng nào, mà xảy ra ngoài ý muốn và các bên không thể

dự đoán trước, cũng như không thể tránh và khắc phục được, dẫn đến không thể thực hiện hoặc không thể thực hiện đúng hoặc đầy đủ nghĩa vụ, bên chịu sự cố này có thể được miễn trừ trách nhiệm của hợp đồng hoặc kéo dài thời gian thực hiện hợp đồng Theo đó, để được xem là bất khả kháng thì một sự kiện cần thỏa mãn 3 nội dung sau:

Thứ nhất, là sự kiện khách quan xảy ra sau khi ký hợp đồng Tức là sự kiện nằm

ngoài phạm vi kiểm soát của bên vi phạm hợp đồng như các hiện tượng tự nhiên: bão, lũ lụt, sóng thần… các sự kiện chính trị, xã hội: đình công, bạo loạn, chiến tranh…, ngoài ra còn có các trường hợp như hỏa hoạn phát sinh từ khu vực bên ngoài lan sang và thiêu rụi nhà máy…

Thứ hai, là sự kiện xảy ra không thể dự đoán trước được Năng lực đánh giá xem

xét một sự kiện có xảy ra hay không được xét từ vị trí của một thương nhân bình thường chứ không phải một chuyên gia chuyên sâu Ví dụ khu vực nhà máy của bên

vi phạm thường xuyên có bão vào mùa mưa nhưng do tính bất ngờ và khó kiểm soát của bão nên việc dự đoán bão có xảy ra hay không đối với một thương nhân là không thể lường trước được (chiến tranh, bạo loạn, đình công… hay các thảm họa thiên nhiên khác)

Thứ ba, là sự kiện xảy ra mà hậu quả để lại không thể khắc phục được dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép, là sự kiện xảy ra mà chúng ta

Trang 8

không thể tránh được về mặt hậu quả Tức là sau khi bên vi phạm đã áp dụng mọi

biện pháp cần thiết những vẫn không khắc phục được hậu quả thì mới đáp ứng điều kiện này Tuy nhiên, nếu như bên vi phạm không thực hiện các biện pháp cần thiết để khắc phục hậu quả nhưng chứng minh được rằng dù có hành động vẫn không thể khắc phục được hậu quả thì xem như đã thỏa mãn điều kiện này

Liên quan đến việc miễn trách nhiệm trong trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng, còn có ý kiến tranh luận về vấn đề một bên vi phạm hợp đồng do lỗi của nguời thứ ba (người thứ ba không thực hiện được nghĩa vụ của mình do gặp bất khả kháng) thì có được coi là căn cứ miễn trách nhiệm cho bên vi phạm không Theo tác giả Quách Thúy Quỳnh trong luận văn thạc sỹ về vấn đề: “Pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong kinh doanh – Thực trạng và phương hướng hoàn thiện” cho rằng: coi đây là căn cứ miễn trách nhiệm là “chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn doanh thương Do “xét về bản chất, căn cứ miễn trách nhiệm này hoàn toàn không phù hợp với nguyên tắc chịu trách nhiệm tài sản trực tiếp giữa các bên trong quan hệ hợp đồng Các bên tham gia quan hệ phải tự mình gánh chịu các nghĩa vụ cũng như lợi ích về mặt tài sản phát dinh từ quan hệ đó Nếu bên thứ ba được miễn trách nhiệm trước bên có hành vi vi phạm thì đó là vấn đề nằm trong khuôn khổ hợp đồng của hai bên đó và họ phải tự giải quyết Hợp đồng đó được xác lập vì lợi ích của họ nên đương nhiên trách nhiệm cũng do họ gánh chịu, không thể yêu cầu bên có quyền lợi bị vi phạm phải chịu (hoặc chia sẻ) gánh nặng đó”

Trên thực tế, sự kiện bất khả kháng không áp dụng đối với một số loại hợp đồng đặc thù Ví dụ như Hợp đồng vay vốn ngân hàng Khi đã vay được tiền thì doanh nghiệp phải có trách nhiệm trả nợ và tất cả các hợp đồng vay vốn đều buộc bên vay phải trả nợ trong mọi trường hợp chứ không được miễn trách nhiệm trả nợ trong trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng Nếu bên vay lợi dụng Điều 294 để đòi miễn trách nhiệm trả nợ khi có sự kiện bất khả kháng thì chắc sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống ngân hàng Ngoài ra, thông thường, mỗi hợp đồng mua bán hàng hóa đều có điều khoản qui định về bất khả kháng, và các bên trong quan hệ hợp đồng còn

Trang 9

đưa những sự kiện xảy ra cho chính bản thân mình là sự kiện bất khả kháng như: thiếu nguyên liệu, mất điện, lỗi mạng vi tính, bên cung cấp chậm trễ giao hàng,… là

sự kiện bất khả kháng để hưởng chế độ miễn trách nhiệm do sự kiện bất khả kháng Về mặt lý luận thì các sự kiện này không đương nhiên được coi là sự kiện bất khả kháng nếu các bên không thỏa thuận

Luật thương mại 2005 dành riêng Điều 296 quy định về việc kéo dài thời hạn, từ chối thực hiện hợp đồng trong trường hợp bất khả kháng Theo đó, khi xảy ra trường hợp bất khả kháng, các bên có thể thoả thuận kéo dài thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng; trừ các hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ có thời hạn cố định về giao hàng hoặc hoàn thành dịch vụ Nếu các bên không có thoả thuận hoặc không thỏa thuận được thì thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng được tính thêm một thời gian bằng thời gian xảy ra trường hợp bất khả kháng cộng với thời gian hợp lý để khắc phục hậu quả, nhưng không được kéo dài quá các thời hạn sau đây:

 05 tháng đối với hàng hoá, dịch vụ mà thời hạn giao hàng, cung ứng dịch vụ được thoả thuận không quá 12 tháng, kể từ khi giao kết hợp đồng;

 08 tháng đối với hàng hoá, dịch vụ mà thời hạn giao hàng, cung ứng dịch vụ được thoả thuận trên 12 tháng, kể từ khi giao kết hợp đồng

Tuy nhiên, nếu sự kiện bất khả kháng kéo dài quá thời hạn nêu trên thì các bên có quyền từ chối thực hiện hợp đồng và không bên nào có quyền yêu cầu bên kia bồi thường thiệt hại Bên từ chối thực hiện hợp đồng phải thông báo cho bên kia biết trước khi bên kia bắt đầu thực hiện các nghĩa vụ hợp đồng trong thời hạn 10 ngày Đây là một quy định cần chú ý bởi lẽ trong thực tế, không ít những doanh nghiệp khi rơi vào trường hợp bất khả kháng thì vẫn đinh ninh mình được miễn trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà không có sự thông báo kịp thời cho bên đối tác, để rồi xảy ra những hậu quả không đáng có

Trang 10

3.Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên bị vi phạm

Luật Thương mại năm 1997 không quy định lỗi của bên bị thiệt hại là căn cứ miễn trừ trách nhiệm do không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ hợp đồng Tuy nhiên, để đảm bảo sự tương thích với pháp luật quốc tế, Luật Thương mại năm 2005, tại điểm c, Khoản 1, Điều 294 đã ghi nhận điều này Theo đó, bên vi

phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm nếu“ Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn

do lỗi của bên kia” Lỗi này có thể là hành động hoặc không hành động của bên bị vi

phạm Ngoài ra, cũng có thể là một hành vi vi phạm hợp đồng của bên bị vi phạm, tức là cả hai bên đều có hành vi vi phạm hợp đồng

Ví dụ: Công ty A kí kết với công ty B hợp đồng mua bán 100 tấn xi măng Theo

đó, công ty A phải thanh toán đúng hạn khoản tiền bằng 30% giá trị hợp đồng để công ty B mua nguyên vật liệu sản xuất Tuy nhiên, công ty A đã không thanh toán đúng hạn dẫn đến việc đình trệ sản xuất khiến cho việc giao hàng của công ty B bị chậm trễ

Trong trường hợp này, nếu như trong hợp đồng không có thỏa thuận khác về việc chậm thanh toán và việc chậm thanh toán của công ty A không phải do bất khả kháng hoặc do quyết định của cơ quan có thẩm quyền thì xem như công ty A đã có lỗi khiến cho công ty B không thể thực hiện đúng hợp đồng nên công ty B được miễn trách nhiệm

Điều 80 Công ước Viên năm 1980 cũng có quy định tương tự điểm c, khoản 1, Điều 294 kể trên: “Một bên không được viện dẫn một sự không thực hiện nghĩa vụ của bên kia trong chừng mực mà sự không thực hiện nghĩa vụ đó là do những hành vi hay sơ suất của chính họ” Như vậy, quy định của Luật thương mại 2005 về trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm trong trường hợp hành vi đó hoàn toàn

do lỗi của bên kia là phù hợp và theo kịp sự nhạy bén của pháp luật quốc tế

Ngày đăng: 12/11/2018, 15:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w